Trang

Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2026

CN 2 PHỤC SINH A- 5 phút Lời Chúa với Thiếu Nhi

 

Chúng ta đã được thương xót, chúng ta được mời gọi trở thành người trao ban lòng thương xót.
CN 2 PHỤC SINH A- 5 phút Lời Chúa với Thiếu Nhi

CN 2 PHỤC SINH A- 5 phút Lời Chúa với Thiếu Nhi
Tin Mừng thánh Ga 20, 19-31

Chào các em,
Hôm nay, Chúa Nhật 2 Phục Sinh, năm A. Tin mừng theo thánh Gio-an.

Bài Tin mừng Chúa Nhật 2 Phục sinh thánh Gio-an kể lại Chúa Giêsu hiện ra với các tông đồ, đặc biệt là thánh Tô-ma, và cho ông xem những lỗ đinh ở chân tay và cạnh sườn của Ngài.

Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái”(Ga 20, 19a) “Ngày thứ nhất trong tuần” không chỉ là một mốc thời gian, mà là sự khởi đầu của một sáng tạo mới. Các môn đệ đang sống trong nỗi sợ hãi, đóng kín cửa và mất phương hướng. Chính trong hoàn cảnh đó, Chúa Giê-su đã đến với các ông.

“Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em!” Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: “Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20, 19b-21). Chúa Giê-su đến không phải để chất vấn, để trách móc. Lời đầu tiên của Chúa Giê-su khi gặp các môn đệ là lời chúc bình an. “Bình an cho anh em!”.  “Bình an” ở đây không chỉ là sự vắng bóng những tranh chấp, những bất toàn … mà là Chúa đang chữa lành những mảnh vỡ trong tâm hồn các môn đệ. Những đổ vỡ vì tội lỗi, vì sự hèn nhát chối Thầy, giờ đây được Ngài “làm cho nguyên vẹn” trở lại. Bình an của Chúa là sự phục hồi phẩm giá con người. Thiên Chúa không đến để kết án nhưng để ban bình an cho con người giữa những bất an của cuộc sống. Chúa còn cho các môn đệ xem tay và cạnh sườn để xác nhận Ngài đã chiến thắng cái chết. Niềm vui phục sinh chỉ đến sau khi đã đi qua khổ hình Thập giá.

“Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa.”  Niềm vui thật sự đến từ việc gặp Chúa. Điều này cho chúng ta cảm nghiệm luôn có niềm vui sâu xa, vì có Chúa hiện diện.

“Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” Từ người sợ hãi, giờ đây các tông đồ trở thành người được sai đi. Có một sự liên tục giữa sứ mạng của Chúa Giê-su và Giáo hội. Chúng ta không làm việc tự mình, nhưng làm việc ‘trong’ và ‘cho’ Đấng đã sai ta. Vì thế, đức tin không phải để giữ cho riêng mình nhưng là để được sai đi phục vụ.

“Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo:“Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20, 22). Hành động thổi hơi gợi nhớ lại việc Thiên Chúa tạo dựng nên con người. Phục sinh cũng là một cuộc sáng tạo mới. Mỗi người được ban sức sống mới từ Chúa.

“Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ” (Ga 20, 23). Chúa trao quyền tha tội cho các tông đồ và qua các tông đồ, trao cho Hội Thánh. Đây là việc biểu hiệu cao nhất của lòng thương xót. Bí tích Hòa Giải không phải là nơi để xét xử nhưng là nơi gặp gỡ lòng thương xót.

“Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến” (Ga 20, 23). Ông Tô-ma tách khỏi cộng đoàn và ông rơi vào hoài nghi. Điều này nhắc nhở rằng đức tin cần phái có cộng đoàn nâng đỡ.

“Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin”(Ga 20, 25). Ông Tô-ma đòi bằng chứng. Nghi ngờ không phải là tội nhưng là cơ hội để đi sâu hơn vào đức tin. Điều quan trọng là chúng ta đừng dừng lại ở nghi ngờ nhưng là hãy tìm kiếm Chúa.

“Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em” (Ga 20, 26.)  Các môn đệ đã được gặp Chúa rồi, họ vẫn lo sợ nhưng họ ở lại với nhau. Nhiều lúc đức tin lớn lên trong kiên nhẫn, không phải lúc nào cũng “biến đổi ngay” được.

“Rồi Người bảo ông Tô-ma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin” (Ga 20, 27). Ông Tô-ma bị tổn thương vì thất vọng, vì mất niềm tin. Ông đòi ‘thấy’ và ‘chạm’ vào vết thương của Chúa. Chúa Giê-su không trách móc ông. Ngược lại, Ngài mời gọi Tô-ma chạm vào vết thương của mình.

“Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Đức Giê-su bảo:“Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!”(Ga 20, 28-29). Đây là lời tuyên xưng đức tin đầy đủ nhất về thiên tính của Chúa Giê-su trong các sách Tin Mừng. Tin Mừng không nói ông đã chạm, có lẻ ông không cần chạm nữa, bởi chính tình yêu nơi các vết thương đã làm ông tin. Chúa chúc phúc cho chúng ta, những con người không thấy Chúa bằng mắt trần, nhưng tin qua lời chứng của các tông đồ và của Giáo Hội.

“Những điều đã được chép ở đây là để anh em tin... và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người” (x. Ga 20, 30-31). Tin Mừng không phải là sách sử học thuần túy, mà là sách khơi gợi đức tin. Tin vào Chúa Giê-su không chỉ là chấp nhận một hệ thống giáo lý, mà là để có “Sự Sống”, sự sống đời đời ngay từ bây giờ.

Các em thân mến,
Chúa Nhật 2 Phục sinh cũng là Chúa Nhật Lòng Thương Xót được Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II thiết lập. Qua đó, Hội Thánh mời gọi chúng ta chiêm ngắm một chân lý căn bản: Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót và lòng thương xót ấy được bày tỏ cách trọn vẹn nơi Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh.

Khi lắng nghe Tin Mừng hôm nay, chúng ta không thể không nghĩ đến những vết thương đổ vỡ, ly tán, thiếu cảm thông hay mặc cảm, tội lỗi, thất bại mà con người có thể gặp phải.

Các em thân mến,
Chúa đã đến và đã chữa lành cho chúng ta. Giờ đây, chúng ta có thể làm gì để chữa lành những vết thương này nơi anh chị em mình?

Chúng ta đã được thương xót, chúng ta được mời gọi trở thành người trao ban lòng thương xót. Đó là hãy tha thứ cho người làm tổn thương mình, không xét đoán ai nhưng hãy luôn cảm thông, hãy lắng nghe bạn bè và an ủi người bị bỏ rơi…

Có như thế, chúng ta mới trở nên những tông đồ đích thực của Chúa Giê-su.

Hãy trở nên những học trò ngoan của Thầy Giê-su các em nhé.

Mến chào tất cả các em.
Gb. Nguyễn Thái Hùng

 CÚ QUAY LẠI CHẬM RÃI CỦA MARIA MAĐALÊNA




avatarAnne-Marie Chapleau
WGPQN (10/4/2026) - Bài viết dẫn người đọc đi vào hành trình nội tâm của Maria Mađalêna trong buổi sáng Phục sinh: từ nước mắt, nỗi mất mát và khát khao níu giữ, đến cuộc gặp gỡ biến đổi với Đức Kitô Phục sinh, để học biết buông bỏ và sống niềm tin vào sự hiện diện mới của Chúa.

Trong khi Tin mừng Nhất lãm thuật lại có ít nhất hai người phụ nữ đến viếng mộ vào sáng Phục sinh, Tin mừng Gioan lại trình bày cuộc gặp gỡ riêng tư giữa Đức Giêsu và Maria Mađalêna (20, 1-2, 11-18). Ở đấy, bà trải nghiệm một hành trình độc đáo, mà kết thúc là mối quan hệ của bà với Chúa của mình được định hình lại hoàn toàn. Không tìm thấy điều mình tìm kiếm, nhưng bà được ban cho khả năng sống với sự vắng mặt. Bức họa Noli me tangere (Đừng chạm vào Thầy)[1] của Fra Angelico minh họa rõ ràng sự căng thẳng này giữa mong muốn níu giữ lại và sự chấp nhận buông ra.

Maria Mađalêna, đến mộ trước khi bóng tối hoàn toàn tan biến, đã nhanh chóng nhận thấy tảng đá được lăn ra và, không cần phải xác minh thêm, bà đã đưa ra kết luận vội vàng khi chia sẻ với Simon Phêrô và môn đệ khác: “Họ đã đem Chúa ra khỏi mộ” (câu 2). Nhưng sự hiểu biết này bị lấm lem bởi một sự thiếu hiểu biết nhất định: "Chúng tôi không biết họ đã đặt Ngài ở đâu" (câu 2). Chúa “bị lấy đem đi”: Chỉ riêng điều này thôi đã đủ quan trọng và khiến bà đau lòng, nó khoét một khoảng trống không thể chịu đựng được trong lòng bà. Thực vậy, con người không thích mất đi những gì mình yêu thương. Nhân tiện, chúng ta hãy lưu ý cách văn bản nhanh chóng chuyển sang đại từ “chúng tôi”, điều này cho thấy sự hiện diện của ít nhất một người khác bên cạnh bà; nhưng đây không phải là điều mà văn bản muốn dẫn dắt độc giả chúng ta.

Trong tám câu tiếp theo, câu chuyện chuyển từ Maria Mađalêna đến hành trình chạy ra mộ của hai môn đệ. Chúng ta không biết chính xác bà ở đâu trong thời gian này nữa: Liệu bà có ở gần mộ, như thì quá khứ chưa hoàn thành (imparfait) trong câu 11 gợi ý? Hay bà lạc lối trong không gian mơ hồ, không xác định nơi bà gặp hai môn đệ? Dù sao đi nữa, sẽ không có mối liên hệ nào khác giữa trải nghiệm của họ và bà trong phần còn lại của câu chuyện.

Chúa nào?

Dù sao đi nữa, bà đang "ở gần mộ, bên ngoài, đang khóc" (câu 11). Bà cúi mình vào trong mộ và chiêm ngưỡng "hai thiên thần mặc áo trắng" (câu 12). Họ đánh dấu chính xác vị trí nơi đặt "thi thể của Đức Giêsu". Lời của họ vang lên từ nơi vắng mặt này, hoàn toàn phù hợp với những gì bà thể hiện qua con người mình: "Này bà, sao bà khóc?" (câu 13). Bà lặp lại với họ gần như từng chữ một những gì bà đã nói với Simon Phêrô và bạn đồng hành của ông. Chỉ trừ có một điều, khi chỉ nói bằng ngôi thứ nhất ("tôi"), giờ đây dường như bà là người duy nhất quan tâm đến sự biến mất của… Của cái gì, chính xác là của cái gì? Của một thân xác, một xác chết mà bà ta vẫn khăng khăng gọi là "Chúa" và thậm chí còn chiếm hữu nó: "Chúa của tôi" (câu 13).

Cú quay lại đầu tiên

Không rõ lý do, bà quay lại (câu 14). Chẳng phải là bà đã quay đi khi bỏ lại sau lưng ngôi mộ và cái chết đó sao? Sau đó, bà nhìn thấy Đức Giêsu, nhưng vẫn bám víu vào ý nghĩ rằng Chúa của bà là một xác chết bất động, bà nhầm Ngài với người làm vườn. Từ đó, hình ảnh một ngôi mộ trong vườn[2] chiếm lấy tâm trí bà, và đây chính xác là điều mà Fra Angelico, giống như rất nhiều nghệ sĩ khác, đã miêu tả. Đức Giêsu hỏi bà cùng một câu hỏi như các thiên thần, nhưng Ngài nói thêm: “Bà tìm ai?” (câu 15).

Đây là cách hành văn của Tin mừng thứ tư. Nhiều lần lặp lại, được tô điểm bằng một vài biến thể và bổ sung, hoạt động như một làn sóng thủy triều lên;[3] mỗi làn sóng mới lại làm bờ biển ướt xa hơn. Câu hỏi tuyệt vời của Đức Giêsu có thể định hướng lại cuộc tìm kiếm của Maria Mađalêna. Cuộc tìm kiếm ấy có thực sự khao khát tìm lại một xác chết không? Há chẳng phải trong lòng bà, cũng như trong mỗi người, đều khao khát một cuộc gặp gỡ thực sự, với một chủ thể, là "ai" (câu 15), chứ không phải với một đối tượng, là "thân xác của Đức Giêsu" hay sao?

Tuy nhiên, bị ám ảnh bởi nỗi mất mát đau đớn mà bà trải qua, Maria vẫn cứng nhắc tin rằng điều bà tìm kiếm đã bị đánh cắp. Có lẽ chính người đàn ông trước mặt bà đã chiếm lấy quyền mà giờ đây bà tự cho là mình có: Quyền lấy đi thân thể bất động này mà bà vẫn coi là Chúa của mình.

Cú quay lại thứ hai

Phải cần thêm một lời nữa từ Đức Giêsu để kéo bà ra khỏi nỗi ám ảnh của mình. Đức Giêsu thốt ra một từ duy nhất, tên của bà: “Maria!” (câu 16). Đột nhiên, mọi thứ thay đổi, và bà quay lại. Nếu hiểu theo nghĩa đen, chúng ta sẽ hiểu một cách phi lý rằng bà đang đứng quay lưng về phía Đức Giêsu. Nhưng cú quay lại này thuộc một cấp độ khác, một cú xoay nội tâm. Nó cho phép bà lấy lại chỗ đứng trong cuộc sống và khám phá lại căn tính của mình - Maria!

Đến lượt mình, bà thốt ra chỉ một lời: “Rabôni!” (câu 16). Khi ấy, bà nhận ra Đức Giêsu là thầy - đó là ý nghĩa của từ được sử dụng. Vả lại, Ngài vẫn chưa dạy bà xong việc bà phải rời khỏi nấm mồ của trí tưởng tượng. Điều gì ẩn sau cử chỉ bà cố níu giữ Ngài lại? Ảo tưởng trở về trạng thái trước khi chịu đóng đinh trên thập tự giá, khi bà có thể ở gần hoặc thậm chí chạm vào Ngôi Lời nhập thể chăng (Ga 1,14; 1 Ga 1,1)? Trong bức bích họa của Fra Angelico, cử chỉ bàn tay phải của Đức Giêsu làm dịu đi hoặc ngăn chặn chuyển động của người môn đệ. Ngài nói với Maria “Đừng chạm vào Thầy” (câu 18). Mệnh lệnh sắc bén này rõ ràng đã nêu lên điều cấm, ranh giới không được vượt qua. Maria, sau khi phải từ bỏ hình ảnh Chúa là xác chết và ước muốn sở hữu thân xác Ngài, phải đi xa hơn nữa trong sự mất mát. Bà không thể nắm giữ được Chúa; bà sẽ không bao giờ làm được. Không thể nào nắm giữ được Đấng Phục sinh; Ngài thoát khỏi mọi nỗ lực chiếm hữu. Mối quan hệ của họ từ nay sẽ phải sống khác đi. Vẫn trong tác phẩm của Fra Angelico, đôi tay của Maria, hầu như sẵn sàng chạm vào Thầy, cuối cùng có lẽ đang mở ra trong một cử chỉ buông bỏ và chấp nhận. Đức Giêsu đã phác họa sự ra đi của Ngài, như được thể hiện qua tư thế bắt chéo chân kỳ lạ và vạt áo choàng bay phất phới sang bên trái. Và Đức Kitô Phục sinh giải thích: “Vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: ‘Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em’” (câu 17).

Điểm đến của Đức Giêsu không phải là một nơi chốn, mà là một chủ thể thần linh, một Thiên Chúa đồng thời cũng là "Cha" - của chính Ngài, của các môn đệ, của Maria Mađalêna, và của chúng ta, miễn là chúng ta tham gia vào cộng đồng anh chị em của Ngài. Thực tại vắng mặt của Ngài được khẳng định, không thể phủ nhận, và nó đòi hỏi sự chấp thuận. Một cách kín đáo, Ngài thừa nhận rằng Maria đã chấp nhận khi Ngài giao phó cho bà trách nhiệm làm cho các môn đệ khác nghe được lời này, trong đó Ngài công bố sự tái cấu trúc các mối quan hệ của họ. Và bà quả thật đã đồng ý khi, mọi nỗi đau được xóa bỏ, mọi khát khao nắm giữ lấy Ngài được xoa dịu, bà đã chạy đến với các môn đệ.

“Tôi đã thấy và vẫn tiếp tục thấy”

Ba động từ Hy Lạp được sử dụng trong đoạn văn này để mô tả những gì Maria thấy: blepô (thấy; câu 1) để miêu tả việc hòn đá được dời đi, theôreô (chiêm ngưỡng; câu 12) để khám phá ra các thiên thần và Đức Giêsu, và cuối cùng, horaô (đã thấy; câu 18) ở thì hoàn thành (parfait), khi bà nói với các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa, và đây là điều Ngài đã nói với tôi”. Thì “parfait” này diễn tả những ảnh hưởng lâu dài của một hành động đã xảy ra trong quá khứ. Có thể dịch nó là “Tôi đã thấy và tôi vẫn tiếp tục thấy”. Bà thấy và tiếp tục thấy, nhưng một cách khác biệt, sâu sắc hơn qua đức tin, về một Thiên Chúa vắng mặt. Bà đã để cho Lời của Đấng Phục sinh thấm vào xác thịt mình và làm nó quay trở lại, biến đổi nó. Bà trở thành người đầu tiên mang Lời ấy để những người khác có thể đón nhận mầu nhiệm và sự hiện diện của Lời ấy trong chính mình. Lời ấy vẫn còn đến với chúng ta ngày hôm nay.

Tác giả: Anne-Marie Chapleau

Chuyển ngữ: Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính 

Nguồn: gpquinhon.org

----------

[1] Bức bích họa nổi tiếng của Fra Angelico được vẽ năm 1450 trong một căn phòng tại Tu viện San Marco ở Florence.

[2] Về vấn đề này, một số người cho rằng có sự liên hệ giữa Maria Mađalêna và người yêu dấu trong Diễm ca. Những người khác lại thấy sự ám chỉ đến mộ của Đavít, nằm trong một khu vườn (2 Étra 13,16; Sách Étra thứ hai, không có trong Kinh thánh Công giáo, được tìm thấy trong bản Septuagint).

[3] Hình ảnh của nhà chú giải Michel Gourgues, O.P.

THỰC HÀNH SỐNG SỰ HIỆN DIỆN CỦA THIÊN CHÚA - BỨC THƯ THỨ NHẤT

 

THỰC HÀNH SỐNG SỰ HIỆN DIỆN CỦA THIÊN CHÚA - BỨC THƯ THỨ NHẤT



avatarThầy Lawrence
WHĐ (09/4/2026) – Một nhà báo đã hỏi Đức Giáo hoàng Lêô XIV là nên đọc quyển sách nào ngoài sách về Thánh Augustine để hiểu ngài. Ngài nói rằng cuốn sách mô tả đời sống tâm linh của ngài trong nhiều năm đó là cuốn: “Thực hành sống sự hiện diện của Thiên Chúa - The practice of the presence of God”. Đây là phần thứ năm của tập sách này với bản dịch Việt ngữ của Tô Linh.

BỨC THƯ THỨ NHẤT

Về cách thức đạt tới cảm thức thường hằng về sự hiện diện của Thiên Chúa

Vì anh đã ao ước một cách quá thiết tha việc tôi chia sẻ cho anh phương thế mà tôi đã dùng để đạt tới cảm thức thường hằng về sự hiện diện của Thiên Chúa, điều mà Chúa, Đấng giàu lòng thương xót, đã thương ban cho tôi, nên tôi phải thú thật rằng: Tôi đã rất khó khăn mới chiều theo lời nài xin của anh.

Và giờ đây, tôi viết những dòng này với một điều kiện duy nhất: Anh đừng cho bất cứ ai xem bức thư này. Bởi nếu tôi biết rằng anh sẽ để người khác đọc được, thì dù tôi có mong muốn cho sự thăng tiến thiêng liêng của anh đến đâu đi nữa, tôi cũng chẳng đời nào quyết định viết ra những điều này.

Những gì tôi có thể thuật lại cho anh là thế này:

Tôi đã tìm thấy trong nhiều cuốn sách vô vàn phương pháp khác nhau để đến cùng Thiên Chúa và thực hành đời sống thiêng liêng.

Nhưng tôi nghĩ rằng những điều ấy chỉ làm đầu óc tôi thêm rối rắm, hơn là giúp tôi đạt tới điều mình thực sự tìm kiếm; mà điều ấy chẳng là gì khác hơn là làm sao để trở nên hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa.

Điều đó khiến tôi quyết tâm dâng trọn tất cả cho Đấng là Tất Cả.

Vì thế, sau khi đã phó dâng trọn vẹn bản thân cho Thiên Chúa, hầu đền bù phần nào những tội lỗi của mình, thì vì lòng yêu mến Ngài, tôi đã từ bỏ mọi sự không phải là Ngài. Và tôi bắt đầu sống như thể trên đời này chỉ còn có Ngài và tôi mà thôi.

Có lúc, tôi tự đặt mình trước mặt Ngài như một tội nhân nghèo hèn dưới chân vị Thẩm Phán. Lúc khác, tôi lại chiêm ngắm Ngài trong lòng mình như người Cha, như Thiên Chúa của tôi. Tôi thờ lạy Ngài nhiều nhất có thể, gìn giữ tâm trí ở lại trong sự hiện diện thánh thiêng của Ngài, và kéo nó quay về mỗi khi nhận ra nó đã lang thang xa Ngài.

Việc tập luyện này chẳng phải là không khó nhọc, tuy vậy, tôi vẫn kiên trì thực hành, bất chấp mọi khó khăn xảy đến, và không để lòng mình xao xuyến hay bối rối mỗi khi trí khôn vô tình xao lãng.

Tôi coi việc này là bổn phận chính yếu của mình, không chỉ trong những giờ cầu nguyện đã ấn định, mà là suốt cả ngày dài. Bởi trong mọi lúc, mọi giờ, mọi phút, ngay cả khi công việc bận rộn nhất, tôi đều xua đuổi khỏi tâm trí mọi điều có thể làm gián đoạn việc tưởng nhớ đến Thiên Chúa.

 Đó là lối sống thường xuyên của tôi kể từ khi bước vào đời tu. Dẫu tôi đã thực hành điều ấy rất bất toàn, nhưng tôi vẫn nhận ra những ích lợi lớn lao phát sinh từ đó.

Tôi biết rất rõ rằng tất cả những điều ấy chỉ có thể quy về lòng thương xót và nhân hậu của Thiên Chúa, bởi vì không có Ngài, ta không thể làm được gì; huống hồ là tôi, kẻ kém cỏi hơn hết mọi người.

Nhưng khi ta trung thành giữ mình trong sự hiện diện thánh thiêng của Ngài, và luôn đặt Ngài trước mắt, thì điều ấy không những ngăn cản ta xúc phạm đến Ngài, giữ ta không cố ý làm phiền lòng Ngài, mà còn sinh ra trong ta một sự tự do thánh thiện.

Và nếu tôi được phép nói như vậy, thì đó như là một sự thân mật với Thiên Chúa, nhờ đó ta có thể khẩn xin và lãnh nhận cách hữu hiệu những ân huệ ta cần đến.

Sau cùng, nhờ lặp đi lặp lại những hành động ấy, chúng sẽ trở thành thói quen, và sự hiện diện của Thiên Chúa sẽ trở nên gần như tự nhiên đối với ta.

Nếu anh vui lòng, xin cùng với tôi dâng lời tạ ơn Thiên Chúa, vì lòng nhân hậu lớn lao Ngài dành cho tôi, điều mà tôi không bao giờ có thể chiêm ngắm cho đủ, trước muôn vàn ân huệ Ngài đã ban cho một kẻ tội lỗi khốn cùng như tôi.

Nguyện cho muôn loài chúc tụng Ngài. Amen.

Tô Linh

Chuyển ngữ từ: basilica.ca