Đức Phanxicô, Huấn dụ lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (02/02/2025) - Thiên Chúa là chủ sự sống

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (01/02/2025) - Ánh sáng nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (02/02/2024) - Tinh thần chờ đợi Chúa

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (02/02/2022) - Trung tâm của mọi thứ là Chúa Kitô

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (02/02/2021) - Sự kiên nhẫn trong đời sống thánh hiến

Đức Phanxicô, Huấn dụ lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (02/02/2020) - Di chuyển và ngạc nhiên

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (01/02/2020) - Đôi mắt thấy ơn cứu độ

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (02/02/2019) - Cuộc gặp gỡ ban đầu với Chúa

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (02/02/2010) - Thiên Chúa giới thiệu Người Con Một cho nhân loại

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (02/02/2009) - Thánh Phaolô, mẫu gương đời sống thánh hiến

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (02/02/2006) - Toả chiếu khắp nơi tình yêu của Đức Kitô, Ánh sáng thế gian

 

Đức Phanxicô, Huấn dụ lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (02/02/2025) - Thiên Chúa là chủ sự sống

Anh chị em thân mến, chúc Chúa Nhật tốt lành!

Hôm nay, Tin Mừng phụng vụ (Lc 2,22-40) kể cho chúng ta về việc Đức Maria và Thánh Giuse đem Hài Nhi Giêsu lên Đền Thờ Giêrusalem. Theo Luật Môsê, hai ngài dâng Con Trẻ trong nhà của Thiên Chúa, để nhắc nhở rằng sự sống đến từ Chúa. Và trong khi Thánh Gia thực hiện điều mà dân Israel vẫn làm từ thế hệ này sang thế hệ khác, thì một điều chưa có tiền lệ đã xảy ra.

Hai vị cao niên, ông Simeon và bà Anna, đã nói tiên tri về Chúa Giêsu: cả hai đều ca tụng Thiên Chúa và nói về Hài Nhi cho “những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giê-ru-sa-lem” (c. 38). Giọng nói xúc động của họ vang lên giữa những bức tường cổ kính của Đền Thờ, loan báo sự viên mãn của những lời hứa dành cho Israel. Quả thật, Thiên Chúa hiện diện giữa dân Người: không phải vì Người ngự giữa bốn bức tường, mà vì Người sống như một con người giữa nhân loại. Đây chính là điều mới mẻ nơi Chúa Giêsu. Trong tuổi già của ông Simeon và bà Anna, một điều mới mẻ đã xảy ra, điều làm thay đổi lịch sử thế giới.

Về phần mình, Đức Maria và Thánh Giuse ngạc nhiên trước những điều họ nghe được (x. c. 33). Khi ông Simeon bế Hài Nhi, ông đã gọi Người bằng ba cách thật đẹp, đáng để chúng ta suy ngẫm. Ba cách, ba danh xưng mà ông dành cho Người. Chúa Giêsu là ơn cứu độ; Chúa Giêsu là ánh sáng; Chúa Giêsu là dấu chỉ của sự chống đối.

Trước hết, Chúa Giêsu là ơn cứu độ. Ông Simeon cầu nguyện với Thiên Chúa: “Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân” (cc. 30-31). Điều này luôn làm chúng ta kinh ngạc: ơn cứu độ phổ quát được tập trung nơi một người duy nhất! Thật vậy, bởi vì trong Chúa Giêsu, tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa, của Tình Yêu Người, đều ngự trị (x. Cl 2,9).

Khía cạnh thứ hai: Chúa Giêsu là “ánh sáng để chiếu soi muôn dân” (c. 32). Như mặt trời mọc lên trên thế giới, Hài Nhi này sẽ cứu chuộc thế giới khỏi bóng tối của sự dữ, đau khổ và sự chết. Ngày nay, chúng ta cần ánh sáng này biết bao!

Cuối cùng, Hài Nhi được ông Simeon ôm vào lòng là dấu chỉ của sự chống đối, để “những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra” (c. 35). Chúa Giêsu mặc khải tiêu chuẩn để phán xét toàn bộ lịch sử và bi kịch của nó, cũng như cuộc đời của mỗi người chúng ta. Và tiêu chuẩn đó là gì? Đó là tình yêu: ai yêu thương thì được sống, ai ghét bỏ thì phải chết.

Chúa Giêsu là ơn cứu độ, Chúa Giêsu là ánh sáng và Chúa Giêsu là dấu chỉ của sự chống đối.

Được soi sáng bởi cuộc gặp gỡ này với Chúa Giêsu, chúng ta có thể tự hỏi: Tôi đang mong đợi điều gì trong cuộc đời mình? Niềm hy vọng lớn lao của tôi là gì? Trái tim tôi có khao khát được nhìn thấy dung nhan Chúa không? Tôi có đang chờ đợi sự biểu lộ của kế hoạch cứu độ Người dành cho nhân loại không?

Chúng ta hãy cùng cầu nguyện với Đức Maria, Mẹ tinh tuyền, để Mẹ đồng hành với chúng ta giữa ánh sáng và bóng tối của lịch sử, luôn dẫn đưa chúng ta đến cuộc gặp gỡ với Chúa.

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (01/02/2025) - Ánh sáng nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục

“Lạy Thiên Chúa, này con xinđến để thực thi ý Ngài” (Dt 10,7). Với những lời này, tác giả Thư gửi tín hữu Do Thái diễn tả sự tuân phục trọn vẹn của Chúa Giêsu đối với kế hoạch của Chúa Cha. Hôm nay, chúng ta đọc lại những lời ấy trong ngày lễ Đức Mẹ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh, cũng là Ngày Đời Sống Thánh Hiến, trong bối cảnh Năm Thánh Hy Vọng, với biểu tượng ánh sáng xuyên suốt phụng vụ. Và tất cả anh chị em, những người đã chọn con đường các lời khuyên Phúc Âm, đã thánh hiến chính mình như “Tân Nương trước sự hiện diện của Chàng Rể, được bao phủ bởi ánh sáng của Người” (Thánh Gioan Phaolô II, Tông Huấn Đời Sống Thánh Hiến, số 15), để bước vào chính kế hoạch nhiệm mầu của Chúa Cha, vốn được khởi đi từ thuở tạo thiên lập địa. Kế hoạch ấy sẽ được hoàn tất trọn vẹn vào ngày tận thế, nhưng ngay từ bây giờ, nó đã được tỏ hiện qua “những kỳ công Thiên Chúa thực hiện nơi thân phận mỏng giòn của những con người được Người kêu gọi” (số 20). Vậy, chúng ta hãy suy ngẫm về cách thức, qua những lời khấn nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục mà các anh chị em đã tuyên xưng, có thể mang ánh sáng đến với những người nam nữ của thời đại chúng ta.

Sự khó nghèo bắt nguồn từ chính sự sống của Thiên Chúa, nơi sự trao hiến trọn vẹn và vĩnh cửu giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần (số 21). Khi sống đức khó nghèo, người thánh hiến sử dụng mọi sự một cách tự do và quảng đại, trở nên người mang lại phúc lành cho thế giới. Họ biểu lộ vẻ đẹp của vạn vật trong trật tự của tình yêu, loại bỏ mọi thứ có thể làm lu mờ vẻ đẹp ấy – như ích kỷ, tham lam, lệ thuộc, hay việc sử dụng bạo lực và mục đích gây chết chóc – và đón nhận những gì làm tỏa sáng vẻ đẹp ấy: sự thanh đạm, lòng quảng đại, chia sẻ và tình liên đới. Như Thánh Phaolô nói: “Tất cả thuộc về anh em, nhưng anh em thuộc về Đức Kitô, và Đức Kitô thuộc về Thiên Chúa” (1Cr 3,22-23). Đó là đức khó nghèo.

Thứ hai là sự khiết tịnh. Sự khiết tịnh cũng bắt nguồn từ mầu nhiệm Ba Ngôi, phản chiếu “tình yêu vô biên liên kết Ba Ngôi Thiên Chúa” (số 21). Qua việc từ bỏ tình yêu hôn nhân và qua sống đời khiết tịnh, người thánh hiến khẳng định sự ưu việt tuyệt đối của tình yêu Thiên Chúa, được đón nhận với một trái tim không chia sẻ và mang tính hôn ước (x. 1Cr 7,32-36). Tình yêu ấy trở nên nguồn mạch và khuôn mẫu cho mọi tình yêu khác.

Chúng ta biết rằng chúng ta đang sống trong một thế giới thường bị chi phối bởi những hình thức tình cảm méo mó, nơi nguyên tắc “điều gì làm tôi thích” thúc đẩy người ta tìm kiếm nơi người khác sự thỏa mãn nhu cầu của mình hơn là tìm kiếm niềm vui được phát sinh từ một cuộc gặp gỡ đích thực.

Đó là sự thật. Trong các mối tương quan, nguyên tắc này làm nảy sinh thái độ hời hợt và không ổn định, ích kỷ và chủ nghĩa khoái lạc, non nớt và vô trách nhiệm về đạo đức. Người phối ngẫu được chọn để sống cả đời bị thay thế bằng "người cộng tác" trong một khoảng thời gian, trong khi những đứa trẻ vốn được đón nhận cách tự do như một món quà bị thay thế bằng thứ mà người ta yêu cầu như một “quyền” hoặc bị loại bỏ vì "không mong muốn".

Thưa các chị em, trong bối cảnh này, và "nhu cầu ngày càng tăng về sự trung thực nội tâm trong các mối quan hệ con người" (Vita Consecrata, 88) và các mối liên kết con người lớn hơn giữa các cá nhân và cộng đoàn, sự khiết tịnh thánh hiến cho chúng ta thấy và chỉ ra cho những người nam nữ của thế kỷ XXI một cách để chữa lành căn bệnh của sự cô lập qua việc thực hành một cách yêu thương tự do và giải phóng. Một cách yêu thương chấp nhận và tôn trọng tất cả mọi người, trong khi không ép buộc hoặc từ chối ai. Thật là một liều thuốc bổ cho tâm hồn khi được gặp gỡ những tu sĩ có khả năng xây dựng những mối tương quan trưởng thành và tràn đầy niềm vui như thế! Họ là hình ảnh phản chiếu tình yêu Thiên Chúa (x. Lc 2,30-32). Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, điều quan trọng là các cộng đoàn của chúng ta phải cung cấp cho sự phát triển tinh thần và tình cảm của các thành viên của họ, ngay trong quá trình đào tạo ban đầu cũng như trong quá trình đào tạo trường kỳ. Bằng cách này, đức khiết tịnh có thể thực sự bộc lộ vẻ đẹp của một tình yêu tự hiến dâng mình, và tránh được những hiện tượng có hại như sự chán nản trong tâm hồn hoặc những lựa chọn không phù hợp là triệu chứng của sự bất hạnh, bất mãn, và dẫn đến một thời điểm nào đó, thường ở những cá nhân dễ bị tổn thương, việc sống "cuộc sống hai mặt". Hằng ngày luôn có cuộc chiến chống lại sự cám dỗ của cuộc sống hai mặt. Đó là hằng ngày.

Sự vâng phục cũng được nói đến trong bài đọc hôm nay, qua mối tương quan giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha, diễn tả “vẻ đẹp giải phóng của một sự lệ thuộc mang tính con thảo, không phải nô lệ, nhưng tràn đầy ý thức trách nhiệm và được thúc đẩy bởi sự tin tưởng lẫn nhau” (số 21). Đó là ánh sáng của Lời Chúa trở thành quà tặng và đáp trả tình yêu, một dấu chỉ ngôn sứ cho xã hội chúng ta, nơi người ta có xu hướng nói nhiều nhưng ít lắng nghe, trong gia đình, nơi làm việc và đặc biệt là trên mạng xã hội, nơi chúng ta có thể trao đổi hàng loạt từ ngữ và hình ảnh mà không thực sự gặp gỡ người khác, vì chúng ta không thực sự tương tác với họ. Đây là một cái gì đó đáng chú ý. Nhiều lần, trong cuộc đối thoại hàng ngày, trước khi một người nói xong, một câu trả lời đã được đưa ra bởi vì người kia không lắng nghe. Chúng ta cần lắng nghe trước khi trả lời. Chào đón lời nói của người khác như một thông điệp, như một kho báu, thậm chí như một sự giúp đỡ cho tôi. Sự vâng phục thánh hiến là liều thuốc giải cho chủ nghĩa cá nhân cô lập, thay vào đó thúc đẩy một mẫu mực tương quan dựa trên sự lắng nghe chân thành, nơi “nói” và “nghe” được tiếp nối bằng hành động cụ thể, ngay cả khi phải từ bỏ sở thích, chương trình và ưu tiên của bản thân. Chỉ như thế, con người mới có thể cảm nghiệm trọn vẹn niềm vui của sự trao hiến, chiến thắng sự cô đơn và khám phá ý nghĩa đời mình trong kế hoạch lớn lao của Thiên Chúa.

Tôi muốn kết luận bằng cách đề cập thêm một cái gì đó. Ngày nay trong đời sống thánh hiến, có nhiều cuộc nói chuyện về việc "trở về với nguồn cội". Nhưng không phải là một sự trở lại nguồn cội như khi quay trở lại một bảo tàng. Không! Trở lại nguồn cội của cuộc sống chúng ta. Lời Chúa nhắc nhở chúng ta rằng sự trở về nguồn cội quan trọng nhất của mọi sự thánh hiến chính là trở về với Đức Kitô và lời “xin vâng” của Người đối với Chúa Cha. Sự canh tân không chỉ diễn ra qua các cuộc họp hay hội thảo – dù chúng rất hữu ích – nhưng trước hết là trước Nhà Tạm, trong sự thờ phượng, tái khám phá các Đấng Sáng Lập như những con người của đức tin, và cùng với các ngài, lặp lại trong lời cầu nguyện và sự hiến dâng: “Lạy Thiên Chúa, này con xin đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10,7).

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (02/02/2024) - Tinh thần chờ đợi Chúa

Trong khi muôn dân mong chờ ơn cứu độ của Chúa thì các ngôn sứ đã loan báo việc Người sẽ đến. Như ngôn sứ Malachi công bố: “Và bỗng nhiên Chúa Thượng mà các ngươi tìm kiếm, đi vào Thánh Ðiện của Người. Kìa, vị sứ giả của giao ước mà các ngươi đợi trông đang đến” (3,1). Ông Simeon và bà Anna là hình ảnh và hình tượng của sự mong đợi này. Khi nhìn thấy Chúa tiến vào đền thờ của Người, và được Chúa Thánh Thần soi sáng, họ nhận ra Người nơi Hài nhi mà Đức Maria đang ẵm trên tay. Họ đã chờ đợi Người suốt cuộc đời: Ông Simeon, “người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Ítraen, và Thánh Thần hằng ngự trên ông” (Lc 2,25); bà Anna, người “không rời bỏĐền thờ” (Lc 2,37).

Thật tuyệt vời cho chúng ta khi nhìn vào hai vị lão thành này, những người đang kiên nhẫn chờ đợi, tỉnh thức trong tinh thần và kiên trì cầu nguyện. Tâm hồn họ luôn tỉnh thức, như ngọn đuốc luôn cháy sáng. Dù tuổi đã cao nhưng tâm hồn họ vẫn trẻ trung. Họ không để mình bị thời gian làm tiêu hao, vì mắt họ luôn hướng về Thiên Chúa trong niềm mong đợi (x. Tv 145,15). Họ gắn bó với Chúa trong sự chờ đợi, luôn luôn chờ đợi. Trên hành trình cuộc đời, họ đã trải qua những khó khăn và thất vọng, nhưng họ không nhượng bộ trước thất bại: họ không “dập tắt” hy vọng. Và vì thế, khi chiêm ngưỡng Hài Nhi, họ nhận ra rằng thời gian đã viên mãn, lời tiên tri đã được ứng nghiệm, Đấng mà họ tìm kiếm và mong đợi, Đấng Messia của muôn dân, đã đến. Bằng việc tỉnh thức chờ đợi Chúa, họ có khả năng chào đón Người trong sự xuất hiện mới mẻ của Người.

Thưa anh chị em, việc chờ đợi Thiên Chúa cũng rất quan trọng đối với chúng ta, và đối với hành trình đức tin của chúng ta. Mỗi ngày Chúa đến thăm chúng ta, nói với chúng ta, tỏ mình ra theo những cách bất ngờ, và vào lúc cuối cuộc đời và thời gian, Người sẽ đến. Đây là lý do tại sao chính Người khuyên chúng ta hãy tỉnh thức, cảnh giác, và kiên trì chờ đợi. Thật vậy, điều tồi tệ nhất có thể xảy ra với chúng ta là rơi vào “giấc ngủ của tinh thần”, để trái tim ngủ quên, làm tê liệt tâm hồn, khóa chặt niềm hy vọng trong những góc tối của thất vọng và buông xuôi.

Tôi nghĩ đến các anh chị em được thánh hiến và hồng ân mà anh chị em là; Tôi nghĩ đến mỗi chúng ta, những Kitô hữu ngày nay: Liệu chúng ta có còn khả năng sống trong sự chờ đợi không? Chẳng phải đôi khi chúng ta quá chú tâm vào chính mình, vào sự vật, và vào nhịp sống mãnh liệt của cuộc sống hằng ngày đến mức quên mất Thiên Chúa là Đấng luôn đến sao? Chẳng phải chúng ta quá mê mẩn những việc lành của mình, thậm chí có nguy cơ biến đời sống tu trì và Kitô hữu thành “nhiều việc phải làm” và xao nhãng việc tìm kiếm Chúa hàng ngày sao? Chẳng phải đôi khi chúng ta lại chẳng mạo hiểm hoạch định cho đời sống cá nhân và cộng đoàn bằng việc tính toán cơ hội thành công, thay vì vun trồng hạt giống nhỏ được giao phó cho chúng ta với niềm vui và khiêm tốn, với sự kiên nhẫn của những người gieo hạt mà không đòi hỏi gì, và của những người biết chờ đợi thời điểm và những điều bất ngờ của Thiên Chúa sao? Chúng ta phải nhìn nhận rằng, đôi khi chúng ta đã mất khả năng chờ đợi. Điều này là do nhiều trở ngại khác nhau, và trong số đó, tôi muốn nêu bật hai trở ngại.

Trở ngại thứ nhất khiến chúng ta mất khả năng chờ đợi là sự lơ là đời sống nội tâm. Đây là điều xảy ra khi sự mệt mỏi lấn át sự ngạc nhiên, khi thói quen thay thế lòng nhiệt thành, khi chúng ta mất đi sự kiên trì trên hành trình tâm linh, khi những trải nghiệm tiêu cực, những xung đột, hoặc những kết quả tưởng chừng như chậm đến, khiến chúng ta trở thành những con người cay đắng và oán giận. Thật không tốt nếu cứ nghiền ngẫm về sự cay đắng, bởi vì trong một cộng đoàn tu trì, cũng như trong bất kỳ cộng đoàn và gia đình nào, những người cay đắng với “khuôn mặt ủ dột” làm cho bầu khí trở nên nặng nề; họ dường như có dấm trong lòng. Khi đó cần phải tìm lại ân sủng đã mất: nghĩa là quay trở lại, và nhờ một đời sống nội tâm mãnh liệt, trở về với tinh thần khiêm nhường vui tươi, và lòng biết ơn thầm lặng. Điều này được nuôi dưỡng bằng việc tôn thờ, bằng việc làm của đầu gối và của con tim, bằng lời cầu nguyện cụ thể phấn đấu và chuyển cầu, có khả năng khơi dậy lòng khao khát Thiên Chúa, tình yêu thuở ban đầu, sự kinh ngạc của ngày đầu tiên, và hương vị của sự chờ đợi.

Trở ngại thứ hai là việc thích nghi với lối sống thế tục mà cuối cùng sẽ thế chỗ của Tin Mừng. Thế giới của chúng ta là một thế giới thường chạy với tốc độ chóng mặt, đề cao “mọi thứ và ngay lập lức”, đắm chìm trong chủ nghĩa tích cực và tìm cách xua đuổi nỗi sợ hãi và lo lắng của cuộc sống trong các đền thờ ngoại giáo của chủ nghĩa tiêu thụ hoặc trong thú tiêu khiển bằng mọi giá. Trong bối cảnh như vậy, khi sự thinh lặng bị loại bỏ và mất đi, thì việc chờ đợi không còn là điều dễ dàng, vì nó đòi hỏi một thái độ thụ động lành mạnh, một sự can đảm để sống chậm lại, không để mình bị các hoạt động lấn át, dành chỗ trong tâm hồn mình cho hành động của Thiên Chúa. Đây là những bài học của kinh nghiệm thần bí Kitô giáo. Vậy chúng ta hãy cẩn thận để tinh thần thế tục không xâm nhập vào các cộng đoàn tu trì, vào đời sống Giáo hội, và vào hành trình của mỗi chúng ta, nếu không, chúng ta sẽ không sinh hoa kết trái. Đời sống Kitô hữu và sứ mạng tông đồ cần có trải nghiệm của sự chờ đợi, trưởng thành trong cầu nguyện và sự trung thành hằng ngày, để giải thoát chúng ta khỏi huyền thoại về tính hiệu quả, khỏi nỗi ám ảnh về năng suất, và trên hết, khỏi ý định nhốt Thiên Chúa vào những phạm trù của chúng ta, bởi vì Ngài luôn đến một cách khó lường, vào những lúc chúng ta không ngờ tới, và theo những cách mà chúng ta không mong đợi.

Như nhà thần bí và triết gia người Pháp Simone Weil đã nói, chúng ta là cô dâu chờ đợi chàng rể đến vào ban đêm, và: “Vai trò của người vợ tương lai là chờ đợi…. Khao khát Thiên Chúa và từ bỏ mọi thứ khác, chỉ duy điều nàycó thể cứu độchúng ta” (Waiting for God, Milan 1991, 196). Thưa anh chị em, chúng ta hãy vun trồng trong cầu nguyện tinh thần chờ đợi Chúa và học “tínhthụ động tốt lành của Thánh Thần”: nhờ đó, chúng ta sẽ có thể mở lòng đón nhận sự mới mẻ của Thiên Chúa.

Giống như ông Simeon, chúng ta cũng hãy ôm vào lòng Hài Nhi, vị Thiên Chúa của những điều mới mẻ và ngạc nhiên. Bằng việc chào đón Chúa, quá khứ mở ra cho tương lai, những gì cũ kỹ trong chúng ta mở ra cho những điều mới mẻ mà Ngài đánh thức. Và chúng ta biết rằng điều này không hề dễ dàng, bởi vì, trong đời sống tu trì cũng như trong đời sống của mọi Kitô hữu, thật khó để chống lại “sức mạnh của những điều cũ”. “Thậtkhông dễ để sự già nua trong chúng ta đón nhận mộtđứa trẻ – chào đón cái mớitrong sự cũ kỹ của chúng ta– … Sự mới mẻ của Thiên Chúa tự thể hiện nhưmột đứa trẻ, và chúng ta, với tất cả những thói quen, sợ hãi, nghi ngờ, lo lắng vàđố kỵ của mình – chúng ta hãy nghĩ đến sự đố kỵ –, hãy đối diệnvới đứa trẻ này. Liệu chúng ta sẽ ôm lấy đứa trẻ, chào đón đứa trẻ, vànhường chỗ cho đứa trẻ nàychăng? Liệu sự mới mẻ này có thực sự đi vào cuộc sống của chúng ta hay chúng ta sẽ cố gắng kết hợp cái cũ và cái mới, cố gắng để làm cho sự hiện diện của sự mới mẻ của Thiên Chúalàm phiền mình ít nhất có thể?” (C.M. Martini, Something So Personal. Meditations on Prayer, Milan 2009, 32-33).

Thưa anh chị em, những câu hỏi này là dành cho chúng ta, cho mỗi chúng ta, cho cộng đoàn của chúng ta, và cho Giáo hội. Giống như ông Simeon và bà Anna, chúng ta hãy thao thức, hãy để cho Thánh Thần thúc đẩy. Nếu giống như các ngài, chúng ta hãy sống sự chờ đợi trong việc chăm sóc đời sống nội tâm của mình và sống phù hợp với phong cách Tin Mừng; nếu giống như các ngài, chúng ta hãy sống trong sự chờ đợi, sẽ ôm lấy Chúa Giêsu, Đấng là ánh sáng và niềm hy vọng của cuộc đời chúng ta.

WHĐ (02/02/2024)

 

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (02/02/2022) - Trung tâm của mọi thứ là Chúa Kitô

Hai người cao tuổi, ông Simêon và bà Anna, đang chờ đợi trong Đền Thờ sự ứng nghiệm của lời hứa mà Thiên Chúa đã hứa với dân Ngài : sự xuất hiện của Đấng Thiên Sai. Tuy nhiên, sự chờ đợi của họ không phải là sự mong đợi thụ động, nó tràn đầy chuyển động. Chúng ta hãy nhìn vào những gì ông Simêon làm. Trước tiên, ông được thúc đẩy bởi Chúa Thánh Thần ; rồi ông nhìn thấy ơn cứu độ nơi Hài Nhi Giêsu và cuối cùng ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay (x. Lc 2, 26-28). Chúng ta chỉ xem xét ba hành động này và suy nghĩ về một số vấn đề quan trọng đối với chúng ta và cách riêng đối với đời sống thánh hiến.

Trước tiên, điều gì thúc đẩy chúng ta ? Ông Simêon lên Đền Thờ, « được Thánh Thần thúc đẩy » (c.27). Chúa Thánh Thần là nhân vật chính trong cảnh này. Ngài làm cho tâm hồn của ông Simêon bừng cháy lòng khao khát đối với Thiên Chúa. Ngài giữ niềm mong đợi sống động nơi tâm hồn ông : Ngài thúc giục ông lên Đền Thờ và làm cho mắt ông nhận ra Đấng Thiên Sai, ngay cả nơi hình hài một em bé nghèo khó. Đó là những gì Chúa Thánh Thần làm : Ngài làm cho chúng ta có thể phân định sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa không phải nơi những điều vĩ đại, ở những biểu hiện bề ngoài hay những biểu lộ sức mạnh, nhưng trong sự nhỏ bé và dễ bị tổn thương. Hãy nghĩ về thập giá. Ở đó, chúng ta cũng nhận thấy sự bé nhỏ và dễ bị tổn thương, nhưng còn điều gì đó rực rỡ : quyền năng của Thiên Chúa. Những từ « được Thánh Thần thúc đẩy » nhắc nhở chúng ta về những gì mà thần học tu đức gọi là « những chuyển động của Thánh Thần » : những chuyển động đó của linh hồn mà chúng ta nhận ra bên trong mình và được mời gọi để kiểm nghiệm, để phân định chúng có đến từ Chúa Thánh Thần hay không. Hãy chú ý đến những chuyển động nội tâm của Chúa Thánh Thần.

Chúng ta cũng có thể hỏi, ai thúc đẩy chúng ta nhất ? Đó là Chúa Thánh Thần, hay tinh thần của thế gian này ? Đây là một câu hỏi mà mọi người, cách riêng những người thánh hiến, cần phải hỏi. Chúa Thánh Thần thúc đẩy chúng ta nhìn thấy Thiên Chúa nơi sự bé nhỏ và dễ bị tổn thương của một em bé, nhưng đôi khi chúng ta có nguy cơ nhìn thấy sự thánh hiến của chúng ta về mặt kết quả, mục tiêu và thành công : chúng ta tìm kiếm sự ảnh hưởng, sự nổi trội, số lượng. Đây là một cám dỗ. Trái lại, Chúa Thánh Thần không yêu cầu những điều này. Ngài muốn chúng ta vun trồng sự trung tín hằng ngày và chú ý đến những điều bé nhỏ được giao phó cho chúng ta chăm sóc. Thật cảm động biết bao lòng trung tín được Ông Simêon và bà Anna thể hiện! Mỗi ngày họ lên Đền Thờ, mỗi ngày họ vẫn tỉnh thức và cầu nguyện, cho dù thời gian trôi qua và dường như không có gì xảy ra. Họ sống cuộc đời mình trong sự trông đợi, không nản lòng hay phàn nàn, kiên trì trong sự trung tín và nuôi dưỡng ngọn lửa hy vọng mà Chúa Thánh Thần đã nhen nhóm trong tâm hồn họ.

Thưa anh chị em, chúng ta có thể hỏi, điều gì thúc đẩy ngày sống của chúng ta? Đâu là tình yêu khiến chúng ta tiếp tục bước đi? Có phải đó là Chúa Thánh Thần, hay niềm đam mê trong chốc lát, hay điều gì khác? Chúng ta “chuyển động” như thế nào trong Giáo hội và trong xã hội? Đôi khi, ngay cả đằng sau vẻ bề ngoài của những công việc tốt lành, người ta vẫn có thể che giấu bệnh tự yêu bản thân, hay nhu cầu nổi bật lên. Trong những trường hợp khác, ngay cả khi chúng ta làm nhiều việc, các cộng đoàn tôn giáo của chúng ta có thể bị thúc đẩy bởi sự lặp đi lặp lại máy móc – hành động theo thói quen, chỉ để bận rộn – hơn là sự cởi mở nhiệt thành cho Chúa Thánh Thần. Hôm nay, tất cả chúng ta sẽ làm cho thật tốt để xem xét các động cơ bên trong và phân định những chuyển động thiêng liêng của chúng ta, để từ đó việc canh tân đời sống thánh hiến có thể diễn ra trước hết.

Câu hỏi thứ hai: mắt chúng ta nhìn thấy gì? Ông Simêon, được Thánh Thần thúc đẩy, đã nhìn thấy và nhận ra Chúa Kitô. Và ông cầu nguyện rằng: “Chính mắt con đã thấy ơn cứu độ của Chúa” (c.30). Đây là một phép lạ to lớn của đức tin: nó mở mắt, biến đổi cái nhìn, thay đổi viễn cảnh. Như chúng ta biết từ nhiều cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu trong Tin Mừng, đức tin được nảy sinh từ cái nhìn trắc ẩn của Thiên Chúa đối với chúng ta, làm mềm đi sự cứng lòng của chúng ta, chữa lành các vết thương của chúng ta và ban cho chúng ta đôi mắt mới để nhìn bản thân và thế giới của chúng ta. Những cách mới để nhìn bản thân, người khác và tất cả những hoàn cảnh mà chúng ta kinh qua, ngay cả những hoàn cảnh đau thương nhất. Cái nhìn này không ngây thơ nhưng là khôn ngoan. Một cái nhìn ngây thơ sẽ trốn chạy thực tại và khước từ nhìn nhận các vấn đề. Tuy nhiên, một cái nhìn khôn ngoan có thể “nhìn bên trong” và “nhìn xa hơn”. Đó là một cái nhìn không dừng lại ở vẻ bên ngoài, nhưng có thể đi vào chính những vết nứt của sự yếu đuối và thất bại của chúng ta, để phân định sự hiện diện của Thiên Chúa ngay cả ở đó.

Đôi mắt của cụ già Simêon, dù đã mờ đi theo năm tháng, nhưng vẫn nhìn thấy Chúa. Đôi mắt đó nhìn thấy ơn cứu độ. Còn chúng ta thì sao? Mỗi người chúng ta có thể hỏi: mắt chúng ta nhìn thấy gì? Đâu là cái nhìn của chúng ta về đời sống thánh hiến? Thế giới thường nhìn nó như là “một sự lãng phí”: “hãy nhìn con người trẻ trung đẹp đẽ đó trở thành một thầy dòng hay một nữ tu, thật là lãng phí! Nếu ít nữa thì họ cũng xấu…nhưng thật lãng phí”! Đó là cách chúng ta nghĩ. Có lẽ thế giới coi đây là di tích của quá khứ, một thứ vô dụng. Nhưng chúng ta, cộng đoàn Kitô hữu, nam nữ tu sĩ, chúng ta thấy gì? Mắt của chúng ta chỉ hướng vào bên trong, khao khát điều gì đó không còn tồn tại, hay chúng ta có khả năng có một cái nhìn xa trông rộng của đức tin, một cái nhìn cả bên trong và xa hơn? Có khôn ngoan để nhìn mọi thứ – đây là ân huệ của Chúa Thánh Thần – để nhìn mọi thứ thật tốt, để nhìn chúng theo đúng viễn cảnh, để nắm bắt thực tại. Tôi được soi sáng rất nhiều khi thấy những người nam và người nữ thánh hiến cao niên có đôi mắt sáng, tiếp tục mỉm cười và bằng cách này mang lại hy vọng cho người trẻ. Chúng ta hãy nghĩ về tất cả những lần chúng ta gặp những người như thế, và chúc tụng Thiên Chúa về điều này. Vì ánh mắt của họ tràn đầy hy vọng và rộng mở cho tương lai. Và có lẽ chúng ta sẽ làm thật tốt, trong những ngày này, để đi thăm các anh chị em tu sĩ lớn tuổi, để gặp họ, nói chuyến với họ, đặt những câu hỏi, để nghe những gì họ đang suy nghĩ. Tôi coi đây là một phương dược tốt.

Thưa anh chị em, Chúa không bao giờ không ban cho chúng ta những dấu hiệu mời gọi chúng ta trau dồi một cái nhìn mới mẻ về đời sống thánh hiến. Chúng ta cần làm điều này, nhưng dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần và ngoan ngoãn trước các chuyển động của Ngài. Chúng ta không thể giả vờ như không thấy những dấu hiệu này và tiếp tục như thường lệ, làm cùng những điều cũ, trôi theo quán tính trở lại với những hình thức của quá khứ, bị tê liệt bởi nỗi sợ thay đổi. Tôi đã nói đi nói lại điều này: ngày nay cám dỗ quay trở lại, vì sự an toàn, vì sợ hãi, để bảo vệ đức tin hay đặc sủng của đấng sáng lập…là một cám dỗ. Cám dỗ quay trở lại và bảo vệ “các truyền thống” cách cứng nhắc. Chúng ta hãy ghi nhớ điều này: cứng nhắc là một điều xấu xa, và bên dưới mọi hành vi cứng nhắc đều có những vấn đề nghiêm trọng. Cả ông Simêon và bà Anna đều không cứng nhắc; không, họ tự do và có niềm vui ca ngợi: Ông Simêon bằng cách ca ngợi Chúa và can đảm nói tiên tri cho Mẹ của Hài Nhi. Anna, giống như một cụ bà tốt lành, tiếp tục nói: “Hãy nhìn họ!” “Hãy nhìn điều này!” Bà nói với niềm vui, mắt bà đầy hy vọng. Không có quán tính của quá khứ, không có sự cứng nhắc. Chúng ta hãy mở mắt ra: Chúa Thánh Thần đang mời gọi chúng ta giữa những khủng hoảng của chúng ta – và những cuộc khủng hoảng có đó -, số lượng ngày càng giảm của chúng ta – “Thưa Cha, không có ơn gọi nào, bây giờ chúng con sẽ đi đến một hòn đảo nào đó ở Inđônêsia để xem liệu có thể tìm được một ơn gọi không” – và những sức lực đang giảm dần của chúng ta, để canh tân đời sống và cộng đoàn của chúng ta. Và chúng ta làm điều này như thế nào? Ngài sẽ chỉ đường cho chúng ta. Chúng ta hãy mở rộng tâm hồn, cách can đảm và không sợ hãi. Chúng ta hãy nhìn vào ông Simêon và bà Anna: dù đã tiến tới theo năm tháng, nhưng họ không trải qua những tháng ngày để khóc cho một quá khứ không bao giờ trở lại, nhưng thay vào đó họ đón nhận tương lai đang mở ra trước mắt mình. Thưa anh chị em, chúng ta đừng lãng phí hôm nay bằng cách nhìn lại ngày hôm qua, hay mơ về một ngày mai sẽ không bao giờ đến; thay vào đó, chúng ta hãy đặt mình thờ lạy trước mặt Chúa và cầu xin đôi mắt để nhìn thấy sự tốt lành và để phân biệt đường lối của Thiên Chúa. Chúa sẽ ban chúng cho chúng ta, nếu chúng ta xin Ngài. Bằng niềm vui, bằng sự can đảm, không sợ hãi.

Cuối cùng, câu hỏi thứ ba: chúng ta ẵm gì trong vòng tay của mình? Ông Simêon đã ẵm Chúa Giêsu trên tay mình (x. c.28). Đó là một cảnh cảm động, đầy ý nghĩa và độc nhất trong các Tin Mừng. Thiên Chúa cũng đã đặt Con của Ngài trong vòng tay của chúng ta, bởi vì ôm lấy Chúa Giêsu là điều cốt yếu, là chính trọng tâm của đức tin. Đôi khi chúng ta có nguy cơ mất phương hướng, bị cuốn vào hàng ngàn thứ khác nhau, ám ảnh về những vấn đề nhỏ nhặt hoặc lao vào các dự án mới, thế nhưng trung tâm của mọi thứ là Chúa Kitô, đón nhận Người là Chúa của cuộc đời chúng ta.

Khi ông Simêon ẵm Chúa trên tay mình, ông nói những lời chúc tụng, ngợi khen và ngạc nhiên. Và chúng ta, sau nhiều năm trong đời sống thánh hiến, có phải chúng ta đã đánh mất khả năng ngạc nhiên? Chúng ta vẫn có khả năng này không? Chúng ta hãy tự xét mình về điều này, và nếu ai đó không tìm thấy nó, thì người đó hãy xin ngạc nhiên, ngạc nhiên trước những kỳ công mà Thiên Chúa đang hành động trong chúng ta, ẩn giấu, giống như những điều trong Đền Thờ, khi ông Simêon và bà Anna gặp Chúa Giêsu. Nếu những người nam và người nữ thánh hiến thiếu những lời chúc tụng Thiên Chúa và những người khác, nếu họ thiếu niềm vui, nếu lòng nhiệt huyết của họ thất bại, nếu đời sống huynh đệ của họ chỉ là việc chán phèo, nếu sự ngạc nhiên thiếu đi, thì đó không phải là lỗi của ai đó hay điều gì khác. Lý do thực sự là vòng tay của chúng ta không còn ôm lấy Chúa Giêsu nữa. Và khi vòng tay của một người nam hay người nữ thánh hiến không ôm lấy Chúa Giêsu, thì họ ôm lấy một khoảng chân không mà họ cố gắng lấp đầy bằng những thứ khác, nhưng nó vẫn là chân không.Ẵm Chúa Giêsu trong vòng tay chúng ta: đây là dấu hiệu, là hành trình, là công thức đổi mới. Khi chúng ta không còn ẵm Chúa Giêsu trong vòng tay mình, thì tâm hồn chúng ta sẽ là nạn nhân của sự cay đắng. Thật buồn khi thấy các tu sĩ cay đắng: khép kín trong việc phàn nàn về những điều không diễn ra như bộ máy đồng hồ. Họ luôn than phiền về điều gì đó: bề trên, anh chị em của mình, cộng đoàn, thức ăn…Họ sống để than phiền về điều gì đó. Nhưng chúng ta phải ôm lấy Chúa Giêsu trong sự thờ phượng và cầu xin đôi mắt có khả năng nhìn thấy điều tốt lành và phân định đường lối của Thiên Chúa. Nếu chúng ta đón nhận Chúa Kitô với đôi vòng tay rộng mở, thì chúng ta cũng sẽ đón nhận người khác với sự tin tưởng và khiêm tốn. Khi đó xung đột sẽ không leo thang, bất đồng sẽ không chia rẽ, và cám dỗ thống trị và xúc phạm phẩm giá của người khác sẽ được vượt qua. Vì thế, chúng ta hãy mở rộng vòng tay cho Chúa Kitô và cho tất cả anh chị em của chúng ta. Vì đó là nơi Chúa Giêsu ở.

Các bạn thân mến, hôm nay, chúng ta hãy hân hoan làm mới lại sự thánh hiến của mình! Chúng ta hãy tự hỏi điều gì đang “thúc đẩy” tâm hồn và hành động của chúng ta, cái nhìn đổi mới nào chúng ta được mời gọi vun trồng, và trên hết, chúng ta hãy ẵm lấy Chúa Giêsu trong vòng tay của mình. Cho dù đôi khi chúng ta cảm thấy mệt mỏi và kiệt sức – điều này cũng xảy ra -, thì chúng ta hãy làm như ông Simêon và bà Anna đã làm. Họ đã kiên nhẫn chờ đợi sự trung tín của Chúa và không để mình bị cướp đi niềm vui gặp gỡ Người: điều này thật là đẹp! Chúng ta hãy đặt Chúa trở lại trung tâm, và vui mừng tiến về phía trước. Amen.

Nguồn: xuanbichvietnam.net

 

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (02/02/2021) - Sự kiên nhẫn trong đời sống thánh hiến

Simeon, như Thánh Luca nói với chúng ta, “đang đợi chờ niềm ủi an của Israel” (Lc 2:25). Lên Đền Thờ khi Đức Maria và Thánh Giuse đang đưa Chúa Giêsu vào đó, ông đã ôm Đấng Mêsia vào tay mình. Người nhận ra nơi Hài Nhi đó ánh sáng chiếu soi cho Dân Ngoại là một cụ già đã kiên nhẫn chờ đợi những lời hứa của Chúa được thực hiện.

Sự kiên nhẫn của Simeon. Chúng ta hãy xem xét kỹ hơn sự kiên nhẫn của cụ già này. Suốt cuộc đời, ông đã chờ đợi, rèn luyện sự kiên nhẫn của trái tim. Trong lời cầu nguyện của mình, Simeon đã học được rằng Thiên Chúa không đến trong những sự kiện phi thường, nhưng hoạt động giữa sự đơn điệu rõ ràng của cuộc sống hàng ngày của chúng ta, trong nhịp điệu thường xuyên buồn tẻ của các hoạt động của chúng ta, trong những điều nhỏ nhặt mà khi làm việc với sự kiên trì và khiêm tốn, chúng ta thành công trong nỗ lực để thực thi ý muốn của Chúa. Bằng sự kiên nhẫn, Simeon không hề mệt mỏi theo thời gian. Lúc bấy giờ, ông đã già nhưng ngọn lửa trong tim ông vẫn cháy sáng. Trong cuộc đời lâu dài của ông, chắc chắn đã có lúc ông bị tổn thương, thất vọng nhưng ông không mất hy vọng. Ông tin tưởng vào lời hứa và không để mình bị tổn thương bởi sự hối tiếc về thời gian đã qua hoặc bởi cảm giác chán nản có thể đến khi chúng ta sắp bước vào chạng vạng của cuộc đời mình. Niềm hy vọng và sự mong đợi của ông được thể hiện nơi sự kiên nhẫn hàng ngày của một người, bất chấp mọi sự, vẫn tỉnh thức, cho đến khi cuối cùng “mắt ông nhìn thấy ơn cứu độ” như đã được hứa (x. Lc 2:30).

Tôi tự hỏi: Ông Simeon đã học được sự kiên nhẫn như vậy ở đâu? Nó nảy sinh từ lời cầu nguyện và lịch sử của dân Người, vốn luôn được nhìn thấy nơi Chúa “một Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34:6). Ngài đã nhận ra Chúa Cha, Đấng ngay cả khi bị khước từ và bất trung, vẫn không bao giờ bỏ cuộc, nhưng vẫn “kiên nhẫn trong nhiều năm” (x. Nk 9:30), không ngừng chờ đợi chúng ta hoán cải.

Vì vậy, sự kiên nhẫn của Simeon là tấm gương phản chiếu sự kiên nhẫn của chính Thiên Chúa. Từ lời cầu nguyện và lịch sử của dân tộc mình, Simeon đã học được rằng Thiên Chúa thực sự rất kiên nhẫn. Thánh Phaolô nói với chúng ta rằng bằng sự kiên nhẫn đó, ngài “dẫn chúng ta đến sự sám hối” (Rm 2:4). Tôi thích nghĩ đến Romano Guardini, người đã từng nhận xét rằng kiên nhẫn là cách Thiên Chúa đáp lại sự yếu đuối của chúng ta và cho chúng ta thời gian để chúng ta thay đổi (x. Glaubenserkenntnis, Würzburg, 1949, 28). Hơn ai hết, Đấng Messia, Chúa Giêsu, Đấng được ông Simeon ẵm trong tay, cho chúng ta thấy sự kiên nhẫn của Thiên Chúa, Người Cha nhân hậu, Đấng luôn kêu gọi chúng ta, cho đến giờ phút cuối cùng. Thiên Chúa, Đấng không đòi hỏi sự hoàn hảo nhưng nhiệt tình chân thành, Đấng mở ra những khả năng mới khi tất cả dường như đã mất, Đấng muốn mở ra một vết nứt trong trái tim chai cứng của chúng ta, Đấng để cho hạt giống tốt phát triển mà không nhổ tận gốc cỏ dại. Đây là lý do chúng ta hy vọng: Thiên Chúa không bao giờ mỏi mệt chờ đợi chúng ta. Khi chúng ta xa cách Chúa, Người đến tìm chúng ta; khi chúng ta ngã xuống đất, Người nâng chúng ta dậy; khi chúng ta trở về với Người sau khi xa lạc, Người vẫn mở rộng vòng tay chờ đón chúng ta. Tình yêu của Người không đong đo theo quy mô tính toán của con người chúng ta, nhưng luôn truyền cho chúng ta lòng can đảm để bắt đầu lại. Nó dạy chúng ta tính kiên cường, lòng dũng cảm để bắt đầu lại. Luôn luôn, mỗi ngày. Sau khi vấp ngã, luôn luôn bắt đầu lại. Người kiên nhẫn.

Chúng ta hãy nhìn vào sự kiên nhẫn của mình. Chúng ta hãy nhìn vào sự kiên nhẫn của Thiên Chúa và sự kiên nhẫn của Simeon khi chúng ta xem xét đời sống thánh hiến của chính mình. Chúng ta có thể tự hỏi lòng kiên nhẫn thực sự bao hàm điều gì. Chắc chắn đó không chỉ đơn giản là việc chịu đựng khó khăn hay thể hiện sự quyết tâm cao độ trước khó khăn. Kiên nhẫn không phải là dấu chỉ của sự yếu đuối nhưng là sức mạnh giúp chúng ta “mang gánh nặng” của những vấn đề cá nhân và cộng đoàn, chấp nhận người khác với chúng ta, kiên trì trong việc thiện và tiếp tục tiến bước ngay cả khi bị mệt mỏi và nản chí.

Hãy để tôi chỉ ra ba hoàn cảnh cụ thể nơi sự kiên nhẫn được thể hiện.

Trước tiên là cuộc sống cá nhân của chúng ta. Đã có lúc chúng ta đáp lại tiếng gọi của Chúa, và với lòng nhiệt thành và quảng đại dâng hiến cuộc đời mình cho Ngài. Trên đường đi, cùng với những niềm an ủi, chúng ta cũng có những nỗi thất vọng và chán nản. Đôi khi, công việc khó nhọc của chúng ta không đạt được kết quả mong muốn, những hạt giống chúng ta gieo dường như không sinh đủ hoa trái, lòng nhiệt thành cầu nguyện của chúng ta nguội lạnh và chúng ta không phải lúc nào cũng tránh khỏi được sự khô khan tâm linh. Trong cuộc sống của chúng ta, những người nam nữ thánh hiến, có thể xảy ra tình trạng niềm hy vọng dần dần phai nhạt do những kỳ vọng không được đáp ứng. Chúng ta phải kiên nhẫn với chính mình và chờ đợi trong hy vọng thời gian và địa điểm của chính Thiên Chúa, vì Ngài luôn trung thành với những lời hứa của mình. Đây là viên đá nền tảng: Ngài luôn giữ đúng lời hứa của mình. Việc ghi nhớ điều này có thể giúp chúng ta quay trở lại những bước đi của mình và làm sống lại những ước mơ của mình, thay vì đầu hàng nỗi buồn và sự chán nản nội tâm. Thưa anh chị em, trong chúng ta những người nam nữ thánh hiến, nỗi buồn nội tâm là một con sâu, một con sâu ăn thịt chúng ta từ bên trong. Chạy trốn khỏi nỗi buồn nội tâm!

Hoàn cảnh thứ hai trong đó sự kiên nhẫn có thể trở nên cụ thể là đời sống cộng đoàn. Tất cả chúng ta đều biết rằng các mối tương quan giữa con người với nhau không phải lúc nào cũng thanh thản, nhất là khi chúng liên quan đến việc chia sẻ một dự án cuộc sống hoặc hoạt động tông đồ. Có những lúc xung đột nảy sinh và không thể nào mong đợi một giải pháp tức thời, cũng như không nên đưa ra những phán xét vội vàng. Cần có thời gian để lùi lại, gìn giữ hòa bình và chờ đợi thời cơ tốt hơn để giải quyết các tình huống trong bác ái và trong sự thật. Chúng ta đừng để mình bị bối rối trước những cơn bão tố. Trong Giờ kinh Phụng vụ Kinh Sách cho Bài đọc ngày mai, có một đoạn rất hay về sự phân định tâm linh của Diodochus thành Photice. Ông nói: “Một vùng biển yên tĩnh cho phép ngư dân nhìn thẳng vào độ sâu của nó. Không có con cá nào có thể trốn ở đó và thoát khỏi tầm mắt của anh ta. Tuy nhiên, biển giông bão sẽ trở nên âm u khi bị gió lay động”. Chúng ta sẽ không bao giờ có thể phân biệt rõ ràng, nhìn ra sự thật nếu tâm hồn chúng ta bị kích động và thiếu kiên nhẫn. Không bao giờ! Các cộng đoàn của chúng ta cần loại kiên nhẫn hỗ tương này: khả năng hỗ trợ, nghĩa là gánh trên vai chúng ta, mạng sống của một trong những anh chị em của chúng ta, kể cả những yếu đuối và thất bại của họ, tất cả! Chúng ta hãy nhớ rằng Chúa không kêu gọi chúng ta trở thành nghệ sĩ độc tấu - chúng ta biết có rất nhiều người trong Giáo hội – không! chúng ta không được kêu gọi trở thành nghệ sĩ độc tấu nhưng là thành viên của một ca đoàn đôi khi có thể bỏ lỡ một hoặc hai nốt nhạc, nhưng phải luôn cố gắng đồng thanh hát.

Cuối cùng, hoàn cảnh thứ ba là mối tương quan của chúng ta với thế giới. Simeon và Anna đã ấp ủ niềm hy vọng được các vị tiên tri công bố, mặc dù nó chậm được thực hiện và phát triển một cách âm thầm giữa những bất trung và đổ nát của thế giới chúng ta. Họ không phàn nàn về những điều sai trái mà kiên nhẫn tìm kiếm ánh sáng soi rọi trong bóng tối của lịch sử. Để tìm kiếm ánh sáng soi rọi trong bóng tối của lịch sử; để tìm kiếm ánh sáng chiếu rọi trong bóng tối của cộng đoàn chúng ta. Chúng ta cũng cần sự kiên nhẫn như vậy để không rơi vào bẫy phàn nàn. Một số người là bậc thầy phàn nàn, bác sĩ phàn nàn, họ rất giỏi phàn nàn! Không, việc phàn nàn giam cầm chúng ta: “thế giới không còn lắng nghe chúng ta nữa” – chúng ta thường nghe điều đó như thế nào - hoặc “chúng ta không còn ơn gọi nữa nên phải đóng cửa”, hoặc “đây là thời điểm không dễ dàng” – “ à, đừng nói với tôi nhé!…”. Và thế là cuộc song ca phàn nàn bắt đầu. Có thể xảy ra rằng ngay cả khi Thiên Chúa kiên nhẫn cày xới mảnh đất lịch sử và trái tim của chúng ta, chúng ta tỏ ra thiếu kiên nhẫn và muốn phán xét mọi sự ngay lập tức: bây giờ hoặc không bao giờ, bây giờ, bây giờ, bây giờ. Bằng cách này, chúng ta đánh mất nhân đức “nhỏ bé” nhưng đẹp đẽ nhất: niềm hy vọng. Tôi đã thấy nhiều tu sĩ nam nữ mất hy vọng chỉ vì thiếu kiên nhẫn.

Sự kiên nhẫn giúp chúng ta có lòng thương xót trong cách chúng ta nhìn bản thân, cộng đoàn và thế giới của chúng ta. Trong cuộc sống của chúng ta, chúng ta có đón nhận sự kiên nhẫn của Chúa Thánh Thần không? Trong cộng đoàn của chúng ta, chúng ta có chịu đựng lẫn nhau và tỏa chiếu niềm vui của đời sống huynh đệ không? Trên thế giới, chúng ta có kiên nhẫn cống hiến sự phục vụ của mình hay đưa ra những phán xét khắc nghiệt? Đây thật sự là những thách thức đối với đời sống thánh hiến của chúng ta: chúng ta không thể cứ mắc kẹt trong nỗi hoài niệm về quá khứ hay đơn giản là cứ lặp lại những điều cũ kỹ hoặc những lời phàn nàn hàng ngày. Chúng ta cần kiên nhẫn và can đảm để tiếp tục tiến lên, khám phá những con đường mới và đáp lại sự thúc giục của Chúa Thánh Thần. Và làm như vậy một cách khiêm tốn và đơn giản, không cần phải tuyên truyền hay quảng cáo rầm rộ.

Chúng ta hãy chiêm ngắm lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa và cầu xin để có lòng kiên nhẫn tin tưởng của Simeon và Anna. Bằng cách này, ước gì đôi mắt của chúng ta cũng nhìn thấy ánh sáng cứu độ và mang ánh sáng đó đến cho toàn thế giới, giống như hai cụ già này đã làm trong lời chúc tụng của họ.

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Đức Phanxicô, Huấn dụ lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (02/02/2020) - Di chuyển và ngạc nhiên

Anh chị em thân mến, chào buổi sáng!

Hôm nay chúng ta mừng lễ Dâng Chúa Trong Đền Thờ, khi Chúa Giêsu mới sinh được Đức Trinh Nữ Maria và Thánh Giuse dâng vào đền thờ. Hôm nay cũng là Ngày Đời sống Thánh hiến, nhắc đến một kho báu vĩ đại trong Giáo hội của những người bước theo Chúa cách gần gũi theo các lời khuyên Phúc Âm.

Bài Tin Mừng (x. Lc 2: 22-40) kể rằng, bốn mươi ngày sau khi sinh, cha mẹ của Chúa Giêsu đã đem Hài Nhi lên Giêrusalem để tiến dâng cho Thiên Chúa, theo quy định của luật Do Thái. Và khi mô tả về một nghi thức theo truyền thống, câu chuyện còn kéo sự chú ý của chúng ta đến gương của một số nhân vật. Họ bắt được giây phút kinh nghiệm gặp gỡ Chúa tại nơi Ngài để cho mình hiện diện và gần gũi với con người. Nơi đây có Đức Maria và thánh Giuse, ông Simeon và bà Anna. Họ không ngang nhau, tất cả họ khác nhau nhưng tất cả tìm kiếm Thiên Chúa và để cho mình được dẫn đến trước Chúa.

Thánh sử Luca mô tả tất cả bốn người trong một thái độ kép: thái độ của sự di chuyển và thái độ của sự ngạc nhiên.

Thái độ đầu tiên là sự di chuyển. Đức Maria và thánh Giuse đi lên Giêrusalem; về phần mình, ông Simeon, được Thánh Thần thúc đẩy, đi lên đền thờ, trong khi bà Anna ngày đêm không ngừng phục vụ Thiên Chúa. Theo cách này, bốn nhân vật chính của đoạn Tin Mừng cho chúng ta thấy rằng đời sống Kitô hữu đòi hỏi sự năng động và sẵn sàng bước đi, để chúng ta được Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Sự bất động không phù hợp với chứng tá Kitô giáo và sứ mạng của Giáo hội. Thế giới cần những Kitô hữu cho phép mình di chuyển, những người không bao giờ mệt mỏi khi bước đi trên đường đời, để mang đến cho mọi người lời an ủi của Chúa Giêsu. Mỗi người được rửa tội đều nhận được một ơn gọi loan báo – loan báo một điều gì đó, loan báo Chúa Giêsu-, và ơn gọi sứ mạng Tin Mừng: loan báo Chúa Giêsu! Các giáo xứ và các cộng đoàn Giáo hội khác nhau được mời gọi khuyến khích sự dấn thân của những người trẻ, gia đình và người già, để mọi người có thể có một kinh nghiệm Kitô giáo, đóng một vai chính trong cuộc đời và sứ mạng của Giáo hội.

Thái độ thứ hai mà thánh Luca thể hiện bốn nhân vật của câu chuyện là sự ngạc nhiên. Đức Maria và thánh Giuse “ngạc nhiên về những điều họ nói về Chúa Giêsu” (câu 33). Sự ngạc nhiên là một phản ứng rõ ràng của cụ Simeon, người đã tận mắt nhìn thấy nơi Hài Nhi Giêsu ơn cứu độ của Thiên Chúa cho dân tộc mình. Ơn cứu độ này ông đã chờ đợi từ nhiều năm. Và sự ngạc nhiên này cũng đúng với bà Anna, người “cũng tiến lại ngợi khen Thiên Chúa” (câu 38) và bà đi nói với người khác… Đây là một bà thánh nhiều chuyện, nói chuyện tốt, nói những điều tốt, không phải điều xấu. Bà nói và loan báo, một bà thánh đi đến với một phụ nữ khác để giới thiệu Chúa Giêsu. Những người tin này được bao bọc trong sự ngạc nhiên, bởi vì họ để cho mình được bắt lấy và can dự vào các sự kiện xảy ra trước mắt họ. Khả năng ngạc nhiên về những điều xung quanh chúng ta thúc đẩy kinh nghiệm tôn giáo và làm cho cuộc gặp gỡ với Chúa đơm hoa kết trái. Trái lại, không có khả năng ngạc nhiên khiến chúng ta thờ ơ và xẻ rộng khoảng cách giữa hành trình đức tin và cuộc sống hàng ngày.

Anh chị em thân mến, hãy để mình được luôn di chuyển và để mình được mở ra với sự ngạc nhiên.

Xin Đức Trinh Nữ Maria giúp chúng ta chiêm ngưỡng món quà của Thiên Chúa dành cho chúng ta mỗi ngày trong Chúa Giêsu, và để chúng ta được tham gia vào sự di chuyển của món quà, với sự ngạc nhiên vui mừng, để cả cuộc đời chúng ta có thể trở thành một lời ca ngợi Thiên Chúa, phục vụ anh em chúng ta.

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Đức Phanxicô, Bài giảng Lễ dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh (01/02/2020) - Đôi mắt thấy ơn cứu độ

“Vì chính mắt con đã được thấy ơn cứu độ” (Lc 2,30). Đó là những lời của cụ già Simêon, người mà bản văn Tin mừng trình bày như một con người đơn sơ: “công chính và sùng đạo” (x. c. 25). Thế nhưng, giữa tất cả những người có mặt trong Đền Thờ ngày hôm ấy, chỉ mình ông nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ. Ông đã thấy điều gì? Một Hài Nhi: nhỏ bé, mong manh, và đơn sơ. Nhưng nơi Hài Nhi ấy, ông đã thấy ơn cứu độ, bởi vì Chúa Thánh Thần đã cho ông nhận ra trong trẻ sơ sinh dịu hiền ấy “Đấng Kitô của Đức Chúa” (c. 26). Khi bồng ẵm Hài Nhi trên tay, bằng đức tin, ông cảm nghiệm rằng nơi Người, Thiên Chúa đang làm cho các lời hứa của Ngài được nên trọn. Và như thế, cụ già Simêon có thể ra đi trong bình an: ông đã được thấy ân sủng quý giá hơn cả sự sống (x. Tv 63,4), và không còn điều gì phải chờ đợi nữa.

Anh chị em tu sĩ thân mến, anh chị em cũng là những con người đơn sơ, những người đã nhận ra kho tàng quý giá hơn mọi của cải trần thế. Vì thế, anh chị em đã từ bỏ những điều quý giá, như của cải vật chất, như việc lập gia đình riêng cho mình. Tại sao anh chị em làm như vậy? Bởi vì anh chị em đã yêu mến Đức Giêsu, đã thấy mọi sự nơi Người; và bị cuốn hút bởi ánh nhìn của Người, anh chị em đã để lại mọi sự khác phía sau. Đời sống tu trì chính là cái nhìn ấy. Đó là việc nhận ra điều gì thật sự quan trọng trong cuộc sống. Đó là việc dang rộng vòng tay đón nhận hồng ân của Chúa, như cụ già Simêon đã làm. Đây chính là điều mà đôi mắt của những người sống đời thánh hiến chiêm ngắm: ân sủng của Thiên Chúa được đổ tràn vào tay họ. Người sống đời thánh hiến là người mỗi ngày nhìn lại chính mình và thưa lên: “Tất cả đều là hồng ân, tất cả đều là ân sủng.” Anh chị em thân mến, chúng ta không xứng đáng với đời sống tu trì; đó là một hồng ân tình yêu mà chúng ta đã lãnh nhận.

“Vì chính mắt con đã được thấy ơn cứu độ.” Đó là những lời chúng ta lặp lại mỗi buổi tối trong Kinh Tối. Với những lời ấy, chúng ta khép lại ngày sống của mình và thưa lên: “Lạy Chúa, ơn cứu độ của con đến từ Ngài; tay con không trống rỗng, nhưng đầy tràn ân sủng của Ngài.” Biết nhận ra ân sủng chính là điểm khởi đầu. Đó là việc nhìn lại, đọc lại chính lịch sử đời mình và nhận ra nơi đó hồng ân trung tín của Thiên Chúa: không chỉ trong những khoảnh khắc lớn lao của cuộc sống, mà cả trong sự mong manh, yếu đuối và bé nhỏ của chúng ta.

Ma quỷ, kẻ cám dỗ, lại tập trung vào “sự nghèo khó” của chúng ta, vào đôi tay trống rỗng của chúng ta: “Bao nhiêu năm qua mà anh vẫn không khá hơn, anh đã không đạt được điều mình có thể đạt, người ta không để anh làm điều anh đáng lẽ phải làm, anh không luôn trung tín, anh không có khả năng…” v.v. Mỗi người chúng ta đều rất quen thuộc với câu chuyện và những lời lẽ ấy. Chúng ta thấy điều đó phần nào là đúng, và rồi quay trở lại với những suy nghĩ và cảm xúc làm chúng ta chao đảo. Như thế, chúng ta có nguy cơ đánh mất phương hướng, đánh mất tình yêu nhưng không của Thiên Chúa. Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta và luôn trao ban chính mình cho chúng ta, ngay cả trong sự nghèo khó của chúng ta. Thánh Giêrônimô đã dâng cho Chúa rất nhiều, nhưng Chúa còn đòi hỏi thêm. Ngài thưa với Chúa: “Nhưng lạy Chúa, con đã dâng Ngài tất cả, tất cả rồi, còn thiếu gì nữa?” Và Chúa đáp: “Tội lỗi của con, sự nghèo khó của con: hãy dâng cho Ta chính sự nghèo khó của con.” Khi chúng ta chăm chú hướng nhìn về Người, chúng ta mở lòng đón nhận ơn tha thứ của Người, là ơn đổi mới chúng ta, và chúng ta được củng cố bởi lòng trung tín của Người. Hôm nay, chúng ta có thể tự hỏi: “Tôi hướng ánh nhìn của mình về ai: về Chúa hay về chính bản thân tôi?” Ai đặt ân sủng của Thiên Chúa lên trên hết, người ấy sẽ khám phá được phương thuốc giải độc cho sự ngờ vực và cho cách nhìn sự việc theo cái nhìn thế gian.

Có một cơn cám dỗ luôn rình rập đời sống tu trì: đó là nhìn mọi sự theo cái nhìn của thế gian. Điều này xảy ra khi người ta không còn xem ân sủng của Thiên Chúa là động lực chi phối đời sống, rồi bắt đầu đi tìm những điều thay thế khác: một chút danh tiếng, một sự an ủi tình cảm, hay cuối cùng là được làm điều mình muốn. Nhưng khi đời sống thánh hiến không còn xoay quanh ân sủng của Thiên Chúa, thì nó sẽ khép kín lại nơi chính mình. Nó đánh mất nhiệt huyết, trở nên uể oải, trì trệ. Và chúng ta biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo: chúng ta bắt đầu đòi hỏi không gian riêng, quyền lợi riêng; chúng ta để mình bị cuốn vào những chuyện nói hành nói xấu; chúng ta dễ tự ái trước bất cứ điều nhỏ nhặt nào không vừa ý; và chúng ta nói những lời than phiền - than phiền, “cha than phiền”, “sơ than phiền” - về anh chị em mình, về cộng đoàn, về Giáo hội, về xã hội. Khi đó, chúng ta không còn nhận ra Chúa trong mọi sự nữa, mà chỉ thấy những chuyển động của thế gian, và con tim chúng ta trở nên chai cứng. Rồi chúng ta trở thành những con người sống theo thói quen, thực dụng; trong khi sâu thẳm bên trong, nỗi buồn và sự ngờ vực lớn dần, để rồi biến thành thái độ cam chịu. Đó chính là hệ quả của cái nhìn thế gian. Thánh Têrêsa Cả đã từng nói với các chị em rằng: “Khốn cho nữ tu nào cứ lặp đi lặp lại những lời này: ‘Người ta đã đối xử bất công với tôi’; khốn cho người ấy!”

Để có được cái nhìn đúng đắn về cuộc sống, chúng ta xin được ơn biết nhận ra ân sủng của Thiên Chúa dành cho mình, như cụ già Simêon. Ba lần, Tin mừng cho biết cụ già Simêon có mối tương quan thân thiết với Chúa Thánh Thần: Thánh Thần ở trên ông, linh hứng cho ông và thúc đẩy ông hành động (x. cc. 25–27). Ông có mối thân tình sâu sắc với Chúa Thánh Thần, với chính tình yêu của Thiên Chúa. Khi đời sống thánh hiến kiên vững trong tình yêu đối với Chúa, thì sẽ nhận ra vẻ đẹp. Khi ấy, người ta thấy rằng khó nghèo không phải là một nỗ lực quá sức, nhưng là một tự do cao cả mà Thiên Chúa ban cho chúng ta và cho người khác như một sự giàu có đích thực. Người ta thấy rằng khiết tịnh không phải là sự khô cằn khắc khổ, nhưng là con đường để yêu thương mà không chiếm hữu. Người ta thấy rằng vâng phục không chỉ là kỷ luật, nhưng là chiến thắng trước sự hỗn độn của chính mình, theo cách của Đức Giêsu.

Tại một trong những vùng ở Ý bị ảnh hưởng bởi động đất, khi nói về sự khó nghèo và đời sống cộng đoàn, có một đan viện Biển Đức đã bị phá hủy, và một đan viện khác đã mời các nữ tu đến ở tạm. Tuy nhiên, các chị chỉ ở đó một thời gian ngắn: các chị không cảm thấy hạnh phúc, vì luôn nghĩ đến đan viện của mình và đến những con người nơi đó. Cuối cùng, các chị quyết định trở về đan viện của mình, lúc ấy chỉ còn là hai cái nhà lưu động. Thay vì ở lại trong một đan viện lớn và tiện nghi, các chị sống chung với nhau trong cảnh nghèo khó, hết sức chật chội, nhưng lại hạnh phúc. Điều này xảy ra mới năm ngoái thôi. Thật là một điều đẹp đẽ!

“Vì chính mắt con đã được thấy ơn cứu độ.” Cụ già Simêon đã nhìn thấy Đức Giêsu là Đấng nhỏ bé, khiêm nhường, Đấng đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ, và vì thế ông tự nhận mình là người tôi tớ. Thật vậy, ông thưa lên: “Lạy Chúa, giờ đây xin để tôi tớ Ngài được an bình ra đi” (c. 29). Những ai nhìn mọi sự như Đức Giêsu nhìn, thì học biết cách sống để phục vụ. Họ không chờ đợi người khác khởi xướng, nhưng chính mình ra đi tìm kiếm người thân cận, như cụ già Simêon đã tìm gặp Đức Giêsu trong Đền Thờ. Vậy trong đời sống thánh hiến, người thân cận được tìm thấy ở đâu? Đó là câu hỏi: người thân cận ở đâu? Trước hết, là trong chính cộng đoàn của mình. Chúng ta cần xin ơn biết tìm gặp Đức Giêsu nơi những anh chị em đã được trao phó cho chúng ta. Và chính tại đó, chúng ta có thể bắt đầu thực hành đức ái: ngay nơi mình đang sống, bằng cách đón nhận anh chị em trong sự nghèo khó của họ, như cụ già Simêon đã đón nhận Đức Giêsu hiền lành và nghèo khó. Ngày nay, nhiều người chỉ nhìn thấy nơi người khác những trở ngại và phiền toái. Chúng ta cần có một ánh nhìn biết tìm kiếm người thân cận, một ánh nhìn đưa những người ở xa lại gần. Những nam nữ tu sĩ, là những người sống để noi gương Đức Giêsu, được mời gọi mang ánh nhìn của mình vào giữa thế giới: một ánh nhìn cảm thương, một ánh nhìn đi tìm những người ở xa; một ánh nhìn không kết án, nhưng khích lệ, giải phóng và an ủi; một ánh nhìn của lòng xót thương. Đó chính là cụm từ được Tin Mừng lặp đi lặp lại khi nói về Đức Giêsu: “Người chạnh lòng thương.” Đó là cử chỉ Đức Giêsu cúi xuống trước từng người chúng ta.

“Vì chính mắt con đã được thấy ơn cứu độ.” Đôi mắt của cụ già Simêon đã thấy ơn cứu độ bởi vì cụ hằng mong đợi điều ấy (x. c. 25). Đó là đôi mắt biết chờ đợi, chan chứa niềm hy vọng. Ông tìm kiếm ánh sáng và rồi đã thấy Ánh Sáng muôn dân (x. c. 32). Đó là đôi mắt của tuổi già, nhưng vẫn bừng cháy hy vọng. Ánh nhìn của những người sống đời thánh hiến chỉ có thể là ánh nhìn của niềm hy vọng - biết hy vọng. Nhìn quanh, người ta dễ đánh mất hy vọng: những điều không vận hành như mong muốn, sự suy giảm ơn gọi… Luôn có cơn cám dỗ nhìn theo kiểu thế gian, một cái nhìn không còn hy vọng. Nhưng chúng ta hãy hướng nhìn về Tin mừng và chiêm ngắm cụ già Simêon và bà Anna: các ngài tuổi cao, cô quạnh, nhưng không đánh mất niềm hy vọng, vì các ngài luôn ở trong sự hiệp thông với Chúa. Bà Anna “không rời khỏi Đền Thờ, ăn chay cầu nguyện đêm ngày mà phụng thờ Thiên Chúa” (c. 37). Đây chính là bí quyết: đừng bao giờ để mình xa cách Chúa, Đấng là nguồn mạch của niềm hy vọng. Chúng ta trở nên mù lòa nếu mỗi ngày không hướng nhìn về Chúa, nếu không thờ lạy Người. Hãy thờ lạy Chúa.

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy tạ ơn Thiên Chúa vì hồng ân đời sống thánh hiến và xin Người ban cho chúng ta một cách nhìn mới: biết nhận ra ân sủng, biết tìm kiếm người thân cận, và biết hy vọng. Khi đó, chính đôi mắt của chúng ta cũng sẽ thấy ơn cứu độ.

WHĐ (03/02/2020)

 

Đức Phanxicô, Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (02/02/2019) - Cuộc gặp gỡ ban đầu với Chúa

Anh chị em thân mến,

Phụng vụ hôm nay cho thấy Chúa Giêsu đến gặp Dân Người. Đây là lễ của sự gặp gỡ: sự mới mẻ của Hài Nhi gặp gỡ truyền thống của Đền thờ, lời hứa tìm được sự viên mãn, Đức Maria và Thánh Giuse trẻ trung gặp gỡ ông Simêon và bà Anna cao niên. Vì thế, mọi sự đều gặp nhau khi Chúa Giêsu xuất hiện.

Điều đó có ý nghĩa gì đối với chúng ta? Trước hết, điều đó cũng cho thấy chính chúng ta cũng được mời gọi đón tiếp Chúa Giêsu đến gặp gỡ chúng ta. Gặp gỡ Người: Thiên Chúa sự sống được gặp gỡ mỗi ngày trong đời sống chúng ta, không phải thỉnh thoảng mà là mỗi ngày. Theo Chúa Giêsu không phải là một quyết định được đưa ra một lần là xong, đó là một chọn lựa hằng ngày. Và chúng ta không gặp Chúa cách mờ ảo, nhưng trực tiếp, chúng ta gặp Người trong cuộc sống, trong những gì cụ thể của đời thường. Nếu không, Chúa Giêsu chỉ là một ký ức đẹp của quá khứ. Tuy nhiên, khi chúng ta đón tiếp Người là Chúa của sự sống, là trung tâm và nhịp đập của mọi sự, thì Người thực sự sống động và luôn mới mẻ trong chúng ta. Và điều đã xảy ra trong Đền thờ cũng xảy ra nơi chúng ta: mọi sự quy tụ chung quanh Người, và cuộc sống trở nên hài hòa. Với Chúa Giêsu, chúng ta lấy lại can đảm để tiến bước và sức mạnh để đứng vững. Cuộc gặp gỡ với Chúa chính là nguồn mạch. Vì thế, điều quan trọng là phải về nguồn: hãy nhớ lại khoảnh khắc quyết định khi chúng ta gặp gỡ Người, làm mới lại tình yêu thuở ban đầu, thậm chí có thể viết lại câu chuyện tình yêu của mình với Chúa. Điều đó rất hữu ích cho đời sống thánh hiến, để đời sống ấy không trở thành thời gian đã qua, nhưng là thời gian của gặp gỡ.

Khi chúng ta nhớ lại cuộc gặp gỡ ban đầu với Chúa, chúng ta nhận ra rằng cuộc gặp gỡ ấy không nảy sinh như một thứ riêng tư giữa ta với Thiên Chúa. Không phải vậy. Nó đã nở hoa trong bối cảnh của một dân tộc của niềm tin, bên cạnh nhiều anh chị em khác, tại những thời điểm và nơi chốn cụ thể. Tin mừng cho chúng ta thấy điều này khi trình bày cuộc gặp gỡ diễn ra trong lòng Dân Thiên Chúa, trong lịch sử cụ thể và truyền thống sống động của họ: theo luật, trong Đền thờ và bối cảnh của lời ngôn sứ, nơi người trẻ và người già gặp nhau (x. Lc 2,25-28.34). Đời sống thánh hiến cũng vậy, nó nảy mầm và lớn lên trong Hội Thánh; nếu bị cô lập, nó sẽ héo tàn. Nó trưởng thành khi người trẻ và người cao tuổi cùng nhau bước đi, khi người trẻ tìm lại cội nguồn, và người cao tuổi đón nhận hoa trái. Trái lại, khi chúng ta bước đi một mình, khi chúng ta mắc kẹt trong quá khứ hoặc vội vã lao về phía trước để tồn tại, thì đời sống thánh hiến sẽ trì trệ. Hôm nay, trong ngày lễ của cuộc gặp gỡ, chúng ta xin ơn tái khám phá Chúa hằng sống giữa một dân tộc của niềm tin, và để cho đặc sủng chúng ta đã lãnh nhận được gặp gỡ những ân sủng của ngày hôm nay.

Tin mừng cũng cho thấy cuộc gặp gỡ của Thiên Chúa với Dân Người có điểm khởi đầu và điểm đến. Nó bắt đầu bằng ơn gọi và đạt tới thị kiến trong Đền thờ. Đó là một ơn gọi mang hai chiều kích. Chiều kích thứ nhất là theo luật (c. 22). Đó là ơn gọi dành cho Thánh Giuse và Đức Maria, những người đến Đền thờ để chu toàn những gì luật dạy. Bản văn nhấn mạnh điều này đến bốn lần như một điệp khúc (x. cc. 22.23.24.27). Đây không phải là điều bị ép buộc. Cha mẹ của Chúa Giêsu không buộc phải đi, cũng không chỉ thi hành một bổn phận bên ngoài. Họ đi vì đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa. Chiều kích thứ hai là theo Thần Khí. Đó là ơn gọi dành cho ông Simêon và bà Anna. Điều này cũng được nhấn mạnh rõ ràng: riêng với ông Simêon, ba lần bản văn nhắc đến Chúa Thánh Thần (x. cc. 25.26.27); và kết thúc với bà Anna, nữ ngôn sứ được linh hứng để dâng lời tạ ơn Thiên Chúa (x. c. 38). Hai người trẻ được luật mời gọi tiến vào Đền thờ, còn hai người cao tuổi được Thần Khí thúc đẩy. Hai chiều kích của ơn gọi, theo luật dạy và theo Thần Khí hướng dẫn, có ý nghĩa gì cho đời sống thiêng liêng và đời sống thánh hiến của chúng ta? Nó thật ý nghĩa: tất cả chúng ta được mời gọi sống vâng phục kép: vâng phục luật, theo nghĩa là những gì mang lại trật tự cho đời sống chúng ta; và vâng phục Thần Khí, Đấng luôn làm những điều mới mẻ trong cuộc đời chúng ta. Từ đó, cuộc gặp gỡ với Chúa được khai sinh: Thần Khí mặc khải Chúa, nhưng để đón nhận Người, chúng ta cần kiên trì mỗi ngày. Ngay cả những đặc sủng cao cả nhất, nếu thiếu trật tự đời sống, cũng không thể sinh hoa trái. Ngược lại, những quy luật tốt đẹp nhất cũng không đủ nếu thiếu sự tươi mới của Thần Khí: luật và Thần Khí luôn đi cùng nhau.

Để hiểu rõ hơn ơn gọi này, được thể hiện hôm nay trong Đền thờ vào những ngày đầu đời của Chúa Giêsu, chúng ta hãy trở về những ngày đầu sứ vụ công khai của Người, tại tiệc cưới Cana, nơi Người biến nước thành rượu. Ở đó cũng có một lời mời gọi vâng phục, với Đức Maria nói: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5). Làm bất cứ điều gì. Và Chúa Giêsu bảo làm một điều rất cụ thể; Người không làm phép lạ ngay tức khắc, Người không tạo ra rượu từ hư không, dù Người có thể làm được như thế, nhưng Người đòi phải có hy sinh làm một việc cụ thể. Người yêu cầu họ đổ đầy nước cho sáu chum đá lớn dùng cho việc thanh tẩy theo luật. Điều đó có nghĩa là phải múc gần sáu trăm lít nước từ giếng, một công việc mất thời gian và công sức, tưởng chừng vô ích, vì cái thiếu không phải là nước mà là rượu! Thế nhưng, chính từ những chum được đổ “đầy tới miệng” (c. 7), Chúa Giêsu đã biến nước thành rượu mới. Tương tự như thế, Thiên Chúa mời gọi chúng ta gặp gỡ Người qua sự trung tín với những điều cụ thể, vì Thiên Chúa luôn được gặp gỡ trong những điều cụ thể: cầu nguyện hằng ngày, Thánh lễ, Bí tích Hòa giải, bác ái cụ thể, Lời Chúa mỗi ngày, sự gần gũi với những người túng thiếu nhất về tinh thần hay thể xác. Những điều cụ thể như: vâng phục bề trên và luật của đời sống thánh hiến. Nếu chúng ta thực hành những điều ấy với tình yêu, với tình yêu, thì Thần Khí sẽ đến và mang theo sự bất ngờ của Thiên Chúa, như đã xảy ra trong Đền thờ và tại Cana. Khi ấy, nước của đời sống thường ngày sẽ được biến đổi thành rượu của sự mới mẻ, và đời sống của chúng ta tưởng như bị ràng buộc nhiều hơn, thực ra lại trở nên tự do hơn. Điều này làm tôi nhớ đến một nữ tu khiêm nhường, người thực sự có đặc sủng ở gần với các linh mục và chủng sinh. Mới đây, án phong chân phước của chị đã được khởi sự tại Giáo phận [Rôma]. Chị là một nữ tu đơn sơ, không mấy ai biết đến, nhưng có nhân đức vâng phục, trung tín và không sợ những điều mới mẻ. Chúng ta xin Chúa, nhờ lời chuyển cầu của Nữ tu Bernadetta, ban cho tất cả chúng ta ơn biết bước đi trên con đường này.

Cuộc gặp gỡ khai sinh từ ơn gọi ấy đạt tới đỉnh điểm trong thị kiến. Ông Simêon nói: “Chính mắt con được thấy ơn cứu độ” (Lc 2,30). Ông nhìn thấy Hài Nhi và nhìn thấy ơn cứu độ. Ông không thấy Đấng Mêsia làm phép lạ, nhưng là một Trẻ Thơ bé nhỏ. Ông không thấy điều phi thường, nhưng thấy Chúa Giêsu cùng với cha mẹ dâng cho Đền thờ lễ vật nghèo hèn nhất: một đôi chim gáy hay hai bồ câu non (x. c. 24). Ông Simêon nhận ra sự đơn sơ của Thiên Chúa và đón nhận sự hiện diện của Người. Ông không tìm kiếm gì thêm, không đòi hỏi điều gì khác, chỉ cần thấy Hài Nhi và ẵm Người trong tay là đủ:
Nunc dimittis, Giờ đây, xin để tôi tớ này được ra đi”. Thiên Chúa, chỉ mình Người, là đủ cho ông. Nơi Thiên Chúa, ông tìm được ý nghĩa tối hậu của đời mình. Đó chính là thị kiến của đời sống thánh hiến, một thị kiến đơn sơ và mang tính ngôn sứ, lúc này, Chúa ở trước mặt ta và ta ôm Chúa trong tay mình mà không phục vụ điều gì khác. Người là sự sống, là niềm hy vọng, và là tương lai của chúng ta. Đời sống thánh hiến chính là thị kiến ngôn sứ ấy trong Hội thánh: nhìn thấy Thiên Chúa hiện diện trong thế giới, dù nhiều người không nhận ra; một tiếng nói thốt lên: “Có Chúa là đủ rồi, còm mọi sự khác sẽ qua đi”, đó là lời ngợi khen tuôn trào bất kể mọi sự, như nữ Ngôn sứ Anna đã cho thấy. Bà là một phụ nữ cao tuổi, đã sống nhiều năm trong cảnh góa bụa, nhưng không buồn bã, không hoài niệm u sầu, cũng không khép kín trong chính mình. Trái lại, bà trỗi dậy, ca ngợi Thiên Chúa và chỉ nói về Người (x. c. 38). Tôi thích nghĩ rằng bà là người biết “nói điều tốt lành”, và bà có thể là vị bổn mạng giúp chúng ta hoán cải khỏi tội nói hành nói xấu, vì bà đi từ nơi này đến nơi khác chỉ để nói: “Chính Người đó! Chính là Hài Nhi ấy! Hãy đến mà xem!” Tôi hình dung bà là người tốt lành như người hàng xóm bên cạnh.

Đó chính là đời sống thánh hiến: lời ngợi khen mang lại niềm vui cho Dân Thiên Chúa, thị kiến ngôn sứ làm lộ rõ điều thật sự quan trọng. Khi đời sống thánh hiến là như thế, nó sẽ trổ sinh hoa trái và trở thành lời mời gọi cho tất cả chúng ta chống lại sự tầm thường: chống lại việc hạ thấp đời sống thiêng liêng, chống lại cám dỗ làm cho Thiên Chúa trở nên thứ yếu, chống lại lối sống an nhàn và thế tục, chống lại những lời than phiền, than phiền, bất mãn và tự thương hại, chống lại não trạng cam chịu và kiểu nói: “Chúng ta vẫn luôn làm như thế.” Đó không phải là đường lối của Thiên Chúa. Đời sống thánh hiến không phải là để tồn tại, cũng không phải là chuẩn bị cho “nghệ thuật chết cho tử tế” (ars bene moriendi). Đó là cám dỗ của thời đại chúng ta trước sự suy giảm ơn gọi. Không! Đời sống thánh hiến là sự sống mới. Dù chỉ có ít người trong chúng ta, nó vẫn là sự sống mới. Đó là cuộc gặp gỡ sống động với Chúa trong dân của Người. Đó là lời mời gọi trung tín mỗi ngày và sẵn sàng đón nhận những bất ngờ của Thần Khí. Đó là thị kiến của điều chúng ta cần ôm lấy để có thể sống niềm vui: Chính là Chúa Giêsu.

WHĐ (02/02/2019)

 

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (02/02/2010) - Thiên Chúa giới thiệu Người Con Một cho nhân loại

Anh chị em thân mến,

Trong lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh, hôm nay chúng ta cử hành một mầu nhiệm trong cuộc đời Đức Kitô, gắn liền với quy định của Luật Môsê, theo đó bốn mươi ngày sau khi sinh người con đầu lòng, cha mẹ phải lên Đền thờ Giêrusalem để tiến dâng hài nhi cho Chúa và để người mẹ được thanh tẩy theo nghi thức (x. Xh 13,1-2.11-16; Lv 12,1-8). Đức Maria và thánh Giuse cũng chu toàn nghi lễ này, khi dâng tiến một đôi chim gáy hoặc bồ câu như Luật truyền dạy. Khi suy ngẫm sâu hơn về những điều này, chúng ta nhận ra rằng vào lúc ấy, chính Thiên Chúa đang giới thiệu Người Con Một của Ngài cho nhân loại, qua lời của cụ già Simêon và nữ ngôn sứ Anna. Thật vậy, ông Simêon đã tuyên xưng Đức Giêsu là “ơn cứu độ” của nhân loại, là “ánh sáng” cho muôn dân và là “dấu hiệu bị chống đối”, bởi vì Người sẽ bày tỏ những tư tưởng sâu kín trong lòng người (x. Lc 2,29-35). Tại các Giáo hội Đông phương, lễ này được gọi là Hypapante, một lễ hội gặp gỡ. Quả vậy, ông Simêon và bà Anna là những người đã gặp gỡ Đức Giêsu trong Đền Thánh và nhận ra Người là Đấng Mêsia được mong đợi từ bao thế hệ, đại diện cho nhân loại gặp gỡ Chúa của mình trong Giáo hội. Về sau, Lễ này cũng lan rộng sang phương Tây, nơi biểu tượng ánh sáng, đặc biệt là cuộc rước nến đã phát triển, từ đó xuất hiện tên gọi “Lễ Nến” (Candlemas). Dấu chỉ hữu hình ấy diễn tả niềm tin của Giáo hội khi gặp gỡ Đức Kitô, Đấng là “ánh sáng của nhân loại”, và để mang ánh sáng ấy đến cho thế giới, Giáo hội đón nhận Người với toàn bộ sức sống năng động của đức tin mình.

Gắn liền với lễ phụng vụ này, kể từ năm 1997, Đấng đáng kính Gioan Phaolô II đã thiết lập ngày Đời sống Thánh hiến, được cử hành trong toàn thể Giáo hội. Thật vậy, hy lễ của Con Thiên Chúa được biểu trưng qua việc Người được dâng tiến trong Đền Thánh chính là khuôn mẫu cho mọi người nam nữ hiến dâng trọn vẹn đời mình cho Chúa. Ngày này có ba mục đích chính: trước hết là ngợi khen và tạ ơn Chúa vì hồng ân đời sống thánh hiến; thứ hai là để thúc đẩy sự hiểu biết và trân trọng đời sống thánh hiến trong toàn thể Dân Chúa; và sau cùng là mời gọi tất cả những ai đã hiến dâng trọn đời mình cho Tin mừng cùng nhau cử hành những kỳ công mà Chúa đã thực hiện nơi chính họ. Khi bày tỏ lòng tri ân vì sự hiện diện đông đảo của anh chị em, trong ngày được dành cách đặc biệt cho anh chị em hôm nay, tôi muốn gởi lời chào thân ái đến từng người trong anh chị em, các tu sĩ nam nữ và những người sống đời thánh hiến, đồng thời bày tỏ sự gần gũi chân thành và lòng quý mến sâu sắc của tôi đối với những điều tốt đẹp anh chị em đang thực hiện để phục vụ Dân Thiên Chúa.

Đoạn trích ngắn từ Thư gửi tín hữu Do Thái vừa được công bố đã liên kết chặt chẽ những động lực làm nên nguồn gốc của biến cố đẹp đẽ và đầy ý nghĩa này, đồng thời mang đến cho chúng ta một số ý tưởng để suy ngẫm. Bản văn này tuy chỉ gồm hai câu vắn gọn nhưng chứa đựng ý nghĩa sâu sắc - mở đầu phần thứ hai của Thư gửi tín hữu Do Thái, qua đó giới thiệu chủ đề trung tâm là Đức Kitô, vị Thượng Tế. Thật vậy, cần lưu ý cả câu ngay trước đó đã được viết: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin” (Dt 4,14). Câu này cho thấy Đức Giêsu, Đấng lên trời về cùng Chúa Cha; trong khi câu tiếp theo lại diễn tả Đức Giêsu đi xuống thế để gặp gỡ con người. Đức Kitô được giới thiệu như Đấng Trung Gian: Người là Thiên Chúa thật và là người thật; vì thế, Người thực sự thuộc về cả thế giới thần linh lẫn thế giới nhân loại.

Thật vậy, chính và chỉ trên nền tảng của đức tin này, trên lời tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu Kitô, Đấng Trung Gian duy nhất và tối hậu mà đời sống thánh hiến, tức là đời sống được hiến dâng cho Thiên Chúa qua Đức Kitô, mới có ý nghĩa trong Giáo hội. Đời sống thánh hiến chỉ có ý nghĩa nếu Người thực sự là Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và chúng ta; nếu không, đời sống ấy chỉ còn là một hình thức thăng hoa hay là sự trốn tránh. Nếu Chúa Kitô không thực sự là Thiên Chúa và đồng thời là con người trọn vẹn thì nền tảng của đời sống Kitô hữu nói chung và cách đặc biệt là nền tảng của mọi hình thức thánh hiến của người nam cũng như người nữ sẽ không còn. Thật vậy, đời sống thánh hiến “một cách mạnh mẽ” làm chứng và diễn tả sự tìm kiếm lẫn nhau giữa Thiên Chúa và con người, một tình yêu thu hút họ đến với nhau. Chính việc được thánh hiến khiến người sống đời thánh hiến, theo một cách nào đó, là một “chiếc cầu” dẫn đến Thiên Chúa cho tất cả những ai gặp gỡ họ - một lời nhắc nhở, một điểm quy chiếu. Và tất cả điều đó đều phát xuất từ vai trò trung gian của Đức Giêsu Kitô, Đấng được thánh hiến của Chúa Cha. Người chính là nền tảng! Người là Đấng đã chia sẻ những yếu đuối của chúng ta, để chúng ta được tham dự vào bản tính thần linh của Người.

Thay vì dựa trên đức tin, đoạn Kinh thánh này nhấn mạnh đến “sự tin cậy”, nhờ đó chúng ta có thể mạnh dạn tiến lại gần “ngai ân sủng”, bởi vì chính vị Thượng Tế của chúng ta cũng đã “chịu thử thách về mọi phương diện như chúng ta.” Chúng ta có thể đến với Người để “lãnh nhận lòng thương xót”, “tìm được ân sủng” và “nhận được sự giúp đỡ trong lúc ta cần.” Đối với tôi, những lời này hàm chứa một chân lý vĩ đại, đồng thời cũng là một nguồn an ủi lớn lao cho chúng ta, những người đã lãnh nhận hồng ân và cam kết tận hiến đặc biệt trong Giáo hội.

Cách riêng, tôi nghĩ đến anh chị em, những người anh chị em thân mến. Anh chị em đã tiến đến với “ngai ân sủng” là chính Đức Kitô, Thập giá của Người, Trái tim của Người, sự hiện diện thần linh của Người trong Bí tích Thánh Thể với trọn vẹn niềm tín thác. Mỗi người trong anh chị em đã đến gần Người như nguồn mạch của Tình yêu tinh tuyền và chung thuỷ, một Tình yêu cao cả và tuyệt mỹ đến mức xứng đáng với tất cả mọi sự, thậm chí hơn cả tất cả những gì chúng ta có; bởi lẽ, cả một đời người cũng không đủ để đáp lại những gì Đức Kitô là và những gì Người đã thực hiện cho chúng ta. Nhưng anh chị em đã đến gần Người, và mỗi ngày vẫn tiếp tục đến gần Người hơn, để được trợ giúp kịp thời trong những lúc cần thiết và trong giờ phút thử thách.

Những người sống đời thánh hiến được mời gọi một cách đặc biệt để trở nên chứng nhân cho lòng thương xót của Thiên Chúa, nơi đó con người tìm được ơn cứu độ. Họ có một kinh nghiệm sống động về ơn tha thứ của Thiên Chúa, bởi họ ý thức rằng mình là những con người được cứu độ, họ trở nên cao cả khi biết nhìn nhận mình nhỏ bé, và cảm nghiệm được sự đổi mới cũng như được bao phủ bởi sự thánh thiện của Thiên Chúa khi khiêm tốn nhận ra tội lỗi của mình. Chính vì thế, đối với con người thời đại hôm nay, đời sống thánh hiến vẫn là một trường học đặc biệt của “tấm lòng thống hối”, của việc khiêm nhường nhìn nhận sự nghèo nàn của bản thân, nhưng đồng thời, đó cũng là một trường học của niềm tín thác vào lòng thương xót của Thiên Chúa, vào tình yêu của Người, một tình yêu không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Thật vậy, chúng ta càng đến gần Thiên Chúa bao nhiêu, càng gắn bó mật thiết với Người bao nhiêu, thì chúng ta lại càng trở nên hữu ích cho người khác bấy nhiêu. Những người sống đời thánh hiến không chỉ cảm nghiệm ân sủng, lòng thương xót và ơn tha thứ của Thiên Chúa cho chính mình, mà còn cho cả anh chị em mình, bởi họ được mời gọi mang trong con tim và trong lời cầu nguyện của mình những thao thức và khát vọng của con người, cách riêng là của những ai còn xa cách Thiên Chúa. Cách riêng, các cộng đoàn đan tu, với cam kết đặc biệt là trung thành trong việc “ở lại với Chúa”, trong việc “đứng dưới chân Thập giá”, thường đảm nhận vai trò đại diện này, hiệp nhất với Đức Kitô chịu khổ nạn, gánh lấy những đau khổ và thử thách của người khác, và dâng hiến tất cả với niềm vui cho sự cứu rỗi của thế giới.

Sau cùng, anh chị em thân mến, chúng ta hãy cùng nhau dâng lên Chúa một bài thánh ca tạ ơn và ngợi khen vì chính đời sống thánh hiến. Nếu không có đời sống ấy, thế giới này sẽ trở nên nghèo nàn biết bao! Ngoài những cách đánh giá nông cạn về chức năng hữu ích cho đời, đời sống thánh hiến còn quan trọng chính bởi vì nó là dấu hiệu của lòng quảng đại cho đi không tính toán và với tình yêu, và điều này lại càng cần thiết hơn giữa một thế giới có nguy cơ chết ngộp trong cơn lốc xoáy của những điều phù du và hữu ích (x. Tông huấn Hậu Thượng Hội đồng Vita Consecrata, số 105). Thay vào đó, đời sống thánh hiến làm chứng cho sự dư tràn của tình yêu, một tình yêu thúc đẩy con người dám “đánh mất” mạng sống mình để đáp lại sự tràn đầy của tình yêu nơi Thiên Chúa, Đấng đã “hy sinh” mạng sống của Người trước tiên vì chúng ta.

Trong giây phút này, tôi đặc biệt nghĩ đến những người sống đời thánh hiến đang cảm thấy gánh nặng của những nỗ lực hằng ngày, trong đó họ ít nhận được sự thỏa mãn từ con người. Tôi nghĩ đến các tu sĩ nam nữ cao niên, các tu sĩ đau yếu, và tất cả những ai đang cảm thấy sứ vụ tông đồ của mình thật nặng nề. Không ai trong số họ là vô dụng, bởi vì Chúa liên kết họ với “ngai ân sủng” của Người. Trái lại, họ là một hồng ân quý giá cho Giáo hội và cho thế giới đang khát khao Thiên Chúa và Lời của Người.

Với trọn niềm tín thác và tâm tình tri ân, chúng ta hãy cùng nhau canh tân hành vi hiến dâng trọn vẹn bản thân, bằng cách tiến lên và tự hiến mình trong Đền Thánh. Ước gì Năm dành cho các linh mục là cơ hội mới để các tu sĩ những người là linh mục tăng cường hành trình thánh hoá của họ, đồng thời, đối với tất cả nam nữ tu sĩ sống đời thánh hiến, ước gì năm này trở thành một lời khích lệ để đồng hành và duy trì thừa tác vụ linh mục bằng lời cầu nguyện sốt sắng. Năm hồng ân này sẽ đạt tới đỉnh điểm tại Rôma vào tháng Sáu tới, cuộc gặp gỡ quốc tế của các linh mục, mà tôi trân trọng mời gọi tất cả những ai đang thi hành Thừa tác vụ thánh tham dự. Chúng ta hãy đến gần Thiên Chúa, Đấng ba lần Thánh, để dâng hiến đời sống và sứ vụ của chúng ta, cả trong tư cách cá nhân lẫn trong tư cách cộng đoàn những người nam nữ được thánh hiến cho Nước Thiên Chúa. Chúng ta hãy thực hiện cử chỉ nội tâm này trong sự hiệp thông thiêng liêng sâu sắc với Đức Trinh Nữ Maria. Khi chiêm ngắm Mẹ trong hành động dâng Hài Nhi Giêsu trong Đền Thánh, chúng ta hãy tôn kính Mẹ như người sống đời thánh hiến đầu tiên và trọn hảo, được chính Thiên Chúa bao bọc, Đấng mà Mẹ đang bồng ẵm trong vòng tay của Mẹ; Mẹ là Trinh Nữ nghèo khó và vâng phục, hoàn toàn hiến dâng cho chúng ta, bởi vì Mẹ hoàn toàn thuộc trọn về Thiên Chúa. Tại trường học của Mẹ, và với sự trợ giúp hiền mẫu của Mẹ, chúng ta hãy canh tân tiếng “Này con đây” và lời “Xin vâng” của mình. Amen.

WHĐ (02/02/2010)

 

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng Lễ dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh (02/02/2009) - Thánh Phaolô, mẫu gương đời sống thánh hiến

Anh chị em thân mến,

Tôi gặp gỡ anh chị em với niềm vui lớn lao vào cuối thánh lễ hôm nay, trong ngày lễ phụng vụ mà suốt 13 năm qua đã quy tụ các nam nữ tu sĩ để cử hành ngày Thế giới Đời sống Thánh hiến. Tôi thân ái chào thăm Đức Hồng y Franc Rodé, và đặc biệt bày tỏ lòng biết ơn đối với ngài cùng các cộng sự tại Bộ Tu sĩ và Tu đoàn Tông đồ, vì sự phục vụ của các ngài dành cho Tòa thánh và cho điều mà tôi muốn gọi là “vũ trụ” của đời sống thánh hiến. Tôi cũng ân cần chào thăm các Bề trên Tổng quyền nam nữ hiện diện nơi đây, cùng toàn thể anh chị em, những người qua chứng tá đời sống thánh hiến theo mẫu gương Đức Trinh Nữ Maria, đang mang ánh sáng của Đức Kitô vào trong Giáo hội và thế giới. Trong Năm thánh Phaolô này, tôi xin mượn lời của Thánh Tông đồ: “Tôi cảm tạ Thiên Chúa của tôi, mỗi lần nhớ đến anh em. Tôi luôn vui sướng mỗi khi cầu nguyện cho anh em hết thảy, vì từ buổi đầu cho đến nay, anh em đã góp phần vào việc rao giảng Tin Mừng” (Pl 1,3–5). Trong lời chào gửi tới cộng đoàn Kitô hữu tại Philipphê này, Thánh Phaolô diễn tả sự tưởng nhớ đầy trìu mến mà ngài dành cho tất cả những ai sống Tin mừng cách cá vị và miệt mài truyền đạt Tin mừng ấy, khi kết hợp việc chăm sóc đời sống nội tâm với nỗ lực trong sứ vụ tông đồ.

Trong truyền thống của Giáo hội, Thánh Phaolô luôn được nhìn nhận như người cha và người thầy của những ai, được Chúa kêu gọi, đã chọn hiến dâng trọn vẹn và vô điều kiện cho Người và cho Tin mừng của Người. Nhiều dòng tu lấy tên Thánh Phaolô và kín múc từ nơi ngài một nguồn linh hứng đặc sủng riêng. Có thể nói rằng Thánh Phaolô không ngừng gửi đến tất cả nam nữ sống đời thánh hiến một lời mời gọi vừa thẳng thắn vừa trìu mến: “Hãy bắt chước tôi, như tôi bắt chước Đức Kitô” (1 Cr 11,1). Thật vậy, đời sống thánh hiến là gì nếu không phải là việc noi gương Đức Giêsu một cách triệt để, là việc “theo Người” một cách trọn vẹn? (x. Mt 19,27–28). Trong tất cả điều này, Thánh Phaolô đóng vai trò như một trung gian sư phạm vững chắc: noi gương ngài trong việc theo Chúa Giêsu, anh chị em thân mến, chính là con đường ưu tuyển để đáp lại cách trọn vẹn ơn gọi thánh hiến đặc biệt của anh chị em trong Giáo hội.

Thật vậy, từ chính cuộc đời của Thánh Phaolô, chúng ta có thể nhận ra một lối sống diễn tả cốt lõi của đời sống thánh hiến, được linh hứng bởi các lời khuyên Phúc âm là khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Ngài xem đời sống khó nghèo như sự bảo đảm cho việc loan báo Tin Mừng hoàn toàn nhưng không (x. 1 Cr 9,1–23), đồng thời thể hiện sự liên đới cụ thể với những anh chị em đang thiếu thốn. Về điều này, tất cả chúng ta đều biết quyết định của Thánh Phaolô là tự nuôi sống mình bằng chính đôi tay lao động, cũng như sự dấn thân của ngài trong việc quyên góp trợ giúp người nghèo tại Giêrusalem (x. 1 Tx 2,9; 2 Cr 8–9). Thánh Phaolô cũng là vị Tông đồ, khi đón nhận lời mời gọi của Thiên Chúa sống khiết tịnh, đã hiến trọn con tim cho Chúa một cách không chia sẻ, để có thể phục vụ anh chị em mình với sự tự do và lòng tận tụy lớn lao hơn (x. 1 Cr 7,7; 2 Cr 11,1–2). Hơn nữa, trong một thế giới mà các giá trị của đức khiết tịnh Kitô giáo còn xa lạ (x. 1 Cr 6,12–20), ngài đã trở thành một điểm quy chiếu đáng tin cậy cho lối sống đạo đức. Còn về đức vâng phục, chỉ cần ghi nhận rằng việc thi hành thánh ý Thiên Chúa, cùng với “mối bận tâm hằng ngày của tôi là lo lắng cho tất cả các Hội Thánh” (2 Cr 11,28), đã thúc đẩy, định hình và hoàn tất cuộc đời của ngài, biến toàn bộ cuộc sống ấy thành một hy lễ đẹp lòng Thiên Chúa. Tất cả những điều đó đã đưa Thánh Phaolô đến lời tuyên xưng mà ngài viết cho tín hữu Philipphê: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi” (Pl 1,21).

Một khía cạnh nền tảng khác của đời sống thánh hiến nơi thánh Phaolô chính là sứ vụ.

Ngài thuộc trọn về Đức Giêsu để, như Đức Giêsu, thuộc về tất cả mọi người; thật vậy, để trở nên Đức Giêsu cho mọi người: “Tôi đã trở nên mọi sự cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người” (1 Cr 9,22). Nơi thánh Phaolô, người gắn bó mật thiết với chính con người Đức Kitô, chúng ta nhận ra một khả năng sâu xa trong việc kết hợp đời sống thiêng liêng với hoạt động truyền giáo. Nơi ngài, hai chiều kích này quy chiếu lẫn nhau và nâng đỡ nhau. Vì thế, có thể nói ngài thuộc về hàng ngũ những “người xây dựng mang chiều kích huyền nhiệm”, những con người mà cuộc sống vừa mang tính chiêm niệm vừa mang tính hoạt động, vừa hướng mở về Thiên Chúa vừa hướng đến anh chị em, để thực thi một việc phục vụ hữu hiệu cho Tin mừng. Trong sự căng thẳng mang tính huyền nhiệm và tông đồ ấy, tôi muốn đặc biệt lưu ý đến lòng can đảm của vị Tông đồ khi đối diện với hy sinh, khi chấp nhận những thử thách khắc nghiệt, cho đến mức độ tử đạo (x. 2 Cr 11,16–33), cũng như đến đức tin kiên vững của ngài, được đặt nền trên lời của chính Chúa: “Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2 Cr 12,9–10). Như thế, kinh nghiệm thiêng liêng của Thánh Phaolô hiện ra trước mắt chúng ta như một biểu hiện sống động của mầu nhiệm Vượt qua, mầu nhiệm mà ngài đã suy tư cách sâu xa và công bố như một lối sống Kitô giáo. Thánh Phaolô sống cho, với và trong Đức Kitô. Ngài viết: “Tôi cùng chịu đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô,” “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20); và một lần nữa: “Đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi” (Pl 1,21).

Điều này lý giải tại sao Thánh Phaolô không ngừng khuyến khích chúng ta hãy làm cho Lời Đức Kitô cư ngụ nơi chúng ta cách dồi dào phong phú (x. Cl 3,16). Điều đó gợi nhớ lời mời gọi được gửi đến anh chị em trong Huấn thị gần đây về việc thi hành quyền bính và đức vâng phục, mời gọi anh chị em “mỗi buổi sáng… tìm kiếm một sự tiếp xúc sống động và trung tín với Lời được công bố trong ngày hôm ấy, bằng cách suy niệm Lời ấy và ghi khắc trong lòng như một kho tàng, làm cho Lời ấy trở thành cội rễ của mọi hành động và là tiêu chuẩn nền tảng cho mọi chọn lựa”. Vì thế, tôi hy vọng rằng Năm thánh Phaolô sẽ nuôi dưỡng nơi anh chị em một quyết tâm mạnh mẽ hơn nữa trong việc đón nhận chứng tá của Thánh Phaolô, bằng cách mỗi ngày suy niệm Lời Chúa qua việc trung thành thực hành lectio divina, và cầu nguyện với “Thánh vịnh, Thánh thi và Thánh ca thiêng liêng, trong tâm tình tri ân…” (Cl 3,16). Nguyện xin Thánh Phaolô cũng giúp anh chị em thi hành sứ vụ tông đồ của mình trong và cùng với Giáo hội, với tinh thần hiệp thông không chút dè dặt, biết quảng đại trao ban cho người khác những đặc sủng riêng của mình (x. 1 Cr 14,12), và trước hết làm chứng cho đặc sủng cao cả nhất, đó là đức ái (x. 1 Cr 13).

Anh chị em thân mến, phụng vụ hôm nay mời gọi chúng ta hướng nhìn về Đức Trinh Nữ Maria, “người được thánh hiến” tuyệt hảo. Thánh Phaolô nói về Mẹ bằng những lời ngắn gọn nhưng diễn tả sự cao cả và sứ mạng của Mẹ: Mẹ là “người phụ nữ” từ đó, khi thời gian tới hồi viên mãn, Con Thiên Chúa đã sinh ra (x. Gl 4,4). Đức Maria là Người Mẹ hôm nay dâng Con mình lên Chúa Cha trong Đền Thờ, đồng thời tiếp tục lời “xin vâng” mà Mẹ đã thưa trong biến cố Truyền tin. Một lần nữa, nguyện xin Mẹ là người đồng hành và nâng đỡ chúng ta, là con cái Thiên Chúa và cũng là con cái của Mẹ, trong việc dấn thân phục vụ Thiên Chúa và anh chị em cách quảng đại.

Với ước nguyện ấy, tôi khẩn cầu sự chuyển cầu trên trời của Mẹ, đồng thời thân ái ban Phép lành Tòa thánh cho tất cả anh chị em và cho các gia đình tu trì của anh chị em.

WHĐ (02/02/2009)

 

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng lễ Dâng Chúa Giêsu trong Đền thánh (02/02/2006) - Toả chiếu khắp nơi tình yêu của Đức Kitô, Ánh Sáng thế gian

Anh chị em thân mến,

Bốn mươi ngày sau khi Chúa Giêsu Giáng sinh, Người được tiến dâng trong Đền thờ, ngày lễ hôm nay đặt chúng ta trước một khoảnh khắc đặc biệt trong đời sống của Thánh gia: tuân theo Luật Môsê, Đức Maria và Thánh Giuse đã đưa Hài Nhi Giêsu lên Đền thờ Giêrusalem để dâng Người cho Chúa (x. Lc 2,22). Ông Simêon và bà Anna, được Thiên Chúa soi dẫn, đã nhận ra Hài Nhi ấy là Đấng Mêsia được mong đợi từ lâu và đã nói tiên tri về Người. Trước mắt chúng ta là một mầu nhiệm vừa đơn sơ vừa long trọng, trong đó Hội thánh cử hành Đức Kitô, Đấng được Chúa Cha xức dầu, Trưởng Tử của nhân loại mới.

Cuộc rước nến đầy xúc động ở đầu thánh lễ đã giúp chúng ta sống lại cuộc tiến vào đầy uy nghi của Đấng mà chúng ta đã hát trong Thánh vịnh Đáp ca: “Vua hiển vinh”, “Đức Chúa mạnh mẽ và oai phong trong chiến trận” (Tv 24[23],7-8). Nhưng Thiên Chúa quyền năng nào lại bước vào Đền thờ? Đó là một Trẻ Thơ; đó là Hài Nhi Giêsu trong vòng tay Mẹ Người, Đức Trinh Nữ Maria. Thánh Gia đã chu toàn những gì Luật dạy: việc thanh tẩy người mẹ, việc dâng người con đầu lòng cho Thiên Chúa và việc chuộc lại con trẻ bằng lễ hy sinh.

Trong Bài đọc I, Phụng vụ nhắc đến lời sấm của Ngôn sứ Malakhi: “Đấng Thống Trị bất ngờ ngự đến trong Đền thờ của Người” (Ml 3,1). Những lời này diễn tả trọn vẹn cường độ của lòng khao khát đã nuôi dưỡng niềm trông đợi của Dân Do Thái suốt bao thế kỷ. “Sứ giả của Giao Ước” cuối cùng đã bước vào Nhà của Người và tự đặt mình dưới Luật: Người đến Giêrusalem để vào Nhà Thiên Chúa trong tư thế vâng phục.

Ý nghĩa của hành động này được mở rộng hơn nữa trong đoạn trích Thư gửi tín hữu Do Thái, được công bố hôm nay như Bài đọc II. Đức Kitô, Đấng Trung Gian liên kết Thiên Chúa với con người, xóa bỏ khoảng cách, loại trừ mọi chia rẽ và phá đổ mọi bức tường ngăn cách, được trình bày trước mắt chúng ta.

Đức Kitô đến như vị “Thượng Tế nhân hậu và trung tín trong việc phụng sự Thiên Chúa để đền bù tội lỗi cho dân” (Dt 2,17). Như vậy, chúng ta nhận ra rằng việc trung gian với Thiên Chúa không còn diễn ra trong sự thánh thiện tách biệt của chức tư tế xưa, nhưng trong sự liên đới giải thoát với con người.

Ngay từ khi còn là một Trẻ Thơ, Người đã khởi hành trên con đường vâng phục mà Người sẽ theo đến cùng.

Thư gửi tín hữu Do Thái nhấn mạnh điều này một cách rõ ràng khi nói: “Trong những ngày còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã dâng lên lời cầu nguyện và khẩn nài… với Đấng có quyền cứu Người khỏi chết… Dầu là Con, Người đã học biết thế nào là vâng phục qua những đau khổ phải chịu; và khi nên hoàn hảo, Người trở thành nguồn ơn cứu độ đời đời cho tất cả những ai vâng phục Người” (x. Dt 5,7–9).

Đức Maria, Mẹ Đức Kitô, là người đầu tiên được kết hiệp với Đức Kitô trên con đường vâng phục, tôi luyện đức tin và chia sẻ đau khổ. Đoạn Tin mừng trình bày Mẹ trong hành vi dâng hiến Con mình: một sự dâng hiến vô điều kiện, trong đó chính Mẹ được cuốn vào cách trọn vẹn.

Đức Maria là Mẹ của Đấng là “vinh quang của dân Israel” và là “ánh sáng soi đường cho muôn dân”, nhưng cũng là “dấu chỉ bị người đời chống báng” (x. Lc 2,32.34). Và chính tâm hồn vô nhiễm của Mẹ sẽ bị lưỡi gươm đau khổ đâm thấu, cho thấy vai trò của Mẹ trong lịch sử cứu độ không chấm dứt ở mầu nhiệm Nhập Thể, nhưng được hoàn tất trong sự tham dự đầy yêu thương và đau khổ vào cái Chết và sự Phục sinh của Con Mẹ.

Khi đưa Con mình lên Giêrusalem, Đức Trinh Nữ Maria đã dâng Người lên Thiên Chúa như Chiên thật xóa bỏ tội trần gian. Mẹ trao Người cho ông Simêon và bà Anna như lời công bố ơn cứu độ, Mẹ giới thiệu Người với mọi người như ánh sáng dẫn đường an toàn trên con đường chân lý và tình yêu.

Những lời thốt lên từ môi miệng ông Simêon cao niên: “Chính mắt con được thấy ơn cứu độ của Ngài” (Lc 2,30), vang vọng trong tâm hồn nữ Ngôn sứ Anna. Những con người tốt lành và đạo đức này, được bao bọc trong ánh sáng của Đức Kitô, đã có thể nhận ra nơi Hài Nhi Giêsu “niềm an ủi của Israel” (Lc 2,25). Như thế, niềm trông đợi của họ đã được biến đổi thành ánh sáng soi chiếu lịch sử.

Ông Simêon là người mang trong mình niềm hy vọng cổ xưa, và Thần Khí của Chúa đã nói với lòng ông; chính vì thế, ông có thể chiêm ngắm Đấng mà bao ngôn sứ và vua chúa đã ao ước được thấy: Đức Kitô, ánh sáng mạc khải cho muôn dân.

Ông nhận ra Hài Nhi ấy là Đấng Cứu Độ, nhưng nhờ Thần Khí, ông cũng tiên báo rằng vận mệnh của nhân loại sẽ xoay quanh Người, và rằng Người sẽ phải chịu nhiều đau khổ vì những kẻ khước từ Người; ông công bố căn tính và sứ mạng của Đấng Mêsia bằng những lời tạo thành một trong những thánh thi của Hội thánh sơ khai, cộng đoàn toả sáng niềm hân hoan viên mãn mang tính cánh chung vì ơn cứu độ được hoàn tất. Niềm hân hoan ấy lớn lao đến nỗi sống và chết trở thành một, và “ánh sáng” và “vinh quang” trở thành mạc khải phổ quát.

Bà Anna là một “nữ ngôn sứ”, một người phụ nữ khôn ngoan và đạo hạnh, biết giải thích ý nghĩa sâu xa của các biến cố lịch sử và sứ điệp của Thiên Chúa được ẩn giấu nơi đó. Nhờ vậy, bà có thể “dâng lời tạ ơn Thiên Chúa” và “nói về Hài Nhi cho tất cả những ai đang mong chờ ơn cứu chuộc của Giêrusalem” (Lc 2,38).

Thời gian góa bụa lâu dài của bà được hiến dâng cho việc phụng tự trong Đền thờ, sự trung tín trong việc chay tịnh hằng tuần và việc cùng chia sẻ niềm mong đợi của những người khao khát ơn cứu chuộc của Israel đã đạt tới cao điểm trong cuộc gặp gỡ với Hài Nhi Giêsu.

Anh chị em thân mến, trong lễ Dâng Chúa hôm nay, Hội thánh cũng cử hành ngày Đời sống Thánh hiến. Đây là dịp thích hợp để ca ngợi Chúa và tạ ơn Người vì hồng ân quý giá là đời sống thánh hiến dưới nhiều hình thức khác nhau; đồng thời, đây cũng là lời mời gọi khích lệ toàn thể Dân Chúa hiểu biết và trân trọng những người đã hoàn toàn hiến dâng cho Thiên Chúa.

Thật vậy, cũng như đời sống của Chúa Giêsu, trong sự vâng phục và tận hiến cho Chúa Cha, là một dụ ngôn sống động về “Thiên-Chúa-ở-với-chúng-ta”, thì sự tận hiến cụ thể của những người thánh hiến cho Thiên Chúa và cho anh chị em mình trở thành dấu chỉ hùng hồn cho thế giới hôm nay về sự hiện diện của Nước Thiên Chúa.

Cách sống và làm việc của anh chị em có thể diễn tả cách sinh động sự thuộc trọn về một Chúa duy nhất; việc phó thác bản thân mình không chút giữ lại trong tay Đức Kitô và Hội thánh là một lời công bố mạnh mẽ và rõ ràng về sự hiện diện của Thiên Chúa, bằng một ngôn ngữ mà con người thời đại hôm nay có thể hiểu được. Đây là sự phục vụ đầu tiên mà đời sống thánh hiến mang lại cho Hội thánh và cho thế giới. Những người thánh hiến giống như những người canh gác giữa Dân Chúa, những người cảm nhận và loan báo sự sống mới đang hiện diện trong lịch sử của chúng ta.

Anh chị em thân mền, giờ đây, tôi đặc biệt hướng đến anh chị em, những người đã đón nhận ơn gọi thánh hiến đặc biệt, để bày tỏ tình cảm và lời cảm ơn chân thành vì sự hiện diện của anh chị em.

Tôi cũng xin gửi lời chào đặc biệt đến Đức Tổng Giám mục Franc Rodé, Tổng trưởng Bộ Tu sĩ và Tu đoàn Tông đồ, cùng các cộng sự của ngài đang đồng tế với tôi trong Thánh lễ này.

Nguyện xin Chúa mỗi ngày canh tân nơi anh chị em và nơi tất cả những người thánh hiến lời đáp trả vui tươi trước tình yêu nhưng không và trung tín của Người. Anh chị em thân mến, như những ngọn nến sáng, ước chi anh chị em luôn luôn toả chiếu khắp nơi tình yêu của Đức Kitô, Ánh Sáng thế gian. Nguyện xin Đức Maria Rất Thánh, người Nữ thánh hiến, giúp anh chị em sống trọn vẹn ơn gọi và sứ mạng đặc biệt của mình trong Hội thánh vì ơn cứu độ của thế giới. Amen.

WHĐ (02/02/2006)