Chủ Nhật, ngày 24 tháng 5 năm 2015

Giải đáp thắc mắc Cựu Ước :Sách Sáng thế được cấu trúc như thế nào?

Giải đáp thắc mắc Cựu Ước :Sách Sáng thế được cấu trúc như thế nào?


Giải đáp thắc mắc Cựu Ước của Lm Roland E. Murphy, O. Carm. (Dòng Cát Minh)
Hỏi: Sách Sáng thế được cấu trúc như thế nào?
Đáp: Thời tiền sử, St 1-1 
         Thời các tổ phụ, 12-36
         Chuyện ông Giuse, 37-50
Có nhiều cách thức để lập dàn bài cho cuốn St, nhưng lối chia ba phần như trên  có thể là hữu ích hơn là có nhiều chi tiết. Đáng lưu ý là phần lớn nhất trong thời kỳ các tổ phụ là dành nói về tổ phụ Giacóp, bởi vì phần Giacóp hầu như bao gồm cả phần nói về cuộc đời của Giuse. Ixaác được trình bày ngắn gọn, gần như là gương phản chiếu của thân phụ ngài, và chỉ nói rõ trong các chương 26-27. Ngay cả phần akedah nổi tiếng hoặc “dâng Ixaác làm lễ tế” (St 22) dường như là một phần của câu chuyện Ápraham (chương 12-25).
Một cách thức khác của dàn bài sách St là đi theo các dấu hiệu được truyền thống tư tế để lại: sự xuất hiện của từ ngữ toledoth, hoặc “thế hệ”, là 10 lần. Nó có nhiều chức năng. Nó sẽ giới thiệu một gia phả, đôi khi bằng cách của một sự tóm lược lịch sử, hoặc như sự nối kết của các cá nhân và các thế hệ với nhau (chẳng hạn 5, 1;10, 1;11, 10; 25, 12; 35, 1). Nó cũng được dùng để giới thiệu một phần mới của trình thuật (chẳng hạn 2, 4;6, 9;11, 27; 25, 19; 37, 2). Công thức quen thuộc là : “Đây là gia đình của…”, và chúng dễ được nhận ra. Công thức này chỉ được dùng một vài lần ngoài sách St mà thôi (chẳng hạn Xh 6, 14).
Hỏi: Nếu lịch sử bắt đầu với việc tạo thành muôn loài, làm sao cha lại gọi các chương đầu của sách St là về thời “tiền sử”?
Đáp: Thật ra câu hỏi của bạn có nhiều phần. Phần đầu là giả thiết rằng lịch sử khởi đầu với việc tạo thành vũ trụ. Sự khởi đầu của việc tạo thành là sự hiện hữu của nhiều loại sự sống trên trái đất, và chúng ta thực sự không biết gì về các khởi đầu này. Các nhà khoa học nói về nguồn gốc vũ trụ theo thuyết “Vụ nổ lớn” (Big-Bang), và nhiều người xem thuyết này là đáng tôn trọng về mặt khoa học, và ít nhất là hòa hợp với những gì chúng ta biết từ sách St. Nhưng nó là chưa quan trọng; chúng ta không quan tâm so sánh thuyết khoa học với các dữ liệu Kinh thánh. Điều nên được nói là rằng lịch sử chưa bắt đầu ngay sau khi Chúa tạo thành con người. Con người sống và có nhiều kinh nghiệm, nhưng chưa để lại dấu vết nào về việc này. Lịch sử khởi đầu khi con người lưu lại, bằng viết ra hoặc truyền khẩu, các vụ việc linh động. Các thế hệ sau đó phân tích các ghi chép này hoặc các đồ tạo tác, nhằm xây dựng lịch sử của một thời kỳ. Lẽ tất nhiên, không gì được truyền lại cho chúng ta từ các “khởi đầu” được ghi lại trong St 1-11.
Thời “tiền sử” là đơn thuần một từ ngữ qui ước được sử dụng bởi các học giả Kinh Thánh, để nói lên bản chất đặc thù của các sự kiện được kể trong St 1-11. Chúng không phải là lịch sử như chúng ta hiểu từ ngữ lịch sử hiện nay. Nói đúng hơn, chúng là sự giải thích của thực tại: bản chất của tương quan giữa Chúa và thế giới, nhất là mọi sinh vật (con người là đỉnh cao nhất), sự thất bại của con người để đáp trả việc Chúa trao ban sự sống, chẳng hạn qua trình thuật trận đại hồng thủy, và câu chuyện tháp Baben. Chính khi trình thuật bắt đầu nói về các thị trấn cổ, và việc Ápraham di cư đến vùng đất Canaan, thì con người bắt đầu đi vào một thời kỳ, vốn phải chịu một sự kiểm soát lịch sử nào đó.
Các từ ngữ khác đã được sử dụng để mô tả bản chất của các sự kiện được kể trong St 1-11, chẳng hạn các trình thuật huyền thoại hoặc tưởng tượng. Các từ ngữ này có thể gây sốc cho những ai đã có thành kiến về những gì được kể trong các chương ấy. Thường có một phản ứng: bạn sẽ nói rằng điều được kể ở đây là không có thật, hoặc là không có tính lịch sử. Không phải tất cả đâu; người ta không nói điều ấy. Điều người ta nói là rằng lịch sử và sự thật là không phải các từ ngữ đồng nghĩa. Còn có các loại sự thật khác bên ngoài lịch sử nữa. Chắc chắn đó là điều mà chúng ta đều đồng ý với nhau. Điều gì là “sự thật” của một ẩn dụ, của một dụ ngôn, của một thánh vịnh, của một bài tình ca, của một truyện ngắn? Người ta có thể kể ra nhiều lắm. Phận sự đầu tiên của một người đọc Kinh thánh là biết rõ thể loại văn chương nào mà mình đang đọc. Liệu đó là lịch sử hay là thi ca sáng tạo? Hơn nữa người ta phải xem xét các tiêu chuẩn, mà mình sử dụng, để xếp loại cho lịch sử. Mọi bài viết lịch sử là giải thích, và liệu chúng ta hiểu rõ ý định của tác giả không? Liệu tác giả đang viết châm biếm dưới chiếc áo lịch sử không (người ta nghĩ đến sách Giô-na ‘Gn’)?. Lịch sử là một nghệ thuật vốn phát triển và hoàn thiện đáng kể qua các thế kỷ. Các tiêu chuẩn, vốn được đặt ra để viết lịch sử bởi hội của các sử gia ngày nay, đều không được biết đến ở thời kỳ ban sơ, và chúng ta không chờ mong rằng các tác giả Kinh thánh tuân theo các tiêu chuẩn ấy. Chúng ta phải đọc bản văn như nó được trưng ra, với các hạn chế của thời kỳ soạn thảo ra nó. Các bản Kinh thánh  không nhắm đến cho chúng ta trước tiên, nhưng nhắm cho người đọc ở thời Kinh thánh. Do đó, họ không thể hiểu sứ điệp của Chúa, nếu nó được ghi trong Kinh thánh theo phiên bản King James, hoặc một phiên bản tương đương, phản ảnh các giả định của thời đại chúng ta. Vấn đề này của lịch sử có thể được định nghĩa và thảo luận mãi mãi; cách tiếp cận tốt nhất là đọc bản văn Kinh thánh, khi chưa có các định kiến hiện đại mà chúng ta muốn đưa vào đó. Hoặc nói cách khác, chúng ta phải nhìn nhận các hạn chế của bản văn xưa, nếu chúng có thể được gọi là hạn chế, và chúng ta cho phép bản văn dạy chúng ta mà không áp đặt các tiêu chuẩn của chúng ta về lịch sử lên chúng.
Một vấn đề vốn có thể cung cấp sự kinh ngạc và mất tin tưởng cho chúng ta là tuổi thọ lâu qua lâu của nhiều người được ghi lại trong các chương của sách St. Có lẽ một trong các “vụ việc” là người sống thọ nhất là ông Methuselah (Mơ-thu-se-lác) với 969 tuổi (St 5, 27). Ông thuộc thế hệ những người sống trước trận đại hồng thủy, và tất cả họ đều sống thọ quá lâu. Người đọc chắc tự hỏi về ý nghĩa của tuổi thọ này. Các con số này trở nên dễ hiểu hơn khi chúng ta khám phá rằng có các danh sách tương tự trong các tài liệu ở Babylone hoặc Sumeria, trong đó có các anh hùng thuộc thời kỳ trước trận đại hồng thủy, và họ cũng sống thọ lâu quá lâu. Người ta có thể nhận thấy trong các dữ liệu Kinh thánh rằng có một sự giảm đáng kể về tuổi thọ của các người được kể tên. Do đó, không có sự giải thích chắc chắn về ý định đàng sau tuổi thọ ấy. Hình như tuổi thọ ấy thuộc về huyền thoại (người thọ nhất trong danh sách Sumeria là 72 ngàn tuổi). Ít nhất người ta có thể nói rằng các gia phả này có chức năng tạo ra đông đảo người trên trái đất trong thời kỳ trước trận đại hồng thủy. Cùng với danh sách các dân nước trong chương 10, chúng giúp tạo ta một sự liên tục nào đó cho trình thuật. Về mặt thần học, đây là một tuyên bố rằng Thiên Chúa tạo dựng cả đất trời, và truyền thống nào cũng đưa ra các gia phả và danh sách theo kiểu ấy.
Tôi đã nhắc đến trận đại hồng thủy, và có lẽ bạn nghĩ rằng sự kiện này có tính lịch sử trong các chương 6-8. Liệu trận đại hồng thủy này có thực sự xảy ra không? Không đâu, bởi vì sự mô tả này là sự sáng tạo của hai nguồn, nguồn P và nguồn J. Mỗi nguồn có phiên bản riêng về trận đại hồng thủy, và cả hai đặt chung với nhau để  tạo nên một sự thống nhất lỏng lẻo, để nêu ra sự lan tràn tội lỗi trên trái đất (St 6, 5-7, 11-12), và sự trừng phạt mà thế giới đáng hưởng. Chính vì lý do này mà các tác giả sử dụng các trình thuật trận đại hồng thủy, vốn là quá nổi bật trong thế giới cổ xưa.
Nguyễn Trọng Đa dịch
Theo “Responses to 101 questions on the Biblical Torah”, Manila, St Pauls, 1999, trang 10-13)


Thứ Sáu đầu tháng kính Thánh Tâm Chúa

Thứ Sáu đầu tháng kính Thánh Tâm Chúa
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.
Hỏi: Các giáo hữu của tôi có lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu vào ngày thứ Sáu đầu tháng của chín tháng liên tiếp. Do một công tác mục vụ khác, khi tôi không thể cử hành Thánh lễ cho họ vào một trong các ngày thứ Sáu đầu tháng ấy, liệu tôi có thể chuyển qua cử hành thánh lễ Thánh Tâm vào ngày thứ Sáu thứ nhì trong tháng, thay vì thứ Sáu đầu tháng được không, thưa cha? - D. M. , Nairobi, Kenya.
Đáp: Câu hỏi này liên quan đến lời hứa của Thánh Tâm Chúa với Thánh nữ Margarita Maria Alacoque (1647-1690). Trong số các lời hứa, có lời Chúa nói:
"Với lòng thương xót quá bội của Thánh Tâm Cha, Cha hứa rằng: Tình Yêu toàn năng của Cha sẽ ban cho tất cả những ai Rước Lễ liên tiếp 9 ngày thứ sáu đầu tháng được ơn ăn năn thống hối trong giờ lâm tử. Họ sẽ không qua đời trong lúc còn mất ơn nghĩa cùng Cha và chưa kịp lãnh nhận các phép Bí Tích. Thánh Tâm Cha sẽ là nơi nương náu an toàn trong giây phút cuối cùng của đời họ”.
Trong khi lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa được phổ biến sâu rộng sau khi Chúa hiện ra nhiều lần với Thánh Margarita Maria, nó không phụ thuộc vào các thị kiến ấy. Trong hình thức này hay hình thức khác, lòng sùng kính ấy được bắt nguồn từ Kitô giáo như là một cách đặc biệt để tiếp cận với Chúa Kitô. Như Thánh Augustinô nói, đó là đến với Chúa Kitô Thiên Chúa qua Chúa Kitô làm người.
Lòng sùng kính Thánh Tâm đã được ngụ ý nơi nhiều bậc thầy của đời sống thiêng liêng. Chân Phước Henry Suso, một tu sĩ Dòng Đa minh lấy cảm hứng từ Thánh Augustinô, đã nói: “Nếu con mong muốn đạt được sự hiểu biết thiên tính, cần phải bước dần dần theo con đường nhân tính của Ta và cuộc Khổ Nạn của nhân tính này là con đường dễ dàng nhất".
Lòng sùng kính Thánh Tâm đã được khắc sâu trong nhiều thế kỷ bởi các lần suy niệm về các vết thương của Chúa Kitô, và đặc biệt là vết thương cạnh nương long Chúa. Các suy tư này được hỗ trợ bởi các văn bản Kinh thánh như Ga 19, 34 và Is 53,5 . Đặc biệt có ảnh hưởng nhất là Diễm Ca 4, 9: "Này em gái của anh, người yêu anh sắp cưới, trái tim anh, em đã chiếm mất rồi!”. Nhiều nhà văn như Origen, Thánh Ambrôxiô và Thánh Gioan Kim Khẩu áp dụng văn bản này cho cuộc Thương Khó. Truyền thống sau đó đã được củng cố bởi phiên bản Phổ thông (Vulgate) của Kinh Thánh, vốn dịch câu văn là "làm bị thương" (vulnerasti) thay vì “chiếm”.
Trong thời Trung Cổ, các suy tư ban đầu đã được đào sâu và mở rộng với các ý tưởng mới, đặc biệt với các yếu tố cá nhân hơn và dịu dàng hơn. Trong số các nhà văn gây ảnh hưởng cho sự phát triển này, có Thánh Bede Vị Đáng kính, thánh Haimo thành Auxerre, và Gioan thành Fécamp, một tu sĩ Biển Đức. Suy niệm của các ngài về cuộc Thương Khó tạo cảm hứng cho nhiều người noi theo. Hình ảnh thánh Bernard thành Clairvaux thống trị thời đại của mình, và suy niệm của ngài về Diễm ca đã tạo xung động mới cho lòng tôn kính Thánh Tâm. Lòng sùng kính của ngài trực tiếp ảnh hưởng đến nhiều người khác, như bạn ngài là Aelred thành Rievaulx và Ekbert thành Schönau, mà phần "Stimulus Dilectionis" của ngài được Thánh Bonaventura đưa vào trong các số 18-31 của tác phẩm "Lignum Vitae" của thánh nhân.
Các tác phẩm này cũng ảnh hưởng đến lòng đạo đức bình dân và các việc sùng kính, cũng như phụng vụ, với nhiều bài thánh thi và các ngày lễ liên quan đến chủ đề của cuộc Thương Khó, chẳng hạn lễ Thánh Tâm Chúa Kitô bị đâm thâu. Để làm ví dụ, chúng tôi cung cấp một bản dịch thô của bài thánh ca thế kỷ 12 "Summi Regis Cor Aveto", được sáng tác tại Đan viện Seinfield gần Cologne, Đức.
" Summi regis cor, aveto, te saluto corde laeto, te complecti me delectat, et hoc meum cor affectat, ut ad te loquar, animes. Quo amore vincebaris, quo dolore torquebaris, cum te totum exhaurires, ut te nobis impartires, et nos a morte tolleres?” (Hỡi Thánh Tâm Chúa cao cả của con, hãy để con hát cho Ngài nghe, và gửi đến Ngài lời chào vui vẻ và thân mật. Trái tim con ước mong ôm hôn Ngài một cách hân hoan. Nỗi đớn đau nào đã thâm nhập vào Ngài, đến nỗi Ngài tự hạ hoàn toàn, hỡi người con yêu mến, và chịu đau khổ vì chúng con, và như thế, Ngài cứu chúng con khỏi chết?)
Trong các thế kỷ sau đó, nhiều vị thánh khác ảnh hưởng đến sự phổ biến lòng sùng kính Thánh Tâm, chẳng hạn thánh Matilda và thánh Gertrude Cả, và các nữ tu Dòng Chartreuse của thánh Barbara thành Cologne. Trong số các đồ đệ của học thuyết được lan tỏa bởi đan viện là Thánh Phêrô Canisius và thánh Phêrô Fabro, hai tu sĩ Dòng Tên. Lòng sùng kính Thánh Tâm, được cổ vũ bởi các tu sĩ Dòng Tên thời đầu, chuẩn bị đất tốt mà nhiều năm sau đã dẫn Thánh Claude de la Colombiere, Dòng Tên, hiểu và chấp nhận các thị kiến của người xưng tội với ngài là Thánh Margarita Maria Alacoque. Nó cũng giải thích phần nào sự thúc đẩy mạnh mẽ và sự hỗ trợ lệnh truyền của Chúa, mà Dòng Tên đã làm cho lòng sùng kính Thánh Tâm trong nhiều thế kỷ.
Để trả lời cho câu hỏi chính xác trên đây, tôi tin rằng có hai giải pháp khả dĩ cho khó khăn này, liên quan đến việc không thể chu toàn các ngày thứ Sáu đầu tháng.
Trước hết, vì lời hứa được kết hợp với việc Rước lễ, và không nhất thiết phải tham dự Thánh Lễ, một phụng vụ Rước lễ có thể được sắp xếp vào ngày thứ sáu, khi Thánh Lễ không thể được cử hành. Việc này xem ra là giải pháp an toàn nhất.
Thứ đến, một vài tác giả cho rằng đối tượng của lòng sùng kính này là làm cho tâm hồn chúng ta cháy lửa yêu mến nồng nàn đối với Chúa Giêsu, và đền bù cho các xúc phạm đã làm với Chúa, nhất là trong Bí Tích Thánh Thể. Bởi vì việc này có thể được thực hiện mỗi ngày, các tác giả gợi ý rằng các việc đạo đức gắn liền với thứ Sáu đầu tháng không bị giới hạn vào ngày đặc biệt này. Do đó, nếu một người nào bị ngăn trở cách hợp pháp để thực hiện việc đạo đức vào ngày thứ Sáu, người ấy có thể cử hành việc đạo đức ấy trong cùng một tinh thần vào một ngày khác.
Đây là một ý kiến ​​hợp pháp, nhưng chưa phổ quát, dựa vào lòng lòng thương xót hải hà và sự hiểu biết vô cùng của Chúa. Hầu hết các tác giả không nhắc đến các luật ngoại trừ, vì ân sủng được gắn với một lời hứa đặc biệt được thực hiện trong một mặc khải riêng tư. Tuy nhiên, thật là rõ ràng rằng người nào thực hiện các việc đạo đức với mục đích thích hợp, sẽ được trợ giúp cách hợp lệ bởi ân sủng của Chúa.
Dường như không có luật nào của Giáo Hội về vấn đề này. Nói chung, ngoại trừ trong việc ban ân xá, Giáo Hội cố tránh đưa ra luật lệ về các vấn đề liên quan đến mặc khải riêng tư, ngay cả khi chúng được chính thức phê chuẩn và khuyến khích, chẳng hạn việc đạo đức sùng kính Thánh tâm. (Zenit.org 17-9-2013)
Nguyễn Trọng Đa
http://vietcatholic.info/News/Html/116042.htm

VUI HỌC LỜI CHÚA LỄ THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU B .

VUI HỌC LỜI CHÚA
LỄ THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU B
Tin Mừng thánh Gioan 19,31-37


I. TIN MỪNG

31 Hôm đó là ngày áp lễ, người Do-thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày sa-bát, mà ngày sa-bát đó lại là ngày lễ lớn. Vì thế họ xin ông Phi-la-tô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống.32 Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giê-su.33 Khi đến gần Đức Giê-su và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người.34 Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra.35 Người xem thấy việc này đã làm chứng, và lời chứng của người ấy xác thực; và người ấy biết mình nói sự thật để cho cả anh em nữa cũng tin.36 Các việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Không một khúc xương nào của Người sẽ bị đánh giập.37 Lại có lời Kinh Thánh khác: Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.

31 Now since it was preparation day, in order that the bodies might not remain on the cross on the sabbath, for the sabbath day of that week was a solemn one, the Jews asked Pilate that their legs be broken and they be taken down.

32 So the soldiers came and broke the legs of the first and then of the other one who was crucified with Jesus.

33 But when they came to Jesus and saw that he was already dead, they did not break his legs,34 15 but one soldier thrust his lance into his side, and immediately blood and water flowed out.

35 An eyewitness has testified, and his testimony is true; he knows 16 that he is speaking the truth, so that you also may (come to) believe.

36 For this happened so that the scripture passage might be fulfilled: "Not a bone of it will be broken."

37 And again another passage says: "They will look upon him whom they have pierced."


I. HÌNH TÔ MÀU





* Chủ đề của hình này là gì?
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
* Bạn hãy viết lại câu Tin Mừng thánh Gioan 19,34
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .



II. TRẮC NGHIỆM

01. Những người Do thái xin ai cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh? (Ga 19, 31)
a. Ông Philatô
b. Ông Giôxếp
c. Vua Hêrôđê
d. Ông Nicôđêmô

02. Đây là thứ đã đâm vào cạnh sườn Đức Giêsu? (Ga 19,34)
a. Gươm
b. Giáo
c. Búa
d. Mũi tên

03. Khi đâm vào cạnh sườn Đức Giêsu, người ta thấy gì? (Ga 19, 34)
a. Máu và nước chảy ra.
b. Một dòng máu đỏ chảy ra.
c. Mạch nước vọt ra.
d. Cả a, b và c đúng.

04. Các điều xảy ra cho Đức Giêsu để ứng nghiệm điều gì? (Ga 19, 35)
a. Kinh Thánh.
b. Lời ông Môsê.
c. Lời ông Ápraham.
d. Cả a, b và c đúng.

05. Các điều xảy ra cho Đức Giêsu để ứng nghiệm lời Kinh Thánh nào? (Ga 19,35)
a. Họ sẽ nhìn lên đấng họ đã đâm thâu.
b. Người sẽ được gọi là Nazareth.
c. Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài cũng bắt thăm luôn.
d. Người bị liệt vào hạng phạm pháp.

III. Ô CHỮ

  

Những gợi ý

01. Những người Do thái xin ai cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh? (Ga 19, 31)

02. Những người lính đánh giập cái gì của những người bị đóng đinh? (Ga 19, 29)

03. Đây là thứ đã đâm vào cạnh sườn Đức Giêsu? (Mc 14,34)

04. Khi đâm vào cạnh sườn Đức Giêsu, người ta thấy gì chảy ra? (Ga 19, 34)

05. Ngọn giáo đã đâm vào phần cơ thể nào của Đức Giêsu? (Ga 19, 34)

06. Các điều xảy ra cho Đức Giêsu để ứng nghiệm điều gì? (Ga 19, 35)

07. Người Do thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày gì? (Ga 1931)

08. Khi đâm vào cạnh sườn Đức Giêsu, người ta thấy gì chảy ra? (Ga 19, 34)

Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì?

IV. CÂU LỜI CHÚA GHI NHỚ VÀ HỌC THUỘC LÒNG
Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu.
Tin Mừng thánh Gioan 19,37



Lời giải đáp
VUI HỌC LỜI CHÚA
LỄ THÁNH TÂM CHÚA GIÊSU
Tin Mừng thánh Gioan 19,31-37

I. HÌNH TÔ MÀU

* Chủ đề :
Chúa Giêsu bị đâm
* Tin Mừng thánh Gioan 19,34
Một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người.
 Tức thì, máu cùng nước chảy ra.

II. Lời giải đáp TRẮC NGHIỆM

01. a. Ông Philatô (Ga 19, 31)
02. b. Giáo (Ga 19,34)
03. a. Máu và nước chảy ra (Ga 19, 34)
04. a. Kinh Thánh (Ga 19, 35)
05. a. Họ sẽ nhìn lên đấng họ đã đâm thâu. (Ga 19,35)

III. Lời giải đáp Ô CHỮ

01.  Philatô (Ga 19, 31)
02. Ống chân (Ga 19, 29)
03. Giáo (Ga 19,34)
04. Nước (Ga 19, 34)
05. Cạnh sườn (Ga 19, 34)
06. Kinh Thánh (Ga 19, 35)
07. Sa bát (Ga 19,31)
08. Máu (Ga 19, 34)

Hàng dọc : Thánh Tâm

GB. NGUYỄN THÁI HÙNG



































VUI HỌC THÁNH KINH LỄ MÌNH MÁU CHÚA KITÔ


VUI HỌC THÁNH KINH
LỄ MÌNH MÁU CHÚA KITÔ
Tin Mừng thánh Máccô 14,12-16.22-26


I. TIN MỪNG

12 Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày sát tế chiên Vượt Qua, các môn đệ thưa với Đức Giê-su: "Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn lễ Vượt Qua ở đâu? "13 Người sai hai môn đệ đi, và dặn họ: "Các anh đi vào thành, và sẽ có một người mang vò nước đón gặp các anh. Cứ đi theo người đó.14 Người đó vào nhà nào, các anh hãy thưa với chủ nhà: Thầy nhắn: "Cái phòng dành cho tôi ăn lễ Vượt Qua với các môn đệ của tôi ở đâu?15 Và ông ấy sẽ chỉ cho các anh một phòng rộng rãi trên lầu, đã được chuẩn bị sẵn sàng: và ở đó, các anh hãy dọn tiệc cho chúng ta."16 Hai môn đệ ra đi. Vào đến thành, các ông thấy mọi sự y như Người đã nói. Và các ông dọn tiệc Vượt Qua.


22 Cũng đang bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: "Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy."23 Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này.24 Người bảo các ông: "Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người.25 Thầy bảo thật anh em: chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa, cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong Nước Thiên Chúa."

26 Hát thánh vịnh xong, Đức Giê-su và các môn đệ ra núi Ô-liu.

12 On the first day of the Feast of Unleavened Bread, when they sacrificed the Passover lamb,  his disciples said to him, "Where do you want us to go and prepare for you to eat the Passover?"

13 He sent two of his disciples and said to them, "Go into the city and a man will meet you, carrying a jar of water.  Follow him.

14 Wherever he enters, say to the master of the house, 'The Teacher says, "Where is my guest room where I may eat the Passover with my disciples?"'15 Then he will show you a large upper room furnished and ready. Make the preparations for us there."

16 The disciples then went off, entered the city, and found it just as he had told them; and they prepared the Passover.

22 While they were eating, he took bread, said the blessing, broke it, and gave it to them, and said, "Take it; this is my body."

23 Then he took a cup, gave thanks, and gave it to them, and they all drank from it.

24 He said to them, "This is my blood of the covenant, which will be shed for many.

25 Amen, I say to you, I shall not drink again the fruit of the vine until the day when I drink it new in the kingdom of God."

26 Then, after singing a hymn, they went out to the Mount of Olives.




I. HÌNH TÔ MÀU



* Chủ đề của hình này là gì?
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
* Bạn hãy viết lại câu Tin Mừng thánh Máccô 14,22b,23b
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .



II. TRẮC NGHIỆM

01. Hát Thánh vịnh xong, Đức Giêsu và các môn đệ đi dâu? (Mc 14,26)
a. Lên thành Giêrusalem.
b. Ra núi Ôliu.
c. Ra Hội Đường.
d. Gặp các ngoại kiều.

02. Đức Giêsu bảo các môn đệ: “Đây là máu Thầy, … … … , đổ ra vì muôn người”. (Mc 14,24)
a. Máu giao ước.
b. Máu chiên vượt qua.
c. Máu hiến tế.
d. Máu hy sinh.

03. Ai cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra và trao cho các môn đệ? (Mc 14,22)
a. Ông Gioan Tẩy Giả
b. Vua Đavít
d. Đức Giêsu
d. Ông Phêrô

04. Ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày gì? (Mc 14,12)
a. Sát tế chiên Vượt qua.
b. Sa bát.
c. Lễ Vượt Qua.
d. Áp lễ Vượt Qua.

05. Ai sẽ đón gặp các môn đệ để chỉ cho các ông phòng mà Đức Giêsu và các môn đệ sẽ ăn lễ Vượt qua? (Mc 14,13)
a. Người mang vò nước.
b. Người dẫn dắt lừa con.
c. Người gác thành.
d. Tớ nữ ông Philatô.


III. Ô CHỮ


Những gợi ý

01. Khi cầm lấy chén rượu, Đức Giêsu bảo đây là gì? (Mc 14, 24)

02. Đức Giêsu cầm lấy gì dâng lời chúc tụng rồi bẻ ra trao cho các môn đệ? (Mc 14,22)

03. Đức Giêsu bảo các môn đệ: “Đây là máu Thầy, … … … , đổ ra vì muôn người”. (Mc 14,24)


04. Rượu Đức Giêsu và các môn đệ dùng là sản phẩm của cây gì? (Mc 14,39)

05. Đức Giêsu bảo : Chẳng bao giờ Thầy còn uống sản phẩm của cây nho nữa cho đến ngày Thầy uống thứ rượu mới trong đâu? (Mc 14,25)

06. Đức Giêsu và các môn đệ chuẩn bị ăn lễ gì? (Mc 14,12)

07. Đức Giêsu sai bao nhiêu môn đệ vào thành tìm phòng dọn lễ Vượt qua? (Mc 14,13)

08. Ai đã sai các môn đệ đi tìm phòng dọn lễ Vượt Qua? (Mc 14,12)

Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì?

IV. CÂU THÁNH KINH HỌC THUỘC LÒNG

"Đây là máu Thầy,
 máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người.
Tin Mừng thánh Máccô 14,24

Lời giải đáp
VUI HỌC THÁNH KINH
LỄ MÌNH MÁU CHÚA KITÔ
Tin Mừng thánh Máccô 14,12-16.22-26



I. HÌNH TÔ MÀU

* Chủ đề :
Chúa Giêsu lập Bí tích Thánh Thể

* Bạn hãy viết lại câu Tin Mừng thánh Máccô 14,22b,23b
"Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy."
"Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người”.


II. Lời giải đáp TRẮC NGHIỆM

01. b. Ra núi Ôliu (Mc 14,26)
02. a. Máu giao ước (Mc 14,24)
03. d. Đức Giêsu (Mc 14,22)
04. a. Sát tế chiên Vượt qua (Mc 14,12)
05. a. Người mang vò nước (Mc 14,13)

III. Lời giải đáp Ô CHỮ

01. Máu Thầy (Mc 14, 24)
02. Bánh (Mc 14,22)
03. Máu giao ước (Mc 14,24)
04. Cây nho (Mc 14,39)
05. Nước Thiên Chúa (Mc 14,25)
06. Vượt Qua (Mc 14,12)
07. Hai (Mc 14,13)
08. Đức Giêsu (Mc 14,12)

Hàng dọc : Thánh Thể 


GB. NGUYỄN THÁI HÙNG





“Này là Máu Ta”

ĐTGM. Ngô Quang Kiệt.

Máu cần thiết cho sự sống. Thiếu máu nhiều bệnh nhân sẽ khó sống. Hiến máu đã cứu được nhiều người thoát chết. Hiến máu là tặng ban sự sống. Đó là hình ảnh cuộc hiến mình của Đức Kitô trên thập giá. Trong bữa tiệc ly, Đức Kitô cho biết Người sẽ đổ máu ra để cứu thế giới khi Người cầm chén rượu và nói: “Tất cả các con hãy cầm lấy mà uống. Này là chén Máu Thầy, Máu giao ước mới, sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội”. Máu để cứu sống, máu để thiết lập giao ước, máu để tha tội, tất cả những ý nghĩa này đã được tiên báo trong Cựu ước.

Máu để cứu sống được diễn tả bằng hình ảnh con Chiên Vượt Qua. Để cứu dân Do Thái ra khỏi ách nô lệ Ai Cập, Chúa truyền cho người Do Thái giết một con chiên còn trong sạch, lấy máu bôi lên cửa. Đêm hôm ấy, thiên thần Chúa đến trừng phạt người Ai Cập, nhà nào có máu chiên bôi trên cửa sẽ được cứu thoát. Để tưởng niệm việc được cứu sống và được giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập, từ đó, hằng năm vào đúng ngày ấy, người Do Thái vẫn giữ tập tục giết chiên mừng lễ. Lễ đó gọi là lễ Vượt Qua. Con chiên bị giết gọi là con chiên Vượt qua. Khi hiến mình đúng vào dịp lễ Vượt Qua, Đức Giêsu trở thành Chiên Vượt Qua mới. Máu Người đổ ra cứu linh hồn ta khỏi nô lệ tội lỗi và khỏi chết. Các thánh Giáo phụ cắt nghĩa rằng: Miệng ta là cửa linh hồn. Người rước Mình Máu Thánh Chúa vào miệng cũng như bôi máu chiên lên cửa nhà, sẽ được cứu sống và được giải thoát khỏi nô lệ tội lỗi.

Máu giao ước được diễn tả qua nghi lễ ông Môsê cử hành dưới chân núi Sinai. Bài đọc thứ nhất hôm nay thuật lại: “Ông Môsê sai các thanh niên trong dân Israel tiến dâng những lễ toàn thiêu, và ngả bò tơ làm lễ hiệp thông tế Chúa. Ông lấy một nửa phần máu, đổ vào những cái chậu, còn nửa kia thì rảy lên bàn thờ. Ông lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân nghe. Họ thưa: Tất cả những gì Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và sẽ tuân theo. Bấy giờ, ông Môsê lấy máu rảy trên dân và nói: Đây là máu giao ước Chúa đã lập với anh em”. Đó là giao ước cũ hay là Cựu ước.

Tại Việt Nam cũng như tại các nước Á Đông có tục “uống máu ăn thề”. Khi muốn giao kết với nhau, mỗi người lấy một chút máu của mình hòa chung vào một chén rượu. Sau đó mọi người chia nhau cạn chén. Việc uống máu ăn thề nói lên sự đồng tâm nhất trí. Những người cùng uống chung chén rượu pha máu trở nên ruột thịt với nhau, cùng sống cùng chết với nhau. Đức Giêsu đổ máu ra để lập một giao ước mới giữa loài người với Thiên Chúa. Máu Đức Giêsu giao hòa con người với Thiên Chúa và con người với nhau. Máu giao ước đó làm cho con người trở thành con cái ruột thịt của Thiên Chúa và trở nên anh em ruột thịt với nhau. Đó là máu giao ước.

Máu để tha tội được dùng nhiều trong Cựu ước. Khi dâng lễ đền tội, người ta cũng xả thịt một con vật dâng cho Thiên Chúa. Thày cả lấy máu con vật vảy lên tội nhân để ban ơn tha tội. Khi ta rước Mình Máu Thánh Chúa, ta cũng được tha tội vì Máu Chúa không vảy lên thân xác, nhưng vảy vào linh hồn ta.

Những ý nghĩa mà máu súc vật trong Cựu ước tượng trưng nay được hoàn thành viên mãn trong Máu Đức Kitô.

Nhân loại đang rên xiết trong ách nô lệ đã được Người giải thoát. Nhân loại đang xa lìa Thiên Chúa và bất hòa với nhau đã được Người giao hòa thành một gia đình thương yêu thuận hòa, sống chết có nhau. Nhân loại đang sống trong tội lỗi được Máu Người tẩy sạch mọi vết nhơ.

Chúng ta được ân phúc dường ấy là nhờ Người đã tự hiến mạng sống vì ta. Dòng Máu Người đổ ra đến đâu đem lại sự sống đến đấy. Dòng Máu Người lan tới đâu thì ban ơn tha tội đến đấy.

Mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa, ta hãy cảm tạ tình yêu vô biên của Người đã hiến mình, đổ máu để cứu chuộc ta.

Mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa, ta hãy đáp lại tình yêu của Người bằng cách siêng năng đến lãnh nhận và siêng năng đến thờ lạy Đức Giêsu ngự trong phép Thánh Thể.

Mừng lễ Mình Máu Thánh Chúa, ta hãy noi gương Người, biết quên mình, hiến thân phục vụ đồng loại.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) Bạn có tham dự Thánh lễ và chịu lễ sốt sắng không?

2) Mỗi khi chịu lễ, bạn có cảm nghiệm được Đức Giêsu ngự trong bạn không?

3) Yêu mến Chúa trong phép Thánh Thể, bạn có muốn nên giống Người, biết hiến thân phục vụ đồng loại không?

4) Trong Kinh Thánh, máu có những ý nghĩa nào?


Đây là đất thánh
Arthur Tone
Một linh mục Mỹ, cha Frank Ramsberger đi viếng đất thánh. Cha muốn khảo cứu, đặc biệt những nơi Chúa Giêsu đã sống, đã làm việc, đã chịu nạn, chết và sống lại từ cõi chết. Cha làm thân với một cậu trai tên Yosef, người có bộ mặt nâu của một người chăn cừu Ả-rập. Cậu bé giúp lễ cho cha, dạy cha một vài từ ngữ Ả-rập khó.
Khi vị linh mục sắp sửa từ biệt để đến một vùng khác của đất thánh, ngài nói với Yosef: “Có ít con trai và con gái được đặc ân sống trên mảnh đất Đức Giêsu đã sống. Con biết rằng Con Thiên Chúa đã sống như một cậu con trai, một người đàn ông, đã đi đứng trên những con đường này và đã thở bầu không khí này. Cái đó không giúp con yêu Người hơn sao?
Yosef trả lời một câu đầy ý nghĩa: “Cha chẳng cần phải sống ở đây để yêu Chúa, vì bây giờ Chúa ở khắp nơi trên thế giới. Ngày nay mỗi một nơi đều là đất thánh. Bất cứ nơi nào chúng ta ở, chúng ta ở trên đất của Chúa Giêsu.
Có bao giờ bạn nghĩ như vậy không? Pilsen (thay thế bằng tên họ đạo của cha) là một phần đất thánh. Đức Giêsu ở ngay đây, ngay lúc này.
Đây là ý tưởng về ngày lễ Mình Thánh Chúa. Thân thể Đức Kitô. Chúng ta nhắc lại thứ năm tuần thánh. Lúc đầu tiên Người nói những lời này: “Đây là Mình Ta… đây là Máu Ta”. Hôm nay chúng ta mừng lễ, về việc những lời trên được lặp lại trên khắp thế giới mỗi ngày, về việc Đức Giêsu hiện diện trên mọi bàn thờ khắp thế giới. Đức Kitô ở nơi đây. Đây là đất thánh Pilsen (tên họ đạo thành phố) là đất thánh.
Đây là Betlehem. Đức Giêsu sinh ra tại đây trong mỗi Thánh Lễ. Đây là Nazareth. Đức Giêsu lớn lên ở đây trong đời sống chúng ta. Chúa Giêsu làm phép lạ ở đây, phép lạ thiêng liêng: Người chữa chúng ta khỏi phong cùi tội lỗi. Người chừa những người què thiêng liêng để họ có thể bước đi trên đường lối của Người. Người mở mắt cho những ai không thấy được những sự thiêng liêng. Đức Giêsu tha thứ tội lỗi tại nơi đây trong tòa cáo giải.
Quan trọng nhất, ngôi Thánh đường này là “Căn phòng rộng trên lầu” trong Tin Mừng hôm nay, ở đó Đức Giêsu đã nói lời truyền phép đầu tiên. Không có nơi nào Thánh hơn nơi này.
Đây cũng là Cana, Đức Giêsu tham dự đám cưới trong nhà thờ này. Người dự đám tang nơi quê hương Người. Người ở ngay đây, khi chúng ta an táng một người thân yêu. Đây là Đền Thờ Giêrusalem. Đức Giêsu giảng dạy ở đây qua vị linh mục của Người, qua các thầy cô giáo lý, qua cha mẹ của các con em. Chúa Giêsu hiện diện trong làng, trong nhà thờ, ngoài phố, ngoài cánh đồng, trên bờ hồ, trên đỉnh đồi, và ngôi nhà ở đất thánh. Người cũng hiện diện trong nhà của chúng ta.
Hôm nay là ngày của Chúa Cha, trên đất thánh Đức Kitô tôn kính Cha trên trời của Người. Trong phương cách giới hạn của chúng ta, chúng ta hãy tôn kính Cha mình. Bạn hãy nói với cha bạn như Đức Giêsu thường nói với Cha Người rằng: Bạn yêu Người, bạn quý mến những gì Cha bạn làm cho bạn.
Vâng, bạn và tôi thực sự đang sống trên đất thánh, vì Thiên Chúa làm người sống tại nơi đây ở giữa chúng ta: Mình Thánh Chúa Kitô ở với chúng ta.
Xin Chúa chúc lành bạn.

Đây là Mình Thầy, đây là Máu Thầy
Noel Quesson
Năm 1263, một linh mục người Đức cử hành Thánh Lễ ở nhà thờ kính Thánh Christiana. Lúc bẻ bánh, đột nhiên, linh mục thấy Mình Thánh không còn là hình bánh, mà đã biến thành Thịt và Máu thực. Những giọt máu loang ra thấm ướt tấm khăn Thánh trên bàn thờ. Linh mục vội gấp khăn lại, nhưng gấp tới đâu, máu thấm ra tới đó, máu thấm qua 25 lần vải. Vị linh mục vừa cảm động vừa sợ hãi đến mức không tiếp tục Thánh Lễ được.
Ngài tới yết kiến Đức Giáo Hoàng Urbanô và kể lại sự kiện ấy. Đức Giáo Hoàng sai một Giám Mục đến rước Mình Thánh cùng tấm khăn đẫm máu về Tòa Thánh đặt ở nhà thờ chánh tòa cho giáo dân thờ kính. Năm sau, (1264) vào ngày mồng 8 tháng 9, Người ra sắc dụ lập lễ kính Thánh Thể trong toàn Giáo Hội như chúng ta mừng kính hôm nay.
Đã có nhiều phép lạ về Thánh Thể. Chắc Chúa Giêsu muốn củng cố niềm tin của chúng ta vào bí tích này, cho chúng ta hiểu rõ ý định của Người khi lập phép Thánh Thể, đó thực là của nuôi linh hồn chúng ta, cần thiết cho linh hồn cũng như đồ ăn cần cho thân xác. Đó thực là Thịt và Máu của Chúa, dù mắt thường không nhận rõ thực tại này.
Trong Thánh Lễ, linh mục làm những cử chỉ Chúa đã làm trong bữa Tiệc ly, cũng đọc những lời Chúa đã đọc: “Các con làm việc này để nhớ đến Thầy”. Làm việc này là việc gì? Là cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng bẻ ra và phân phát cho mọi người.
Bí tích Thánh Thể là trung tâm đời sống Kitô hữu. Trước hết vì ở đây cử hành mầu nhiệm Cứu độ. Chúa Giêsu đã chết để cứu chuộc nhân loại. Người chết vì yêu thương chúng ta. Ngoài việc chết một lần trong lịch sử, Chúa còn dùng Thịt và Máu nuôi dưỡng ta, để biểu lộ Tình yêu của Chúa, để ta thông hiệp với sự sống vô biên của Chúa, của một vị Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta cho đến muôn đời. Những thực tại này được thể hiện trong bí tích Thánh Thể, trong Thánh Lễ. Sống cuộc sống thế trần chúng ta cốt đem sự sống tới cho loài người và bí tích Thánh Thể chính là suối nguồn sự sống. Chúng ta cần năng tiếp xúc với nguồn sống đó, chúng ta mới có sự sống để có thể chuyển thông sự sống ấy cho người khác.
Trong Thánh Lễ, chúng ta được đón nhận Lời Chúa và tiếp nhận Mình Chúa vào tâm hồn. Lời Chúa đã thành cụ thể đi vào tâm hồn ta khi ta tiếp nhận Mình Chúa. Chúa đã hiến mạng sống cho mọi người và trao ban chính mình cho chúng ta như là bánh sự sống, vì lẽ đó, tiệc Thánh Thể là nhiệm tích Mình và Máu Đức Kitô, nhiệm tích của sự hiện diện đích thực của Đức Kitô. Chính Thánh Linh đã làm cho Đức Kitô thực sự có mặt và hiến ban trong Bánh và Rượu (Conseil oecuménique năm 1974).
Tiệc Thánh Thể còn là cuộc họp mặt của các tín hữu. Muốn được Ơn Chúa, chúng ta phải hiệp nhất với nhau. Thánh Thể là dấu hiệu hiệp nhất rõ ràng và vững chắc: chỉ có một tấm bánh, một chén rượu chia ra cho mọi người. Trong chúng ta đều lưu hành một của ăn và một thức uống, đều có chung một nguồn sống. Từ Thánh Lễ đi ra, chúng ta ý thức mình là một phần chi thể, là Thịt Máu Đức Kitô, chúng ta mang Đức Kitô trong mình. Trong khi đó, người anh chị em bên cạnh ta cũng là phần chi thể Máu Thịt Đức Kitô như ta. Còn gì gần gũi hơn và thân thiết hơn thế.
Lạy Chúa, nhờ bí tích Thánh Thể, chúng con được hòa nhập vào sự sống Thánh thiện của Chúa. Nhờ hiến lễ Tạ Ơn, chúng con cũng được tôn vinh Thiên Chúa; nhờ Tiệc Thánh, chúng con được hiệp nhất với nhau trong Ngài. Chúng con xin cảm tạ Ngài.

Tặng phẩm thần linh
(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)
Phúc Âm kể lại: Đang khi ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra trao cho các môn đệ và nói: Này là Mình Thầy, các con hãy cầm lấy mà ăn. Rồi Người cầm lấy chén rượu và nói: Này là Máu Thầy, các con hãy cầm lấy mà uống. (Mt 26,26-29; Lc, 22,14-20). Chúa đã lập Bí Tích Thánh Thể và Chúa dặn dò các môn đệ: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy. Tiệc Thánh Thể này được chính Chúa Giêsu tiên báo trong tiệc cưới Cana, được hứa ban cho dân ở Caphanaum, được thiết lập trong Tiệc Ly và đã được chính Chúa cử hành đầu tiên tại làng quê Emmau. Bốn khung cảnh này hòa quyện đan kết với nhau thật tuyệt đẹp trong ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô.
Thánh Thể là sự sống của Giáo Hội, là lương thực thiêng liêng cho đời sống và là bảo đảm cho hạnh phúc trường cửu của người tín hữu chúng ta.
Thánh Thể là mối hiệp nhất giữa Thiên Chúa với con người, và giữa con người với nhau.
Thánh Thể chính là Tặng Phẩm Thần Linh mà Thiên Chúa trao cho nhân loại.
Lịch sử cứu độ là lịch sử hồng ân và là lịch sử tình yêu tự hiến của Thiên Chúa. Cao điểm của lịch sử này là Thập Giá Đức Kitô.Thập Giá là tột đỉnh hy sinh của Thiên Chúa. Thập Giá biểu lộ tình yêu điên rồ của Thiên Chúa. Thập Giá cũng là tột đỉnh hy sinh của Đức Kitô, Đấng đã hạ mình vâng phục Chúa Cha cho đến chết và chết trên Thập Giá. Thập giá là cao điểm tình yêu tự hiến của Chúa Kitô.
Tình yêu sâu thẳm và khôn dò của Thiên Chúa biểu lộ nơi Thập Giá Đức Kitô là tình yêu vượt thời gian. Tình yêu tự hiến của Đức Kitô biểu lộ bằng cái chết cũng vượt thời gian. Chúa Kitô chỉ tự hiến một lần, tự hiến trọn vẹn thay cho mọi lần.Chúa đã biểu lộ điều này trong bữa Tiệc Ly. Từ đó, Bí Tích Thánh Thể là nguồn mạch của đời sống Giáo Hội, là trọng tâm và là tột đỉnh của sinh hoạt Giáo Hội. Thánh Thể làm nên Giáo Hội.Không có Thánh Thể thì không có Giáo Hội. Giáo hội là thân mình gồm nhiều người ăn cùng một bánh là thân mình Đức Kitô (1Cor 10,17).
Giáo hội luôn định tín rằng: dù chỉ một miếng bánh nhỏ, khi đã được Truyền Phép, vẫn chứa đựng cả thân xác, linh hồn và thần tính của Đức Kitô.Chúng ta có Đức Kitô nguyên vẹn và cụ thể. Chính Chúa Thánh Thần Kitô- hóa bánh rượu, làm cho bánh rượu trở nên Mình và Máu Chúa Kitô. Khi Linh mục, thừa tác viên của Giáo hội, thay mặt Chúa Kitô đọc Lời Truyền Phép. Lời Truyền Phép mà Linh mục đọc không phải là một câu thần chú có một ma lực biến bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô, giống như Linh mục có quyền trên Chúa Kitô, khiến Chúa đến thì Ngài phải đến. Lời Truyền Phép chính là Lời Chúa Kitô, Lời mà Chúa Kitô muốn nói qua môi miệng của Linh mục. Chúa Kitô đã chọn một số người để họ lập lại y nguyên Lời Truyền Phép của Ngài. Chính Chúa Thánh Thần lấp đầy “khoảng cách” giữa Linh mục và Đức Kitô, khiến Lời Truyền Phép trở nên “công hiệu”, làm cho nội dung của Lời trở thành hiện thực. Sau Truyền Phép bánh không còn là bánh mà là Mình Thánh Chúa, rượu không còn là rượu mà là Máu Thánh Chúa.Đã có một sự thay đổi, sự thay đổi ấy là thay đổi bản thể hay “biến thể”. Đây là công việc của Chúa Thánh Thần, chứ không phải là công việc của người phàm, dù người ấy là Linh mục. Vì ý thức điều đó, Giáo hội thiết tha khẩn cầu trước lúc Linh mục Truyền Phép:
“Chúng con nài xin Cha đổ ơn Thánh Thần xuống mà thánh hóa của lễ này, để biến thành Mình và Máu của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể II).
“Lạy Cha, chúng con tha thiết nài xin Cha, cũng nhờ Chúa Thánh Thần, mà thánh hóa của lễ chúng con dâng hiến Cha đây, để trở nên Mình và Máu Đức Giêsu Kitô, con Cha, Chúa chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể III).
 “Lạy Cha, xin cho Chúa Thánh Thần đoái thương thánh hóa những của lễ này, để biến thành Mình và Máu Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con” (Kinh Nguyện Thánh Thể IV).
Chúa Thánh Thần làm cho Chúa Kitô hiện diện thực sự giữa chúng ta, trong hình bánh và rượu. Điều đó không có nghĩa là Đức Kitô không hiện diện thực sự bằng những cách khác, như hiện diện qua lời Kinh Thánh, hiện diện trong Giáo hội, hiện diện nơi những người nghèo khổ, hiện diện giữa hai hoặc ba người họp nhau cầu nguyện (Mt 18, 20). Tất cả những cách hiện diện đó đều là hiện diện thực. Có điều khác là: Đức Kitô không đồng hóa với lời Kinh thánh, Lời Kinh thánh được đọc lên không là bản thân Đức Kitô; Đức Kitô cũng không đồng hóa với người nghèo,vì người nghèo không là bản thân Đức Kitô, dù Ngài đã nói: “Ta đói các ngươi cho ăn, Ta khát các ngươi cho uống …” (Mt 25, 35-36). Trái lại nơi Bí Tích Thánh Thể, sau Lời Truyền Phép, bánh và rượu là Đức Kitô, là bản thân Ngài, là bản thể Ngài, là Mình và Máu Ngài.Trong Bí Tích Thánh Thể, sự hiện diện của Đức Kitô có một chiều sâu hữu thể mà không nơi nào có. Sự hiện diện đích thực và đặc biệt này của Đức Kitô là kết quả của một sự thay đổi mà tác động thay đổi chính là công việc của Chúa Thánh Thần làm khi Linh mục đọc Lời Truyền Phép.
Bí Tích Thánh Thể là sáng kiến của tình yêu. Tình yêu luôn có những sáng kiến bất ngờ và kỳ diệu. Thiên Chúa đã yêu thế gian nổi ban chính Con Một … (Ga 3,16) và Con Một là Đức Giêsu đã yêu cho đến cùng, đã lập Bí tích Thánh Thể để ở với con người luôn mãi.
Bông lúa và trái nho là những sản phẩm thông thường và cần thiết nhất mà ruộng đất cống hiến cho con người. Bánh và rượu có thể tầm thường, nhưng laị là những gì gần gũi và cần thiết nhất cho cuộc sống con người hàng ngày. Chúa Giêsu đã muốn trở nên những gì cần thiết và gần gũi đó. Người muốn bánh và rượu trở nên thịt máu của Người. Từ bông lúa bị nghiền nát, từ chùm nho bị ép, nghĩa là từ cuộc khổ nạn và cái chết trên Thập Giá, Đức Giêsu đã trở thành tấm bánh, thành ly rượu đem lại sự sống đời đời cho nhân loại. Vật chất đã trở thành biểu tượng cho sự hiện diện thần linh.
Mình và Máu Chúa Kitô là hồng ân vô giá, chúng ta đón nhận để có sự sống thần linh của Chúa. Tham dự Thánh Lễ tích cực, trọn vẹn là cách tốt nhất thể hiện lòng yêu mến Chúa. Thỉnh thoảng trong ngày, trong tuần, chúng ta nên quỳ gối trước Thánh Thể, chúng ta có thể học được nhiều điều từ Bí Tích Tình Yêu.