Thứ sáu, ngày 17 tháng năm năm 2013

Đức Giêsu, con người của niềm tin



Đức Giêsu, con người của niềm tin
(Tin Mừng theo Thánh Gioan)

Hegel có một câu nói bất hủ: “Das Wahr ist das Ganz” (Cái thật là cái toàn diện).

Câu nói trên vẽ ra cho chúng ta một chân trời thật rộng lớn: chỉ khi nào đạt tới toàn diện sự vật, đạt tới mọi chiều kích của vấn đề, chúng ta mới có thể xem như mình đã thấu triệt sự thật tàng ẩn trong sự vật, trong vấn đề đó. Áp dụng câu nói trên vào các sách Tin Mừng, chúng ta càng thấy chí lý: các sách Tin Mừng đều viết về Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Thế. Tuy cùng là những dòng chứng tá về Đức Giêsu, nhưng các tác giả Tin Mừng đã chọn 4 hướng khác nhau. 4 hướng này, tuy có nhiều nét khác biệt nhau, nhưng đều mang những giá trị đặc biệt để đạt tới cái toàn diện của vấn đề. Và như vậy, nếu chúng ta đúc kết 4 sách Tin Mừng lại với nhau, nghiên cứu các hướng đi, các quan điểm thần học, chúng ta có khả năng bắt gặp con người thật của Đức Giêsu, trong tư cách vừa là Đấng Cứu Thế, vừa là Con Thiên Chúa.

Thánh Matthêu đã đồng hoá chứng tá của mình với chứng tá của Cộng đoàn Hội Thánh khi trình bày Đức Giêsu Kitô là Đấng kiện toàn Lời Hứa. Người đến để thiết lập một vương quốc gọi là Nước Trời hay Nước Thiên Chúa, bằng các bài giảng huấn và hành động cứu thế.

Thánh Marcô đã mặc lấy tâm tình của người môn đệ, sử dụng lối văn chấm phá, vẽ lại một cách sống động khuôn mặt Vị Thầy khả kính khả ái. Người luôn di chuyển. Người nói và hành động liên tục. Lời nói và việc làm của Người có sức thu hút đám đông. Người ở giữa mọi người, nhưng vượt ngoài tầm tay mọi người. Người là Vị Thầy lữ hành.

Thánh Luca viết Tin Mừng trên cơ sở Lịch sử Cứu độ. Vì thế, để gặp được Đức Giêsu, Luca mời gọi chúng ta hòa tan niềm tin của mình vào niềm tin của toàn thể Hội Thánh. Trong cái nhìn đức tin, ta thấy được hoạt động của Chúa Thánh Thần trong sứ mạng cứu thế của Đức Giêsu và từ đó, Người đến với chúng ta trong tư cách Người Tôi Tớ của Thiên Chúa, dịu hiền - khiêm tốn.

Còn Thánh Gioan lại đặt chứng tá của mình trong chứng tá của Thánh Thần về Đức Giêsu Kitô. Nói cách khác, chính Thánh Thần đã làm chứng về Đức Giêsu Kitô qua tâm tình và ngòi bút của Gioan. Chứng tá của Thánh Thần, chứng tá của Gioan nhằm mục đích trình bày Đức Giêsu Kitô chính là con người của niềm tin.

Như vậy, các sách Tin Mừng quả là những tác phẩm lịch sử, được soi dẫn bởi một đức tin sống động, một đức tin chia sẻ trong Cộng đoàn Dân Chúa. Các sách Tin Mừng bó buộc độc giả phải có một lựa chọn dứt khoát: tin theo hoặc chối từ Đức Giêsu. Và bởi vì sứ điệp Tin Mừng dựa trên một nhân vật lịch sử là Đức Giêsu người thành Nazareth, nên một khi tin vào sứ điệp đó tức là tin vào các biến cố bao quanh con người Giêsu Nazareth. Vì vậy, đức tin của kitô hữu phải là một đức tin lịch sử (foi historique).

Khi nhận định về sự khác biệt giữa các sách Tin Mừng, Blaise Pascal có một câu nói khá sâu sắc: “Có nhiều tác giả Tin Mừng để xác nhận sự thật và sự khác biệt của họ thật là hữu ích”. Mọi chiều kích, mọi thành phần, mọi nhân tố đều có những giá trị riêng và khi cùng nhau xác nhận một sự thật, thì chắc chắn “cái thật” của Tin Mừng sẽ được bộc lộ một cách phong phú nhờ vào “cái toàn diện” của nó.

DẤU CHỈ CỦA NIỀM TIN

Trong đoạn kết sách Tin Mừng, Thánh Gioan ghi rõ: “Đức Giêsu đã làm trước mặt các môn đồ nhiều dấu lạ khác nữa, không viết lại trong sách này. Các điều đã viết đây là để anh em tin rằng: Đức Giêsu chính là Đức Kitô, Con Thiên Chúa; và bởi tin thì anh em được có sự sống nhờ Danh Ngài” (20,30-31).

Từ ngữ “dấu lạ” ở đây phải hiểu là “dấu chỉ” (tiếng Hylạp: sêmeia). Trong Tin Mừng thứ tư, Thánh Gioan lưu ý chúng ta đặc biệt hai dấu chỉ trong phần đầu tác phẩm của mình ở chương 2: 2,1-11: dấu chỉ rượu ở Cana; và 2,13-25: dấu chỉ đền thờ ở Giêrusalem.

Sau khi được Gioan Tẩy Giả giới thiệu (1,19-36) và sau khi đã chọn các môn đệ tiên khởi (1,35-51) - mục đích là để họ nghe, thấy và làm chứng - Đức Giêsu đã thực hiện hai dấu chỉ cốt khơi lên và mời gọi niềm tin trong tâm hồn các môn đệ.

Dấu chỉ rượu trong bối cảnh tiệc cưới ở Cana nhằm bộc lộ cho mọi người biết Người là Đấng Cứu Thế. Trong truyền thống Kinh Thánh Cựu Ước, nhất là theo hình ảnh biểu trưng của Ngôn sứ Isaia, rượu là thức uống đặc biệt mà Đấng Cứu Thế sẽ thết đãi Dân Người trong thời Thiên Sai (x. St 9,20; Ds 13,21; St 49,11-12; Is 2,2-3; 25,6; 56,6-8; 60,11-14; Dcr 8,20 và 14,16; Mc 2,22t; 1 Cr 10,16...). Và bởi Người là Đấng Cứu Thế, nên Người lệ thuộc vào thời gian và không gian. Chúng ta sẽ nhận biết Người là Đấng Cứu Thế trong “giờ” của người (x. Ga 2,4; xem thêm 7,30; 8,20; 12,23; 13,1). Dấu chỉ rượu sẽ trở nên hiển nhiên, rõ ràng và thực hiện một cách đầy đủ và trọn vẹn trong “giờ” của Đức Giêsu. “Giờ” đó chính là giờ của cuộc khổ nạn, giờ của thập giá. Trước dấu chỉ đó, “các môn đồ đã tin vào Ngài” (Ga 2,11). Như vậy, qua dấu chỉ rượu, Đức Giêsu mạc khải Người là Đấng Cứu Thế. Và mọi người sẽ nhận ra khuôn mặt của Đấng Cứu Thế trong “giờ” của Người: đó là giờ khổ nạn và thập giá. Vì thế, trong tư cách là Đấng Cứu Thế, Đức Giêsu tiến đến giờ thập giá, giờ Người phải chết.

Trong khi đó, dấu chỉ đền thờ mang một sắc thái khác. Với dấu chỉ này, Đức Giêsu bày tỏ cho mọi người biết Người là Con Thiên Chúa. Thật vậy, Người công bố cho mọi người biết đền thờ là nhà Cha của Người (Ga 2,16). Người còn thách những người Do Thái cứng lòng tin: “Phá Đền Thờ này đi! Và trong ba ngày, Ta sẽ dựng lại” (Ga 2,19). Người muốn nói về Đền Thờ thân xác mình, bởi lẽ, Đền Thờ là nơi Thiên Chúa ngự, nơi có sự hiện diện của Thiên Chúa. Như thế, khi tự đồng hoá con người của mình với Đền Thờ, Đức Giêsu minh nhiên công bố Người là Con của Thiên Chúa. Và vì là Con Thiên Chúa, nên Người đã để lòng nhiệt thành đối với nhà Cha Người nghiền nát cả mình Người (Ga 2,17; x. Tv 69,10). Rồi, khi dấu chỉ ấy thành sự, tức là khi Người sống lại từ trong cõi chết, các môn đồ “đã tin vào Kinh Thánh và vào lời Đức Giêsu đã nói” (Ga 2,22).

Với hai dấu chỉ này, Đức Giêsu mạc khải thân thế và sứ vụ của Người. Vì là Đấng Cứu Thế, Người sẽ tiến đến giờ của mình, là giờ thập giá; nhưng vì là Con Thiên Chúa, nên Người sẽ sống lại. Chết và sống lại thực hiện điều mà hai dấu chỉ trên loan báo. Từ đó, các môn đệ “đã tin vào Người”. Đó là những dấu chỉ của niềm tin.

LỜI NÓI TẠO NIỀM TIN

Thánh Matthêu đã cho chúng ta biết Đức Giêsu là Vị Thầy giảng dạy. Có thể nói, trọng tâm Tin Mừng Matthêu xoay quanh năm bài giảng của Đức Giêsu về Nước Trời. Còn thánh Gioan lại tạo cơ hội cho chúng ta thấu hiểu và quán triệt mọi hành động của Đức Giêsu. Nói cách khác, Gioan muốn chúng ta hãy dùng cái nhìn của chính Đức Giêsu để giải thích mọi sự việc xảy ra. Trong chiều hướng đó, Gioan muốn chúng ta trực diện với Đức Giêsu, với con người có lời nói tạo niềm tin này. Thật vậy, lời nói đầu tiên của Đức Giêsu mà Thánh Gioan chú ý ghi lại trong tác phẩm của mình chính là một câu hỏi, kèm theo một lời mời gọi: “Các ngươi tìm gì?” - (Rabbi, Ngài lưu lại ở đâu?) “Hãy đến mà xem!” (Ga 1,38-39). Câu hỏi và lời mời gọi này luôn được lập lại với những ai muốn gặp Đức Giêsu, muốn tiếp xúc với Người cũng như muốn biết Người. Lời Đức Giêsu khiến họ phải suy nghĩ. Lời Đức Giêsu khiến họ phải lựa chọn. Sức mạnh của lời nói Đức Giêsu bộc lộ qua các câu chuyện trao đổi giữa Người với Nicôđêmô (Ga 3,1-21), với người phụ nữ Samari (Ga 4,1-41), và với viên quan chức ngoại giáo ở Galilê (Ga 4,43-53).

Nicôđêmô là mẫu người tiêu biểu cho giới biệt phái, giới lãnh đạo, bậc thầy trong Dân Chúa. Ông đã tìm đến với Đức Giêsu, đã nghe Người nói chuyện, đã được lời Người phá tan khối tự mãn trong con người của ông. Thay vì tranh luận với Đức Giêsu, thì ông đã được lời Người dẫn từ suy nghĩ này qua suy nghĩ khác; có chăng là ông chỉ thốt lên vài câu hỏi biểu lộ sự ngạc nhiên, phơi bày những thắc mắc, thiếu sót của mình trên con đường tìm Nước Thiên Chúa.

Người phụ nữ Samari là nhân vật tiêu biểu cho giới lạc giáo, giới bị xã hội Do Thái khinh bỉ, xếp ngang hàng với phường tội lỗi. Bà cũng đã được nghe lời nói của Đức Giêsu. Lời Người đã soi sáng tâm hồn bà, đưa bà từ thái độ dửng dưng ban đầu (Ga 4,9) đến thái độ gắn bó (4,15); rồi từ một suy nghĩ về tôn giáo (4,20) đến một chọn lựa cơ bản là tin và làm chứng về Người cho đồng hương của mình (4,29.39-42).

Viên quan chức ở Galilê là nhân vật tiêu biểu cho lương dân, cho những người chưa bao giờ nghe nói về Đấng Cứu Thế, hoặc có nghe nhưng đều hiểu sai lệch. Khi nghe tin Đức Giêsu xuất hiện, ông đã quyết định “đi gặp Ngài” (Ga 4,47). Trước lời nói của Đức Giêsu: “Ông hãy đi! Con ông sống!”, Thánh Gioan đã ghi lại phản ứng của ông ấy như sau: “Người ấy đã tin vào lời Đức Giêsu nói với mình và đi về” (4,50). Từ thái độ tin vào lời Đức Giêsu - ông tin ngay, dầu chưa thấy được dấu chỉ nào, dầu không có cuộc tranh luận nào, dầu quá khứ của mình không được lời Người phơi bày như trường hợp người phụ nữ Samari - ông đã chọn một quyết định dấn thân sâu xa và triệt để hơn, “ông đã tin làm một với gia đình ông” (4,53).

Với ba mẫu người trên, Thánh Gioan muốn giới thiệu với chúng ta khuôn mặt của toàn thể nhân loại trên con đường tìm về nước Thiên Chúa. Cả ba mẫu người này đều được tiếp xúc và nghe lời Đức Giêsu nói với mình. Cả ba đã có những lời đáp trả với những cường độ khác nhau và cả ba đều đã có kinh nghiệm như nhau, là lời nói của Đức Giêsu đã tạo nên niềm tin trong đời sống của họ.

HÀNH ĐỘNG CỦNG CỐ NIỀM TIN

Thánh Gioan đã ghi lại nhiều hành động mà Đức Giêsu đã thực hiện trong quá trình rao giảng Tin Mừng. Mỗi hành động đều mang một ý nghĩa mạc khải đặc biệt, hoặc về sứ mạng cứu thế của Người, hoặc về Mầu nhiệm Nước Thiên Chúa. Và bởi thế, mỗi hành động đều nhằm mục đích củng cố niềm tin những ai đã chọn lựa đi theo Người. Việc Đức Giêsu chữa lành người mù từ lúc mới sinh trong bối cảnh lễ Lều ở Giêrusalem thật đầy đủ ý nghĩa (Ga 9,1-41). Dịp Lễ Lều, toàn dân cử hành trong vòng một tuần lễ các nghi lễ hoài niệm thời gian sa mạc, thời gian du mục của tổ tiên mình. Đó là “thời gian của mối tình đầu” giữa Thiên Chúa và Dân Người - nói theo kiểu các ngôn sứ, cách riêng là Hôsê, Giêrêmia và Êzêkiel. Trong dịp lễ đó, dân chúng tụ họp tại Giêrusalem và cử hành một cách đặc biệt các nghi lễ “Kiệu Nước” và “Rước Ánh Sáng”. Nước và Ánh Sáng tượng trưng cho Đức Chúa, cũng như hồng ân của Người đối với dân trong thời sa mạc. Khi dân khát, Người đã cho dân nước từ tảng đá; khi dân phải di chuyển ban đêm, Người đã trở nên cột lửa soi dẫn bước đi. Phát xuất từ ý nghĩa của dịp lễ, Đức Giêsu đã chữa lành người mù từ lúc mới sinh. Người truyền lệnh cho anh phải đi tới rửa mắt ở suối Silôam (nghĩa là suối “Kẻ được sai đi”) để mắt anh được sáng mà trông thấy. Nước và sự sáng đối với người mù là cả một nguồn hạnh phúc. Nước đó phát xuất từ suối “Kẻ được sai đi” - tức là Đấng Mêsia, Đấng được Thiên Chúa sai đến - và sự sáng là do việc anh mù tin vào lời Đức Giêsu mà hành động. Như vậy, qua việc chữa lành mắt anh mù, Đức Giêsu như muốn đồng hoá mình với suối nước, với sự sáng trong dịp Lễ Lều. Người muốn mạc khải chân tính của Người: Người là Vị Chúa của dân (= sự sáng) và là Quà Tặng Thiên Chúa ban cho Dân (= nước). Trước những hành động chứa đựng nhiều ý nghĩa như trên mà Đức Giêsu đã thực hiện, những ai khiêm tốn như anh mù, những ai nhận biết mình là người có tội, sẽ được thấy, được hiểu để rồi được đi trong sự sáng. Đó là tình trạng của anh mù được chữa lành: “Lạy Ngài, tôi tin!” (9,38). Ngược lại, những ai tự mãn, tự cho mình là công chính, tự cho mình là quan tòa của anh em mình, cứ tưởng rằng mình thấy, mình đã hiểu ơn cứu độ để rồi không cần tin vào lời mạc khải của Người, thì sẽ lui dần về trong bóng tối. Bởi vì: “Chính để phán xét mà Ta đã đến trong thế gian, ngõ hầu kẻ không thấy thì được thấy, còn kẻ thấy được thì hóa đui mù” (Ga 9,39).

Con người Giêsu Kitô trong Tin Mừng thứ tư quả thật lạ lùng. Người đặt ta vào thực tế cuộc sống, vào các sinh hoạt thông thường của con người, để xuyên qua mọi dấu chỉ, lời nói, hành động, Người muốn ta khám phá ra sự sống đích thực nhờ biết đặt niềm tin nơi Người.



Gm. Giuse Võ Đức Minh
Nguồn: WHĐ



Thứ năm, ngày 16 tháng năm năm 2013

Xin đừng làm những Kitô hữu ‘bán thời’


Triều Kiến ngày thứ tư: Xin đừng làm những Kitô hữu ‘bán thời’

 


(Vatican Radio) Để chuẩn bị cho Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống và trong khuôn khổ của các bài giáo lý trong Năm Đức Tin, Đức Thánh Cha Phanxicô dành buổi triều kiến ngày thứ tư cho hành động của Chúa Thánh Thần trong chúng ta, hướng dẫn chúng ta đến Sự Thật.

Sau đây là bản dịch bài giảng của Đức Thánh Cha :

Các anh chị em thân mến,

Hôm nay, tôi muốn chú trọng đến tác động của Chúa Thánh Thần trong việc hướng dẫn Giáo Hội và mỗi người trong chúng ta đến Sự Thật. Chúa Giêsu nói với các môn đệ: Khi Thần Khí đến, “Người sẽ dẫn anh em đến sự thật toàn vẹn” (Ga 16:13), chính Người là “Thần Khí của Sự Thật” (Ga 14:17; 15:26; 16:13). Chúng ta sống trong một thời đại tương đối hay hồ nghi về sự thật. Chân Phước Benedict XVI đã nói nhiều lần đến chủ nghĩa tương đối, nghĩa là khuynh hướng tin rằng không có gì là tiên quyết, và nghĩ rằng sự thật là những gì chúng ta đồng ý, hay chúng ta mong muốn. Câu hỏi là: “Sự thật có hiện hữu không? Sự thật là gì? Chúng ta có thể biết sự thật không? Chúng ta có thể tìm thấy sự thật không? Ở đây tôi nhớ đến câu hỏi của Tổng Trấn Rôma Ponxiô Philatô khi Chúa Giêsu cho biết ý nghĩa sâu xa của sứ vụ của Người: “Sự thật là gì? " (Ga 18,37.38). Philatô không hiểu rằng “sự thật” đang ở ngay trước mắt ông, là chính gương mặt của Thiên Chúa, Giêsu chính là Sự Thật: Sự Thật trong sự viên mãn của thời gian, “trở nên nhục thể” (Ga 1,1.14), đã đến giữa chúng ta để chúng ta nhận biết. Chúng ta không thể nắm giữ sự thật như một vật thể, chúng ta chỉ có thể gặp gỡ sự thật. Sự thật không phải là một sở hữu, mà là sự gặp gỡ một Người.

Nhưng ai có thể giúp chúng ta nhận biết Chúa Giêsu là “Lời” của sự thật, là Con của Chúa Cha? Thánh Phaolô dậy chúng ta là “không ai có thể nói “Đức Giêsu là Chúa,” ngoại trừ nhờ Chúa Thánh Thần (1 Cr 12:3). Chính là Chúa Thánh Thần, quà tặng của Chúa Kitô Phục Sinh, mới giúp chúng ta nhận biết Sự Thật. Chúa Giêsu gọi Người là “Đấng Bảo Trợ,” nghĩa là “Đấng đến trợ giúp chúng ta,” Đấng ở bên chúng ta để trợ giúp chúng ta trên hành trình học hỏi, và trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu bảo đảm với các môn đệ là Chúa Thánh Thần sẽ dậy họ tất cả mọi điều, và nhắc họ nhớ lại các lời nói của Người (Ga 14:26).

Vậy thì đâu là tác động của Thánh Thần trong đời sống chúng ta và đời sống Giáo Hội để dẫn đưa chúng ta đến sự thật? Trước hết, Người nhắc nhớ và in dấu trong tim các tín hữu những gì Chúa Giêsu đã nói, và chính là qua các lời này, lề luật của Thiên Chúa – như các tiên tri trong Cựu Ước đã tuyên bố - được ghi dấu trong tim chúng ta và trở nên trong chúng ta một nguyên tắc để lượng giá các chọn lựa của chúng ta và để hướng dẫn chúng ta trong các hoạt động hàng ngày. Lời tiên tri của Êdêkiên đã thể hiện: “Ta sẽ rảy nước thanh sạch trên các ngươi và các ngươi sẽ được thanh sạch, các ngươi sẽ được sạch mọi ô uế và mọi tà thần. Ta sẽ ban tặng cho các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim đá khỏi thân mình các người và ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt. Chính thần trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các người, Ta sẽ làm cho các người đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của ta và đem ra thi hành "(Ed 36:25-27). Thật vậy, các hành động của chúng ta xuất phát từ tận đáy lòng: chính con tim chúng ta cần phải được hoán cải về với Chúa, và Thánh Thần sẽ biến đổi nó nếu chúng ta mở lòng cho Người.

Như Chúa Giêsu đã hứa, Thần Khí sẽ hướng dẫn chúng ta “đến sự thật toàn vẹn” (Ga 16:13) Người không những chỉ dẫn đưa chúng ta đến gặp Chúa Giêsu, là sự thật toàn vẹn, mà còn giúp chúng ta bước vào một sự hiệp thông sâu xa với Chúa Giêsu, là chính Sự Thật toàn vẹn, Người ban cho chúng ta kiến thức về mọi sự của Chúa. Tự lực chúng ta không thể thực hiện được điều này. Nếu Thiên Chúa không soi sáng tâm hồn chúng ta, thì đời sống Kitô chúng ta sẽ chỉ hời hợt mà thôi. Truyền thống của Giáo Hội khẳng định rằng Thánh Thần của Sự Thật hành động trong lòng chúng ta, gợi lên “cảm nhận về đức tin” (sensus fidei), qua đó như Công Đồng Vatican II đã xác định, Dân Chúa, dưới sự hướng dẫn của Huấn Quyền, triệt để tuân theo đức tin đã được ban cho tất cả mọi người và cho các thánh,(113) xâm nhập sâu xa hơn bằng những suy tư đúng đắn trong đời (xem Hiến Chế Tín Lý Lumen gentium, 12). Chúng ta hãy tự hỏi: chúng ta có cởi mở cho Chúa Thánh Thần không, chúng ta có cầu xin Người soi sáng để chúng ta nhậy cảm với những gì của Chúa? Và đây là kinh nguyện chúng ta phải đọc mỗi ngày: “Lạy Chúa Thánh Thần xin mở lòng con cho Lời Chúa, xin cho lòng con được mở ra cho sự lành, cho sự huy hoàng của Thiên Chúa, hàng ngày.”

Nhưng tôi muốn hỏi các bạn câu này: Có bao nhiêu bạn đọc kinh hàng ngày để cầu xin Chúa Thánh Thần? Tôi đoán là chỉ có rất ít, nhưng chúng ta ý thức rằng ước muốn của Chúa Giêsu là chúng ta phải cầu nguyện hàng ngày với Chúa Thánh Thần để xin Người mở lòng chúng ta cho Chúa Giêsu.

Chúng ta nhớ đến Mẹ Maria “Mẹ hằng ghi nhớ mọi điều và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19.51). Việc tiếp nhận những lời này và sự thật của đức tin để cho chúng trở nên đời sống của chúng ta, được thể hiện và tăng trưởng dưới tác động của Thánh Thần. Bằng cách này, chúng ta phải học hỏi nơi Mẹ Maria, khi sống lại lời “xin vâng”, là sự hoàn toàn sẵn sàng để tiếp nhận Con Chúa trong đời sống Mẹ, và vào chính lúc đó Mẹ đã được biến cải. Qua Thánh Thần, Chúa Cha và Chúa Con đến để ở trong chúng ta: chúng ta có sống trong Chúa và vì Chúa không? Đời sống chúng ta có được Thiên Chúa tác động không? Chúng ta đã đem được những điều gì dâng lên Thiên Chúa?

Anh chị em thân mến, chúng ta cần để cho mình thấm nhuần ánh sáng của Thánh Thần, để Người giới thiệu chúng ta với Sự Thật của Thiên Chúa, là Chúa độc nhất trong đời chúng ta. Trong Năm Đức Tin này, chúng ta tự hỏi xem chúng ta đã thực tâm khởi sự nhận biết Chúa Kitô và sự thật của đức tin nhiều hơn không, bằng việc đọc và suy gẫm Thánh Kinh, học hỏi về giáo lý, và thường xuyên lãnh nhận các bí tích không? Đồng thời chúng ta cũng tự hỏi là chúng ta đã làm gì để cho đức tin hướng dẩn hoàn toàn đời sống của chúng ta? Xin đừng làm một Kitô hữu “bán thời”, vào một vài thời khắc, trong vài trường hợp, xin hãy là một Kitô hữu trong mọi lúc! Sự Thật của Chúa Kitô, là Thánh Thần dậy dỗ chúng ta và ban cho chúng ta, luôn luôn và mãi mãi can thiệp vào đời sống chúng ta. Chúng ta hãy cầu xin Người thường xuyên hơn, xin Người hướng dẫn chúng ta trên bước đường của các môn đệ Chúa Kitô.

Bùi Hữu Thư 5/15/2013 (vietcatholic)

Chủ đề Ngày Giới Trẻ Thế Giới năm 2013


Chủ đề Ngày Giới Trẻ Thế Giới năm 2013



Chỉ còn 68 ngày nữa, Ngày Giới Trẻ Thế Giới sẽ diễn ra hân hoan tại Rio de Janeiro, Brazil, với chủ đề “Hãy ra đi và làm muôn dân thành môn đệ của Thầy” (Mt 28:19). Đây là chủ đề được Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI nêu ra cho Ngày Giới Trẻ Thế Giới năm nay, chỉ mấy ngày sau khi bế mạc Ngày Giới Trẻ Thế Giới năm 2011 tại Madrid.

Toàn Văn Sứ Điệp

Các bạn thân mến

Cha hân hoan và âu yếm chào mừng tất cả các con. Cha chắc chắn rằng nhiều người chúng con từ Ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Madrid trở về càng “được vun trồng và xây đắp trong Chúa Giêsu Kitô, vững vàng trong đức tin” (xem Cl 2:7) nhiều hơn. Năm nay, trong các giáo phận, chúng ta đã cử hành niềm vui được làm Kitô hữu, với chủ đề “Hãy luôn luôn hân hoan trong Chúa” (Pl 4:4). Và giờ đây, chúng ta chuẩn bị Ngày Giới Trẻ Thế Giới sắp tới, sẽ diễn ra tại Rio de JaneiroBrazil vào tháng 7 năm 2013.

Trước mọi việc khác, cha muốn mời gọi các con một lần nữa tham dự biến cố quan trọng này. Bức tượng thời danh Chúa Kitô Cứu Chuộc nhìn xuống kinh thành Brazilxinh đẹp sẽ là biểu tượng hùng hồn cho tất cả chúng ta. Hai tay giang rộng của Chúa Kitô là biểu hiệu Người muốn ôm lấy tất cả những ai đến với Người, và trái tim Người tượng trưng cho tấm tình yêu vô biên của Người đối với tất cả và mỗi một người trong các con. Hãy sáp gần lại Chúa Kitô! Hãy cảm nhận cuộc gặp gỡ này cùng với mọi người trẻ khác sẽ tựu về Rio tham dự Ngày Giới Trẻ Thế Giới kế tiếp! Hãy chấp nhận tình yêu của Chúa Kitô và các con sẽ là các chứng nhân rất cần cho thế giới này.

Cha mời gọi các con chuẩn bị Ngày Giới Trẻ Thế Giới tại Rio de Janeiro bằng cách suy niệm ngay từ bây giờ chủ đề của ngày hội: “Hãy ra đi và làm muôn dân thành môn đệ” (Mt 28:19). Đây là mệnh lệnh truyền giáo vĩ đại được Chúa Kitô ban cho toàn thể Giáo Hội, và ngày nay, hai ngàn năm sau, mệnh lệnh này vẫn khẩn trương như ngày nào. Mệnh lệnh này cần được dóng lên một cách mạnh mẽ trong tâm hồn các con. Năm chuẩn bị cho cuộc tụ họp tại Rio trùng hợp với Năm Đức Tin, là năm bắt đầu với Thượng Hội Đồng Giám Mục chuyên bàn về “ việc tân phúc âm hóa để thông truyền đức tin Kitô giáo”. Cha rất vui khi thấy các con, những người trẻ yêu quí, cũng tham dự vào cố gắng dấn thân truyền giáo này cùng với toàn thể Giáo Hội. Làm cho Chúa Kitô được biết đến là quà phúc quí giá nhất mà các con có thể tặng cho người khác.

 1. Lời kêu gọi khẩn thiết

Lịch sử cho thấy nhiều người trẻ, qua việc hiến thân một cách quảng đại, đã đóng góp lớn lao ra sao cho Nước Thiên Chúa và việc phát triển thế giới nhờ việc công bố Tin Mừng. Lòng đầy hứng khởi, họ mang theo Tin Mừng của Tình Yêu Chúa được tỏ hiện nơi Chúa Kitô; họ sử dụng các phương thế và khả thể có thể có, là những phương thế và khả thể kém hơn so với các phương thế và khả thể hiện có của chúng ta ngày nay. Một điển hình xuất hiện trong đầu óc chúng ta là Chân Phúc José de Anchieta. Ngài là một tu sĩ Dòng Tên trẻ tuổi người Tây Ban Nha, thuộc thế kỷ 16, từng tới truyền giáo tại Brazil trước khi được 20 tuổi và đã trở thành vị tông đồ vĩ đại của Tân Thế Giới. Nhưng cha cũng nghĩ tới nhiều người trong chính các con từng hiến thân một cách quảng đại cho sứ mệnh của Giáo Hội. Cha đã thấy chứng cớ tuyệt vời của việc đó tại Ngày Giới Trẻ Thế Giới tại Madrid, nhất là trong buổi gặp gỡ các thiện nguyện viên.

Nhiều người trẻ ngày nay nghiêm chỉnh tự hỏi liệu cuộc đời có phải là một điều tốt đẹp hay không, và đã gặp nhiều thời khắc khó khăn trong việc dò tìm đường đi. Tuy nhiên, nói một cách chung hơn, người trẻ ngày nay nhìn vào các khó khăn của thế giới và tự hỏi: có điều gì tôi làm được không đây? Ánh sáng đức tin soi sáng cho những khoảnh khắc đen tối này. Nó giúp chúng ta hiểu ra rằng mọi cuộc sống nhân bản đều vô giá cả vì mỗi người chúng ta đều là hoa trái của tình yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa yêu thương mọi người, cả những ai rời xa Người hay bất kính đối với Người. Thiên Chúa chờ đợi một cách nhẫn nại. Quả thế, Thiên Chúa đã cho Con của Người chết và sống lại để giải phóng ta khỏi sự ác từ căn gốc. Chúa Kitô đã sai các môn đệ của Người ra đi đem sứ điệp cứu rỗi đầy hân hoan và sự sống mới này đến cho mọi người khắp mọi nơi.

Giáo Hội, khi tiếp tục sứ mệnh phúc âm hóa này, cũng trông vào các con. Những người trẻ yêu quí, các con là những nhà truyền giáo đầu tiên giữa những người cùng thời với các con! Vào cuối Công Đồng Vatican II, mà năm nay chúng ta đang mừng kỷ niệm 50 năm, Tôi Tớ của Chúa là Đức Phaolô VI đã gửi một sứ điệp cho tuổi trẻ thế giới. Sứ điệp này khởi đầu như sau: “Chính các con, thanh niên nam nữ của thế giới, là những người Công Đồng muốn gửi sứ điệp sau cùng của mình. Vì chính các con phải tiếp nhận ngọn đuốc từ tay các niên trưởng của các con và sống trong thế giới vào một thời kỳ có những biến đổi ồ ạt nhất chưa từng thấy trong lịch sử. Chính các con, một khi đã tiếp nhận gương sáng và lời dạy tốt đẹp nhất của cha mẹ và thầy dạy, các con sẽ lên khuôn cho xã hội ngày mai. Một là các con sẽ được cứu thoát, hai là sẽ bị diệt vong với nó”. Sứ điệp ấy kết thúc bằng những lời như sau: “Các con hãy hứng khởi xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn thế giới chúng ta hiện có ngày nay!” (Sứ Điệp Cho Người Trẻ, 8 tháng 12, 1965).

Các bạn thân mến, lời mời gọi trên vẫn còn hợp thời. Chúng ta đang trải qua một thời kỳ hết sức đặc biệt trong lịch sử. Các tiến bộ kỹ thuật đã đem lại cho chúng ta các khả thể chưa từng có để tương tác giữa người với người và giữa các dân tộc với nhau. Nhưng việc hoàn cầu hóa các tương quan này sẽ chỉ tích cực và giúp thế giới tăng trưởng trong tình người nếu nó được đặt nền tảng trên tình yêu, chứ không trên chủ nghĩa duy vật. Tình yêu là điều duy nhất có thể đong đầy trái tim ta và đem con người lại với nhau. Thiên Chúa là tình yêu. Khi ta quên Thiên Chúa, ta sẽ đánh mất hy vọng và trở thành hết khả năng yêu người khác. Đó chính là lý do ta cần phải chứng thực sự hiện hữu của Thiên Chúa để người khác cảm nhận được sự hiện hữu ấy. Việc cứu rỗi nhân loại cũng như việc cứu rỗi mỗi người chúng ta tùy thuộc ở điều này. Ai hiểu được điều này chỉ có thể kêu lên với Thánh Phaolô rằng: “khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cor 9:16).

2. Thành môn đệ Chúa Kitô

Ơn gọi truyền giáo này đến với các con cũng vì một lý do khác nữa, đó là nó cần cho chính cuộc hành trình bản thân của ta trong đức tin. Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan Phaolô II viết rằng: “đức tin được tăng cường khi được trao ban cho người khác!” (Redemptoris Missio, 2). Khi công bố Tin Mừng, chính các con lớn lên nhờ được bén rễ sâu hơn vào Chúa Kitô và được trưởng thành trong tư cách Kitô hữu. Dấn thân truyền giáo là chiều kích chủ yếu của đức tin. Ta không thể là tín hữu đích thật nếu không phúc âm hóa. Công bố Tin Mừng chỉ có thể là kết quả của niềm vui được gặp gỡ Chúa Kitô và thấy nơi Người nền đá để xây dựng đời ta. Khi các con cố gắng giúp đỡ người khác và công bố Tin Mừng cho họ, thì đời các con, một đời thường vỡ vụn vì mải mê hành động, sẽ tìm được thể thống nhất trong Chúa. Các con cũng sẽ xây đắp chính bản thân các con, sẽ lớn lên và trưởng thành trong tình người.

Là nhà truyền giáo, điều đó có nghĩa gì? Trên hết, nó có nghĩa là làm môn đệ Chúa Kitô. Là lắng nghe như mới lời mời gọi bước chân theo Người và hướng về Người: “Hãy học cùng Thầy, vì Thầy hiền từ và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11:29). Môn đệ là người chú tâm lắng nghe lời Chúa Giêsu (xem Lc 10:39), là người biết nhìn nhận rằng Chúa Giêsu là Thầy, là người yêu ta đến nỗi đã hiến mạng sống cho ta. Cho nên, mỗi người trong các con phải để mình được lời Chúa lên khuôn hàng ngày. Điều này sẽ biến các con thành bạn bè của Chúa Giêsu Kitô và làm ta có khả năng đưa dẫn những người trẻ khác về làm bằng hữu của Người.

Cha khuyến khích các con nghĩ tới các ơn phúc các con đã nhận được từ Chúa để đến lượt mình, các con có thể thông truyền chúng cho người khác. Các con hãy học cách đọc lại lịch sử đời mình. Các con hãy ý thức di sản tuyệt diệu từng được các thế hệ đi trước truyền lại cho các con. Có biết bao con người lòng đầy đức tin đã can đảm chuyển giao đức tin dù gặp thử thách và thiếu hiểu biết. Ta đừng bao giờ quên rằng ta là những móc xích trong sợi dây chuyền vĩ đại gồm những con người nam nữ từng thực hiện sứ vụ chuyển giao chân lý đức tin và mong chờ ta chuyển giao nó cho người khác. Làm một nhà truyền giáo giả thiết phải biết đến di sản ấy, tức đức tin của Giáo Hội. Điều cần thiết là các con phải biết điều mình tin, để có thể công bố chúng. Như cha đã viết trong bài dẫn nhập cuốn YouCat, tức Sách Giáo Lý cho Người Trẻ, mà Cha đã trao cho các con tại Ngày Giới Trẻ Thế Giới tại Madrid, “các con cần biết đức tin của mình một cách chính xác như một chuyên viên IT biết cách vận hành bên trong của một chiếc máy vi tính. Các con cần biết nó như một nhạc sĩ biết nhạc cụ ông ta trình diễn. Đúng thế, các con cần bén rễ sâu hơn vào đức tin, hơn thế hệ cha ông các con, để các con có thể đương đầu với các thách đố và cám dỗ của thời nay một cách mạnh bạo và cương quyết”.


3. Hãy ra đi!

Chúa Giêsu sai các con ra đi truyền giáo với mệnh lệnh sau: “Hãy đi khắp thế gian và công bố tin mừng cho mọi tạo vật. Ai tin và chịu rửa tội sẽ được cứu rỗi” (Mc 16:15-16). Phúc âm hóa là đem Tin Mừng cứu rỗi đến cho người khác và giúp họ hiểu rằng Tin Mừng này là một con người, đó chính là Chúa Giêsu Kitô. Khi tôi gặp Người, khi tôi khám phá ra Thiên Chúa yêu thương và cứu rỗi tôi ra sao, tôi bắt đầu cảm thấy không những một ước muốn, mà còn là một nhu cầu phải làm cho Thiên Chúa được người khác biết đến nữa. Ở đầu Tin Mừng Thánh Gioan ta thấy Thánh Anrê, ngay sau khi gặp Chúa, đã vội chạy đi dẫn anh mình là Thánh Phêrô tới (xem Ga 1:40-42). Phúc âm hóa luôn bắt đầu với việc gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô. Những người từng đến với Chúa Giêsu và cảm nhận được tình yêu của Người, lập tức muốn chia sẻ cái đẹp của cuộc gặp gỡ và niềm vui phát sinh từ tình bạn của Người. Càng biết Chúa Kitô, ta càng muốn nói về Người. Càng nói với Chúa Kitô, ta càng muốn nói về Người. Càng được Chúa Giêsu nắm giữ, ta càng muốn được tới gần Người hơn.

Qua Phép Rửa, là phép đem lại cho ta sự sống mới, Chúa Thánh Thần cư ngụ trong ta và nung đốt tâm trí ta. Người dạy ta cách biết Thiên Chúa và mỗi ngày mỗi bước sâu hơn vào tình bạn với Chúa Kitô. Chính Chúa Thánh Thần khuyến khích ta làm điều tốt, phục vụ người khác và biết hiến thân. Qua Phép Thêm Sức, ta được tăng cường bằng ơn Chúa Thánh Thần để ta có khả năng làm chứng cho Tin Mừng một cách mỗi ngày một trưởng thành hơn. Do đó, chính Chúa Thánh Thần của tình yêu là sức mạnh thúc đẩy đứng đàng sau việc truyền giáo của ta. Chúa Thánh Thần thúc giục ta ra khỏi con người mình và “ra đi” rao giảng Tin Mừng. Các người trẻ thân mến, các con hãy để mình được sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa hướng dẫn. Hãy để tình yêu ấy thắng vượt khuynh hướng tự khóa kín mình trong thế giới riêng với các nan đề và thói quen riêng của các con. Hãy can đảm “ra ngoài” chính các con để “ra đi” hướng tới người khác và chỉ cho họ con đường gặp gỡ Thiên Chúa.

4. Tụ tập muôn dân

Chúa Kitô sống lại sai các môn đệ ra đi làm chứng cho sự hiện diện cứu rỗi của Người trước muôn dân, vì trong tình yêu vô bờ của Người, Thiên Chúa muốn mọi người được cứu rỗi, không ai bị sa mất. Qua lễ hy sinh đầy yêu thương trên thánh giá, Chúa Giêsu mở lối cho mọi người nam nữ nhận biết Thiên Chúa và bước vào hiệp thông yêu đương với Người. Người thiết lập một cộng đồng môn đệ để đem sứ điệp Tin Mừng đến tận cùng thế giới và vươn tới mọi người nam nữ thuộc mọi thời và mọi nơi. Ta hãy biến ước muốn của Thiên Chúa thành ước muốn của chính chúng ta!

Các bạn thân mến, các con hãy mở mắt và nhìn khắp chung quanh các con. Có biết bao người trẻ không còn nhìn thấy bất cứ ý nghĩa nào trong đời mình nữa. Các con hãy ra đi! Chúa Kitô cũng đang cần các con. Các con hãy để tình yêu của Người nắm lấy và kéo theo. Các con hãy phục vụ tình yêu bao la này, để tình yêu ấy với tới mọi người, nhất là những người “ở tận đàng xa kia”. Có những người ở xa về địa dư, nhưng có những người ở xa vì lối sống của họ chẳng còn chỗ nào dành cho Chúa cả. Có những người chưa đích thân tiếp nhận Tin Mừng, trong khi đó, có những người đã nhận được nó rồi, nhưng lại sống như thể Chúa chẳng bao giời hiện hữu cả. Ta hãy mở lòng ra với mọi người. Ta hãy bước vào đối thoại một cách đơn thành và tôn trọng. Nếu cuộc đối thoại này tiếp diễn trong tình bằng hữu đích thực, nó nhất định mang hoa trái. “Muôn dân” mà chúng ta được mời vuơn tới không phải chỉ là các nước khác trên thế giới. Chúng cũng là các phạm vi khác nhau của đời sống ta, như gia đình, cộng đoàn, noi học hành và làm việc, nhóm bằng hữu và những nơi ta sống những giờ rảnh rỗi. Việc hân hoan công bố Tin Mừng là nhằm tất cả các phạm vi của đời sống ta, không trừ phạm vi nào.

Cha muốn nhấn mạnh tới hai phạm vi trong đó, việc dấn thân truyền giáo của các con càng trở nên cần thiết hơn. Các người trẻ yêu quí, phạm vi đầu tiên là lãnh vực truyền thông xã hội, nhất là thế giới liên mạng. Như cha từng nhắc ở một dịp khác: “Tôi yêu cầu anh chị em đem các giá trị mà anh chị em vốn dùng làm căn bản xây dựng đời sống vào nền văn hóa của môi trường truyền thông và kỹ thuật thông tin mới mẻ này. […]Đặc biệt, các người trẻ, những người hầu như tự phát gắn bó với các phương tiện truyền thông mới, có nhiệm vụ nhận trách nhiệm phúc âm hóa ‘lục địa kỹ thuật số’ này” (Thông Điệp Ngày Truyền Thông Thế Giới lần thứ 43, 24 tháng 5, 2009). Hãy học cách sử dụng các phương tiện này một cách khôn ngoan. Nên ý thức được các nguy hiềm ẩn tàng của chúng, nhất là nguy cơ nghiện ngập, lẫn lộn thế giới thực với thế giới ảo, và thay thế các tiếp xúc và đối thoại trực tiếp và có tính bản thân bằng các giao tiếp trên liên mạng.

Phạm vi thứ hai là phạm vi du lịch và di dân. Ngày nay, càng ngày càng có nhiều người trẻ đi du lịch, khi thì vì học hành và làm việc, khi thì để vui chơi. Cha cũng nghĩ tới các thời điểm di dân liên hệ đến cả hàng triệu người, thường rất trẻ. Họ tới các vùng hay quốc gia khác vì các lý do tài chánh hay xã hội. Cả ở đây, ta cũng tìm thấy dịp may đầy quan phòng để chia sẻ Tin Mừng. Các người trẻ thân mến, các con đừng sợ làm chứng cho đức tin của mình trong những khung cảnh như thế. Thật là một hồng phúc cho những người được các con gặp gỡ khi các con thông truyền cho họ niềm vui được gặp Chúa Kitô.

5. Làm họ thành môn đệ!

Cha nghĩ có lúc các con thấy khó có thể mời gọi người cùng thời cảm nhận đức tin. Các con từng thấy nhiều người trẻ, nhất là ở một thời điểm nào đó trong hành trình đời người, tuy muốn biết Chúa Kitô và sống các giá trị của Tin Mừng, nhưng lại cảm thấy không thỏa đáng và thiếu khả năng. Ta có thể làm gì được? Trước nhất, sự gần gũi và chứng tá của các con tự chúng sẽ là phương thế Thiên Chúa dùng để đánh động tâm hồn họ. Công bố Chúa Kitô không phải chỉ là chuyện nói năng, nhưng còn là điều gì đó có liên quan tới trọn đời sống ta và được diễn dịch thành dấu chỉ yêu thương. Chính tình yêu mà Chúa Kitô đổ vào tâm hồn ta làm ta thành các nhà rao giang Tin Mừng. Thành thử, tình yêu của ta phải mỗi ngày mỗi trở nên giống tình yêu của chính Chúa Kitô hơn. Như người Samaritanô nhân hậu, ta nên luôn sẵn sàng lưu tâm tới những người ta gặp gỡ, lắng nghe, hiểu biết và giúp đỡ. Bằng cách đó, ta mới có thể dẫn những người đang tìm kiếm chân lý và ý nghĩa trong đời tới nhà Chúa là Giáo Hội, nơi có hy vọng và cứu rỗi (xem Lc 10:29-37). Các bạn thân mến, đừng bao giờ quên rằng hành vi yêu thương đầu tiên mà các con có thể làm được cho người khác là chia sẻ nguồn hy vọng của chúng ta. Nếu ta không cho họ Thiên Chúa, là ta cho họ quá ít đấy! Chúa Giêsu truyền dạy các Tông Đồ rằng: “Hãy ra đi và làm muôn dân thành môn đệ, rửa tội cho họ nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần, và dạy họ tuân giữ mọi điều Ta đã truyền cho các con” (Mt 28:19-20). Phương thế chính để “làm muôn dân thành môn đệ” là qua Phép Rửa và giáo lý. Nghĩa là dẫn những người được ta phúc âm hóa tới chỗ gặp gỡ Chúa Kitô hằng sống, trước hết trong lời Người nói và trong các bí tích. Nhờ cách này, họ sẽ tin vào Người, tiến tới chỗ biết Thiên Chúa và sống trong ơn thánh của Người. Cha muốn mỗi người các con tự hỏi mình: Có bao giờ tôi can đảm đề xuất Phép Rửa cho những người trẻ chưa lãnh nhận nó chưa? Có bao giờ tôi mời ai lên đường làm cuộc hành trình khám phá đức tin Kitô Giáo chưa? Các bạn thân mến, đừng sợ gợi ý để những người cùng trang cùng lứa như các con gặp gỡ Chúa Kitô. Các con hãy xin Chúa Thánh Thần giúp các con. Chúa Thánh Thần sẽ chỉ cho các con cách biết và yêu mến Chúa Kitô trọn vẹn hơn, và có óc sáng tạo trong việc truyền bá Tin Mừng.


6. Vững mạnh trong Đức Tin

Khi đối diện với các khó khăn trong sứ mệnh phúc âm hóa, có thể các con bị cám dỗ muốn nói rằng: “Ôi lạy Chúa, con đâu biết ăn nói ra sao, vì con chỉ là một thằng nhãi”. Nhưng Chúa bảo: “Đừng nói ‘con chỉ là một thằng nhãi’; vì con sẽ tới với mọi người Ta sai con tới” (Jer 1:6-7). Khi thấy mình thiếu thỏa đáng, thiếu khả năng và yếu đuối trong việc công bố và làm chứng cho đức tin, các con đừng sợ. Phúc âm hóa không phải là sáng kiến của riêng ta, và nó không tùy thuộc tài cán của riêng ta. Nó là lời đáp trả một cách trung thành và vâng phục đối với lời mời gọi của Thiên Chúa và do đó, nó không dựa vào sức mạnh của ta mà vào sức mạnh của Thiên Chúa. Thánh Phaolô biết điều này nhờ kinh nghiệm của chính ngài: “Nhưng chúng ta có được kho báu này trong chiếc hộp đất, để chứng tỏ rằng quyền năng siêu việt thuộc về Thiên Chúa chứ không thuộc về ta” (2 Cor 4:7).

Vì lý do trên, phúc âm hóa phát sinh từ cầu nguyện và được nâng đỡ nhờ cầu nguyện. Trước hết, ta phải nói với Thiên Chúa để có khả năng nói về Người. Trong cầu nguyện, ta phó thác những người ta được sai tới cho Chúa, xin Người đụng tới trái tim họ. Ta xin Chúa Thánh Thần biến ta thành khí cụ của Người để cứu rỗi họ. Ta xin Chúa Kitô đặt lời lẽ Người vào môi miệng ta và biến ta thành dấu chỉ tình yêu của Người. Một cách tổng quát hơn, ta cầu cho việc truyền giáo của toàn thể Giáo Hội, như chính Chúa Giêsu đã minh nhiên dạy ta: “Bởi thế, hãy xin Chủ mùa gặt sai thợ gặt tới vụ gặt của Người” (Mt 9:38). Các con hãy tìm nơi Thánh Thể giếng khơi của đời sống đức tin và chứng tá Kitô Giáo, thường xuyên tham dự Thánh Lễ mỗi Chúa Nhật và bất cứ lúc nào trong tuần khi các con có thể. Hãy thường xuyên tới gần bí tích Hòa Giải. Đó là một gặp gỡ rất đặc biệt với lòng từ nhân của Thiên Chúa trong đó, Người chào đón ta, tha thứ cho ta và đổi mới tâm hồn ta trong đức ái. Hãy cố gắng lãnh nhận bí tích Thêm Sức nếu các con chưa lãnh nhận, và chuẩn bị lãnh nhận bí tích này cách cẩn thận và đầy cam kết. Giống Phép Thánh Thề, Phép Thêm Sức là bí tích sai đi, vì nó đem lại cho ta sức mạnh và tình yêu của Chúa Thánh Thần để tuyên xưng đức tin cách không sợ hãi. Cha cũng khuyến khích các con thực hành việc thờ lạy Thánh Thể. Thì giờ dành cho việc lắng nghe và chuyện vãn với Chúa Giêsu ngự trong Phép Cực Thánh trở nên nguồn cho hứng khởi truyền giáo mới.

Nếu các con đi theo con đường này, chính Chúa Kitô sẽ ban cho các con khả năng hoàn toàn trung thành với lời của Người và làm chứng cho Người một cách trung thành và can đảm. Đôi khi, các con được mời gọi làm chứng cho dạ kiên trung của mình, nhất là lúc lời Chúa bị bác bỏ hay chống đối. Trong một số khu vực trên thế giới, một số các con đau khổ vì không thể làm chứng công khai cho đức tin của các con vào Chúa Kitô do việc thiếu tự do tôn giáo. Một số đã phải trả giá bằng chính mạng sống mình cho việc thuộc về Giáo Hội. Cha xin các con vững mạnh trong đức tin, tin tưởng rằng Chúa Kitô luôn ở bên các con trong mọi thử thách. Người cũng từng nói với các con rằng: “Phúc thay cho các con khi người sỉ vả và bách hại các con và vu khống đủ loại sấu xa chống lại các con vì danh Ta. Hãy hân hoan và vui mừng, vì phần thưởng của các con rất lớn ở trên trời”(Mt 5:11-12).

7. Với toàn thể Giáo Hội

Người trẻ thân mến, nếu các con muốn vững mạnh trong việc tuyên xưng đức tin Kitô Giáo tại bất cứ nơi nào các con được sai tới, các con cần có Giáo Hội. Không ai một mình có thể làm chứng cho Tin Mừng. Chúa Giêsu sai các môn đệ ra đi để cùng truyền giáo với nhau. Người nói với các ngài ở số nhiều khi bảo rằng “các con hãy làm muôn dân thành môn đệ”. Việc làm chứng của ta luôn luôn được đưa ra trong tư cách thành viên của cộng đồng Kitô Giáo, và sứ vụ của chúng ta chỉ có hiệu quả nhờ hiệp thông sống động trong Giáo Hội. Chính nhờ sự hợp nhất và tình yêu của chúng ta đối với nhau mà người khác nhận ra chúng ta là môn đệ của Chúa Kitô (xem Ga 13:35). Cha đội ơn Chúa vì công trình phúc âm hóa tuyệt diệu do các cộng đồng Kitô Giáo, các giáo xứ và phong trào trong Giáo Hội thực hiện. Hoa trái của việc phúc âm hóa này thuộc về toàn thể Giáo Hội. Như chính Chúa Giêsu từng phán: “Người gieo kẻ gặt” (Ga 4:37).

Ở đây, cha không thể không bày tỏ lòng biết ơn đối với công phúc lớn lao của các nhà truyền giáo, những người hiến cả đời mình cho việc công bố Tin Mừng tới tận cùng thế giới. Cha cũng cám ơn Chúa vì các linh mục và các vị tu trì, những người hiến trọn đời mình để Chúa Giêsu Kitô được công bố và yêu thương. Ở đây, cha muốn khuyến khích các người trẻ được Chúa kêu mời dấn thân một cách phấn khởi cho các ơn gọi này: “cho thì có phúc hơn nhận” (Cv 20:35). Với những người bỏ mọi sự theo Người, Chúa Giêsu hứa ban cho gấp trăm và ngoài ra còn cả sự sống đời đời nữa (xem Mt 19:29).

Cha cũng cảm tạ vì tất cả các giáo dân nam nữ đã cố gắng hết sức sống cuộc sống hằng ngày của họ như một cuộc truyền giáo, tại bất cứ nơi nào họ hiện diện, tại nhà hay tại nơi làm việc, để Chúa Kitô được yêu mến và phụng sự và để Nước Thiên Chúa lớn mạnh. Cha đặc biệt nghĩ tới tất cả những ai đang làm việc trong lãnh vực giáo dục, chăm sóc sức khỏe, kinh doanh, chính trị và tài chánh, và trong nhiều lãnh vực khác của hình thức tông đồ giáo dân. Chúa Kitô cần sự dấn thân và làm chứng của các con. Đừng để việc gì, bất kể là khó khăn hay thiếu hiều biết, làm nản lòng các con, không để các con đem Tin Mừng của Chúa Kitô đến bất cứ nơi nào có sự hiện diện của các con. Mỗi người các con là một mẩu quí giá trong bức tranh ghép vĩ đại của phúc âm hóa.


8. “Lạy Chúa, con đây!”

Cuối cùng, người trẻ thân mến, Cha muốn yêu cầu tất cả các con lắng nghe trong sâu thẳm tâm hồn lời Chúa Giêsu kêu gọi các con công bố Tin Mừng của Người. Như bức tượng vĩ đại Chúa Kitô Cứu Chuộc tại Rio de Janeiro đã chứng tỏ, trái tim Người luôn mở rộng yêu thương đối với mọi người và mỗi người, và đôi tay rộng mở của Người như muốn vươn tới tất cả. Chính các con hãy là trái tim và đôi tay của Chúa Giêsu! Hãy ra đi và làm chứng cho tình yêu của Người! Hãy là thế hệ các nhà truyền giáo mới, được thúc đẩy bởi tình yêu và sự cởi mở đối với mọi người! Hãy theo gương các nhà truyền giáo vĩ đại của Giáo Hội như Thánh Phanxicô Xavier và rất nhiều vị khác.

Lúc kết thúc Ngày Giới Trẻ Thế Giới tại Madrid, cha có chúc lành cho một số các bạn trẻ của nhiều lục địa khác nhau đang sắp sửa lên đường đi truyền giáo. Họ đại diện tất cả những bạn trẻ nào đang mô phỏng lời tiên tri Isaia mà thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa, con đây. Xin hãy sai con đi!” (Is 6:8). Giáo Hội tin tưởng nơi các con và Giáo Hội cám ơn các con vì niềm vui và nghị lực do các con đóng góp.

Các con hãy đại lượng sử dụng các tài năng của mình đẻ phục vụ việc công bố Tin Mừng! Chúng ta biết rằng Chúa Thánh Thần được ban cho những ai biết mở lòng mình ra cho việc công bố này. Và các con đừng sợ: Chúa Giêsu, Cứu Chúa của thế giới, luôn ở với chúng ta hàng ngày cho tới tận cùng thời gian (xem Mt 28:20).

Lời mời gọi này, lời mời gọi cha ngỏ với giới trẻ toàn thế giới, có một vang dội đặc biệt đối với các con, hỡi các người trẻ quí yêu của Châu Mỹ La Tinh! Trong Hội Nghị Toàn Thể lần thứ năm của các giám mục Châu Mỹ La Tinh tại Aparecida năm 2007, các giám mục đã phát động cuộc “truyền giáo lục địa”. Người trẻ tạo thành nhóm dân đông nhất của Nam Mỹ và họ là tài nguyên quan trọng và quí giá của Giáo Hội và của xã hội. Các con hãy lên tuyến đầu của các nhà truyền giáo! Giờ đây khi Ngày Giới Trẻ Thế Giới đang trở về với Châu Mỹ La Tinh, cha yêu cầu các con, các người trẻ của lục địa, hãy thông truyền niềm phấn khởi đức tin của các con cho người cùng thời đến từ mọi châu lục!

Xin Đức Mẹ, Sao sáng của Tân Phúc Âm Hóa, Đấng mà chúng ta cũng kêu cầu dưới các danh hiệu Đức Mẹ Aparecida và Đức Mẹ Guadalupe, đồng hành với mỗi người các con trong sứ vụ làm chứng cho tình yêu Chúa của các con. Với tình âu yếm đặc biệt, cha ban phép lành Tông Tòa cho tất cả các con.

Lời Chúa Mỗi Ngày Thứ Sáu Tuần VII PS





Lời Chúa Mỗi Ngày
Thứ Sáu Tuần VII PS

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Người môn đệ phải lãnh trách nhiệm coi sóc và hy sinh cho đoàn chiên.

Trong cuộc đời, chúng ta rất dễ tìm người lãnh đạo ngoài xã hội, vì ai cũng mong có địa vị, uy quyền, và các lợi lộc vật chất; nhưng không dễ tìm người lãnh đạo trong Giáo Hội, vì chẳng những không có lợi lộc vật chất, mà còn đòi phải chịu phê bình, bắt bớ, tù đày, và ngay cả phải hy sinh đến tính mạng. Vì thế, chẳng lạ gì mà càng ngày càng thiếu những người tình nguyện hy sinh cuộc đời làm mục tử để lãnh đạo Dân Chúa, nhất là trong những quốc gia phát triển, nơi mà sự thành công được đo lường trên địa vị và lương bổng. Điều gì đã thúc đẩy các mục tử trong Giáo Hội sẵn sàng hy sinh quên mình, để chăm sóc cho đoàn chiên của Thiên Chúa?

Các Bài Đọc hôm nay cho chúng ta thấy những mẫu gương và lý do của việc hy sinh phục vụ. Trong Bài Đọc I, Phaolô bị các người Do-thái trong Thượng Hội Đồng bắt nộp cho Thống-đốc Rôma, vì niềm tin vào Đức Kitô và sự loan truyền đạo lý của Ngài. Những nhà cầm quyền Rôma không dám tha cho Phaolô, dù không tìm thấy nơi ông tội gì đáng chết, vì họ sợ người Do-thái. Phaolô kháng cáo lên hoàng đế Caesar vì ông có quốc tịch Rôma. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu hỏi Phêrô ba lần: "Anh có yêu mến Thầy không?" trước khi trao cho ông nhiệm vụ chăm sóc đoàn chiên của Ngài. Nếu không có tình yêu dành cho Chúa Giêsu, Phêrô không bao giờ có thể hy sinh nghề nghiệp để chăm sóc đoàn chiên, nhất là phải chịu tù đày và hy sinh mạng sống.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Phaolô được chuyển đi Rôma để được xét xử bởi Hoàng-đế Caesar.

1.1/ Các nguyên cáo đã không đưa ra một tội trạng nào như tôi tưởng:Khi vua Agrippa trị vì lãnh thổ của Galilee và Perea, và Bernice, chị em với bà Drussila, vợ của Felix, tới Judea thăm Festus, là Thống-đốc của Judea, Festus biết Agrippa có kiến thức sâu rộng về Đạo Do-thái và truyền thống, nên đã đề nghị ông có cuộc nói chuyện về trường hợp của Phaolô. Ông nói với Agrippa: "Ở đây có một người tù do ông Felix để lại. Khi tôi tới Jerusalem, các thượng tế và các kỳ mục Do-thái đến kiện và xin tôi kết án người ấy. Tôi đã trả lời họ rằng người Rôma không có lệ nộp bị cáo nào, trước khi đương sự ra đối chất với nguyên cáo, và được cơ hội biện hộ về lời tố cáo. Vậy họ cùng đến đây với tôi, và không chút trì hoãn, ngày hôm sau tôi ra ngồi toà và truyền điệu đương sự đến. Đứng quanh đương sự, các nguyên cáo đã không đưa ra một tội trạng nào như tôi tưởng."



1.2/ Tranh luận về tôn giáo: Giống như trong trường hợp của Chúa Giêsu, Philatô không tìm được một lý do chính trị hay luật pháp nào để buộc tội Chúa. Người Do-thái phải họp nhau để lập mưu và tìm một lý do chính trị "Chúa Giêsu xưng mình là Vua! Ai xưng mình là Vua, kẻ ấy chống lại Caesar!" Với lý do đó, Philatô sợ và trao Chúa Giêsu cho họ mang đi đóng đinh. Trong trường hợp của Phaolô, Festus nói: "Họ chỉ tranh luận với ông ta về một số vấn đề liên quan đến tôn giáo riêng của họ, và liên quan đến một ông Giêsu nào đó đã chết, mà Phaolô quả quyết là vẫn sống. Phần tôi, phân vân trước cuộc tranh luận về những chuyện ấy, tôi hỏi xem ông ta có muốn đi Jerusalem để được xử tại đó về vụ này không. Nhưng Phaolô đã kháng cáo, xin dành vụ này cho Thánh Thượng xét xử, nên tôi đã ra lệnh giữ ông ta lại cho đến khi giải lên hoàng đế." Phaolô rất khôn ngoan, vì ông biết nếu họ xử ông ở Jerusalem, ông chắc chắn sẽ bị buộc tội và bị chết.

2/ Phúc Âm: Hãy chăm sóc chiên của Thầy.

2.1/ Chúa Giêsu trao cho Phêrô nhiệm vụ chăm sóc đoàn chiên của Ngài: Trình thuật hôm nay nằm trong chương cuối cùng của Tin Mừng Gioan. Nhiều học giả Kinh Thánh cho chương 21 không phải chính Gioan viết, nhưng là do các môn đệ của ông thêm vào; nhưng có rất nhiều điểm Gioan đã trình bày trong các chương trước được nêu bật trong chương này:

(1) Sự quan trọng của tình yêu: Trong các chương 13-16, Chúa Giêsu đã đề cập rất nhiều với các môn đệ về việc liên hệ giữa tình yêu và giữ các giới răn: Nếu anh em yêu mến Thầy, hãy giữ các giới răn của Thầy; và giới răn quan trọng nhất trong Tin Mừng Gioan là giới luật yêu thương. Trong trình thuật hôm nay, Chúa Giêsu hỏi Phêrô đến 3 lần: "Này anh Simon, con ông Gioan, anh có yêu mến Thầy không?" Điều này làm chúng la liên tưởng ngay đến 3 lần Phêrô đã chối Chúa Giêsu trong Cuộc Thương Khó của Ngài.

(2) Phải có tình yêu của Thiên Chúa trước khi có thể phục vụ tha nhân: Bắt đầu chương 13, khi Chúa Giêsu biết đã sắp đến giờ Ngài phải về với Chúa Cha; và để tỏ tình yêu thương cho các môn đệ, Ngài đã hạ mình làm công việc của người đầy tớ phục vụ chủ: Ngài rửa chân cho các ông! Sau khi rửa chân, Ngài đã nói với các môn đệ đang sững sờ ngạc nhiên về hành động của Ngài: " Anh em gọi Thầy là "Thầy," là "Chúa," điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau" (Jn 13:13-14).

Chúa Giêsu phải hỏi Phêrô tới 3 lần trước khi trao cho ông nhiệm vụ chăn dắt các chiên con và chiên mẹ của Ngài. Chúa Giêsu muốn nhắc nhở cho Phêrô biết phải có tình yêu Chúa ông mới có thể hoàn tất sứ vụ Ngài trao; vì đó là sứ vụ rất khó khăn và đòi nhiều hy sinh và kiên nhẫn. Đó cũng là sứ vụ rất dễ bị nản chí và bỏ cuộc, vì không được đền bù bằng địa vị và lương bổng.

2.2/ Phải sẵn sàng hy sinh tính mạng vì đòan chiên: Trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giêsu cũng dạy dỗ các môn đệ: "Không có tình yêu nào cao quí cho bằng tình của người sẵn sàng hy sinh tính mạng cho người mình yêu." Chúa Giêsu không chỉ dạy như một điều lý tưởng; nhưng Ngài đi tiên phong vác Thập Giá và chết cho các ông và con người, để khuyến khích các ông cũng phải làm như vậy cho nhau và cho đoàn chiên Chúa như người Mục Tử Tốt Lành. Trong trình thuật hôm nay, Ngài nói với Phêrô: "Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn." Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông: "Hãy theo Thầy!"

Noi gương Thầy Chí Thánh, Phêrô can đảm từ bỏ mọi sự: gia đình, nghề nghiệp, danh vọng, để lãnh trách nhiệm coi sóc đoàn chiên Chúa là Giáo Hội, trong giai đoạn đầu cực kỳ khó khăn; và trong khi về già, ông sẵn sàng chịu chết vì Danh Chúa. Chỉ có một điều khác với Chúa Giêsu là ông xin cho được chịu đóng đinh ngược, vì ông cảm thấy mình không xứng đáng để chịu đóng đinh như Chúa.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Lãnh đạo các tín hữu trong Giáo Hội rất khác với lề lối lãnh đạo dân chúng ngoài xã hội. Chúa Giêsu đòi hỏi người mục tử phải thấm nhuần tình yêu Thiên Chúa, và lãnh đạo bằng tình yêu và phục vụ; chứ không bằng quyền hành và ra lệnh.

- Vì yêu Thiên Chúa, người mục tử được trao phó đoàn chiên để săn sóc, bảo vệ, và yêu thương. Để hoàn tất sứ vụ, người mục tử nhiều khi phải hy sinh đến tính mạng của mình.

- Người mục tử sẽ không được đền bù theo kiểu của thế gian: địa vị, quyền hành, và lợi nhuận vật chất; nhưng ông sẽ tìm được niềm vui và yêu thương nơi Thiên Chúa, vì đã được đáp trả tình yêu của Ngài dành cho ông.

Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên OP

Thứ tư, ngày 15 tháng năm năm 2013

Lời Chúa Mỗi Ngày Thứ Tư Tuần VII PS





Lời Chúa Mỗi Ngày
Thứ Tư Tuần VII PS


GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Nỗi quan tâm của mục tử khi phải rời bỏ đoàn chiên của mình.

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã từng phân biệt người mục tử tốt lành khác với người chăn chiên. Các Bài Đọc hôm nay đi xa hơn, khi nói lên mối quan tâm của những người mục tử tốt lành lo lắng cho đoàn chiên khi ông phải xa cách đoàn chiên mình. Người mục tử tốt lành không những lo chăm sóc, dạy dỗ, và bảo vệ đoàn chiên khi còn sống; mà còn kiếm người bảo vệ và săn sóc chiên khi biết mình sắp qua đời. Người chăn chiên có tốt lắm cũng chỉ săn sóc và bảo vệ chiên khi còn sống, ông không quan tâm đến đoàn chiên khi phải từ giã cuộc đời.
Trong Bài Đọc I, Thánh Phaolô giao đoàn chiên mình cho những kỳ mục tại Ephesô. Ngài muốn họ hãy chăm sóc đòan chiên một cách vui vẻ và vô vị lợi, bảo vệ họ khỏi những nanh vuốt của quỉ dữ và của thế gian. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu cầu nguyện và đặt đoàn chiên dưới sự che chở của Chúa Cha. Ngài cầu xin Chúa cha thánh hiến các môn đệ của Ngài trong sự thật, và gìn giữ họ khỏi thế gian và ác thần.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:


1/ Bài đọc I: Lời căn dặn của Phaolô cho các kỳ mục tại Ephesus trước khi về Jerusalem.

1.1/ Họ phải ý thức bổn phận cao quí và quan trọng của họ: Đó là họ phải bảo vệ món quà vô giá là đức tin của họ và của đoàn chiên. Phaolô khuyên nhủ họ: "Anh em hãy ân cần lo cho chính mình và toàn thể đoàn chiên mà Thánh Thần đã đặt anh em làm người coi sóc, hãy chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa, Hội Thánh Người đã mua bằng máu của chính mình." Để bảo vệ đức tin, Phaolô nêu bật hai điều quan trọng hơn cả:

(1) Họ phải bảo vệ sự thật giữa bao điều giả trá: Phaolô biết rõ tầm quan trọng của việc biết sự thật, và sự nguy hiểm của bao điều giả trá, từ kinh nghiệm mục vụ của mình. Ông cảnh giác giới lãnh đạo: "Phần tôi, tôi biết rằng khi tôi đi rồi, thì sẽ có những sói dữ đột nhập vào anh em, chúng không tha đoàn chiên. Ngay từ giữa hàng ngũ anh em sẽ xuất hiện những người giảng dạy những điều sai lạc, hòng lôi cuốn các môn đệ theo chúng." Đoàn chiên còn ngây thơ, non dại; chúng chưa biết tất cả sự thật. Vì thế, bổn phận của các mục tử là không ngừng dạy dỗ đòan chiên để chúng biết nhận ra sự thật giữa bao sự gian xảo.

(2) Họ phải canh thức và khuyên nhủ: Các con chiên không luôn nghe tiếng chủ: có con ham chơi rồi đi lạc, có con cứng đầu chống lại cần phải sửa phạt; nhưng người mục tử tốt lành không bao giờ bỏ rơi bất cứ con nào. Vì thế, việc chăm sóc đòan chiên đòi người mục tử phải để ý tới từng cá nhân khi có thể, như Phaolô trưng dẫn kinh nghiệm của mình: "Vì vậy anh em phải canh thức, và nhớ rằng, suốt ba năm, ngày đêm tôi đã không ngừng khuyên bảo mỗi người trong anh em, lắm khi phải rơi lệ."

1.2/ Những điều quan trọng khác:

(1) Sức mạnh của Lời Chúa: Nhận ra sự khẩn thiết của việc biết sự thật như đã nêu trên, Phaolô chỉ cho họ biết kho tàng khôn ngoan của Lời Chúa: "Giờ đây, tôi xin phó thác anh em cho Thiên Chúa và cho lời ân sủng của Người, lời có sức xây dựng và ban cho anh em được hưởng phần gia tài cùng với tất cả những người đã được thánh hiến." Lãnh đạo khôn ngoan cần đặt căn bản trên Lời Chúa, và xây dựng trên niềm tin vào Thiên Chúa.

(2) Phần thưởng của người mục tử không dựa trên những lợi lộc vật chất: Khác với những nhà lãnh đạo thế gian, họ quan tâm đến địa vị, uy quyền, và những lợi lộc vật chất; người lãnh đạo dân Chúa phải biết hy sinh cách vô vị lợi, và cố gắng sinh sống bằng bàn tay của mình, như Phaolô đã làm: "Vàng bạc hay quần áo của bất cứ ai, tôi đã chẳng ham. Chính anh em biết rõ: những gì cần thiết cho tôi và cho những người sống với tôi, đôi tay này đã tự cung cấp." Dĩ nhiên, đó là điều lý tưởng; nhưng như Chúa Giêsu dạy và Phaolô nói sau này: "thợ làm vườn đáng được trả công." Hơn nữa, việc khai mở và nuôi dưỡng đức tin phải được ưu tiên hơn việc kiếm kế sinh sống.

(3) Hãy lo lắng cho những người yếu kém: "Tôi luôn tỏ cho anh em thấy rằng phải giúp đỡ những người đau yếu bằng cách làm lụng vất vả như thế, và phải nhớ lại lời Chúa Giêsu đã dạy: cho thì có phúc hơn là nhận." Trong đoàn chiên, sức mạnh và khả năng của mỗi con chiên khác nhau; người mục tử cần chú ý hơn đến những con chiên yếu ớt, bệnh tật.

Khi đã khuyên bảo xong, ông Phaolô cùng với tất cả các anh em quỳ gối xuống cầu nguyện. Ai nấy oà lên khóc và ôm cổ ông mà hôn. Họ đau đớn nhất vì lời ông vừa nói là họ sẽ không còn thấy mặt ông nữa. Rồi họ tiễn ông xuống tàu.

2/ Phúc Âm: Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật.

2.1/ Chúa Giêsu biết sự nguy hiểm cho các môn đệ khi sống trong thế gian.

Chúa Giêsu biết đã đến giờ Ngài phải bỏ thế gian, nên Ngài tâm sự với Chúa Cha: "Con không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ, họ ở trong thế gian; phần con, con đến cùng Cha." Giờ Chúa Giêsu phải rời bỏ các môn đệ, cũng là giờ mà các ông phải đương đầu với quyền lực của thế gian một mình. Ngài biết hậu quả sẽ nghiêm trọng chừng nào, như Ngài đã từng nói với các môn đệ: "Họ sẽ tiêu diệt chủ chăn và đoàn chiên sẽ tan tác." Nhìn lại kết quả việc chăn chiên của mình, Chúa Giêsu hãnh diện nói với Chúa Cha: "Khi còn ở với họ, con đã gìn giữ họ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con. Con đã canh giữ, và không một ai trong họ phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng, để ứng nghiệm lời Kinh Thánh."
Thế gian sẽ ghét bỏ và truy tố các môn đệ như họ sắp ghét bỏ và truy tố Chúa Giêsu. Lý do là vì cả Chúa Giêsu và các môn đệ không thuộc về thế gian. Ngài muốn cho các ông biết rõ điều này; để các ông không ngạc nhiên khi điều đó xảy đến.

2.2/ Chúa Giêsu cầu xin cho các môn đệ: Biết những nguy hiểm sẽ xảy đến cho các môn đệ như thế, Ngài cầu xin Chúa Cha ban cho các ông những điều quan trọng sau:

(1) Xin Chúa Cha bảo vệ các môn đệ khỏi ác thần: "Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian." Chúa Giêsu không xin "cất các môn đệ khỏi thế gian;" nhưng Ngài xin "gìn giữ họ khỏi ác thần." Các ông phải ở lại thế gian để tiếp tục sứ vụ rao giảng của Ngài.

(2) Xin Chúa Cha thánh hiến các môn đệ trong sự thật: Giống như Phaolô, Chúa Giêsu biết nguy hiểm của sự sai lạc: "Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật." Sự thật đây là Lời Kinh Thánh và những lời tâm huyết Chúa Giêsu vừa dạy dỗ họ. Ngài biết mọi hành động sai bắt đầu từ sự hiểu biết sai; vì thế, hiểu biết sự thật là điều không thể thiếu cho các môn đệ của Chúa.

Cả hai điều cầu xin này đều được Chúa Cha ban cho các môn đệ qua việc ban Thánh Thần. Ngài là thần sự thật, Ngài sẽ giúp các ông nhận ra sự thật và sẽ hướng dẫn các ông tới tất cả sự thật. Ngài cũng là người bảo vệ và giúp các ông có sức mạnh làm chứng nhân cho Chúa.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Mỗi người chúng ta đều được kêu gọi để trở thành mục tử nhân lành: hoặc một số người con như bậc làm cha mẹ, hoặc một số đông như bậc linh mục, giám mục. Chúng ta phải lo cho đoàn chiên không chỉ lúc còn sống, mà còn cả khi chúng ta phải rời bỏ họ.
- Người mục tử nhân lành phải xây dựng đời mình trên đức tin và Lời Chúa. Họ phải làm hết cách sao cho đoàn chiên có một đức tin vững mạnh và hiểu biết Lời Chúa cách sâu xa.

 Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên OP