Thứ Ba, ngày 25 tháng 8 năm 2015

Suy niệm Chú Giải Chúa nhật XXII thường niên - Lm Inhaxiô Hồ Thông

Suy niệm Chú Giải Chúa nhật XXII thường niên - Lm Inhaxiô Hồ Thông

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXII nầy đều hướng về một đề tài chung: những huấn lệnh của Thiên Chúa là quy luật sống cho mỗi người tín hữu.
CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN
Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật XXII nầy đều hướng về một đề tài chung: những huấn lệnh của Thiên Chúa là quy luật sống cho mỗi người tín hữu.
Đnl 4: 1-2, 6-8
Lề Luật diễn tả sự khôn ngoan và thánh thiện của Thiên Chúa; mỗi người phải lắng nghe và sống.
Gc 1: 17-18, 21b-22, 27
Người tín hữu không chỉ tiếp đón Lời Chúa nhưng còn phải thực hành Lời Chúa trong đời sống nữa.
Mc 7: 1-8, 14-15, 21-23
Người ta không được thay thế những huấn lệnh của Thiên Chúa bằng những quy tắc phàm nhân, bởi vì những quy tắc phàm nhân xem việc tuân giữ bên ngoài là quan trọng, thì những huấn lệnh Thiên Chúa biến đổi con người từ bên trong.
BÀI ĐỌC I (Đnl 4: 1-2, 6-8)
Tác phẩm nầy chủ yếu được cấu thành bởi diễn từ của ông Mô-sê, được đặt vào trong bối cảnh hư cấu ở đó ông Mô-sê ngỏ lời với dân Do thái trước khi họ tiến vào Đất hứa, để cảnh giác họ coi chừng những nguy hiểm đang rình rập họ khi sống ở giữa môi trường ngoại giáo và khẩn khoản kêu mời họ trung thành tuân giữ các huấn lệnh của Thiên Chúa. Thật ra, con cái Ít-ra-en đã định cư ở đất Ca-na-an từ lâu rồi; họ đã để cho mình bị quyến rủ bởi việc phụng thờ các thần linh của dân bản địa rồi; họ cũng đã để cho mình bị tiêm nhiểm bởi lối sống duy vật, dể dãi, thậm chí xa đọa.
Bối cảnh hư cấu nầy cho phép trình bày một bài giáo lý đích thật về Giao Ước, được đặt dưới sự bảo lãnh của ông Mô-sê và mặc lấy cung giọng khuyên bảo khẩn thiết.
1.Lề Luật là nguồn sống:
“Hỡi Ít-ra-en, hãy nghe…” Biểu thức nầy thường được lập đi lập lại trong sách Đệ Nhị Luật, thường nhất được dùng một cách tuyệt đối, không có túc từ: “Hãy nghe, hỡi Ít-ra-en” (Đnl 5: 1; 6: 4; 9: 1; 20: 3; 27: 9). Kinh nguyện hằng ngày của người Do thái bắt đầu với lời mời gọi này: “Hãy nghe, hỡi Ít-ra-en”, được mượn ở Đnl 6: 4-9.
“Như vậy, anh em sẽ được sống”. Điều mà bản văn Đệ Nhị Luật nầy nhắm đến là cuộc sống của dân Ít-ra-en với tư cách dân Giao Ước. Không tuân giữ Lề Luật đồng nghĩa với việc vi phạm Giao Ước, tức là đánh mất những phúc lộc mà Thiên Chúa hứa ban. Vì thế, tiếp liền ngay sau những lời nầy là: “Như vậy, anh em sẽ được sống và sẽ được vào chiếm hữu miền đất mà Đức Chúa, là Chúa của cha ông anh em, ban cho anh em”. Việc thực hành các huấn lệnh gắn liền với niềm xác tín rằng Thiên Chúa đảm bảo cho họ một cuộc sống trường thọ và thịnh vượng. Vào thời điểm nầy, những viễn cảnh vẫn còn bị giới hạn trong chân trời trần thế; những hy vọng ở bên kia nấm mồ chưa được dự kiến.
Đối với dân Ít-ra-en, việc tuân giữ các huấn lệnh của Thiên Chúa là vấn đề sống chết. “Thế phải chọn lựa” này được đặt ra nhiều lần một cách nghiêm túc: “Anh em không được theo những thần khác trong số các thần của các dân chung quanh anh em, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, Đấng ở giữa anh em, là một vị thần ghen tương; hãy coi chừng kẻo Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, nổi cơn thịnh nộ với anh em và tiêu diệt anh em” (Đnl 6: 14-15) hay còn: “Nhưng nếu chẳng may anh em quên lãng Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, mà theo các thần khác, phụng thờ và sụp lạy chúng, thì hôm nay tôi cảnh cáo anh em: chắc chắn anh em sẽ bị diệt vong” (Đnl 8: 19).
Những hoàn cảnh lịch sử đã đem lại cho thế chọn lựa nầy tính cách bi thảm. Quả thật, có thể nghĩ rằng sách Đệ Nhị Luật, trong cấu trúc đầu tiên của nó, được các tư tế của vương quốc phương Bắc soạn thảo. Với tư cách những chứng nhân về những tội bất trung của dân Ít-ra-en, họ đã đưa ra lời mời gọi như cơ hội cuối cùng. Ấy vậy, vào năm 721 trước Công Nguyên vương quốc phương Bắc bị các đạo quân Át-sua triệt hạ. Vài tư tế trốn thoát được lánh nạn sang vương quốc phương Nam và đem theo bản văn của mình. Bản văn nầy được cất dấu trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem vào triều đại Mơ-na-sê, vị vua vô đạo (687-642 BC.), bị quên lãng một thời gian dài và sau cùng được khám phá vào lúc trùng tu Đền Thờ. Lúc đó, nó được dùng làm nền tảng cho cuộc cải cách tôn giáo của vua Giô-si-gia-hu (622 BC.). Bản văn này đã được duyệt xét lại và bổ túc. Đây là điều mà người ta gọi ấn bản thứ hai của sách Đệ Nhị Luật.
Những huấn lệnh Tin Mừng cũng xuất hiện như những quy luật sống. Đức Giê-su sử dụng hầu như cùng những từ ngữ như ông Mô-sê trong sách Đệ Nhị Luật, nhưng Ngài cho từ “sống” ý nghĩa tròn đầy của nó, vượt quá không gian và thời gian của cuộc sống trần thế này, khi nói với chàng thanh niên giàu có: “Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn” (Mt 19: 16-17).
2.Lề Luật bất khả xâm phạm:
“Anh em đừng thêm gì…cũng đừng bớt gì…”. Lời căn dặn kép nầy nói lên nỗi bận lòng của nhà lập pháp. Biểu thức nầy được gặp thấy trong Bộ Luật của vua Hammourabi ở Ba-by-lon vào thế kỷ XVIII tCN, cũng như trong những hiệp ước giữa các dân tộc. Người ta cũng gặp thấy biểu thức này trong Tân Ước, như câu sau cùng của sách Khải Huyền: “Ai mà thêm điều gì vào đó, thì Thiên Chúa sẽ thêm cho người ấy những tai ương mô tả trong sách nầy! Ai mà bớt điều gì trong các lời của sấm ngôn nầy, thì Thiên Chúa sẽ bớt phần người ấy được hưởng nơi cây Sự Sống và Thành Thánh, là cây và thành được mô tả trong sách nầy” (Kh 22: 18-19).
Thật ra ông Mô-sê không là người công bố tính bất khả xâm phạm của Lề Luật, ông chỉ là người trung gian truyền đạt những huấn lệnh của Thiên Chúa.
3.Lề Luật là lẽ khôn ngoan:
Lề Luật là lẽ khôn ngoan cho mỗi người, vì nó là kim chỉ nam cho cuộc sống đức hạnh (đây là ý nghĩa của từ Híp-ri To-ra để chỉ Lề Luật).
Trong toàn bộ đoạn văn nầy, tác giả đặt trên môi miệng của ông Mô-sê ngôn từ của một bậc hiền nhân; văn phong rất gần với sách Châm Ngôn và sách Ba-rúc: lời mời gọi để tâm suy niệm lẽ khôn ngoan được diễn tả bằng những ngôn từ tương tự: “Nghe đi nào, hỡi Ít-ra-en, những mệnh lệnh tặng ban sự sống, hãy lắng tai hiểu lẽ khôn ngoan. Đức khôn ngoan là huấn giới của Thiên Chúa ghi trong Sách Luật, Luật tồn tại cho đến muôn đời. Ai gắn bó với Lề Luật thì sẽ được sống; còn ai lìa bỏ ắt sẽ phải chết” (Br 3: 9; 4: 1)
4.Nhờ Lề Luật, dân Ít-ra-en được xem là một dân tộc vĩ đại:
“Khi nghe nói về tất cả những chỉ thị đó, họ sẽ bảo rằng: Dân tộc vĩ đại nầy chỉ có thể là một dân khôn ngoan và thông minh”.
Sứ mạng phổ quát của dân Ít-ra-en không là nỗi bận lòng ưu tiên của sách Đệ Nhị Luật, sách đặt trọng tâm vào Giao Ước. Vì thế, sứ mạng phổ quát nầy rất hiếm kể ra trong tác phẩm nầy. Chính nhờ tính siêu việt của Lề Luật mà dân tộc nầy trở nên một dân mẫu mực và dân tộc nhỏ bé này được gọi là “một dân tộc vĩ đại”. Chúng ta gặp lại ở đây văn phong nồng nàn và cường điệu, nét đặc trưng của vài đoạn văn Đệ Nhị Luật. Dân Ít-ra-en bé nhỏ so với các đế quốc to lớn chung quanh, mặc dầu thế, được gọi “một dân tộc vĩ đại” vì Lề Luật đảm bảo cho nó tính ưu việt tinh thần trên mọi dân nước.
5.Nhờ Lề Luật, Thiên Chúa ở gần dân.
Phải, có dân tộc vĩ đại nào được thần minh ở gần, như Đức Chúa chúng ta, ở gần chúng ta mỗi khi chúng ta kêu cầu Người”.
Lời khẳng định nầy đáp trả cho câu hỏi đầy xao xuyến của dân Ít-ra-en. Các thần linh ngoại giáo được đúc tượng vẽ hình xem ra ở gần với các tín đồ hơn vị Thiên Chúa phi vật chất, không hình không ảnh của dân Ít-ra-en, đến mức Ngài không cho phép bất cứ hình tượng nào được đúc hoặc vẽ để tôn kính Ngài. Thật ra, Thiên Chúa của Ít-ra-en rất gần với những ai kêu cầu Ngài. Hiệu quả của lời cầu nguyện đó là làm cho Thiên Chúa hiện diện ở trong lòng của mỗi người tín hữu.
Vả lại, trọng tâm của sách Đệ Nhị Luật là ý tưởng về một Thiên Chúa yêu thương dân Ngài và vui thích ở giữa họ, một vị Thiên Chúa mà họ phải “yêu mến hết lòng hết dạ”. Nói cho cùng, luật của Thiên Chúa không áp đặt từ bên ngoài vì “Lời rất gần anh em, ngay trong miệng, trong lòng anh em, để anh em đem ra thực hành”, lời này chúng ta đọc thấy ở Đnl 30: 14, một bản văn loan báo giáo huấn Tin Mừng.
BÀI ĐỌC II (Gc 1: 17-18, 21-22, 27)
Chúng ta bắt đầu đọc thư thánh Gia-cô-bê trong suốt năm Chúa Nhật. Chung chung, tác giả của bức thư này được cho là thánh Gia-cô-bê, người anh em họ của Đức Giê-su. Thánh nhân là người lãnh đạo đầu tiên của cộng đoàn Giê-ru-sa-lem; vì thế, ngài không phải là thánh Gia-cô-bê Tông Đồ, anh của thánh Gioan, tử đạo vào năm 44 sau Công Nguyên. Vả lại, ở đầu thư, tác giả không giới thiệu mình là Tông Đồ: “Tôi là Gia-cô-bê, tôi tớ của Thiên Chúa và của Chúa Giê-su Ki-tô” (Gc 1: 1). Để phân biệt hai vị thánh tiên khởi có cùng tên Gia-cô-bê nầy, người ta đặt biệt danh cho Gia-cô-bê Tông Đồ là “Gia-cô-bê Tiền”, và Gia-cô-bê anh em họ của Đức Giê-su là “Gia-cô-bê Hậu”. Chính Gia-cô-bê Hậu mà Đức Giê-su đã hiện ra sau khi Ngài sống lại, theo thánh Phao-lô (1Cr 15: 6-7) và thánh nhân đã bị ném đá vào năm 62 do sự xúi dục của vị Thượng Tế đương nhiệm vào thời đó.
Thư được gởi cho các cộng đoàn Ki tô hữu gốc Do thái, sống rải rác trong thế giới Hy lạp-Rô ma (2: 2). Chung chung, người ta nghĩ rằng bức thư được viết vào khoảng giữa năm 58 và 62.
Những lời khuyên trong thư cấu thành nền tảng giáo lý theo cung giọng cổ xưa: không có bất kỳ ám chỉ nào đến việc sống chung giữa những Ki-tô hữu gốc Do thái và những Ki-tô hữu gốc lương dân. Giáo huấn được định vị vào truyền thống của các sách minh triết Cựu Ước, được sứ điệp Tin Mừng đổi mới và soi sáng.
1.Chúa Cha, nguồn mạch của mọi ân huệ tốt lành:
Thánh Gia-cô-bê bắt đầu gợi lên nguồn mạch đầu tiên của cuộc sống Ki-tô giáo: mọi ân huệ đều xuất phát từ “Chúa Cha, Đấng tạo dựng muôn tinh tú”, ám chỉ đến công trình tạo dựng: trước hết là ánh sáng, đoạn các vầng sáng lớn nhỏ, trong chương thứ nhất của sách Sáng Thế; nhưng chắc chắn cũng phải được hiểu theo nghĩa của những ánh sáng tâm linh.
 “Nơi Người không hề có sự đổi thay, cũng không hề có sự chuyển vần khi tối khi sáng”. Những từ ngữ được sử dụng ở đây khiến chúng ta nghĩ đến sự xoay vần của các tinh tú. Người xưa đồng hóa sự bền vững với chân lý, sự chuyển động với sự sai lạc. Tác giả bảo đảm tấm lòng của Thiên Chúa là muôn đời bền vững, không hề “vật đổi sao dời”.
2.Người Ki-tô hữu được sinh ra từ Thiên Chúa.
 “Người đã tự ý dùng Lời chân lý mà sinh ra chúng ta, để chúng ta nên như của đầu mùa trong các thụ tạo của Người”. Các Ki tô hữu được sinh vào cuộc sống đầy ánh sáng nhờ Lời chân lý, ân huệ tuyệt vời nhất của Chúa Cha, tức Chúa Con, là Đức Giê-su Ki-tô. Vì thế, họ trở thành “của đầu mùa trong các loài thọ tạo của Người”.
Phải chăng tác giả muốn nói rằng các cộng đoàn Ki-tô hữu gốc Do thái mà thánh nhân muốn ngỏ lời hình thành nên một sự khởi đầu của nhân loại mới? Hay đúng hơn, phải chăng nên hiểu: theo ý muốn của Chúa Cha, những người Ki-tô hữu được xem như là hiến lễ đầu tiên của toàn thể nhân loại? Diễn ngữ “của đầu mùa” gợi lên ý tưởng thánh hiến cho Thiên Chúa.
3.Đức tin năng động:
Từ lời nhắc nhở đạo lý ngắn gọn về ơn gọi Ki-tô hữu, thánh Gia-cô-bê rút ra những kết luận thực tiển: quan trọng là phải có một đức tin tích cực và, đặc biệt, phải quan tâm đến những người nghèo, hai lời khuyên được lập đi lập lại như điệp khúc xuyên suốt thư nầy.
Thật có ý nghĩa biết bao khi tác giả viện dẫn việc giúp đỡ cô nhi quả phụ như là mẫu gương, đây là lời căn dặn truyền thống Cựu Ước (Xh 22: 21; Đnl 14: 29; 16: 11; 24: 19; Tv 68: 6; 14: 6, 9; Is 1: 7; Gr 7: 6; vân vân). Như vậy, thánh Gia-cô-bê nhấn mạnh sự liên tục từ luân lý Mô-sê đến luân lý Tin Mừng. Luân lý Tân Ước không hủy bỏ nhưng kiện toàn luân lý Cựu Ước. Đây là sự ghi nhận căn bản của bức thư nầy. Hành xử như vậy chính là “giữ mình khỏi mọi vết nhơ của thế gian”, cách nói nầy vang dội Tin Mừng Mác-cô được trích dẫn hôm nay về sự thanh sạch trong lòng.
TIN MỪNG (Mc 7: 1-8, 14-15, 21-23)
Chúng ta lại tiếp tục đọc Tin Mừng Mác-cô, bị gián đoạn để nhường chỗ cho diễn từ “Bánh Hằng Sống” được trích từ Tin Mừng Gioan. Thánh Mác-cô tường thuật cuộc tranh luận của Chúa Giê-su với những người Biệt Phái và một số kinh sư liên quan đến việc tuân giữ truyền thống các tiền nhân.
1.Sự thanh sạch và ô uế theo Do thái giáo:
Khi quan sát thấy vài môn đệ của Chúa Giê-su không rửa tay trước khi dùng bữa, những người Biệt Phái và kinh sư phàn nàn với Ngài tại sao các môn đệ của Ngài đã không tuân giữ truyền thống tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa.
Vấn đề họ nêu lên ở đây không là việc vệ sinh, mà là một nhận định liên hệ đến phượng tự (Lv 11-15; x. 19: 23-25; 20: 7; Đnl 14: 3-21; 19; 5: 1-4). Khái niệm thanh sạch và ô uế chiếm một chỗ quan trọng trong Do thái giáo. Khác với nhị nguyên thuyết của Hy-lạp, Do thái giáo quan niệm con người là một thực thể thống nhất, vì thế, cái thanh sạch hay ô uế bên ngoài là dấu chỉ cho thấy cái thanh sạch hay ô uế bên trong. Vì thế, chẳng lạ gì khi sách Lê-vi trong bộ Cựu Ước quy định những gì thanh sạch và những gì không thanh sạch.
Thật ra, mọi dân tộc đều đã phân biệt những cử chỉ thanh sạch và không thanh sạch để thiết lập ranh giới giữa phàm tục và thánh thiêng. Trong não trạng người xưa, điều ô uế và điều thánh thiêng là hai khái niệm liên kết mật thiết với nhau. Cả hai đều hàm chứa một sức mạnh huyền bí và đáng sợ, được phát huy do sự tiếp xúc. Cái ô uế và cái thánh thiêng đều “không thể đụng chạm được”; kẻ nào tiếp xúc với hai “cái” này, kẻ ấy cũng trở thành “không thể đụng chạm đến được”. Trong Cựu Ước, chúng ta thấy: người ta không thể dụng chạm đến Hòm Bia Giao Ước, cũng như không được đụng chạm đến tử thi; người mẹ phải được thanh tẩy sau khi sinh con, vì việc sinh nở đã làm cho bà ra ô uế, cũng như vị tư tế phải thay y phục sau khi dâng hy lễ, vì hy lễ đã làm cho vị này ra thánh thiêng. Đây không phải là một sự hoen uế về thể lý hoặc luân lý, và sự thánh thiện đạt được như thế không phải là một nhân đức của tâm hồn, đó là những “trạng thái”, mà người ta phải ra khỏi để trở về đời sống thông thường (R. de Vaux).
Sau cuộc lưu đày, người Do thái đã mất đi nền độc lập quốc gia nên họ càng gắn bó hơn nữa vào chủ nghĩa đặc thù của dân tộc mình và đã tăng thêm những nghi thức cho phép họ phân biệt mình chừng nào có thể với thế giới ngoại giáo. Qua những nét đặc thù này, họ nhấn mạnh phẩm chất của dân tộc mình là dân được Thiên Chúa chọn và tách riêng khỏi mọi dân tộc khác, vì thế họ không được sống như dân ngoại.
Thánh Mác-cô chen vào cuộc tranh luận lời giải thích dài dòng để giúp người đọc hiểu những tập tục tiền nhân mà người Do thái tuân giữ hằng ngày (7: 3-4). Điều này để lộ căn tính của độc giả, họ không là người Ki-tô hữu gốc Do thái nhưng là người Ki-tô hữu gốc lương dân.  
2.Sự thanh sạch và ô uế theo Chúa Giê-su:
Chẳng cần quanh co, Chúa Giê-su vạch trần thói sống đạo giả hình của họ. Đây là lời tố cáo rất nghiêm khắc. “Giả hình” là từ vựng kịch nghệ được dùng để chỉ những diễn viên mang mặt nạ theo nhân vật mà mình diễn. Giả hình là người mà ngôn hành bất nhất, bộ điệu cử chỉ bên ngoài không đi đôi với tâm tình bên trong, cuộc đời chỉ là trò diễn kịch bên ngoài để che dấu con người thật bên trong.
Vì những đối thủ của Ngài là những người am tường Kinh Thánh, Chúa Giê-su viện dẫn lời ngôn sứ I-sai-a để áp dụng vào lối sống đạo của họ: “Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng, còn lòng chúng thì lại xa Ta. Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích, vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân”. Những người Pha-ri-sêu và các kinh sư chỉ phụng sự Thiên Chúa bằng môi miệng nhưng không thật lòng với Ngài. Họ tuân giữ các nghi thức thanh tẩy bên ngoài mà bỏ qua các huấn lệnh của Thiên Chúa. Để minh chứng cho lời kết án của mình, Chúa Giê-su liền trưng ra một ví dụ súc tích về các lời khấn hứa (7: 10-13). Đây là một lãnh vực dể bị lạm dụng nhiều nhất. Dựa vào một thứ “chủ nghĩa vị luật” quen thuộc, đám Pha-ri-sêu đã bẻ cong một điểm then chốt của Lời Thiên Chúa: sự giúp đỡ cha mẹ trong Thập Giới, để đạt được những tặng phẩm dâng cúng cho Đền Thờ. Chắc chắn qua việc lèo lái tinh vi này, những kẻ nhiệt tình bênh vực truyền thống đã rơi vào tình trạng hủy bỏ Lời Thiên Chúa.
Chúa Giê-su không giới hạn cuộc tranh luận chỉ với những người này, nhưng còn mở rộng cuộc tranh luận tới quần chúng ngõ hầu có thể loan truyền sứ điệp của Ngài một cách có hiệu quả hơn. Trước hết Ngài tuyên bố rằng “Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được”: Đức Giê-su xem ra loại bỏ luật Cựu Ước liên quan đến sự ô uế bên ngoài và những quy định về thức ăn đồ uống (x. Lv 11; Đnl 14), luật nầy không chỉ chiếm nhiều phân đoạn của bộ Ngũ Thư nhưng cũng đã trực tiếp làm bận lòng những người trong cuộc sống thường ngày của mình.
Sau khi đã phê phán lối sống đạo giả hình, chỉ biết tuân giữ cái bên ngoài, Chúa Giê-su tập trung vào “cái bên trong”. Chính cái gì xuất phát từ trong lòng con người mới làm cho con người ra ô uế, tức là chính từ tà tâm mà mọi ý đồ đen tối nham hiểm xuất ra. Việc phân biệt con người giữa cái bên ngoài và cái bên trong xem ra rất mới mẽ đối với truyền thống Do thái giáo.
3.Ý nghĩa của cuộc tranh luận này:
Bản văn này chiếm một vị trí quan trọng đặc biệt. Điểm nhấn thần học mà tác giả nhắm đến là luật Cựu Ước trong mối tương quan với Đức Giê-su. Ngài loại bỏ truyền thống Pha-ri-sêu chung quanh việc tuân giữ luật nghi thức như rửa tay, lên án việc lấy giáo huấn phàm nhân thay thế huấn lệnh của Thiên Chúa bằng cách sử dụng luật như cách thức trốn tránh bổn phận của mình (thực hành luật co-ban), và Ngài hủy bỏ luật thức ăn của Cựu Ước. Hậu ý của cuộc tranh luận này đòi hỏi Ki-tô học mặc nhiên, Đức Giê-su là người có thẩm quyền giải thích luật Cựu Ước.
Ngoài ra, đoạn văn này đã được tác giả Mác-cô đặt ngay trước đoạn tường thuật hoạt động của Đức Giê-su bên đất dân ngoại. Rõ ràng tác giả đã dùng bản văn này như một lời công bố nguyên tắc: Đức Giê-su đã loại bỏ sự phân biệt giữa “thanh sạch và ô uế”. Không có hàng rào nào mà lại do Thiên Chúa muốn có giữa loài người. Chỉ có những hàng rào đã được loài người dựng lên (mà như thế là không biết ý muốn của Thiên Chúa), mà bây giờ phải lật đổ, bởi vì “Nước Thiên Chúa đã đến gần” (1: 15).

Đức Giê-su bắt đầu hủy bỏ ranh giới giữa những thức ăn thanh sạch và những thức ăn ô uế, cuộc cách mạng nầy sẽ được các Tông Đồ (x. Cv 10: 10) và thánh Phao-lô (x. 1Cr 6: 12 và 10: 12-20) tiếp tục. Việc mở ra cho thế giới lương dân đòi buộc phải trả bằng giá nầy và còn hơn nữa việc nội tâm hóa luật luân lý mà Đức Giê-su không ngừng công bố.
http://www.kinhthanhvn.org/viewItem.jhtml?itemId=10461

Có vẻ công chính (26.8.2015 – Thứ tư Tuần 21 Thường niên)

Có vẻ công chính (26.8.2015 – Thứ tư Tuần 21 Thường niên)

Chúng ta chỉ có thể rao giảng Tin Mừng cho con người hôm nay khi những khoảng cách giữa lời nói và hành động được xóa bỏ, khi người ta thấy sự thống nhất trong lối sống của chúng ta...
Có vẻ công chính 
 
Lời Chúa: Mt 23, 27-32
 
Khi ấy, Đức Giêsu khiển trách các kinh sư và người Pharisêu rằng: “Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Phrisêu giả hình! Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế.  Các người cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác! Khốn cho các người, hỡi các kinh sư và người Pharisêu giả hình! Các người xây mồ cho các ngôn sứ và tô mả cho những người công chính. Các người nói: “Nếu như chúng ta sống vào thời của tổ tiên, hẳn chúng ta đã không thông đồng với các ngài mà đổ máu các ngôn sứ.” Như vậy, các người tự làm chứng rằng các người đúng là con cháu của những kẻ đã giết các ngôn sứ. Thì các người đổ thêm cho đầy đấu tội của tổ tiên các người đi!”
 
Suy nim:
 
Ở xứ Paléttin, các ngôi mộ thường được quét vôi màu trắng,
 
để người Do thái dễ nhận ra và tránh xa.
 
Đặc biệt trước lễ Vượt qua, mộ được quét vôi lại,
 
vì có đông đảo khách hành hương tuốn về quê dự lễ.
 
Ai bất cẩn đụng vào mộ là bị trở nên ô uế trong bảy ngày (Ds 19, 16).
 
Đối với người Do thái, ngôi mộ là điều nên tránh,
 
vì bên trong đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô nhơ (c. 27),
 
tuy bên ngoài có vẻ sạch sẽ tốt đẹp.
 
Đức Giêsu đã dám ví các kinh sư và người Pharisêu với ngôi mộ,
 
vì bên ngoài họ có vẻ công chính trước mặt người ta,
 
nhưng bên trong thì đầy đạo đức giả và gian ác (c. 28).
 
Có sự tương phản giữa cái có vẻ bên ngoài và cái thực tế bên trong.
 
Bên ngoài không diễn tả bên trong, nhưng làm hiểu sai cái bên trong.
 
Tất cả nỗ lực của chúng ta là làm cho bên ngoài và bên trong nên một,
 
để ai thấy bên ngoài của ta đều biết được điều sâu kín bên trong.
 
Đức Giêsu còn đề cập đến một sự giả hình khác (cc. 29-32),
 
đó là việc các người Pharisêu xây mồ, tô mả cho các ngôn sứ thời xưa.
 
Họ khẳng định mình không can dự vào tội giết các ngôn sứ của cha ông họ.
 
Tiếc thay, họ lại can dự vào tội giết các ngôn sứ do Đức Giêsu sai đến,
 
qua đó họ cho thấy mình đúng là người thuộc dòng dõi của cha ông,
 
Khi đọc toàn bộ chương 23 của Tin Mừng Mátthêu
 
về những lời phê phán của Đức Giêsu đối với giới lãnh đạo tôn giáo,
 
chúng ta có thể bị sốc, vì chúng quá nặng nề.
 
Liệu Đức Giêsu hiền lành có nói nguyên văn những lời như thế không?
 
Điều cần biết là không phải người Pharisêu nào cũng giả hình.
 
Có nhiều người thực sự thánh thiện đạo đức,
 
và Đức Giêsu đã có tương quan tốt với một số người trong nhóm.
 
Cũng nên nhớ là Ngài không giảng cả chương 23 trong một lần,
 
nhưng trong nhiều dịp khác nhau, và Mátthêu gom lại thành một chương.
 
Cuối cùng không nên quên là hầu chắc giọng điệu gay gắt của chương này,
 
là do có sự căng thẳng giữa Hội Thánh Chúa và Hội đường Do thái.
 
Vào thời Mátthêu viết Tin Mừng này, có những Kitô hữu bị bách hại,
 
bị đánh đòn, bị giết và đóng đinh bởi người Do thái (Mt 23, 34).
 
Bởi đó những lời của Đức Giêsu nhắm vào người Pharisêu ngày xưa,
 
lại trở thành lời nhắc nhở chúng ta hôm nay,
 
những người sống trong Hội Thánh và những người lãnh đạo.
 
Thói giả hình về đạo đức thời nào và ở đâu cũng có.
 
Nó tạo ra một bầu khí dối trá trong tương quan với Thiên Chúa và tha nhân.
 
Hội Thánh vẫn muốn cho đọc bài Tin Mừng gây sốc này
 
vì các Kitô hữu vẫn bị cám dỗ giữ đạo bên ngoài mà không sống đạo.
 
Thật ra chúng ta chỉ có thể rao giảng Tin Mừng cho con người hôm nay
 
khi những khoảng cách giữa lời nói và hành động được xóa bỏ,
 
khi người ta thấy sự thống nhất trong lối sống của chúng ta,
 
khi mọi mặt nạ được cởi ra, và sự thật được tỏ hiện.
 
Cầu nguyn:
 

Lạy Chúa Giêsu,
 
ánh sáng và bóng tối thì dễ phân biệt,
 
còn bóng mờ thì khó nhận ra hơn.
 

Con đã mạnh dạn khước từ bóng tối
 
nhưng khi nhìn thật sâu vào lòng mình,
 
con vẫn thấy có nhiều bóng mờ tác động.
 
Con an tâm ở lại trong bóng mờ,
 
vì thấy đó chưa phải là một tội.
 
Nhưng con cũng áy náy
 
vì biết rằng bóng mờ là nơi
 
ánh sáng Chúa chưa thấm nhập trọn vẹn.
 
Con không muốn bóng mờ thành ánh sáng,
 
vì con vẫn muốn giữ lại
 
một điều gì đó rất quý đối với con.
 

Xin giải phóng con khỏi những tình cảm lệch lạc
 
để con được tự do yêu mến và phụng sự Chúa hơn.
 

Xin chinh phục những bóng mờ trong lòng con
 
để con được thuộc trọn về Chúa.
 

Xin kéo con ra khỏi thái độ lấp lửng, nước đôi,
 
để dứt khoát đặt Chúa trên mọi sự.
 

Ước gì con có đủ can đảm để dám nhìn thẳng
 
vào những bóng mờ trong đời con.
 

Và ước gì con được trở nên trong suốt
 
nhờ để ánh sáng Chúa
 
tràn ngập mọi vùng mờ tối nơi con. Amen.
 

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
http://www.kinhthanhvn.org/viewItem.jhtml?itemId=10462

Bí mật Thâm sâu nhất của Khôn ngoan

Bí mật Thâm sâu nhất của Khôn ngoan

tissot-jesus-discourses-with-his-disciples-e139132384463601 Tháng Sáu 2015
Tất cả mọi người đều khao khát muốn biết một chuyện bí mật, một chuyện mà người khác không biết nhưng bạn lại biết, và chuyện này sẽ cho bạn một thấu suốt và lợi thế hơn người khác, những người không nằm trong nhóm nội bộ biết được bí mật này. Luôn là thế.  Chiếu theo dòng lịch sử, có thể gọi đây là ‘Ngộ đạo thuyết,’ với những vẻ ngoài khác nhau.
Ngày nay, chúng ta thấy điều này trong một xã hội rộng lớn với vô số những quyển sách nổi tiếng như Mật mã Da Vinci, và Lời tiên tri Celestine. Sức hút của những quyển sách là những ra dấu rằng có một số bí mật mà chỉ một số ít những người ưu tú mới biết, và chúng chứa đựng những thông tin quan trọng có thể đổi đời, mà chúng ta vì chưa được khai sáng, nên chẳng biết gì. Và tất nhiên, mong ước của chúng ta là muốn được ở trong những nhóm đặc biệt này. Có khi chúng ta cũng thấy chuyện tương tự trong các nhóm tôn giáo, nơi những người quá ảo tưởng mình có mặc khải riêng về nhiều thần nghiệm tự nhận, hay nơi những quyển sách tuyên bố những mặc khải mới từ Đức Trinh nữ Maria, và cả nơi những chuyện quá hấp dẫn như Ba bí mật Fatima chẳng hạn. Ngộ đạo thuyết có nhiều vỏ bọc.
Trong Tin mừng theo thánh Máccô, nhìn thoáng qua, có vẻ như chính Chúa Giêsu cũng đã ra dấu về kiểu bí mật này. Ngài nói rằng có một bí mật mở ra cho chúng ta, và nếu biết được, thì sẽ cho chúng ta được vào nhóm khai sáng đặc biệt. Trong tin mừng Máccô 4, 11, Chúa Giêsu nói với các môn đệ rằng: Thầy nói cho các con biết bí mật Nước Trời, nhưng chỉ dùng dụ ngôn mà nói với những người ngoài. Rõ ràng Chúa Giêsu phân biệt ra hai nhóm, một nắm bắt được bí mật và ‘ở trong’ còn nhóm kia không nắm được bí mật và ‘ở ngoài.’  Dường như Chúa Giêsu nói rằng, khi theo Ngài, chúng ta sẽ hoặc ‘ở trong’ hoặc ‘ở ngoài’ tùy vào việc chúng ta có nắm bắt được một bí mật nào đó hay không. Các môn đệ đích thực là những người ‘có được điều đó’ còn những người ‘không có’ thì vẫn cứ ở ngoài mà thôi. Nhưng chúng ta ở trong hay ở ngoài cương vị môn đệ này? Và quan trọng hơn nữa, bí mật đó là gì?
Với Chúa Giêsu, bí mật là thập giá, là sự khôn ngoan thâm sâu mà chúng ta cần hiểu được. Nếu chúng ta hiểu được thập giá, thì mới hiểu được tất cả những lời Chúa Giêsu dạy. Ngược lại, nếu chúng ta không hiểu được thập giá, thì tất cả những lời Chúa Giêsu dạy đều vô nghĩa với chúng ta. Năm bắt được ý nghĩa của thập giá là bí mật tiết lộ mọi sự. Nhưng cụ thể hơn, làm sao, để hiểu được thập giá? Bí mật thâm sâu nào nơi thập giá Chúa Giêsu? Về căn bản, chúng ta cần hiểu sự gì đây?
Nhiều nhà chú giải kinh thánh đã trả lời câu hỏi này theo những cách khác nhau và bổ trợ cho nhau. Với một số người, thì đây nghĩa là nắm bắt sự khôn ngoan được bày tỏ nơi thập giá. Người khác thì cho rằng, phải hiểu được sự đau khổ của Chúa Giêsu trên thập giá. Và với người khác nữa, thì nghĩa là hiểu được lời mời gọi bên trong thập giá đang kêu mời chúng ta sống các đòi hỏi của thập giá. Mỗi một chú giải này, theo cách riêng của mình, đều chỉ ra bí mật thâm sâu nhất cả mọi nhận thức nhân loại, cụ thể là, khi trao ban tình yêu bằng sự tự hiến hoàn toàn, bằng cái giá của sỉ nhục, tan nát, và cái chết, chúng ta đạt đến những gì thâm sâu nhất và trọn vẹn nhất trong đời.
Nhưng, không như các bí mật ngộ đạo thuyết thời xưa hay thời nay, bí mật này là một bí mật mở, cho tất cả mọi người, và ngược đời thay, lại mở ra cho những ‘người nhỏ bé’ người nghèo và giấu kín với ‘những người khôn ngoan tài giỏi.’  Chúa Giêsu đã làm rõ rằng, Ngài không có bí mật giấu kín nào cả, khi nhiều lần nhấn mạnh rằng Ngài chỉ nói công khai nơi công cộng, không bao giờ giấu giếm, nhưng lên tiếng nơi hội đường và phố thị. Chúa Giêsu không có bí mật giấu kín nào cả, chỉ có những bí mật mở nhưng chúng ta không nắm bắt được mà thôi,
Và một điều đáng chú ý là, trong Tin mừng cho thấy, bí mật của thập giá không phải là chuyện hiểu hết một lần được. Có lúc chúng ta nắm bắt được, và đi vào nhóm hiểu biết, có lúc chúng ta không nắm bắt được và ra khỏi nhóm.  Ví dụ như, sau khi thánh Phêrô chối Chúa Giêsu trong cuộc thương khó, Tin mừng bảo chúng ta rằng ‘Phêrô đi ra ngoài’ và đây không chỉ đơn thuần là bước ra khỏi cánh cửa sân thôi đâu. Khi chối về việc mình biết Chúa Giêsu, và không dấn tới mà nhận lấy gánh nặng trung tín, Phêrô đã bước ra khỏi nhóm môn đệ đích thực và ra khỏi nhận thức đích thực về sự sống. Việc chối Chúa Giêsu đã khiến Phêrô ‘ở ngoài.’ Cả chúng ta nữa, khi theo Chúa Giêsu, có lúc chúng ta ‘bước ra ngoài’ khi chiều theo cám dỗ và nghịch cảnh. Nhưng rồi, nếu chúng ta hối hận vì đã phản bội, như Phêrô thưở xưa, thì chúng ta có thể bước lại ‘vào trong.’
Có nhiều cách khác nhau để chúng ta có thể nhận thức được thông điệp của Chúa Giêsu và tương hợp ý Chúa với đời mình, nhưng có lẽ ít, hoặc không có điều gì, cho chúng ta ngay lập tức đi vào trọng tâm cho bằng lời mời của Chúa Giêsu trong Tin mừng theo thánh Máccô, muốn chúng ta nắm bắt và đón nhận sự khôn ngoan của Thập giá.
jesus-discipleshipJ.B. Thái Hòa chuyển dịch
http://phanxico.vn/2015/06/02/bi-mat-tham-sau-nhat-cua-khon-ngoan/

Tại sao Giáo hoàng Quan trọng?

Tại sao Giáo hoàng Quan trọng?


Đặc biệt trong thế giới ngày nay
The Huffington Post – Paul Brandeis Raushenbush – 08/20/2015
 
Khoảng gần 1triệu rưỡi người sẽ dự thánh lễ với Giáo hoàng Phanxicô, ngày 27 tháng 9, đỉnh điểm của Đại hội Gia đình Thế giới ở Philadelphia. Con số rất đông những người quy tụ đã tạo nên một từ mới là ‘Popeapocalypse’ [ngày tận thế kiểu giáo hoàng]
Các đại học đóng cửa, người hành hương ngủ trong các túi ngủ chờ sẵn nơi Vườn Bách thú Philadelphia, vé tàu giờ như chuyện xổ số, và các phụ nữ sắp đến ngày sinh dự định phải dời đến các thành phố khác – tất cả đều là dự liệu cho ngày giáo hoàng Phanxicô công du đến đây.
Không có một lãnh đạo chính trị, tôn giáo, hay giải trí nào còn sống ngày nay có thể có được sự hưởng ứng như của giáo hoàng, và đây thật khiến nhiều người vò đầu gãi tai hỏi tại sao?
Tại sao giáo hoàng lại có tầm quan trọng đến vậy?
Ngài là một Lãnh đạo Chính trị Xuyên Quốc gia
Là thủ lãnh của Giáo hội Công giáo La Mã, giáo hoàng giữ một vị trí mà không một lãnh đạo tôn giáo nào có được. Hầu hết các tôn giáo lớn đều không có cơ cầu phẩm trật nhìn nhận rõ ràng một lãnh đạo hiện thể toàn bộ truyền thống, như kiểu giáo hoàng trong Công giáo. Giáo hoàng là đầu của một tổ chức xuyên quốc gia có tính cố kết, đã tồn tại suốt gần 2000 năm. Giáo hội có một chuỗi nối kết từ Vatican đến tận các giáo xứ địa phương, có thể truyền đạt thông tin, tư tưởng và cả của cải vật chất đi khắp thế giới.
Ngược lại, các tôn giáo khác hầu như phân mảnh thành nhiều phái khác nhau, với các lãnh đạo khác nhau. Và thậm chí nếu các tôn giáo khác có tồn tại hàng phẩm trật, như trong Anh giáo, thì con số cũng không thể sánh được với 1.2 tỷ người Công giáo La Mã.
Tác động của Giáo hội Công giáo còn tăng thêm vì vị thế của Vatican, một thành quốc độc lập, bang giao với các quốc gia trên toàn thế giới. Là lãnh đạo của Vatican, nên khi đến thăm một quốc gia, giáo hoàng không chỉ là một lãnh đạo tôn giáo, nhưng là một nguyên thủ. Điều này khiến cho giáo hoàng khác với hầu hết các lãnh đạo khác, dù là bên đạo hay bên chính trị, không kể các vị trí mang tính thuần nghi lễ, như của nữ hoàng Anh quốc, vừa là lãnh đạo danh nghĩa của Giáo hội Anh giáo, vừa là lãnh đạo của Khối Thịnh vượng chung, nhưng lại không có mấy ảnh hưởng. Ngược lại, giáo hoàng là thẩm quyền hiển hiện của các tước này, và ngài có thể gây ảnh hưởng trong vai trò của mình.
Giáo hội Công giáo không chỉ có tầm xuyên quốc gia, nhưng ở nhiều nơi trên thế giới, Giáo hội có một vai trò đầy ảnh hưởng đối với đời sống dân sự và chính trị. Các giáo hội địa phương này được lãnh đạo bởi các giám mục, tổng giám mục, và hồng y bản tại, tất cả đều được giáo hoàng chỉ định và chịu trách nhiệm trước mặt ngài. Điều này nghĩa là những ưu tiên hàng đầu và chú tâm của giáo hội Công giáo địa phương, chịu ảnh hưởng nhiều từ những người đứng đầu do chính giáo hoàng sắp đặt.
Ngài có một Tầm Ảnh hưởng Tôn giáo Quốc tế
Ngoài uy thế chính trị và ngoại giao, quyền lực mềm của giáo hoàng còn ấn tượng hơn nữa. Với một phần lớn nhân loại, suốt 2 thiên niên kỷ, Giáo hội Công giáo đã là đường dẫn đến với Thượng Đế, và đã đem lại câu trả lời cho các câu hỏi về một đời sống ý nghĩa và đạo đức là thế nào.
Là đầu của Giáo hội Công giáo La Mã, thẩm quyền của giáo hoàng gắn với thánh Phêrô, một trong các tông đồ của Chúa Giêsu, và được Giáo hội Công giáo xem là giáo hoàng đầu tiên. Các tuyên bố của giáo hoàng có sức nặng và ngài có tác động lớn trên nhận thức của người Công giáo về sự thánh thiện, ví dụ như ngài có vai trò then chốt trong việc quyết định phong thánh. Giáo hoàng là đại diện cao nhất của Giáo hội Công giáo với các truyền thống đức tin khác, cho dù đó là các phái cùng trong Kitô giáo, các tôn giáo khác, hay thậm chí là thế giới thế tục.
Những tuyên bố và hoạt động của giáo hoàng không chỉ được truyền tải trên các kênh Công giáo, nhưng còn là mục tiêu chú ý của truyền thông và được theo sát chặt chẽ. Khi giáo hoàng nói về Tin mừng Kitô, như trong ngày thứ tư tiếp kiến chung hay buổi đọc kinh Truyền tin ngày chúa nhật tại quảng trường thánh Phêrô, hay bằng các tông thư và những tài liệu ít chính thức hơn, thì ngài thường liên hệ thông điệp thiêng liêng và tôn giáo này không chỉ với sự cứu rỗi và đạo đức riêng của mỗi người, nhưng còn là với các vấn đề xã hội và đời sống chính trị. Điều này thường khơi lên các lập trường hay tranh cãi ở nhiều quốc gia trên khắp thế giới và trong các sự kiện quốc tế lớn.
Do bởi uy quyền tột cùng của cương vị giáo hoàng, nên bất kỳ giáo hoàng nào cũng đều quan trọng. Tuy nhiên, khi cương vị này được nắm giữ bởi một người như giáo hoàng Phanxicô, thì tầm quan trọng còn hơn nữa.
Ngay từ lúc tân giáo hoàng ra mắt đám đông ở quảng trường thánh Phêrô, và danh hiệu ngài chọn được công bố, PHANXICÔ, thì tinh thần mọi chuyện đều có thể đang lan rộng suốt Giáo hội Công giáo La Mã.
Vatican Pope EasterTriều giáo hoàng đặc biệt của Giáo hoàng Phanxicô
Đức Phanxicô đã trở thành một trong những nhân vật phi thường nhất thế kỷ XXI. Ngay từ đầu, khi ngài từ chối Dinh thự Tông Đồ để ngụ lại một nhà khách mở đơn sơ, khi ngài dùng một chiếc Hyundai thay vì xe Mercedes, và khi ngài tuyên bố rằng ngài những ước mong một giáo hội nghèo và vì người nghèo, thì Đức Phanxicô đã chiếm lĩnh các mặt báo, với những lời nói việc làm đầy kinh ngạc của ngài.
Trong vòng một năm đầu triều, Giáo hoàng đã cử hành Phụng vụ Thứ năm Tuần thánh bằng việc rửa chân cho các tù phạm, có cả phụ nữ và người Hồi giáo, rồi ngài nói rằng người vô thần có thể được cứu rỗi, ngài cho rằng giáo hội đã sa đà quá nhiều về hôn nhân đồng tính và phá thai, ngài khiển trách bộ máy quan liêu đang mang bệnh Alzheimer tinh thần, ngài tuyên bố thị trường tài chính toàn cầu đang ‘áp bức người nghèo’ và tất nhiên, là có cả câu trả lời đầy thâm thúy của ngài về những người đồng tính: ‘Tôi là ai mà phán xét?’
Ngài đã dùng cương vị của mình để đặt biệt nêu bật cảnh ngộ của các di dân, những người vô gia cư, người nghèo, vấn đề hòa bình Trung Đông, nạn bách hại các Kitô hữu, và mới nhất là vấn đề đạo đức môi sinh trong tông thư ‘Laudato Si’
Giáo hoàng chiếm lĩnh mặt báo, nhưng những ưu tiên hàng đầu của ngài phát tiết trong nền chính trị và xã hội thế giới.
Giáo hoàng chính là người đã góp phần hàn gắn quan hệ giữa Hoa Kỳ và Cuba, hai quốc gia ngài sẽ viếng thăm trong chuyến công du sắp đến, vang vọng lại hành động của thánh Gioan Phaolô II, người đã tác động để phá vỡ Bức màn sắt bằng chuyến công du về quê hương Ba Lan hồi 1979, khi có đến 2 triệu người quy tụ chào đón giáo hoàng đầu tiên đến một nước cộng sản.
Ở Hoa Kỳ, câu ‘Tôi là ai mà phán xét?’ của Giáo hoàng Phanxicô được thượng nghị sỹ Công giáo bang Illinos trích lại trong thảo luận bỏ phiếu cho hôn nhân đồng tính hồi năm 2013. Ngược lại, ứng viên tổng thống đảng Cộng hòa, Jeb Bush lại bẻ lại các tuyên bố của Đức Phanxicô về môi trường và kinh tế. ‘Tôi không điều chỉnh chính sách kinh tế theo các giám mục, hay hồng y, hay giáo hoàng của tôi.’
Đức Phanxicô sẽ là giáo hoàng đầu tiên nói chuyện với Lưỡng viện Hoa Kỳ, và chắc chắn sẽ đưa ra những thách thức với các nhân vật chính trị của cả hai đảng. Dường như chuyến công du của giáo hoàng và các lời nói của ngài sẽ được dẫn chứng trong các vòng bỏ phiếu sơ bộ và chung để bầu tổng thống.  Thật khó để chỉ ra được một nhân vật nào khác, thẳng thắn về các vấn đề môi trường, kinh tế và nhập cư hơn Giáo hoàng Phanxicô.
Ngài giúp cải tổ Giáo hội Công giáo
Bên trong Vatican, Đức Phanxicô đã và đang tích cực cố gắng cải tổ và ‘dọn dẹp’ Giáo triều cũng như ngân hàng Vatican. Sự hiệu quả của ngài trong các nỗ lực này, cũng như trong việc giải quyết những mảnh đời bị xâm hại do các giáo sỹ, được mọi người theo dõi sát sao. Trong khi nhiều người lo rằng nhịp độ cải tổ vẫn còn chậm, thì có vẻ như dưới thời Đức Phanxicô, giáo hội đang có một bộ khung đúng đắn, và bắt đầu đi theo đường hướng đúng, nhất là trong bộ phận ngân hàng.
Như đã nói ở trên, giáo hoàng có quyền khá là tuyệt đối trên hàng giáo phẩm giáo hội. Một phần trách nhiệm của ngài là chỉ định các hồng y mới, những người về sau sẽ bỏ phiếu bầu giáo hoàng, cũng như chỉ định và thay thế các giám mục và tổng giám mục, những người lãnh đạo giáo dân Công giáo trên các quốc gia toàn thế giới. Đức Phanxicô đã dùng uy quyền của mình để mở rộng sự hiện diện và sức mạnh của nam bán cầu, bằng cách chỉ định nhiều hồng y đến từ các vùng nghèo nhất trên thế giới. Ngài cũng sắp xếp lại vai trò của hàng giáo sỹ lãnh đạo ở Hoa Kỳ, và cất nhắc một vài nhân vật ôn hòa trong hàng lãnh đạo, cũng như nhanh chóng giáng chức giám mục Tebartz-van Elst ở Đức vì chi tiêu hoang phí.
Một trong những biến đổi đáng chú ý nhất dưới thời Đức Phanxicô, là về địa hạt truyền thông xã hội. Bậc tiền nhiệm của ngài cũng dùng Twitter, với tên @Pope2YouVatican, và bị Jon Stewart giễu cợt trong chương trình của mình. Bây giờ thì không có chuyện đó nữa. Dưới thời Đức Phanxicô, tài khoản Twitter của ngài được tăng sức nặng với tên @Pontifex, với nhiều thứ tiếng (kể cả La Tinh) và Đức Phanxicô chính là một trong những người có ảnh hưởng nhất trên Twitter suốt 2 năm qua.
Tuy nhiên, chính sự hiện diện đời thực của giáo hoàng mới thực sự cho thấy ngài có tầm quan trọng đến thế nào.
Trong các buổi hội kiến riêng, hay trước 3 triệu người ở Rio, thì tinh thần mục tử khiêm nhượng, nồng ấm của Đức Phanxicô đều được đồng hưởng từ mọi người, dù là Công giáo hay không Công giáo. Trong thế giới này, nơi cả người có đạo và không có đạo đều đang đói khát một tâm thức nối kết, đang khao khát làm rõ vấn nạn bất bình đẳng, và thiết tha làm việc vì một thế giới có tình, hòa bình, và công bằng hơn, thì những lời nói và hành động của Giáo hoàng thực sự rất quan trọng.
J.B. Thái Hòa chuyển dịch