Thứ Sáu, ngày 18 tháng 4 năm 2014

Xin Ơn Không Sống Theo Thói Thường Nhân Sinh

Xin Ơn Không Sống Theo Thói Thường Nhân Sinh


Tất cả chúng ta là những con người tội lỗi. Môi trường tội lỗi cứ vây bám chúng ta, khiến chúng ta có những lối hành xử vốn dĩ là không tốt, nhưng cứ ngỡ là điều hiển nhiên. Chúng ta thấy đầy dẫy chung quanh mình những điều xấu, chúng ta không thích như thế, nhưng chúng ta vẫn cứ buông mình theo những điều ấy, như thể đó là một nền văn hóa của nhân loại chúng ta.



Thế gian có những khôn ngoan của nó. Cái khôn ngoan của thế gian dạy những ai thuộc về nó những chiêu trò, những thái độ, những lối hành xử để giúp mình được sở hữu nhiều hơn, có được nhiều hơn. Dần dần, người ta thích vun vén hơn là cho đi, thích được trở nên nổi trội, chứ không thích bị xem thường, bị coi không ra gì; thích khác người một chút để được chú ý, chứ không thích bị bỏ quên.



Con người thích dạy hơn là thích học, thích ra lệnh hơn là phục quyền, thích nói hơn thích nghe. Thích an nhàn hơn là buông mình vào những thách đố, thích những gì đảm bảo hơn là những điều không chắc chắn, muốn mình hơn, chứ chẳng muốn thua ai bao giờ.



Con người thích được khen hơn là khen người khác với trọn chân tình, thích xỉa xói người khác hơn là nhìn lại mình, thích nói xấu hơn là đề cao người khác, thích kết án hơn là thứ tha. Họ dễ thấy cái lợi trước mắt hơn là phúc đức lâu dài.



Con người thích buông lỏng mình hơn là cố gắng kiềm chế bản thân, thích hướng ra bên ngoài, tìm kiếm giá trị ở nơi xa, chứ không chịu hướng vô, tìm chân lý nơi thẳm sâu tâm hồn. Họ làm gì cũng muốn có kết quả ngay, chứ không khi nào muốn chờ đợi.



Con người thích hưởng thụ hơn là khổ nhọc lao tác. Họ dễ làm sứt mẻ tương quan hơn là nổ lực kiến tạo sự hiệp nhất. Họ muốn thể hiện mình chứ không thích ẩn mình. Họ có xu hướng thoái thác trách nhiệm hơn là can đảm nhận lãnh và hứng chịu những gì mình đã gây ra. Khi gặp một khó khăn, họ thích kêu ca hơn là cố gắng đón nhận để từ từ tìm ra giải pháp. Làm việc gì, họ cũng muốn sòng phẳng, chứ chẳng thích chịu thiệt thòi. Bao giờ, họ cũng đòi đền bù, chứ chẳng muốn cho không. Họ muốn người khác nhìn nhận mình và không thích bị thương hại. Có khi, họ tự cho mình là đủ sức làm mọi sự mà chẳng cậy nhờ đến ai.



Con người luôn muốn mình được tôn trọng, chứ chẳng thích nghe lời chê bai hay coi thường. Bao giờ, họ cũng tỏ ra là mình đúng chứ chẳng chịu nhận mình sai. Họ nổ lực để làm cho danh mình được tỏa sáng, chứ không thích bị lu mờ trước người khác. Khi có ai lầm lỗi, họ thường khiển trách hơn là cảm thông và ra tay nâng đỡ. Họ thích bè phái hơn là chính kiến cá vị, thích khắc khe với người khác hơn với mình, nhưng lại thích dễ dãi với mình hơn người khác.



Trong mọi việc, họ luôn muốn mình độc quyền chiếm giữ, chứ không muốn người khác tham dự vào. Họ muốn mình là ân nhân của người khác, chứ ít bao giờ mong muốn trở thành kẻ thụ ơn.


Hậu quả của cái khôn ngoan ấy là gì? Phải chăng là một sự bình an, một sự sung mãn, một sự triển nở nhân cách của mình? Khôn ngoan của nhân loại lấy chính cái tôi ích kỷ của mình làm trọng tâm, để thổi phồng mình lên, xây dựng chung quanh mình một mớ những ảo tưởng, rồi tự mình vui vẻ trong những tòa lâu đài bong bóng ấy như thể mình đang ở chốn Thiên Cung.

Mọi sự sẽ qua đi hết. Thời gian sẽ xóa nhòa tất cả. Được cái gì khi người khác tung hô? Có bền vững mãi không những quyền lực ta đang có? Hôm nay, ta có thể đang ở trên đỉnh cao của danh vọng, nhưng ngày mai, biết đâu ta đã nằm sâu ở một nơi không ai biết đến.

Lạy Chúa,
Xin hãy dạy cho chúng con cái khôn ngoan đích thực của Ngài. 
Cái khôn ngoan đặt Chúa Tể mọi loài lên trên hết, vì chỉ có Ngài mới xứng đáng là chỗ nhất trong vũ trụ bao la này. Mọi vinh quang và danh dự phải được quy tóm hết về Ngài vì chính bản thân những điều ấy cũng nhờ Ngài mà hiện hữu.
Xin dạy cho chúng con biết biến mình nhỏ đi, đặt mình nơi rốt hết.
Xin giúp chúng con biết lấy sự phục vụ làm niềm vui, biết lấy tình thương xoa dịu gian ác, lấy thứ tha đối đãi hận thù. 
Xin giúp chúng con đừng bao giờ tìm cách nắm giữ, nhưng luôn mở ra, cho đi, với tất cả lòng quảng đại và dấn thân.
Xin cho chúng con đừng bao giờ đi tìm niềm vui nơi của cải bạc tiền, nơi danh vọng cao sang, nơi quyền lực trần thế, nhưng chỉ một lòng tìm về nguồn cội của cuộc đời chúng con, sử dụng mọi điều Chúa ban để phụng sự, tôn kính và ngợi ca một mình Chúa mà thôi.
Xin giúp chúng con biết đảo ngược tất cả những khôn ngoan phàm tục của thế gian, để tìm đến cái khôn ngoan nơi thập giá, nơi Ngài đã biểu lộ tình yêu và trọn vẹn con người Ngài cho chúng con.
Lạy Chúa, xin nhận lời chúng con.
Amen.


Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Các Kitô hữu tiên khởi và ngôi mồ trống

Các Kitô hữu tiên khởi và ngôi mồ trống


Cả bốn sách tin mừng đều nhắc tới ngôi mồ trống của Chúa Kitô và ngôi mồ trống này sau đó đã trở thành cơ sở chính cho khoa hộ giáo hiện đại. Nhưng một số người cho rằng ý tưởng ngôi mộ trống được khai triển về sau của Kitô Giáo tiên khởi, nghĩa là chỉ xuất hiện nhiều thập niên sau biến cố đóng đinh vì các Kitô hữu vẫn cho rằng Chúa Giêsu đã trỗi dậy từ cõi chết theo nghĩa thiêng liêng, chứ không theo nghĩa đen. 
Những người này cho rằng chỉ với thời gian, việc phục sinh thiêng liêng mới được giải thích là phục sinh nghĩa đen, dẫn tới ý tưởng ngôi mộ trống. Để bênh vực cho luận điểm này, họ bảo nếu không tại sao các tài liệu đầu tiên của Tân Ước không nhắc gì tới ngôi mộ trống cả?

Ta phải nghĩ gì về vấn đề này? Sau đây là một số nhận định hữu ích.

Thân xác không hư nát

Thứ nhất, Tông Đồ Công Vụ không minh nhiên nhắc tới ngôi mộ trống qua bài giảng của Thánh Phêrô trong Ngày Lễ Ngũ Tuần: "Thưa anh em, xin được phép mạnh dạn nói với anh em về tổ phụ Ðavít rằng: người đã chết và được mai táng, và mộ của người còn ở giữa chúng ta cho đến ngày nay. Nhưng vì là ngôn sứ và dòng dõi trên ngai vàng của người, nên người đã thấy trước và loan báo sự Phục Sinh của Ðức Kitô khi nói: Người đã không bị bỏ mặc trong cõi âm ty và thân xác Người không phải hư nát. Chính Ðức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng” (Cv 2:29-32).

Nhưng ta phải chú ý tới sự tương phản giữa Vua Đavít và Chúa Giêsu. Vua Đavít đã chết và được chôn trong mộ. Chúa Giêsu cũng đã chết và cũng được chôn trong một ngôi mộ, nhưng bản văn không minh nhiên nói thế.

Bản văn chỉ minh nhiên ở điều kế tiếp: mộ Đavít còn ở với chúng ta “cho tới nay”. Ngài vẫn còn được chôn trong đó. Còn Chúa Giêsu thì được “phục sinh”, Người “không bị bỏ mặc trong cõi âm ty và thân xác Người không phải hư nát”. Người đã được “làm cho sống lại, và tất cả chúng tôi xin làm chứng”.

Cho dù giải thích “phục sinh”, “làm cho sống lại” và “tất cả chúng tôi xin làm chứng” theo nghĩa thị kiến, trải nghiệm thiêng liêng đi chăng nữa, thì bạn vẫn chưa giải thích được việc “thân xác Người không phải hư nát”.

Nếu Chúa Giêsu vẫn còn trong mộ của Người, nghĩa là nếu mộ của Người không trống, thì xác của Người chắc chắn đã phải hư nát. Nó có thể đã hư nát chỉ vài ngày sau khi Người bị đóng đinh.

Xét cho cùng, đoạn văn này muốn đưa ra một tương phản giữa ngôi mộ không trống của Đavít và ngôi mộ trống của Chúa Giêsu.

Rồi lại có chủ trương cho rằng các tông đồ hay cử tọa của các ngài hiểu sự phục sinh của Chúa Giêsu theo nghĩa thị kiến hay trải nghiệm thiêng liêng.

Về điểm này, ta thấy các người Do Thái thế kỷ thứ nhất quả có quen thuộc với thị kiến và việc hiện ra của linh hồn người đã chết, nhưng họ không nhận diện các trải nghiệm này là phục sinh, một hiện tượng có tính thân xác.

Việc này đã được trình bày rộng dài trong tác phẩm “The Resurrection of the Son of God” của N.T. Wright. Mà nếu những người Do Thái thế kỷ thứ nhất hiểu phục sinh như một trải nghiệm có tính thân xác, thì mọi việc nhắc đến sự phục sinh của Chúa Giêsu trong Tân Ước hiển nhiên hàm nghĩa ngôi mộ trống.

Ngôi mộ trống và khoa hộ giáo

Sự kiện ngôi mộ trống của Chúa Kitô có ý nghĩa cao về hộ giáo, vì nó buộc người ta phải xem sét điều gì xẩy ra cho thân xác Chúa Giêsu, tuy nhiên, từ trước nó vốn không luôn đóng cùng một vai trò như thời ta.

Khoa hộ giáo vốn mang nhiều hình thức khác nhau trong các thời đại khác nhau. Trong thời đại hay hoài nghi của ta, một thời đại luôn thù nghịch đối với thị kiến hay phép lạ, sự trống vắng của ngôi mộ làm ta ngạc nhiên một cách mạnh mẽ. Một điều gì đó đã xẩy ra cho thân xác, điều đó là điều gì? Nếu ngôi mộ trống, ta phải giải thích điều này bằng một là phương tiện tự nhiên hai là phương tiện siêu nhiên.

Nhưng ở thế kỷ thứ nhất, một thế kỷ không thù nghịch đối với thị kiến và phép lạ, ngôi mộ trống ít chủ yếu đối với việc hộ giáo hơn. Những người như Thánh Phaolô có thể được thuyết phục tin vào sự phục sinh chỉ nhờ được thị kiến Chúa Kitô sống lại.

Những người được chứng kiến Chúa Kitô sống lại sau đó có khả năng thuyết phục người khác nhờ sức mạnh chứng từ của họ hay bằng việc nại tới lời tiên tri trong Cựu Ước, hoặc bằng việc thực hành các việc chữa bệnh hay trừ qủy cách lạ lùng. Mà quả thực, Tân Ước có ghi nhận cách các vị rao giảng tin mừng tiên khởi thuyết phục người khác bằng mọi phương tiện vừa kể.

Bởi thế, các vị trên có được những phương tiện hộ giáo phụ trội mà người của thế kỷ 21 đầy hoài nghi không thể có được. Điều này khiến ta phải tập chú vào ngôi mộ trống một cách vốn không cần thiết đối với người của thế kỷ thứ nhất.

Tại sao lại phải nói tới ngôi mộ trống?


Nếu ta xét lúc ngôi mộ trống được rõ ràng và minh nhiên nhắc tới, ta sẽ gặp sự nhắc tới này trong tất cả bốn tin mừng. Tại sao các tin mừng nhắc tới nó? Tại sao họ lại phải nhắc tới nó?

Bởi vì các tin mừng kể lại câu truyện của Chúa Giêsu và ngôi mộ trống là một thành phần trong câu truyện này.

Sách Công Vụ không phải là câu truyện về Chúa Giêsu. Nó là câu truyện về những gì xẩy ra sau thừa tác vụ của Chúa Giêsu, và do đó, ta không nên mong chờ nó sẽ thuật lại các biến cố chung quanh việc Phục Sinh đã diễn ra như thế nào y như cách Thánh Luca và các soạn giả tin mừng khác làm.

Không thánh thư nào là công trình thuật truyện cả. Chúng đều là văn chương bảo khuyên (như thư Gacôbê) hay có tính tranh cãi (như Thư Galát hay thư Do Thái) hoặc có tính mục vụ (như thư Côrintô 1 và 2) hay có tính tiên tri (như Khải Huyền). Nhưng không công trình nào thuộc loại này thuộc lối kể truyện cả, càng ít kể truyện về cuộc đời Chúa Kitô hơn.

Như thế, ta không thể mong chờ nơi chúng điều gì khác hơn là những ám chỉ qua loa về cuộc đời của Chúa Kitô.

Ngoài ra, không công trình nào trong số trên có tính giáo lý hay hộ giáo cả. Chúng không nhắm được đọc bởi người ngoại cuộc để dẫn khởi họ vào với Đức Tin Kitô Giáo và lý luận tại sao Chúa Giêsu là Đấng Mêxia hay tại sao Người đã trỗi dậy từ cõi chết.

Các diễn từ trong Sách Công Vụ có cung cấp loại tư liệu trên và như đã thấy, một trong các diễn từ của Công Vụ có nhắc tới ngôi mộ trống một cách vượt quá các ám chỉ thông thường về sự Phục Sinh của Chúa Kitô.

Các công trình có tính giáo lý/hộ giáo trực tiếp hơn cả trong Tân Ước, nghĩa là các công trình được mong đợi nhắc tới ngôi mộ trống một cách minh nhiên nhất, là các sách Tin Mừng, và chính các sách này đã đi vào chi tiết của nó khi chúng thuật lại việc các tông đồ và các đồng bạn của họ học biết về Phục Sinh lần đầu tiên.

Ý nghĩa thêm vào cho Công Vụ

Mọi người đều đồng ý rằng ngôn từ trong Công Vụ, có một sự tiệm tiến, để chúng không nói tới cùng một chất liệu. Nếu nói cùng như thế, tất sẽ nhàm chán vì lặp đi lặp lại. Bởi thế, một lần nhắc tới ngôi mộ trống cũng đã đủ.

Nhưng bất kể người ta có chịu coi Công Vụ 2:29-32 là đề cập tới ngôi mộ trống hay không, thì sự kiện vấn đề này không được trình bày một cách minh nhiên như trong tin mừng Luca vẫn cho thấy tính liên quan của câu hỏi liệu có nên nhắc tới ngôi mộ trống hay không.

Sách Công Vụ không viết minh nhiên như tin mừng Luca về chủ đề này, vì nó là sách viết tiếp sau tin mừng này. Độc giả hẳn đã đọc tin mừng này trước đó rồi.

Cũng thế, các sách khác của Tân Ước đều viết cho một cử tọa “trong nhà” tức những người được giả thiết là đã biết rõ câu truyện về Chúa Giêsu, và do đó, không cần phải trình bày các luận điểm hộ giáo dựa trên ngôi mồ trống cho họ nữa.

Tóm lại, các sách này không được viết theo thể văn cần phải nhắc tới ngôi mộ trống. Những sách viết theo loại văn chương trong đó ngôi mộ trống cần xuất hiện tỏ tường, là các sách tin mừng, thì đã nhắc tới nó rồi.

Nếu ngôi mộ không trống thì sao?

Theo chứng cớ ta hiện có, phong trào theo Chúa Kitô tiếp tục sinh hoạt quanh Giêrusalem trong một thời gian. Chỉ tới khoảng thập niên 60 CN, dân chúng theo Chúa Kitô mới rời bỏ đó khi Chiến Tranh Do Thái ló dạng.

Điều này có nghĩa họ sống ngay tại đó, bên cạnh ngôi mộ của Chúa Giêsu khá nhiều năm. Xét vì người Do Thái Giáo, chứ không phải nguyên các Kitô hữu mà thôi, vốn hiểu phục sinh như một hiện tượng có tính thân xác, như thế, nếu ngôi mộ của Chúa Giêsu không trống, thì những người phê bình họ hẳn đã chỉ ra điều này rồi, còn liên tiếp chỉ ra là đàng khác.

Việc chỉ ra ấy hẳn buộc các nhà lãnh đạo Kitô giáo tiên khởi phải trả lời bằng cách minh nhiên nói rằng họ chỉ tin vào sự phục sinh “thiêng liêng” mà thôi. Hẳn họ sẽ nói: “Vâng, chúng tôi biết thân xác Chúa Giêsu vẫn ở trong mộ, nhưng Người đã trỗi dậy cách thiêng liêng từ cõi chết”.

Một câu như thế hẳn vô nghĩa đối với cử tọa Do Thái thế kỷ thứ nhất, nhưng đó là loại câu nói họ buộc phải đưa ra, phải giải thích và bênh vực, hết ngày này qua ngày nọ, trong suốt các thập niên đang được thành lập tại Giêrusalem, với ngôi mộ của Chúa Giêsu ở kế cận.

Và cả những lời về ngôi mộ không trống của Chúa Giêsu lẫn câu đáp trên đây hẳn đã được truyền lan khắp các cộng đồng Do Thái Giáo và Kitô Giáo chung quanh vùng Địa Trung Hải và Cận Đông xưa, một thế giới tiếp xúc gần gũi với Giêrusalem, như đam đông tụ tập tại đó vào ngày Ngũ Tuần đã chứng tỏ trong Công Vụ chương hai.

Nhưng ta đâu có thấy bất cứ lời nào như thế được phản ảnh trong Tân Ước hay các giáo phụ hoặc trước tác tiên khởi?

Thực vậy, ta không thấy bất cứ chứng cớ nào cho thấy ngôi mộ của Chúa Giêsu vẫn đầy. Trái lại phần lớn đều đồng ý rằng nó trống, như lời trích dẫn của tin mừng Mátthêu nói về câu truyện người ta tạo ra để nói rằng chính các môn đệ đã cướp xác Người đi, một câu truyện tin mừng này xác nhận vẫn còn được truyền tụng giữa những người Do Thái không phải là Kitô hữu “cho tới tận nay” (Matt. 28:15).

Bất kể “tận nay” là thập niên 50 CN hay thập niên 90, thì chứng cớ vẫn chỉ về thời điểm trước khi có việc lưu truyền rộng rãi tin đồn kia trong một thời gian dài và do đó đã có sự đồng thuận giữa người Do Thái và người Kitô hữu trong khoảng thời gian này về ngôi mộ trống.

Cuộc tranh cãi nào cũng để lại dấu vết

Cả hai thời điểm trên đều vẫn nằm trong phạm vi một đời người so với việc đóng đinh, và nếu câu truyện từ đầu chỉ là một vụ phục sinh “thiêng liêng”, thì hẳn vẫn còn các Kitô hữu nhớ tới nó và chắc những người này sẽ phản đối nếu có sự thay đổi.

Điều này sẽ giống như việc các một số Kitô hữu hiểu Kitô Giáo nguyên khởi chỉ như một hiện tượng bên trong Do Thái Giáo, nên đã phản đối việc Dân Ngoại được nhận gia nhập cộng đoàn Kitô hữu.

Sự kiện trên để lại một ấn tích đáng lưu ý trong nền trước tác tiên khởi của Kitô Giáo. Và ta có quyền chờ mong một điều tương tự xẩy ra đối với việc thay đổi câu truyện về việc phục sinh của Chúa Giêsu.

Nó cũng giúp những người phê phán Kitô Giáo cơ hội để lên án các Kitô hữu rằng họ đã thay đổi câu truyện về Chúa Giêsu.

Nhưng ta không thấy bất cứ cuộc tranh cãi nào về việc này cả. Nên chứng cớ, trước sau, vẫn cho thấy ngôi mộ quả đã trống.

Vũ văn An4/14/2014(vietcatholic)

Thứ Bảy Tuần Thánh (Lễ Ðêm)

Thứ Bảy Tuần Thánh (Lễ Ðêm)
Ðêm Thánh Vọng Chúa Phục Sinh


(Ðề nghị đọc chín bài đọc, bảy bài Trích ở Cựu Ước và hai bài trích ở Tân Ước. Nếu hoàn cảnh không cho phép, và khi có lý do đặc biệt, có thể bớt số bài đọc. Nhưng phải đọc ít là ba bài trích ở Cựu Ước trước Thánh Thư và Tin Mừng; còn nếu gấp quá, thì đọc ít là hai bài đọc trước Thánh Thư và Tin Mừng. Nhưng không khi nào được bỏ bài trích sách Xuất Hành (Xh 14, 15 - 15, 1) nói về việc qua Biển Ðỏ.)

Bài Ðọc I: St 1, 1 - 2, 2 {hoặc 1, 1. 26-31a}
"Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm thật là tốt đẹp".
Trích sách Sáng Thế.
Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất. Ðất còn hoang vu trống rỗng, tối tăm bao trùm vực thẳm, và thần trí Thiên Chúa bay sà trên mặt nước.
Thiên Chúa phán: "Hãy có ánh sáng". Và có ánh sáng. Thiên Chúa thấy ánh sáng tốt đẹp, Người phân rẽ ánh sáng khỏi tối tăm. Thiên Chúa gọi ánh sáng là ngày, tối tăm là đêm. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất.
Thiên Chúa phán: "Hãy có một vòm trời ở giữa nước, phân rẽ nước với nước"; và Thiên Chúa làm nên vòm trời, và phân rẽ nước phía dưới vòm trời với nước phía trên vòm trời. Và xảy ra như vậy. Thiên Chúa gọi vòm đó là trời. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ hai.
Thiên Chúa phán: "Nước dưới trời hãy tụ lại một nơi, để lộ ra chỗ khô cạn. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa gọi chỗ khô cạn là đất, và Người gọi khối nước là biển. Thiên Chúa thấy tốt đẹp. Và Thiên Chúa phán: "Ðất hãy trổ sinh thảo mộc xanh tươi mang hạt giống; và cây ăn trái phát sinh trái theo giống nó, và trong trái có hạt giống, trên mặt đất. Và đã xảy ra như vậy. Tức thì đất sản xuất thảo mộc xanh tươi mang hạt theo giống nó, và cây phát sinh trái trong có hạt tuỳ theo loại nó. Và Thiên Chúa thấy nó tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ ba.
Thiên Chúa còn phán: "Hãy có những vật sáng trên vòm trời và hãy phân chia ngày và đêm, và trở thành dấu chỉ thời gian, ngày và năm tháng, để soi sáng trên vòm trời và giãi sáng mặt đất". Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa đã làm nên hai vầng sáng lớn: Vầng sáng lớn hơn làm chủ ban ngày, và vầng sáng nhỏ hơn làm chủ ban đêm; Và Ngài cũng làm nên các tinh tú. Thiên Chúa đặt chúng trên vòm trời để soi sáng trên mặt đất, và làm chủ ngày đêm, và phân chia ánh sáng với tối tăm. Thiên Chúa thấy nó tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ tư.
Thiên Chúa lại phán: "Nước hãy sản xuất những sinh vật bò sát, và loài chim bay trên mặt đất, dưới vòm trời. Vậy Thiên Chúa tạo thành những cá lớn, mọi sinh vật sống động mà nước sản xuất theo loại chúng, và mọi chim bay tuỳ theo giống. Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp. Thiên Chúa chúc phúc cho chúng rằng: "Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy nước biển; loài chim hãy sinh cho nhiều trên mặt đất". Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ năm.
Thiên Chúa lại phán: "Ðất hãy sản xuất các sinh vật tuỳ theo giống: gia súc, loài bò sát và dã thú dưới đất tuỳ theo loại". Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa đã dựng nên dã thú dưới đất tuỳ theo loại, gia súc, và mọi loài bò sát dưới đất tuỳ theo giống. Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp. Và Thiên Chúa phán: "Chúng ta hãy dựng nên con người theo hình ảnh giống như Ta, để chúng làm chủ cá biển, chim trời, dã thú khắp mặt đất và tất cả loài bò sát di chuyển trên mặt đất".
Vậy Thiên Chúa đã tạo thành con người giống hình ảnh Chúa, Chúa tạo thành con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Người tạo thành họ có nam có nữ.
Thiên Chúa chúc phúc cho họ và phán rằng: "Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy mặt đất, và thống trị nó; hãy bá chủ cá biển, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất". Thiên Chúa phán: "Ðây Ta ban cho các ngươi làm thức ăn mọi thứ cây cỏ mang hạt giống trên mặt đất và toàn thể thảo mộc sinh trái có hạt tuỳ theo giống. Ta ban mọi thứ cây cỏ xanh tươi làm thức ăn cho mọi loài dã thú trên mặt đất, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất". Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm rất tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu.
Thế là trời đất và mọi trang điểm của chúng đã hoàn thành. Ngày thứ bảy Thiên Chúa đã hoàn tất công việc Người đã làm. Và sau khi hoàn tất công việc Người đã làm, thì ngày thứ bảy Người nghỉ ngơi.
Ðó là lời Chúa.

Hoặc bài vắn này: St 1, 1. 26-31a
Trích sách Sáng Thế.
Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất. Và Thiên Chúa phán: "Chúng ta hãy dựng nên con người theo hình ảnh giống như Ta, để chúng làm chủ cá biển, chim trời, dã thú khắp mặt đất và tất cả loài bò sát di chuyển trên mặt đất".
Vậy Thiên Chúa đã tạo thành con người giống hình ảnh Chúa, Chúa tạo thành con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Người tạo thành họ có nam có nữ.
Thiên Chúa chúc phúc cho họ và phán rằng: "Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy mặt đất, và thống trị nó; hãy bá chủ cá biển, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất". Thiên Chúa phán: "Ðây Ta ban cho các ngươi làm thức ăn mọi thứ cây cỏ mang hạt giống trên mặt đất và toàn thể thảo mộc sinh trái có hạt tuỳ theo giống. Ta ban mọi thứ cây cỏ xanh tươi làm thức ăn cho mọi loài dã thú trên mặt đất, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất". Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm rất tốt đẹp.
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 32, 4-5. 6-7. 12-13. 20 và 22
Ðáp: Ðịa cầu đầy ân sủng Chúa (c. 5b).
Xướng: 1) Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng Chúa. - Ðáp.
2) Do lời Chúa mà trời xanh được tạo thành, và mọi cơ binh chúng đều do hơi thở miệng Người. Chúa thu nước biển lại như để trong bầu, Người đặt những ngọn sóng trong kho chứa đựng.- Ðáp.
3) Phúc thay quốc gia mà Chúa là chúa tể, dân tộc mà Chúa chọn làm cơ nghiệp riêng mình. Tự trời cao Chúa nhìn xuống, Người xem thấy hết thảy con cái loài người. - Ðáp.
4) Linh hồn chúng tôi mong đợi Chúa, chính Người là Ðấng phù trợ và che chở chúng tôi. - Lạy Chúa, xin đổ lòng từ bi xuống trên chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài. - Ðáp.

Bài Ðọc II: St 22, 1-18 (Bài dài)
"Của lễ hiến tế của Abraham, Tổ phụ chúng ta".
Trích sách Sáng Thế.
Trong những ngày ấy, Chúa thử Abraham và nói với ông rằng: "Abraham, Abraham". Ông đáp lại: "Dạ, con đây". Chúa nói: "Ngươi hãy đem Isaac, đứa con một yêu dấu của ngươi, và đi đến đất Moria, ở đó ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi". Sáng ngày, Abraham dậy sớm, thắng lừa và đem theo hai đứa đầy tớ của ông, cùng với Isaác con ông, ông chẻ củi dùng vào lễ thượng hiến, đoạn ông lên đường đến chỗ Thiên Chúa đã tỏ cho ông.
Ngày thứ ba, Abraham ngước mắt lên và thấy chỗ ấy từ đàng xa. Abraham mới bảo tôi tớ: "Các anh ở lại đây với con lừa; còn ta và đứa trẻ, chúng ta phải đi tới đằng kia mà thờ lạy, rồi chúng tôi sẽ về lại với các anh". Abraham lấy củi lễ thượng hiến và cho Isaác vác đi, còn ông thì cầm lấy lửa và dao phay, rồi cả hai cùng bước. Isaác cất tiếng nói với Abraham cha cậu rằng: "Cha!" Ông đáp: "Ta đây, con!" Cậu hỏi: "Này đây đã có lửa và củi, vậy hy sinh thượng hiến ở đâu?" Abraham đáp: "Chính Thiên Chúa sẽ tự liệu ra hy sinh thượng hiến, con ạ". Rồi cả hai cùng bước.
Khi hai người đến nơi Chúa đã chỉ, Abraham làm một bàn thờ và chất củi lên, rồi trói Isaac lại, đặt lên bàn thờ trên đống củi. Abraham giơ tay lấy dao để sát tế con mình. Bấy giờ thiên thần Chúa từ trời gọi ông rằng: "Abraham! Abraham!" Ông thưa lại: "Dạ, con đây". Người nói: "Ðừng giết con trẻ và đừng động đến nó, vì giờ đây, Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng đứa con duy nhất cho Ta". Abraham ngước mắt lên, thấy sau lưng mình có con cừu đực đang mắc sừng trong bụi cây, Abraham liền bắt nó và tế lễ thay cho con mình. Chỗ ấy Abraham gọi tên là "Thiên Chúa sẽ liệu", khiến ngày nay người ta còn nói: "Trên núi Thiên Chúa sẽ liệu".
Thiên thần Chúa gọi Abraham lần thứ hai và nói rằng: "Chúa phán: Ta thề rằng: vì ngươi đã làm điều đó, ngươi không từ chối dâng đứa con duy nhất của ngươi cho Ta, nên Ta chúc phúc cho ngươi. Ta cho ngươi sinh sản con cái đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển; miêu duệ ngươi sẽ chiếm cửa thành quân địch, và mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu duệ ngươi, vì ngươi đã vâng lời Ta".
Ðó là lời Chúa.

Hoặc đọc bài vắn này: St 22, 1-2. 9a. 10-13. 15-18
Trích sách Sáng Thế.
Trong những ngày ấy, Chúa thử Abraham và nói với ông rằng: "Abraham, Abraham". Ông đáp lại: "Dạ, con đây". Chúa nói: "Ngươi hãy đem Isaac, đứa con một yêu dấu của ngươi, và đi đến đất Moria, ở đó ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi".
Khi hai người đến nơi Chúa đã chỉ, Abraham làm một bàn thờ và chất củi lên, rồi trói Isaac lại, đặt lên bàn thờ trên đống củi. Abraham giơ tay lấy dao để sát tế con mình. Bấy giờ thiên thần Chúa từ trời gọi ông rằng: "Abraham! Abraham!" Ông thưa lại: "Dạ, con đây". Người nói: "Ðừng giết con trẻ và đừng động đến nó, vì giờ đây, Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng đứa con duy nhất cho Ta". Abraham ngước mắt lên, thấy sau lưng mình có con cừu đực đang mắc sừng trong bụi cây, Abraham liền bắt nó và tế lễ thay cho con mình.
Thiên thần Chúa gọi Abraham lần thứ hai và nói rằng: "Chúa phán: Ta thề rằng: vì ngươi đã làm điều đó, ngươi không từ chối dâng đứa con duy nhất của ngươi cho Ta, nên Ta chúc phúc cho ngươi. Ta cho ngươi sinh sản con cái đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển; miêu duệ ngươi sẽ chiếm cửa thành quân địch, và mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu duệ ngươi, vì ngươi đã vâng lời Ta".
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 15, 5 và 8. 9-10. 11
Ðáp: Lạy Chúa, xin bảo toàn con, vì con tìm nương tựa Chúa (c. 1a).
Xướng: 1) Chúa là phần gia nghiệp và phần chén của con, chính Ngài nắm giữ vận mạng của con. Con luôn luôn đặt Chúa ở trước mặt con, vì Chúa ngự bên hữu con, con sẽ không nao núng. - Ðáp.
2) Bởi thế, lòng con vui mừng và linh hồn con hoan hỉ, ngay cả đến xác thịt của con cũng nằm nghỉ an toàn, vì Chúa chẳng bỏ rơi linh hồn con trong âm phủ, cũng không để thánh nhân của Ngài thấy điều hư nát. - Ðáp.
3) Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh, sự no đầy hoan hỉ ở trước thiên nhan, sự khoái lạc bên tay hữu Chúa tới muôn muôn đời! - Ðáp.

Bài Ðọc III: Xh 14, 15 - 15, 1
"Con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn".
Trích sách Xuất Hành.
Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Môsê rằng: "Có gì mà kêu đến Ta? Hãy bảo con cái Israel cứ lên đường. Còn ngươi, đưa gậy lên, và giơ tay trên biển, hãy phân rẽ biển ra, cho con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn. Còn Ta, Ta sẽ làm cho lòng người Ai-cập ra chai đá, chúng sẽ rượt theo sau các ngươi. Bấy giờ Ta sẽ tỏ vinh quang cho Pharaon, toàn thể quân lực, chiến xa và kỵ binh của vua ấy biết. Người Ai-cập sẽ biết Ta là Chúa khi Ta tỏ vinh quang cho Pharaon, chiến xa và kỵ binh của vua ấy biết".
Sứ thần Thiên Chúa thường đi trước hàng ngũ Israel, liền bỏ trở lại sau họ. Cột mây thường đi phía trước, cũng theo sứ thần trở lại phía sau, đứng giữa hàng ngũ Ai-cập và hàng ngũ Israel. Và đám mây thường soi sáng ban đêm trở thành mù mịt, đến nỗi suốt đêm, hai bên không thể tới gần được. Môsê giơ tay trên biển, thì bằng một cơn gió đông thổi mạnh suốt đêm, Chúa dồn biển lui và làm cho biển khô cạn. Nước rẽ ra và con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn, nước dựng lên như bức thành hai bên tả hữu.
Người Ai-cập đuổi theo, toàn thể binh mã của Pharaon, chiến xa và kỵ binh đi theo sau Israel vào giữa lòng biển. Lúc gần sáng, qua cột mây lửa, Chúa nhìn xuống hàng ngũ Ai-cập, gây rối loạn trong hàng ngũ chúng. Người lật đổ bánh xe, khiến xe tiến tới thật vất vả. Người Ai-cập nói: "Ta hãy chạy trốn Israel, vì Chúa chiến đấu giúp họ, chống chúng ta".
Chúa phán bảo Môsê: "Hãy giơ tay trên biển để nước trở lại vùi dập người Ai-cập, chiến xa và kỵ binh của chúng". Môsê giơ tay trên biển, và lúc tảng sáng, biển trở lại như cũ. Người Ai-cập chạy trốn, gặp ngay nước biển ập lại. Chúa xô chúng ngã giữa lòng biển. Nước trở lại, vùi dập chiến xa và kỵ binh. Toàn thể quân lực của Pharaon đã theo dân Israel xuống biển, không còn tên nào sống sót. Còn con cái Israel đã đi giữa lòng biển khô cạn, nước dựng như bức thành hai bên tả hữu. Ngày đó Chúa cứu Israel khỏi tay Ai-cập. Và họ thấy xác người Ai-cập trôi dạt đầy bờ, và thấy cánh tay oai hùng của Thiên Chúa đè bẹp Ai-cập. Toàn dân kính sợ Chúa, tin vào Chúa và vào Môsê tôi tớ người.
Bấy giờ Môsê cùng với con cái Israel hát mừng Chúa bài ca này:
(Không đọc: Ðó là lời Chúa).

Ðáp Ca: Xh 15, 1-2. 3-4. 5-6. 17-18
Ðáp: Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao cả (c. 1a).
Xướng: 1) Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao cả. Người đã ném ngựa và người xuống biển khơi. Chúa là sức mạnh và là khúc ca của tôi, chính Người đã cho tôi được cứu thoát. Người là Thiên Chúa tôi, tôi sẽ tôn vinh Người; Người là Chúa tổ phụ tôi, tôi sẽ hát ca mừng Chúa. - Ðáp.
2) Chúa như là người chiến sĩ, danh thánh Người thật toàn năng. Người đã ném xe cộ và đạo binh của Pharaon xuống biển, và dìm xuống Biển Ðỏ các tướng lãnh của ông. - Ðáp.
3) Các vực thẳm đã chôn sống họ, họ rơi xuống đáy biển như tảng đá to. Lạy Chúa, tay hữu Chúa biểu dương sức mạnh; lạy Chúa, tay hữu Chúa đánh tan quân thù. - Ðáp.
4) Chúa đem con cái Israel trồng trên núi gia nghiệp Chúa, nơi vững chắc Chúa làm nơi cư ngụ, ôi lạy Chúa, là cung thánh tay Chúa đã lập nên; Chúa sẽ thống trị muôn đời muôn kiếp. - Ðáp.

Bài Ðọc IV: Is 54, 5-14
"Trong tình yêu vĩnh cửu, Chúa Cứu Chuộc đã xót thương ngươi".
Trích sách Tiên tri Isaia.
Ðấng đã tạo thành ngươi thống trị ngươi, danh Người là Chúa các cơ binh, Ðấng Cứu Chuộc ngươi là Ðấng Thánh Israel, Người sẽ được tôn xưng là Thiên Chúa khắp địa cầu.
Thiên Chúa ngươi đã phán: "Chúa gọi ngươi như gọi người thiếu phụ bị bỏ rơi và sầu muộn, và như người vợ bị bỏ rơi lúc còn xuân xanh. Trong một thời gian ngắn, Ta đã bỏ ngươi, nhưng Ta sẽ lấy lượng từ bi cao cả mà tụ họp ngươi lại. Trong lúc nóng giận, Ta tạm ẩn mặt Ta, nhưng vì lòng nhân từ vô biên, Ta thương xót ngươi, Chúa là Ðấng cứu chuộc ngươi đã phán như vậy.
Cũng như trong thời Noe, Ta đã thề rằng nước lụt Noe sẽ không tràn ngập đất nữa, thì Ta cũng đã thề rằng Ta sẽ không giận ngươi, không quở trách ngươi nữa.
Dù núi có dời, đồi có di chuyển, tình yêu của Ta đối với ngươi không thay đổi, và giao ước bình an của Ta cũng sẽ không lay chuyển, Chúa nhân từ của ngươi đã phán như vậy.
Hỡi thành vô phúc, bị bão táp tàn phá và không ai an ủi, này đây Ta sẽ sắp xếp các viên đá của ngươi cho trật tự, sẽ đặt nền móng ngươi trên ngọc thạch, sẽ lấy đá hồng xây cửa đồn ngươi, sẽ lấy thuỷ tinh làm cửa thành ngươi, sẽ dùng đá quý xây tường thành ngươi.
Tất cả con cái ngươi sẽ được Chúa dạy bảo, chúng sẽ vui hưởng một nền hoà bình lâu dài. Ngươi sẽ đứng vững trong công lý, và xa mọi đàn áp, ngươi sẽ không còn sợ, và sống xa mọi khủng bố, vì sẽ không có ai hãm hại được ngươi nữa".
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 29, 2 và 4. 5-6. 11 và 12a và 13b
Ðáp: Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con (c. 2a).
Xướng: 1) Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con, và không để quân thù hoan hỉ về con. Lạy Chúa, Ngài đã đưa linh hồn con thoát xa Âm phủ, Ngài đã cứu con khỏi số người đang bước xuống mồ. - Ðáp.
2) Các tín đồ của Chúa, hãy đàn ca mừng Chúa, và hãy cảm tạ thánh danh Ngài. Vì cơn giận của Ngài chỉ lâu trong giây phút, nhưng lòng nhân hậu của Ngài vẫn có suốt đời. Chiều hôm có gặp cảnh lệ rơi, nhưng sáng mai lại được mừng vui hoan hỉ.- Ðáp.
3) Lạy Chúa, xin nhậm lời và xót thương con. Lạy Chúa, xin Ngài gia ân cứu giúp con. Chúa đã biến đổi lời than khóc thành khúc nhạc cho con; lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con sẽ tán tụng Chúa tới muôn đời. - Ðáp.

Bài Ðọc V: Is 55, 1-11
"Hãy đến cùng Ta và hồn các ngươi sẽ được sống.
Ta sẽ ký kết với các ngươi một giao ước vĩnh cửu".
Trích sách Tiên tri Isaia.
Ðây Chúa phán: Hỡi tất cả những ai khát nước, hãy đến uống nước; hỡi kẻ không tiền bạc, hãy đến mua lúa mà ăn; hãy đến mà mua rượu và sữa, không cần trả tiền, không cần đổi chác gì. Tại sao các ngươi không dùng tiền mà mua bánh, sao không dùng tiền lương mà mua đồ nuôi thân? Vậy hãy lắng tai nghe, hãy đến ăn đồ bổ và các ngươi sẽ được thưởng thức món ăn mĩ vị.
Hãy lắng tai và đến cùng Ta, hãy nghe, thì các ngươi sẽ được sống; Ta sẽ ký kết với các ngươi một giao ước vĩnh cửu, đó là những hồng ân đã hứa cho Ðavít: Ðây Ta đặt ngươi làm nhân chứng cho các dân, làm tướng lãnh tôn sư cho các dân tộc. Này ngươi sẽ kêu gọi dân mà trước ngươi không biết, và các dân trước chưa biết ngươi, sẽ chạy đến cùng ngươi, vì Chúa là Thiên Chúa ngươi, là Ðấng Thánh Israel, bởi vì Chúa làm cho ngươi được hiển vinh.
Hãy tìm Chúa khi còn tìm được, hãy kêu cầu Người khi Người còn ở gần. Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình, và kẻ bất lương, hãy bỏ những tư tưởng mình, hãy trở về với Chúa, thì Người sẽ thương xót, hãy trở về với Thiên Chúa chúng ta, vì Chúa rộng lòng tha thứ. Vì tư tưởng Ta không phải tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải đường lối của Ta, Chúa phán như vậy. Như trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi, và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi thể ấy.
Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn; cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác.
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Is 12, 2-3. 4bcd. 5-6
Ðáp: Các ngươi sẽ hân hoan múc nước nơi suối Ðấng Cứu Ðộ (c. 3).
Xướng: 1) Ðây Thiên Chúa là Ðấng Cứu Chuộc tôi, tôi sẽ tin tưởng mà hành động và không khiếp sợ: vì Chúa là sức mạnh, là Ðấng tôi ngợi khen, Người sẽ trở nên cho tôi phần rỗi. - Ðáp.
2) Hãy ca tụng Chúa và kêu cầu danh Người, hãy công bố cho các dân biết kỳ công của Chúa, hãy nhớ lại danh Chúa rất cao sang. - Ðáp.
3) Hãy ca tụng, vì Người làm nên những việc kỳ diệu, hãy cao rao việc đó trên khắp hoàn cầu. Hỡi người cư ngụ tại Sion, hãy nhảy mừng ca hát, vì Ðấng cao cả là Ðấng Thánh Israel ở giữa ngươi. - Ðáp.

Bài Ðọc VI: Br 3, 9-15. 32 - 4, 4
"Ngươi hãy đi trong đường ánh sáng của Chúa".
Trích sách Tiên tri Barúc.
Hỡi Israel, hãy nghe các giới răn ban sự sống; hãy lắng tai nghe để hiểu biết sự khôn ngoan.
Hỡi Israel, bởi đâu ngươi ở trong đất nước quân thù, ngươi mòn mỏi trên đất khách, nhiễm lây nhơ bẩn của người chết, bị liệt vào kẻ phải xuống địa ngục? Ngươi đã lìa bỏ nguồn khôn ngoan. Vì chưng nếu ngươi theo đường lối Chúa, thì ngươi đã luôn sống trong bình an. Ngươi hãy học xem đâu là sự khôn ngoan, đâu là sức mạnh, đâu là sự thông hiểu, để ngươi cũng hiểu biết đâu là trường thọ và sự sống, đâu là ánh sáng con mắt và bình an. Ai là người sẽ tìm được nơi cư ngụ của sự khôn ngoan, ai đi vào trong kho tàng của nó? Chính Ðấng thấu suốt mọi sự, Người biết nó: Người thấu suốt nó do đức khôn ngoan của Người.
Người là Ðấng đã an bài vũ trụ đến muôn đời, và cho các gia súc và các thú bốn chân sống đầy mặt đất. Người sai ánh sáng đi thì nó đi, gọi nó lại thì nó run sợ vâng lời Người. Các ngôi sao ở vị trí mình mà chiếu sáng và đều vui mừng. Người gọi chúng thì chúng trả lời rằng: "Có mặt". Chúng vui mừng chiếu sáng trước mặt Ðấng sáng tạo chúng.
Người là Thiên Chúa chúng ta, và không có chúa nào khác sánh được với Người. Người đã biết mọi đường lối khôn ngoan, đã ban nó cho Giacóp tôi tớ Người và cho Israel kẻ người yêu mến. Sau đó, Người xuất hiện trên mặt đất và sống giữa loài người.
Ðó là sách ghi các giới răn Chúa và lề luật tồn tại muôn đời, tất cả những ai tuân giữ lề luật thì được sống, còn ai bỏ thì phải chết. Hỡi Giacóp, hãy trở về và nắm giữ lề luật; hãy nhờ ánh sáng của Người mà tiến đến sự huy hoàng của Người. Ðừng trao vinh quang ngươi cho kẻ khác, cũng đừng trao đặc ân ngươi cho dân ngoại. Hỡi Israel, chúng ta có phúc, vì chúng ta đã được biết những gì là đẹp lòng Chúa.
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 18, 8. 9. 10. 11
Ðáp: Lạy Chúa, Chúa có lời ban sự sống đời đời (Ga 6, 69).
Xướng: 1) Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phá ngu kẻ dốt. - Ðáp.
2) Giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can; mệnh lệnh Chúa trong ngời, sáng soi con mắt. - Ðáp.
3) Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết của Chúa chân thực, công minh hết thảy. - Ðáp.
4) Những điều đó đáng chuộng hơn vàng, hơn cả vàng ròng, ngọt hơn mật và hơn cả mật chảy từ tàng ong. - Ðáp.

Bài Ðọc VII: Ed 36, 16-17a. 18-28
"Ta sẽ đổ trên các ngươi nước trong sạch và sẽ ban cho các ngươi quả tim mới".
Trích sách Tiên tri Êdêkiel.
Ðây lời Chúa phán cùng tôi rằng: "Hỡi con người, khi dân Israel cư ngụ trên đất mình, họ đã làm dơ bẩn đất ấy bằng đời sống và việc làm của họ. Và Ta đã nổi giận họ, vì họ đã đổ máu trên phần đất ấy, và vì các thần tượng họ thờ làm dơ bẩn phần đất ấy. Ta đã phân tán họ đi khắp các dân tộc, và cho họ sống rải rác trong các nước; Ta đã xét xử theo đời sống và việc làm của họ. Họ đã đi đến các dân tộc và ở đó họ xúc phạm thánh danh Ta, vì thiên hạ nói về họ rằng: "Này là dân của Chúa, họ bị đuổi ra khỏi đất của Người". Và Ta đã thương hại thánh danh Ta mà nhà Israel đã xúc phạm nơi các dân tộc họ đến cư ngụ.
Vì thế, ngươi hãy nói với nhà Israel rằng: "Ðây Chúa là Thiên Chúa phán: Hỡi nhà Israel, không phải vì các ngươi mà Ta hành động, nhưng vì thánh danh Ta đã bị các ngươi xúc phạm nơi các dân tộc mà các ngươi đi đến cư ngụ. Ta sẽ thánh hoá danh cao cả Ta đã bị xúc phạm giữa các dân tộc, nơi mà các ngươi đã xúc phạm danh thánh Ta, để các dân tộc biết Ta là Chúa, Thiên Chúa các đạo binh phán, khi Ta tự thánh hoá nơi các ngươi trước mặt họ.
Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi các dân tộc, sẽ quy tụ các ngươi từ các nước, và dẫn dắt các ngươi trên đất các ngươi. Ta sẽ dùng nước trong sạch mà rảy trên các ngươi, và các ngươi sẽ được rửa sạch mọi vết nhơ. Ta sẽ thanh tẩy các ngươi sạch mọi vết nhơ các bụt thần.
Ta sẽ ban cho các ngươi quả tim mới, đặt giữa các ngươi một thần trí mới, cất khỏi xác các ngươi quả tim bằng đá và ban cho các ngươi quả tim bằng thịt. Ta đặt thần trí Ta giữa các ngươi, làm cho các ngươi thực thi các huấn lệnh Ta, làm cho các ngươi tuân giữ và thực hành các lề luật Ta. Các ngươi sẽ cư ngụ trong xứ Ta đã ban cho tổ phụ các ngươi; các ngươi sẽ là dân Ta, còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi".
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 41, 3. 5bcd; Tv 42, 3. 4
Ðáp: Như nai rừng khát mong nguồn nước, hồn con khát Chúa, Chúa Trời ôi! (c. 41, 2)
Xướng: 1) Hồn con khát Chúa Trời, Chúa Trời hằng sống: ngày nào con được tìm về ra mắt Chúa Trời? - Ðáp.
2) Tôi nhớ lúc xưa đi giữa muôn người, tôi đứng đầu đưa dân tiến vào nhà Ðức Chúa Trời, giữa muôn tiếng reo mừng, ca ngợi.- Ðáp.
3) Xin chiếu giãi quang minh và chân thực của Chúa, để những điều đó hướng dẫn con, đưa con lên núi thánh và cung lâu của Ngài. - Ðáp.
4) Con sẽ tiến tới bàn thờ Thiên Chúa, đến cùng Thiên Chúa làm cho con được hoan hỉ mừng vui. Với cây cầm thụ, con sẽ ca ngợi Chúa, ôi Chúa là Thiên Chúa của con. - Ðáp.

Hoặc (khi có Rửa tội): Tv 50, 12-13. 14-15. 18-19
Ðáp: Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch (c. 12a).
Xướng: 1) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con. - Ðáp.
2) Xin Chúa lại cho con niềm vui ơn cứu độ, với tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Con sẽ dạy kẻ bất nhân đường nẻo Chúa, và người tội lỗi sẽ trở về với Ngài. - Ðáp.
3) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh lễ, nếu con dâng lễ toàn thiêu, Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát; lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm cung. - Ðáp.

Bài Ðọc Thánh Thư: Rm 6, 3-11
"Chúa Kitô, một khi tự trong cõi chết sống lại, Người không chết nữa".
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.
Anh em thân mến, tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Ðức Giêsu Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người. Và chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi được thanh tẩy trong sự chết của người, để như Ðức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế.
Vì nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất với Người, trong sự sống lại giống như vậy. Nên biết điều này: con người cũ của chúng ta đã cùng chịu đóng đinh khổ giá, để xác thịt tội lỗi bị huỷ đi, hầu cho chúng ta không còn làm nô lệ tội lỗi nữa, vì con người đã chết, tức là được giải thoát khỏi tội lỗi.
Mà nếu chúng ta đã chết với Ðức Kitô, chúng ta tin rằng chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, vì biết rằng Ðức Kitô, một khi từ cõi chết sống lại, Người không chết nữa, sự chết không còn làm chủ được Người nữa. Người đã chết, tức là chết một lần dứt khoát đối với tội lỗi, mà khi Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Cả anh em cũng thế, anh em hãy tự kể như mình đã chết đối với tội lỗi, nhưng sống cho Thiên Chúa, trong Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 117, 1-2. 16ab-17. 22-23
Ðáp: Alleluia, alleluia, alleluia.
Xướng: 1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: "Ðức từ bi của Người muôn thuở". - Ðáp.
2) Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt, tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống, và tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa. - Ðáp.
3) Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. - Ðáp.

Phúc Âm Năm A: Mt 28, 1-10
"Ngài đã sống lại và sẽ đến xứ Galilêa".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Qua chiều ngày Sabbat, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa tảng sáng, Maria Mađalêna và bà Maria khác đến thăm mồ. Bỗng chốc đất chuyển mạnh vì Thiên Thần Chúa từ trời xuống và đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên đó. Mặt Người sáng như chớp và áo Người trắng như tuyết. Vì thế những lính canh khiếp đảm run sợ và hầu như chết. Nhưng Thiên Thần lên tiếng và bảo các người nữ rằng: "Các bà đừng sợ. Ta biết các bà tìm Chúa Giêsu, Người đã chịu đóng đinh. Người không có ở đây vì Người đã sống lại như lời Người đã nói. Các bà hãy đến mà coi nơi đã đặt Người và đi ngay bảo các môn đệ Người rằng: Người đã sống lại, và kìa Người đến xứ Galilêa trước các ông: Ở đó các ông sẽ gặp Người. Ðây Ta đã báo trước cho các bà hay".
Hai bà vội ra khỏi mồ, vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Người. Và này Chúa Giêsu đón gặp các bà, Người nói: "Chào các bà". Các bà liền lại gần ôm chân Người và phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: "Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó, họ sẽ gặp Ta".
Ðó là lời Chúa.


Suy Niệm: Chúng Ta Ðang Ði Trong Sự Sống Mới

Rm 6,3-11; Mt 28,1-10
Chúng ta không thể ghi nhớ mọi lời Kinh Thánh đã nghe trong Phụng vụ đêm nay. Càng không thể đúc kết được quá nhiều giáo lý sâu xa như vậy. Nhưng chúng ta phải thấy rõ mình đang đứng ở chỗ nào và trong trạng thái nào để cử hành mầu nhiệm Chúa Phục sinh.

A. Chúng Ta Ðang Ði Trong Sự Sống Mới
Bài thư Phaolô xác định vị trí và hoàn cảnh của chúng ta hiện nay. Chúng ta đã chịu phép Rửa trong Ðức Kitô, đã cùng chịu mai táng với Người trong sự chết cho tội lỗi, thì bây giờ chúng ta đang đi trong sự sống mới.
Quả thật, Phụng vụ đêm nay đã cho chúng ta thấy rõ điều đó. Lúc đầu khi vào nhà thờ, chúng ta như bị dìm trong bóng tối sự chết. Nhưng rồi ánh sáng Ðức Kitô đã bừng lên, dẫn chúng ta vào Nước ánh sáng huyền diệu của Người để tất cả chúng ta trở nên con cái sự sáng, chan hòa ánh sáng mới mẻ của mầu nhiệm Phục sinh.
Rồi chúng ta cũng đã dần dần được soi sáng trong tâm trí. Các bài Cựu Ước từ từ mạc khải cho chúng ta con đường lịch sử cứu độ, để chúng ta thấy nhân loại đã được Chúa dẫn dắt đi vào con đường mỗi ngày một sáng.
Nhất là qua nghi lễ Rửa tội và tuyên lại lời hứa của Bí tích Thánh tẩy, chính chúng ta đã quyết tâm nhờ ơn Chúa từ bỏ nếp sống cũ kỹ tối tăm đi vào sự sống ân sủng và chân lý của Con Thiên Chúa.
Bài thư Rôma đúc kết mọi tư tưởng trên và cho chúng ta thấy rõ nền tảng của tình trạng hiện nay của chúng ta. Chúng ta được như vậy là vì đã đồng hóa với sự chết của Ðức Kitô, đã đóng đinh xác thịt vào Thập giá của Người, đã chết cho tội lỗi trong sự mai táng của Người: chính việc kết hợp với Ðức Kitô nhờ lòng tin cậy mến biến chúng ta nên những con người khác thường. Bề ngoài chúng ta như tất cả mọi người; nhưng giờ đây tin Ðức Kitô và liên kết với Người, chúng ta đã cùng Người ra khỏi quyền lực sự chết và hưởng ánh sáng mới của sự sống phục sinh. Tất cả thân phận chúng ta tùy thuộc vào niềm tin và ý chí kết hợp đó. Ra khỏi bầu khí đức tin hiện tại và rời khỏi tình liên kết mật thiết với Ðức Kitô, chúng ta lại trở thành phàm nhân trần tục. Mà bầu khí đức tin và tình liên kết này không giả tạo. Nó căn cứ trên ý chí dứt khoát của chúng ta đã từ bỏ tối tăm tội lỗi và lựa chọn đi vào Nước ánh sáng thánh thiện của Con Thiên Chúa. Nó tồn tại mãi mãi trong đời sống của chúng ta, bao lâu trong thực hành chúng ta vẫn từ khước tội lỗi và chạy theo sự thánh thiện. Và chúng ta chỉ sẵn lòng và phấn khởi làm như vậy khi chúng ta tin mãnh liệt vào việc Chúa sống lại. Thế nên chúng ta luôn cần suy nghĩ về sự kiện này.

B. Mầu Nhiệm Chúa Phục Sinh
Bài Tin Mừng Matthêô bề ngoài như muốn thuật lại việc Chúa sống lại. Nhưng đọc kỹ, chúng ta chỉ thấy những sự việc trước và sau khi Chúa sống lại. Còn chính sự kiện Chúa Phục sinh là một mầu nhiệm, vượt ra ngoài sự hiểu biết khả giác vì chẳng ai đã thấy Chúa sống lại lúc nào và như thế nào. Matthêô chỉ thuật truyện "như" đã xem thấy mà thôi. Ông kể: sáng sớm Ngày thứ nhất trong tuần hai bà đã thấy mộ trống. Nhưng ông đã lợi dụng lúc hai bà đang đi trên đường đi để hình dung việc Chúa sống lại theo các hình ảnh quen thuộc trong Cựu Ước. Nói đúng hơn, ông dùng lối văn hiển linh để diễn tả việc Thiên Chúa Phục sinh Ðức Kitô. Trước hết phải có động đất để báo hiệu có hiển linh, tức là có việc Thiên Chúa can thiệp mạnh mẽ vào đời sống nơi dương gian. Rồi đến chính sự hiển linh, tức là hành động của Thiên Chúa: Thần sứ Người từ trời xuống, vần tảng đá ra, ngồi lên trên nó trong trạng thái bá chủ hoàn toàn. Rồi những nét tả về Khuôn mặt và Y phục cũng chỉ lấy lại mọi hình ảnh quen thuộc của các cuộc hiển linh.
Thành ra, Matthêô đã không mô tả việc Ðức Kitô sống lại. Ông chỉ diễn tả niềm niềm tin Thiên Chúa đã phục sinh Người bằng những hình ảnh quen thuộc của các cuộc hiển linh. Ông cũng không quên nói đến tác động của những cảnh tượng như thế nơi con người, ông viết: bọn lính canh mộ khiếp sợ và ra như chết. Nhưng có thể nói đó chỉ là những điều mà Matthêô đã suy diễn từ niềm tin vào mầu nhiệm Phục sinh và diễn tả theo lối văn hiển linh. Thật sự ông đã thấy gì?
Ông đã thấy hai bà ra viếng mộ. Và tới nơi họ thấy mồ trống. Họ chẳng hiểu gì và muốn được giải thích. Lúc đó thần sứ Chúa đã bảo họ hãy nhớ lại Lời Người đã nói, đã hứa sẽ sống lại và đi đón họ ở Galilê. Matthêô đã tâm lý khi mô tả họ vội vã bỏ mồ, vừa sợ vừa vui, chạy về báo tin cho môn đệ. Họ sợ vì gặp chuyện quá sức không ngờ; nhưng lại vui vì niềm tin vào Lời Chúa đã nhóm lên ở trong lòng. Và để khẳng định niềm tin chắc chắn của mình vào việc Chúa sống lại, Matthêô kể thêm chuyện Chúa hiện ra với hai bà và việc hai bà thờ lạy Người.
Như vậy, Matthêô đã cố gắng truyền đạt niềm tin của mình vào việc Chúa sống lại. Ông căn cứ vào sự kiện mồ trống và vào việc Chúa hiện ra với các phụ nữ. Ðó không phải là chính việc Chúa phục sinh, nhưng chỉ là những sự kiện làm chứng cho Lời Người đã nói sẽ sống lại và sẽ đi đón môn đệ ở Galilê. Chính Lời Thánh Kinh giúp các môn đệ hiểu sự kiện mồ trống và việc Chúa hiện ra. Niềm tin vào việc Chúa phục sinh cuối cùng vẫn tựa vào lời tiên tri vậy.
Ðến lượt chúng ta phải tin và truyền đạt niềm tin vào việc Chúa phục sinh. Chúng ta đã tin rồi. Và niềm tin ấy căn cứ vào chứng từ của các Tông đồ khiến chúng ta tin vào Lời Chúa. Thì đến lượt chúng ta cũng chỉ truyền đạt được niềm tin nếu chứng từ của chúng ta khiến người ta tin vào Sách Thánh. Ở nhà thờ này, tham dự thánh lễ này, chúng ta là những người tin. Và hôm nay đặc biệt tin Chúa đã phục sinh . Ra khỏi buổi lễ phụng vụ ở đây, chúng ta phải truyền đạt niềm tin ấy bằng chứng từ của đời sống. Thế mà theo thư Phaolô, muốn làm chứng Ðức Kitô đã phục sinh, chúng ta phải nhận thức mình đã chết cho tội lỗi và đang sống cho Thiên Chúa trong Ðức Yêsu Kitô. Thánh lễ này đang mang chúng ta vào trong Ðức Yêsu Kitô để chúng ta nên một với Người hầu chúng ta sẽ luôn sống cho Thiên Chúa. Cầu chúc anh chị em dự lễ sốt sắng để thật sự từ nay sống mới mẻ trong Ðức Yêsu Kitô phục sinh.

(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa
của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)


Lời Chúa Mỗi Ngày
Thứ Bảy Tuần Thánh, Vọng Phục Sinh
Bài đọc: Gen 1:1-2:2; Exo 14:15-15:1; Isa 54:5-14; Isa 55:1-11; Eze 36:16-28; Rom 6:3-11; Mk 16:1-8.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Lịch sử Cứu Độ của Thiên Chúa
Thiên Chúa chúng ta thờ là Thiên Chúa duy nhất trong vũ trụ này. Sự kiện Ngài cho Con của Ngài, Đức Giêsu Kitô, từ cõi chết sống lại một lần nữa chứng tỏ điều này. Nhìn lại lịch sử cứu độ, chúng ta thấy Ngài là Đấng dựng nên vũ trụ và điều khiển muôn loài. Ngài đã chọn Israel như dân riêng để chuẩn bị cho Đấng Cứu Thế ra đời. Ngài trung thành trong những gì Ngài đã hứa với con người cho dù con người đã phản bội Ngài. Ngài luôn tìm cách để cứu độ con người qua biến cố Xuất Hành, qua việc giải phóng và cho dân hồi hương từ các nơi lưu đày. Nhưng sự kiện nổi bật nhất trong lịch sử cứu độ là gởi Đấng Thiên Sai tới mang lấy thân xác con người để chuộc tội cho mọi người. Đấng Thiên Sai đã trải qua cuộc khổ nạn và sống lại vinh quang là trọng tâm của Mầu Nhiệm Phục Sinh chúng ta cử hành đêm nay.
Trong phần phụng vụ Lời Chúa hôm nay, Giáo Hội muốn các tín hữu nhìn lại lịch sử Cứu Độ của Thiên Chúa, bắt đầu với việc tạo dựng vũ trụ và con người, và kết thúc bằng biến cố Phục Sinh của Đức Kitô. Nơi nào hòan cảnh cho phép, Giáo Hội khuyến khích đọc cả 7 bài; nơi nào hòan cảnh không cho phép, phải đọc đọc 3 bài: Biến cố Xuất Hành, ý nghĩa của Bí-tích Rửa Tội trong Thư Rôma, và Biến cố Phục Sinh theo Marcô. Thông thường, các giáo xứ đọc 5 bài: trình thuật tạo dựng trong Sáng Thế Ký, trình thuật tái tạo một quả tim mới và thần khí mới của tiên tri Ezekiel, và 3 bài phải đọc. Hai bài từ Sách Isaiah về sự trung thành yêu thương của Thiên Chúa, và những gì sẽ xảy ra khi triều đại của Đấng Thiên Sai tới, cho những nơi có hòan cảnh đọc cả 7 bài.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Thiên Chúa sáng tạo trời đất và mọi lòai trong đó.
Trình thuật tạo dựng này rất quan trọng cho những ai đang muốn tước quyền sống của thai nhi, người già cả, và các bệnh nhân phải chịu bệnh lâu ngày. Con người không có quyền trên sự sống, họ được trao quyền để bảo vệ sự sống mà thôi. Lương thực Thiên Chúa dựng nên không bao giờ cạn, vì các hạt giống đều có tiềm năng sinh nhiều hạt giống khác, chim trời không ngừng đẻ trứng, cá biển mang những buồng trứng khổng lồ, súc vật cũng có khả năng sinh sôi nẩy nở vô số. Vì thế, Thiên Chúa cũng truyền cho con người phải sinh sản cho đầy mặt đất. Con người không được nhân danh thiếu đồ ăn để tước đi quyền sống của bất cứ ai.
(1) Ngày thứ nhất, Thiên Chúa dựng nên ánh sáng và bóng tối: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất. Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước. Thiên Chúa phán: "Phải có ánh sáng." Liền có ánh sáng. Thiên Chúa thấy rằng ánh sáng tốt đẹp. Thiên Chúa phân rẽ ánh sáng và bóng tối. Thiên Chúa gọi ánh sáng là "ngày," bóng tối là "đêm." Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất.
(2) Ngày thứ hai, Thiên Chúa dựng nên trời: “Thiên Chúa phán: "Phải có một cái vòm ở giữa khối nước, để phân rẽ nước với nước." Thiên Chúa làm ra cái vòm đó và phân rẽ nước phía dưới vòm với nước phía trên. Liền có như vậy. Thiên Chúa gọi vòm đó là "trời." Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ hai.”
(3) Ngày thứ ba, Thiên Chúa dựng nên đất và các lòai thảo mộc: “Thiên Chúa phán: "Nước phía dưới trời phải tụ lại một nơi, để chỗ cạn lộ ra." Liền có như vậy. Thiên Chúa gọi chỗ cạn là "đất," khối nước tụ lại là "biển." Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. Thiên Chúa phán: "Đất phải sinh thảo mộc xanh tươi, cỏ mang hạt giống, và cây trên mặt đất có trái, ra trái tuỳ theo loại, trong có hạt giống." Liền có như vậy. Đất trổ sinh thảo mộc, cỏ mang hạt giống tuỳ theo loại, và cây ra trái, trong trái có hạt giống tuỳ theo loại. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ ba.”
(4) Ngày thứ tư, Thiên Chúa dựng nên mặt trời, mặt trăng, và các tinh thể trên vòm trời: “Thiên Chúa phán: "Phải có những vầng sáng trên vòm trời, để phân rẽ ngày với đêm, để làm dấu chỉ xác định các đại lễ, ngày và năm. Đó sẽ là những vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất." Liền có như vậy. Thiên Chúa làm ra hai vầng sáng lớn: vầng sáng lớn hơn để điều khiển ngày, vầng sáng nhỏ hơn để điều khiển đêm; Người cũng làm ra các ngôi sao. Thiên Chúa đặt các vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất, để điều khiển ngày và đêm, và để phân rẽ ánh sáng với bóng tối. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ tư.”
(5) Ngày thứ năm, Thiên Chúa dựng nên chim trời, cá biển: “Thiên Chúa phán: "Nước phải sinh ra đầy dẫy những sinh vật lúc nhúc, và loài chim phải bay lượn trên mặt đất, dưới vòm trời." Thiên Chúa sáng tạo các thủy quái khổng lồ, cùng mọi sinh vật vẫy vùng lúc nhúc dưới nước tuỳ theo loại, và mọi giống chim bay tuỳ theo loại. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp. Thiên Chúa chúc phúc cho chúng rằng: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy biển; và chim phải sinh sản cho nhiều trên mặt đất." Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ năm.”
(6) Ngày thứ sáu, Thiên Chúa dựng nên thú vật và con người.
- Tạo dựng thú vật: “Thiên Chúa phán: "Đất phải sinh ra các sinh vật tuỳ theo loại: gia súc, loài bò sát và dã thú tuỳ theo loại." Liền có như vậy. Thiên Chúa làm ra dã thú tuỳ theo loại, gia súc tuỳ theo loại và loài bò sát dưới đất tuỳ theo loại. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.
- Tạo dựng con người: Thiên Chúa phán: "Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất." Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ. Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên Chúa phán với họ: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất." Thiên Chúa phán: "Đây Ta ban cho các ngươi mọi thứ cỏ mang hạt giống trên khắp mặt đất, và mọi thứ cây có trái mang hạt giống, để làm lương thực cho các ngươi. Còn đối với mọi dã thú, chim trời và mọi vật bò dưới đất mà có sinh khí, thì Ta ban cho chúng mọi thứ cỏ xanh tươi để làm lương thực. Liền có như vậy." Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu.
(7) Ngày thứ bảy, Thiên Chúa nghỉ ngơi: “Thế là trời đất cùng với mọi thành phần đã hoàn tất. Ngày thứ bảy, Thiên Chúa đã hoàn thành công việc Người làm. Khi làm xong mọi công việc của Người, ngày thứ bảy, Thiên Chúa nghỉ ngơi.”
2/ Bài đọc II: Israel thấy Đức Chúa đã ra tay hùng mạnh đánh quân Ai-cập.
Cuộc xuất hành của Israel ra khỏi Ai-cập: Sau khi ông Giuse qua đời, vị vua mới, Pharaoh, lên ngôi. Ông không còn nhớ gì tới công ơn của Giuse; nhưng hành hạ người Do-thái sống trên đất Ai-cập, bắt họ sống kiếp nô lệ cho người Ai-cập. Dân chúng kêu cầu lên Thiên Chúa, và Ngài đã chọn ông Moses và Aaron để cứu dân thóat khỏi tay người Ai-cập.
(1) Kế họach cứu độ dân được mặc khải cho ông Moses: “Đức Chúa phán với ông Moses: "Có gì mà phải kêu cứu Ta? Hãy bảo con cái Israel cứ nhổ trại. Phần ngươi, cầm gậy lên, giơ tay trên mặt biển, rẽ nước ra cho có lối đi khô ráo ngay giữa lòng biển, để con cái Israel đi vào. Còn Ta, Ta sẽ làm cho lòng người Ai-cập ra chai đá. Chúng sẽ tiến vào sau các ngươi. Bấy giờ Ta sẽ được vẻ vang hiển hách khi đánh bại Pharaoh cùng toàn thể quân lực, chiến xa và kỵ binh của vua ấy. Người Ai-cập sẽ biết rằng chính Ta là Đức Chúa, khi Ta được vẻ vang hiển hách vì đã đánh bại Pharaoh cùng chiến xa và kỵ binh của vua ấy."
(2) Dân Israel đi qua Biển Đỏ ráo chân: Để thóat khỏi đất Ai-cập, dân chúng phải vượt Biển Đỏ. Làm sao dân chúng có thể vượt biển mà không có thuyền bè, nhất là cho một đám đông dân Do-thái như vậy? Thiên Chúa làm rẽ nước biển làm hai, dựng đứng như hai bức tường thành để dân Ngài đi qua: “Thiên sứ của Thiên Chúa đang đi trước hàng ngũ Israel, lại rời chỗ mà xuống đi đàng sau họ. Cột mây bỏ phía trước mà đứng về phía sau, chen vào giữa hàng ngũ Ai-cập và hàng ngũ Israel. Bên kia, mây toả mịt mù, bên này, mây lại sáng soi đêm tối, khiến cho hai bên suốt đêm không xáp lại gần nhau được. Ông Moses giơ tay trên mặt biển, Đức Chúa cho một cơn gió đông thổi mạnh suốt đêm, dồn biển lại, khiến biển hoá thành đất khô cạn. Nước rẽ ra, và con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn, nước sừng sững như tường thành hai bên tả hữu.”
(3) Chúa tiêu hủy toàn bộ quân đội của Pharaoh trong Biển Đỏ: Thấy dân Do-thái đi qua Biển Đỏ. “Quân Ai-cập đuổi theo; toàn thể chiến mã, chiến xa và kỵ binh của Pharao tiến vào giữa lòng biển, đằng sau dân Israel. Vào lúc gần sáng, từ cột lửa và mây, Đức Chúa nhìn xuống hàng ngũ Ai-cập, Người gây rối loạn trong hàng ngũ chúng. Người làm cho chiến xa kẹt bánh khiến chúng phải vất vả mới di chuyển nổi. Quân Ai-cập bảo nhau: "Ta phải trốn bọn Israel, vì Đức Chúa chiến đấu chống lại người Ai-cập để giúp họ."”
Đức Chúa phán với ông Moses: "Hãy giơ tay trên mặt biển, nước sẽ ập xuống trên quân Ai-cập cùng với chiến xa và kỵ binh của chúng." Ông Moses giơ tay trên mặt biển, và biển ập lại như cũ, vào lúc tảng sáng. Quân Ai-cập đang chạy trốn thì gặp nước biển, Đức Chúa xô ngã quân Ai-cập giữa lòng biển. Nước ập xuống, vùi lấp chiến xa và kỵ binh, vùi lấp toàn thể quân lực của Pharaoh đã theo dân Israel đi vào lòng biển. Không một tên nào sống sót.”
(4) Dân Israel nhận ra quyền lực của Thiên Chúa và tin vào Ngài: “Con cái Israel đã đi giữa lòng biển khô cạn, nước sừng sững như tường thành hai bên tả hữu. Ngày đó, Đức Chúa đã cứu Israel khỏi tay quân Ai-cập. Israel thấy quân Ai-cập phơi thây trên bờ biển. Israel thấy Đức Chúa đã ra tay hùng mạnh đánh quân Ai-cập. Toàn dân kính sợ Đức Chúa, tin vào Đức Chúa, tin vào ông Moses, tôi trung của Người. Bấy giờ ông Moses cùng với con cái Israel hát mừng Đức Chúa bài ca sau đây. Họ ca rằng: "Tôi xin hát mừng Chúa, Đấng cao cả uy hùng: Kỵ binh cùng chiến mã, Người xô xuống đại dương.””
3/ Bài đọc III: Thiên Chúa trung thành yêu thương dân Ngài đến muôn đời.
3.1/ Tình nghĩa chồng vợ giữa Thiên Chúa và Israel:
- Thiên Chúa được ví như người chồng: “Quả thế, Đấng cùng ngươi sánh duyên cầm sắt chính là Đấng đã tác thành ngươi, tôn danh Người là Đức Chúa các đạo binh; Đấng chuộc ngươi về, chính là Đức Thánh của Israel, tước hiệu Người là Thiên Chúa toàn cõi đất.”
- Israel được ví như người vợ bất trung: “Phải, Đức Chúa đã gọi ngươi về, như người đàn bà bị ruồng bỏ, tâm thần sầu muộn. "Người vợ cưới lúc thanh xuân, ai mà rẫy cho đành?" Thiên Chúa ngươi phán như vậy. Trong một thời gian ngắn, Ta đã ruồng bỏ ngươi, nhưng vì lòng thương xót vô bờ, Ta sẽ đón ngươi về tái hợp. Lúc lửa giận bừng bừng, Ta đã một thời ngoảnh mặt chẳng nhìn ngươi, nhưng vì tình nghĩa ngàn đời, Ta lại chạnh lòng thương xót, Đức Chúa, Đấng cứu chuộc ngươi, phán như vậy.”
3.2/ Tình yêu Thiên Chúa với Israel sẽ bền vững muôn đời.
- Chúa đánh phạt rồi Ngài lại xót thương: “Ta cũng sẽ làm như thời Noah: lúc đó, Ta đã thề rằng hồng thủy sẽ không tràn ngập mặt đất nữa, cũng vậy, nay Ta thề sẽ không còn nổi giận và hăm doạ ngươi đâu. Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi, giao ước hoà bình của Ta cũng chẳng chuyển lay, Đức Chúa là Đấng thương xót ngươi phán như vậy.”
- Ngài sẽ cho dân về để tái thiết thành Jerusalem: “Hỡi thành đô khốn đốn, ba chìm bảy nổi, không người ủi an! Này, đá của ngươi, Ta lấy phẩm màu tô điểm, nền móng ngươi, Ta đặt trên lam ngọc, lỗ châu mai tường thành, Ta xây bằng hồng ngọc, các cửa thành ngươi, bằng pha lê, tường trong luỹ ngoài, toàn đá quý.”
- Ngài sẽ bảo vệ con cái của Israel: “Con cái ngươi, Đức Chúa đều dạy dỗ, chúng sẽ được vui hưởng thái bình. Nền tảng vững bền của ngươi sẽ là đức công chính; ngươi sẽ thoát khỏi áp bức, không còn phải sợ chi, sẽ thoát khỏi kinh hoàng, vì kinh hoàng sẽ không đến gần ngươi nữa.”
4/ Bài đọc IV: Những gì sẽ xảy ra khi triều đại của Đấng Thiên Sai tới.
4.1/ Lời tiên đóan về Bí-tích Thánh Thể: “Đến cả đi, hỡi những người đang khát, nước đã sẵn đây! Dầu không có tiền bạc, cứ đến mua mà dùng; đến mua rượu mua sữa, không phải trả đồng nào. Sao lại phí tiền bạc vào của không nuôi sống, tốn công vất vả vào thứ chẳng làm cho chắc dạ no lòng? Hãy chăm chú nghe Ta, thì các ngươi sẽ được ăn ngon, được thưởng thức cao lương mỹ vị. Hãy lắng tai và đến với Ta, hãy nghe thì các ngươi sẽ được sống.”
4.2/ Lời tiên đóan về giao ước mới: Giòng dõi David sẽ làm vua cai trị dân Người.
(1) Giao ước mới và vĩnh cửu: “Ta sẽ lập với các ngươi một giao ước vĩnh cửu, để trọn bề nhân nghĩa với David. Này, Ta đã đặt David làm nhân chứng cho các dân, làm thủ lãnh chỉ huy các nước. Này, ngươi sẽ chiêu tập một dân tộc ngươi không quen biết; một dân tộc không quen biết ngươi sẽ chạy đến với ngươi, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, vì Đức Thánh của Israel đã làm cho ngươi được vinh hiển.”
- Người sẽ là Vua của các dân tộc, chứ không phải chỉ là Vua của Israel mà thôi.
(2) Kêu gọi dân trở về với Thiên Chúa: “Hãy tìm Đức Chúa khi Người còn cho gặp, kêu cầu Người lúc Người ở kề bên. Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình đang theo, người bất lương, hãy bỏ tư tưởng mình đang có mà trở về với Đức Chúa - và Người sẽ xót thương - về với Thiên Chúa chúng ta, vì Người sẽ rộng lòng tha thứ.”
4.3/ Sự khác biệt giữa Thiên Chúa và con người:
(1) Về tư tưởng và đường lối họat động: “Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi, và đường lối các ngươi không phải là đường lối của Ta - sấm ngôn của Đức Chúa. Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi,
và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi chừng ấy.”
(2) Hiệu quả của Lời Chúa: “Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn, thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó.”
5/ Bài đọc V: Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi.
5.1/ Israel đã làm cho đất ấy ra ô uế vì lối sống và các hành vi của chúng: Tiên tri Ezekiel và dân tộc Israel phải sống trong các nơi lưu đày vì tội lỗi của họ đã xúc phạm đến Thiên Chúa. Sống trong nơi lưu đày, Thiên Chúa kêu gọi họ hãy bỏ đàng tội lỗi và quay về với Lề Luật của Thiên Chúa; nhưng họ đã không nghe: cuộc sống của họ nơi đất khách quê người càng làm ô danh Thiên Chúa và làm cho đất đai, nơi họ đang sinh sống, ra ô uế.
Tiên tri Ezekiel tường thuật những gì Thiên Chúa phán với ngài: “Có lời Đức Chúa phán với tôi rằng: Hỡi con người, con cái nhà Israel đang cư ngụ trên đất của chúng, đã làm cho đất ấy ra ô uế vì lối sống và các hành vi của chúng; lối sống của chúng trước mặt Ta cũng ô uế như người đàn bà trong thời kinh nguyệt. Ta đã trút xuống trên chúng cơn thịnh nộ của Ta vì máu chúng đã đổ ra trên đất ấy và làm cho đất ấy ra ô uế vì các việc ô uế của chúng. Ta đã tung chúng đi các dân và gieo chúng vào các nước. Ta đã căn cứ vào lối sống và các hành vi của chúng mà xét xử. Chúng đã làm cho Danh Ta bị xúc phạm giữa các dân mà chúng đi đến, khiến người ta nói về chúng rằng: "Đó là dân của Đức Chúa, chúng đã phải ra khỏi xứ của Người." Nhưng Ta ái ngại cho thánh danh Ta đã bị nhà Israel xúc phạm giữa các dân mà chúng đi đến.”
5.2/ Vì Danh Thánh, Thiên Chúa sẽ thanh tẩy dân Ngài: “Vì thế, ngươi hãy nói với nhà Israel: Đức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Hỡi nhà Israel, không phải vì các ngươi mà Ta hành động, mà vì danh thánh của Ta đã bị các ngươi xúc phạm giữa các dân các ngươi đã đi đến.
Ta sẽ biểu dương Danh thánh thiện vĩ đại của Ta đã bị xúc phạm giữa chư dân, danh mà các ngươi đã xúc phạm ở giữa chúng. Bấy giờ chư dân sẽ nhận biết chính Ta là Đức Chúa - sấm ngôn của Đức Chúa là Chúa Thượng - khi Ta biểu dương sự thánh thiện của Ta nơi các ngươi ngay trước mắt chúng.” Ba điều Thiên Chúa sẽ làm cho Israel:
(1) Cho dân Israel hồi hương: “Bấy giờ, Ta sẽ đem các ngươi ra khỏi các dân tộc, sẽ quy tụ các ngươi lại từ khắp các nước, và sẽ dẫn các ngươi về đất của các ngươi.”
(2) Thanh tẩy dân chúng: “Rồi Ta sẽ rảy nước thanh sạch trên các ngươi và các ngươi sẽ được thanh sạch, các ngươi sẽ được sạch mọi ô uế và mọi tà thần. Ta sẽ ban tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt thần khí mới vào lòng các ngươi. Ta sẽ bỏ đi quả tim bằng đá khỏi thân mình các ngươi và sẽ ban tặng các ngươi một quả tim bằng thịt. Chính thần trí của Ta, Ta sẽ đặt vào lòng các ngươi, Ta sẽ làm cho các ngươi đi theo thánh chỉ, tuân giữ các phán quyết của Ta và đem ra thi hành.”
(3) Ngài sẽ nối lại mối liên hệ với Israel: “Các ngươi sẽ cư ngụ trong đất Ta đã ban cho tổ tiên các ngươi. Các ngươi sẽ là dân của Ta. Còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi.”
6/ Bài đọc VI: Nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô, chúng ta sẽ cùng được sống lại với Người.
6.1/ Ý nghĩa của Bí tích Rửa Tội: Thánh Phaolô nhấn mạnh đến hai chiều kích của Bí-tích:
(1) Chiều đi xuống là dìm mình trong cái chết của Đức Kitô: “Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người.”
(2) Chiều đi lên là cùng được sống lại vinh hiển với Người: “Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới. Thật vậy, vì chúng ta đã nên một với Đức Kitô nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại.”
6.2/ Làm thế nào để sống đức tin của Bí tích Rửa Tội?
(1) Phải từ bỏ con người cũ và nếp sống tội lỗi: “Chúng ta biết rằng: con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị huỷ diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa. Quả thế, ai đã chết, thì thoát khỏi quyền của tội lỗi.”
(2) Phải mặc lấy Đức Kitô và sống đời sống mới cho Thiên Chúa (nhân đức và ân sủng): “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta. Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. Người đã chết, là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ. Nay Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Kitô Giêsu.”
7/ Phúc Âm: Người đã trỗi dậy rồi, không còn ở đây nữa.
7.1/ Lối suy nghĩ của con người: Các bà này là những người đã chứng kiến cuộc tử nạn, tháo đanh, và táng xác Chúa Giêsu trong hang đá. Khi táng xác, các bà không kịp ướp xác Chúa, vì là ngày Sabbath; nên các bà nóng lòng chờ đến ngày hôm sau để ra mộ ướp xác Ngài. Truyền thống Do-thái tin: người chết mà không được ướp xác là điều xỉ nhục.
(1) Chuẩn bị ướp xác Chúa: “Vừa hết ngày Sabbath, bà Maria Magdala với bà Maria mẹ ông Giacôbê, và bà Salômê, mua dầu thơm để đi ướp xác Đức Giêsu. Sáng tinh sương ngày thứ nhất trong tuần, lúc mặt trời hé mọc, các bà ra mộ.”
(2) Nỗi lo sợ không đủ sức để lăn tảng đá khỏi cửa mộ: Các tông đồ đã bỏ trốn cả vì sợ người Do-thái. Các bà có thể đi lại dễ dàng, nhưng không thể tìm một người đàn ông để giúp mình lăn tảng đá ra khỏi mộ, vì là một tảng đá nặng. Đang khi đi đường, các bà bảo nhau: "Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi cửa mộ giùm ta đây?" Nhưng vừa ngước mắt lên, các bà đã thấy tảng đá lăn ra một bên rồi, mà tảng đá ấy lớn lắm.
7.2/ Tin Mừng Phục Sinh: Các bà không thể hiểu “từ cõi chết sống lại có nghĩa gì;” vì truyền thống Do-thái tin chết là hết. Các bà không thể tin Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết.
(1) Thiên thần cắt nghĩa cho các bà: “Vào trong mộ, các bà thấy một người thanh niên ngồi bên phải, mặc áo trắng; các bà hoảng sợ. Nhưng người thanh niên liền nói: "Đừng hoảng sợ! Các bà tìm Đức Giêsu Nazareth, Đấng bị đóng đinh chứ gì! Người đã trỗi dậy rồi, không còn đây nữa. Chỗ đã đặt Người đây này!” Đã không thấy xác Chúa, lại còn gặp một thanh niên lạ mặt, các bà còn hỏang sợ hơn nữa. Làm sao có thể tin những lời thanh niên này nói? Nhưng vì quá sợ, nên các bà không dám hỏi. Có lẽ các bà nghĩ như Maria trong trình thuật Gioan: chắc ông này đã lấy xác Chúa!
(2) Các tông đồ sẽ được nhìn thấy Chúa tại Galilee: Người thanh niên nói tiếp: “Xin các bà về nói với môn đệ Người và ông Phêrô rằng Người sẽ đến Galilee trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người như Người đã nói với các ông."
- Phản ứng của các bà: “Vừa ra khỏi mộ, các bà liền chạy trốn, run lẩy bẩy, hết hồn hết vía. Các bà chẳng nói gì với ai, vì sợ hãi.”

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Thiên Chúa chúng ta thờ là Thiên Chúa thật; Ngài có uy quyền dựng nên tất cả, giải thoát dân khỏi mọi nguy hiểm, và trung thành yêu thương chúng ta đến cùng.
- Thiên Chúa dựng nên con người với một mục đích là cho con người được chung hưởng vinh quang với Ngài sau cuộc đời trên dương thế này.
- Vì Đức Kitô đã chịu chết và sống lại vinh hiển, cho nên, nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng được sống lại vinh hiển với Người.
- Chúng ta phải cố gắng để đạt tới đích điểm là chung hưởng cuộc sống vinh quang với Thiên Chúa trên thiên đàng.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP