Thứ Bảy, ngày 25 tháng 10 năm 2014

Thứ Bảy sau Chúa Nhật 29 Quanh Năm

Thứ Bảy sau Chúa Nhật 29 Quanh Năm


Bài Ðọc I: (Năm II) Ep 4, 7-16
"Ðức Kitô là đầu, nhờ Người mà toàn thân thể được lớn lên".
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô,
Anh em thân mến, mỗi người trong chúng ta đã được ban ơn tuỳ theo lượng Ðức Kitô ban cho. Vì thế có lời rằng: "Người lên nơi cao điệu tù nhân về, Người đã ban ân huệ cho mọi người". Nói rằng "Người lên" nghĩa là gì nếu không phải là trước Người đã xuống những miền hạ tầng trái đất sao? Ðấng đã xuống cũng chính là Ðấng đã vượt lên trên mọi tầng trời, để làm viên mãn vạn vật.
Và chính Người đã ban cho kẻ làm Tông đồ, người làm Tiên tri, còn kẻ khác thì rao giảng Tin Mừng, kẻ khác nữa làm chủ chăn và thầy dạy, để tổ chức các thánh nhân nên hoàn bị hầu chu toàn chức vụ, xây dựng thân thể Ðức Kitô, cho đến khi mọi người chúng ta hợp nhất trong đức tin, và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, trở nên người trưởng thành, đạt đến tầm tuổi người của Ðức Kitô viên mãn, để chúng ta không còn là trẻ nhỏ bị lắc lư và lôi cuốn theo mọi chiều gió học thuyết, nghiêng theo sự lừa dối của người đời, và mưu mô xảo trá làm cho lạc lõng trong sự sai lầm.
Nhưng chúng ta hãy thực hiện chân lý theo đức ái, hãy tấn tới bằng mọi phương tiện trong Ðức Kitô là đầu. Do nơi Người mà toàn thân thể được hoà hợp với nhau, kết cấu với nhau bằng những dây liên lạc cung cấp sinh lực tuỳ theo phận sự của mỗi phần, làm cho thân thể lớn lên và tự xây dựng lấy mình trong đức mến.
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 121, 1-2. 3-4a. 4b-5
Ðáp: Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: "Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa" (c. 1).
Xướng: 1) Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: "Chúng tôi sẽ tiến vào nhà Chúa". Hỡi Giêrusalem, chân chúng tôi đang đứng nơi cửa thành rồi. - Ðáp.
2) Giêrusalem được kiến thiết như thành trì, được cấu tạo kiên cố trong toàn thể. Nơi đây các bộ lạc, các bộ lạc của Chúa tiến lên. - Ðáp.
3) Theo luật pháp của Israel, để ngợi khen danh Chúa. Tại đây đã đặt ngai toà thẩm phán, ngai toà của nhà Ðavít. - Ðáp.
  
Alleluia: Tv 118, 18
Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin mở rộng tầm con mắt của con, để quan chiêm những điều kỳ diệu trong luật Chúa. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 13, 1-9
"Nếu các ngươi không ăn năn hối cải, thì tất cả các ngươi cũng sẽ bị huỷ diệt như vậy".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, có những kẻ thuật lại cho Chúa Giêsu về việc quan Philatô giết mấy người Galilê, làm cho máu họ hoà lẫn với máu các vật họ tế sinh. Người lên tiếng bảo: "Các ngươi tưởng rằng mấy người xứ Galilê đó bị ngược đãi như vậy là những người tội lỗi hơn tất cả những người khác ở xứ Galilê ư? Ta bảo các ngươi: không phải thế. Nhưng nếu các ngươi không ăn năn hối cải, thì tất cả các ngươi cũng sẽ bị huỷ diệt như vậy. Cũng như mười tám người bị tháp Silôe đổ xuống đè chết, các ngươi tưởng họ tội lỗi hơn những người khác ở Giêrusalem ư? Ta bảo các ngươi: không phải thế; nhưng nếu các ngươi không ăn năn hối cải, thì tất cả các ngươi cũng sẽ bị huỷ diệt như vậy".
Người còn nói với họ dụ ngôn này: "Có người trồng một cây vả trong vườn nho mình. Ông đến tìm quả ở cây đó mà không thấy, ông liền bảo người làm vườn rằng: Kìa, đã ba năm nay ta đến tìm quả cây vả này mà không thấy có. Anh hãy chặt nó đi, còn để nó choán đất làm gì!" Nhưng anh ta đáp rằng: "Thưa ông, xin để cho nó một năm nay nữa, tôi sẽ đào đất chung quanh và bón phân: may ra nó có quả chăng, bằng không năm tới ông sẽ chặt nó đi".
Ðó là lời Chúa.


Suy Niệm: Thay Ðổi Cái Nhìn

Cùng một biến cố, nhưng người ta có thể nhìn dưới nhiều góc cạnh khác nhau. Bệnh AIDS (SIDA) chẳng hạn, các nhà Y học coi đó như một thách đố cho việc tìm tòi, một số kỹ nghệ gia coi đó là dịp để tung ra các sản phẩm phòng ngừa, các nhà đạo đức thì coi đó như là chiếc roi của Thiên Chúa trừng phạt nhân loại, còn người có đức tin thực sự lại nhận ra ở đó khởi điểm của tình yêu của Thiên Chúa đối với con người.
Chúa Giêsu đã nhắc đến phản ứng rất thông thường của người Do thái và có lẽ cũng là của nhiều Kitô hữu, đó là qui trách cho Thiên Chúa mọi sự trừng phạt. Khi Philatô ra lệnh xử tử một số người Galilê nổi loạn, thì người Do thái cho rằng những người này đáng bị trừng phạt vì là những kẻ tội lỗi. Khi tháp Silôê đổ xuống làm một số người chết, người ta cũng bảo là họ bị Chúa phạt.
"Chúa phạt", đó có thể là phản ứng của chúng ta khi đứng trước một tai họa cho người khác. Chúng ta vừa gán cho Chúa một hình ảnh không mấy đúng đắn về công bình, vừa vô tình kết án người khác mà quên đi thân phận yếu hèn của mình.
Chúa Giêsu mời gọi chúng ta nhìn vào các biến cố với niềm tin tưởng vào tình yêu Thiên Chúa. Dù con người tội lỗi đến đâu, Thiên Chúa vẫn luôn yêu thương, tha thứ cho họ. Ý thức về tình yêu ấy, con người cũng được mời gọi hoán cải. Càng nhận ra tình yêu Thiên Chúa, càng ý thức về thân phận yếu hèn của mình và càng phải cảm thông và yêu thương người khác nhiều hơn. Sám hối trước tiên phải là sám hối trong cái nhìn về Thiên Chúa nhân từ, đồng thời thay đổi cái nhìn đối với người khác.
Ước gì hoa trái của yêu thương, phó thác, tha thứ trổ bông trong tâm hồn và tràn ngập trong ánh mắt chúng ta.
Veritas Asia


LỜI CHÚA MỖI NGÀY
Thứ Bảy Tuần 29 TN2
Bài đọc: Eph 4:7-16; Lk 13:1-9.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Phải hiểu biết kế họach của Thiên Chúa để sinh hoa quả cho Ngài.

Khi nhìn vào một sự kiện xảy ra, mỗi người có một nhận xét khác nhau: có người cho là hay, có người cho là dở, có người chẳng cho là hay và cũng chẳng cho là dở. Hay hoặc dở tùy vào trình độ hiểu biết của mỗi người; vì thế, cần phải nghiên cứu để hiểu rõ vấn đề trước khi phê phán. Trong Bài đọc I, Thánh Phaolô dạy cho các tín hữu hiểu biết Mầu Nhiệm Cứu Độ của Thiên Chúa và vai trò của mỗi người trong kế họach Cứu Độ của Thiên Chúa. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu khiển trách sự hiểu biết sai về liên hệ giữa tội lỗi và hình phạt của một số người qua 2 sự kiện: (1) những người Galilee bị Tổng Trấn Philatô giết, và (2) 18 người bị tháp Siloah đè chết.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Kế Họach Cứu Độ của Thiên Chúa

1.1/ Thiên Chúa ban cho mỗi người một ơn gọi khác nhau: Thánh Phaolô quả quyết: “Mỗi người chúng ta đã nhận được ân sủng tuỳ theo mức độ Đức Kitô ban cho.” Để dẫn chứng thực tại này, Thánh Phaolô trích dẫn lời của Thánh Vịnh 68:18 với một sửa đổi quan trọng: “Người đã lên trên cao, dẫn theo một đám tù; Người đã ban ân huệ cho loài người.” Trong khi vế hai của Thánh Vịnh 68:18 viết, “… Người đã nhận lễ vật giữa lòai người.” W. Barclay cho một nhận xét rất hay về sự sửa đổi này: “Trong Cựu Ước, Vua chiến thắng khải hòan về có quyền đòi hỏi và nhận quà từ dân. Trong Tân Ước, Đức Kitô sau khi đã chiến thắng khải hòan lại dâng và ban quà cho dân. Đây chính là sự khác biệt nền tảng giữa 2 Giao Ước: Trong Cựu Ước, một Thiên Chúa ghen tương nhấn mạnh đến nhận lễ vật từ dân; trong Tân Ước, một Chúa tình thương tuôn đổ tình yêu của Ngài xuống trên dân. Đó mới thực sự là Tin Mừng.”

Đâu là quà tặng mà Đức Kitô ban thêm cho con người? Thánh Phaolô liệt kê một số những ơn gọi chính:
(1) Kẻ này làm Tông Đồ: Ngòai Nhóm Mười Hai, Chúa còn chọn nhiều môn đệ và các Tông Đồ khác để sai đi như Phaolô, Barnabas …
(2) Người nọ làm ngôn sứ: Ngôn sứ là những người nói thay cho Thiên Chúa. Mặc dù ngôn sứ theo nghĩa hẹp đã chấm dứt sau khi Gioan Tẩy Giả đến, nhưng theo nghĩa rộng tất cả những ai nói Lời Chúa đều là những ngôn sứ của Ngài.
(3) Kẻ khác làm người viết Tin Mừng: là 4 Thánh Ký: Matthew, Marco, Luca, và Gioan. Cũng có thể mở rộng để bao gồm Phaolô và những tác giả khác của Tân Ước.
(4) Kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ: Đây là nhiệm vụ của các chủ chăn trong Giáo Hội: Đức Giáo Hòang, các Giám Mục, các linh mục.

1.2/ Cho một mục đích: Mặc dù ơn gọi Chúa ban cho mỗi người khác nhau, nhưng tất cả đều nhắm một mục đích: “là xây dựng thân thể Đức Kitô, cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô.” Đứng trước Kế Họach Cứu Độ của Thiên Chúa, con người có tự do lựa chọn hai lối sống:

(1) Sống theo sự gian dối và chia rẽ: Thánh Phaolô ước mong các tín hữu đừng chọn lối sống này: “Chúng ta sẽ không còn là những trẻ nhỏ, bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý, giữa trò bịp bợm của những kẻ giảo quyệt khéo dùng mưu ma chước quỷ để làm cho kẻ khác lầm đường.” Chẳng hạn: vì ham danh, một số người đòi quyền để làm những gì người khác làm.
(2) Sống theo sự thật và trong tình bác ái: Thánh Phaolô mong ước cho các tín hữu: “Chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Kitô vì Người là Đầu. Chính Người làm cho các bộ phận ăn khớp với nhau và toàn thân được kết cấu chặt chẽ, nhờ mọi thứ gân mạch nuôi dưỡng và mỗi chi thể hoạt động theo chức năng của mình. Như thế Người làm cho toàn thân lớn lên và được xây dựng trong tình bác ái.”

2/ Phúc Âm: Nếu các ông không sám hối, các ông cũng sẽ chết hết như vậy.

2.1/ Xét mình thay vì xét người: Đâu là sự liên quan giữa đau khổ và tội lỗi? Có 2 cách nhìn: của thế gian và của Thiên Chúa. Theo cách nhìn của thế gian: đau khổ phải chịu là do tội lỗi gây lên, “Ác giả ác báo, tội càng lớn đau khổ càng nhiều.” Theo cách nhìn của Thiên Chúa: đau khổ có thể không do tội lỗi. Chẳng hạn, có người hy sinh chịu đau khổ cho người khác được sống (Chúa Giêsu), hay để vinh quang Thiên Chúa được tỏ hiện (Job, người mù từ lúc mới sinh). Chúa Giêsu dẫn chứng 2 ví dụ:
(1) Những người Galilê bị tổng trấn Philatô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng. Chúa Giêsu hỏi khán giả: “Các ông tưởng mấy người Galilê này phải chịu số phận đó vì họ tội lỗi hơn mọi người Galilê khác sao? Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy.”
(2) Mười tám người bị tháp Silôác đổ xuống đè chết. Chúa Giêsu cũng đặt câu hỏi cho khán giả: “Các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Jerusalem sao? Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy.”

2.2/ Con người phải sinh hoa trái cho Thiên Chúa: Thay vì làm việc vô ích như xét đóan tội lỗi của người khác, Chúa Giêsu muốn con người làm việc ích lợi hơn là xét đóan chính mình qua dụ ngôn cây vả không sinh trái: “Người kia có một cây vả trồng trong vườn nho mình. Bác ta ra cây tìm trái mà không thấy, nên bảo người làm vườn: "Anh coi, đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt nó đi, để làm gì cho hại đất? Nhưng người làm vườn đáp: "Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. May ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi."”
Thiên Chúa sẽ kiên nhẫn chờ đợi để con người sinh hoa kết quả; nhưng nếu con người vẫn không sinh trái, Ngài sẽ chặt đi và lấy chỗ cho người khác để sinh trái cho Ngài.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúng ta cần hiểu biết tường tận Kế Họach Cứu Độ của Thiên Chúa và vai trò của mỗi người chúng ta trong Kế Họach này.
- Đừng ghen tị đòi làm những gì người khác làm, nhưng biết chu tòan ơn gọi Chúa ban, để cùng với mọi người, đưa Kế Họach Cứu Độ của Thiên Chúa tới chỗ viên mãn.
- Đừng nhìn chung quanh để dò xét và kết án người khác, nhưng hãy tự xét mình để xem mình đã sinh hoa kết trái tương xứng với những hồng ân Thiên Chúa đã ban chưa? 
Lm. Anthony ĐINH MINH TIÊN, OP.


HẠT GIỐNG NẨY MẦM - MÙA QUANH NĂM - TUẦN 29
Lc 13,1-9

A. Hạt giống...
Ý chính của đoạn Tin Mừng này là kêu gọi sám hối :
- cc 1-5 : người do thái thời Chúa Giêsu quen nghĩ “ác giả ác báo”. Trước hai tai nạn đột ngột làm chết nhiều người, họ kết luận ngay rằng những nạn nhân ấy là “ác giả” cho nên bị “ác báo”. Chúa Giêsu khuyên đừng hồ đồ suy đoán về người khác những mỗi người hãy coi các tai nạn đó là tiếng nhắc nhở hãy xét lại lương tâm mình để lo sám hối.
- cc 6-9 : Qua dụ ngôn cây vả không sinh trái, Chúa Giêsu bảo mỗi người hãy tận dùng thời gian gia hạn mà Thiên Chúa đã ban cho mình để sớm lo sám hối.

B.... nẩy mầm.
1. “Hãy sám hối”, đó là câu nói được khẩn thiết kêu gọi rất nhiều lần bởi Gioan Tiền hô, bởi Chúa Giêsu, bởi các tông đồ và bởi Giáo Hội. Tại sao ? Vì con người luôn đi lệch đường. Sám hối là nhận ra mình đang lệch đường và mau mắn quay về đường chính.
2. “Tôi sẽ vun xới, bón phân cho nó. May ra sang năm nó có trái. Nếu không ông sẽ chặt nó đi”. Hôm nay, tôi dám nói câu này với Chúa không ?
3. Sau khi đánh tan một cuộc nổi loạn, nhà vua bắt những kẻ phản loạn về. Ông ra lệnh thắp lên một cây nến, rồi nói với họ : “Ai chịu đầu hàng và thề trung thành với ta thì sẽ được tha, bằng không sẽ bị giết Các ngươi hãy suy nghĩ. Khi cây nến tắt thì cuộc hành quyết sẽ bắt đầu”. Thiên Chúa cũng đối xử với tội nhân như vậy : Ngài cho họ một thời gian gia hạn. Tuy nhiên có một khác biệt quan trọng : không ai biết cây nến của đời mình còn dài hay ngắn. (Tonne).
4. “Tôi nói cho các ông biết : không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết như vậy.”
“Sám hối”. Vâng, tôi đã hơn một lần sám hối, thế mà cuộc đời tôi vẫn thế. Và hôm nay Chúa lại mời gọi tôi sám hối, mời gọi tôi hãy làm cuộc cách mạng tận căn mà lấy Lời Chúa làm chuẩn mực, một cuộc cách mạng dựa trên nền tảng của tình yêu thương, không đố kỵ. không ghen  ghét, để nơi con có được tình yêu mà Chúa đã đem đến nơi thế gian này.
 Lạy Chúa, xin giúp con sám hối, xin biến đổi tâm hồn con, để mọi việc con làm, mọi điều con suy nghĩ đều dựa trên tình yêu. (Hosanna)
Lm. Carolo HỒ BẶC XÁI – Gp. Cần Thơ

Thứ Sáu, ngày 24 tháng 10 năm 2014

Chữ “Phúc”



Chữ PHÚC (Phước) liên quan chữ ĐỨC. Chữ Đức thường 
“đi trước” chữ Phúc. Có Đức thì mới có Phúc. Nhưng Việt ngữ thường nói Phúc Đức. Muốn có Phúc phải có Đức, muốn có Đức phải có Tâm, cái Tâm phải bền bỉ nên liên quan chữ Nhẫn.

141024002Chữ Phúc là biểu tượng của sự may mắn, niềm sung sướng, thường dùng là Hạnh Phúc. Từ lâu, người Á Đông đã có nhiều hình tượng biểu thị chữ Phúc, như ngày nay người ta còn thấy trong nhiều vật trang trí, kiến trúc, và cả trên y phục.
Theo phong tục văn hóa Trung quốc, người ta thường treo hoặc dán chữ “Phúc” để cầu “Phúc” cho gia đình trong năm mới. Nhưng chữ Phúc lại được treo ngược, nghĩa là nó bị “đảo”, mà âm “phúc” và âm “đảo” đọc liền nhau sẽ trở thành “phúc đáo” (“đáo” là “đến”), tức là “phúc đến nhà”. Nghịch mà hóa thuận, ngược mà lại tốt.
Chữ Phúc bao gồm những điều tốt lành. Kinh Thi nói về “ngũ phúc” (năm điều phúc) là: (1) 富 [giàu], (2) 安 寧 [yên lành], (3) 壽 [thọ] (4) 攸 好 德 [có đức tốt], (5) 考 終 命 [vui hết tuổi trời]. Có nhiều sách nói “ngũ phúc” là: 富 (phú), 貴 (quý), 壽 (thọ), 康 (khang), 寧 (ninh).
Về vấn đề Phúc Đức, chuyện cổ tích “Chiếc Cầu Phúc Đức” kể rằng…
Ngày xưa có anh chàng chuyên sống về nghề ăn trộm. Trong nhà còn có mẹ già phải nuôi. Tuy có lúc được nhiều, có lúc được ít, nhưng trong nhà không bao giờ có của để dành, hai mẹ con thường phải chịu bữa no, bữa đói.
Một hôm, nhân ngày giỗ cha, mẹ chàng ôn lại cho chàng nghe cuộc đời của ông và cha chàng. Xưa kia ông nội của chàng cũng làm nghề ăn trộm, có đêm kiếm được những món rất đáng giá, nhưng khi nhắm mắt xuôi tay cũng không để lại cho cha chàng được chút gì.
Rồi đến đời cha chàng. Lớn lên, không biết chọn nghề gì khác tốt hơn, cha chàng lại nối nghề ông cụ, đến đêm lại đi rình mò hết làng trên xóm dưới mà cũng không bao giờ kiếm được nổi hai bữa cho hai vợ chồng và đứa con. Rồi cha chàng chết đi cũng không có gì để lại. Nay đến đời chàng, lao theo cái nghề này đã hai chục năm rồi mà tay trắng vẫn hoàn trắng tay. Đã vậy, chàng cũng không tìm được nổi một người vợ, mặc dầu đã gần bốn chục tuổi.
Ôn lại đời cha ông xưa và nhìn cuộc đời mình, chàng không khỏi ngán ngẩm. Một đêm, chàng đến rình nhà ông thầy đồ ở xóm bên, định ăn trộm cái thủ lợn mà một nhóm học trò mang đến biếu. Rình mãi tới khuya, ông thầy vẫn chưa đi ngủ, ông đọc hết trang sách này tới trang sách khác. Chợt ông thầy đọc tới câu: “Tích thiện chi gia tất hữu dư hương; tích bất thiện chi gia tất hữu dư ương”. Chàng bụng bảo dạ: “Phải chăng ông cha ta làm nghề thất đức nên để khổ nhục lại cho ta?”. Rồi chàng tự trả lời: “Phải, quả thật đúng như vậy”. Đoạn chàng chạy một mạch về nhà, quyết từ bỏ nghề ăn trộm.
Sáng hôm sau, chàng vác búa vào rừng hái củi và mang ra chợ bán. Công việc rất vất vả, hái được một gánh củi chàng phải đổi một bát mồ hôi để có được một món tiền mua gạo, nhưng chàng thấy an tâm hơn mọi ngày. Tuy vậy, đi đến đâu, chàng cũng nghe tiếng người xì xào: “Cẩn thận đấy! Cái thằng ba đời ăn trộm đã đến đó!”. Cái tiếng “ba đời ăn trộm” làm cho chàng buồn bã. Chàng nghĩ: “Từ nay ta phải làm những việc gì phúc đức thì họa may mới xóa được mấy tiếng đó”.
Một ngày mùa hạ, trời mưa to, nước lũ tràn về. Chàng đem củi đi chợ bán, vì nước lũ tràn về nhanh quá, không thể lội qua sông như mọi hôm được. Hàng trăm người ùn lại vì chưa có đò, mặt trời đã khuất sau rặng núi, mà mọi người vẫn loay hoay ở bờ sông. Chàng bèn nghĩ tới việc bắc một cái cầu. Đêm ấy, ngủ lại bến sông cùng với nhiều người khác, chàng đem chuyện bắc cầu ra hỏi bà con, nhiều người nói: “Đó là điều phúc đức được muôn ngàn người nhớ ơn. Trước đây cũng đã có người làm nhưng rồi lại bỏ dở”.
Sáng hôm sau, nước rút, chàng lội sông về nhà. Tới nhà, chàng đem ý định bắc cầu ra hỏi ý kiến mẹ. Mẹ chàng rất vui và giục chàng dốc sức bắc cầu. Từ đó, cứ sáng chàng lên rừng chặt cây; trưa cố hái thêm một gánh củi để về cho mẹ đi chợ; chiều ra sức chuyển gỗ làm cầu.
Chàng làm việc quên ngày tháng. Buổi chặt cây, buổi chuyển gỗ, buổi bắc cầu, không bao lâu đã bắc được hơn chục sải cầu. Công việc còn nhiều nặng nhọc vì con sông rộng gần hai trăm sải. Vì ăn đói mà làm nhiều nên chàng bị kiệt sức. Một hôm, chàng đói quá nên nằm lăn ra mê man ở đoạn cầu đang làm dở. Những người đi qua xúm lại cứu chữa, nhưng chàng vẫn chưa hồi tỉnh.
Lúc đó có một viên quan võ đi đến, thấy một đám đông đang xúm quanh một người nằm sóng soài, viên quan xuống ngựa đến gần hỏi chuyện. Mọi người cho biết đây là anh chàng đang bắc cầu làm phúc thì mệt quá mà ngất đi. Viên quan liền mở túi lấy thuốc cho chàng uống.
Được một lúc, chàng tỉnh lại, mọi người tản dần ra về, viên quan ngồi lại bên chàng ân cần hỏi chuyện. Chàng thật thà kể hết cho ông nghe cuộc đời của mình và nói rõ ý định cùng công việc đang làm. Viên quan nghe nói ra chiều cảm động, ông ngồi ngẫm nghĩ hồi lâu rồi nói: “Xưa kia cha ông chàng làm nghề thất đức để cho chàng ngày nay phải đói nghèo. Nay, chàng muốn làm điều phúc đức để chuộc lỗi lầm xưa kia, quả là hay vô cùng. Về phần tôi, tôi xin nói thật: cha tôi, ông tôi, ông cụ, ông kỵ tôi, đời đời làm quan ức hiếp dân lành, bóp hầu bóp cổ để nã tiền, nã của. Đấy cũng là điều thất đức, vì vậy đến tôi ngày nay trời quả báo: lấy vợ đã hơn hai mươi năm rồi mà không có một đứa con để vui cửa vui nhà, cho nên, tuổi đã ngoài bốn mươi, chúng tôi vẫn phải sống hiu quạnh. Nay tôi cũng muốn làm điều phúc đức để chuộc lỗi lầm xưa, chẳng hay chàng có cho tôi góp sức cùng nhau bắc cầu được không?”.
Chàng bắc cầu vui mừng nói: “Nếu quan lớn có chí hướng như vậy thì cái cầu này sẽ chóng xong, dân chúng sẽ mau được qua lại, còn gì tốt hơn!”. Hai người bèn cho nhau biết tên tuổi, quê quán, rồi kết nghĩa huynh đệ. Viên quan võ hơn chàng bắc cầu bốn tuổi nên là anh. Chàng bắc cầu nói: “Em còn có mẹ già ở nhà, vì nhà nghèo, phải bán củi lấy tiền mua gạo cho nên ngày nào em cũng phải đem củi về nhà để sáng hôm sau mẹ đem củi ra chợ bán lấy tiền”. Viên quan võ thân mật bảo chàng: “Anh có nhiều tiền của, anh sẽ bỏ ra nuôi mẹ để em khỏi phải bận tâm, như vậy chúng ta sẽ chuyên chú vào việc bắc cầu, em nghĩ thế nào?”. Chàng bắc cầu nói: “Nếu vậy thì còn gì hay hơn!”.
Từ đấy, hàng ngày hai anh em cùng nhau lên núi đốn cây, chuyển gỗ. Chẳng bao lâu, hai người đã dựng xong chiếc cầu gỗ hơn hai trăm sải. Dân chúng ai cũng vui mừng, họ đặt tên là Cầu Phúc Đức. Các cụ hai làng hoan hỉ cùng nhau bàn định góp tiền làm một bữa tiệc ăn mừng chiếc cầu hoàn thành.
Ngày ăn mừng chiếc cầu, các vị bô lão và tất cả dân chúng quanh vùng nô nức đến dự, ai cũng cầu xin Thượng Đế ban phúc cho hai người bắc cầu, họ ăn uống linh đình suốt cả buổi sáng. Bỗng một cơn gió bất chợt kéo đến, gió thổi mạnh, làm cúi rạp ngọn cỏ nghiêng ngả cành cây. Gió thổi mỗi lúc một mạnh, rồi bất thình lình cuốn anh chàng bắc cầu đi mất. Viên quan võ thất thanh kêu gọi, tất cả mọi người đều ngậm ngùi.
Thấy người em kết nghĩa của mình hết lòng hết sức hàng ba năm trời ra làm cầu mà lại không được hưởng phúc, viên quan xót xa lắm. Sau khi mọi người đã ra về, ông đón vợ sang ở chung với bà cụ để sớm hôm trông nom, phụng dưỡng bà thay người em kết nghĩa.
Chàng bắc cầu bị gió lốc cuốn tới một cái hang trên một ngọn núi cao. Chàng lảo đảo đứng chưa kịp vững, cơn gió bỗng vụt hóa thành người tươi cười nói với chàng: “Nhà ngươi chớ sợ, ta là Thần Gió được Ngọc Hoàng sai đi đón nhà ngươi về đây để thưởng cho ngươi cái công thành tâm làm chuyện phúc đức. Bạc vàng đấy, nhà ngươi muốn lấy bao nhiêu thì lấy”.
Chàng bắc cầu nhìn vào hang thấy đống vàng sáng chói. Chàng cởi áo gói lấy một số vàng, rồi buộc lại cẩn thận, chàng vác gói vàng lên vai, tiến ra cửa hang, Thần Gió lại hóa thành cơn gió lốc cuốn chàng đi, trả về bản và đặt chàng nhẹ nhàng xuống giữa sân nhà. Chàng bắc cầu sung sướng để gói vàng xuống rồi lên tiếng gọi cửa. Nghe tiếng gọi, mẹ chàng và hai vợ chồng viên quan võ tưởng là hồn chàng bắc cầu hiện về, liền dắt nhau lại ngồi quanh chiếc bàn thờ thắp hương khấn vái lầm rầm. Nhìn qua kẽ liếp thấy ba người vừa cúi lạy, vừa khấn, chàng bắc cầu bật cười lại một lần nữa chàng lên tiếng gọi: “Mẹ ơi! Con đây mà! Anh ơi! Em đây mà! Mẹ ơi! Con hãy còn sống trở về nhà đây, mau mau mở cửa đi!”. Nghe rõ tiếng gọi của con, bà mẹ mừng quýnh. Vợ chồng viên quan võ vội chạy ra mở cửa, đón người em kết nghĩa.
Chàng bắc cầu ngồi xuống kể lại ngọn ngành câu chuyện được Thần Gió đưa đi lấy vàng cho cả nhà nghe, mọi người reo mừng sung sướng. Từ đó, mẹ con chàng bắc cầu bắt đầu trở nên giàu có, chàng mời hai vợ chồng người anh kết nghĩa ở lại và cùng nhau làm ăn. Ít lâu sau, vợ viên quan võ có thai, đến ngày sinh, chị sinh được một bé trai. Hai vợ chồng mừng vô kể. Ít lâu sau, chàng bắc cầu cũng lấy vợ, có con, và sống hạnh phúc đến già.
Câu chuyện này nhắc chúng ta phải từ bỏ quá khứ tội lỗi, cố gắng tu thân tích đức để được hưởng phúc ấm!
Khi chúng ta (Giáo hội Chiến đấu) mừng kính chư vị hiển thánh (Giáo hội Chiến thắng) và tưởng niệm các linh hồn nơi luyện hình (Giáo hội Đau khổ), đó là dịp xem lại các Mối Phúc Thật của Đức Giêsu Kitô. Các thánh đã sống trọn các mối phúc nên đang được hưởng phúc trường sinh, điển hình là các vị thánh tử đạo Việt Nam – và hàng trăm ngàn vị tử đạo Việt Nam khác. Việc tôn phong một Kitô hữu nào đó là “tôi tớ Chúa”, là “bậc đáng kính”, là “chân phước” (á thánh, thánh nhỏ), hoặc “thánh” (hiển thánh, thánh lớn) chỉ là kiểu “thủ tục hành chính” cho hợp lệ để công khai hóa đối với Giáo hội hữu hình, chứ các vị đó đã là thánh từ trước khi “được” chúng ta “công nhận” rồi.
Còn các linh hồn là các vị thánh tương lai, chắc chắn các ngài cũng sẽ hưởng phúc trường sinh nay mai, trong đó có thân bằng quyến thuộc của chính mỗi chúng ta. Các thánh và các linh hồn nơi luyện hình đều đã là những phúc nhân – người có phúc. Mỗi dịp lễ cầu hồn, rất nhiều linh hồn được hưởng nhờ Lòng Thương Xót của Chúa, và trên trời lại hân hoan tiếp nhận vô vàn các Tân Thánh Nhân. Tạ ơn Thiên Chúa yêu thương vô vàn!
Theo nghĩa đó của Công giáo, chúng ta có hai dạng phúc: Phúc-hiện-tại và Phúc-tương-lai. Phúc-hiện-tại là tình trạng của các thánh đang ở Thiên đàng, Phúc-tương-lai là tình trạng của các linh hồn đang được thanh tẩy nơi luyện hình.
PHÚC HIỆN TẠI
Trình thuật Mt 5:1-12 là Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Thiên Quốc do chính Chúa Giêsu soạn thảo, và là Đệ Nhất Tuyên Ngôn so với bất kỳ Bản Tuyên Ngôn nào của các quốc gia trên thế giới. Bản Tuyên Ngôn này ngắn nhất, ít điều khoản nhất, mỗi điều khoản cũng ngắn gọn, nhưng lại chính xác nhất và độc nhất vô nhị. Bản Tuyên Ngôn này còn được gọi là Bát Phúc, Tám Mối Phúc Thật, hoặc Bài Giảng Trên Núi.
Bản Tuyên Ngôn Thiên Quốc này chỉ bao gồm 8 điều khoản:
1. Phúc thay ai có tâm hồn NGHÈO KHÓ, vì Nước Trời là của họ.
2. Phúc thay ai HIỀN LÀNH, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
3. Phúc thay ai SẦU KHỔ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
4. Phúc thay ai KHÁT KHAO nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
5. Phúc thay ai XÓT THƯƠNG người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
6. Phúc thay ai có TÂM HỒN TRONG SẠCH, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
7. Phúc thay ai XÂY DỰNG HOÀ BÌNH, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
8. Phúc thay ai BỊ BÁCH HẠI vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.
Sau khi phục sinh, Chúa Giêsu có thêm “mối phúc thứ chín” vì thấy Tông đồ Thomas không tin lời kể của các bạn, Chúa Giêsu nói: “Phúc thay những người không thấy mà tin!” (Ga 20:29). Mối phúc này có thể coi như “mối phúc tổng hợp” của tám mối phúc kia. Vì khi đã tin thật lòng thì người ta không ngại gì với tám thứ kia.
Những người chưa có hoặc không có đức tin đích thực thì chẳng thể nào tin nổi, vì những gì Chúa Giêsu cho là Phúc thì toàn là những thứ “không bình thường”, không giống ai, hoàn toàn ngược đời, hết sức kỳ quặc, và chắc hẳn họ sẽ cho là khùng, là điên, là ngu xuẩn, là dại dột,… Chúa Giêsu biết vậy nên Ngài thường có kiểu nói nghe chừng “tưng tửng” thế này: “Ai có tai thì nghe!” (Mt 11:15; Mt 13:9; Mt 13:43). Đại Sư Giêsu độc chiêu thật đấy! Ai mà không có tai chứ? Ấy thế mà nào có nghe, cũng như có mắt mà không thấy: “Họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu” (Mt 13:13; Lc 8:10).
Chúa Giêsu rất giản dị, có kiểu nói ai cũng hiểu, ngay cả người mù chữ cũng hiểu. Nghe rất sướng lỗ tai! Ngài còn nói thêm như phần mở rộng: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao. Quả vậy, các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế” (Mt 5:11-12).
Thánh Gioan cho biết thị kiến về “một trăm bốn mươi bốn ngàn người được đóng ấn, thuộc mọi chi tộc con cái Ít-ra-en” (Kh 7:2-4). Các thánh mà chỉ bi nhiêu ư? Không phải vậy. Con số 144.000 nghĩa là rất nhiều, chứ không mang nghĩa “số đếm” như cách tính của loài người. Vả lại, theo ngôn ngữ Kinh Thánh khải huyền, 144 là con số hoàn hảo, vì 12 x 12 = 144. Họ là ai? Sách Khải Huyền cho biết: “Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên” (Kh 7:13-14). Đó chính là các thánh mà Giáo hội Lữ hành chúng ta vẫn mừng kính vào ngày 1 tháng 11 hằng năm.
PHÚC TƯƠNG LAI
Phúc-tương-lai là Phúc mà các linh hồn nơi luyện hình sẽ có lúc được hưởng khi nào “mãn hạn tù giam”. Phúc-tương-lai cũng là Phúc dành cho chúng ta, những người đang trên đường lữ hành, cố gắng chiến đấu ngoan cường để có ngày chiến thắng vẻ vang như các thánh.
Thánh Gioan Tông đồ cho biết một thị kiến khác: “Tôi thấy những người chết, lớn cũng như nhỏ, đứng trước ngai. Sổ sách đã mở sẵn; rồi một cuốn khác cũng đã mở ra: đó là Sổ Trường Sinh. Các người chết ĐƯỢC xét xử tuỳ theo việc họ đã làm, chiếu theo những gì đã được ghi chép trong sổ sách. Biển trả lại những người chết nó đang giữ; Tử thần và Âm phủ trả lại những người chết chúng đang giữ, và mỗi người CHỊU xét xử tuỳ theo các việc đã làm. Tử thần và Âm phủ bị quăng vào hồ lửa. Hồ lửa này là cái chết thứ hai. Ai không có tên ghi trong Sổ trường sinh thì bị quăng vào hồ lửa” (Kh 20:12-15). Việt ngữ thật hay khi diễn tả hai cách thụ động: ĐƯỢC dùng cho điều tốt, tích cực; CHỊU (bị) dùng cho điều xấu, tiêu cực.
Các linh hồn nơi luyện hình là những người đã được cấp Visa-Trường-Sinh chính thức, chắc ăn 100%, chỉ còn chờ “chuyến-bay-đại-xá” trực chỉ Thiên Quốc mà thôi. Có một phần an tâm. Chưa an tâm trọn vẹn vì “chưa được diện kiến Tôn Nhan Chúa”, đó là điều ray rứt và khắc khoải nhất của các linh hồn còn phải sống xa cách Thiên Chúa. Khi sinh thời, Thánh Tiến sĩ Giám mục Augustinô đã cảm nghiệm: “Hồn con chỉ được nghỉ ngơi khi nào được an nghỉ trong Chúa”. Và ngài cũng đã nuối tiếc: “Con yêu Chúa quá muộn màng!”.
Các linh hồn nơi luyện hình, và tất cả chúng ta, chỉ là những người vô danh tiểu tốt, thiểu năng và bất tài, chẳng làm được việc gì cho ra hồn, thế nên chẳng hề có “tiếng” mà cũng chẳng hề có “miếng”. Nhưng thật là diễm phúc cho chúng ta vì Thiên Chúa không xét chi đến “tiếng” hoặc “miếng”, mà chỉ tính công-trạng-âm-thầm: “Thiên Chúa là Đấng không vị nể ai, nhưng cứ theo công việc mỗi người mà xét xử” (1 Pr 1:17). Và thị kiến của Thánh Gioan Tông đồ cũng minh định:“Một con ngựa trắng, và người cỡi ngựa mang tên là Trung Thành và Chân Thật, Người theo công lý mà xét xử và giao chiến” (Kh 19:11).
Cứ an tâm và cố gắng sống, đừng lo không ai biết đến mình. Người Việt vẫn thường có cách ví von: “Văn hay chữ tốt không bằng ngu dốt lắm tiền”. Câu này “thâm” lắm, làm “đau” lắm, nhưng cũng thực tế lắm. Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã nhắc nhở: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình? (Mt 16:26; Mc 8:34; Lc 9:22). Giỏi mà kiêu căng thì có gì giỏi? Giỏi mà phải mất Chúa thì ích chi? Thế thì thà dốt nát mà được Chúa còn hơn! Chức quyền có ích gì nếu không nhằm mục đích yêu thương và phục vụ? Có chức quyền mà không hành động theo Ý Chúa, chỉ theo ý mình, làm vinh danh mình, thì thật là bất hạnh!
Ai cũng phải quyết tâm nên thánh, vì không nên thánh là phụ tình Chúa, là lãng phí Giá Máu Cứu Độ của Đức Kitô. Cứ quẳng gánh lo đi mà vui sống, vô tư thì sẽ thoải mái, và an tâm với điều này: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người” (Rm 6:8). Được “sống với Đức Kitô” là làm thánh đấy. Đơn giản thôi! Nhưng chắc chắn rằng, dù các thánh, dù các linh hồn nơi luyện ngục, và cả chúng ta, không ai không có “dấu đau khổ” khắc trên trán đâu. Đó là chữ Phúc!
Chữ PHÚC của các Kitô hữu là chữ THẬP (+), tức là Thập Giá (†). Một nhánh thẳng đứng là hướng tới Thiên Chúa, một nhánh ngang là hướng tới tha nhân. Hai hướng đều liên kết bằng chữ YÊU – kính mến và thương mến. Chữ Yêu rất quan trọng, vì đó là một trong ba nhân đức đối thần. Vả lại, nhân đức này thường gọi là Đức Ái, cần cả đời này và đời sau, và còn mãi đời đời. Hai nhân đức đối thần khác (đức tin và đức cậy) chỉ có ở đời này, không còn ở đời sau. Ước gì mỗi chúng ta khả dĩ nói như Thánh Phaolô: “Mea Gloria est Crux Christi – Vinh dự của tôi là Thập Giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6:14). Đó mới là chữ PHÚC quan trọng nhất!
TRẦM THIÊN THU

Thượng Hội Đồng về Gia Đình: những nhận định sau khi kết thúc

Thượng Hội Đồng về Gia Đình: những nhận định sau khi kết thúc

Thượng Hội Đồng Đặc Biệt về Gia Đình đã kết thúc từ ngày 19 tháng Mười. Nay là lúc, nói như Massino Nardi của hãng tin Zenit ngày 22 tháng Mười, Giáo Hội như một toàn thể có nghĩa vụ “phiên dịch” các vấn đề do hai tuần lễ bàn thảo nêu ra thành nếp vải sống động cho cộng đồng tín hữu. 

Mùa chiết khấu
Trong chiều hướng ấy, hội nghị bàn tròn với chủ đề “Niềm Hy Vọng của Gia Đình: Thượng Hội Đồng và Quá Bên Kia” do “Các Câu Lạc Bộ Văn Hóa Gioan Phaolô II” tổ chức tại Đại Học Âu Châu ở Rôma (UER) đã khai mạc ngày 21 tháng Mười, dưới sự phối trí của các vị như Đức HY Gerhard Ludwig Müller, Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Đức Cha Luigi Negri, Quĩ Quốc Tế Gioan Phaolô II về Huấn Quyền của Giáo Hội; Đức Cha Livio Melina, Viện Giáo Goàng Gioan Phaolô II về Nghiên Cứu Hôn Nhân và Gia Đình, và bà Costanza Miriano, nhà báo và nhà văn.

Gaspari, chủ bút hãng tin Zenit nói lời nói đầu. Ông cho rằng cái khung của hội nghị là tác phẩm của Đức HYMuller tựa là “Niềm Hy Vọng của Gia Đình”, và là cơ hội để đánh tan các hiểu lầm và khiêu khích bao quanh việc làm của Thượng Hội Đồng. 

Đức HY Muller thì cho rằng: “một trong các điểm chính của tác phẩm là chủ đề đức tin. Chúng ta đang sống trong một thời đại tục hóa và bất tín, vốn làm suy yếu cảm thức về bí tích”. Ngài trích dẫn nhiều bản văn giáo hoàng, trong đó có “Ánh Sáng Đức Tin” của Đức Phanxicô, chủ yếu nói về đức tin, và hiến chế “Vui Mừng và Hy Vọng” của CĐ Vatican II trong mục nói tới phẩm giá của hôn nhân và gia đình.

Đức HY Müller trích một đoạn trong lời nói đầu cuốn sách của ngài do Đức HY Fernando Sebastian viết, nói rằng “Trong bí tích Hôn Nhân, tín hữu Kitô Giáo nam nữ, cùng với Giáo Hội, cử hành đức tin trong tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu luôn hiện diện và hành động trong họ như là chi thể của Giáo Hội và người cộng tác của Thiên Chúa để nhân thừa nhân loại và Giáo Hội của cứu rỗi”. Thành thử, mục đích cuốn sách của ngài là tái khám phá vẻ đẹp của hôn nhân Kitô Giáo. 

Nữ ký giả Costanza Miriano lên tiếng trong tư cách một bà mẹ và một tín hữu Công Giáo, để nói rằng: “Lòng thương xót là điều đúng đối với người ly dị, nhưng ta cũng phải thương xót các trẻ em nữa. Người ta ít nói tới chúng, nhưng chúng chính là các nạn nhân đầu tiên khi cha mẹ chúng ai đường nấy đi”. 

Bà cho hay: việc làm của bà khiến bà gặp gỡ khá nhiều gia đình và việc này đã làm bà thêm xác tín rằng “ không thể so sánh nền luân lý Kitô Giáo với nền luân lý tư sản”. Vì nền luân lý tư sản xây dựng các “giáo lý” của nó trên các kiểu mẫu truyền hình và phim ảnh: các kiểu mẫu chỉ sản sinh ra thất vọng. “Tình yêu đích thực chỉ tìm thấy nơi Chúa Kitô và việc ‘biết đọc’ tình yêu ấy, vốn chỉ thuộc một mình Giáo Hội”. 

Đức Cha Livio Melina cám ơn Đức HY Müller về cuốn sách của ngài và về lòng can đảm của ngài trong cuốn sách này. Rồi Đức Cha nhắc lại ý niệm của Chân Phúc Phaolô VI: Giáo Hội không sáng chế ra tín lý của mình mà chỉ là người giải thích và gìn giữ nó. Với những ai đòi duyệt lại các tảng đá góc của Đức Tin để biến nó thành thích ứng với thời đại, Giáo Hội chỉ có thể trả lời: “Non possumus!” (Chúng tôi không thể!)

Ngài nói tiếp: “Đức HY Müller bênh vực sợi dây nối kết bất di bất dịch giữa sự thật và thực hành. Tín lý sẽ trở thành trừu tượng và thực hành sẽ trở thành võ đoán khi Giáo Hội ‘chấm dứt mùa chiết khấu (discount)’”. Lòng thương xót không thể là dụng cụ để giải quyết các khó khăn tùy thuộc (contingent): cha mẹ quan tâm tới việc giáo dục, ngay cả đôi khi buộc phải nói những điều có khi xem ra không vừa lòng con cái. 

Đức Cha Melina kết luân: Thượng Hội Đồng sẽ còn kéo dài một năm nữa, và Đức HY Müller sẽ là “chiếc la bàn được thừa nhận không mất hướng trong một tư duy yếu đuối”.

Đức Cha Luigi Negri thì mô tả cuốn sách của Đức HY Müller là “khuyến khích tư duy và có tầm quan trọng đối với tương lai”. Ngài nói: “Cuộc khủng hoảng của thời ta trùng hợp với cuộc khủng hoảng của gia đình, một cuộc khủng hoảng nói lên cuộc khủng hoảng của con người: một cuộc phân mảnh sự sống không thương tiếc trong bối cảnh dư luận trái ngược nhau. Cam kết của con người chống lại bản năng của họ đang thất bại; thực tại bị giản lược thành một loạt những đối tượng bị thao túng tùy theo các qui luật có tính kỹ thuật, trong khi cảm thức mầu nhiệm bị biến mất”. 

Ngài trích dẫn triết gia Jacques Maritain. Theo triết gia này, “thời hiện đại là cuộc đấu tranh ý thức hệ, không hề được động viên, giữa lý trí và mầu nhiệm”. Ngày nay, theo ngài, điều “mới lạ” dựa trên một ý niệm đã thất bại, dựa trên cuộc cách mạng nhân học, sau khi tự chứng tỏ là thiếu nhất quán, đã không thể được coi là dụng cụ của canh tân. Trong cuốn sách của Đức HY Müller, kinh nghiệm hôn nhân dựa trên tình yêu nhân bản và trên tính “nhưng không” chứ không trên tính “tiện lợi”. 

Đức Cha Negri kết luận: “Mầm sự sống mới phải được giáo dục trên căn bản Đức Tin theo tư tưởng của Thiên Chúa, chứ không theo tư tưởng của thế gian. Tương lai là của ta bao lâu ta có khả năng đọc được ơn gọi Kitô Giáo trong sự sâu sắc của nó”. 

Kết thúc cuộc hội nghị bàn tròn, Viện Trưởng UER, Linh Mục Luca Gallizia, L.C., nói rằng: “[Đây là] một suy tư sẽ còn tiếp diễn trọn một năm nữa, trong khi nhiệm vụ hàng đầu của ta là cầu nguyện, xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội.

Một cố gắng giáo dục

Nữ tu Mary Ann Walsh, cựu giám đốc thông tin liên lạc của HĐGM Hoa Kỳ, thì cho rằng THĐ là một cố gắng giáo dục tương tự như cố gắng của CĐ Vatican II. Nó cũng là bước tiến đáng kể trong cố gắng của GH nhằm truyền bá xa rộng Tin Mừng. 

Bà kể ra khá nhiều điểm tích cực của THĐ Đặc Biệt lần này:

* THĐ năm 2014 nâng cao đối thoại: những lời thì thầm về người ly dị tái hôn đã trở hành tiếng nói to. 

* GH nhìn nhận có thể có giải pháp mục vụ cho những nan đề đã có lâu nay: không gì chữa trị tốt hơn bằng không khí tươi mát. 

* Có chứng minh đầy đủ rằng tín lý không chết: nhưng chỉ có cái chết mới không thay đổi; cái sống thì có thể thay đổi. Bao lâu tín lý còn giải quyết thực tại hiện nay, nó còn chứng tỏ mình đang sống…

* Nó làm nổi bật sự kiện này: Giáo Hội đưa ra nhiều khả thể cho việc đương đầu với các hoàn cảnh có vấn đề; không thích hợp với chính dòng không có nghĩa không thích hợp chút nào. 

* Tường thuật của truyền thông khiến nhiều người tham gia. Khi tờ New York Times góp phần vào các cuộc bàn luận thông minh về giáo huấn Giáo Hội thì đây là một tiến bộ.

* Cơ cấu THĐ năm 2014 cho phép các cuộc bàn luận đời thực về các vấn đề nhức óc đi vào các tầng cao của Giáo Hội trong khi các giáo dân chứng thực bằng kinh nghiệm sống của họ. Việc các thực tại hôn nhân bước vào tầng tĩnh quyển của các bàn luận ở Vatican là một đóng góp vào việc phúc âm hóa, lớn hơn bất cứ thư mục vụ nào. 

Bà hy vọng THĐ năm 2014 đặt cơ sở cho các thảo luận sâu sắc hơn. Có lẽ nên vượt quá “các người Công Giáo chuyên nghiệp” để tham khảo các giáo dân bình thường nhiều hơn, “những người [vừa ngồi trong các hàng ghế nhà thờ, vừa] phấn đấu giữ cho các đồ chơi không kêu cót két trong lúc có Thánh Lễ”. 

Năm điều đã làm

Linh mục James Martin, Dòng Tên, mô phỏng nữ tu Walsh, cũng liệt kê năm điều THĐ năm 2014 đã làm:

Thứ nhất: đối thoại. THĐ lần này quả là một thượng hội đồng đích thực: đối thoại thực sự, như nhận định của Đức HY Christoph Schoenborn. Điều này nhờ Đức Phanxicô, ngay từ đầu THĐ, đã khuyến khích các nghị phụ nói tự do, bộc trực (parresia). 

Thứ hai: phân rẽ rõ ràng giữa khuynh hướng tập chú vào tín lý và khuynh hướng tập chú vào lòng thương xót. Nhưng hai khuynh hướng này thực ra bổ túc cho nhau, chứ không cạnh tranh với nhau. Linh mục Martin cho biết thoạt đầu ngài rất ái ngại đối với sự phân rẽ này, nhưng nó là hậu quả tất nhiên từ lời mời cởi mở của Đức Phanxicô. 

Thứ ba: trong sáng. Họp báo linh động hàng ngày, các giám mục đưa ra các nhận định rất bộc trực (Đức HY Napier gọi phúc trình giữa khóa là “vô phương cứu chữa”), công bố phúc trình giữa khóa, cả phúc trình của các nhóm, nhất là phúc trình sau cùng kèm theo số phiếu. 

Thứ bốn: về đồng tính. Trước THĐ, vấn đề đề này đã được nêu ra, nhưng nhiều người cho rằng các nghị phụ sẽ không bàn tới, nhưng sau khi nghe ông bà Pirola của Sydney nói tới đứa con trai đồng tính của người bạn được chào đón về nhà cùng người bạn đời cũng con trai của anh ta, dù cha mẹ anh biết rõ và tôn trọng giáo huấn của Giáo Hội, vấn đề này trở thành đề tài nóng bỏng tại THĐ. Linh mục Martin cho rằng dù có nhiều diễn biến tại THĐ, vấn đề này cũng chính thức trở thành đề tài tranh luận trong Giáo Hội. Điều đáng chú ý: dù các đoạn nói về vấn đề này không được THĐ thông qua với đa số 2 phần 3 số phiếu, nhưng theo lệnh của Đức Phanxicô, vẫn không bị gạch khỏi Relatio Synodi(Bản Tường Trình Của THĐ) và vẫn được phổ biến công khai cùng với số phiếu. 

Thứ năm: bước đầu. Dù gì, THĐ này cũng chỉ là giai đoạn khởi đầu. Sau đó, Giáo Hội hoàn vũ sẽ tiếp tục suy tư về các vấn đề đã được nêu ra cho tới THĐ thường lệ vào tháng Mười năm 2015. Từ nay tới đó, còn có “Cuộc Gặp Gỡ Các Gia Đình Thế Giới” tại Philadelphia, chắc chắn có sự hiện diện của Đức Phanxicô… Và điều quan trọng hơn cả là tông huấn hậu THĐ của Đức Phanxicô. Linh mục Martin nhận định như sau: “khi đọc lại các văn kiện của CĐ Vatican II, tôi không quan tâm tới việc Đức HY Ottaviani hay Đức HY Bea nói gì vào lúc ấy, mà chỉ quan tâm tới sản phẩm cuối cùng”. 

Một diễn trình thệ phản?

Đức Cha Thomas Tobin của giáo phận Providence, Rhode Island, dường như không nghĩ như thế. Ngài tỏ ra lo ngại đối với diễn trình thảo luận tại THĐ. 

Trước nhất, ngài cho rằng “không phải là một ý niệm tốt khi cho công bố bản tường trình ‘mới nướng nửa vời’ về các cuộc thảo luận bộc trực đối với các chủ đề nhậy cảm, nhất là vì ta biết rằng truyền thông thế tục sẽ đánh cướp các cuộc thảo luận sơ khởi để phục vụ các nghị trình riêng của họ”. 

Ngài nói rằng rất khó có thể duy trì tính tinh ròng về tín lý mà vẫn đáp ứng được các nhu cầu có tính cảm nghiệm, bản thân và khó khăn của các cặp vợ chồng và gia đình”.

Ngài không đồng ý với quan điểm cho rằng Giáo Hội phải “phù hợp” (accommodate) với các nhu cầu thời đại. Vì làm như thế, “Giáo Hội liều mình đánh mất tiếng nói can đảm, phản văn hoá [đương đại], có tính tiên tri của mình, một tiếng nói thế giới đang cần được nghe”.

Ngài ủng hộ quan điểm của Đức HY Raymond Burke, gọi Đức HY là “phát ngôn viên có nguyên tắc, ăn nói rành mạch và không hề sợ hãi của giáo huấn Giáo Hội”. 

Ngài cũng cho rằng ý niệm để bộ phận đại diện Giáo Hội bỏ phiếu về các áp dụng tín lý và các giải pháp mục vụ làm tôi ngỡ ngàng, vì nó giống như phương thức Thệ Phản”. 

Tưởng cũng nên biết: trước đó, Đức TGM Charles Chaput của Philadelphia, nơi sẽ diễn ra Cuộc Gặp Gỡ Các Gia Đình Thế Giới vào năm 2015, 1 tháng trước THĐ thường lệ về gia đình, cũng cho rằng ngài “hết sức bối rối” vì cuộc tranh luận tại THĐ về giáo huấn của GH liên quan người đồng tính, bởi nó gửi đi một sứ điệp hỗn độn, mà “hỗn độn vốn là của ma quỉ”.

Khác với các THĐ trước đây

Theo đài phát thanh Vatican, trong một cuộc phỏng vấn dài với Đài, Cha Lombardi, phát ngôn viên Tòa Thánh cho hay: “tôi nghĩ đây là một trải nghiệm thực sự đặc biệt, và rất khác với trải nghiệm của các THĐ trước”; không tự đóng mình vào chính mình mà là một hành trình biện phân lâu dài và sâu sắc của cả Giáo Hội như một cộng đồng đang tiến bước; bàn tới không những các vấn đề tín lý mà cả mối tương quan giữa tín lý và thực hành mục vụ. 

Có thể so sánh nó với CĐ Vatican II. Tại CĐ này, Đức Gioan XXIII mời gọi GH hoàn vũ nhập cuộc hành trình sự sống trong mọi chiều kích của nó. Tại THĐ Đặc Biệt, Đức Phanxicô mời gọi GH nhập cuộc hành trình đặc thù hơn tức cuộc hành trình gia đình. Đây là một cuộc hành trình không đơn giản, có liên hệ tới mọi người và đòi một suy nghĩ sâu sắc, có hệ thống về các vấn đề tín lý và thực tiễn. 

Cha nhận định rất hay về tác phong của Đức Phanxicô tại THĐ: Lên tiếng lúc khai mạc, sau đó, im lặng ngồi nghe, để các nghị phụ được tự do phát biểu. Tác phong này “được đánh giá cao và được hữu hiệu phản ảnh trong tính năng động tại THĐ”. Chỉ tới lúc kết thúc, ngài mới tái can thiệp, để “kéo lại với nhau các sợi chỉ của trải nghiệm thiêng liêng tại THĐ [biến chúng] thành một biến cố Giáo Hội và thiêng liêng”. Không có bài diễn văn sau cùng của ngài và cả bài giảng Thánh Lễ bế mạc, “THĐ vẫn chưa hoàn tất, và không được hiểu bằng chìa khóa đức tin từng thực sự linh hứng và động lực hóa nó”. 

Cha bênh vực việc cho công bố bản tường trình giữa khóa, cho rằng đây là thủ tục thông thường của THĐ. Việc công bố này góp phần vào “năng động tính rất thâm hậu trong suy nghĩ và truyền đạt”. Việc cho công bố phúc trình của các nhóm nhỏ cũng là “điều cần thiết và tự nhiên xét về luận lý”, phản ảnh tính trong sáng của việc truyền thông tại THĐ. Cha nhìn nhận có sự tường trình không quân bình của báo giới, vì quá chú trọng tới việc rước lễ của các người ly dị tái hôn hay tới các người đồng tính, nhưng nhờ các cố gắng của Giáo Hội, những người thiện chí đã thực sự hiểu được diễn tiến của THĐ và tham dự tích cực hơn. 

Quan điểm của đại diện anh em

Cũng theo Đài Phát Thanh Vatican, Valérie Duval Poujol, đại diện Liên Minh Baptist Thế Giới tham dự THĐ, người xuất thân từ một gia đình hỗn hợp gồm cả Công Giáo lẫn Baptist, hiện là giáo sư tại Học Viện Công Giáo Paris, thì cho rằng: “Tôi có ấn tượng mạnh bởi phẩm chất tốt trong các trao đổi giữa các nghị phụ THĐ: đôi khi người ta có viễn kiến xa vời và lạnh lùng về Giáo Hội, nhưng ở đây tôi thực sự cảm thấy tình thương cảm tận trái tim các mục tử…

“THĐ là về việc [biết] rằng ta có một số khó khăn và ta cố cùng nhau suy nghĩ về cách hay nhất để nói về Tin Mừng cho người thuộc thế hệ của ta…

“Điều ta chia sẻ chung với nhau giữa người Baptist và người Công Giáo là quan tâm chung đối với việc truyền giáo, người Baptist chúng tôi thực sự là một Giáo Hội truyền giáo và chúng tôi mạnh mẽ cảm thấy rằng đây cũng là ước mong của các nghị phụ THĐ, nên ta phải khuyến khích nhau trong sứ mệnh chung…

“Căn bản chung của ta là Thánh Kinh và tôi rất được các nghị phụ Công Đồng gây xúc động vì các ngài trích dẫn Thánh Kinh trong các bài nói và đó là gia tài chung của ta. Càng đào sâu Thánh Kinh với nhau và càng nối kết với Chúa Giêsu Kitô, ta càng nên giống Người hơn và càng xích lại gần nhau hơn và trở thành các nhà truyền giáo hay chứng nhân cho thế giới…”


Vũ Văn An10/22/2014(vietcatholic)

Kết thúc Thượng Hội Đồng Giám Mục đặc biệt về gia đình

Kết thúc Thượng Hội Đồng Giám Mục đặc biệt về gia đình

VATICAN. Bản tường trình chung kết của Thượng Hội Đồng Giám Mục đặc biệt về gia đình đã được thông qua và công bố chiều tối thứ bẩy, 18-10-2014.

Trong phiên khoáng đại thứ 15 và là phiên cuối cùng, trước sự hiện diện của ĐTC, các nghị phụ đã thông qua Bản tường trình gồm 62 đoạn được đánh số theo thứ tự và được các nghị phụ bỏ phiếu từng đoạn.

Có một số đoạn gây nhiều tranh luận, tuy được thông qua, nhưng không đạt tới mức 2 phần 3 số phiếu. Ví dụ đoạn số 41 nói về việc nhận cho những người ly dị tái hôn dân sự được rước lễ còn bị tranh luận nhiều nhất với 104 phiếu thuận và 74 phiếu chống. Còn đoạn số 55 nói về việc đón nhận những người có xu hướng đồng tính luyến ái, tuy có thay đổi văn bản, và trích dẫn Sách Giáo Lý chung của Hội Thánh Công Giáo nhưng chỉ được 118 phiếu thuận và 62 phiếu chống.

Đoạn số 51 về tình trạng những người ly dị tái hôn cần được săn sóc mục vụ, được thông qua với 155 phiếu thuận và 19 phiếu chống.

Trước tình trạng một số đoạn không có sự đồng thuận của Thượng HĐGM, tuy được đa số phiếu quá bán, nhưng không được đa số 2 phần 3 như thế, ĐTC Phanxicô quyết định vẫn để cho toàn bộ bản tường trình thuộc văn kiện tạm thời và gửi đến các Giáo Hội địa phương để chuẩn bị cho Thượng HĐGM thế giới khóa thường lệ thứ 14 vào tháng 10 năm tới. Ngài cũng cho phép để công chúng, qua các ký giả, được biết mỗi đoạn được bao nhiêu phiếu, để hiểu mức độ đồng thuận của các nghị phụ về từng điểm.

Diễn văn bế mạc
Trong diễn văn bế mạc, sau khi cám ơn các vị trong Văn phòng Tổng thư ký và các vị điều hành khóa họp này cũng như tất cả các nghị phụ, dự thính viên, chuyên viên và cộng tác viên, ĐTC nói:

”Tôi có thể nói một cách thanh thản rằng - với một tinh thần toàn thể tính và công nghị tính - chúng ta đã thực sự sống kinh nghiệm ”Sinodo”, một hành trình liên đới, đồng hành.

Vì là một hành trình - và cũng như mọi cuộc hành trình, đã có những lúc chạy nhanh, hầu như một thắng thời gian và đạt tới đích sớm nhất có thể; có những lúc khác mệt mõi, hầu như muốn nói 'đủ rồi'; có những lúc hăng say phấn khởi. Có những lúc an ủi sâu xa khi nghe chứng tử của các vị mục tử đích thực (Xc Ga 10 và GL 375, 386,387) mang trong con tim một cách khôn ngoan những vui mừng và nước mắt của các tín hữu. Những lúc an ủi và ân phúc, được khích lệ khi nghe những chứng từ của cac gia đình đã tham gia Thượng HĐGM và đã chia sẻ với chúng ta vẻ đẹp và niềm vui đời sống hôn nhân của họ. Một hành trình trong đó người mạnh nhất cảm thấy nghĩa vụ phải giúp đỡ những người yếu nhất, trong đó người giải nhất sẵn sàng giúp đỡ những người khác, kể cả qua những lúc đụng độ với nhau. Và vì là một hành trình của con người, có những an ủi nhưng cũng có những lúc buồn chán, căng thẳng và cám dỗ.

ĐTC đã kể ra một số cám dỗ có thể có:

- Thứ I là cám dỗ cứng nhắc đố kỵ, nghĩa là muốn khép kín trong chữa viết chứ không để cho mình được Thiên Chúa làm ngạc nhiên, Thiên Chúa của những ngạc nhiên, là tinh thần; khép kín trong luật lệ, trong sự chắc chắn về những gì chúng ta biết chứ không phải về những điều mà chúng ta còn phải học và đạt tới. Từ thời Chúa Giêsu, đó là cám dỗ của những người nhiệt thành, những người bối rối, những người ân cần và của những người ngày nay gọi là duy truyền thống (traditionalisti) và cả những người duy trí thức.

- Cám dỗ của những người xuề xòa hủy hoại, nhân danh lòng từ bi đánh lừa, băng bó các vết thương trước khi chữa trị, xức thuốc cho nó; họ chữa trị các triệu chứng mà không chữa nguyên nhân và căn cội. Đó là cám dỗ của những người dễ dãi, những người nhát sợ và cả những người gọi là ”cấp tiến và duy tự do”.

- Cám dỗ muốn biến đá thành bánh, để chấm dứt cuộc ăn chay lâu dài, nặng nề và đau thương (Xc Lc 4,1-4) và biến bánh thành đá, để ném vào những ngừơi tội lỗi, những người yếu đuối và bệnh nhân (Xc Ga 8,7) nghĩa là biến nó thành ”những gánh nặng không thể vác nổi” (Lc 10,27).

- Cám dỗ xuống khỏi thập giá, để làm hài lòng dân, chứ không ở lại trên thập gia để thi hành thánh ý Chúa Cha; khuất phục tinh thần trần thế thay vì thanh tẩy nó và làm cho nó tùng phục Thánh Linh của Thiên cHúa.
- Cám dỗ lơ là đối với kho tàng đức tin, coi mình không phải là người bảo quản nhưng là sở hữu chủ và là chủ nhân, hoặc đàng khác, là cám dỗ lơ là thực tại, dùng một ngôn ngữ tỷ mỉ, và một ngôn ngữ chà nhám để nói bao nhiêu sự mà chẳng nói gì cả! Những thứ đó, người ta gọi là bizantinismi..

Anh chị em thân mến, những cám dỗ đó không được làm cho chúng ta kinh hãi hay ngỡ ngàng và càng không được làm cho chúng ta nản chí, vì không môn đệ nào lớn hơn thầy mình; vì thế nếu Chúa Giêsu đã bị cám dỗ - thậm chí Ngài bị gọi là tướng quỉ Beelzebul (Xc Mt 12,24) - thì các môn đệ của Chúa không thể mong đợi được đối xử tốt đẹp hơn.

Bản thân tôi, tôi sẽ rất lo lắng và buồn nếu không có những cám dỗ ấy và những cuộc tranh luận sôi nổi; nếu không sự chuyển động tinh thần như vậy, như thánh Ignatio (EE, 6) đã gọi, nếu tất cả đều đồng ý và im lặng trong một thứ an bình giả tạo. Trái lại tôi đã thấy và đã nghe - với niềm vui và biết ơn - những diễn văn và những phát biểu đầy niềm tin, lòng nhiệt thành mục vụ và đạo lý, khôn ngoan, thẳng thắn, can đảm và tự do ngôn luận. Và tôi đã cảm thấy rằng thiện ích của Giáo Hội, của các gia đình và quy luật tối hậu là phần rỗi các linh hồn (Xc GL 1752) được đặt trước mắt mình. Và điều này - như chúng ta đã nói ở Hội trường này - không bao giờ đặt lại vấn đề các chân lý nền tảng của bí tích Hôn phối là tính chất bất khả phân ly, một vợ một chồng, chung thủy, sinh sản con cái hay là cởi mở đối với sự sống (Xc GL 1055, 1056 và GS 48).

”Giáo Hội là như thế, là vườn nho của Chúa, là Mẹ đông đảo con cái và là Thày dạy ân cần, không sợ phải xắn tay áo lên để đổ dầu và rượu vào vết thương của con người (Xc Lc 10, 25-37); Giáo hội không nhìn nhân loại từ một lâu đài bằng kiếng để phán xét và xếp loại con người....

Và ĐTC kết luận rằng: ”Anh chị em thân mến, giờ đây chúng ta còn một năm để làm cho những ý tưởng đề nghị được chín mùi, với sự phân định tinh thần đích thực, để tìm ra những giải pháp cụ thể cho bao nhiêu khó khăn và vô số các thách đố mà các gia đình phải đương đầu, mang lại câu trả lời cho bao nhiêu nản chí vây bủa và bóp nghẹt các gia đình.

Một năm để làm việc về bản Tường trình của Thượng HĐGM là bản tóm lược trung thành và rõ ràng về tất cả những gì đã được nói và thảo luận tại Hội trường này và trong các nhóm nhỏ và bản này được trình bày cho các HĐGM như tài liệu chuẩn bị (Lineamenta).

Xin Chúa tháp tùng, hướng dẫn chúng ta trong hành trình này để làm vinh danh Chúa nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, Thánh Giuse! Xin anh chị em vui lòng cầu nguyện cho tôi!

G. Trần Đức Anh OP