Chủ Nhật, ngày 26 tháng 6 năm 2016

Lời Chúa Mỗi Ngày Chúa Nhật 13 Thường Niên, Năm C



Lời Chúa Mỗi Ngày
Chúa Nhật 13 Thường NiênNăm C
Bài đọc: 1 Kgs 19:16b, 19-21; Gal 4:31b-5:1, 13-18; Lk 9:51-62.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Ơn gọi và các điều kiện phải có

Thiên Chúa cho mỗi người chúng ta có mặt trong cuộc đời là cho một lý do, vì Ngài không làm chuyện vô ích. Từ việc chọn Mẹ Maria để cưu mang Con Chúa, Gioan Tẩy Giả dọn đường cho Đức Kitô, đến cha sở họ Ars đưa tội nhân về cho Chúa, Mẹ Terêxa giúp đỡ các người nghèo, chị Terêxa nhỏ chuyên cầu nguyện cho Giáo Hội. Mỗi người chúng ta đều có một ơn gọi đặc biệt; ơn gọi đó là một phần quan trọng, dính liền với sự hiện hữu của chúng ta. Chúng ta phải xin Chúa Thánh Thần soi sáng tìm cho ra và hoàn thành sứ vụ Chúa trao phó.

Các bài đọc hôm nay muốn nêu lên những ơn gọi khác nhau của mỗi người và các điều kiện phải có để chu toàn ơn gọi ấy. Trong bài đọc I, ngôn sứ Elijah vâng lời Đức Chúa đi tìm Elishah và xức dầu tấn phong cho ông làm người thay thế mình để tiếp tục sứ vụ ngôn sứ. Khi Elishah nhận ra điều đó, ông xin phép về nhà giã từ cha mẹ, giết bò làm của lễ hy sinh, và đập tan cày bừa làm củi thiêu của lễ, rồi lên đường theo Elijah. Trong bài đọc II, thánh Phaolô khuyên các tín hữu Galat ý thức về ơn gọi làm Kitô hữu của họ. Khi chịu Phép Rửa, họ được gọi quên mình để sống cho tha nhân, họ được gọi để chết cho xác thịt và sống theo sự hướng dẫn của Thánh Thần. Trong Phúc Âm, qua những hoàn cảnh khác nhau, Đức Kitô liệt kê những điều kiện căn bản người môn đệ cần có. Họ được mời gọi để sống yêu thương, không quá lo lắng của cải vật chất, hay lo cho cha mẹ và gia đình.


KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Ơn gọi ngôn sứ: Elishah đứng dậy đi theo ông Elijah và phục vụ ông.

1.1/ Theo lời Đức Chúa, Elijah chọn Elishah làm người thay thế mình.

Trình thuật hôm nay tường thuật ơn gọi của Elishah. Theo lời của Đức Chúa, ngôn sứ Elijah chọn Elishah và huấn luyện ông thành người tiếp tục công việc ngôn sứ. Mười hai cặp bò chứng tỏ Elishah thuộc gia đình rất giàu có; vì gia đình giầu chỉ có một hay hai con. Khi ngôn sứ Elijah ném tấm áo choàng của mình lên người ông Elishah, ông Elishah hiểu ngay cử chỉ này. Nó tương đương với lễ nghi mặc áo và vào nhà tập của các dòng tu ngày nay. Lời yêu cầu của ông Elishah bình thường, vì ông Elishah phải từ giã cha mẹ. Câu trả lời của Elijah hơi khó hiểu; nhưng có lẽ muốn nói “Tôi không ngăn cản anh làm chuyện đó!”

1.2/ Thái độ dứt khoát của Elishah:

Hành động của Elishah là một hành động can đảm. Ông không tiếc nuối của cải vì ông biết đó là ơn lành Đức Chúa đã ban cho gia đình ông. Ông “bắt cặp bò giết làm lễ tế, lấy cày làm củi nấu thịt đãi người nhà.” Việc làm này chứng tỏ ông sẵn sàng chấm dứt nghề nghiệp của mình để lên đường theo ngôn sứ Elijah trong sứ vụ mới. Ông cũng chẳng hỏi Elijah về nơi ăn chốn ở, nhưng sẵn sàng theo vì ông tin tưởng Thiên Chúa sẽ quan phòng mọi sự cho những kẻ làm việc cho Ngài.

Chúng ta có thể học tấm gương anh hùng của Elishah. Một khi đã quyết định theo Chúa, chúng ta phải dứt khoát và mạnh dạn khước từ tất cả: cha mẹ, sự nghiệp, tài sản... Nếu không dứt khoát, chúng ta sẽ bị cám dỗ để trở về. Thái độ “chân trong, chân ngoài” rất khó để một người có thể trung thành theo Chúa đến cùng.

2/ Bài đọc II: Ơn gọi Kitô hữu: Hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau.

2.1/ Người Kitô hữu được kêu gọi làm con cái của tự do.

Thánh Phaolô viết: “Thưa anh em, chúng ta không phải là con của một người nô lệ, nhưng là con của người tự do. Chính để chúng ta được tự do mà Đức Kitô đã giải thoát chúng ta. Vậy, anh em hãy đứng vững, đừng mang lấy ách nô lệ một lần nữa.”

Quan niệm của thánh Phaolô về tự do hơi khó hiểu vì nó liên quan đến Lề Luật. Trong Thư Rôma, người cắt nghĩa rõ ràng hơn: Đức Kitô đã đến để giải phóng chúng ta khỏi làm nô lệ cho Lề Luật, cho tội lỗi, và cho sự chết. Ba điều này liên quan chặt chẽ với nhau: Để một điều thành tội phải có luật cấm vi phạm, và nếu đã cố ý phạm tội, cái chết là điều không thể tránh khỏi.

Nhiều người định nghĩa sai: “Tự do là muốn làm gì thì làm,” rồi “lợi dụng tự do để sống theo tính xác thịt.” Khi đã làm nô lệ cho xác thịt, con người sẽ thấy ngay họ không còn tự do nữa.

Ví dụ, một người có tự do để chơi bài; nhưng khi đã nghiền chơi bài, họ không còn tự do để không chơi nữa. Họ biết lấy tiền của vợ dành nuôi con để dùng đánh bài là điều không phải; nhưng không thể đè nén lòng ham muốn để đừng làm chuyện ấy.

Tự do đích thực phải hướng con người tới sự thật, tới yêu thương, tới điều thiện hảo, và tới sự sống. Nếu một người nhân danh tự do để cắn xé nhau, người đó đã trở thành nô lệ cho tính xác thịt, cho tội lỗi và sự chết.

2.2/ Người Kitô hữu được kêu gọi để sống theo Thánh Thần.

Thánh Phaolô dạy: “Anh em là hãy sống theo Thần Khí, và như vậy, anh em sẽ không còn thoả mãn đam mê của tính xác thịt nữa. Vì tính xác thịt thì ước muốn những điều trái ngược với Thần Khí, còn Thần Khí lại ước muốn những điều trái ngược với tính xác thịt, đôi bên kình địch nhau, khiến anh em không làm được điều anh em muốn. Nếu anh em để cho Thần Khí hướng dẫn, thì anh em không còn lệ thuộc Lề Luật nữa.”

Đây là những lời dạy phải được cắt nghĩa đúng. Nhiều người đã buộc tội thánh Phaolô xúi dân phá bỏ Lề Luật mà chính Ngài phải nhận là tốt lành vì Luật được Thiên Chúa trao ban qua Moses. Có phải khi người tín hữu được Rửa Tội là họ không cần phải vâng phục Lề Luật nữa không? Thánh Phaolô muốn chúng ta phân biệt hai lối sống:

(1) Sống theo tính xác thịt: là sống theo sự dối trá, làm điều xấu xa (tội lỗi), ghét bỏ nhau, và đem lại sự chết. Như đã nói ở trên tội và Lề Luật có liên quan mật thiết với nhau; nếu chúng ta sống theo Lề Luật là chúng ta sống theo tính xác thịt. Một ví dụ sẽ làm sáng tỏ vấn đề: Luật chỉ đòi con người làm những cái tối thiểu (ví dụ: xưng tội một năm ít là một lần). Nếu chỉ làm những cái tối thiểu, làm sao tiến bộ trên đường nhân đức và nên trọn lành được? Luật đòi bảo vệ công bằng; nhưng nếu chỉ làm theo công bằng đòi hỏi, làm sao có bác ái yêu thương?

(2) Sống theo Thánh Thần: là sống theo sự thật, làm điều tốt lành, yêu thương nhau, và đem lại sự sống. Khi sống bác ái yêu thương, chúng ta không chỉ làm những điều tối thiểu Luật đòi hỏi, nhưng còn vượt xa Luật. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu dạy các môn đệ con đường trở nên trọn lành trong Matthew 5: “Người xưa dạy (Lề Luật): Mắt đền mắt răng đền răng, còn Thầy dạy: Ai vả má bên phải, hãy đưa má bên trái nữa...”

Vì vậy, nếu một người sống theo Thần Khí, họ chu toàn tất cả Lề Luật, vì họ làm những điều tốt lành mà Lề Luật không đòi hỏi.

3/ Phúc Âm: Ơn gọi làm môn đệ: "Cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa."

3.1/ Mục đích của việc theo Chúa:

Nếu một người muốn đi từ Galilee lên Jerusalem, họ có 3 cách: Cách thứ nhất, đi theo đường ven biển. Cách này dễ đi, nhưng phải leo núi rất dốc lên Jerusalem (3600+ ft). Cách thứ hai, băng qua các làng mạc của người Samaria. Cách này dễ đi; nhưng sẽ gặp sự chống cự của các người Samarians như Chúa Giêsu và các môn đệ gặp hôm nay. Cách thứ ba, đi dọc theo sông Jordan tới Jericho, rồi leo núi lên Jerusalem. Cách này tương đối dễ đi hơn cách thứ nhất, vì đường lên núi đỡ dốc thẳng hơn.

Hai môn đệ Giacôbê và Gioan chỉ dừng lại ở mức độ công bằng: Các ông ghét bỏ ai ghét bỏ các ông, và yêu thương ai yêu thương các ông. Nếu chỉ làm như thế, làm sao các ông có thể đem Tin Mừng cho tất cả mọi người? Đó là lý do Chúa Giêsu quở trách các ông, Ngài huấn luyện các môn đệ không phải để luận tội nhưng là để đem mọi người về cho Chúa.

3.2/ Thái độ phải có của người môn đệ Đức Kitô:

(1) Không quá lo lắng đến nhu cầu vật chất: Ngày xưa, giảng đạo từ thành này qua thành khác cách phổ thông và rẻ tiền nhất là đi bộ: đi đến đâu giảng đến đó. Người môn đệ không thể “đi đến đâu làm nhà đến đó” vì rất tốn thời gian mà tiền cũng chẳng có nhiều.

Chúa Giêsu không dấu những ai muốn trở thành môn đệ của Ngài: Họ phải chấp nhận lối sống của khách lữ hành nay đây mai đó. Họ phải chấp nhận lối sống đơn giản vì không thể mang nhiều đồ đạc theo mình trên đường. Người ít đồ đạc nhất là người có thể đi xa nhất. Họ phải tin tưởng Thiên Chúa sẽ nuôi những ai làm việc cho Ngài. Nếu tính toán chi li, họ sẽ không thể lên đường. Đó là lý do Người trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu."

(2) Không quá lo lắng đến cha mẹ: Trước tiên, chúng ta cần xác định Chúa Giêsu không dạy bất hiếu với cha mẹ vì nó đi ngược lại giới răn thứ tư của Thập Giới, và chính Ngài cũng không bất hiếu với cha mẹ Ngài. Ngài đã giao Đức Mẹ cho Thánh Gioan để có người chăm sóc khi Ngài chết đi. Điều Ngài muốn nhấn mạnh ở đây là sự khẩn cấp của việc loan báo Tin Mừng để làm cho triều đại của Thiên Chúa mau tới.
Chúng ta không thể hiểu câu này theo nghĩa đen, vì kẻ đã chết làm sao chôn kẻ mới chết? Điều Chúa muốn nhấn mạnh ở đây: Nếu việc chôn cất cha mẹ ngăn cản việc rao giảng Tin Mừng, đừng cố gắng để về. Thiên Chúa sẽ quan phòng cho có người chôn cất cha mẹ. Hơn nữa, đối với những người có niềm tin, báo hiếu cha mẹ có thể làm qua những việc quan trọng hơn như: dâng lễ, đọc kinh, và làm những việc lành phúc đức chỉ cho cha mẹ. Nếu chỉ vì sợ tai tiếng “bất hiếu” mà về dự đám tang, người ấy không xứng đáng làm môn đệ của Đức Kitô.

(3) Một khi đã theo Chúa, phải dứt khoát và theo đến cùng: Một lần nữa, Chúa không khuyến khích việc bất hiếu. Nếu gia đình ở gần, khoảng cách chỉ một thời gian ngắn có thể về tới như Elishah trong bài đọc I, Chúa sẽ không ngăn cản. Điều Chúa ngăn cản ở đây dành cho những người còn do dự và gia đình ở khoảng cách xa. Nếu về, người đó sẽ mất nhiều thời gian, và nhất là sẽ bị ngăn cản bởi gia đình. Một khi đã quyết định theo Chúa, một người phải dứt khoát như Elishah thì mới theo nổi: giết bò cày, phá cày làm củi. Nếu còn lưỡng lự giữ lại để nếu đổi ý về sẽ còn việc để làm, người ấy sẽ khó lòng vượt mọi khó khăn để theo Chúa đến cùng.


ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúa cho mỗi người chúng ta vào cuộc đời là cho một mục đích. Chúng ta phải tìm ra và thi hành thánh ý Chúa.

- Ơn gọi căn bản nhất là ơn gọi làm Kitô hữu. Ơn gọi này đòi chúng ta phải luôn sống theo sự hướng dẫn của Thánh Thần để thực sự có tự do.

- Nếu Chúa gọi chúng ta trở thành môn đệ làm việc cách riêng cho Ngài, chúng ta hãy khước từ tất cả: tài sản, gia đình, ý riêng để chỉ chú trọng đến việc làm cho con người nhận ra và tin tưởng nơi Thiên Chúa.

Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP


 

Suy Niệm: Làm nên một thân thể Chúa Giêsu




Suy Niệm: Làm nên một thân thể Chúa Giêsu

Tiếp theo chương trình giáo dục đời sống Kitô hữu của chúng ta, sau khi đã cho chúng ta thấy rõ các mầu nhiệm của Chúa chịu chết, sống lại, lên trời và sai Thánh Thần xuống, Lời Chúa hôm nay gợi lên nhiều tư cách mà người tín hữu phải có. Chúng ta hãy quy nhiều điều lại thành một mối và bảo rằng: người muốn theo Chúa phải biết từ bỏ tất cả để được tự do như những con cái Thiên Chúa.

Ðó cũng chỉ là theo gương Chúa Kitô, kết hợp với mầu nhiệm Tử nạn Phục sinh của Người, để trở thành Kitô hữu và trở nên Kitô hữu hoàn toàn hơn. Ðòi hỏi từ bỏ này đã được câu chuyện Êlisê báo trước; rồi được chính Ðức Giêsu xác định, và thánh Phaolô trong thư gởi giáo đoàn Galát khuyến khích chúng ta đem ra thi hành.

1. Êlisê Nêu Gương Từ Bỏ

Bài Sách Các Vua đọc trong thánh lễ hôm nay đưa chúng ta trở về một giai đoạn đen tối trong lịch sử dân Chúa. Vua Israen bấy giờ cấu kết với dân ngoại cưới một công chúa dân ngoại về làm hoàng hậu. Bà này đem tà giáo vào cung điện, cổ võ việc sùng bái ngẫu tượng và đàn áp chính giáo. Tiên tri Êli đứng ra phản đối, kêu gọi dân chúng đừng đi vào con đường tội lỗi ấy. Nhưng ảnh hưởng của kẻ có quyền vẫn thắng. Êli phải "liều lĩnh" thách đố, xin một dấu hiệu bởi trời xuống xác nhận đạo nào là chân thật. Và chúng ta biết câu chuyện xảy ra trên núi Camêlô. Bàn thờ tà giáo vẫn nguội lạnh; còn bàn thờ của Êli đã lập tức được lửa trên trời xuống thiêu đốt lễ vật. Êli thắng... Nhưng để trả thù, hoàng hậu ngoại đạo sai người lùng bắt. Êli phải vội vã trốn đi. Ông lên núi Horeb chỉ muốn chết đi cho rồi vì thấy sứ mạng tiên tri của ông chẳng đi đến đâu trước sức mạnh của vua quan thời bấy giờ.

Thiên Chúa an ủi ông. Không những Người cho Thiên Thần mang lương thực đến bồi dưỡng ông, mà còn sai ông đi xức dầu cho Êlisê làm tiên tri kế nghiệp ông, làm chứng rằng sứ mạng của ông sẽ được tiếp tục và sẽ thành công.

Như vậy câu chuyện này trước hết có giá trị đem lại tin tưởng cho Êli, cho mọi ngôn sứ và tông đồ của Chúa, cho mọi người công chính mà đôi khi bị cám dỗ nản lòng. Thiên Chúa không bỏ rơi những người như vậy. Người chúc phúc cho tương lai của họ vì sứ mạng của họ sẽ tiếp nối cho đến khi hoàn tất.

Áp dụng câu chuyện này vào mùa sau Tử nạn - Phục sinh, chúng ta có thể coi đây như là lời cam kết của Thiên Chúa đối với công việc cứu thế của Ðức Giêsu Kitô. Thập giá Người đã chịu không phải là một thất bại, nhưng là khí cụ cứu độ. Sứ mạng của Người sẽ được tiếp tục trong Hội Thánh... nhưng phải có những người như Êlisê.

Ông này là một nông dân đang cày ruộng, có bản dịch nói ông có 12 cặp bò và đang dẫn cặp bò thứ 12. Có bản lại bảo: Ông phải cày 12 "công" ruộng và vừa xong công đất cuối cùng. Thực ra, ý tưởng chỉ là một vì người ta quen tính mỗi cặp bò phải làm một công đất, và như thế là Êlisê là một nông dân có đất và làm việc chăm chỉ. Ông lại vừa làm xong công việc vất vả để có thể nói, bây giờ sắp được ngồi hưởng huê lợi.

Nhưng chính lại là lúc Êli đi qua. Cũng như sau này Ðức Giêsu sẽ đến gọi Phêrô và các môn đệ đầu tiên khi họ vừa kéo lưới đầy cá vào bờ để sắp sửa đem bán trên chợ. Họ sẽ phải lập tức bỏ tất cả mọi sự để đi theo Chúa. Vậy thì hôm nay Êlisê cũng phải làm như vậy.

Thái độ của Êli hơi khó hiểu. Ông đi qua thấy Êlisê vừa cày xong, ông tung áo khoác phủ lên Êlisê, rồi cứ tiếp tục đi. Nhưng Êlisê đã hiểu. Áo khoác của nhà tiên tri tung lên và rơi xuống trên con người của ông là dấu hiệu nhà tiên tri muốn chụp lấy con người và đời sống của ông, để trối sứ mạng tiên tri cho ông; hơn nữa, để trối chính tinh thần của Êli cho ông. Êlisê hiểu như vậy nên vội vã chạy theo, xin phép được về thăm nhà đã, rồi sẽ đi với Êli.

Chúng ta hãy để ý đến sự việc tiếp theo. Êlisê ngả bò thui trên đống lửa vừa nhóm lên bằng chính các thân cây cày bừa ông đã dùng để cày bừa ruộng đất. Ông muốn thết bà con một bữa ăn trước khi lên đường. Cử chỉ của ông sau này một phần nào cũng được Lêvi tức Mátthêu bắt chước. Ông này đang ngồi thu thuế. Ðược Chúa gọi, ông đứng lên từ bỏ tất cả, rước Chúa về nhà tiếp đãi bạn bè, rồi đi theo Người.

Cử chỉ đãi ngộ này nói lên sự vui mừng gặp được ơn gọi. Nhưng khi lấy chính các thân cày bừa đốt đi làm lửa thui các con bò mình vẫn dùng để cày bừa ruộng đất, Êlisê muốn làm chứng đã dứt khoát từ bỏ nghề cũ, từ bỏ mọi sự, từ bỏ chính cả những phương tiện vẫn nuôi sống mình, để từ nay, hoàn toàn chỉ sống cho lý tưởng. Ông thật sự đã từ bỏ con người và nếp sống cũ để mặc lấy con người và nếp sống mới. Ông còn mãi mãi treo cao tấm gương sáng ngời cho mọi thế hệ những người muốn theo Chúa, trong đó có tất cả chúng ta. Ðức Giêsu muốn làm hoàn tất mọi lời tiên tri; nên hôm nay Người đã xác định với chúng ta trong bài Tin Mừng về những gì chúng ta phải từ bỏ.

2. Chúa Giêsu Dạy Phải Từ Bỏ Những Gì

Luca viết rằng: đã đến buổi Ðức Giêsu siêu thăng, Người liền quả cảm đi lên Giêrusalem. Người biết đã đến lúc sẽ bị treo lên thập giá, đồng thời cũng sẽ là lúc được cất nhắc về Trời. Người cương quyết đi lên Giêrusalem để chịu chết cũng như để vượt qua. Người chấp nhận đau khổ, chứ không trốn tránh. Nhưng các môn đệ có như vậy không?
Họ đã từ bỏ mọi sự mà theo Người. Nhưng có thể nói họ mới chỉ đã bỏ cái bề ngoài thôi. Còn tâm hồn họ thì chưa quả cảm và quyết liệt đâu. Và như vậy sẽ rất nguy, vì họ có thể đã từ bỏ những sự này để mong được những sự khác to lớn hơn, quý giá hơn mà họ tưởng cũng chỉ nằm trên bình diện của cuộc đời trần gian này. Bề ngoài họ đã là những Êlisê, vì họ cũng đã từ bỏ lưới thuyền và bà con thân thuộc để đi theo Ðức Giêsu. Nhưng, Người còn đòi họ phải từ bỏ chính bản thân họ nữa, như Người đang đi lên Giêrusalem đây để từ bỏ mạng sống mình.

Các môn đệ chưa sẵn sàng như Người. Thái độ của Gioan và Giacôbê làm chứng điều này. Hai ông có óc muốn được "ngồi" tức là "được cai trị" ở hai bên tả hữu Ðức Kitô trong vinh quang của Người. Họ muốn đưa mình lên chứ đâu có muốn rơi mình xuống thành hạt lúa gieo xuống đất như Ðức Giêsu đã có lần ví sự chết của Người. Và các môn đệ khác cũng vậy thôi. Ngồi ở bàn tiệc ly, họ sẽ tranh luận ai là người lớn nhất trong Nước Trời. Tức là người nào cũng muốn "vinh thân". Thế nên hôm nay thấy dân Samari không muốn tiếp rước Ðức Giêsu, họ muốn xin lửa trời xuống đốt cả thành này.

Có việc gì mà họ phải tức đến như vậy? Danh dự của Thầy mình bị xúc phạm ư? Không phải thế. Nếu chỉ có một mình Người đến, thì cần gì Người phải cho báo trước? Và dân Samari sẽ chẳng để ý đến việc Người đi qua và ở lại ít ngày. Sách Tin Mừng Gioan kể đã có lần Người đã tiếp chuyện một phụ nữ ở Samari và dân thành đã mời Người với môn đệ ở lại hai ngày (4,40).

Hôm nay có những lý do khác thường. Ðức Giêsu lên Giêrusalem để dự lễ Vượt qua. Người đi công khai và rõ ràng với mục đích đó. Người còn đi với cả một đoàn đông đảo. Dân Samari ghét những cuộc hành hương như thế này. Có thể nói cả năm, không khi nào họ khó chịu với người Do Thái bằng các dịp những người này hành hương lên Giêrusalem chầu lễ. Mối bất hòa sâu xa giữa hai dân được khơi lại vì một bên thì bảo chỉ có Giêrusalem là có phụng tự chân thật; còn bên kia thì bảo thờ phượng ở núi Samari đây cũng được... Chưa đến lúc Chúa Giêsu leo lên cây thập giá để kéo hai dân lại gần nhau, trong một phụng vụ duy nhất nơi thân thể của Người.

Do đó Người chấp nhận thái độ của dân Samari hôm nay. Người đi sang làng khác khi không được tiếp rước.
Còn các môn đệ thì không chịu được. Họ không thể chấp nhận có những người dám cản trở bước đường họ đi.
Dĩ nhiên, họ không dám nghĩ đây là bước đường của họ. Họ đang đi theo Chúa. Họ đang làm việc cho Người. Họ đang đưa đường lối của Người đi xa hơn. Họ tức giận "Vì Chúa" và muốn thay thế Người, bắt chước Êli xưa, xin lửa trời xuống đốt thành thù nghịch này, làm như thể Người cũng chỉ là một Êli hay một tiên tri nào khác. Nhưng Chúa không phải như thế. Người đến để cứu rỗi chứ không phải để sát phạt. Và con đường Người đang đi là con đường từ bỏ bản thân để cứu thế. Môn đệ và những ai muốn theo Người phải hiểu như vậy và phải đi vào đường hẹp của mầu nhiệm thập giá.
Lợi dụng có kẻ xin đi theo Người, Chúa Giêsu đem bài học ấp ủ trong lòng ra để dạy môn đệ. Người nói: "Con cáo có hang, con chim có tổ, Con Người không có nơi tựa đầu". Người cho môn đệ biết họ sẽ không thấy Người ngự trên ngai và họ đừng mong được danh vọng thế gian khi đi theo Người. Có thể Ðức Giêsu đã muốn gợi lên số phận của Người khi bị treo trên thập giá sẽ không có nơi dựa đầu.
Ðối với Luca, câu nói đây còn diễn tả đúng cuộc đời "truyền giáo không ngừng" của Chúa (và của Phaolô sau này) không bao giờ dừng lại nơi nào có thể gọi là nhà riêng của mình. Dù sao Lời Chúa nói hôm nay cũng mạnh mẽ và quyết liệt. Những người đi theo Chúa phải dứt khoát từ bỏ mọi sự và không được có ý tưởng được yên thân, huống nữa là vinh thân ở đời này.

Hai câu chuyện sau dường như chỉ diễn tả thêm ý tưởng của câu chuyện vừa xảy ra. Một người khác xin Ðức Giêsu cho phép về nhà làm lễ an táng cha rồi sẽ đi theo Người. Nhưng Người bảo hãy để kẻ chết chôn kẻ chết, còn "anh cứ đi rao giảng Nước Thiên Chúa".

Câu trả lời làm chúng ta sửng sốt. Ðức Giêsu tàn nhẫn đến như vậy sao? Chắc không phải như thế. Trước hết câu chuyện phải làm chúng ta bỡ ngỡ. Vì sao một người có cha vừa nằm xuống có thể có mặt trong đám đông đi theo Ðức Giêsu để Người nhìn thấy và gọi anh? Hay là ở đây, Luca muốn công kích tục lệ hủ lậu làm ma chay cả tháng trời và tốn phí rất nhiều? Ðúng hơn tác giả muốn nhấn mạnh và đối chọi việc rao giảng Nước Thiên Chúa là sứ mệnh vinh quang cao cả không được đem gắn liền vào việc tang chế là hình ảnh gợi lên hình phạt của tội lỗi. Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết, tức là để người thế gian lo việc thế gian. Người đi rao giảng Nước Trời phải để hết lòng lo việc Nước Trời. Không nên lấy bình cũ đựng rượu mới; không được giữ não trạng cũ khi đi theo Chúa.

Câu chuyện thứ ba cũng phải hiểu như vậy. Có người xin về thăm gia đình trước khi đi theo tiếng Chúa gọi. Rõ ràng Luca có vẻ muốn nhớ lại chuyện Êlisê như bài đọc sách các Vua hôm nay kể. Bấy giờ Êlisê được phép về thăm nhà.

Còn ở đây, Ðức Giêsu từ chối và tuyên bố: "Kẻ vừa tra tay cầm cày vừa ngó lại sau là người không xứng đáng với Nước Thiên Chúa". Chắc chắn Luca muốn nói rằng: Tân Ước đòi hỏi hơn Cựu Ước. Nước Trời đã đến, không thể chậm chạp được nữa. Không được có một bận tâm nào khác khi muốn đi theo Chúa. Người đang quả cảm lên Giêrusalem làm công việc cứu thế. Ai làm chậm bước chân Người đều bị bỏ lại đàng sau. Những môn đệ muốn đi theo Người phải từ bỏ tất cả và hy sinh tất cả để đi vào con đường thánh giá, con đường Người đang đi.

Mấy câu chuyện ở đây đã dùng hình thức táo bạo nhất để khẳng định tính chất khẩn trương và đòi hỏi của ơn gọi.
Hiểu như vậy, chúng ta dễ chấp nhận những hình thức kia; và thấy rằng quả thật Ðức Giêsu đòi hỏi người ta không được vịn vào cớ nào, lý nào, luật nào để cản trở Nước Thiên Chúa.

Ðó cũng là điều mà Phaolô muốn nói với chúng ta trong bài thư hôm nay.

3. Phaolô Kêu Gọi Chúng Ta Hãy Giải Thoát Mình Khỏi Mọi Cầm Giữ

Người nhắc nhở giáo dân Galát nhớ rằng tất cả chúng ta đã được Chúa Kitô giải thoát để thật sự sống tự do như con cái Thiên Chúa, thế mà có những người để mình lại rơi vào những thứ kìm kẹp cũ. Ở thời Phaolô không thiếu gì giáo dân lại mắc mưu người Do Thái. Họ tưởng lại phải chịu cắt bì và giữ luật Môsê mới được cứu độ. Trong bài thư hôm nay, Phaolô nhắc lại việc Ðức Giêsu đã giải thoát chúng ta khỏi luật pháp cũ và các tục lệ của Do Thái giáo.

Chúng ta không phải lo về phương diện này. Nhưng áp dụng lời Phaolô rộng rãi ra, chúng ta cũng hãy nhớ rằng Chúa Kitô đã giải thoát chúng ta khỏi những quan niệm sai lầm về đời sống. Những Kitô hữu nào còn tin nhảm nhí và sợ hão huyền là những người lại đã rơi vào những trò ma chước quỷ của thời trước khi chịu thánh tẩy. Và Công đồng Vatican II có những giáo lý soi sáng hướng dẫn chúng ta sống đạo một cách mới mẻ và chân thật. Thế mà nhiều người vẫn không chịu tìm hiểu và nghe giảng để canh tân tâm hồn và đời sống cho mới mẻ. Họ còn bị cầm giữ trong những lề lối cũ và chưa biết sống theo đà tiến của Ơn Thánh Thần hằng làm việc trong Hội Thánh.

Nhưng trong bài thư này, Phaolô cũng nói đến những sự ràng buộc khác là xác thịt. Khi chịu phép rửa tội, chúng ta đã đóng đinh xác thịt vào thánh giá Chúa Kitô. Chúng ta đã từ bỏ nếp sống có nhiều ham muốn không chính đáng của xác thịt. Thế mà rồi chúng ta lại để cho xác thịt đòi hỏi lại. Chúng ta lại làm những việc của xác thịt mà tựu trung chỉ là những hình thức ích kỷ muốn vinh thân chứ không muốn phục vụ, gây ra nếp sống xã hội chèn ép nhau chẳng hạnh phúc gì. Ðang khi lẽ ra chúng ta phải sống theo tinh thần và Thần Khí Chúa Giêsu Kitô Phục sinh. Chúng ta phải tiếp tục cứu thế bằng việc xả thân xây dựng hạnh phúc chân thật cho xã hội loài người được cứu vớt. Nhưng tiếc thay, chúng ta lại bỏ đường lối Phúc Âm đã giải thoát chúng ta khỏi các đòi hỏi xác thịt. Chúng ta trở về suy nghĩ, ham muốn, hành động y như thể chưa bao giờ chịu phép rửa tội. Và như vậy chúng ta lại rơi vào vòng tội lỗi, bỏ phí ơn giải thoát của Ðức Giêsu Kitô.

Lời Chúa hôm nay bảo chúng ta đã cầm cày thì đừng ngó lại đằng sau nữa, đã đi theo Chúa thì đừng trở về những hành động của thế gian xưa nữa, kẻo không những không được như Êlisê và các môn đệ ngày xưa của Chúa, mà còn làm mất uy tín đạo vì nếp sống xã hội ích kỷ thiếu lòng thương yêu nhau. Chúa Giêsu Kitô đã giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi là để chúng ta sống theo Thần Khí của Người là Thánh Thần yêu thương đang thúc đẩy con cái của Chúa phải xả thân cứu thế.

Ðiều này thật rõ ràng trong thánh lễ. Chính ở đây chúng ta phải họp để cùng với mọi anh chị em dự lễ làm nên một thân thể Chúa Giêsu. Mình Thánh Chúa chúng ta dâng và lãnh nhận rõ ràng muốn xây dựng tình hiệp nhất. Nhưng chúng ta chỉ tham dự thánh lễ chân thật và hiệu nghiệm khi bằng lòng đi vào mầu nhiệm Tử nạn Phục sinh, muốn chôn vùi, từ bỏ con người cũ và nếp sống cũ để mặc lấy con người và nếp sống mới do Thánh Thần ban cho. Ai thực hành như vậy sẽ thấy rõ ràng được nhẹ nhõm giải thoát. Các đòi hỏi xác thịt hết giam hãm họ và họ sẽ được tự do của con cái Thiên Chúa. Chúng ta hãy cố gắng trở nên những con người như vậy.

(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa
của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

Đức Khiêm Nhường và Đức Mến của Thánh Phêrô

Tác giả: 
 Lm. Anthony Trung Thành


Đức Khiêm Nhường và Đức Mến của Thánh Phêrô

Lễ kính Thánh Phêrô và Phaolô Tông đồ
Ngày 29 tháng 06

Hôm nay, cùng với Giáo Hội chúng ta hân hoan mừng kính hai thánh Phêrô và Phaolô Tông Đồ. Giáo họ chúng ta mừng lễ kính thánh Phêrô một cách đặc biệt, vì Ngài là bổn mạng của Giáo họ. Vì vậy, trong bài chia sẻ hôm nay, tôi xin được phép gợi ý suy niệm đôi nét về vị thánh bổn mạng của chúng ta.

Thánh Phêrô sinh tại Bethsaida, miền Galilea, xứ Palestine. Ngài là con trai của ông Giona, là em của Thánh Anrê, làm nghề đánh cá ở Caphanaum (x. Mt 4,23). Phêrô đã có vợ (x. Mt 8,14-15). Qua sự giới thiệu của Anrê, Phêrô đã gặp được Chúa Giêsu và được Chúa Giêsu đặt tên là Kêpha (x. Ga 1,42). Phêrô là một trong những môn đệ đầu tiên được Chúa Giêsu kêu gọi làm môn đệ. Ngài là một trong ba môn đệ thân tín nhất của Chúa Giêsu. Trong danh sách các Tông đồ, Ngài luôn được xếp hàng đầu (x. Mt 10,2-4) và tên của Ngài luôn được nhấn mạnh (x. Mt 10,2). Thánh Phêrô luôn là người hoạt bát, lanh lợi, thường đại diện cho các Tông đồ để hỏi hay trả lời những câu hỏi của Chúa Giêsu. Phêrô đã được Chúa Giêsu giao trách nhiệm làm đầu Giáo hội do chính Ngài thiết lập. Được Chúa Giêsu tín nhiệm và giao trách nhiệm quan trọng như vậy, đó chính là nhờ sự chân thành, lòng quảng đại và nhất là sự khiêm nhường và lòng mến của Thánh nhân.

1. Đức khiêm nhường của Thánh Phêrô

Thánh Phêrô sống rất khiêm nhường trước mặt Chúa và mọi người. Sự khiêm nhường đó được thể hiện qua những hành động sau đây:

Khi Phêrô và một số các Tông đồ thả lưới suốt đêm mà không bắt được con cá nào, Chúa Giêsu bảo Ngài rằng: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá” (Lc 5,4). Nghe Chúa bảo tiếp tục thả lưới, chắc chắn Phêrô không muốn, vì các ông đã sử dụng hết tài trí của những ngư phủ chuyên nghiệp và “Đã khó nhọc sốt đêm nhưng không bắt được con cái nào”(x. Lc 5,5). Nếu chúng ta trong trường hợp của Phêrô, chắc chắn chúng ta sẽ từ chối yêu cầu của Chúa Giêsu, nhưng với Phêrô thì khác. Ngài nói:“Vâng lời Thầy nên con thả lưới” (x. Lc 5,5). Hành động “vâng lời” của Phêrô trong lúc này là bằng chứng nói lên sự khiêm nhường của Ngài. Đức khiêm nhường của Phêrô còn được thể hiện cách rõ nét hơn khi ông thấy “mẻ cá lạ lùng”. Tin mừng kể lại rằng: Phêrô đến sụp lạy dưới chân Chúa và thưa Người rằng: “Lạy Thầy, xin hãy tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi” (x. Lc 5,8). Ngài làm như vậy, vì Ngài cảm thấy mình tội lỗi, bất xứng không xứng đáng đứng gần trước sự cao cả, thánh thiện của Chúa
.
Khi Phêrô biết được Chúa Giêsu hiện ra đi trên mặt biển. Ông xin Thầy truyền cho mình cũng đi trên mặt biển để đến với Ngài. Chúa truyền cho ông và ông đã đi. Nhưng đi được một lúc, ông bị lún xuống. Ông khiêm tốn  kêu xin Chúa rằng: “Lạy Thầy, xin cứu con”(Lc 14,30).

Với cái nhìn dịu hiền của Chúa Giêsu sau khi ông chối Thầy ba lần, Phêrô đã ra ngoài ăn năn khóc lóc (Lc 22,62). Kể từ đó về sau, mỗi khi nghe gà gáy, Phêrô lại ăn năn khóc lóc về tội lỗi của mình. Ăn năn khóc lóc về tội lỗi của mình là thái độ của một con người khiêm nhường.

Khi Chúa Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn. Vì lòng thành, ông không muốn Thầy mình phải khổ, nên ông đã can ngăn Chúa. Chúa Giêsu mắng ông một cách thậm tệ: “Satan, lui lại đằng sau Thầy !”(x. Mt 16, 21-23). Phêrô vẫn không một chút phản ứng gì chứng tỏ ông trách móc Chúa.

Sau này, khi đã được Chúa Giêsu trao phó làm đầu Giáo hội, Phêrô vẫn sống khiêm tốn với mọi người, đặc biệt là với các Tông đồ khác. Tương truyền kể lại rằng, Phêrô chịu chết tử đạo tại đồi Vatican với hình khổ thập giá. Trước khi chịu tử đạo, Ngài xin được đóng đinh đầu lộn ngược xuống đất vì Ngài nghĩ mình không xứng đáng để nên giống Thầy mình.

Như vậy, Phêrô là một vị thánh hết sức khiêm nhường. Nhờ có đức khiêm nhường mà Chúa Giêsu đã tin nhận Phêrô và trao cho ông chức vụ quan trọng là lãnh đạo Giáo hội.

2. Đức mến của Thánh Phêrô

Từ khi đáp lại lời mời gọi theo Chúa Giêsu, Phêrô đã thể hiện lòng yêu mến của mình đối với Thầy Giêsu bằng nhiều cách thức khác nhau.

Khi Chúa Giêsu cảnh cáo ông: “Hết thảy các ngươi sẽ vấp ngã vì Ta như đã có lời viết: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên và đàn chiên sẽ tán loạn” (Mc 14,27). Phêrô đã thề thốt với Thầy rằng: “Dù cho mọi người có vấp ngã đi nữa nhưng con thì không bao giờ”(Mc 14,29).

Khi Chúa Giêsu báo trước, ông sẽ chối Thầy ba lần, Phêrô đã thề độc rằng: “Dù có phải cùng chết với Thầy con cũng không chối thầy”(Mc 14,31).

Khi Chúa Giêsu giảng dạy về bánh hằng sống, nhiều môn đệ bỏ Ngài mà đi, vì họ cho rằng những lời giảng dạy của Chúa Giêsu “quá chói tai” (x. Ga 6,60). Chúa Giêsu quay sang hỏi Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” (Ga 6,67). Thánh Phêrô trả lời ngay rằng: “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai, Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”(Ga 6,68).

Trong vườn cây dầu, khi quân dữ đến bắt Chúa Giêsu. Vì muốn bảo vệ Thầy mình, Phêrô đã rút gươm và chém đứt tai một người đầy tớ…(x.Ga 18,10).

Tất cả những lời nói và hành động trên đây của Phêrô đều phát xuất từ lòng yêu mến Chúa, vì muốn được bảo vệ Thầy cho đến cùng. Chúa Giêsu biết điều đó, nên trước khi trao sứ mệnh dẫn dắt các tông đồ, Ngài muốn Phêrô công khai tỏ bày lòng yên mến của mình. Chính câu trả lời của Phêrô lại một lần nữa khẳng định lòng yêu mến của mình một cách chân thành (x. Ga 21, 15-17). Chúa hỏi ba lần: “Phêrô con có yêu mến Thầy hơn những người này không?” Phêrô trả lời ba lần: “Lạy Thầy, Thầy biết hết mọi sự, Thầy biết con yêu mến Thầy.”

3. Bài học cho mỗi người chúng ta hôm nay

Thứ nhất, chúng ta hãy bắt chước thánh Phêrô luôn sống chân thành, quảng đại với mọi người. Đặc biệt, hãy noi gương Ngài luôn biết sống khiêm nhường trước mặt Chúa và mọi người: khiêm nhường là mẹ mọi nhân đức. Kẻ khiêm nhường luôn được Chúa yêu thương và mọi người quý mến. Trái lại, kẻ kiêu ngạo không những bị Chúa ghét mà mọi người cũng không ưa.

Thứ hai, chúng ta hãy bắt chước Thánh Phêrô về lòng mến Chúa: mến Chúa thực lòng, mến Chúa chân thành, mến  Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự… Để có thể nói được với Chúa như Thánh Phêrô rằng: Chúa biết mọi sự, Chúa biết con yêu mến Chúa.

Thứ ba, chúng ta phải yêu mến Giáo hội Chúa bằng cách: chu toàn bổn phận của một người kitô hữu trong giáo xứ; bảo vệ Giáo hội khi cần; đóng góp khả năng của mình để xây dựng Giáo hội; luôn cầu nguyện cho Giáo hội, đặc biệt là cho Đức Giáo Hoàng. Khi Phêrô bị bắt, bị giam trong tù, các kitô hữu khắp nơi đã đồng tâm cầu nguyện cho Ngài. Chính vì thế, Chúa đã sai thiên thần đến để giải cứu cho Ngài (x. Cv 12,1-11). Ngày hôm nay, Giáo hội vẫn luôn bị chống đối, bách hại cách này hay cách khác, chúng ta hãy luôn hiệp ý cầu nguyện cho Giáo hội, cách riêng cho Đức Giáo Hoàng để Ngài được đứng vững và vượt qua những gian nan thử thách.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa đã lập nên Giáo hội và đặt Thánh Phêrô làm thủ lĩnh. Nhờ lời chuyển cầu của Thánh Nhân, xin Chúa luôn gìn giữ các thành phần trong Giáo hội để mọi người biết đi đúng đường lối của Chúa. Sau hết, xin cho mỗi người chúng con luôn sống xứng đáng là thành viên của Giáo hội bằng cách sống khiêm tốn và hết lòng yêu mến Chúa. Amen.

Lm. Anthony Trung Thành

Diễn Văn của Đức Thượng Phụ Tối Cao Karekin II, và của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, tại Buổi Gặp Gỡ vì Hòa Bình ở Yerevan, Armenia

Diễn Văn của Đức Thượng Phụ Tối Cao Karekin II, và của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, tại Buổi Gặp Gỡ vì Hòa Bình ở Yerevan, Armenia

Tác giả: 
 Vũ Văn An

Ngày thứ Bẩy, 25 tháng Sáu, sau khi viếng đài kỷ niệm diệt chủng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã đáp máy bay tới Gyumri và ở đây, ngài cử hành Thánh Lễ đầu tiên của ngài tại Armenia. Sau đó, vào buổi chiều, sau khi viếng hai nhà thờ chính toà của Gyumri, một của Chính Thống Giáo, một của Công Giáo, ngài lại đáp máy bay trở lại Yerevan và ở đây, ngài đã cùng Đức Thượng Phụ Tối Cao Karekin II của Giáo Hội Tông Truyền Armenia cử hành nghi thức đại kết cầu nguyện cho hòa bình tại Công Viên Thành Phố.

Diễn văn của Đức Karekin II

Trong nghi thức trên, Đức Tổng Thượng Phụ Karekin II đã đọc bài diễn văn sau đây do chính Tòa Thánh công bố, một điều khá đặc biệt, vì Tòa Thánh thường chỉ phổ biến các bài diễn văn của Đức Giáo Hoàng mà thôi:

“Phúc thay những người kiến tạo hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5:9)

Kính thưa Đức Thánh Cha, người anh em thân mến trong Chúa Kitô,
Kính Thưa Tổng Thống Cộng Hòa Armenia,
Kính thưa anh em thiêng liêng đầy ơn thánh và các tín hữu thân mến

Với lời ca ngợi thánh danh Thiên Chúa Tối Cao trên môi miệng, hôm nay, tại trung tâm thủ đô Yerevan này, dưới cái nhìn diễm phúc của Núi Ararat có ý nghĩa thánh kinh, chúng ta đã tụ họp nhau để cầu nguyện chung. Từ lãnh thổ của Nôê mà từ đó Thiên Chúa đã cho mọc lên cầu vồng hòa bình, chúng ta cất cao lời khẩn nguyện của chúng ta lên trời cùng với người anh em thân yêu của chúng ta trong Chúa Kitô, Đức Giáo Hoàng Phanxicô, cầu cho việc thiết lập hòa bình trên thế giới và cho cuộc sống an ninh và thịnh vượng. Chúng ta xúc động khi thấy cầu nguyện với chúng ta tại công viên này còn có các nạn nhân chiến tranh, nạn nhân khủng bố, và nạn nhân bạo lực vốn là người tị nạn từ Azerbaijan cũng như từ Syria, và Iraq. Với niềm hy vọng vào Thiên Chúa, họ đang chờ những ngày hòa bình để có thể trở về quê cha đất tổ của họ.

Thực vậy, một thập niên rưỡi trước đây, chúng ta đã chào mừng thiên niên kỷ thứ ba với niềm hy vọng rằng nó sẽ khởi đầu cho việc sống chung trong tình liên đới giữa các dân tộc và sự hợp tác tốt đẹp giữa các quốc gia để tạo ra một thế giới hòa bình và công lý. Ây thế mà, ngày nào, ta cũng nghe thấy các tin tức gây bối rối về các cuộc chiến tranh gia tăng, các hành vi khủng bố, các đau đớn khôn tả, các mất mát không thể nào thay thế được. Trẻ em, thiếu niên, phụ nữ, và người già tại nhiều nơi trên thế giới, thuộc các quốc tịch, các tôn giáo và tuyên tín khác nhau, đang trở thành nạn nhân của vũ khí giết người và bạo lực dã man, hoặc buộc phải chọn con đường tị nạn, vượt qua các khó khăn không thể nào giải thích được, mong tìm được nơi trú ẩn an toàn.

Đúng một thế kỷ trước đây, quốc gia chúng ta cũng đã phải bước cùng một con đường đó, cũng rơi vào một tình thế nguy kịch, trong đó, do cuộc Diệt Chủng Người Armenia, quốc gia chúng ta đã mất đa số lãnh thổ quê hương và sau khi chịu con số 1 triệu rưỡi tử đạo, đã chiến đấu đòi quyền hiện hữu. Cả hôm nay nữa, quốc gia chúng ta lại phải sống trong tình thế khó khăn của một cuộc chiến tranh không tuyên chiến, phải bảo vệ hoà bình ngay trong biên giới quê hương mình với một giá cao và quyền của người dân Nagorno-Karabakh được sống tự do trong nôi mẹ của mình. Các làng mạc Armenia từng bị đánh bom và tàn phá, binh sĩ bảo vệ hòa bình cũng như trẻ em đang độ đến trường bị giết và bị thương, các dân thường yêu hòa bình và không vũ trang từng bị tra tấn.

Khi đương đầu với các khó khăn này, nhân dân chúng ta vẫn có lòng tương cảm, đối với các đổ nát và mất mát đang liên tiếp diễn ra tại Cận Đông, đối với các hành vi khủng bố đã và đang diễn ra tại các thành phố lớn của Âu Châu, tại Nga, tại Hiệp Chúng Quốc, tại Á Châu và Phi Châu, và đối với các di sản tôn giáo và văn hóa đang bị phá hoại cách tàn nhẫn trong các vùng có tranh chấp. Biết bao địa điểm thánh thiêng đã bị xúc phạm và biết bao nghệ phẩm giá trị bị tiêu hủy tại Syria, Iraq, và tại các quốc gia Đông Phương và Phi Châu? Biết bao cây thập giá bằng đá đã bị tiêu hủy ở Azerbaijan? Vùi sâu dưới những hoang tàn, đau đớn vì mất mát và thiếu thốn ấy, là những giá trị và xúc cảm của linh hồn con người.

Trong những tình huống như thế, sứ mệnh của các Giáo Hội Kitô và của các nhà lãnh đạo tôn giáo không thể chỉ tự giới hạn vào việc giúp đỡ các nạn nhân, an ủi họ, và chăm sóc mục vụ cho họ. Các biện pháp thực tế hơn cần được sử dụng trên đường tìm kiếm hòa bình bằng cách củng cố các cố gắng của chúng ta nhằm ngăn chặn sự ác, bằng cách phát huy tinh thần yêu thương, liên đới và hợp tác trong các xã hội qua cuộc đối thoại đại kết và liên tôn, phù hợp với mệnh lệnh của Thiên Chúa, “phúc cho những người kiến tạo hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con cái Thiên Chúa” (Mt 5:9).

Kính thưa Đức Thánh Cha, hiển nhiên, việc phục vụ của ngài quả đang phản ảnh sự tận tụy hết lòng của ngài đối với mệnh lệnh của Thiên Chúa về hòa bình trên thế giới và hòa giải giữa các dân tộc. Một trong các chứng từ về điều này là Thánh Lễ long trọng của ngài, cử hành năm ngoái tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô, nhân dịp một trăm năm Cuộc Diệt Chủng Armenia để tưởng niệm các nạn nhân vô tội của chúng tôi, khi, trong sứ điệp của ngài, ngài đã nói lên sự cấp thiết phải lập lại công lý và ngài đã quả quyết “Che đậy và bác bỏ tội ác là như để một vết thương cứ tiếp tục chẩy máu mà không chịu băng bó nó!”.

Năm ngoái, được hướng dẫn bởi cùng nguyên tắc trên, nhiều quốc gia và tổ chức mới, một lần dứt khoát, đã kết án cuộc Diệt Chủng Armenia, trong đó có Đức Quốc vốn là đồng minh của Thổ Nhĩ Kỳ thời Thế Chiến I; nước này trong những ngày gần đây đã nhìn nhận cuộc Diệt Chủng chống lại người Armenia.

Nhân dân chúng tôi biết ơn Đức Thánh Cha và mọi người bênh vực và bảo vệ công lý, và kỳ vọng rằng Thổ Nhĩ Kỳ, nghe theo sứ điệp của ngài và lời kêu gọi của nhiều nước cũng như nhiều định chế quốc tế, sẽ chứng tỏ đủ can đảm để giáp mặt với lịch sử, chấm dứt việc phong tỏa Armenia một cách phi pháp và ngưng hẳn việc hỗ trợ các vụ khiêu khích quân phiệt của Azerbaijan nhắm chống lại quyền của người Nagorno-Karabakh được sống trong tự do và hòa bình.

Quả thực, hoà bình sẽ không thể nào thực hiện được nếu không có công lý, mạng sống con người không thể trở thành đề tài cho các suy đoán và không thể bị làm ngơ. Như Thánh Tông Đồ nói, “Thiên Chúa không tỏ đầu óc phe phái, nhưng ở mọi quốc gia, bất cứ ai kính sợ Người và làm điều đúng đều được Người chấp nhận” (Cv 10:34-35). Chỉ có thứ công lý biết bám rễ trong việc bảo vệ các quyền lợi của các cá nhân và của các dân tộc, mới có thể trở thành nền tảng vững chắc để ngăn ngừa tội ác chống nhân loại mà thôi, và mới là con đường thành công nhất dẫn đến một giải pháp toàn diện cho cuộc tranh chấp.

Với một trái tim tha thiết, chúng ta khẩn cầu Thiên Chúa để mục tiêu trên được thực hiện, ngõ hầu Người nghe thấy lời cầu nguyện của chúng ta và khi hậu hĩnh đổ tràn các ơn của Chúa Thánh Thần xuống, Người sẽ đội triều thiên cho tình thương huynh đệ và sự hợp tác của các Giáo Hội bằng nhiều thành quả phong phú. Xin Chúa hay thương xót của chúng ta tẩy rửa thế giới khỏi các thảm kịch sự ác và ban hoà bình và che chở, và như lời tiên tri từng quả quyết, người ta sẽ rèn gươm của họ thành lưỡi cày, giáo của họ thành lưỡi liềm, nước này sẽ không tuốt gươm chống lại nước kia, cả hai không còn học chiến tranh nữa (Is 2:4).

Với những trái tim tràn đầy niềm vui thiêng liêng của cuộc gặp gỡ giữa chúng ta, vốn do Chúa nhân lành ban cho chúng ta, chúng tôi van nài Chúa Cứu Thế của chúng ta ban ơn thánh và bằng an của Người cho mọi người chúng ta, và xin kính mời ngài, người anh em thân yêu của chúng tôi trong Chúa Kitô, ban sứ điệp của ngài và ban phúc lành dư tràn của ngài cho hàng ngàn tín hữu đang tụ họp tại đây.

Diễn văn của Đức Phanxicô

Kính thưa người anh em đáng kính và thân yêu, Đức Thượng Phụ Tối Cao của mọi người Armenia,
Kính thưa Tổng Thống,
Anh chị em thân mến,

Nguyện chúc phúc lành của Thiên Chúa và hòa bình ở cùng tất cả qúy vị!

Tôi vốn rất muốn viếng thăm lãnh thổ thân yêu này, quê hương của qúy vị, trước nhất để ôm hôn đức tin Kitô Giáo. Quả là một ơn phúc đối với tôi được ở đây trên các vùng cao này, nơi, dưới bóng Núi Ararat, chính sự im lặng dường như cũng đang lên tiếng. Ở đây, các khatchkar – các thập giá bằng đá– đang thuật lại lịch sử độc đáo được bảo bọc bằng một đức tin gian khổ và đau thương vô vàn, một lịch sử đầy các chứng từ tuyệt vời đối với Tin Mừng, một lịch sử mà qúy vị là người thừa hưởng. Tôi tới đây như một người hành hương từ Rôma để hiện diện với qúy vị và để nói lên tình âu yếm tận đáy lòng tôi: tình âu yếm của người anh em của qúy vị, và cái ôm huynh đệ của toàn thể Giáo Hội Công Giáo, một Giáo Hội rất qúy mến qúy vị và gần gũi với qúy vị.

Trong mấy năm gần đây, các cuộc thăm viếng và gặp gỡ giữa các Giáo Hội chúng ta, luôn luôn thân ái và thường đáng ghi nhớ, đã gia tăng nhờ ơn Thiên Chúa. Vào ngày kính Các Thánh Tông Đồ của Chúa Kitô này, Chúa Quan Phòng muốn chúng ta gặp nhau một lần nữa để củng cố sự hiệp thông tông truyền giữa chúng ta. Tôi hết lòng cảm tạ Thiên Chúa vì “sự hợp nhất có thực chất và sâu xa” giữa các Giáo Hội chúng ta (xem Đức Gioan Phaolô II, Buổi Cử Hành Đại Kết, Yerevan, 26 tháng Chín, 2001: Insegnamenti XXIV/2 [2001], 466), và tôi cám ơn qúy vị về lòng trung thành thường có tính anh hùng của qúy vị đối với Tin Mừng, vốn là một ơn phúc vô giá đối với mọi Kitô hữu. Sự hiện diện của chúng ta ở đây không phải là một trao đổi tư tưởng, mà là trao đổi ơn phúc (xem Đã Dẫn, Ut Unum Sint, 28): chúng ta đang gặt hái những gì Chúa Thánh Thần đã gieo trong ta như ơn phúc cho nhau (xem Evangelii Gaudium, 246). Với niềm vui lớn lao, chúng ta đã cùng nhau tiến bước trên một hành trình từng đưa ta đi khá xa, và chúng ta tin tưởng mong tới ngày nhờ ơn phù trợ của Thiên Chúa, ta sẽ được hợp nhất chung quan bàn hy tế của Chúa Kitô trong sự viên mãn của hiệp thông Thánh Thể. Nhờ theo đuổi mục tiêu rất đáng ước ao này, chúng ta kết hợp với nhau trong một cuộc hành hương chung; chúng ta bước đi với nhau trong “một niềm tín thác thành thực đối với những người cùng hành hương, đặt qua một bên mọi nghi ngờ và bất tín” (đã dẫn, 244).

Trên hành trình này, chúng ta đã được đi trước và cùng được đi với nhiều chứng nhân, nhất là các vị tử đạo từng niêm ấn cho đức tin chung vào Chúa Kitô của chúng ta bằng chính máu đào của họ. Các vị là những vì sao của chúng ta ở trên trời, chiếu sáng chúng ta ở dưới thế này và chỉ đường để ta tiến tới sự hiệp thông trọn vẹn. Trong số các giáo phụ vĩ đại, tôi muốn nhắc đến Thượng Phụ Tối Cao thánh thiện Nerses Shnorhali. Ngài biểu lộ một tình yêu phi thường đối với dân của ngài và các truyền thống của họ, cũng như một quan tâm sinh động đối với các Giáo Hội khác. Không mệt mỏi tìm kiếm sự hợp nhất, ngài đã tìm cách hoàn thành ý của Chúa Kitô muốn những ai tin “sẽ trở nên một” (Ga 17:21). Hợp nhất không liên hệ gì tới việc chiếm ưu thế chiến lược dựa trên tư lợi. Đúng hơn, nó là điều Chúa đòi nơi chúng ta và là điều chính ta phải cố gắng đạt cho được bằng thiện chí, bằng cố gắng khôn nguôi và chứng tá nhất quán, chu toàn sứ mệnh của ta trong việc đem Tin Mừng đến cho thế giới.

Để thể hiện được sự hợp nhất cần thiết này, Thánh Nerses nói với ta rằng trong Giáo Hội, điều cần không phải chỉ là thiện chí của một ít người: mà mọi người cần phải cầu nguyện. Thành thử điều đẹp đẽ là chúng ta tụ họp ở đây để cầu nguyện cho nhau và với nhau. Trên hết, chính ơn phúc cầu nguyện mà tôi tới đây tối nay để xin qúy vị. Về phần tôi, tôi bảo đảm với qúy vị rằng khi dâng bánh và rượu trên bàn thờ, tôi sẽ không quên dâng lên Chúa Giáo Hội Armenia và nhân dân thân yêu của qúy vị.

Thánh Nerses nói đến việc cần phải lớn lên trong tình yêu hỗ tương, vì một mình đức ái đủ chữa lành ký ức và băng bó các vết thương. Một mình ký ức xóa nhòa mọi thiên kiến và giúp ta nhìn thấy rằng cởi mở với anh chị em ta sẽ tinh lọc và nâng cao các xác tín của ta. Đối với vị Thượng Phụ Tối Cao đã được phong thánh, hành trình tiến tới hợp nhất nhất thiết bao gồm việc bắt chước tình yêu của Chúa Kitô, Đấng, “dù giầu có” (2Cr 8:9), “đã hạ mình xuống” (Pl 2:8). Theo gương Chúa Kitô, ta được kêu gọi tìm được can đảm cần thiết để từ bỏ các ý kiến cứng ngắc và các tư lợi bản thân nhân danh mối tình từng cúi xuống và tự hiến mình, nhân danh tình yêu khiêm hạ vốn là chất dầu phước hạnh của đời sống Kitô giáo, chất dầu thiêng liêng qúy giá có khả năng chữa lành, tăng sức và thánh hóa. “Ta hãy đền bù các thiếu sót của ta trong việc sống hoà hợp và yêu thương”, Thánh Nerses viết như thế (Lettere del Signore Nerses Shnorhali, Catholicos degli Armeni, Venice, 1873, 316), và thậm chí, ngài còn gợi ý, phải có lòng dịu dàng yêu thương, một lòng yêu thương có khả năng làm dịu bất sự cứng cỏi nào trong tâm hồn các Kitô Hữu, vì cả họ nữa cũng thường chỉ biết quan tâm tới chính mình và các lợi thế của riêng mình mà thôi. Tình yêu khiêm hạ và đại lượng, chứ không phải tính toán lợi điểm, sẽ lôi kéo được lòng thương xót của Thiên Chúa, sự chúc phúc của Chúa Kitô và sự tuôn tràn của Chúa Thánh Thần. Nhờ cầu nguyện và “yêu thương nhau sâu xa từ trong tâm hồn” (xem 1Pr 1:22), một cách khiêm nhường và tinh thần cởi mở, ta mới sẵn sàng nhận lãnh ơn hợp nhất của Thiên Chúa. Ta hãy theo đuổi cuộc hành trình của ta một cách quyết tâm; quả thực, ta hãy thi đua hướng tới việc hiệp thông trọn vẹn!

“Ta ban cho chúng con sự bình an. Ta ban nó cho chúng con không như thế gian ban” (Ga 14:27). Chúng ta đã từng nghe những lời này trong Tin Mừng; chúng mời gọi ta khẩn thiết nài xin Thiên Chúa ban cho ta sự bình an đó, sự bình an mà thế giới đang lao đao cố gắng đạt cho được. Ngày nay, biết bao trở ngại tìm thấy trên con đường hòa bình, và các hậu quả của chiến tranh thật thảm khốc biết chừng nào! Tôi nghĩ tới mọi người bị cưỡng bức bỏ lại mọi sự, nhất là ở Trung Đông, nơi, quá nhiều anh chị em chúng ta chịu bạo lực và bách hại vì hận thù và tranh chấp khôn nguôi. Những cuộc tranh chấp này được cung cấp nhiên liệu bởi việc lan tràn và buôn bán vũ khí, bởi cơn cám dỗ muốn dùng vũ lực và bởi việc thiếu tôn trọng con người nhân bản, nhất là những người yếu đuối, người nghèo và những người chỉ mưu cầu một cuộc sống có phẩm giá.

Tôi cũng không thể không nghĩ tới các thử thách khủng khiếp mà dân tộc qúy vị đã kinh qua. Một thế kỷ đã vừa qua đi kể từ khi “Tai Ương Vĩ Đại” giáng xuống trên qúy vị. “Cuộc thảm sát lớn lao và vô nghĩa” này (Lời Chào Mừng, trong Thánh Lễ Cho Tín Hữu Nghi Lễ Armenia, 12 tháng Tư, 2015), màu nhiệm bi thảm của tội ác mà dân tộc qúy vị phải chịu trong thân xác họ, vẫn còn in hằn trong ký ức chúng ta và thiêu đốt tâm hồn chúng ta. Ở đây, tôi muốn tuyên bố một lần nữa rằng các đau khổ của qúy vị là các đau khổ của chúng tôi: “chúng là các đau khổ của các chi thể trong Nhiệm Thể Chúa Kitô” (Đức Gioan Phaolô II, Tông Thư nhân dịp Kỷ Niệm lần thứ 1,700 Phép Rửa của Nhân Dân Armenia, 4: Insegnamenti XXIV/1 [2001], 275). Không quên họ không những là một điều đúng mà còn là một bổn phận nữa. Ước chi họ là lời cảnh cáo muôn đời kẻo thế giới lại sa vào cơn lốc kinh hoàng tương tự một lần nữa!

Đồng thời, tôi cũng thán phục nhớ lại việc đức tin Kitô Giáo “ngay trong các giờ phút bi thảm nhất của lịch sử Armenia, đã là lực đẩy như thế nào trong việc khởi đầu cuộc hồi sinh của dân tộc đầy đau thương của qúy vị” (Đã dẫn, 276). Đó chính là sức mạnh thực sự của qúy vị, giúp qúy vị cởi mở đối với con đường Phục Sinh đầy mầu nhiệm và có tính cứu rỗi. Các vết thương vẫn còn đó, gây ra bởi hận thù dữ dằn và vô nghĩa, nhưng một cách nào đó, có thể đồng hình đồng dạng với các vết thương của Chúa Kitô phục sinh, những vết thương từng gây ra cho Người và thậm chí hiện nay Người vẫn còn mang nguyên trên thân xác Người. Người từng biểu lộ các vết thương vinh hiển này cho các môn đệ của Người vào tối ngày Phục Sinh (xem Ga 20:20). Các vết thương khủng khiếp, đau đớn chịu trên thập giá này, được tình yêu biến cải, đã trở nên nguồn suối tha thứ và bình an. Ngay nỗi đau lớn lao nhất, được biến cải bởi sức mạnh cứu rỗi của thập giá, điều mà người Armenia vốn là sứ giả và nhân chứng, cũng có thể trở thành hạt giống gieo hòa bình cho tương lai.

Ký ức, được tình yêu thấm nhiễm, có khả năng tạo ra những nẻo đường mới và bất ngờ, trên đó, các kế sách hận thù sẽ trở thành các dự án hòa giải, trên đó, hy vọng sẽ vươn lên đối với một tương lai tốt đẹp hơn cho mọi người, trên đó, “phúc thay những người kiến tạo hòa bình” (Mt 5:9). Tất cả chúng ta đều có lợi từ các cố gắng nhằm đặt nền cho một tương lai biết chống lại việc để mình bị cuốn hút vào quyền lực trả thù đầy tính ảo tưởng, một tương lai không ngừng cố gắng tạo ra các điều kiện thuận lợi cho hòa bình, như: việc làm xứng đáng cho mọi người, săn sóc những người túng thiếu nhất, và không ngừng tranh đấu loại bỏ tham nhũng.

Các bạn trẻ thân mến, tương lai này thuộc các bạn. Các bạn hãy trân qúy túi khôn vĩ đại của các bậc trưởng thượng và cố gắng làm những người kiến tạo hòa bình: không bằng lòng với hiện trạng, nhưng tích cực dấn thân vào việc xây dựng nền văn hóa gặp gỡ và hòa giải. Xin Thiên Chúa chúc lành cho tương lai của qúy vị và “ban cho nhân dân Armenia và nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ tiếp nối con đường hòa giải và xin cho hoà bình cũng bừng lên tại Nagorno Karabakh (Sứ Điệp Gửi Người Armenia, 12 tháng Tư, 2015).

Sau cùng, trong viễn ảnh trên, tôi muốn nhắc đến một chứng nhân vĩ đại nữa và là người kiến tạo hòa bình của Chúa Kitô, Thánh Grêgôriô thành Narek, vị thánh mà tôi đã nâng lên hàng Tiến Sĩ Hội Thánh. Ngài cũng được xác định là “Tiến Sĩ Hòa Bình”. Vì ngài đã viết trong cuốn sách phi thường mà tôi thích coi như “hiến pháp thiêng liêng của Nhân Dân Armenia” rằng: “[Lạy Chúa], xin Chúa cũng nhớ cả những người trong nhân loại là kẻ thù của chúng con nữa, và vì ích lợi của họ, xin ban cho họ sự tha thứ và thương xót… Xin Chúa đừng tiêu diệt những người bách hại chúng con, nhưng xin Chúa sửa đổi họ; xin Chúa phá tận gốc mọi con đường của sự ác trên thế gian này, và trồng cây điều tốt trong con và trong họ” (Book of Lamentations, 83, 1-2). Thánh Narek, nhờ “ý thức sâu xa việc chia sẻ mọi nhu cầu” (đã dẫn, 3, 2) nên cũng đã tìm cách đồng hóa ngài với những người yếu đuối và tội lỗi mọi thời và mọi nơi để cầu bầu cho tất cả (xem đã dẫn 31, 3; 32, 1; 47, 2). Ngài đã trở nên “người cầu bầu cho toàn thế giới” (đã dẫn, 28, 2). Tình liên đới phổ quát với nhân loại của ngài chính là sứ điệp hòa bình vĩ đại của Kitô Giáo, lời van vỉ tận đáy lòng xin sự thương xót cho mọi người. Người Armenia đang hiện diện tại rất nhiều quốc gia trên thế giới; từ nơi đây, tôi muốn được ôm hôn mọi người trong tình anh em. Tôi khích lệ tất cả qúy vị, ở mọi nơi, lên tiếng cho ước nguyện hiệp thông này, trở thành “các đại sứ của hòa bình” (Đức Gioan Phaolô II, Tông Thư nhân dịp Kỷ Niệm Lần Thứ 1,700 Phép Rửa của Nhân Dân Armenia,7: Insegnamenti XXIV/1 [2001], 278). Toàn thế giới cần sứ điệp này, nó cần sự hiện diện của qúy vị, nó cần các chứng tá tinh ròng nhất của qúy vị. Bình an cho qúy vị!

Thứ Bảy, ngày 25 tháng 6 năm 2016

Bốn ưu tiên trong chuyến tông du Armenia của Đức Phanxicô

Bưu tiên trong chuyến tông du Armenia ca Đc Phanxicô
Vũ Văn An6/23/2016


Vi chuyến tông du Armenia ln này, mt ln na, Đc Phanxicô cho thy các ưu tiên hàng đu trong triu giáo hoàng ca ngài, ít nht, v phương din đi ngoi. Bưu tiêđó, theo nhà báo John Allen Jr. là: các khu ngoi biên, đi kết, đa chính tr và quan tâm ti thiu s Công Giáo. 

Các khu ngo
i biên 

Cuc tông du Armenia là cuc tông du th 14 ra ngoi quc ca Đc Giáo Hoàng Phanxicô. Nhìn tr lui các cuc tông du này, người ta thy ngài đã viếng thăm


• Đông Âu: 3 quc gia (Albania, Bosnia và Herzegovina, Armenia)

• M Châu Latinh: 6 quc gia (Brazil, Ecuador, Bolivia, Paraguay, Cuba, Mexico)

• Á Châu: 3 quc gia (Nam Hàn, Phi Lut Tân, Sri Lanka) 

• Phi Châu: 3 quc gia (Kenya, Uganda, Cng Hòa Trung Phi) 

• Trung Đông: 4 quc gia (Do Thái, Các Lãnh Th Palestine, Gióc Đan, Th Nhĩ Kỳ)

• Bc M: 1 quc gia (Hip Chúng Quc)

• Tây Âu: 0 quc gia.


Nói tóm li, t s là: Thế Gii Tây Phương 1, Các Nơi Khác 19! Nếu đây là mt trn đu git gii, thì chc chn trng tài đã ngưng trn đu đ tuyên b kết qu ri. 


Có người phn đi cho rng phi k cuc viếng thăm quc hi Âu Châu hi tháng 11 năm 2014 ch! Nhưng thc ra, cuc viếng thăm này chưa bao gi được coi là mt cuc viếng thăm mt quc gia. 


Điy cho thy: Đc Phanxicô là v giáo hoàng tin vào vic nâng cao các đa đim xưa nay thường b quên lãng hơn c, nht là các đa đim chu nhiu tranh chp hay mt hình thc chn thương nàđó


Hin nhiên, cuc dit chng mà người Armenian phi chu dưới bàn tay người Th Nhĩ Kỳ đu thế k 20, vi khong 1.5 triu người b tàn sát, đ điu kin ca mt cuc chn thương,đáng đ mt v giáo hoàng tha nhn. 


Hơn na, Đc Phanxicô s còn tr li vùng này mt ln na vào tháng Chín ti đ viếng thăm Georgia và Azerbaijan, hai lân bang ca Armenia. Thành th, ngài qu là “Giáo Hoàng ca các khu ngoi biên”.


Đ
i kế

Vi dân s tròm trèm 3 triu người, Armenia là quc gia đi đa s theo Kitô Giáo. Thm chí, nó còn là quc gia đu tiên tha nhn Kitô Giáo là quc giáo vào năm 301, trước c Sc Lnh Milan năm 313 ca Constantinô nhm khoan th cho Kitô Giáo và trước Sc Lnh ca Theodosius năm 380 tha nhn Kitô Giáo là tôn giáo chính thc ca Đế Quc Rôma. Hin nay, gn 93 phn trăm dân s thuc Giáo Hi Tông Truyn Armenia, trong h thng các Giáo Hi Chính Thng Đông Phương.


Dù trong nước, ch có khong 15,000 người Công Giáo, bng con s mt giáo x ln ti nhiu nơi khác trên thế gii (kém c Giáo X Tân Phú ca Tng Giáo Phn Sài Gòn, mà có người nói có ti 25,000 giáo dân), nhưng các liên h gia Công Giáo và Chính Thng Giáo Armenia thì rt mnh m.


Giáo Hi Tông Truyn Armenia chính thc tha nhn s thành hiu ca các bí tích và chc thánh ca Giáo Hi Công Giáo, và năm 1996, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Thượng Ph Karekin I, “Catholicos” hay v đng đu Giáo Hi Armenia, đã ký mt tuyên b chung nhm nói lên s nht trí v nhiu vn đ khác nhau. Năm 2001, Đc Gioan Phaolô II còn ký vi Thượng Ph Karekin II, kế nhim Thượng Ph Karekin I, mt tuyên b chung khác. V Thượng Ph này hin din trong Thánh L đăng quang ca Đc Giáo Hoàng Phanxicô năm 2013.


Theo chân các v tin nhim, Đc Phanxicô hoàn toàn dn thân trong vic đy mnh s hp nht Kitô Giáo, mt chính nghĩa có khuynh hướng khi đu vi Chính Thng Giáo vì sphân ly Đông Tây hơn mt nghìn năm trước là ly giáo nguyên khi ca Kitô Giáo. Đc Phanxicô đã t chc được cuc gp g lch s vi Thượng Ph Kirill ca Mc Tư Khoa; ngài vàThượng Ph Đi Kết Batôlômêô ca Constantinp đã tr thành bn “ni kh”, và mi đây, ngài còn c mt phái đoàn cao cp ti “Công Đng Thánh Thin và Vĩ Đi” ca các Giáo Hi Chính Thng hp ti Crete. 


Chuyến viếng thăm Armenia đem li cho Đc Phanxicô dp may na đ thúc đy các c gng đi kết, ln này vi mt trong các Giáo Hi Chính Thng Đông Phương không được mi làm thành viên có quyn b phiếu ti Công Đng Crete, và là mt Giáo Hi đã tích cc nghiêng v phía có nhng liên h mnh m vi Tòa Rôma. 


Trong khi  ti đây, Đc Phanxicô s tham d ba ăn trưđi kết do Đc Karekin khon đãi. Như phát ngôn viên tòa thánh va cho biết: Đc Giáo Hoàng thường không lưý ti tic tùng ăn ung bao nhiêu và hay tìm cách b qua nhng dp như thế nếu có th, nên vic ngài gi nguyên lch trình cũng đ cho thy ngài coi trng đi kết biết bao. 


Đ
a chính tr 

V Giáo Hoàng đu tiên trong lch s mang tên Phanxicô thích góp phn vào vic kiến to hòa bình và hin đang có cuc tranh chp âm  xưa nay đ ngài can d vào, đó là cuc xung đt ti vùng Caucasus gia Armenia và Azerbaijan đ giành quyn kim soát Tnh Nagorno-Karabakh. Hin nay, dù hai bên không còn bn nhau na, nhưng các căng thng có t các thp niên 1980 và 1990 chưa bao gii tan biến c. Đây là dp đ Đc Phanxico c gng hòa gii.


Trng đim gây chú ý đa chính tr hin nhiên s là cuc viếng thăm ca ngài vào hôm th By ti Đài Tsitsernakaberd tưởng nim các nn nhân ca cuc dit chng Armenia năm 1915. Chc chn nhiu l tai s vnh lên đ lng nghe xem liu Đc Phanxicô có dùng ch “dit chng” hay không, mt ch chc chn s gây phn n cho Th Nhĩ Kỳ, buc h phi trđũa ngoi giao.


Nếu cuc hp báo ca Tòa Thánh vào hôm th Ba có cho thy điu gì, thì chiến lược ca cuc tông du này chc chn s nhm nhn mnh rng Vatican vn đã tha nhn vic sát hi người Armenia và các nhóm thiu s khác bi tay Đế Quc đang suy tàn Ottoman là dit chng ri: Đc Gioan Phaolô II thc hin vic này năm 2001, còn Đc Phanxicô thì thc hin vic này vào năm ngoái nhân mt bui phng v đc bit ti Rôma.


Tuy nhiên, chc chn các ngài s không ra ngoài đường li đ b ch nào cũng nói ch y. Nên ln này, có l, Đc Phanxicô s chn kiu nóiMedz Yeghern ca người Armenia, kiu nói này có nghĩa “tai ương ln lao”.


Dù đã din ra cách nay mt trăm năm, các vết thương ca cuc dit chng này vn còn nm sâu trong tâm hn người Armenia. Trong cuc hp báo ca Tòa Thánh hôm th Ba va ri, Đc Ông Antranig Ayvazian, hin đang dy ti Đi Hc Yerevan, nói rng  nhiu nơi trên quê hương ngài, nếu bn đào xung chng 5 phân, bn s thy xương người cùng khp”. 


Nhân dp này, Đc Phanxicô s gp mt nhóm nh người Armenia vn là con cháu các người t nn được Đc Giáo Hoàng Bênêđíctô XV cho trú n ti Castel Gandolfo thi Thế Chiến I. V Giáo Hoàng này không đích danh dùng ch “dit chng” nhưng gi nó là mt “cuc sát hi vô ích”. 


Vì v tàn sát người Armenia mt thế k trước đây vn do lòng thù hn Kitô Giáo mà ra, nên cuc tông du s đem li cho Đc Phanxicô mt din đàn đ tho lun vic bách hi các Kitô hu hin nay, mt điu được ngài gi là “đi kết bng máu”. 


Dưới ánh sáng ca tình hình đang din ra ti Iraq và Syria và các áp lc mi ngày mi tăng buc các cường quc Tây Phương và Liên Hip Quc phi đy mnh các c gng chng li ISIS, s đip ca Đc Giáo Hoàng chc chn có âm hưởng chính tr rõ ràng. 


Ng
ười Công Giáo đa phương 

Theo nguyên tc, mi cuc tông du ca Đc Giáo Hoàng đu nhm vào đoàn chiên Công Giáo đa phương. Thut ng ca Tòa Thánh là đ “cng c anh ch em mình trong đc tin”. 


Dĩ nhiên, trong trường hp Armenia, đoàn chiên đa phương  đây chng có my người đ cng c vì h chiếm chưa ti na phn trăm dân s c nước. Tuy nhiên, đi vi v giáo hoàng này, con s không đáng k, ngược li, nhóm nào càng ti tăm và b lãng quên, càng được ngài quan tâm.


Trong cuc hp báo hôm th Ba va qua, Cha Federico Lambardi, phát ngôn viên Tòa Thánh, nhn mnh rng Đc Phanxicô tng biết nhiu người Armenia sng tn mác ti Argentina, trong đó, có v mc sư Tin Lành nay tr li quê hương và s gp g Đc Phanxicô ti đây. 


Hôm Chúa Nht ti, Đc Phanxicô s gp mt các giám mc Công Giáo ca Armenia, tng cng 14 v, chưđ đ lp my ban ca mt hi đng giám mc như Ý hoc Hoa Kỳ, và phn ln các v này đi din cho khi người Armenia đang sng ti các nước khác. Ch có 12 linh mc là có sn đ x dng. 


Trong mt bi cnh như thế, vai trò ca người Công Giáo đa phương hin nhiên là vai trò làm chng, mt cu ni vi các nn văn hóa khác, trong trường hp này là cng đng Chính Thng đa s  Armenia và thế gii rng ln hơ vùng Caucasus.


Vic này có th không đáng k bao nhiêu v con s, nhưng được Phanxicô coi trng và cuc viếng thăm nhà th chính tòa Công Giáo vào Chúa Nht t Gyumri chính là nhm mc đích làm ni bt nó.