Thứ Ba, 17 tháng 10, 2017

HỌC HỎI PHÚC ÂM: CHÚA NHẬT 29 THƯỜNG NIÊN - NĂM A


Học hỏi Phúc âm Chúa nhật 29 Thường niên - Năm A
(Mt 22, 15-21)
Lời Chúa:
15Bấy giờ những người Pharisêu đi bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Ðức Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy. 16Họ sai các môn đệ của họ cùng đi với những người phe Hêrôđê, đến nói với Ðức Giêsu rằng: "Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật và cứ sự thật mà dạy đường lối của Thiên Chúa. Thầy cũng chẳng vị nể ai, vì Thầy không cứ bề ngoài mà đánh giá người ta. 17Vậy xin Thầy cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho Xêda hay không?"
18Nhưng Ðức Giêsu biết họ có ác ý, nên Người nói: "Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình! 19Ðưa đồng tiền nộp thuế cho tôi coi!" Họ liền đưa cho Người một đồng bạc. 20Và Người hỏi họ: "Hình và danh hiệu này là của ai đây?" 21Họ đáp: "Của Xêda". Bấy giờ, Người bảo họ: "Thế thì của Xêda, trả về Xêda; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa". 

Học hỏi:

1. Đọc Mt 22, 15-16. Ai là những người giăng bẫy để Đức Giêsu phải lỡ lời? Những người Pharisêu và người thuộc phe Hêrôđê là ai? Lời nói đầu tiên của họ ở câu 16 có phải là một lời khen thực lòng không?

2.  Xê-da là ai? Tại sao câu hỏi của họ về chuyện nộp thuế cho Xê-da (câu 17) lại là một cái bẫy nguy hiểm cho Đức Giêsu?

3. Đức Giêsu đã tránh được cái bẫy này bằng cách nào (câu 18 và 19)?

4. Câu nào là câu quan trọng nhất trong bài Phúc Âm này?

5. "Hãy trả cho Xê-da những gì thuộc về Xê-da". Qua câu này Đức Giêsu có nhìn nhận quyền của những nhà cầm quyền không? (xem Công Đồng Vaticanô II, Tuyên ngôn về Tự Do Tôn Giáo, Dignitatis humanae, số 11). Làm tròn bổn phận công dân có phải là điều Chúa muốn không (xem Rôma 13,1-7)?

6. "Hãy trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa". Đâu là những gì thuộc về Thiên Chúa? Đâu là những gì mang hình ảnh và danh hiệu của Thiên Chúa?

7. Thiên Chúa là Đấng Tối Thượng. Bổn phận cao cả hơn của chúng ta là trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa. "Trả lại cho Thiên Chúa" nghĩa là gì?
 
Nguồn: tgpsaigon.net

CHUỖI MAI CÔI ĐƯA CHÚNG TA ĐẾN GẦN CHÚA GIÊSU


CHUỖI MAI CÔI ĐƯA CHÚNG TA ĐẾN GẦN CHÚA GIÊSU

Trong Giáo hội Công giáo, Tháng Mười là Tháng Mai Côi, nhắc chúng ta nhớ rằng thời gian này là cơ hội tốt để chúng ta cầu nguyện bằng lời kinh mạnh mẽ nhất: Kinh Mai Côi. Thánh GH Gioan Phaolô II gọi Kinh Mai Côi là “lối vào nơi sâu thẳm của Thánh Tâm Chúa Giêsu”.Việc suy niệm về cuộc đời, sự chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu kéo chúng ta đến gần Chúa Giêsu bằng nhiều cách.

1. GIÚP CHÚNG TA NÊN GIỐNG CHÚA GIÊSU

Năm 2013,trong sứ điệp gởi cho các bạn trẻ ở Lithuania, ĐGH Phanxicô viết:“Qua Kinh Mai Côi, chúng ta hướng về Đức Trinh Nữ Maria để xin Mẹ hướng dẫn hướng dẫn chúng ta kết hiệp mật thiết hơn với Chúa Giêsu và làm cho chúng ta tuân theo Ngài, thể hiện tình cảm và cư xử như Ngài. Thật vậy, khi đọc Kinh Mai Côi chúng ta lặp đi lặp lại Kinh Kính Mừng và suy niệm về các mầu nhiệm, về các sự kiện trong cuộc đời Chúa Giêsu, nhờ đó chúng ta biết yêu mến Ngài nhiều hơn. Kinh Mai Côi là phương thức hiệu quả để mở lòng mình ra với Thiên Chúa, giúp chúng ta vượt qua chính mình và đem bình an đến cho tha nhân, trong gia đình, trong xã hội và trong thế giới”.

2. ĐỂ LÒNG TRẮC ẨN CỦA CHÚA GIÊSU CHẢY QUA CHÚNG TA

Trong cuốn “33 Days to Morning Glory”, Lm Michael E. Gaitley viết: “Sức mạnh đến với chúng ta từ Đức Kitô trong các mầu nhiệm đều mới lạ và duy nhất trong mỗi mầu nhiệm. Chẳng hạn, cuộc giáng sinh của Chúa Giêsu bao gồm sự phong phú và sức mạnh có thể nâng chúng ta lên cao và soi sáng tâm trí của chúng ta, ban cho chúng ta sức mạnh để chạnh lòng thương đối với người nghèo và yêu quý sự nghèo khó tâm linh khi chúng ta suy niệm về Chúa Giêsu sinh ra trong cảnh đơn nghèo”.

3. GIÚP CHÚNG TA TẬP TRUNG VÀO CHÚA GIÊSU

Năm 2010, tại Đền Đức Mẹ Fátima ở Bồ Đào Nha, ĐGH Benedict XVIaddressed the crowd. Ngài nói: “Việc đọc Kinh Mai Côi giúp chúng ta chấn chỉnh ánh mắt và con tim hướng về Chúa Giêsu, cũng như Đức Mẹ là kiểu mẫu về việc chiêm ngưỡng Chúa Con. Suy niệm các mùa Vui, Sáng, Thương và Mừng, trong khi chúng ta cầu nguyện bằng Kinh Kính Mừng, giúp chúng ta suy niệm về mầu nhiệm nội tại của Chúa Giêsu, từ việc nhập thể tới Thập Giá và vinh quang phục sinh, giúp chúng ta chiêm ngưỡng sự tham dự mật thiết của Đức Mẹ trong mầu nhiệm sự sống nơi Đức Kitô, sự sống này cũng tạo nên niềm vui và nỗi buồn, ánh sáng và bóng tối, hy vọng và lo sợ”.

4. KHIẾN CHÚNG TA ĐÁP LẠI LỜI MỜI GỌI THA THỨ CỦA CHÚA GIÊSU

Trong cuốn“Left to Tell”, tác giả Immaculee Ilibagiza – chứng nhân sống trong vụ diệt chủng tại Rwanda,đã viết về cách đọc Kinh Mai Côi khi chị phải ẩn náu trong phòng tắm với 7 phụ nữ và các cô gái trong 91 ngày. Chị viết:“Tôi giữ chặt tràng hạt của cha tôi, cầu xin Chúa giúp sức, rồi tôi nghe thấy tiếng nói: Hãy tha thứ cho họ; họ không biết điều họ làm. Tôi mạnh dạn tha thứ cho những kẻ sát nhân hôm đó. Cơn giận tan dần trong tôi.Tôi mở lòng ra với Thiên Chúa, và Ngài chạm vào tôi với tình yêu vô biên của Ngài. Đó là lần đầu tiên tôi thương xót những kẻ sát nhân. Tôi cầu xin Thiên Chúa tha thứ tội lỗi cho họ và hướng linh hồn về ánh sáng tươi đẹp của Ngài”.

5. GIÚP CHÚNG TA TRUNG TÍN VỚI CHÚA GIÊSU

Thánh Louis de Montfort là người nhiệt thành cổ vũ lòng sùng kính Đức Mẹ, ngài nói: “Chưa có ai đọc Kinh Mai Côi hàng ngày mà bị lạc hướng. Đó là điều mà tôi vui mừng ký bằng máu của tôi”.

6. CHO CHÚNG TA YÊU MẾN CHÚA GIÊSU QUAKHIẾT TÂM ĐỨC MẸ

Tại Still River, Massachusetts, các Nữ tu Dòng Nô Lệ Mẫu Tâm Vô Nhiễm Maria, thuộc Trung Tâm Thánh Biển Đức, đã nói: “Mẫu Tâm vô nhiễm, không chút bợn nhơ hoặc phân chia, tất cả dành cho Con Yêu Dấu… Từ trong cung lòng, Đức Mẹ suy niệm các mầu nhiệm của Chúa Con. Khi chúng ta đọc Kinh Mai Côi, Đức Mẹ cho chúng ta vào trong cung lòng Mẹ, và Mẹ cho chúng ta suy niệm các mầu nhiệm của Chúa Con cùng với Mẹ”.

7. CHO CHÚNG TA CẢM NGHIỆM CHIỀU SÂU TÌNH YÊU CỦA CHÚA GIÊSU

Trong Tông thư “Rosarium Virginis Mariæ”, Thánh Gioan Phaolô II nói: “Với Chuỗi Mai Côi, các Kitô hữu học tại Trường Đức Maria, được chiêm ngưỡng vẻ đẹp Tôn Nhan Đức Kitô và cảm nghiệm chiều sâu Tình Yêu của Chúa Giêsu. Qua Chuỗi Mai Côi, các tín hữu lãnh nhận ân sủng dồi dào từ Mẹ của Đấng Cứu Độ”.

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ Beliefnet.com)
Trung tuần Tháng Mười – 2017

Thứ Bảy, 14 tháng 10, 2017

GĐPV : Khi linh mục không dâng lễ, ngài công bố bài Tin Mừng được không?

Gii đáp phng v: Khi linh mc không dâng l, ngài công b bài Tin Mng được không?
Nguyễn Trọng Đa
 

Giải đáp phụng vụ: Khi linh mục không dâng lễ, ngài công bố bài Tin Mừng được không?

Nói thêm về bộ áo kinh hội của Giám mục

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Gần đây con đã giúp lễ nhân lễ Tổng lãnh Thiên thần Micae. Thánh lễ được cử hành bởi một linh mục khách mời, và linh mục chánh xứ đã tham dự trong bộ áo kinh hội (choir dress). Tuy nhiên, trong phần bài Tin Mừng, linh mục chánh xứ đã cúi đầu trước vị linh mục khách mời, và đi đến giảng đài để công bố bài Tin Mừng. Thưa cha, như vậy là có hợp pháp không? Nếu có, nó có ý nghĩa gì về mặt phụng vụ? - A. G., Paris, Pháp.


Đáp: Phần giới thiệu sách Tin Mừng (The introduction to the Book of the Gospels) nói:

"14. Khi không có sự hiện diện của thầy phó tế, một linh mục đồng tế có thể đọc bài Tin Mừng. Khi không có vị đồng tế nào, linh mục chủ tế đọc bài Tin Mừng. Trừ khi vị chủ tế là Giám mục, vị đồng tế cúi đầu trước bàn thờ, và đọc thầm “Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin thanh tẩy tâm hồn và môi miệng con, để con xứng đáng và đủ tư cách công bố Tin Mừng của Chúa”.

"15. Khi vị chủ tế là Giám mục, linh mục xin phép lành của ngài theo cùng cách thức của phó tế. Mọi thứ khác được thực hiện bởi linh mục đồng tế theo cùng cách thức như một phó tế".

Và chúng tôi có thể nêu thêm Qui chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma (GIRM):

"59. Theo truyền thống, việc đọc các bài đọc không phải là nhiệm vụ của vị chủ toạ, mà là của người giúp. Ðộc viên đọc các bài đọc. Thầy phó tế, hay nếu không có phó tế, thì một vị tư tế khác đọc Tin Mừng. Nhưng nếu không có thầy phó tế hay tư tế khác, thì vị tư tế chủ toạ đọc Tin Mừng. Còn nếu không có độc viên xứng đáng nào, thì vị tư tế chủ toạ đọc các bài đọc.

“Sau mỗi bài, người đọc xướng câu tung hô, và giáo dân tập họp đáp lại để tôn vinh Lời Chúa được tiếp nhận bằng đức tin và lòng tri ân” (Bản dịch Việt ngữ của Linh mục Phanxicô Xavier Nguyễn Chí Cần, Giáo phận Nha Trang).

Trong khi Phần giới thiệu sách Tin Mừng dường như cho thấy sự hiện diện của một vị linh mục đồng tế, Qui chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma dường như không ngăn ngừa rằng một linh mục khác đang thuộc cộng đoàn phụng vụ, nhưng không đồng tế, sẽ có thể làm như vậy.

Có thể có nhiều lý do tại sao một linh mục có thể có mặt trong các tình huống như vậy. Thí dụ, ngài có thể sẽ cử hành các Thánh Lễ khác, nên không đồng tế, nhưng vẫn muốn chứng tỏ sự yêu mến đối với linh mục khách bằng sự hiện diện của mình.

Qui chế không đề cập đến cách ngài mặc trang phục, nhưng có thể giả định rằng ngài sẽ mặc ít nhất áo chùng trắng (alb) và dây các phép (stole), để thực hiện thừa tác này như thường lệ trong Thánh Lễ.

Việc sử dụng áo kinh hội trong khi chủ tọa thường được dành cho các dịp, khi Giám mục giáo phận tham dự Thánh Lễ mà không đồng tế. Thí dụ, nếu một Giám mục tham dự Thánh Lễ mừng kỷ niệm lễ truyền chức của linh mục, hay một thánh lễ an táng cho ông (bà) cố của linh mục, ngài sẽ thường không đồng tế, vì nếu đồng tế, ngài có nghĩa vụ chủ sự Thánh lễ.

Sách Lễ Nghi Giám Mục (The Ceremonial of Bishops, CB) phân biệt hai tình huống khác nhau. Thứ nhất là khi Giám mục chủ tọa phần Phụng vụ Lời Chúa và ban phép lành cuối lễ, nhưng không đồng tế. Lễ phục thích hợp cho dịp này được mô tả trong số 176 của Sách Lễ Nghi Giám Mục. Đó là áo chùng trắng, Thánh giá ngực (pectoral cross), dây các phép, và áo choàng (cope) với màu sắc của ngày, mũ (miter) và gậy Giám mục (pastoral staff). Sách Lễ Nghi Giám Mục, trong số 177-185, mô tả các hành động nghi lễ được thực hiện trong dịp này. Trong trường hợp này, Giám mục sẽ ngồi tại ngai Giám mục (cathedra; CB, 178).

Trường hợp thứ hai, mà trong đó Giám mục có mặt nhưng không chủ tọa, được mô tả trong Sách Lễ Nghi Giám Mục số 186. Trong các dịp này Giám mục mặc bộ áo gọi là áo kinh hội.

Áo kinh hội (Latin habitus choralis) là bộ y phục của các Giám mục và các giám chức khác, các đức ông (monsignor) với các bậc khác nhau và các kinh sĩ (canon). Nó được dùng cho tất cả các cử hành phụng vụ công khai, hoặc các hành vi thánh thiêng khác, mà trong đó giáo sĩ có mặt nhưng không mặc lễ phục. Hầu hết các giáo sĩ khác không có áo kinh hội đúng nghĩa, nhưng có một bộ áo được qui định cho họ mặc trong các dịp tương tự. Nhiều tu sĩ, nam và nữ, có áo kinh hội mà họ mặc bên ngoài áo Dòng của họ trong các dịp ấy.

Đối với Giám mục, bộ áo kinh hội bao gồm áo fuchsia, tức áo chùng màu tím, với dây thắt lưng tím bằng lụa có trang trí tua lụa ở hai đầu. Ngài cũng có một áo khoác ngắn (mozzetta), đội mũ sọ (zucchetto, skullcap), có cùng màu. Áo khoác ngắn là một áo khoác nhỏ, mở rộng đến khuỷu tay và cài nút ở phía trước.

Mũ cạnh vuông (biretta), tức mũ vuông, không có răng cưa với ba hoặc bốn cạnh nổi phía trên, được đội trên mũ sọ, là không còn bắt buộc và bây giờ hiếm khi được sử dụng.

Áo ren ngắn (rochet) được mặc bên dưới áo khoác ngắn (mozzetta) và ngoài áo chùng (cassock). Đó là chiếc áo vải trắng giống như áo các phép (surplice), ngoại trừ nó có ống tay áo sát chặt chứ không tay áo rộng như áo các phép.

Bên ngoài áo khoác ngắn (mozzetta), Giám mục mang Thánh giá ngực, thường treo trên dây vàng và xanh lá cây, mặc dù một số Giám mục sử dụng dây bạc hoặc dây vàng cho tất cả các dịp.

Ngài cũng đeo một chiếc nhẫn.

Trong trường hợp này, Giám mục không ngồi ở ngai Giám mục nhưng ở một nơi thích hợp khác trong cung thánh.

Trong một số trường hợp, có thể có một sự kết hợp của cả hai phương thức bộ áo, thí dụ, nếu Giám mục đang mặc áo kinh hội, nhưng cần thực hiện phần cuối trong thánh lễ an táng. Trong trường hợp này, sau khi phần Rước lễ, ngài cởi áo khoác ngắn (mozzetta) và mặc áo choàng, mang dây các phép, và đội mũ Giám mục để đọc các lời nguyện. Lý do cơ bản cho sự thay đổi áo này là rằng áo kinh hội được mặc chủ yếu để tham dự chính thức vào Giờ Kinh Phụng Vụ, trong khi đó dây các phép (stole) là chủ yếu một y phục phụng vụ, được mang để ban các bí tích và ban phép lành.

Áo chùng màu tím cũng được sử dụng bởi các thành viên của Tòa Thượng Thẩm Rôma (Roman Rota), tổng chưởng lý (the promoter general of justice), và bảo hệ viên (the defendert of the bond) trong Toà án Tối cao của Tối cao Pháp viện Tòa Thánh (the Apostolic Signature), các Đệ nhất lục sự Tòa thánh (protonotaries apostolic de numero), và các giáo sĩ của Văn phòng Quản lý Tông tòa (Apostolic Camera). Các đức ông khác mang áo chùng đen với dây thắt lưng màu tím.

Có rất nhiều điểm tinh tế hơn mà tôi đã bỏ ra ngoài, do tính ngắn gọn ở đây. Một sự giải thích chi tiết của các quy tắc cho trang phục giáo sĩ có thể được tìm thấy tại trang mạng: http://www.shetlersites.com/clericaldress/.

Như chúng tôi đã đề cập, các linh mục và đại chủng sinh không có áo kinh hội chính thức, mặc dù việc sử dụng áo chùng đen và áo các phép là đôi khi được gọi là áo kinh hội rồi.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã áp dụng một phong cách giản dị hơn, và vì thế các dịp mặc bộ áo kinh hội đầy đủ thường là ít ỏi, ít nhất là ở Vatican.

Những ai cử hành theo các quy tắc của hình thức ngoại thường phải tuân theo các quy tắc phụng vụ riêng cho các lễ phục của nghi thức đó. Tuy nhiên, về việc mặc áo kinh hội để tham dự Giờ Kinh Phụng vụ, các quy tắc mới hơn, do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và các vị Giáo hoàng khác ban hành, thường được áp dụng. (Zenit.org 10-10-2017)




--

Hai lối cài số xe của tuổi trẻ đứng trước vấn đề luân lý

Hai li cài s xe ca tui tr đng trước vn đ luân lý
Vũ Văn An
 

Hội Nghị tại Rôma trong các ngày 3-6 tháng Mười để bàn về Phẩm Giá Trẻ Em trong Thế Giới Kỹ Thuật Số đã đưa ra một tuyên bố chung gọi là “Tuyên Bố Rôma”, gồm 13 điểm.

Ngày 6 tháng Mười, tại Vatican, một thiếu nữ Ái Nhĩ Lan, cô Muiireann O’Carroll, 16 tuổi, đã trình lên Đức Phanxicô bản tuyên bố trên “nhân danh hàng triệu người trẻ khắp thế giới đang cần thông tri và nhiều bảo vệ hơn nữa trước các nguy hiểm của hình thức lạm dụng tình dục và các hình thức lạm dụng khác trên liên mạng”.

Cô thưa với Đức Thánh Cha rằng: “Dùng chính lời của Đức Thánh Cha, chúng con tin rằng: xã hội nào cũng có thể bị phê phán bởi cung cách xử sự với trẻ em của mình”.

Phần mở đầu của tuyên bố nhắc đến nhiều cố gắng quốc tế nhằm bảo vệ trẻ em như Trung Tâm Bảo Vệ Trẻ Em của Giáo Hoàng Đại Học Gregoriana, WePROTECT Global Alliance của Anh, Liên Hiệp Âu Châu và Hoa Kỳ, Hợp Tác Hoàn Cầu Để Chấm Dứt Bạo Lực Chống Trẻ Em của Liên Hiệp Quốc…

Nhưng việc làm của họ như muối bỏ biển, nên nay Hội Nghị phải kêu gọi các giới lãnh đạo xắn tay áo góp công: các nhà lãnh đạo thế giới, các nhà lãnh đạo tôn giáo thế giới, các quốc hội thế giới, các nhà lãnh đạo các công ty kỹ thuật, các bộ y tế công cộng trên thế giới và nhà lãnh đạo các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan chính phủ, xã hội dân sự và chấp pháp, các tổ chức chấp pháp thế giới, các định chế y khoa thế giới, các định chế của chính phủ và của tư nhân, các cơ quan hàng đầu trong lãnh vực y tế công cộng, các nhà lãnh đạo các chính phủ thế giới, các cơ quan lập pháp, kỹ nghệ tư nhân và các định chế tôn giáo…”đứng lên để bảo vệ phẩm giá trẻ em”.

Trong cuộc hội kiến với các vị tham dự Hội Nghị, Đức Phanxicô đặt cho họ một số câu hỏi “Chúng ta sẽ làm gì để bảo đảm rằng các trẻ em kia tiếp tục mỉm cười với chúng ta, bằng cặp mắt trong sáng và gương mặt đầy tín thác và hy vọng? Chúng ta sẽ làm gì để bảo đảm rằng chúng không bị cướp đi ánh sáng kia, để bảo đảm rằng những cặp mắt kia sẽ không bị tối đi và tha hóa bởi những gì các em thấy trên liên mạng, những thứ mau chóng trở thành một phần cấu tạo và quan yếu của đời sống hàng ngày của các em?”

Các câu trả lời chắc không thiếu trong các đề xuất cụ thể của Hội Nghị. Chỉ có điều, các câu trả lời này không dễ gì nhận được sự đồng thuận của thế hệ trẻ ngày nay, một thế hệ, mà theo Giáo Sư Randall Smith ở Đại Học St Thomas, Houston, Texas, có đến hai cách gài số xe khiđối mặt với các vấn đề luân lý.

Thực vậy, trong bài “The Two Gears of Student Moral Discourse” (Hai Lối Cài Số Xe của Sinh Viên Về Ngôn Từ Luân Lý), Giáo Sư Smith nói rằng hồi mới lái chiếc xe điện chơi “golf”, dường như chiếc xe này chỉ có hai tốc độ. Đạp mạnh vào hộp số, nó chồm đi phát sợ. Mà đạp nhẹ thì nó bò chậm hơn đi bộ. Phải một thời gian sau, với kinh nghiệm, mới tìm được “số” đúng…

Ông cho rằng, đứng trước vấn đề luân lý, hình như các sinh viên ngày nay cũng chỉ có hai số xe. Một là số “dù duy trì khoảng cách của tôi là không muốn xúc phạm đến ai và không phê phán bất cứ ai khác, nhưng đây là cảm nhận của tôi”. Mưu toan có chủ tâm của thứ rao hàng này có thể dài dòng và đại khái hàm ý: “tôi sinh ở Đông Texas và cha mẹ tôi tới xứ này lúc tôi còn rất trẻ, và tôi được dưỡng dục trong một gia hộ và chất liệu khá nghiêm ngặt, nhưng đây là cách cảm nhận của tôi, nhưng tôi không phê phán ai khác đâu nhé”. Thứ số xe này muốn nói “tôi biết tôi phải ý tứ với mọi điều tôi nói”. Các sinh viên này biết họ phải luôn tỏ ra hoàn toàn cởi mở và khoan dung.

Số xe kia là số xe ta thường gặp khá thường xuyên hơn trong những ngày gần đây. Đó là số xe “Sao các ông các bà dám nói hay dám chủ trương quan điểm ấy khiến tôi bị xúc phạm và la toáng vào các ông các bà và sẵn sàng nhẩy qua bàn bóp nghẹt các ông các bà cho mà coi”.

Điều lạ là trên đây không phải là hai lớp hay hai loại sinh viên khác nhau; hai thứ số xe này cùng hiện diện trong một sinh viên.

Làm sao có chuyện đó được? Làm sao có chuyện một nhóm sinh viên cố tình không muốn phê phán ai, muốn luôn tỏ ra “cởi mở” và “khoan dung” đối với quan điểm người khác lại có thể cũng là một với những sinh viên la hét giết người đối với những ai có quan điểm khác họ?

Giáo sư Randall cũng từng thắc mắc không hiểu tại sao các sinh viên hết lòng bênh vực chủ thuyết duy tương đối luân lý, coi không có gì là đúng hay sai một cách khách quan, lại là những sinh viên khiếu nại to tiếng nhất về điểm số, thứ hạng bị họ tuyệt đối coi là không hợp lẽ (unfair). Không hợp lẽ ra sao? “Anh (chị) muốn nói không hợp lẽ một cách khác quan? Hay anh (chị) cảm thấy nó không hợp lẽ, căn cứ vào cách nhìn của anh (chị), cách anh (chị) được dưỡng dục, và cách nền văn hóa đào tạo nên anh (chị), nhưng nếu tôi cảm thấy làm điều này không có chi là không hợp lẽ, căn cứ vào cách nhìn của tôi, cách tôi được dưỡng dục, và cách nền văn hóa đào tạo ra tôi thì sao?”

Ông muốn nhấn mạnh rằng mọi người đều có một điều gì đó bị họ coi “đơn giản chỉ là sai”. Không “sai đối với tôi” hay “sai đối với nền văn hóa của tôi” nhưng “đơn giản chỉ là sai”, sai thực sự, sai bét. Có thể là nạn nô lệ, có thể là nạn hiếp dâm, có thể là bạo lực đối với phụ nữ hay người đồng tính.

Nhưng vấn đề là làm sao biết được điều gì sai hay đúng về luân lý, đâu là căn bản để tôi phán đoán và bênh vực phán đoán này cách hợp lý?

Giáo sư Randall cho rằng nền văn hóa mà người trẻ hiện nay đang sống đã cương quyết từ khước không dạy họ bất cứ điều gì về nguồn gốc của các phán đoán luân lý của ta, cái gì làm “điều sai” thành sai; thay vào đó, nó nhấn mạnh rằng tất cả các phán đoán này đều “bất khoan dung”, ngoại trừ các phán đoán của những người “đúng điệu” chống lại những ai bị họ quyết đoán là “bất khoan dung”. Kết quả là: giới trẻ không hề có cách nào nghĩ tới các loại phán đoán luân lý mà tất cả chúng ta đều làm, cách này hay cách khác, và nhiều người trẻ không còn lại gì khác ngoài 2 số xe: một đàng là phương thức xu phụ, dè dặt ý tứ khi phải xem xét một bất thuận dù nhẹ nhàng nhất đối với một tội ác rành rành, và đàng kia là cơn giận đùng đùng trước một dị biệt nhẹ nhàng nhất đối với nền “chính thống” của họ.

Giáo sư cho rằng chính cái quan điểm duy tương đối về luân lý do nền văn hóa đương thịnh ghi khắc nơi người trẻ nhằm làm họ “khoan dung” đã khiến họ ra “bất khoan dung”. Thay vì học cách thảo luận các phán đoán luân lý một cách công khai, truy tìm các kết luận từ các tiền đề (premises), rồi tìm hiểu các hạn từ nền tảng trong tiền đề theo lối Socrates: ta muốn nói gì khi sử dụng chữ “công lý”? phân chia công bằng cho mọi người, hay được giữ những gì tôi kiếm được? ta lại nhấn mạnh họ không cần bước vào các luận điểm luân lý ấy chút nào cả.

Điều trên khiến họ bơ vơ và sợ sệt khi phải đứng một mình để đưa ra phán đoán luân lý cho riêng mình, nếu phán đoán này đi ngược với ý kiến đám đông. Nó cũng khiến họ bất khoan dung với lý lẽ của những người khác đối với phán đoán của họ khi những người này không nhất trí với họ vì họ không có bất cứ lý lẽ nào của riêng để có thể phản công.

Các sinh viên nào tin rằng “luận chứng không thể chứng minh được gì” và đánh mất niềm tin vào lý trí và khả năng của lý trí có thể đạt được sự thật thường cho rằng những người đứng ở phía bên kia của vấn đề không có bất cứ lý lẽ vững chãi nào cả để chứng minh điều họ nói, do đó, đã chỉ bám lấy chủ trương của mình vì thiếu thiện chí hay là “những người xấu xa”.

George Orwell, nếu còn sống, hẳn phải choáng váng. Mọi ý kiến đều ngang nhau; “nói nước đôi” trong đó bất khoan dung được dán nhãn khoan dung; đám đông mặc áo đen mang mặt nạ đập kính cửa sổ và tự cho mình là “chống phát xít”.

Thiển nghĩ người trẻ bây giờ không còn biết nghe các thế hệ cha ông nữa. Tất cả bị họ xếp vào loại bất khoan dung, hết thuốc chữa, mọi suy nghĩ của thế hệ cha ông cần bị loại bỏ. Nhiều cha mẹ than phiền: vận động chúng bỏ phiếu chống hôn nhân đồng tính, không những chúng không nghe, mà còn thất vọng, chưa đến nỗi chửi lại, nhưng khóc ròng bất mãn.

Hiện tượng trên được nền văn hóa hiện nay tán thưởng. Không những nó không tìm cách chỉnh đốn mà còn tìm cách giáng thêm những nhát búa chát chúa vào bất cứ thế giá, thẩm quyền nào của các bậc cha ông. Đúng là phải vận dụng mọi phương tiện để mở ra một hướng giáo dục mới. Giáo dục người lớn đã đành để họ từ bỏ thái độ kênh kiệu, giả hình mà nhất là giáo dục thế hệ trẻ theo hướng Giáo Sư Smith đề nghị. Dường như hệ thống giáo dục Công Giáo, ít nhất tại Úc, hiện rất e ngại phải đi theo hướng này. Cụ thể, họ rất ngại đụng đến các vấn đề luân lý tính dục mà nhiều người tự động xếp vào loại “chiến tranh văn hóa”.



Trở về

Trở về


Tiếng chuông khuya thanh vắng
Vọng tiếng gọi hồn ai
Người ơi mau tiến bước
Bàn Tiệc Thánh đợi chờ.

Trên Bàn Tiệc Hy Tế
Đôi tay Chúa dâng cao
Cả vũ trụ tội lỗi
Trái tim lệ tuôn trào.

Giữa trần gian mê muội
Bao cám dỗ đắm say
Hồn con đầy bối rối
Mong thoát kiếp đọa đày.

Tiếng chuông gọi tỉnh thức
Hồn thoát khỏi đê mê
Trên cao Thánh Thể Chúa
Giục con mau trở về.
6.2017

Nguyễn Thái Hùng 

Đức Mẹ Trà Kiệu

Đức Mẹ Trà Kiệu



Lạy Đức Mẹ Trà Kiệu
Một đời con mơ ước
Đến với Mẹ tình yêu
Đến với Mẹ từ ái.

Mẹ trên cao, đứng đó
Luôn gìn giữ chở che
Đàn con thơ nhỏ bé
Khẩn cầu suốt đêm ngày.

Đường đời đầy thử thách
Giữa bão tố cuồng say
Mẹ ơi, con ngã gục
Nếu Mẹ không ra tay.

Bao hận thù sắc tộc
Bủa vây con tứ bề
Giữa biển đời khổ lụy
Mẹ gìn giữ ra tay.

Lạy Đức Mẹ Trà Kiệu
Vương hiệu Mẹ tình yêu
Phù hộ các giáo hữu
Một đời con khắc ghi
Mỗi khi con nguy khốn
Có Mẹ luôn độ trì.
Trà Kiệu, 25.5.2017

Nguyễn Thái Hùng 

Cảm tạ Mẹ

Cảm tạ Mẹ


“Mẹ ơi con yêu Mẹ
Yêu từ hồi thơ bé
Yêu mãi đến tuổi già
Yêu tha thiết bao la …” *

Mẹ ơi từ trái tim
Cháy bỏng những lời yêu
Dâng lên Mẹ Chúa Trời
Suốt đời đường lữ thứ.

50 năm trôi qua
Những thăng trầm lịch sử
Mẹ ra tay gìn giữ
Đưa đến bến bình an.

50 năm gian nan
Những đau thương thử thách
Mẹ như Ánh Sao Mai
Đường đức tin phó thác.

Mẹ ơi,
50 năm ngập tràn
Những hồng ân Thiên Chúa
Trên đoàn chiên nhỏ bé
Giữa mênh mông đại ngàn.

Mẹ ơi con dâng Mẹ
Khúc hòa ca cảm tạ
Vạn tấm lòng thơ bé
Giữa núi rừng bao la.

Dâng Mẹ khúc cảm tạ
Của vạn nẻo núi rừng
Giang Sơn, Mẹ đứng đó
Nam Xuân, Mẹ chở che.
6.2017

Nguyễn Thái Hùng 

* Lời một bài hát