Thứ Hai, ngày 24 tháng 11 năm 2014

Tháng Mười Hai – Kính Vương Nhi Giêsu

Tháng Mười Hai – Kính Vương Nhi Giêsu

– Ý chung: Cu xin s ra đi ca Đng Cu Thế mang lơn an bình và nim hy vng cho mi người thành tâm thin chí.

– Ý truyn giáo: Cu cho các bc làm cha m tr nên nhng nhà truyn giáo đích thc, truyn thông đc tin là món quà quý giá nht cho con cái mình.

Tháng Mười Hai, cuối năm trần gian nhưng lại khởi đầu Năm Mới Phụng Vụ – Mùa Vọng. Tháng Mười Hai có đại lễ Giáng Sinh, kính Vương Nhi Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể và nhập thế để cứu độ nhân loại.

Chút se lạnh Tháng Mười Hai
Cho lòng se sắt những ngày chờ mong
Khát khao lòng Chúa xót thương
Ngôi Hai giáng thế giữa đồng hoang vu

Tháng Mười Hai được dành để kính Chúa Hài Đồng. Ngài là Đấng Thiên Sai, là Thiên Chúa Ngôi Hai, là Đấng cứu độ nhân loại. Trong đêm Chúa Giêsu giáng sinh, Sứ thần báo tin cho các mục đồng: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa. Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2:10-12). Và sau đó: “Ba đạo sĩ vào nhà, thấy Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền sấp mình thờ lạy Người. Rồi họ mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến” (Mt 2:11).

Tháng Mười Hai còn có lễ kính Đức Mẹ Vô Nhiễm vào ngày 8-12, nhắc nhớ chúng ta về các nhân đức của Đức Mẹ và thúc giục chúng ta cố gắng sống thánh thiện theo lời Chúa Giêsu đã khuyến cáo: “Anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48).

Suốt từ ngày 1 tới 24, phụng vụ còn là Mùa Vọng và được biểu thị bằng màu tím. Đây là “sắc tím chờ đợi”, mong chờ ngày Con Chúa giáng trần, nhắc chúng ta sẵn sàng đón Chúa Giêsu đến thế gian lần thứ hai: Ngày Quang Lâm. Và rồi màu phụng vụ sẽ từ màu tím chuyển sang màu trắng hoặc vàng – biểu tượng của niềm vui, tinh tuyền và thánh khiết.

Phụng vụ Mùa Vọng tập trung kính nhớ việc Chúa Kitô đến lần thứ nhất tại hang đá miền Belem hẻo lánh, đồng thời nhắc nhớ chúng ta hướng tới việc Đức Kitô sẽ đến lần thứ hai trong ngày tận thế. Các bài đọc tập trung vào những con người trong Cựu ước đêm ngày mong chờ Đấng Mêsia. Gioan Tẩy giả đến dọn đường cho Đức Kitô, và Đức Trinh Nữ Maria chuẩn bị thiên chức làm mẹ.

Tháng Mười Hai tràn đầy niềm hy vọng. Mùa Vọng chuẩn bị tâm hồn cho mọi người sẵn sàng hân hoan đón Chúa giáng trần. Bề ngoài cũng thể hiện rất rõ: Mua sắm, trang trí nhà cửa, làm hang đá, làm bánh,… Tuy nhiên, chúng ta quá bận rộn với sự chuẩn bị vật chất mà có thể làm giảm ý nghĩa thật của đại lễ Giáng sinh: Đón nhận Ơn giao hòa, Ơn bình an, Ơn cứu độ. Để được vậy, chúng ta phải nghe lời kêu gọi của thánh Gioan Tẩy giả: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần. Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Mt 3:2).

Giêsu Hài đồng nằm trong máng cỏ. Đó là Ngôi Lời hóa thành Nhục Thể (Ga 1:14), nhiệm xuất từ Thiên Chúa, được sinh ra bởi Đức Trinh nữ Maria, chứ không được tạo thành. Hình ảnh đó có thể quá quen thuộc, hang đá là vật trang trí và có thể không còn nhiều ý nghĩa sâu xa thánh thiện, vì ngày nay người ta “chạy đua” làm hang đá to lớn và chi phí nhiều tiền (tốn hàng chục triệu), chú ý bề ngoài hơn bề trong. Nhìn các hang đá ngày nay, chúng ta cảm thấy như “khách sạn vài sao” vậy!

Giữa giá rét, một Hài Nhi nằm trong máng cỏ nơi hang chiên lừa, giữa đồng không mông quạnh. Một Thiên Chúa mà hạ mình đến mức nghèo nhất thế gian. Ngài dạy chúng ta bài học “sống khó nghèo”, nhưng thường thì chúng ta lại “sống KHÓ mà NGHÈO”.

Vương Nhi Giêsu không chỉ dạy chúng ta “sống nghèo” mà còn phải thương những người nghèo, thương những người sa cơ thất thế, thương những người bé mọn, thương những người bị khinh miệt, thương những người vô danh tiểu tốt, thấp cổ bé miệng, kêu không thấu trời,… Nhưng thực tế, đôi khi chỉ là lý thuyết. Đó là điều chúng ta cần suy nghĩ và chấn chỉnh: Tôn trọng nhân vị và nhân phẩm của mỗi con người. Có vậy thì mới khả dĩ tôn trọng nhân quyền của người khác.

Lạy Thiên Chúa Ngôi Hai, chúng con tạ ơn Ngài đã vì yêu thương chúng con mà Ngài mặc xác phàm để nên giống chúng con, chia sẻ buồn vui với chúng con. Xin thương giúp chúng con can đảm “sống ngược đời” và trọn lòng yêu thương như Ngài. Lạy Mẹ Maria, xin thương giúp chúng con biết “xin vâng”, nhân hậu và khiêm nhu như Mẹ trong mọi hoàn cảnh. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Nhi Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Chủ Nhật, ngày 23 tháng 11 năm 2014

Lễ Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam

Lễ Thánh Anrê Trần An Dũng Lạc,
và các bạn Tử Ðạo
(Lễ Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam)
Lễ Kính

(Các bài đọc Lễ Các Thánh Tử Đạo)
Bài Ðọc I: Kn 3, 1-9
"Chúa chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu".
Trích sách Khôn Ngoan.
Linh hồn những người công chính ở trong tay Chúa, và đau khổ sự chết không làm gì được các ngài. Ðối với con mắt của người không hiểu biết, thì hình như các ngài đã chết và việc các ngài từ biệt chúng ta, là như đi vào cõi tiêu diệt. Nhưng thật ra các ngài sống trong bình an. Và trước mặt người đời, dầu các ngài có chịu khổ hình, lòng trông cậy của các ngài cũng không chết. Sau một giây lát chịu khổ nhục, các ngài sẽ được vinh dự lớn lao; vì Chúa đã thử thách các ngài như thử vàng trong lửa, và chấp nhận các ngài như của lễ toàn thiêu.
Khi đến giờ Chúa ghé mắt nhìn các ngài, các người công chính sẽ sáng chói và chiếu toả ra như ánh lửa chiếu qua bụi lau. Các ngài sẽ xét sử các dân tộc, sẽ thống trị các quốc gia, và Thiên Chúa sẽ ngự trị trong các ngài muôn đời. Các ngài đã tin tưởng ở Chúa, thì sẽ hiểu biết chân lý, và trung thành với Chúa trong tình yêu, vì ơn Chúa và bình an sẽ dành cho những người Chúa chọn.
Ðó là Lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 125, 1-2ab. 2cd-3. 4-5. 6
Ðáp: Chúa đã đối xử đại lượng với chúng tôi, nên chúng tôi mừng rỡ hân hoan (c. 3).
Xướng: 1) Khi Chúa đem những người Sion bị bắt trở về, chúng tôi dường như Người đang mơ, bấy giờ miệng chúng tôi vui cười, lưỡi chúng tôi thốt lên những tiếng hân hoan. - Ðáp.
2) Bấy giờ dân thiên hạ nói với nhau rằng: "Chúa đã đối xử với họ cách đại lượng". Chúa đã đối xử đại lượng với chúng tôi, nên chúng tôi mừng rỡ hân hoan. - Ðáp.
3) Lạy Chúa, xin hãy đổi số phận của con, như những dòng suối ở miền nam. Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong hân hoan. - Ðáp.
4) Thiên hạ vừa đi vừa khóc, tay mang thóc đi gieo; họ trở về hân hoan, vai mang những bó lúa. - Ðáp.

(Khi mừng theo bậc Lễ Trọng thì có Bài Ðọc II này):
Bài Ðọc II: 1 Cr 1, 17-25
"Vì tiếng nói của Thập Giá là sức mạnh của Thiên Chúa ban cho chúng ta".
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, Ðức Kitô không sai tôi đi rửa tội, mà là rao giảng Tin Mừng, không phải bằng lời nói khôn khéo, kẻo Thập giá của Ðức Kitô ra hư không.
Vì chưng lời rao giảng về Thập giá là sự điên rồ đối với những kẻ hư mất; nhưng đối với những người được cứu độ là chúng ta, thì điều đó là sức mạnh của Thiên Chúa. Vì như đã chép rằng: "Ta sẽ phá huỷ sự khôn ngoan của những kẻ khôn ngoan, sẽ chê bỏ sự thông thái của những người thông sáng. Người khôn ngoan ở đâu? Người trí thức ở đâu? Người lý sự đời này ở đâu?" Nào Thiên Chúa chẳng làm cho sự khôn ngoan của đời này hoá ra điên rồ đó sao? Vì thế gian tự phụ là khôn, không theo sự khôn ngoan của Thiên Chúa mà nhận biết Thiên Chúa, thì Thiên Chúa đã muốn dùng sự điên rồ của lời rao giảng để cứu độ những kẻ tin. Vì chưng, các người Do-thái đòi hỏi những dấu lạ, những người Hy-lạp tìm kiếm sự khôn ngoan, còn chúng tôi, chúng tôi rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá, một cớ vấp phạm cho người Do-thái, một sự điên rồ đối với các người ngoại giáo. Nhưng đối với những người được gọi, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, thì Ngài là Chúa Kitô, quyền năng của Thiên Chúa, và sự khôn ngoan của Thiên Chúa, vì sự điên dại của Thiên Chúa thì vượt hẳn sự khôn ngoan của loài người, và sự yếu đuối của Thiên Chúa thì vượt hẳn sức mạnh của loài người.
Ðó là lời Chúa.

Alleluia: 1 Pr 4, 14
Alleluia, alleluia! - Nếu anh em bị sỉ nhục vì danh Chúa Kitô, thì phúc cho anh em, vì Thánh Thần Chúa sẽ ngự trên anh em. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 10, 17-22
"Các con sẽ bị điệu đến nhà cầm quyền và vua chúa vì Thầy, để làm chứng cho họ và cho dân ngoại biết".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các Tông đồ rằng: "Các con hãy coi chừng người đời, vì họ sẽ nộp các con cho công nghị, và sẽ đánh đập các con nơi hội đường của họ. Các con sẽ bị điệu đến nhà cầm quyền và vua chúa vì Thầy, để làm chứng cho họ và cho dân ngoại được biết. Nhưng khi người ta bắt nộp các con, thì các con đừng lo nghĩ phải nói thế nào và nói gì. Vì trong giờ ấy sẽ cho các con biết phải nói gì: vì chưng, không phải chính các con nói, nhưng là Thánh Thần của Cha các con nói trong các con. Anh sẽ nộp em, cha sẽ nộp con, con cái sẽ chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết. Vì danh Thầy, các con sẽ bị mọi người ghen ghét, nhưng ai bền đỗ đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu độ".
Ðó là lời Chúa.


Suy niệm : Cảm Mến Công Ơn Của Các Anh Hùng Tử Ðạo
Ngày lễ Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam là dịp để chúng ta ca tụng Thiên Chúa đã làm những việc vĩ đại trên Quê hương Ðất nước và nơi Dân tộc anh hùng chúng ta. Chúng ta chiêm ngưỡng lại khuôn mặt đẹp đẽ và ý chí quật cường của bao bậc tiền bối. Chúng ta học để quý mến sự sống mà chúng ta đang mạng trong mình và do các ngài để lại. Và chúng ta sẽ cố gắng phát huy cơ nghiệp mà tiền nhân đã hy sinh mạng sống để giữ lại cho chúng ta.

A. Cảm Mến Công Ơn Của Các Anh Hùng Tử Ðạo
Bài sách Macabê thuật lại câu truyện tử đạo của một gia đình 7 mẹ con ở thời Cựu Ước. Ðó là một gia đình không tên không tuổi; và vì thế được phụng vụ coi như là tiêu biểu cho bao bậc tử đạo vô danh. Chúng ta có thể tựa vào câu truyện ấy để nhắc tới những bậc tử đạo quá nhiều trên Ðất nước chúng ta.
Thực vậy, Hội Thánh Việt Nam có nhiều tử đạo bậc nhất thế giới: xét cả về tổng số, cả về tỷ số... Người ta đã nói tới con số 300,000 tử đạo ở Việt Nam. Ðược mấy Giáo hội có nhiều tử đạo như vậy! Và con số 300,000 kia ở thời bấy giờ, chắc phải chiếm tới 3, 4 phần trăm tổng số tín hữu. Chúng ta rùng mình khi nghĩ đến điều ấy. Nhưng thật như lời người ta nói: máu tử đạo làm nảy sinh kẻ có đạo. Chính Ðức Yêsu cũng đã dạy trong Phúc Âm: hạt thóc có rơi xuống đất, thối đi thì mới mọc lên cây, đem lại mùa màng phong phú. Chúng ta ngày nay có đời sống đạo, là nhờ có đông đảo tiền nhân đã cương quyết giữ vững niềm tin cho đến cùng Chắc chắn có nhiều bậc phụ huynh ngồi đây, nhiều gia đình Công giáo ở bên cạnh chúng ta có thể tính lên đời thứ ba thứ tư và gặp thấy một hay nhiều tử đạo trong gia tộc của mình. Ít nhất ai cũng nói được rằng tổ tiên của mình đã phải giữ đạo một cách rất vất vả. Và tất cả chúng ta đều là con cháu các tử đạo theo cả hai nghĩa thiêng liêng và xác thịt.
Ðiều đó chắc chắn không cần phải nói thêm. Nhưng phải nói lên điều này, là: 300,000 tử đạo kia là một đoàn thể đông đảo đủ mọi màu sắc, khác nào một cánh đồng bát ngát đủ mọi sắc hương. Giám mục, linh mục và tu sĩ nam nữ có; nhưng số giáo dân đông hơn nhiều. Và già có, trẻ có; thanh niên, phụ nữ, nhi đồng cũng có: không thiếu một hạng người nào. Ðặc biệt hơn nữa là rất nhiều người đã tử đạo trong y phục lý trưởng cũng như quân nhân. Họ là những người dân tốt, phục tùng Nhà nước, làm việc tận tâm, được lòng quan chức nêu gương cho mọi người.
Tổng đốc Trịnh Quang Khanh là viên chức có lẽ đã giết rất nhiều tín hữu ở miền Bắc. Thế mà dưới quyền ông vẫn có nhiều người lính có đạo. Và những người này nhiều khi lại gương mẫu và xuất sắc. Ông quý mến họ và ra sức dụ dỗ họ bỏ đạo... Ông không hiểu rằng chính đức tin họ đang giữ là động lực cho đời sống công dân tốt lành kia. Thấy họ cương quyết trung thành với tín ngưỡng đang khi vẫn nhiệt tình với chức năng, ông tìm cách bao che cho họ. Nhưng họ không chịu. Ông Huy, ông Thể, ông Hiếu và nhiều người khác dưới quyền Trịnh Quang Khanh đã ra xưng đạo, trước sự khâm phục và xót thương của bao nhiêu chiến sĩ, không cùng một quan điểm tôn giáo nhưng không thể không cảm mến những người chiến hữu và đồng bào giá trị như vậy.
Chúng ta không thể kể hết ở đây về đời sống gia đình, xã hội của các Tử đạo Việt Nam. Chúng ta thường chỉ biết các ngài tử đạo nghĩa là chịu chết vì đạo. Cùng lắm chúng ta chỉ hay nghĩ tới lòng can đảm, chí chịu đựng của các ngài khi bị tra tấn, hành hạ. Nhưng chúng ta cần phải biết: Tử đạo là ơn rất lớn. Nó đưa thẳng người ta về thiên quốc và lên bàn thờ các thánh ngay ở đời này. Một ơn như vậy không dành cho bất cứ một người nào đâu, nhưng chỉ dành để cho những phần tử ưu tú được Chúa lựa chọn. Ở thời các tử đạo, rất nhiều tín hữu đã bị bắt. Có những người đã chối Chúa. Vì họ không mến đủ! Và sở dĩ như vậy vì như lời thánh Yoan nói: người ta không mến Chúa vô hình khi không yêu mến Người nơi anh em hữu hình. Các tử đạo, dù ở chức năng nào, trước khi tuyên chứng lần cuối cùng về lòng yêu mến Ðấng vô hình, cũng đã trải qua nhiều thử thách trong đời sống phục vụ tha nhân. Chúng ta cứ đọc lại mà xem! Hết mọi hạnh thánh tử đạo Việt Nam đều kể rằng trước khi ra pháp trường hay chịu chết trong ngục để xưng đạo, các ngài đã là những người mẹ, người cha chu toàn phận sự gia đình; những người chồng người vợ thi hành tốt mọi phận sự công dân; những người con hiếu thảo và những người lính dũng cảm; những y sĩ và lý trưởng được đồng bào quý mến việc phục vụ. Bởi vì không ai có thể trở thành công dân Nước Trời sau này, nếu đã không là những công dân tốt trên mặt đất.
Ngay cái chết của các tử đạo Việt Nam cũng khiến chúng ta phải suy nghĩ về khía cạnh vừa nói. Anh em Macabê được tử đạo trong một hoàn cảnh đơn giản hơn. Họ là những người Israel bị ngoại xâm Batư bắt phải bỏ đạo của tổ tiên. Trong một cái chết họ đã tỏ ra trung thành với Thiên Chúa và Tổ Quốc. Trường hợp các tử đạo Việt Nam éo le hơn. Những người bắt các ngài bỏ đạo lại là vua quan "phụ mẫu chi dân". Thế nên các ngài không có một lời nào xúc phạm đối với các quan tòa. Và cho đến lúc chết các ngài vẫn chứng tỏ đã chu toàn tốt đẹp mọi nghĩa vụ xã hội. Các ngài đã chết trong tình mến Chúa yêu người và thương nhà thương Nước. Các ngài đã hy sinh mạng sống cho đức tin và chân lý ở trên giải đất này... Cho nên Giáo hội toàn cầu chỉ biết các ngài là tử đạo của Việt Nam.
Do đó khi mừng lễ các ngài, chúng ta phải biết để ý đến nét Việt Nam nơi các ngài. Chúng ta phải soi gương các ngài chu toàn các nhiệm vụ xã hội một cách thánh thiện. Và cho được như vậy chúng ta phải tìm hiểu động lực bên trong thúc đẩy đời sống của các ngài.
Bài thư Phaolô có thể giúp chúng ta làm công việc này.

B. Ði Theo Ðường Lối Của Các Tử Ðạo
Quả thật các Tử đạo Việt Nam có thể mượn những lời thư Phaolô hôm nay để nói với chúng ta. Một đàng các ngài không giấu giếm sự thật. Bí quyết khiến các ngài có thể vượt thắng trăm ngàn thử thách là chính sự sống và sự sống lại của Chúa Yêsu trong thân xác yếu hèn của các ngài. Các ngài nói: chúng tôi chứa đựng những kho tàng ấy trong những bình sành để biết rằng quyền lực vô song ấy là của Thiên Chúa chứ không phải phát xuất tự chúng tôi. Các ngài chịu khổ cực tư bề nhưng không bị đè bẹp, bị bắt bớ nhưng không bị bỏ rơi... bởi vì sự sống của Ðức Kitô tỏ hiện nơi thân xác của các ngài. Chính Ðức Kitô trong bài Tin Mừng cũng đã nói không phải các tử đạo ở trước tòa nhưng là Thánh Thần nói trong các ngài.
Và để có Thánh Thần và sự sống của Ðức Kitô ở trong mình như vậy, các tử đạo đã phải hư vô hóa mình, tức là chết cho bản thân, không sống theo xác thịt tự nhiên nữa, nhưng theo Thần trí của Ðức Kitô, tức là đường lối của Người. Hết mọi tử đạo đều đã chết cho đức tin và vì đức tin; nhưng đức tin ở đây không phải là một hệ thống tư tưởng vũ trụ nhân sinh quan mà là đức tin sống động, tin Thiên Chúa và tin Ðức Yêsu Kitô đã yêu thương mình cho đến chết. Ðó là đức tin đầy lòng mến và đầy lòng trông cậy, chắc chắn rằng nếu cùng chết với Ðức Kitô và vì Ðức Kitô thì sẽ được sống lại với Ngài và được đồng thừa tự với Ngài. Thế nên, các tử đạo là những người đầy Chúa Yêsu sau khi đã tát cạn bản ngã và các khuynh hướng xấu xa ở nơi mình.
Và cũng chính nhờ đó mà đàng khác, các vị tử đạo trước khi hy sinh mạng sống mình vì Chúa, đã có một đời sống xã hội đáng khâm phục. Ðiều này cũng rất dễ hiểu! Lời thư Phaolô viết: sự chết hoành hành nơi chúng tôi còn sự sống hoạt động nơi anh em. Các tử đạo cũng có thể nói: chúng tôi đã chết cho bản thân để sự sống tăng trưởng nơi anh em. Thật vậy, con người đã chết đi cho chính mình, thì sống cho Chúa. Nhưng đối với họ, Thiên Chúa không phải chỉ là Ðấng Vô hình, mà hơn nữa còn là Ðấng đang hiện diện trong Hội Thánh và trong anh em. Mọi hành vi làm cho người anh em nhỏ mọn nhất là làm cho Chúa. Thành ra các đấng thánh là những người nhìn thấy Thiên Chúa ngay ở đời này và cụ thể trên mặt đất này nơi Hội Thánh và nơi anh em. Và vì họ không còn sống cho chính bản thân và vì bản thân nữa, nên mọi phục vụ của họ chỉ còn quy vào một đối tượng. Ðó là Thiên Chúa nơi tha nhân... Ðó là tha nhân trong cái nhìn của đức tin và lòng mến. Các tử đạo làm tốt các nhiệm vụ xã hội là vì thế. Và mọi người thật có lý để nghi ngờ những kẻ đã phản bội đức tin của mình.
Như thế, nếu hôm nay mừng lễ các Tử đạo Việt Nam, chúng ta phải để ý đến nét Việt Nam nơi các ngài, tức là phải soi gương các ngài trong đời sống xã hội phục vụ anh em đồng bào, thì chúng ta  người có đức tin  phải luôn duy trì và phát triển động lực thúc đẩy đời sống xã hội kia tức là Thánh Thần và Ðức Kitô ở trong mình. Và cho được như vậy, chúng ta phải mang sự chết của Ngài trong thân xác, là biết chết cho bản thân và các khuynh hướng vị kỷ. Phải làm như vậy mới đi vào được đường lối của các tử đạo và mới có thể theo các ngài cho đến cùng. Bởi vì muốn nên giống các ngài hoàn toàn, chúng ta không những phải biết sống như các ngài mà còn phải biết chết như các ngài. Mà muốn chết như các ngài, chúng ta phải sống đạo như trên mà vẫn không quên Lời Chúa dạy trong bài Tin Mừng hôm nay.

C. Tin Tưởng Như Các Tử Ðạo
Chúa nhắc nhở chúng ta biết số phận thông thường của các môn đệ Người: "Người ta sẽ bắt bớ các con". Và trong sách Tin Mừng Yoan, Người còn nói rõ hơn: đó là điều thật dễ hiểu, vì tôi tớ không trọng hơn Thầy. Có lạ chăng là việc thế gian yêu các con chứ các con có thuộc về thế gian nữa đâu mà thế gian quý mến các con! Và lịch sử làm chứng Hội Thánh của Ðức Yêsu, Hội Thánh tiếp nối sứ mạng cứu thế của Người, luôn luôn có các tử đạo, không ở nơi này thì ở nơi khác, không dưới hình thức này thì dưới hình thức khác. Ðó là mầu nhiệm, nhưng là mầu nhiệm tương đối dễ hiểu.
Sứ mệnh của Ðức Yêsu cũng như của Hội Thánh Người là sứ mệnh tuyên chứng. Tuyên chứng về chân lý, về những chân lý siêu phàm; thế mà chân lý thì như ánh sáng và thế gian đã bị tối tăm bao phủ nên luôn luôn muốn vùi dập ánh sáng. Và cũng đồng thời tuyên chứng về tình yêu, tình yêu của Thiên Chúa yêu thương loài người và chẳng tình yêu nào lớn bằng tình yêu nơi người hy sinh mạng sống vì người mình muốn yêu.
Thế nên chính khi chịu chết vì đạo, người tín hữu trở thành chứng tá hoàn toàn hơn cả. Cái chết của họ vừa nói lên niềm tin chắc chắn, vừa nói lên tình mến tận cùng. Chỉ những kẻ có niềm tin yếu ớt mới sợ tử đạo. Nhưng nếu chúng ta yếu thì đã có Chúa ban Thánh Thần của Người đến nâng đỡ sự yếu đuối nơi chúng ta. Và việc này tùy ở chúng ta trong lúc bình thường có cầu xin và sống đạo để nhận được nhiều Thánh Thần hay không?
Giờ đây chúng ta cử hành thánh lễ. Chung quang bàn thờ này hiện diện vô hình đoàn thể các tử đạo Việt Nam. Các ngài ước mong chúng ta dâng lễ này sốt sắng và hiệu quả. Nếu chúng ta cầu xin và nhất là phó thác bản thân trong tay Chúa thì Người sẽ ban sự sống của Chúa Yêsu và Thánh Thần của Người cho chúng ta. Chính Thánh Thần sẽ là sức mạnh cải tạo cho chúng ta một nếp sống mới để chúng ta dần dần sống bớt đi cho mình và nhiều hơn cho Chúa, tức là cho Người ở trong anh em. Như vậy chúng ta sẽ có đời sống trần gian này tốt để chúng ta cũng sẽ chết tốt như các tử đạo. Chúng ta sẽ tuyên xưng Chúa khi sống và khi chết. Chúng ta sẽ khơi được lòng ngưỡng mộ của mọi người. Chúng ta sẽ xứng đáng với tổ tiên đức tin của mình, những vị mà chúng ta mừng lễ hôm nay.

(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa
của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)


Thứ Hai sau Chúa Nhật 34 Quanh Năm


Bài Ðọc I: (Năm II) Kh 14, 1-3, 4b-5
"Tên của Ðức Kitô và của Cha Người viết trên trán họ".
Trích sách Khải Huyền của Thánh Gioan Tông đồ.
Tôi là Gioan, tôi ngắm nhìn: thì đây Con Chiên đứng trên núi Sion; cùng với Con Chiên, có một trăm bốn mươi tư ngàn người mang tên của Con Chiên và tên Cha Con Chiên viết trên trán họ. Tôi nghe có tiếng từ trời, như tiếng sóng gầm nước đổ, như tiếng sấm vang rền, và tiếng tôi nghe tựa hồ như tiếng đàn cầm do những người chơi đàn cầm gảy. Họ hát bài ca vãn mới trước toà và trước mặt bốn sinh vật và các vị bô lão: ngoài một trăm bốn mươi tư ngàn người đã được mua chuộc từ cõi đất, không một ai có thể hát bài ca vãn đó. Hễ Con Chiên đi đâu, thì họ theo đó. Họ là những người được mua chuộc giữa nhân loại, làm của đầu mùa dâng lên Thiên Chúa và cho Con Chiên. Miệng họ không nói lời gian dối; họ cũng chẳng tì ố trước toà Thiên Chúa.
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 23, 1-2. 3-4ab. 5-6
Ðáp: Ðó là dòng dõi người tìm kiếm long nhan Thiên Chúa (c. 6).
Xướng: 1) Chúa là chủ trái đất và mọi vật làm sung mãn nó, chủ địa cầu và muôn loài cư trú ở trong. Vì chính Ngài xây dựng nó trên biển cả, và Ngài giữ vững nó trên chỗ nước nguồn. - Ðáp.
2) Ai khá trèo lên cao sơn của Chúa, ai được đứng trong nơi thánh của Ngài? Người tay vô tội và lòng thanh khiết, người không để lòng xu hướng bả phù hoa. - Ðáp.
3) Người đó sẽ được Chúa chúc phúc cho, và được Thiên Chúa là Ðấng cứu độ ban ân thưởng. Ðó là dòng dõi người tìm kiếm Chúa, người tìm long nhan Thiên Chúa nhà Giacóp. - Ðáp.
  
Alleluia: Lc 21, 36
Alleluia, alleluia! - Các con hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, để có thể xứng đáng đứng vững trước mặt Con Người. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 21, 1-4
"Người thấy một bà goá nghèo khó bỏ vào đó hai đồng tiền nhỏ".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu nhìn lên, thấy những người giàu có bỏ tiền dâng cúng vào hòm tiền. Người cũng thấy một bà goá nghèo khó bỏ vào đó hai đồng tiền nhỏ, nên bảo rằng: "Thầy bảo thật các con, bà goá nghèo khó này đã bỏ vào hòm tiền nhiều hơn mọi người. Vì mọi người kia lấy của dư thừa mà dâng cho Thiên Chúa, còn bà này túng thiếu, bà đã dâng tất cả những gì bà có để nuôi sống mình".
Ðó là lời Chúa.


Suy Niệm: Cho Ði Tất Cả
Vào thời xưa cũng như thời này, có những giai tần bị loại ra bên lề. Họ có thể là những người mắc bệnh không có thuốc chữa, họ có thể là những người nghèo không một xu dính túi. Trong số những người nghèo bị gạt ra bên lề xã hội, có các bà góa; nhất là trong hệ thống tổ chức xã hội xưa kia tại Israel, phụ nữ khi kết hôn phải cắt đứt giây liên hệ với gia đình ruột thịt, và từ lúc chồng chết cũng là lúc mọi tiếp tế vật chất từ nhà chồng bị đình chỉ.
Bà góa nghèo trong Tin Mừng hôm nay có thể nói là một người nghèo tuyệt đối. Qua nghĩa cử đơn sơ của bà, Chúa Giêsu đã khám phá ra sự quảng đại cao cả và lòng cậy trông phó thác tuyệt đối của bà vào Thiên Chúa. Mặc dù chỉ đóng góp hai đồng tiền nhỏ có giá trị 1/4 xu, nhưng bà đã cho đi tất cả những gì mình có để nuôi sống; vì thế bà xứng đáng được Chúa Giêsu khen ngợi. Tuy nhiên sự kiện và lời khen ngợi này có thể nêu lên hai vấn nạn: thứ nhất, liệu chúng ta phải nghèo về vật chất để được thuộc về Nước Thiên Chúa chăng? thứ hai, liệu người nghèo phải cho đi tất cả, kể cả những nhu yếu phẩm nếu họ muốn được Chúa khen ngợi chăng?
Ðã hẳn trong Tin Mừng, người nghèo được chúc phúc, trong khi theo cách diễn tả của Chúa Giêsu người giầu có khó vào được Nước Trời. Thật ra, người nghèo được gọi là có phúc, không phải vì họ nghèo, cũng như Tin Mừng không bao giờ đề cao sự nghèo khổ, vì sự nghèo túng tự nó không làm cho ai nên thánh, có chăng chỉ những người nghèo biết chấp nhận thân phận của mình để chờ đợi từ người khác và cậy trông phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa. Nói khác đi, cái nghèo vật chất không phải tự nó biến sự túng thiếu thành nguồn ơn phúc, nhưng chính tinh thần nghèo khó, chính ý thức sự lệ thuộc của mình vào người khác, nhất là đặt trọn niềm tín thác vào Thiên Chúa, mới làm cho những người nghèo trở nên giầu tình người và đậm đà tình Chúa.
Bà góa nghèo trong Tin Mừng hôm nay chỉ có hai đồng tiền nhỏ để sinh sống, nhưng bà đã dâng cúng trọn vẹn cho Chúa. Có lẽ bà có được hai đồng tiền đó là do lòng hảo tâm của người khác và bà muốn biểu lộ sự tín thác của mình vào sự quan phòng của Thiên Chúa qua việc cho đi tất cả. Vấn đề đáng suy nghĩ là liệu hành động của bà góa nghèo này có giá trị trong xã hội ngày nay, nếu không phải là tạo thêm sự nghi kỵ trong xã hội? Sống trong một xã hội cạnh tranh như hiện nay, còn có một mô thức của xã hội nơi bài giảng trên núi của Chúa Giêsu được đem ra thực hành, để không ai còn bị tiền tài, danh vọng, quyền lực chi phối, nhưng mọi người đều thực hành tình liên đới, yêu thương, chia sẻ. Với lời khen ngợi hành động của bà góa nghèo, Chúa Giêsu một lần nữa muốn đảo lộn trật tự xã hội, vì Ngài không những kêu gọi sự thay đổi của từng cá nhân, nhưng còn muốn đẩy mạnh tiến trình đổi mới xã hội, nơi mọi người đóng góp tất cả những gì mình có để xây dựng và phục vụ xã hội.
Ðể sống trọn Lời Chúa hôm nay, chúng ta hãy tự hỏi: Tôi có tinh thần nghèo khó để ý thức sự lệ thuộc của tôi vào người khác và vào Thiên Chúa không? Tôi đã và đang làm gì để góp phần xây dựng một xã hội mới. Ước gì mẫu gương của bà góa nghèo phản ánh tình yêu Thiên Chúa, Ðấng trao ban tất cả cho con người, giúp chúng ta mạnh tiến trên con đường xây dựng Nước Chúa giữa lòng xã hội.
Veritas Asia


Lời Chúa Mỗi Ngày
Thứ Hai Tuần 34 TN2
Bài đọc: Rev 14:1-3, 4-5; Lk 21:1-4.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Trung thành hy sinh cuộc đời cho Thiên Chúa
Trong những ngày cuối năm, Phụng vụ Lời Chúa hướng lòng con người về: (1) Sự chóng qua của đời này và những giá trị cao quí của đời sau như: sự bất tử của linh hồn, sự sống lại, và cuộc sống trường sinh mai sau. (2) Những mẫu gương cao quí và sự hy sinh của tiền nhân: Đức Kitô, người mẹ anh hùng và 7 anh em nhà Maccabees, các thánh tử đạo Việt Nam. (3) Kêu gọi chúng ta bắt chước các mẫu gương anh hùng đó: sống anh hùng, sống chứng nhân, và dám hy sinh tất cả cho Nước Trời.
Các Bài đọc hôm nay cũng theo chiều hướng đó: Bài đọc I tường thuật thị kiến Con Chiên và 144,000 bạn đồng hành của Con Chiên. Họ trung thành bước theo Con Chiên đi bất cứ nơi nào. Bài Phúc Âm kêu gọi con người dám hy sinh tất cả như người đàn bà góa; Bà dám bỏ mọi sự mình có vào Hòm Tiền trong Đền Thờ.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Con Chiên đi đâu, họ cũng đi theo đó.
1.1/ Thị kiến Con Chiên cùng với 144,000 người trên Núi Sion: "Tôi thấy: kìa Con Chiên đứng trên núi Sion; cùng với Con Chiên, có 144,000 người, mang danh của Con Chiên và của Cha Con Chiên ghi trên trán."
Núi Sion được gọi là Ngai của Thiên Chúa (Mic 4:7, Isa 24:23), là Núi Thánh, là kinh thành của Đức Đại Vương (Psa 2:6), là thành cư ngụ của Thiên Chúa hằng sống (Heb 12:22). Con Chiên là chính Đức Kitô. Ai là 144,000 người? Đây là những người được thiên thần đóng ấn trên trán từ 12 chi tộc của Israel, mỗi chi tộc 12,000 người (Rev 7:4-8). Ấn tín được đóng là ấn tín mang danh của Con Chiên và của Cha Con Chiên trên trán (Rev 7:3). Có tên Thiên Chúa và tên Đức Kitô trên trán chứng tỏ người đó được thánh hiến cho việc phục vụ Thiên Chúa. Bạn đồng hành với Con chiên được phân biệt với đồng bọn của Con Thú, những người cũng được đóng ấn với dấu hiệu của nó (Rev 13:16, 14:11).
“Và tôi nghe thấy tiếng từ trời như tiếng nước lũ, như tiếng sấm lớn. Tiếng tôi nghe thấy tựa hồ tiếng những nhạc sĩ vừa gảy đàn vừa hát. Họ hát một bài ca mới trước ngai Thiên Chúa, trước bốn Con Vật và các vị Kỳ Mục. Không ai có thể học được bài ca này, ngoài 144,000 người ấy, là những người đã được chuộc về từ mặt đất.” Bài ca mới được mô tả bằng những từ ngữ Kinh Thánh quen thuộc: tiếng nước lũ (Rev 1:15, 9:16, Eze 43:2); tiếng sấm lớn (Exo 19:16, Eze 1:7); và tiếng đàn cầm (Rev 5:8, 15:2).
1.2/ Điều kiện được chọn để theo Con Chiên:
(1) Giữ mình đồng trinh: Vì 144,000 người này được mô tả đối nghịch với những người thờ phượng Con Thú, họ phải là những người từ chối không theo Con Thú. Con số này là con số tượng trưng cho tất cả các tín hữu, chứ không phải chỉ có bằng ấy người được cứu độ. Chữ “đồng trinh” đây cũng không hiểu theo nghĩa hẹp của nó, nhưng theo nghĩa của nhiều tiên tri Cựu Ước (Hos 2:14-21, Jer 2:2-3, 32, Zeph 3:9-13): đồng trinh là biểu tượng của sự trung thành với Thiên Chúa; trong khi thờ bụt thần được coi như làm điếm, không trung thành với Thiên Chúa (Rev 2:14, Eze 16, 23). Babylon được ví như con điếm (Rev 14:8, 17:4-6) trong khi Giáo Hội được ví như Hiền Thê của Con Chiên (Rev 19:7, 21:2-9).
(2) Trung thành theo Con Chiên: “Con Chiên đi đâu, họ cũng đi theo đó. Họ đã được chuộc về từ giữa loài người, làm của đầu mùa dâng lên Thiên Chúa và Con Chiên.”
(3) Sống thành thật: “Chẳng ai thấy miệng họ nói dối; không ai chê trách họ được.” Những người nói dối là con cái của ma quỉ, cha của những người nói dối (Jn 8:44). Người theo Con Chiên không những phải nói thật mà còn phải sống thật; để biến mình thành của lễ không tì ố dâng lên Thiên Chúa (Rom 12:1).
2/ Phúc Âm: Bà bỏ vào tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.
2.1/ Tiêu chuẩn xác định cho nhiều hay ít: không dựa trên số lượng cho mà dựa trên số lượng người cho có. Chẳng hạn: một người cho 5000 đồng, nhưng tài sản anh có là 1,000,000 đồng, tỉ lệ anh cho đi là 1/200, một số lượng rất nhỏ so với tài sản của anh. Trong khi đó, một người nghèo bỏ vào chỉ 2 hào, nhưng tài sản anh có là 4 hào, tỉ lệ anh cho đi là ½; anh đã cho phân nửa tài sản anh có.
Chúa Giêsu có lẽ đang ngồi ở “Sân của phụ nữ” trong Đền Thờ. Ngước mắt lên nhìn, Đức Giêsu thấy những người giàu đang bỏ tiền dâng cúng của họ vào thùng tiền. Người cũng thấy một bà goá túng thiếu kia bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm. Người liền nói: "Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào nhiều hơn ai hết. Quả vậy, tất cả những người kia đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ, mà bỏ vào dâng cúng; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.”
Trước mắt con người, hầu hết sẽ đánh giá trị sai. Họ sẽ quí trọng tiền cho của người giầu và khinh thường sự đóng góp của người đàn bà góa; họ sẽ nghĩ hai đồng kẽm này làm được gì, lại còn phải nhớ số lẻ trong việc làm sổ sách nên quăng đi cho xong chuyện! Nhưng với cặp mắt thấu suốt mọi sự của Chúa Giêsu, Ngài phân biệt rõ cho các môn đệ: Đừng đánh giá theo giá trị bên ngòai, nhưng phải đánh giá theo khả năng bên trong:
(1) Cho đi những của dư thừa: Những người giầu có mặc dù cho nhiều, nhưng họ chỉ cho đi những của dư thừa mà họ không cần đến.
(2) Cho đi tất cả những gì mình có: Đồng tiền kẽm là đơn vị nhỏ nhất trong các tiền được dùng để trao đổi, một đồng tiền kẽm trị giá khỏang 1/20 xu. Hai đồng kẽm mới chỉ có 1/10 xu. Nếu so sánh với sự cho đi của những người khác thì chẳng đáng là gì. Nhưng với cặp mắt nhìn thấu suốt mọi sự của Chúa Giêsu: Bà góa này đã bỏ nhiều hơn ai hết, vì bà đã “rút từ cái túng thiếu của mình, mà bỏ vào đó tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.”
2.2/ Những cái cho khác: Ngòai tiền bạc ra, người môn đệ của Đức Kitô còn phải cho nhiều thứ khác khó khăn hơn nhiều: ý muốn, tình yêu, thời gian, tài năng, sức khỏe. Chúa đòi hỏi nơi người môn đệ: "Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được” (Mt 10:37-39).
Vì thế, trước khi theo Chúa, hãy ngồi xuống tính tóan xem có theo được không; kẻo nửa chừng mà bỏ thì mất cả chì lẫn chài. Một khi đã quyết định theo, phải theo cho tới cùng; cho dù gặp bao khó khăn gian khổ, ngay cả cái chết, cũng phải vượt qua. Gương các thánh, những người đã theo Chúa tới cùng, phải trở thành những mẫu gương soi dẫn cuộc đời chúng ta.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Mục đích của chúng ta sống trên đời này là để chứng tỏ lòng trung thành của chúng ta với Thiên Chúa qua việc dám hy sinh từ bỏ mọi sự để làm chứng cho Ngài.
- Chúng ta không chỉ thích chọn và sống một hai điều Thiên Chúa dạy, nhưng phải chọn và sống tất cả những gì Thiên Chúa truyền.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP


HẠT GIỐNG NẨY MẦM - MÙA QUANH NĂM - TUẦN 34
Lc 21,1-4

A. Hạt giống...
Gương dâng cúng của một bà goá :
- “Bà góa” : Xã hội do thái không có những quy định bảo vệ quyền lợi các góa phụ cho nên họ rất bị thiệt thòi : tài sản của chồng thì họ không được hưởng (con cái họ hưởng), gia đình cha mẹ ruột của họ cũng không còn lo lắng cho họ bao nhiêu. Vì thế, trong Thánh Kinh, bà góa, trẻ mồ côi và ngoại kiều là những hạng người xấu số nhất và nghèo nhất (x. Đnl 24,17-22).
- Bà goá nghèo này đã dâng vào hòm tiền Đền thờ “Hai đồng tiền kẽm” : nguyên ngữ là đồng tiền Kodrantes tức là loại tiền nhỏ nhất trong các loại tiền thời đó.
- Tuy số tiền là ít nhưng được Chúa Giêsu đánh giá cao hơn số tiền của những người khác, “vì mọi người kia lấy của dư thừa mà dâng cho Thiên Chúa, còn bà này túng thiếu mà đã dâng tất cả những gì bá có để nuôi sống mình”

B.... nẩy mầm.
1. Cho đi không phải của dư thừa mà là chính cái mình đang cần thiết. Sự cho đi như thế rất quý vì cũng là sự cho đi chính bản thân mình.
Thông thường khi có dư người ta mới cho : cho người nghèo và cho Giáo Hội.
2. Một Linh mục nọ có thói quen tốt là ghi kỹ trong nhật ký hằng ngày về những số quà nhận và số quà cho. Thỉnh thoảng kiểm lại, nếu thấy phần nhận nhiều hơn phần cho thì Linh mục ấy điều chỉnh lại để phần cho nhiều hơn.
Con người thường thích nhận hơn cho ; có cho thì cũng để nhận lại.
3. Trong Tin Mừng Luca, Chúa Giêsu luôn luôn khuyên người ta rằng : cách sử dụng tiền của tốt nhất là cho đi, để đổi lại gia tài trên trời.
4. Cử chỉ của bà goá là một định nghĩa của lòng quảng đại : quảng đại chính là cho mà không tính toán. Xét cho cùng, quảng đại chính là trao ban chính bản thân mình. ("Mỗi ngày một tin vui")
5. Vào một mùa đông, tại một đất nước Châu Âu, một em bé 13 tuổi nghe nhà trường thông báo đợt lạc quyên tiền bạc và phẩm vật làm quà Giáng sinh cho các trẻ em nghèo trong vùng. Em đã dành dụm mọi chi tiêu vốn ít ỏi của em trong suốt 3 tháng. Khi đã được 15 đồng, em quyết định đón xe đò từ làng lên phố. Bất ngờ, một trận bão tuyết ập đến dữ dội làm tắt nghẽn mọi hoạt động giao thông. Không chịu bỏ cuộc, em xuống xe, co ro lội bộ băng qua cánh đồng đầy ngập tuyết trắng xóa và gió lốc lạnh buốt.
Ông hiệu trưởng nghe báo có người muốn đang đợi ở phòng khách. Ông thực sự kinh ngạc sửng sốt khi nhận món tiến chia sẻ từ tay em bé, bởi vì trước mặt ông chính là một trong số những em bé nghèo mà ông và nhà trường đã đưa vào danh sách tặng quà giáng sinh năm đó. (Góp nhặt)
Lm. Carolo HỒ BẶC XÁI

Thứ Bảy, ngày 22 tháng 11 năm 2014

GLPÂ CHÚA NHẬT LỄ CHÚA KITÔ VUA, NĂM A

Lễ Chúa Kitô Vua Vũ Trụ
(phần II)



GLPÂ CHÚA NHẬT LỄ CHÚA KITÔ VUA, NĂM A
Sách Ngôn sứ Êdêkien 34.11-12.15-17; Thư Thứ Nhất của Thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô 15.20-26.28 và Phúc Âm Thánh Matthêô 25.31-46

I. Giáo Huấn P.Â.:  

Thiên Chúa là Chúa và là vua vũ trụ.

Ngài yêu thương và chăm sóc nhân loại như vị mục tử nhân hậu chăm sóc đàn chiên.

Chúa Kitô là vua của yêu thương và là vua của hy sinh.

Chúa Kitô chinh phục con người bằng tình yêu thương nâng đỡ.

Chúa Kitô, vị vua yêu thương sẽ phán xét mọi dân nước trên tiêu chuẩn yêu thương.

Yêu thương và giúp đỡ đồng loại không là một chọn lựa có thể làm hay từ chối không làm. Đó là luật buộc phải làm và là tiêu chuẩn để được thưởng hay bị phạt. Yêu thương và giúp đỡ đồng loại là yêu thương và giúp đỡ Chúa. Tất cả mang hình ảnh của Thiên Chúa.

II. Vấn nạn P.Â.   
            Giáo huấn Thánh Kinh: Con người, hình ảnh Thiên Chúa – Imago Dei.

            Con người được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa là trung tâm điểm của mạc khải Ki Tô giáo phát xuất từ Kinh Thánh.

            " Thiên Chúa phán: " Chúng ta hãy tạo con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi vật bò dưới đất ".

             " Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình,
            Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa,
            Thiên Chúa sáng tạo con người có nam, có nữ " ( Gen 1, 26-27).

            " Đây là gia phả ông Adong: Ngày Thiên Chúa sáng tạo con người, Chúa làm ra con người giống như Thiên Chúa. Chúa sáng tạo con người có nam, có nữ, Chúa chúc lành cho họ và đặt tên cho họ là " người ", ngày họ được sáng tạo " (  Gen 5, 1-2).

            " Ai đổ máu con người, thì máu nó sẽ bị con người đổ ra, vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa " ( Gen 9, 6).

            Hình ảnh Thiên Chúa là định nghĩa về bản thể con người trong Thánh Kinh. Ý nghĩa hiện hữu của con người là vì Thiên chúa hiện hữu. Con người Imago Dei cũng hiện hữu. Quan niệm Á Châu và các nước Cận Đông đều nghĩ đến nhà vua là thiên tử, là con Trời. Tất cả còn lại là thần dân. Trong Kinh Thánh, quan niệm thật nhân bản và xác thực: Tất cả mọi người là con Chúa được tạo thành theo hình ảnh Chúa. Thiên Chúa Ngôi Hai sinh làm con người. Ngài là Thiên Tử. Ngài xuống trần để nối liền Trời và Đất, để dạy cho mọi người biết: Tất cả là huynh đệ và được phép lên Trời với Chúa, vì được dựng nên giống chúa và chung hưởng hạnh phúc nước thiên đàng như Chúa. Chúng ta thường gọi là hiệp thông.

            Nói khác đi Con người là imago Dei, có nghĩa là xuất phát từ Thiên Chúa và được qui hướng về Thiên Chúa. Chúng ta có thể hình dung một vòng tròn: điểm phát xuất và điểm kết đều cùng một chỗ. Con người đến từ Chúa và qui về với Chúa, Đấng là Alpha và Omega.

" Chúa là Thiên Chúa đem con người đặt vào vườn Eden, để cày cấy và canh giữ đất đai " ( Gen 2, 15). 

            Khi làm việc, con người kiến tạo và tương quan với người khác. Thiên Chúa chúc phúc cho công việc con ngưiời trong ý hướng kiện toàn thế giới. Ý hướng kiện toàn làm con người thể hiện tình yêu thương nâng đỡ người chúng quanh . Của cải vật chất hay trần gian là của chung. Con người trong imago Dei nhìn người kjhác cũng imago Dei. Từ đó họ chia sẻ tất cả những gì đến từ Thiên Chúa sang tạo cho mọi người chung quanh.

            Bác ái Kitô giáo hay tám mối phúc thật không là chuyện xa lạ nhưng nằm trong bản thể con người là imago Dei. Nên con người thiếu bác ái hay long thương người là đánh mất bản thể mình. Hơn nữa chuyện bác ái hay long thương người khác không là chuyện tuỳ hỉ, làm được thì tốt không làm được cũng không sao. Không phải thế, không làm bác ái là được liệt kê bên tay trái của Vua Kitô, quan án ngày chung thẩm, phải nhận chịi hình phạt vì đã chối bỏ hình ảnh Chúa nơi an hem mình.

     " Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình,
        Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa,
        Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ " ( Gen 1, 27).

Đề nghị đọc lại bài giáo lý Thiên Chúa sáng tạo con người mà chúng ta đã học từ còn nhỏ theo kiểu hỏi thưa:

THIÊN CHÚA TẠO DỰNG CON NGƯỜI GIỒNG HÌNH ẢNH CHÚA

1.         Kinh Thánh
" Thiên Chúa phán: "Ta hãy dựng nên loài người giống hình ảnh của Ta và để cho họ làm chủ trên trái đất " (St 1,26).

2.         Ghi nhớ

1. Thiên Chúa tạo dựng con người thế nào?
Thiên Chúa tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa, có khả năng nhận biết và yêu mến Người.

2. Khi tạo dựng, Thiên Chúa đã ban cho con người những đặc ân nào?
Thiên Chúa đã ban cho Tổ tông loài người được sống trong ơn nghĩa với Thiên Chúa, trí khôn minh mẫn, không phải đau khổ và không phải chết. Nhưng hạnh phúc ấy đã mất khi Tổ tông phạm tội.

3. Vì ý nào Thiên Chúa tạo dựng loài người có nam có nữ?
Thiên Chúa tạo dựng loài người có nam có nữ, có cùng một phẩm giá, để họ bổ túc cho nhau, và trong hôn nhân, họ được cộng tác với Người lưu truyền sự sống

4. Được Thiên Chúa ban cho sự sống và phẩm giá cao quý như vậy, ta phải làm gì?
Ta phải tỏ lòng biết ơn và yêu mến Thiên Chúa, đồng thời cố gắng làm cho cuộc sống của ta và của mọi người ngày càng thêm tươi đẹp, và đầy yêu thương.

III.      Thực hành P.Â:

Lòng tri ân:
Người Pháp có câu “ Lòng biết ơn là trí nhớ của con tim!”. Vậy người vô ơn là người không có tim. Thường người bết ơn sống đúng là con người: họ có tim, có óc, có đạo đức, có văn hóa và giáo dục. Thể hiện lòng biết ơn là một việc không dễ làm. Vì thường chúng ta có tính dễ quên hơn là dễ nhớ.

Hàng ngày nơi tôi sống, có một anh thổ dân thường xuyên lui tới xin tiền. Anh dùng tiền mua rượu uống và say mèm nằm ngủ ngay tại cửa nhà bất kể mưa gió hay trời lạnh. Nhìn anh tôi thấy sao sót xa cho kiếp người. Không biết sao anh lại lâm cảnh khốn cùng như thế: Không nhà, không gia đình, không một hiểu biết nào .... và chắc rằng anh sẽ chết sớm, vì những cái không nầy...

Thật cám ơn Chúa, không vì tôi hơn anh, nhưng vì tôi có những cái để tôi sống đúng là con người, là hình ảnh Chúa. Cám ơn Trời! Cám ơn đời!

Chúa Kitô vua:
Hoàng gia Anh là một hảnh diện cho người Anh. Nguyên chuyện tình của Cathy và hoàng tử William, hay chuyện con đầu lòng của họ cũng đã chiếm nhiều trang sách báo của các nước. Tôi không bao giờ để mắt đến. Lý do: Họ có ích gì cho người khác để mà chiêm ngưỡng hay thán phục? Hay họ chỉ là những người sống trong nhung lụa xa hoa tiêu tiền của dân chúng?

Vua nơi tôi là người hy sinh cho người khác. Vua nơi tôi là người dám chết cho người mình yêu. Vua là cho chứ không là nhận hay thụ hưởng. Chúa Giêsu đáp ứng tiêu chuẩn làm vua. Ngài hy sinh và chết vì người khác. Ai biết hy sinh và chết cho người khác là VUA.

            Chúa Nhật 34 – Lễ Chúa Kitô Vua – Kết thúc Năm Phụng Vụ

            Năm Phụng vụ được xếp đặt để trình bày toàn bộ lịch sử cứu độ: Từ khi Chúa Giêsu, con Thiên Chúa đầu thai trong lòng Trinh Nữ Maria – Sinh ra làm con người – Sống ẩn dật 30 năm – Đi truyển đạo – chịu khổ hình – chịu chết -  phục sinh và lên trời vinh hiển.

            Năm Phụng vụ cũng trình bày lịch sử cứu độ được tiếp nối bằng việc “Các con hãy đi rao giảng tin mừng cho muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.... cho đến ngày Con người trở lại trong vinh quang có thiên thần hộ tống để phán xét kẻ lành người dữ từ người đầu cho đến người cuối hết.

           
            Lễ Chúa Kitô Vua, kết thúc năm phụng vụ hay lịch sử cứu độ. Tất cả đến từ Thiên Chúa từ ngày đầu sáng tạo – được lãnh đạo bởi Thiên Chúa toàn năng và được kết thúc bắng việc qui về Thiên Chúa toàn năng. Qua sự bắt đầu và kết thúc nầy, Giáo Hội muốn chúng ta nhận ra:

            Thiên Chúa là Thuỷ Chung là Alpha và Omega.
            Thiên Chúa toàn năng sáng tạo vũ trụ vạn vật thật kỳ diệu và tốt lành.
            Con người không đến từ ngẫu nhiên, nhưng trong chương trình của Thiên Chúa.

            Con người được được sáng tạo giống hình ảnh Thiên chúa.
            Thiên Chúa tạo thành và điểu khiển vũ trụ vạn vật như một Ông vua hùng mạnh.

            Thiên Chúa là mục tử nhân lành: yêu thương và chăm sóc con người.
            Ngài dạy con người yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương con người.
            Ngài không chinh phục con người bằng gươm dáo nhưng bằng tình thương cứu độ.
           
            Ngày thế mạt, Ngài xuất hiện như một vị vua để phán xét:
            Bên phải vị Vua là Những người đã thương yêu người khác như Ngài đã thương yêu.

            Bên trái vị vua là những người d0ã chối bỏ bỏ hình ảnh của Ngài nơi người khác.

            Thiên Chúa là vua: Đặt luật lệ tuần hành cho vũ trụ vạn vật.
            Thiên Chúa là vua: Đặt luật lệ yêu thương trong tâm hồn con người.
            Thiên Chúa là vua: nêu gương hy sinh và chết vì tình yêu con người.
            Thiên chúa là vua: xét xử con người trên những luật lệ đã đặt định.

            Thiên chúa là vua: Làm chủ vương quốc thiên đàng, nơi dành cho con người, đã tạo dựng theo hình ảnh Thiên chúa và biết nhận ra hình ảnh Thiên chúa nơi người khác.

            Toàn năm Phụng Vụ: bắt đầu và kết thúc lịch sử cứu độ

            Lịch sử vũ trụ vạn vật bắt đầu bởi Chúa – điều hành bởi quyền phép Chúa và qui hướng vế Chúa.

            Thiên Chúa là Alpha và Omega là Thuỷ Chung.

Lm Phêrô Trần Thế Tuyên



VÌ XƯA TA ĐÓI (23.11.2014 – Chúa nhật 34 Thường niên - Đức Giêsu Kitô Vua vũ trụ)
Chúng ta không phải tìm Chúa ở nơi xa xôi. Ngài không chỉ ở trong nhà thờ, trong bí tích. Ngài còn ở nơi những người đang cần chúng ta.

Suy nim:
Têrêsa Calcutta là người mê và sống đoạn Tin Mừng này.
Bà bị cuốn hút bởi những người đau khổ.
Dưới mắt bà, đó không chỉ là những người đáng thương,
mà còn là hiện thân của chính Chúa Giêsu đau khổ.
Tình yêu con người và tình yêu Chúa Giêsu quyện vào nhau.
Vì yêu Ngài, nên bà yêu con người mãnh liệt hơn.
“Tập nhìn ra chính Chúa Giêsu trong mỗi con người,
dù họ có vẻ đáng kinh tởm đến đâu đi nữa.”
Ðoạn Tin Mừng này được chọn đọc vào Chúa Nhật hôm nay,
vì ở đây Chúa Giêsu được mô tả như một vị Vua,
có thiên sứ theo hầu, ngồi trên ngai vinh hiển.
Ngài là Thẩm phán xét xử muôn dân,
tách biệt kẻ lành người dữ, thưởng phạt công minh.
Nhưng phán quyết của Ngài làm ai nấy kinh ngạc.
Người ta được chúc phúc hay bị nguyền rủa
dựa trên những việc họ đã làm hay không làm cho Ngài,
mà họ không hề hay biết.
Vua Giêsu chẳng ở đâu xa, chẳng ở cung vàng điện ngọc.
Ngài ở trong những người cùng khốn.
Vua Giêsu đồng hoá mình với những người đói khát,
khách lạ, trần trụi, đau yếu hay ở tù
mà chúng ta vẫn gặp mỗi ngày.
Ngài ẩn mình hay đúng hơn Ngài tỏ mình qua con người,
qua những người hèn kém đáng thương nhất.
Chúa vinh quang không ngại nhận họ là anh em.
Ngài không khoác tấm áo lộng lẫy kiêu sa
để dễ gần gũi với nỗi đau của người yếu thế.
Như thế chúng ta không phải tìm Chúa ở nơi xa xôi.
Ngài không chỉ ở trong nhà thờ, trong bí tích.
Ngài còn ở nơi những người đang cần chúng ta.
Mỗi người khốn cùng đều là một bí tích,
nơi chúng ta có thể thực sự gặp gỡ Chúa Giêsu.
Có những lần Chúa đi ngang qua đời ta
như vị vua giả trang làm người hành khất.
Ngày phán xét, chúng ta không được giả vờ ngạc nhiên
khi nghe biết mình đã để Ngài đi qua tay trắng.
“Chúng ta sẽ bị xét xử dựa trên tình yêu.”
Tội lớn nhất là tội thiếu sót: không làm điều phải làm.
Hôm nay Vua Giêsu vẫn ngửa tay
xin ta giúp các anh em bé mọn nhất của Ngài.
Những người mù chữ, những trẻ em đường phố,
những người bị suy sụp tinh thần, cần được yêu thương,
những người không tìm được cho đời mình một chỗ trọ,
những người tự nhốt mình trong tù ngục đam mê,
những người trần trụi vì phải sống nhờ thân xác.
Phải làm một việc gì đó cụ thể
để Nước Chúa lớn lên trong thế giới này.
Phải xây dựng một điều tốt đẹp nào đó
để Vua Giêsu thật sự là Vua Vũ Trụ,
vũ trụ bên ngoài và vũ trụ trong lòng con người.
Cầu nguyn:

Lạy Chúa Giêsu, Vua vũ trụ,
nếu Chúa là vua của hơn bốn trăm ngàn linh mục,
nếu Chúa là vua của hơn bảy trăm ngàn nữ tu,
nếu Chúa là vua của một tỉ người công giáo,
thì thế giới này sẽ đổi khác,
Hội Thánh sẽ đổi khác.

Chúng con không phải là một lượng men quá nhỏ.
Nếu khối bột chẳng được dậy lên,
thì là vì men đã mất phẩm chất.

Chúng con phải chịu trách nhiệm
về sự dữ trên địa cầu:
có nhiều sự dữ do chính chúng con gây ra.

Chúng con chỉ kêu cầu cho Nước Chúa mau đến,
nhưng lại không chịu xây dựng Nước ấy trên trần gian.

Lạy Chúa Giêsu Vua vũ trụ,
chúng con thường cố ý thu hẹp vũ trụ của Chúa,
giữ chặt Chúa ở trong nhà thờ,
nên nhiều nơi vẫn vắng bóng Chúa,
dù Chúa đã đến trái đất này từ 2000 năm.

Chúng con sợ Chúa đến làm phiền chúng con,
và không cho chúng con được yên ổn.
Ước gì một tỉ người công giáo
chịu để Chúa chi phối đời mình
và đưa Chúa đi vào những nơi Chúa chưa hề đến.
Như thế vũ trụ này
trở thành vũ trụ của Thiên Chúa.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Lectio Divina: Chúa Giêsu Kitô, Vua Vũ Trụ (A)
Chúa Nhật, 23 Tháng 11, 2014
Chúa Giêsu tự nhận mình là anh em với những kẻ bé mọn nhất
Điều kiện để được vào Nước Trời
Mt 25:31-46



1.  Lời nguyện mở đầu
Lạy Chúa Thánh Thần của chân lý, Đấng được Chúa Giêsu sai đến để hướng dẫn chúng con tìm đến sự toàn chân, xin hãy soi sáng tâm trí chúng con để chúng con có thể hiểu được lời Kinh Thánh.  Ngài là Đấng đã rợp bóng trên Đức Maria và khiến bà thành mảnh đất màu mỡ nơi Lời của Chúa có thể nẩy mầm, xin hãy thanh tẩy tâm hồn chúng con khỏi mọi trở ngại hướng đến Lời Chúa.  Xin giúp chúng con tìm hiểu giống như Đức Maria xưa kia với trái tim trinh khiết và tốt lành để lắng nghe Lời Chúa nói với chúng con trong cuộc sống và trong Kinh Thánh, để chúng con có thể tuân giữ Lời Chúa và sinh sản được hoa trái tốt tươi qua sự kiên trì của chúng con.

 2.  Bài Đọc 

a)  Bối cảnh:
Bài Tin Mừng của chúng ta là một phần của Bài Giảng thời cánh chung (Mt 24:1-25, 46) của Chúa Giêsu trên núi Cây Dầu giảng riêng cho các môn đệ của Người (24:3).  Bài giảng bắt đầu với lời công bố về sự phá hủy đền thờ Giêrusalem để nói về ngày tận thế.  Hai sự kiện trở thành lẫn lộn y như thể chúng là một.  Phần này của bài giảng kết thúc với cuộc quang lâm của Con Người với sự uy nghi và vinh hiển.  Người sẽ sai các thiên sứ của Người tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn (24:30-31).  Ở đây, thứ tự thời gian của các sự kiện được công bố bị gián đoạn bởi việc chen vào của một số dụ ngôn cần thiết hầu cảnh giác để khỏi bị mắc lừa bởi cuộc quang lâm của Con Người (24:24-25, 30).  Bài giảng về thời cánh chung đạt đến tột đỉnh văn học và thần học của nó trong đoạn Tin Mừng của chúng ta.  Phần Tin Mừng này liên quan với các câu Mt 24:30-31 và nói một lần nữa về cuộc quang lâm của Con Người cùng với các thiên thần hầu cận của Người.  Việc tập hợp những kẻ được Người tuyển chọn ở đây có hình thức của ngày phán xét cuối cùng. 
b)  Phúc Âm:  
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng:  “Khi Con Người đến trong vinh quang, có hết thảy mọi thiên thần hầu cận, Người sẽ ngự trên ngai uy linh của Người.  Muôn dân sẽ được tập họp lại trước mặt Người, và Người sẽ phân chia họ ra, như mục tử tách chiên ra khỏi dê.  Chiên thì Người cho đứng bên phải, còn dê ở bên trái.  Bấy giờ Vua sẽ phán với những người bên hữu rằng:  ‘Hãy đến hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ.  Vì xưa Ta đói, các ngươi cho ăn, Ta khát, các ngươi đã cho uống, Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước, Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc, Ta đau yếu, các ngươi đã viếng thăm, Ta vị tù đày, các ngươi đã đến với Ta.’  Khi ấy người lành đáp lại rằng:  ‘Lạy Chúa, có bao giờ chúng tôi thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ chúng tôi thấy Chúa là lữ khách mà tiếp rước, mình trần mà cho mặc; có khi nào chúng tôi thấy Chúa yếu đau hay bị tù đày má chúng tôi đến viếng Chúa đâu?’  Vua đáp lại:  ‘Quả thật, Ta bảo các ngươi:  những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta.’
Rồi Người cũng sẽ nói với những kẻ bên trái rằng:  ‘Hỡi phường bị chúc dữ, hãy lui khỏi mặt Ta mà vào lửa muôn đời đã đốt sẵn cho ma quỷ và kẻ theo chúng.  Vì xưa Ta đói, các ngươi không cho ăn, Ta khát, các ngươi không cho uống, Ta là khách lạ, các ngươi chẳng tiếp rước, Ta mình trần, các ngươi không cho đồ mặc, Ta đau yếu và ở tù, các ngươi đâu có viếng thăm Ta!’  Bấy giờ họ cũng đáp lại rằng:  ‘Lạy Chúa, có bao giờ chúng tôi đã thấy Chúa đói khát, khách lạ hay mình trần, yếu đau hay ở tù, mà chúng tôi chẳng giúp đỡ Chúa đâu?’  Khi ấy Người đáp lại:  ‘Ta bảo thật cho các ngươi biết:  những gì các ngươi đã không làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta.’  Những kẻ ấy sẽ phải tống vào chốn cực hình muôn thuở, còn các người lành thì được vào cõi sống ngàn thu.’”   

3.  Giây phút thinh lặng cầu nguyện

Để Lời Chúa được thấm nhập và soi sáng đời sống chúng ta.

4.  Một vài câu hỏi gợi ý

Để giúp chúng ta trong việc suy gẫm cá nhân.

a)  Chúa Giêsu dùng tiêu chuẩn nào để phân loại người ta?   
b)  Ai là những anh em bé mọn nhất của Chúa Giêsu mà chính Người tự nhận?                                                                                                                                                                                 
c)  Chúa Giêsu đã cho thấy sự ưu ái đến những kẻ bé mọn trong đời sống của Người như thế nào? 
d)  Ai là những anh em bé mọn nhất của Chúa Giêsu mà tôi đã gặp?
e)  Tôi có đủ khả năng để nhìn thấy, yêu thương và phục vụ Chúa Giêsu trong họ không?  
5.  Chìa khóa dẫn đến bài đọc



Dành cho những ai muốn đào sâu vào trong bài Tin Mừng.
  • Con Người:
Con Người là một lối nói của người Do Thái mà chỉ đơn giản có nghĩa là người phàm (xem ví dụ sự tương đương giữa “phàm nhân” và “con người” trong Thánh Vịnh 8:5).  Sách tiên tri Êgiêkien thường xử dụng chữ này với ý nghĩa này khi Thiên Chúa nói với ông như “con người” (2:1,3,6,8; 3:1,2,4,10,16+) để nhấn mạnh khoảng cách giữa Thiên Chúa là Đấng siêu việt và ngôn sứ chỉ là một phàm nhân.  Tuy nhiên, trong sách tiên tri Đanien 7:13-14, từ ngữ này có một ý nghĩa đặc biệt. Vị tiên tri nhìn thấy “trong đám mây trên trời, có ai như con người đang ngự giá mà đến”, Đấng nhận lãnh từ Thiên Chúa “quyền thống trị, vinh quang và vương vị”.  Tuy nhiên, văn bản này vẫn còn nói về một người phàm được đưa vào trong phạm vi của Thiên Chúa.  Văn bản đã được giải thích trong cả hai ý nghĩa cá nhân và tập thể, nhưng luôn luôn trong một ý nghĩa thiên sai.  Do đó, bất kỳ chúng ta đang đề cập tới một người hoặc tới tất cả Dân Chúa, Con Người là Đấng Mêssia, Đấng đem lại Vương Quốc Thiên Chúa, một vương quốc trường cửu và phổ quát.
Việc dùng chữ “Con Người” để nói đến Đức Giêsu như được áp dụng trong sách tiên tri Đanien, các câu 7:13-14, thì rất là phổ biến trong các sách Tin Mừng.  Chúng ta cũng tìm thấy trong sách Tông Đồ Công Vụ câu 7:56 và sách Khải Huyền các câu 1:13 và 14:14.  Các học giả nghĩ rằng Đức Giêsu đã tự cho mình danh hiệu này.  Trong sách Tin Mừng theo Mátthêu, từ ngữ này được dùng để nói về Chúa Giêsu đặc biệt khi Người nói về cuộc thương khó của mình (17:12, 22; 20:18, 28), sự phục sinh của Chúa như là một biến cố có tính cánh chung (17:19; 26:64) và cuộc trở lại vinh hiển của Người (các câu 24:30 và 25:31, phần đầu của bài Tin Mừng chúng ta).    
  •   Chúa Giêsu vua, vị quan tòa và người mục tử:
Tác giả Mátthêu cũng trao cho Chúa Giêsu tước hiệu vua (1:23; 13:41; 16:28; 20:21).  Vương quyền của Thiên Chúa là một chủ đề rất thân thiết với Kinh Thánh. Bởi vì Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, Người ngự trị cùng với Chúa Cha.  Trong bài Tin Mừng của chúng ta, nhà Vua là Đức Giêsu, nhưng Người thực hiện vương quyền của mình trong mối quan hệ chặt chẽ với Chúa Cha.  Những kẻ được tuyển chọn là “những kẻ được Cha Ta chúc phúc” và vương quốc mà họ được mời vào là vương quốc đã được chuẩn bị cho họ bởi Thiên Chúa, như động từ ở trong thể thụ động cho thấy.  Thể này của động từ, được gọi là sự thụ động thiêng liêng, thường được thấy trong Kinh Thánh và luôn luôn có Thiên Chúa là chủ thể hàm ý của nó. Trong đoạn Tin Mừng này, vương quốc chỉ về sự sống đời đời.
Như trong sách tiên tri Đanien chương 7 (đặc biệt các câu 22, 26, và 27), trong bài Tin Mừng của chúng ta, địa vị hoàng tộc của Con Người được kết nối với sự phán xét.  Nhà vua, đặc biệt trong thời cổ sơ, đã luôn luôn được coi là quan tòa tối cao. Sự phán xét mà Đức Giêsu thi hành là sự phán xét chung, cuộc xét xử có liên quan đến mọi dân tộc (câu 32).  Nhưng nó không phải là một sự phán xét tập thể.  Không phải là sự phán xét của các dân tộc mà là sự phán xét của từng cá nhân.
Trong cùng một cách, biểu tượng mục vụ được liên kết với tư cách vương quyền. Trong thời cổ đại, nhà vua thường được xem như là người chăn chiên cho dân tộc mình (xem ví dụ Thánh Vịnh 23; Is 40:11; Êd 34) và Tân Ước cũng áp dụng danh vị này cho Chúa Giêsu (Mt 9:36; 26:31; Ga 10).  Trong thời Chúa Giêsu, những người mục tử tại vùng Đất Thánh chăn dắt các đàn chiên và dê hỗn hợp.  Tuy nhiên, vào ban đêm, chúng được tách rời ra bởi vì chiên thì ngủ ngoài trời trong khi dê thì ưa ngủ trong chuồng.  Trong bài Tin Mừng của chúng ta, các con chiên đại diện cho những người được chọn bởi vì chúng có giá trị hơn dê và bởi vì màu lông trắng của chúng thường có nghĩa là sự cứu rỗi trong Kinh Thánh.     
  •   Các anh em bé mọn nhất của Ta:
Theo truyền thống, đoạn Tin Mừng này được giải thích với ý nghĩa rằng Đức Giêsu đã tự nhận mình với những kẻ nghèo hèn và bị rẻ rúng.  Chúa Giêsu sẽ phán xét tất cả mọi người, và đặc biệt những ai đã không có cơ hội để biết Tin Mừng của Người, theo lòng thương xót mà họ đã dành cho những người khốn khổ.  Tất cả mọi người đều có cơ hội chào đón hoặc từ chối Chúa, nếu không phải là chính Người, thì ít nhất là trong con người của kẻ cùng khốn nhất mà Chúa Giêsu đã tự đồng hóa mình với họ.
Chú giải Kinh Thánh hiện đại có xu hướng đọc văn bản với một ý nghĩa giáo hội học hơn:  Nó được đặt bên cạnh các câu của Mt 10:40-42 và các nhà chú giải Thánh Kinh nhấn mạnh rằng đó không phải là một vấn đề về công tác từ thiện mà là một sự đáp trả với Tin Mừng Nước Trời được rao truyền qua những người anh em của Chúa Giêsu, ngay cả bởi những kẻ bé mọn nhất trong bọn họ, không cứ chỉ bởi những người lãnh đạo Giáo Hội mà thôi.
Vì thế các dân tộc, đó là các dân ngoại, được mời gọi để đón chào các môn đệ của Chúa Giêsu là những người đi rao giảng Tin Mừng cho họ và chịu khó nhọc vì lợi ích của việc ấy, giống như họ đang tiếp đón chính Đức Giêsu.  Về phần các Kitô hữu, họ được mời gọi thực hành việc quảng đại hiếu khách đối với anh em của họ là những người đi đây đó rao giảng Tin Mừng và chịu sự bách hại (xem 2Ga 5-8). Theo cách này, họ sẽ bày tỏ tính xác thật của sự quyết tâm làm môn đệ của mình.
Trong bối cảnh Tin Mừng của Mátthêu, lối giải thích thứ hai này có lẽ chính xác hơn.  Tuy nhiên, trong bối cảnh của toàn bộ Kinh Thánh (xem ví dụ Is 58:7; Gr 2:1-9; 1Ga 3:16-19) lời giải thích thứ nhất không thể bị loại bỏ hoàn toàn.

6.  Thánh Vịnh 47                                                                       
Đức Mêssia-Vua khuyến khích công lý và hòa bình
Tâu Thượng Đế, xin ban quyền bính Ngài cho vị Tân Vương,
trao công lý Ngài vào tay Thái Tử,
để Tân Vương xét xử dân Ngài theo công lý,
và bênh vực quyền lợi kẻ nghèo hèn.

Núi đem lại cảnh hoà bình trăm họ,
đồi rước về nền công lý vạn dân.
Người sẽ bảo toàn quyền lợi dân cùng khổ,
ra tay cứu độ kẻ khó nghèo,
đập tan lũ cường hào ác bá.
Nguyện chúc Người tuổi thọ sánh vầng ô,
như bóng nguyệt đến muôn đời muôn kiếp!

Mong Người xuống tựa mưa sa nội cỏ,
ơn vũ lộ thấm nhuần cả đất đai.
Triều đại Người, đua nở hoa công lý
và thái bình thịnh trị tới ngày nao tuế nguyệt chẳng còn!
Người làm bá chủ từ biển này qua biển nọ,
từ Sông Cả đến tận cùng cõi đất!

Dân vùng sa mạc khúm núm quy hàng,
tất cả đối phương nhục nhằn cắn cỏ.
Từ Tác-sít và hải đảo xa xăm,
hàng vương giả sẽ về triều cống.
Cả những vua Ả-rập, Xơ-va,
cũng đều tới tiến dâng lễ vật.
Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng,
muôn dân nước thảy đều phụng sự!

Người giải thoát bần dân kêu khổ
và kẻ khốn cùng không chỗ tựa nương,
chạnh lòng thương ai bé nhỏ khó nghèo.
Mạng sống dân nghèo, Người ra tay tế độ,
giải thoát cho khỏi áp bức bạo tàn,
từng giọt máu họ, Người đều coi là quý.

Tân Vương vạn vạn tuế!
Thiên hạ sẽ đem vàng Ả-rập tiến dâng lên,
và cầu xin cho Người luôn mãi,
ngày lại ngày chúc phúc cho Người.
Mong cho xứ sở đầy dư gạo thóc,
đỉnh non cao sóng lúa rì rào,
trổ bông vàng đẹp tựa núi Li-băng,
thâu lượm được nhiều như cỏ dại!
Danh thơm Người sẽ trường tồn vạn kỷ,
nức tiếng gần xa dưới ánh mặt trời.
Ước gì mọi sắc tộc trần gian, nhờ Người được chúc lành,
và muôn dân thiên hạ ngợi khen Người có phúc.

Chúc tụng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa Ít-ra-en,
chỉ có Ngài làm nên những công trình kỳ diệu.
Muôn muôn đời xin chúc tụng danh Chúa hiển vinh,
ước gì vinh quang Chúa chiếu toả khắp hoàn cầu!
A-men. A-men!
7.  Lời Nguyện Kết

Lạy Chúa là Thiên Chúa, Chúa đã thiết lập Đức Giêsu, Con của Chúa, làm vua và là quan tòa vũ trụ.  Người sẽ đến vào ngày tận thế để phán xét tất cả mọi dân tộc. Người đến với chúng con mỗi ngày trong hàng ngàn cách và đòi hỏi chúng con chào đón Người.  Chúng con gặp Người trong Lời Chúa và trong việc bẻ bánh. Nhưng chúng con cũng gặp Người trong anh chị em khốn cùng của chúng con, trong những người đói khổ, bị áp bức, bất công, bệnh tật và bị sỉ nhục của xã hội chúng con.  Xin Chúa hãy mở lòng chúng con để chúng con có thể chào đón Người trong đời sống chúng con ngày hôm nay hầu chúng con có thể được Chúa chào đón vào trong vương quốc đời đời của Người.  
Chúng con cầu xin điều này nhờ Đức Kitô là Chúa của chúng con.  Amen.