Thứ Năm, ngày 28 tháng 8 năm 2014

Ly dị là ly dị khỏi hôn nhân, và khỏi cả thực tại

Ly dị là ly dị khỏi hôn nhân, và khỏi cả thực tại


Ly dị là vấn đề không đơn giản. Dù bạn có ý nghĩ gì về nó, vẫn có người nghĩ khác bạn. Nói cách khác, dù Giáo Hội có dạy sao, thì vẫn có người không hài lòng. Đó là ngụ ý của một bài đóng góp gần đây của Đức Ông Charles Pope, thuộc Tổng Giáo Phận Washington Hoa Kỳ.

Thực ra, chủ đích của bài báo muốn nói rằng: phần lớn những người ly dị nghĩ tới mình chứ không nghĩ tới con cái, vốn là một trong các lý do của cuộc hôn nhân của họ. Nhận định này được rất nhiều ý kiến đóng góp, kẻ khen người chê.

Ly dị và con cái

Trước nhất, ta hãy tìm hiểu xem Đức Ông Pope nói gì về chủ đề này. Ngài kể rằng cách đây ít năm, một phụ nữ giáo dân tới nói nói với ngài: bà và người chồng dự tính sẽ ly dị. Biết bà có hai đứa con đều dưới 10 tuổi, ngài hỏi bà: “còn xấp nhỏ?”. Bà bình thản cho hay: chính vì xấp nhỏ mà vợ chồng bà tính ly dị, vì không muốn chúng phải nghe những la ó, thóa mạ nhau hàng ngày của bố mẹ. 

Nghe vậy, Đức Ông nói với bà: “sao ông bà không ngưng việc la ó, thóa mạ nhau. Không tự ý làm được, thì nhờ người khác giúp làm cho bằng được. Đừng bắt xấp nhỏ phải trả giá hơn nữa cho các nan đề của ông bà”. 

Không những không nghe, người đàn bà còn tới bề trên của Đức Ông để kể tội Đức Ông thiếu mẫn cảm và xin vị bề trên này dạy Đức Ông biết mẫn cảm và ngoại giao hơn. Rất may vị bề trên này nhận ra: chính vợ chồng bà mới cần mẫn cảm và ngoại giao hơn đối với hai đứa con!

Điều thứ hai, Đức Ông Pope muốn nói là trong thập niên 1960, ly dị bị coi là điều ngỡ ngàng và sai lầm về luân lý. Năm 1969, đạo luật cho phép ly dị không cần lỗi lầm của ai chi cả đã ra đời. Trong non một thập niên sau đó, ly dị tiến từ chỗ gây ngỡ ngàng và bị xầm xì qua 1 hành vi chính dòng mà ai ai cũng nên có thiện cảm. Vả lại, há Thiên Chúa không muốn mọi người được hạnh phúc đó sao? Làm thế nào ta lại có thể bần tiện đến thế khi cứ nằng nặc cho rằng người ta nên ở lại các cuộc hôn nhân bất hạnh? 

Người ta chú trọng tới hạnh phúc đến nỗi quên khuấy rằng trong hôn nhân còn có cả Thánh Giá nữa: “khi thịnh vượng… lúc gian nan; khi bệnh hoạn… lúc mạnh khỏe”. Những lời vừa kể, theo họ, chỉ là những công thức nghi lễ, buộc phải có thế thôi. Thậm chí, họ không tin Chúa Giêsu thực sự muốn nói tới Thánh Giá. 

Chỉ trong mấy thập niên sau, họ đã tiến tới chỗ không coi hôn nhân như một tuân giữ lời hứa, hay cam kết, hoặc những gì tốt nhất cho con cái. Hôn nhân từ nay chỉ là chuyện của người lớn và điều gì làm họ hạnh phúc. 

Trong một cuốn sách gần đây tựa là “Defending Marriage, 12 Arguments for Sanity” (Bảo vệ hôn nhân, 12 luận điểm cho sự lành mạnh”, Anthony Esolen đưa ra mấy nhận xét sau đây:

“Cha mẹ thường nói, ‘con cái tôi không thể nào hạnh phúc nếu tôi không hạnh phúc’, nhưng họ không nên đặt cái câu nói bôi dầu kiểu tự yêu mình đó lên tâm hồn họ. Con cái cần cha mẹ yêu thương chúng, chứ không cần những cha mẹ hài lòng; chúng quá non nớt để người ta có thể yêu cầu chúng hy sinh mạng sống vì một ai khác. Con cái không có bổn phận phải chịu đau khổ vì cha mẹ, nhưng nhiệm vụ cha mẹ là chịu đựng, là lợi dụng tối đa hoàn cảnh tồi tàn, là nuốt tự hào, là quì gối xuống, vì con cái. Tôi đã được nghe nhiều người giọng vẫn còn run run mỗi lần nói tới những gì cha mẹ ly dị của họ làm cho họ: thẩy họ hết từ nửa căn nhà này sang nửa căn nhà khác, biến họ thành người “chỉ điểm”, chống báng nhau, [đe dọa] họ rằng họ sẽ ít có cơ hội gặp gỡ người cha hoặc người mẹ họ yêu dấu nếu họ không chịu làm y hệt điều [người đe dọa] đòi hỏi…” (tr.142).

Ấy là chưa kể tới những nỗi khổ phải chịu đựng người bạn gái mới của cha vừa dọn vào ở chung, hay ông chồng mới của mẹ hoặc một ông anh hay em trai “kế” rất khó tính và bắt đầu rở trò rờ mó bậy bạ… Chưa hết, Esolen cũng nhận định lối người ta “giải thích” ly dị cho con cái:

“[Đứa con] phải được nói cho hiểu người cha, dù không đến nỗi nào, nhưng vì một lẽ ‘huyền nhiệm’ nào đó, vẫn không làm hài lòng được người mẹ, và một cách tệ hại đến nỗi sự không hài lòng này khiến bà không còn chọn lựa nào khác ngoài việc buộc con trai [hay con gái] bà phải sống như không có cha… Người lớn có tài một cách kỳ lạ trong việc dệt nên chung quanh mình những màng nhện tự lừa dối mình để tự vệ. Con cái đâu có… chúng chưa bị thói quen, tuyên truyền hay lịch sử bóp méo sự thật làm cùn nhụt, nên những gì chúng thấy, chúng thấy rất rõ” (tr.138). 

Quả thế, con cái nổi tiếng về việc nhìn thấu sự giả hình của người lớn. Sự trong trắng ngây thơ của chúng luôn ngỡ ngàng trước tác phong tồi và sự bất nhất. Người bạn cùng lớp của Đức Ông Pope, có cha mẹ ly dị, vẫn lấy làm lạ tại sao “luật lệ’ trong nhà lại chỉ áp dụng cho cô mà thôi. Một hôm, cô hỏi người mẹ ly dị của cô tại sao bà không còn thương ba cô nữa. Bà trả lời: “nhưng má vẫn thương ổng mà”. Người cùng lớp thấy rõ sự dối trá nhằm để tự biện minh này nên đã thách thức mẹ cô trở về với cha cô. Mẹ cô chỉ còn biết nói: “con sẽ hiểu khi con lớn hơn”. Trong cái câu ngắn ngủi này, mẹ cô cố gắng vừa lên mặt cha chú với con gái vừa đưa cô vào cái thế giới hợm hĩnh và chuyên thỏa hiệp của thế hệ “baby-boomer” (nhiều con nít), một thế hệ, xét như một tập thể, chưa bao giờ biết trưởng thành và có lẽ là thế hệ tự yêu mình, ích kỷ, vị kỷ và ít trưởng thành nhất từ thời các nhà quí tộc xưa của văn hóa La Hy. 

Xưa và nay

Điều thứ ba, trước khi nói thêm về các tác hại của ly dị đối với con cái, Đức Ông Pope muốn minh xác: Ở đây ngài chỉ nói một cách tổng quát thôi, không nói tới các trường hợp cụ thể. Ngài biết mỗi cuộc ly dị đều có lịch sử riêng của nó, nên nhiều bạn đọc có thể tức giận hay tổn thương khi những điều trình bày ở đây không lưu ý tới những hoàn cảnh chuyên biệt và độc đáo từng khiến họ phải ly dị. Có những người đã làm hết cách để cứu vãn cuộc hôn nhân của mình mà vẫn không được. Điều ngài muốn nói là nền văn hóa ưa ly dị. Ngày trước, nói chung, người ta thường cố gắng giải quyết các dị biệt để ở lại với nhau. Ngày nay, người ta không còn làm như thế nữa. 

Ngày trước, người ta hay cân nhắc tác dụng của ly dị đối với con cái. Ngày nay, một là người ta không cân nhắc việc này hai là con cái được đẩy xa xuống dưới bảng liệt kê các nhu cầu và ước muốn của người lớn. Ngài cho hay: ly dị xé nát các gia đình, gây hại nặng nề và gây tổn thương cho con cái về tâm lý, về xúc cản, về tâm linh và cả về thể lý nữa. Không thấy điều này, ta không những ly dị với hôn nhân, ta còn ly dị với thực tại nữa.

Nhiều người không tin như thế. Nhưng ta thử nói với những người có cha mẹ ly dị mà xem. Họ sẽ cho bạn nghe các sự phi lý họ từng phải chịu: nào là phải sống hòa sống thuận với anh em trong khi ba và má chơi theo luật khác. Họ sẽ cho bạn hay họ bị chở tới chở lui những căn nhà khác nhau ra sao, họ cảm thấy tội lỗi như thế nào khi thích một khung cảnh hay thích cha hoặc mẹ này hơn cha hoặc mẹ kia, phải sống ở hai căn nhà với những “bộ” luật khác nhau, phải nghe cha mẹ “xấu miệng” với nhau, bị cha mẹ “thử” lòng trung thành như thế nào … Hãy hỏi: vì những kinh nghiệm ấy, họ có ý niệm gì về sự chấp nhận, lòng trung thành, sự tin tưởng, tôn trọng thẩm quyền, trân quí sự thật, trách nhiệm bản thân, lòng can đảm, đức kiên nhẫn, lòng tha thứ, nhân phẩm, trách nhiệm tính dục, hôn nhân, gia đình, tình yêu, v.v…

Ta cần nhìn ly dị trong cái gian dối ma quái của nó. Nó phát sinh từ sự cứng lòng, như Chúa Giêsu nói trong Mátthêu 19. 

Góp ý 1: sử dụng con cái làm vũ khí

Một người tên Deb chia sẻ rằng bà làm việc trong các dịch vụ xã hội đã được 33 năm, trong lãnh vực trợ giúp trẻ em. Nhưng bà vẫn chưa hết ngỡ ngàng trước cách con cái bị sử dụng làm vũ khí trong các vụ giải quyết ly dị… Người lớn quá tự yêu mình đến không còn khả năng hiểu các tai hại họ gây ra cho con cái. Không nên bắt những đứa trẻ 4 tuổi phải được sư trợ giúp của ngành phân tâm học!

Một nhà tâm lý học Công Giáo nhất trí với Deb. Dù hành nghề lượng giá tâm lý để kiếm sống, ông cũng nhận ra rằng: phần lớn, ly dị là một hình thức hơp pháp để hành hạ con cái. Phải chứng kiến cảnh cha mẹ đánh nhau, tranh chấp nhau, con cái bị đặt dưới một căng thẳng tâm lý khủng khiếp và sự căng thẳng này dẫn tới nhiều vấn nạn tâm lý trầm trọng nơi phân nửa số con cái chứng kiến cảnh ly dị của cha mẹ. Mọi con cái nạn nhân của ly dị đều học được rằng hôn nhân không kéo dài và trốn chạy/tránh né là bộ máy đệ nhất hạng để đương đầu ở trên đời.

Ông còn nhận định thêm và cho rằng ly dị cũng chuốc độc đối với các trẻ em thuộc các gia đình không có cha mẹ ly dị. Vì các em có thể có bạn bè có cha mẹ ly dị, nghe truyện của bạn, chúng cũng có thể bắt đầu hoài nghi chính chúng và cha mẹ chúng… Các tranh luận thông thường của cha mẹ chúng có thể gây nên nỗi sợ bị bỏ rơi nơi chúng… 

Ly dị tăng cường mối hoài nghi bản thân và chủ nghĩa hoài nghi triết học. Trẻ em các gia đình không ly dị có thể khởi đầu hoài nghi mọi thứ cam kết hiện có chung quanh chúng, và điều này dẫn tới lòng hoài nghi chính chúng. Vì ly dị đã thành phổ biến hiện nay, nên nó tạo hoài nghi nơi mọi trẻ em. Chúng ta đang ở trong thế hệ thứ ba của ly dị. 

Là một người tìm hiểu bản chất con người, ông nghĩ xã hội đã tới cái điểm bất khả trở lui của nó, không thấy bất cứ con đường tự nhiên nào (dù là luật pháp, xã hội, điều trị hay giáo dục) để thoát khỏi nan đề này. Ly dị và bất hoà gia đình đang tăng cường một phức hệ gồm nhiều lực lượng bản thân và xã hội gây ra những nỗi sợ tự lớn mạnh và khiến người ta chỉ còn quan tâm tới mình. Các trụ đỡ về xúc cảm và triết lý của cam kết đang bị phá sập quanh ta. Chỉ có Thiên Chúa và lòng nhân từ của Người mới cứu ta ra khỏi sự hỗn mang này. 

Suzanne Carl, một giáo sư cao đẳng dạy về môn diễn thuyết, cho hay: bà hỏi các sinh viên của bà xem chủ đề nào họ muốn nói tới nhiều nhất. Có người cho là ngày 11 tháng Chín, có người cho là vụ bắn bừa bãi giết các học sinh tại Trung Học Columbines, nhưng phần đông nói: “lúc cha mẹ tôi ly dị”. Bà mong cha mẹ họ nghe được lời phát biểu này. Bà cho rằng các em này đã đánh mất mỏ neo đời họ. 

Góp ý 2: Án vô hiệu

Theo thủ tục hiện nay, tòa án Giáo Hội chỉ thụ lý những vụ nào đã ly dị xong ở tòa đời. Nên có thể nói: tuyên bố vô hiệu hôn nhân của Giáo Hội là cái hậu của việc ly dị. Việc tuyên bố này hiện gây cay đắng cho rất nhiều bên vô tội trong các vụ ly dị. Dưới mắt những người này, nó là cái đinh cuối cùng đóng lên chiếc quan tài hôn nhân khiến nó không còn hy vọng gì sống lại nữa. Paricia là một trong những người này. Bà chia sẻ rằng “thủ tục này (tuyên bố vô hiệu) mỗi ngày mỗi tan nát (cõi lòng), nhất là về phương diện tâm linh, hơn cuộc ly dị khởi đầu. Tôi thắc mắc không hiểu bụi mờ có chịu lắng xuống sau cuộc hủy diệt một gia đình hay không? Tôi không nghĩ vậy”.

Có người khuyên Patricia nên trung thành với Giáo Hội dù giữa cuộc khủng hoảng. Patricia trả lời rằng: sau hai lần tuyên bố vô hiệu, bà hoàn toàn tan nát cõi lòng. “Sau một đời làm người Công Giáo ngoan đạo, tôi đã không còn thực hành đức tin nữa, cho tới nay đã hai năm. Đến cầu nguyện, tôi cũng rất ít khi làm. Tôi đã mấy hết lòng kính tọng đối với các linh mục như một toàn thể. Hiện nay, tôi nhìn Giáo Hội bằng cái nhìn của người bàng quan… Tôi không muốn nói tôi sẽ không bao giờ trở về với Giáo Hội, nhưng tôi không rõ điều gì có thể thuyết phục tôi trở về như thế”. 

Nhưng cũng có người tên Anna In California nói với Patricia rằng bà là “phó sản của một gia đình ly dị và bị chồng ly dị. Nhưng tôi luôn có đức tin, có Chúa chúng ta, có Mẹ của Người, có gia đình tôi là các thánh và các thiên thần, và có mái ấm là Giáo Hội nơi tôi được nuôi dưỡng và được tăng sức”. Bà khuyên Patricia trở về để được tiếp nhận Thánh Thể. 

Góp ý 3: trì chí ở lại

Jennifer có một kinh nghiệm khác với Giáo Hội Công Giáo: bị chồng ly dị để sống với một anh đực rựa giầu có, chỉ có Giáo Hội Công Giáo thăm hỏi bà trong vụ ly dị này, một vụ được bà coi như thời thanh luyện thiêng liêng, nên bà đã từ bỏ Đạo Mormon mà bà vốn thực hành từ năm lên mười. 

Magdalene thì cho hay bà không ly dị, nhưng hôn nhân của bà cũng rất khó khăn. Bà nghĩ rằng “điều thuyết phục chị (nói với Patricia) trở về với Giáo Hội là: uớc muốn yêu thương trở lại, uớc muốn được gần gũi với Chúa trở lại, uớc muốn được Chúa Giêsu chữa lành. Ta không thể cậy nhờ con người vì họ thường làm ta ngã lòng”. 

Trước những tâm tình và lời cầu nguyện này, Patricia thổ lộ rằng “Xin các bạn cầu nguyện cho tôi vì tự tôi, tôi không còn cầu nguyện. Nhưng hiện tôi không còn thấy chút yêu thương nào trong Giáo Hội nữa. Nói với tôi về việc Satan xúi giục hay yêu cầu tôi trở về với Đức Mẹ, vào thời điểm này, quả chẳng ích lợi gì. Có lẽ tôi cần một phương thức mới, một phương thức trí thức, ngược với phương thức yêu thương/sợ sệt đầy xúc cảm. Tôi không biết nữa… Tôi ghét chính phủ lớn, và tôi đã tiến tới chỗ coi Giáo Hội như một bàn giấy lớn khác, và là một bàn giấy điều hành bởi những người đàn ông, vâng những người đàn ông độc thân, những người không thể và không hiểu phụ nữ, không hiểu điều ta phải chịu đựng trong một cuộc hôn nhân Công Giáo, không hiểu điều ta phải chịu đựng trong một diễn trình vô hiệu hóa của Giáo Hội… Điều này xem ra như thể tôi là một người duy nữ, mà thực sự thì không phải, tôi chưa hề là một người duy nữ. Tôi luôn là đứa con gái vâng phục Mẹ Thánh Giáo Hội. Nhưng mấy năm qua đã thay đổi tôi, nay tôi đã là một con người rất khác, và tôi không hoàn toàn bất hạnh với điều này...” 

David Heath, một blogger, chia sẻ rằng: “ly dị không giải quyết được gì ngoại trừ việc cần thiết là hai người lớn phải lớn lên”. Ông thổ lộ: “tôi đang ở năm thứ năm của một cuộc ly dị không kèn không trống từng hủy diệt cả một gia đình, hủy diệt liên hệ cha mẹ - con cái và quan trọng hơn nữa, đã làm rối loạn và phi cảm 10 đứa con của một cuộc hôn nhân đã kéo dài 22 năm nay đối với giáo huấn đức tin của chúng và hạn từ “trung thành”. Tuyên bố vô hiệu sau đó không làm được gì khác ngoại trừ củng cố các sai lầm này. Nhưng bất kể các điều ấy, tôi vẫn quyết định tôn trọng các lời hứa ban đầu và tình yêu dành cho người vợ đầu tiên và là người vợ duy nhất của tôi… 

Trong một bài đăng ngày 19 tháng Tám vừa qua, tựa là “Ly dị và kẻ vô tội”, blogger này trích dẫn Thánh Vịnh 24: “Xin đoái nhìn con và rủ lòng thương xót con, lạy Chúa, vì con cô đơn và khốn khổ. Hãy đoái nhìn sự hèn hạ và thống khổ của con, và hãy tha thứ mọi tội lỗi con” và ca nhập lễ Chúa Nhật thứ Ba sau Hiện Xuống: “Lạy Chúa, hồn con hướng lên Chúa. Lạy Thiên Chúa của con, con tin tưởng nơi Người, đừng để con bị xấu hổ”. 

Góp ý 4: tấn công Thượng Hội Đồng sắp tới

Ấy thế nhưng một bà tên Magdalene vẫn cho rằng “việc tuyên bố vô hiệu sau đó quả là một tai tiếng! Kết hôn cả hàng thập niên và đã có một gia đình lớn chứng tỏ ông (Heath) đã sống trọn vẹn các bí tích. Các tòa án này quả là trò hề: tuyên bố vô hiệu chính là các vụ ly dị của Công Giáo bất kể các luận điểm nói ngược lại. Tôi cũng đã kết hôn cả mấy thập niên nay nhưng tôi cá là tôi có thể được tuyên bố vô hiệu. Giáo Hội khi phân phát án vô hiệu như ‘phát kẹo’ đã biến bí tích thành trò cười. Các tàn phá đối với con cái cũng y hệt như ly dị. Dối trá, ích kỷ, ngoại tình và phản bội tất cả đều như nhau”. 

Người với tên tắt MA, biệt danh người cha đau khổ, thì nhân cơ hội này tấn công thượng hội đồng ngoại thường sắp tới, bảo rằng nó “nuôi dưỡng nền văn hóa sa đoạ”. 

Góp ý 5: Công Giáo do con người

P. McCoy thì công khai bác bỏ các nhận định của Đức Ông Pope trên đây về ly dị. Anh ví việc một giáo sĩ bàn tới ly dị, hôn nhân hay tính dục giống như việc đi tham khảo người phu đổ rác để lấy lời khuyên về y khoa! Anh bảo: giáo phái độc hại là cái đạo Công Giáo do con người này, chứ không do Chúa Kitô, đã dám yêu cầu những con người chỉ là người “vác thánh giá” cả hàng thập niên chứ không phải mấy giờ!

Đức Ông Pope trả lời rằng ngài trình bày căn cứ vào lời Chúa Giêsu trong Máccô 10:1-10, chứ không theo Chúa Giêsu tưởng tượng của McCoy: “sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân chia… Ai ly di vợ mình và cưới một người đàn bà khác là phạm tội ngoại tình... ”

Richard Ryan thì cho rằng nếu McCoy đúng, chẳng hóa ra những ai chưa bị sát hại thì không thể nói giết người là điều quấy! Ryan trích thư Êphêsô 5:25: “Hỡi những người chồng, hãy yêu thương vợ mình như Chúa Kitô yêu thương Giáo Hội và phó mình cho Giáo Hội”.

Góp ý 6: đôi vai rộng

Nhưng nói sao về trường hợp sau, trường hợp người vợ phản bội? Bà May kể rằng cuộc hôn nhân của bà đến nay kéo dài được 29 năm, trong đó bà ngoại tình tới 5 lần, dù người chồng “không làm bất cứ điều gì gây ra sự bất trung của tôi”. 

Bốn lần đầu, người chồng không biết gì. Đến lần thứ năm, bà tưởng “cuối cùng tôi đã phá hủy hoàn toàn mọi sự, vâng mọi sự”. Điều bất ngờ là khi khám phá ra điều khủng khiếp này, chồng bà “đã như thể dính chặt vào mông tôi”. Tiếp theo là những cuộc ân ái “như để trả thù”. Nhưng rồi, người chồng gặp một linh mục được bà gọi đùa là “Cha Tha Thứ Cho Nàng”. Cha hỏi ông xem đã có bao giờ phạm tội chưa. Dĩ nhiên chồng bà thưa có, tuy thuộc một lãnh vực khác hẳn. Đó là khởi điểm đưa vợ chồng bà từ giường ngủ bước vào tâm và trí. Không những hòa giải mà còn hòa hợp qua những tách cà phê mỗi buổi sáng, qua đọc sách chung mỗi buổi chiều, và nhất là qua Kinh Magnificat mỗi buổi tối. Họ đã cứu được hôn nhân chung. Họ hiểu thêm rằng tình yêu không phải là chuyện 100 phần trăm và 100 phần trăm, mà thường là 80 phần trăm và 20 phần trăm, nghĩa là thế nào cũng có người “chịu thiệt” hơn và do đó phải hy sinh hơn. Trong trường hợp vợ chồng bà, bà cám ơn Chúa đã cho chồng bà đôi vai rộng hơn!

Kathryn chia sẻ rằng ly dị là ung thư trong gia đình bà: cả cha mẹ bà, các anh chị em bà, chính bà và hàng “tỷ” các bà cô ông cậu của bà đều ly dị. Gần đây nhất là em gái bà, một người bỏ đạo và hiện nay là một nhà vô thần. Bà đồng ý với Đức Ông Pope: vì tất cả chỉ chú trọng tới hạnh phúc của riêng mình. 

Góp ý 7: ca ngợi án vô hiệu

Doug thì đồng ý với thủ tục tuyên bố hôn nhân vô hiệu của Giáo Hội. Anh và vợ lấy nhau quá sớm, lại sống quá xa gia đình, thân nhân và bằng hữu. Cả hai chưa sẵn sàng lãnh trách nhiệm của đời sống hôn nhân. Nên anh rất biết ơn khi có người khuyên nên tiếp xúc với Giáo Hội để xin tuyên bố vô hiệu. 

Dennis kể lại các kinh nghiệm của riêng anh và của cha mẹ anh về những cuộc hôn nhân “vô giá trị”, nhưng cũng có thể trở thành giá trị. Anh lấy người vợ đầu để rồi khám phá ra chị chỉ lấy anh để có quốc tịch Hoa Kỳ. Ly dị xong, anh lấy được “một bà góa”, “không hẳn lúc nào cũng như tiên nhưng luôn tràn đầy yêu thương”. Trong khi ấy, cha anh lấy mẹ anh vì tinh thần trách nhiệm, đã làm mẹ anh mang bầu anh trước khi kết hôn. Bà cụ không thích thú lắm với động thái này. Không biết có phải vì cụ bị buộc phải trở lại đạo hay không. Để thuyết phục, ông cụ hứa với bà cụ: sau 5 năm, nếu bà muốn, ông sẽ để bà ra đi. Năm năm sau, dù đã có với nhau 4 đứa con, bà yêu cầu ông giữ lời hứa, và đồng ý để ông được giữ các con. Ông cụ hết sức ngỡ ngàng, đành nói với vợ sẽ nhờ mẹ chăm sóc bày trẻ. Rất may, nhờ bà cụ rất ghét mẹ chồng, nên đã quyết định ở lại. Rồi 3 đứa con nữa ra đời và khoảng 30 năm sau đó, khi các con đã khôn lớn, vấn đề lại nổi lên. Ông cụ đi vấn kế linh mục chánh xứ. Linh mục khuyên: nếu cụ bà muốn ly dị, hãy để cụ bà ra đi! Rất may (lại rất may nữa!), nhờ ông cụ “ngưng… không bước chân vào một nhà thờ Công Giáo” nào để phản đối cái lời khuyên quái ác này, dù trước đó rất ngoan đạo, có lúc đã nghĩ tới việc làm thầy sáu, và sau đó lên cơn nhồi máu cơ tim, nên bà cụ hết lòng chăm sóc ông cụ và không bao giờ còn “đặt vấn đề” nữa. Dennis cho rằng dù anh không hiểu hết mọi khúc mắc của vấn đề, nhưng anh tạ ơn Chúa vì cha mẹ anh vẫn ở lại với nhau trong cuộc hôn nhân “vô giá trị” của họ. 

Góp ý 8: phân phát vô hiệu như phân phát kẹo

Về nhận định cho rằng Giáo Hội phân phát án vô hiệu như phân phát kẹo, Jay, một luật gia giáo luật, từng phụ trách cả “hàng ngàn án vô hiệu” cho rằng nhận định đó không đúng: “Giáo Hội không ban hành án vô hiệu một cách dễ dàng hoặc đơn thuần để làm vui lòng các cá nhân. Mà thực sự ma quỉ hết sức chi tiết trong mọi vụ án hôn phối và chúng tôi phán đoán mọi vụ án trên căn bản từng vụ một”. Bà cho rằng càng ngày càng có nhiều án vô hiệu là vì “xã hội ta hiện cực kỳ thiếu chín chắn, duy vật chủ nghĩa và quá tự yêu mình. Người ta tiếp cận hôn nhân một cách rất khác nhau và bất hạnh một điều: nhiều người tiếp cận nó với những động lực hết sức vị kỷ và coi hôn nhân như một cấu trúc bản thân mà họ có quyền thay đổi tùy ý”. 

Một nhà tâm lý học Công Giáo muốn biết con số án vô hiệu thực sự tại Hoa Kỳ. Một mục tử tại Buckeye thêm: con số này nên được phân tích: bao nhiêu án vô hiệu vì những cuộc hôn nhân này chưa bao giờ diễn ra trong một nhà thờ Công Giáo, bao nhiêu án vô hiệu vì sự hiện hữu của một hôn nhân hiện còn đang hữu hiệu, bao nhiêu án vô hiệu vì đặc ân Phaolô hay Phêrô. 

Góp ý 9: bất đắc dĩ mới ly dị

Chưa thấy có ai lên tiếng đáp lời. Trong khi ấy, Anne, dù đồng ý rằng ly dị thường là vì cha mẹ chỉ chú ý tới hạnh phúc của mình mà quên hạnh phúc của con, nhưng cho rằng “cũng có nhiều truyện khác…” từ ngay chính gia đình chị: “Mẹ tôi có lời thề sẽ ở với cha tôi cho tới chết, do đó, cha tôi thấy ông có quyền coi mẹ tôi và chúng tôi như nơi đương nhiên để ông trút giận dữ lên đầu tùy thích. Ngày mẹ tôi bỏ cha tôi là một trong những ngày vĩ đại nhất trong đời tôi. Lần đầu tiên, tôi được sống trong một gia hộ không có bạo lực… Ly dị khỏi vợ và ra xa lạ với con cái, cuối cùng cha tôi mới học được rằng ông đã không còn sở hữu gia đình của ông nữa, và rất hối hận về lối sống của mình. Chúng tôi rất hòa thuận trong những ngày cuối đời ông, mẹ tôi hiện diện bên cạnh giường khi cha tôi qua đời”. 

Chị tự hỏi: chuyện gì sẽ xẩy ra nếu mẹ chị không được phép ly dị… “Khi ly dị, người ta có những lý do xấu, nhưng họ cũng có những lý do tốt. Có những đứa con đau khổ vì cha mẹ ly dị, thì cũng có những đứa con được cứu nhờ việc ly dị này”. Chị nhắc lại câu của Đức Phanxicô: “Tôi là ai mà dám phê phán?”

Luận điểm trên nghe ra có vẻ có lý. Nhưng Louise nhắc Anne nhớ rằng: mẹ chị có quyền bỏ cha chị, nhưng không cần phải ly dị ông! 

Nghe thấy thế, Marie góp ý: tuy ly thân là điều hợp pháp, nhưng ly dị đôi lúc vẫn cần vì đó là “phương thế hợp pháp nhất để giải quyết các vấn đề như sở hữu tài sản, trông coi con cái... Dĩ nhiên, sau đó, đôi bên không được tái hôn…”.

Không thấy ai bàn thêm, nhưng theo các Tin Mừng Nhất Lãm, ly dị kiểu Marie góp ý không phải là ly dị theo Chúa Kitô: ai bỏ vợ và lấy người khác, mới phạm tội ngoại tình. Còn chỉ bỏ vợ (hay bỏ chồng) mà không lấy người khác, không phạm tội ngoại tình. 

Lorrie vẫn không hiểu như thế, nên chị cho rằng tổng quát hóa những người ly dị vì muốn ly dị là điều thật đáng buồn, thật hết sức “vô cảm và đầy kết án!”. Bởi chị là người “đã làm mọi sự con người có thể làm được để cứu gia đình tôi nhưng vẫn không đánh bại được sự ác do cơn ghiền của chồng tôi giáng xuống. Ở lại trong tình huống đó là đặt con cái tôi vào vòng nguy hiểm. Một cách nghiêm túc… tôi không tin có ai nghiêm túc muốn ly dị cả”. 

Góp ý 10: hôn nhân là liên hệ hàng đầu và vẫn là liên hệ quan trọng nhất

Thiển nghĩ, chia sẻ của Franklin được coi là thấm thía nhất. Theo anh, “các liên hệ của con người cũng quan yếu và bất tử như chính linh hồn của con người. Tôi nghĩ đây là lý do tại sao ta được dạy là phải yêu người lân cận (nghĩa là những ai ở gần ta) như chính ta. Chị cả tôi thường bảo tôi rằng chị tin những ai gần ta nhất trên Thiên Đàng cũng là những người gần ta nhất trên Trái Đất. Điều này có ý nghĩa đối với tôi, để xây đắp những gì ta hiện có, đừng vất bỏ chúng để khởi đầu lại. 

“Và hôn nhân là liên hệ đệ nhất đẳng giữa các hữu thể nhân bản; nghĩa là, nó có trước nhất và vẫn có ý nghĩa nhất. Không có liên hệ nào trước Ađam và Evà, và không có liên hệ nào mà lại không có nó. Và không có liên hệ nào được nâng lên hàng bí tích, cũng chẳng có liên hệ nào được so sánh với mối liên hệ giữa Chúa Kitô và Giáo Hội của Người. Thực sự, ta có thể coi Thánh Kinh đã khởi sự với hôn nhân, và kết thúc với nó. 

“Nhưng ngay khi hôn nhân bị hủy diệt, mọi liên hệ sẽ bị hủy diệt, vì không có hôn nhân, ta hết còn coi mình như có liên hệ với nhau nữa. Và không có loại liên kết này, ta không còn lý do nào để coi bất cứ ai khác là con người hay là giống ta nữa. Theo tôi, đó là lý do tại sao một người đàn bà lại đi giết đứa con trong bụng mình; bà không coi đứa con là con người. Nhưng tại sao bà phải coi như thế, nếu bà thấy mình như đã cắt đứt với những người khác, và cô đơn?

“Người ta lầm lẫn khi cho rằng một ai đó có thể ly dị người phối ngẫu của mình nhưng vẫn trân quí con cái. Nhưng tôi xin hỏi: tại sao người ta có thể trân quí các liên hệ họ không tự ý chọn (tức con cái) khi họ không trân quí mối liên hệ chính họ tự ý chọn (hôn nhân). 

“Tôi thấy điều đáng lưu ý sau: tất cả năm vấn đề không thể thương lượng được là phá thai, an tử, lấy tế bào phôi thai nghiên cứu, ‘hôn nhân’ đồng tính, và sinh vô tính ra con người, hết 4 chủ yếu có tính tính dục. Nhưng theo tôi, chúng đều có chung một gốc rễ, như thể là ‘năm ngón tay trên bàn tay năm ngón’, một bàn tay bị ly dị… 

“Tôi thường nghe những lời cầu nguyện trong Thánh Lễ cầu cho sự thánh thiện của linh hồn con người; theo tôi, nay là lúc, ta nên bắt đầu thường xuyên cầu nguyện cho sự thánh thiện của các liên hệ nhân bản, nhất là hôn nhân”.


Vũ Văn An8/26/2014(vietcatholic)

Giải đáp phụng vụ: Các tín hữu có buộc làm dấu Thánh giá kép trước bài Tin Mừng không?

Giải đáp phụng vụ: Các tín hữu có buộc làm dấu Thánh giá kép trước bài Tin Mừng không?



Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Mới đây tôi đã nghe rằng một số cộng đoàn tu sĩ, chẳng hạn Dòng Cát Minh, không làm dấu Thánh giá kép trên trán, trên miệng và trên ngực khi thưa lời “Lạy Chúa, vinh danh Chúa, Gloria tibi, Domine", trước khi nghe đọc bài Tin Mừng trong Thánh lễ. Lý do là luật Dòng của họ xuất hiện trước khi người ta đưa việc làm dấu thánh giá vào phụng vụ. Trong luật chữ đỏ hiện nay của Novus Ordo, chỉ có linh mục hay thầy phó tế, bất cứ ai tuyên đọc Tin Mừng, được hướng dẫn làm dấu Thánh giá mà thôi. Qui chế Tổng quát Sách lễ Rôma (GIRM) chỉ nhắc đến việc làm dấu Thánh gia ở ba số: số 134, khi một linh mục cử hành Thánh lễ mà không có thầy phó tế, hướng dẫn các tín hữu làm dấu Thánh giá. Số 175, khi một phó tế tuyên đọc Tin Mừng, không hướng dẫn các tín hữu làm dấu Thánh giá. Số 262, khi linh mục cử hành Thánh lễ chỉ có một người giúp, không nhắc đến việc làm dấu Thánh giá. Yếu tố cuối cùng của câu khó này: các từ ngữ mà chúng con được dạy nói kèm theo cử chỉ (ngoài chữ "Gloria tibi, Domine") là "Xin cho lời Tin Mừng ở trong tâm trí con, trên môi con, và trong trái tim con". Các chữ ở giữa, "trên môi con", có vẻ thích hợp về phụng vu cho thừa tác viên công bố Tin Mừng, nhưng liệu nó có thích hợp về phụng vụ cho cộng đoàn không? Liệu sự qui chiếu không là vào tai của các người nghe Tin Mừng sao? Liệu cử chỉ làm dấu Thánh giá này có là cần thiết cho cộng đoàn không, nếu không, tại sao chúng ta lại làm? - T. D., Madison, bang Wisconsin, Mỹ.


Đáp: Trong khi tôi không thể xác nhận từ sự hiểu biết riêng của mình về sự thực hành của các tu sĩ Cát Minh. Không có gì là bất thường khi các Dòng tu cổ có vài tập tục phụng vụ hợp pháp, vốn là khác với sự thực hành chung.

Như bạn đọc của chúng ta nêu ra, số 134 của Qui chế Tổng quát Sách lễ Rôma nhắc rằng các tín hữu làm dấu Thánh giá cùng với linh mục. Xin trích dẫn:

"134. Tại giảng đài, vị tư tế mở sách và chắp tay đọc: "Chúa ở cùng anh chị em, Dominus vobiscum", dân chúng đáp: "Và ở cùng Cha, Et cum spiritu tuo", vị tư tế đọc tiếp: "Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô, Lectio sancti Evangelii.", đưa ngón tay cái làm dấu trên sách và trên mình, nơi trán, miệng và ngực, mọi người khác cũng làm như thế. Dân chúng tung hô nói: "Lạy Chúa, vinh danh Chúa, Gloria tibi, Domine ". Rồi vị tư tế xông hương sách Tin Mừng, nếu có xông hương (x. các số 277-278). Sau đó, vị tư tế công bố bài Tin Mừng, và cuối bài thì tung hô: "Ðó là Lời Chúa, Verbum Domini ", dân chúng đáp: "Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa, Laus tibi, Christe". Vị tư tế hôn sách và đọc thầm: "Nhờ những lời Tin Mừng vừa đọc, Per evangelica dicta " (bản dịch Việt ngữ của cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Chí Cần, giáo phận Nha Trang).

Sự chỉ dẫn làm dấu Thánh giá bị bỏ qua, khi nói về thầy phó tế trong số 175, không có nghĩa là dân chúng cũng bỏ qua việc làm dấu Thánh giá. Nó chỉ có nghĩa rằng không cần phải lặp lại một chỉ dẫn vốn đã rõ ràng rồi.

Đối với trường hợp một linh mục cử hành Thánh lễ chỉ có một người giúp, số 262 nói: " Ðoạn vị tư tế cúi mình đọc "Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin thanh tẩy, Munda cor meum", rồi đọc bài Tin Mừng. Kết bài ngài nói: "Ðó là Lời Chúa, Verbum Domini ", người giúp thưa: "Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa, Laus tibi Christe ". Vị tư tế hôn sách và đọc thầm: "Nhờ những lời Tin Mừng, Per evangelica dicta" (bản dịch như trên).

Phải thẳng thắn nói rằng thật là chưa rõ ràng liệu đoạn này ngụ ý rằng linh mục đơn giản đọc Tin mừng theo cách bình thường đã được mô tả hai lần trước đó, hoặc liệu ngài phải bỏ qua việc làm dấu kép trước khi đọc Tin Mừng. Việc giải thích thứ hai chắc là xa lạ, vì các lời chào ít ý nghĩa hơn với người giúp lệ lại được đưa vào. Tương tự như vậy, không có chỉ dẫn về cách thức bắt đầu bài Tin Mừng như thế nào mà không có việc làm dấu Thánh giá kép. Sẽ là ngớ ngẩn khi người đọc sách đọc “Trích sách ngôn sứ X…”, còn linh mục bỏ qua lời dẫn vào Tin Mừng. Do đó, tôi cho rằng linh mục cứ vẫn đọc câu dẫn vào Tin Mừng bình thường, và làm dấu Thánh giá kép.

Thật đáng nêu ra rằng việc số 134 chỉ dẫn cho dân chúng làm dấu Thánh giá kép là một điểm mới của ấn bản thứ ba của Sách lễ Rôma. Nó không được tìm thấy trong số 95 tương ứng của Qui chế Tổng quát Sách lễ Rôma trong thập niên 1970, mà trong đó cử chỉ làm dấu Thánh giá chỉ qui định cho thừa tác viên đọc Tin Mừng mà thôi. Khi nêu ra chỉ dẫn này, Sách Lễ chỉ đơn giản nhìn nhận một tập quán vốn đã trở thành phổ biến nơi các tín hữu trong nhiều thế kỷ.

Nguồn gốc của việc làm dấu Thánh giá trên trán và trên ngực là do người Frank hoặc người Đức, và nó có thể du nhập vào phụng vụ Rôma trong khoảng giữa các năm 800 và 1000. Việc làm dấu Thánh giá trên môi được đưa vào trễ hơn, nhưng không rõ là khi nào cách này trở thành một sự thực hành tiêu chuẩn.

Người ta có thể bắt đầu bắt chước cử chỉ của linh mục hay thầy phó tế ở một số điểm. Dường như không ai biết là nó diễn ra từ khi nào, nhưng tôi mạo muội đoán rằng chỉ sau khi phụng vụ Rôma được hoàn toàn thống nhất tiếp theo sau Công đồng Trentô. Sự thực hành này có thể được củng cố bởi các giáo lý viên dạy cho thiếu niên các cử chỉ trong Thánh lễ.

Do lịch sử như thế, bất kỳ ý nghĩa thiêng liêng nào gắn liền với các cử chỉ là cũng có nguồn gốc trễ hơn. Điều này không có nghĩa rằng chúng là tưởng tượng hay không có cơ sở trong sự thật, nhưng nó có nghĩa rằng chúng không nhất thiết là các giải thích duy nhất có thể được. Chúng cũng chia sẻ trong ý nghĩa chung của dấu Thánh giá, như là việc tuyên xưng đức tin vào Chúa Ba Ngôi và việc cứu chuộc qua Thánh Giá.

Một ý nghĩa được gợi ý bởi các lời cầu nguyện, mà linh mục đọc trước và sau khi tuyên đọc Tin Mừng. Trước khi đọc Tin Mừng, linh mục cúi mình trước bàn thờ và thầm thỉ cầu nguyện: " Lạy Thiên Chúa Toàn năng, xin tẩy sạch tâm hồn và miệng lưỡi con, để con có thể công bố Tin mừng của Chúa cho xứng đáng” (bản dịch Việt ngữ của Ủy ban Phụng tự thuộc HĐGMVN). Các ý này cũng có trong việc chúc lành cho thầy phó tế: “Xin Chúa ngự nơi tâm hồn và miệng lưỡi con, để con xứng đáng và đủ tư cách công bố Tin mừng của Chúa, nhân Danh Cha, + và Con, và Thánh Thần” (bản dịch như trên). Sau bài Tin Mừng, linh mục hay thầy phó tế hôn sách Tin Mừng và cầu nguyện: "Nhờ những lời Tin Mừng vừa đọc, xin Chúa xóa tội chúng con” (bản dịch như trên).

Bằng cách này, khi làm dấu Thánh giá kép, các tín hữu xin Thiên Chúa chúc phúc cho tâm trí và trái tim họ, để họ sẽ chấp nhận, ôm trọn sứ điệp Tin mừng vừa được tuyên đọc bởi linh mục hay thầy phó tế, và đến phiên họ, họ sẽ tự công bố sứ điệp qua đôi môi và đời sống của họ.

Dấu Thánh giá cũng là một lời tuyên xưng đức tin rằng lời chúng ta đã tiếp nhận là thật sự lời của Chúa Kitô. Thật vậy, chính Chúa Giêsu nói với chúng tôi, và chúng ta muốn rằng ngài chiếm hữu toàn thể con người ta, tư tưởng, lời nói, tình cảm và việc làm chúng ta.

Có thể có các diễn giải khác cho cử chỉ làm dấu Thánh giá này, nhưng như thế là đã đủ để cho thấy rằng ngay cả một cử chỉ đơn giản như việc làm dấu Thánh giá có thể chứa ý nghĩa thiêng liêng sâu sắc hơn. (Zenit.org 26-8-2014)

Nguyễn Trọng Đa

29/08/2014 Lễ Thánh Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết, Lễ Nhớ

29/08/2014
Lễ Thánh Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết, Lễ Nhớ



BÀI ĐỌC I: Gr 1, 17-19
"Ngươi hãy nói cho họ biết tất cả những điều Ta truyền dạy cho ngươi: Đừng run sợ trước mặt họ".
Trích sách Tiên tri Giêrêmia.
Trong những ngày ấy, lời Chúa phán cùng tôi rằng: "Ngươi hãy thắt lưng, hãy chỗi dậy, và nói cho họ biết tất cả những điều Ta truyền dạy cho ngươi. Đừng run sợ trước mặt họ, vì Ta không làm cho ngươi kinh hãi trước mặt họ. Hôm nay Ta làm cho ngươi nên một thành trì vững chắc, một cây cột bằng sắt, một vách thành bằng đồng trước mặt các vua Giuđa, các hoàng tử, các tư tế và dân chúng xứ này. Họ sẽ chiến đấu chống ngươi, nhưng họ không thắng được ngươi, vì Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi". Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 70, 1-2. 3-4a. 5-6ab. 15ab và 17
Đáp: Miệng con sẽ loan truyền sự Chúa công minh (c. 15a).
Xướng: 1) Lạy Chúa, con tìm đến nương nhờ Ngài, xin đừng để con tủi hổ muôn đời; theo đức công minh Chúa, xin cứu nguy và giải thoát con, xin ghé tai về bên con và giải cứu. - Đáp.
2) Xin trở nên thạch động để con dung thân, và chiến luỹ vững bền hầu cứu độ con: vì Chúa là Đá Tảng, là chiến luỹ của con. Lạy Chúa con, xin cứu con khỏi tay đứa ác. - Đáp.
3) Bởi Ngài là Đấng con mong đợi, thân lạy Chúa! Lạy Chúa, Ngài là hy vọng của con từ hồi thanh xuân. Ngay từ trong bụng mẹ, con đã nép mình vào Chúa; từ trong thai mẫu, Chúa là Đấng bảo vệ con; con đã luôn luôn cậy trông vào Chúa. - Đáp.
4) Miệng con sẽ loan truyền sự Chúa công minh, và suốt ngày kể ra ơn Ngài giúp đỡ. Lạy Chúa, Chúa đã dạy con từ hồi niên thiếu, và tới bây giờ con còn kể (ra) những sự lạ của Ngài. - Đáp.
ALLELUIA: Mt 5, 10
Alleluia, alleluia! - Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì nước trời là của họ. - Alleluia.
PHÚC ÂM: Mc 6, 17-29
"Con muốn đức vua ban ngay cho con cái đầu của Gioan Tẩy Giả đặt trên đĩa".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.
Khi ấy, Hêrôđê đã sai đi bắt Gioan và giam ông trong ngục: nguyên do tại Hêrôđia, vợ của Philipphê anh vua mà vua đã cưới lấy. Vì Gioan bảo Hêrôđê: "Nhà vua không được phép chiếm lấy vợ anh mình". Phần Hêrôđia, nàng toan mưu và muốn giết ông, nhưng không thể làm gì được, vì Hêrôđê kính nể Gioan, biết ông là người chính trực và thánh thiện, và giữ ông lại. Nghe ông nói, vua rất phân vân, nhưng lại vui lòng nghe.
Dịp thuận tiện xảy đến vào ngày sinh nhật Hêrôđê, khi vua thết tiệc các quan đại thần trong triều, các sĩ quan và những người vị vọng xứ Galilêa. Khi con gái nàng Hêrôđia tiến vào nhảy múa, làm đẹp lòng Hêrôđê và các quan khách, thì vua liền nói với thiếu nữ ấy rằng: "Con muốn gì, cứ xin, trẫm sẽ cho", và vua thề rằng: "Con xin bất cứ điều gì, dù là nửa nước, trẫm cũng cho". Cô ra hỏi mẹ: "Con nên xin gì?" Mẹ cô đáp: "Xin đầu Gio-an Tẩy Giả". Cô liền vội vàng trở vào xin vua: "Con muốn đức vua ban ngay cho con cái đầu Gioan Tẩy Giả đặt trên đĩa". Vua buồn lắm, nhưng vì lời thề và vì có các quan khách, nên không muốn làm cho thiếu nữ đó buồn. Và lập tức, vua sai một thị vệ đi lấy đầu Gioan và đặt trên đĩa. Viên thị vệ liền đi vào ngục chặt đầu Gioan, và đặt trên đĩa trao cho thiếu nữ, và thiếu nữ đem cho mẹ.
Nghe tin ấy, các môn đệ Gioan đến lấy xác ông và mai táng trong mồ. Đó là lời Chúa.


Suy niệm : Thánh Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết
Có những cái chết để lại cho đời niềm thương nhớ khôn nguôi. Có những sự ra đi làm cho con người thương nhớ, nhắc nhớ tên người chết mãi mãi không ngơi. Có những cái chết khiến người khác trề môi, phỉ nhổ. Chết là trở về nơi cũ. Chết là ra đi. Chết là trở về với Thiên Chúa, Đấng tạo dựng và tác sinh. Cái chết của thánh Gioan tẩy Giả, Giáo Hội mừng kính hôm nay khiến nhân loại phải ghi nhớ, khiến nhiều người thương tiếc, nhưng cũng không khỏi nguồn rủa sự điên rồ, ngạo nghễ và dại gái, khôn nhà dại chợ của Hêrôđê, một vị vua tàn ác và thiếu tư cách làm người.
Một cái đầu, một sự trả giá vô biên
- Hêrôđê đã đi vào con đường tội lỗi. Sự dại gái, khôn nhà, dại chợ của Hêrôđê đã khiến vị vua này trở nên ngông cuồng điên dại. Sống trong tội lỗi,tâm hồn của Hêrôđê đã trở nên mù quáng, tối tăm. Ở trong bóng tối, Hêrôđê đã không còn biết phân biệt đâu là phải, đâu là trái. Ông đã hành động tùy tiện việc nước, đã ăn chơi, chè chén trác táng. Ông không còn biết nhận ra sự thật. Số là Hêrôđê đã cướp vợ của ngay người em mình. Sự loạn luân không thể tha thứ, đã làm cho Gioan Tẩy Giả phải lên tiếng quở trách nặng lời hành động vô luân của Hêrôđê và Hêrodias, vợ loạn luân của Hêrôđê. Đúng như lời Kinh Thánh nói: “Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan. Ông đến để làm chứng, và làm chứng về ánh sáng…” (Ga 1,6-7).
- Gioan không phải là ánh sáng, nhưng Gioan tới để minh chứng về ánh sáng. Vì chứng minh cho Chúa Giêsu là sự thật, là ánh sáng. Gioan đã không bao giờ chịu khuất phục trước những việc chướng tai gai mắt của con người, của xã hội đương thời và của nhân loại. Gioan đã có lần nói: “Có Đấng đến sau ông và ông không xứng đáng cởi giây dép của Ngài”. Gioan quả thực đã tới trần gian để dọn đường cho Chúa Cứu Thế. Làm công tác dọn đường, Gioan đã sống đích thực sứ mạng của vị tiên tri. Ngôn sứ phải nói lên sự thật và không bao giờ sợ nguy hiểm cho dù công tác của vị ngôn sứ luôn gặp sự hiểm nguy. Để làm chứng cho Đấng cứu thế, Ngài đã nói công khai với mọi người khi họ lầm tưởng Gioan là Đức Kitô: “Người phải lớn lên,còn tôi phải nhỏ lại”. Gioan đã lớn lên trong sự minh chứng cho sự thật. Chống lại hành động loạn luân và dâm dật của đôi dâm phụ Hêrôđê và Hêrodias. Gioan Tẩy Giả đã phải chấp nhận cái bi đát nhất của cuộc đời ngôn sứ của mình: cái chết. Hêrôdias vì không chấp nhận sự thật, không chịu nổi lời quở trách của vị tiên tri. Nên đã căm thù tìm cơ hội khử trừ vị ngôn sứ đầy uy tín. Với sự nhảy múa cuồng nhiệt nhân ngày sinh nhật, Hêrodiađê đã làm ngây ngất vua Cha. Cái đầu,vẫn là sự căm tức ngông cuồng của Hêrôdias. Đầu của vị ngôn sứ Gioan Tẩy Giả đã nằm gọn trong chiếc dĩa trước mặt Hêrôđê.
Lời chứng đáng giá nhất của ngôn sứ Gioan Tẩy Giả
- Dù biết rằng mình sẽ phải chấp nhận cái bi đát nhất của cuộc đời, Gioan Tẩy Giả vẫn nói lên tiếng nói bất khuất của vị ngôn sứ. Mọi tiên tri đều phải trả giá cho lời chứng của mình. Gioan Tẩy Giả đã sống anh dũng, can trường với lời nói của mình.Cái đầu phải trả là giá nặng nề và đáng nguyền rủa nhất của vị ngôn sứ sau cái chết chịu đóng đinh nơi thập giá đối với người Do Thái lúc đó. Gioan Tẩy Giả đã tự xóa nhòa mình để cho Đấng cứu độ lớn lên trong lịch sử nhân loại.Lời chứng và cái chết của Ngài, đã nói lên sự thật muôn đời là Gioan đã hoàn toàn đáp trả hoàn toàn lời mời gọi của Thiên Chúa: “Ngài không sợ hãi,lớn tiếng trước mặt các vua chúa. Ngài đã hiến mạng sống cho công bình và chân lý”.
(Lm Nguyễn Hưng Lợi)

LỜI CHÚA MỖI NGÀY
Thánh Gioan Tẩy Giả chết

Bài đọc: 2 Thes 3:6-10, 16-18; Mk 6:17-29.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀKỷ luật cần thiết cho đời sống con người 
Con người khác con vật ở chỗ biết suy nghĩ và tự chủ, chứ không phải muốn làm gì thì làm như con vật. Các bài đọc hôm nay dẫn chứng những loại người không sống theo kỷ luật. Họ trở nên gánh nặng và gây ra nhiều thiệt hại cho người khác; nhưng họ phải gánh trách nhiệm trước tòa phán xét của Thiên Chúa trong Ngày Chung Thẩm. 

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Đời sống kỷ luật
1.1/ Sự cần thiết của đời sống kỷ luật: Thành công hay thất bại cả về mặt vật chất lẫn tinh thần đều tùy thuộc vào đời sống kỷ luật, thái độ luôn biết làm chủ con người mình trong bất cứ hoàn cảnh nào của cuộc sống. Người kỷ luật không bao giờ để cho người khác hay khó khăn chi phối họ; trái lại, họ tìm mọi cách để khắc phục các trở ngại gặp phải. Thánh Phaolô là mẫu người kỷ luật, nhưng ngài cũng biết ảnh hưởng của những người vô kỷ luật trên các tín hữu của ngài, nên ngài nhắc nhở họ: “Thưa anh em, nhân danh Chúa Giêsu Kitô, chúng tôi truyền cho anh em phải xa lánh mọi người anh em sống vô kỷ luật, không theo truyền thống anh em đã nhận được từ nơi tôi. Chính anh em thừa biết là anh em phải bắt chước chúng tôi thế nào. Khi ở giữa anh em, chúng tôi đã không sống vô kỷ luật.” 
1.2/ Sự cần thiết của làm việc: Con người sống cần có của ăn, và để có của ăn con người phải làm việc. Những tư tế của Chúa, vì phải làm việc trong Đền Thờ nên không có giờ để làm việc kiếm của ăn như những người khác, Chúa ban cho họ được quyền hưởng của ăn do giáo dân cung cấp. Điều này công bằng vì họ cũng làm việc để lo lắng phần hồn cho giáo dân; chỉ bất công khi họ không chu toàn trách vụ của mình. Thánh Phaolô được quyền hưởng những gì dành cho các tư tế, nhưng ngài cố gắng hy sinh làm việc để nêu gương sáng cho giáo dân. Ngài nói: “Chúng tôi đã chẳng ăn bám ai, trái lại đêm ngày đã làm lụng khó nhọc vất vả, để khỏi nên gánh nặng cho người nào trong anh em. Không phải là vì chúng tôi không có quyền hưởng sự giúp đỡ, nhưng là để nêu gương cho anh em bắt chước.”
Ngài ra chỉ thị cho họ: “Ai không chịu làm thì cũng đừng ăn!” Điều này thật công bằng cho những người có khả năng làm việc. Nhưng nhiều người lười biếng lý luận “không làm mà cũng có ăn thì tốt hơn” hay “làm ít ăn nhiều thì mới là người khôn ngoan.” Chẳng những đã không làm, họ còn dùng thời giờ rảnh rỗi để phạm tội: nói xấu, xen vào việc của người khác, hưởng thụ những thú vui bất chính… Đúng như lời một thánh nhân đã cảnh cáo: “Ở không là mẹ của các tật xấu.” 
1.3/ Phản ứng của những người siêng năng làm việc: Khi thấy những người khác không làm mà được hưởng, đôi khi còn được hưởng trọn mọi cố gắng của người khác, những người siêng năng làm việc sẽ khó chịu tức tối vì bất công. Một số phản ứng sau đây sẽ xảy ra:
(1) Phản ứng thông thường là sẽ tìm cách cho những người ấy một bài học hay phơi bày họ ra ánh sáng. Phản ứng này sẽ làm con người bất an nếu gặp chống cự và kết quả không theo ý mình muốn.
(2) Một phản ứng khác là sờn lòng nản chí rồi bỏ không tiếp tục làm điều đúng nữa. Phản ứng này không nên làm vì đã để người khác chi phối cuộc đời mình.
(3) Phản ứng của Thánh Phaolô: Hãy khuyên bảo họ; nếu cách đó không kết quả thì hãy tìm sự bình an nơi Chúa vì: “Chúa là nguồn mạch bình an, xin Người ban cho anh em được bình an mọi lúc và về mọi phương diện.” Hơn nữa, chúng ta không lo việc bất công vì chính Ngài sẽ phán xét họ, vì không có gì giấu kín mà không bị tỏ lộ ra. Họ có thể đóng kịch qua mặt hết mọi người nhưng không bao giờ qua mặt được Thiên Chúa, Đấng thấu suốt tâm hồn họ. 
2/ Phúc Âm: Gioan Tẩy Giả chết làm chứng cho sự thật. 
2.1/ Rau nào sâu nấy: Nhìn vào gia đình của Herode, một người có thể nhìn thấy quyền lực vủa ma quỉ thống trị gia đình này. Vua Herode Cả có tất cả 5 đời vợ (Cleopatra của Jerusalem, Doris, Mariamne của Hasmonean, Mariamne của Boethusian, và Malthake). Chính ông đã giết 3 người con: Antipater bởi Bà Doris, Alexander và Aristobulus bởi Bà Mariamne của Hasmonean. Lọan luân xảy ra khi Herodias, con của Aristobulus, kết hôn với Philip, chú của Bà; rồi lại muốn kết hôn với Herode Antipas, em của Philip, như trình thuật kể hôm nay. Chuyện lọan luân khác nữa là Salome, người con gái của Bà Herodias trong trình thuật hôm nay, lại kết hôn với Philip, con của Bà Cleopatra. 
2.2/ Các thái độ sống khác nhau trong cuộc đời:
(1) Vua Herode Antipas: thừa hưởng một nếp sống hoang dâm và ác độc của vua cha, ông cũng không sống theo lập trường rõ rệt. Ông đã sai người đi bắt ông Gioan và xiềng ông trong ngục: lý do là vì vua đã lấy bà Herodia, vợ của người anh là Philíp; và Gioan đã công khai chỉ trích nhà vua. Thái độ không lập trường của ông được Marcô mô tả: “Thật vậy, vua Herode biết ông Gioan là người công chính thánh thiện, nên sợ ông, và còn che chở ông. Nghe ông nói, nhà vua rất phân vân, nhưng lại cứ thích nghe.”
“Sự tình xảy ra là khi nhà vua mở một bữa tiệc thết đãi quan khách tại Galilee, con gái bà Herodia, Salome, vào biểu diễn một điệu vũ, làm cho nhà vua và khách dự tiệc vui thích. Nhà vua nói với cô gái: "Con muốn gì thì cứ xin, ta sẽ ban cho con." Vua lại còn thề: "Con xin gì, ta cũng cho, dù một nửa nước của ta cũng được." Được sự cố vấn của mẹ, cô xin “đầu của Gioan Tẩy Giả đặt trên đĩa.” Nhà vua buồn lắm, nhưng vì đã trót thề, lại thề trước khách dự tiệc, nên không muốn thất hứa với cô. Lập tức, vua sai thị vệ đi và truyền mang đầu ông Gioan tới. Thị vệ ra đi, chặt đầu ông ở trong ngục, bưng đầu ông trên một cái mâm trao cho cô gái, và cô gái trao cho mẹ.”
(2) Bà Herodia và Salome: sống và làm chứng cho sự gian trá. Bà Herodia căm thù ông Gioan vì đã dám ngăn cản hôn nhân của Bà, và muốn giết ông nhưng chưa được. Khi cơ hội tới qua câu hỏi của cô con gái: "Con nên xin gì đây?" Bà đã lạnh lùng trả lời: "Đầu Gioan Tẩy Giả." Lập tức, cô vội trở vào đến bên nhà vua và xin rằng: "Con muốn ngài ban ngay cho con cái đầu ông Gioan Tẩy Giả, đặt trên mâm."
(3) Gioan Tẩy Giả: sống và làm chứng cho sự thật. Ông không chú ý đến nhu cầu vật chất, danh vọng, chức quyền; nhưng can đảm sống và kêu gọi mọi người ăn năn sám hối. 

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Mọi người chúng ta đều được Thiên Chúa cho vào đời với một sứ vụ; chứ không tình cờ xuất hiện hay chỉ để ăn uống, hưởng thụ. Sứ vụ của chúng ta là làm sao giúp cho mọi người nhận ra tình yêu và đạt được ơn cứu độ của Thiên Chúa.
- Chúng ta đều có bổn phận như Gioan là dọn tâm hồn và chỉ đường cho mọi người đến với Đức Kitô; chứ không hướng mọi người vào chúng ta, hay vào bất kỳ một nhân vật nào khác.
- Để hoàn thành điều này, chúng ta chắc chắn phải chịu nhiều đau khổ, như Đức Kitô và Gioan Tẩy Giả đã trải qua.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên OP

29/08/14 THỨ SÁU TUẦN 21 TN
Th. Gio-an Tẩy Giả bị trảm quyết
Mc 6,17-29

Suy niệm: Dù không bị bắt phải bước qua thập giá hay phải chối bỏ đức tin như các vị thánh tử đạo, thánh Gio-an Tẩy giả bị chết tức tưởi chỉ vì một lời nói ngay, bênh vực cho đạo lý: “Nhà vua không được lấy vợ của anh mình.” Dùng lời nói, cuộc sống và cuối cùng dùng cả cái chết của mình để rao giảng cho chính đạo như thế, Gio-an Tẩy Giả xứng danh là một vị tử đạo đầy đủ ý nghĩa, đúng như Lời Chúa nói trong Tám Mối Phúc Thật: “Ai chịu khốn nạn vì đạo ngay ấy là phúc thật” – nói theo ngôn ngữ hiện đại là “ai vì bênh vực cho công lý, cho lẽ phải mà phải chịu thiệt thân” người ấy được hưởng hạnh phúc giống như những người dám liều thân làm chứng cho Đức Ki-tô vậy.
Mời Bạn: Lời Tertulianô, một văn sĩ công giáo cổ thời, vẫn còn giá trị: “Máu các thánh tử đạo là hạt giống làm trổ sinh các tín hữu.” Để có thể dám chết vì chính đạo, ta phải dám sống vì chính đạo trước đã. Chính cái chết từng ngày qua việc từ bỏ tính ích kỷ, từ bỏ những đam mê dục vọng, những việc làm bất chính sẽ dẫn đưa chúng ta đến cõi sống muôn đời và là những hạt giống âm thầm được vùi trong cuộc sống để làm trổ sinh các tín hữu mới.
Chia sẻ: Sống đạo là “sống-tử-đạo”. Để sống-tử-đạo bạn cần từ bỏ những gì?
Sống Lời Chúa: Mỗi ngày bạn sống-tử-đạo bằng cách làm một hy sinh nhỏ.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin giúp con biết từ khước những thói hư tật xấu, chết cho ý riêng con mỗi ngày để luôn sống trong tình yêu của Thiên Chúa.

Đầu Gioan Tẩy giả
Bài Tin Mừng hôm nay cũng cho ta một số kinh nghiệm của Hêrôđê... Có những lời nói vội vã mà sau đó ta phải hối tiếc và trả giá.


Suy nim:
Ngày sinh nhật của một người lại dẫn đến cái chết của một người khác.
Nếu sự kiện xảy ra đúng như truyền thống mà Máccô nhận được và ghi lại
thì thật là khủng khiếp.
Ai có thể tưởng tượng nổi chuyện trong bữa tiệc sinh nhật của Hêrôđê,
một cô bé dám bưng mâm, trên có cái đầu vừa bị chặt của một người,
máu còn chảy ròng ròng, mắt đang nhắm hay mở?
Cô bưng và vui vẻ trao cho mẹ cô.
Mẹ cô sẽ bưng và trao cho ai cái đầu của Gioan, người mà bà căm ghét?
Bài Tin Mừng hôm nay cũng cho ta một số kinh nghiệm của Hêrôđê.
Trước hết là kinh nghiệm bị giằng co giữa cái tốt và cái xấu.
Hêrôđê Antipas đã bắt ông Gioan tẩy giả và xiềng ông trong ngục.
Lý do vì Gioan đã cản trở cuộc hôn nhân sai trái của ông với Hêrôđia.
Dầu vậy Hêrôđê vẫn biết Gioan là người công chính thánh thiện,
vẫn sợ ông và che chở ông khỏi sự trả thù của Hêrôđia (cc. 19-20).
Hêrôđê còn lương tâm khi ông thích nghe Gioan nói, dù rất bối rối khi nghe.
Kế đến là kinh nghiệm về sự thiếu chín chắn của Hêrôđê khi thề hứa.
Cái gì đã xui khiến ông nói câu dại dột này với cô bé Salômê:
“Con xin gì ta cũng cho, dù một nửa nước của ta cũng được” (c. 23)?
Bầu khí cuồng nhiệt của bữa tiệc sinh nhật, hay điệu vũ đẹp mê hồn,
hay rượu đã ngà ngà say, hay muốn chứng tỏ mình đầy quyền lực?
Hay sự cộng hưởng của mọi yếu tố trên?
Có những lời nói vội vã mà sau đó ta phải hối tiếc và trả giá.
Cuối cùng là kinh nghiệm về sự mất tự do trước khi quyết định.
Khi cô bé xin cái đầu của Gioan, Hêrôđê hẳn đã sửng sốt ngỡ ngàng.
Ông buồn hết sức vì mình đã lỡ thề hứa như vậy (c. 26).
Ông có thể rút lại lời đã nói không? Dĩ nhiên là có.
Nhưng nỗi sợ đã khiến ông không dám làm.
Sợ từ chối cô bé, làm cho cô buồn và mẹ cô nổi giận,
sợ bị mang tiếng là nuốt lời trước mặt bá quan văn võ.
Nói chung ông sợ mất danh dự của mình, mất thiện cảm của người khác.
Bởi vậy, dù Hêrôđê thấy việc giết Gioan là điều sai trái,
ông vẫn không dám xin rút lại lời thề thiếu suy xét của mình.
Cần can đảm để giữ lời hứa, nhưng có khi cần can đảm hơn để không giữ.
Danh dự hão của Hêrôđê được mua bằng máu của một vị ngôn sứ lớn.
Hêrôđê đã can dự vào cái chết của Gioan.
Ông chịu áp lực từ khách dự tiệc và mẹ con Hêrôđia.
Philatô đã can dự vào cái chết của Đức Giêsu.
Ông này chịu áp lực từ dân chúng và các thượng tế.
Cả hai ông đều không có tự do, không có can đảm để tha cho người vô tội.
Cả hai ông đều nghĩ đến mình, cái ghế của mình, danh dự của mình.
Quyền lực được sử dụng như bạo lực, khiến người lành phải chết oan.
Chúng ta xin cho mình luôn có tự do, để mọi quyết định phù hợp với ý Chúa.
Cầu nguyn:

Lạy Chúa Giêsu,
sám hối không phải là điều dễ dàng,
bởi lẽ chúng con không đủ khiêm tốn
để nhận mình lầm lỗi.

Chúng con ngỡ ngàng
khi thấy Chúa là Đấng vô tội
mà lại đứng chung với các tội nhân,
chờ Gioan ban phép Rửa.

Chúa đã muốn nên bạn đồng hành
với phận người mỏng dòn yếu đuối chúng con.

Xin cho chúng con biết thường xuyên điều chỉnh
lối nghĩ và lối sống của mình,
tỉnh táo để khỏi rơi vào ảo tưởng,
thành thật để khỏi tự dối mình.

Ước gì Chúa ban cho chúng con ơn hoán cải,
dám đi đến những hành động cụ thể,
và chấp nhận những cắt tỉa đớn đau.
Nhưng xin đừng quên ban cho chúng con
niềm vui của Giakêu,
hạnh phúc vì được tự do và được yêu mến.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ



Suy niệm
Mỗi nhân vật hôm trong đoạn Tin mừng hôm nay đều để lại cho chúng ta bài học quý giá, tiêu cực lẫn tích cực.
Hêrôđê và Hêrôđia, những con người độc ác và dâm loạn.
Hêrôđê, là vua, ông nắm quyền trong tay. Ông muốn bao nhiêu người đẹp mà chẳng được. Thế nhưng, ông lại lấy Hêrôđia, người chị dâu của mình. Rồi ông lại làm ngơ trước lời khuyến cáo của Gioan Tẩy Giả. Cuối cùng, ông sẵn sàng hy sinh người vô tội vì lòng ham muốn của mình.
Hêrôđia, vì lòng ước muốn xác thịt, bà sẵn sàng từ bỏ chồng để lấy người em chồng. Để thoả lòng ước muốn ấy, bà căm ghét và trừ khử những ai cản đường bà. Cụ thể là Gioan Tẩy Giả. Cơ hội đến, bà không ngại ra tay để giết Gioan. Lòng ước muốn xác thịt đưa bà đến chỗ sát nhân.
Cô con gái của Hêrôđia, người ta thường gọi với cái tên là Salômê. Một cô gái thích nhảy múa mua vui cho người khác. Điều đáng trách hơn nữa là cô sẵn sàng cộng tác với mẹ cô để trừ khử Gioan Tẩy Giả.
- Cuối cùng là Gioan Tẩy Giả, một con người can đảm. Ông không ngại lên án vị vua đầy uy quyền: "Nhà vua không được phép chiếm lấy vợ anh mình". Dẫu biết rằng lời lên án này sẽ mang đến cho ông nhiều phiền toái, thậm chí cái chết, nhưng ông không sợ. Và quả thật, Gioan đã chết vì bênh vực sự thật.
Ngày nay, vẫn còn đâu đó những Hêrôđê lạm dụng uy quyền để làm những điều xấu xa. Họ làm ngơ trước những lời phê bình để thoả mãn những dục vọng của mình.
Vẫn còn rất nhiều Hêrôđia, những con người chỉ biết sống theo xác thịt, tìm thoả mãn bản thân. Họ chạy theo hưởng thụ cách điên cuồng và sẵn sàng làm những việc động trời khử trừ những ai ngăn cản mình.
Cũng vẫn còn đâu đó những Salômê, những con người sẵn sàng cộng tác với cái xấu để thực hiện những hành động điên rồ.
Nhưng trong xã hội chạy theo hưởng thụ xác thịt và vật chất, vẫn còn những Gioan Tẩy Giả, những người không ngừng lên tiếng để vạch mặt những xấu xa của xã hội, không ngừng kêu gọi con người làm việc thiện và họ sẵn sàng đón nhận những rủi ro và phiền toái vì đã nói lên sự thật.
Tôi là hạng người nào trong những người trên đây?
- Có phải là Hêrôđê hay Hêrôđia. Tôi luôn tìm hưởng thụ lạc thú bất chấp đời sống đạo đức?
- Có phải tôi là Salômê, một người luôn sẵn sàng cộng tác với người khác để thực hiện những mưu đồ xấu xa tội lỗi?
- Hay tôi là Gioan Tẩy Giả, luôn sống theo sự thật và sẵn sàng lên tiếng chống lại cái xấu và bênh vực cái tốt?
Xin Chúa giúp chúng con luôn biết nhìn ngắm và sống theo gương của Gioan Tẩy Giả. Amen.


Hãy Nâng Tâm Hồn Lên Tháng 8
29 THÁNG TÁM
Một Số Công Tác Đặc Biệt Được Phác Họa Bởi Thượng Hội Đồng Giám Mục
Cuối kỳ Thượng Hội Đồng Giám Mục này, một số công tác chuyên biệt được đề ra một cách ưu tiên là:
- Công bố bản giáo luật cho các Giáo Hội thuộc nghi thức Đông Phương.
- Soạn thủ bản giáo lý để được sử dụng cho Giáo Hội Công Giáo toàn cầu.
- Nghiên cứu sâu xa về bản chất của các hội đồng giám mục được tổ chức theo cấp quốc gia.
Ủy Ban thư ký của Thượng Hội Đồng đã được mời gọi hợp tác trong việc triển khai một kế hoạch thực hiện các đề nghị của Thượng Hội Đồng. Về giáo luật cho các Giáo Hội Đông Phương, một ủy ban đặc biệt đang làm việc để đảm bảo rằng các Giáo Hội Đông Phương đáng kính sẽ nhận được một bản giáo luật không chỉ tôn trọng các truyền thống của các Giáo Hội này mà nhất là nhìn nhận vai trò và sứ mạng của các Giáo Hội này trong tương lai của Giáo Hội phổ quát.
Chúng ta hãy cầu nguyện cho tất cả các công việc này được hoàn thành nhờ sức mạnh và sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.


Lời Chúa Trong Gia Đình
NGÀY 29-8
THÁNH GIOAN TẨY GIẢ bị trảm quyết;
Gr 1, 17-19; Mc 6, 17-29

          LỜI SUY NIỆM: Trong câu chuyện Thánh Gioan Tẩy Giả bị trảm quyết cho chúng ta thấy Hêrôđê từ tội bắt người công chính, để bịt miệng tố giác tội của mình, và không lường trước được những lời hứa của mình khi cao hứng đã phạm thêm trọng tội, để rồi suốt đời ân hận và bị lương tâm cắn rứt. Trong đời sống của chúng ta cũng phải cẩn thận trong ngôn từ của mình, nhất là những lời hứa; chúng ta phải biết cân nhắc hậu quả của những ngôn từ và lời hứa đó sẽ ảnh hưởng thế nào với những người chung quanh và chính bản thân của mình. Chúng ta cũng thấy được Hêrôđia một con người nuôi căm thù Gioan, và đã lôi kéo con gái mình vào âm mưu giết hại Gioan; cho chúng ta thấy tội ác sẽ lây lan, nếu cứ nuôi trong mình sự hận thù. Chúng ta cần phải noi gương Gioan biết nói lên sự thật, mạnh dạn quở trách thói xấu và kiên trì chịu khổ vì Chân Lý.
Mạnh Phương

Gương Thánh Nhân
Ngày 29-08
KÍNH NHỚ CUỘC KHỔ NẠN THÁNH GIOAN TẨY GIẢ

Ngày 29 tháng 8, Giáo hội kính nhớ việc thánh Gioan tẩy giả bị chặt đầu, nghĩa là cuộc tử nạn của Ngài. Vị tiền hô lừng danh này từ thiếu thời, đã lui vào sa mạc để sống khoảng 25 năm khổ hạnh. Vào tuổi 29, Ngài được lệnh từ trời cao sai đến bên bờ sông Jordanô giảng phép thống hối và loan báo việc Đấng Thiên sai sắp tới. Khắp nơi, người ta đến với Ngài.
Khi ấy, Chúa Giêsu từ Galilê tới xin Ngài rửa cho. Danh tiếng Ngài lẫy lừng khiến người Do thái sai sứ giả đến chất vấn Ngài, Ngài khiêm tốn trả lời: - Tôi không phải là đức Kitô.
Họ hỏi lại : - Vậy thì là ai ?
Ông đáp : - Tôi là tiếng kêu trong sa mạc: hãy bạt lối Chúa đi.
Họ lại hỏi thêm: vậy tại sao ông dám thanh tẩy ?
Ông trả lời: phần tôi, tôi thanh tẩy bằng nước. Đấng ấy đến sau tôi, và tôi không đáng cởi quai dép Ngài (Ga 1,19-27).
Rất mực khiêm tốn, nhưng tiếng tăm Ngài đã thấu tai Hêrôdê. Ong vua này biết Gioan "là người công chính và lành thánh nên vẫn che chở. Nghe ông thì Hêrôđê đâm phân vân nhiều nỗi nhưng lại cứ thích nghe" (Mc 6,20). Hêrôdê bị Gioan bắt lỗi về việc ông ta cưới Hêrôdia vợ của anh ông làm vợ mình. - Ông không được phép lấy vợ của anh (Mc 1,8).
Lời nói ấy phải trả giá bằng sự tự do. Gioan bị bắt tù. Nhưng việc tù tội của Gioan không làm giảm cơn giận của người đàn bà tội lỗi. Bà ta quyết tìm cách giết Gioan. Nhân một bữa tiệc Hêrôdê thết đãi tại hoàng cung, con gái mụ Hêrôdiađê vào nhảy múa giúp vui, nhà vua vui thích lắm, và hứa cho bất cứ gì nó muốn, ra hỏi người mẹ, nó trở lại hoàng cung và thưa: - Thần muốn Ngài ngự ban cho ngay trên chiếc đĩa cái đầu của Gioan Tẩy giả ( Mc 6,25)
Buồn phiền, nhưng vì đã lỡ thề hứa trước mặt quan khách, Hêrôđê đã sai thị vệ đi chặt đầu thánh nhân. Cái chết của thánh Gioan tẩy giả xảy ra khoảng một năm trước cuộc tử nạn của Chúa Giêsu.