Thứ Ba, 21 tháng 2, 2017

Bảy câu không nên bao giờ nói với con cái

Bảy câu không nên bao giờ nói với con cái


fr.aleteia.org, 2016-12-20
Giận dữ, mệt mỏi, bất mãn là vấn đề hàng ngày làm cho chúng ta bực tức và đã nói ra những câu không nên nói. Chúng tôi ghi lại đây một trong các câu tệ nhất không nên nói với trẻ con, dù bất cứ tuổi nào, nhưng nhất là các em nhỏ tuổi nhất. Hệ quả của những câu này có thể đi đến chỗ chúng ta không hình dung được.
  1. “Con chẳng bao giờ làm gì tốt”
Không ai thích nghe câu này. Nếu con cái bạn làm một lỗi lầm, làm bể một vật gì thì bạn thở thật sâu và tự hỏi xem chuyện gì quan trọng nhất mình phải làm lúc này. Và dĩ nhiên câu trả lời vẫn luôn là: con của mình quan trọng hơn tất cả các chuyện khác.
  1. “Cha/mẹ muốn con giống anh/chị của con”
Chúng ta chẳng được lợi lộc gì khi so sánh con cái mình. Ngược lại, chúng ta còn khơi lên sự chua cay giữa anh chị em với nhau. Chú ý tránh mọi so sánh. Tất cả chúng ta đều khác nhau và đều duy nhất và tất cả chúng ta đều đặc biệt theo cách của mình.
  1. “Con mập, con xấu, con ngu”
Trẻ con tin vào lời chúng ta nói. Đối với chúng, chúng ta là nguồn thông tin đáng tin cậy, và cũng là nguồn chính yếu của tình yêu. Chúng ta đừng làm dơ bẩn lòng tự trọng của con mình bằng các tính từ xấu. Nên nhấn mạnh đến các đức tính của chúng hơn là nhắc lại các sai sót.
  1. “Cha/mẹ xấu hổ vì con”
Nếu con bạn có khuynh hướng lôi kéo sự chú ý của người khác, la hét, chạy nhảy, hát hò để mọi người để ý đến mình, thì có thể chúng cần bạn để ý đến chúng hơn! Bạn không nên nói loại câu này dù trong chỗ riêng tư và nhất là trước mặt bạn bè của chúng. Bạn có thể tổ chức một buổi trình diễn ở nhà mà con bạn là nhân vật chính, như thế có thể bạn sẽ khám phá tài năng nghệ sĩ của con mình, và cũng là dịp để cả nhà vui chơi!
  1. “Thà con đừng sinh ra thì hơn”
Đó là câu tệ hại nhất nói với một em bé. Trong bất cứ trường hợp nào, không bao giờ bạn được thốt ra câu này, dù là nói đùa. Chúng ta tất cả cần được biết mình là người được mong muốn, được yêu thương dù mình có phạm  lỗi lầm gì đi chăng nữa.
  1. “Cha/mẹ quá sức chịu đựng rồi, cha/mẹ không thương con nữa”
Đôi khi, một cách vô ý thức, chúng ta lại rơi vào bẫy loại câu nói của con mình. Con của bạn lên cơn giận. Sau khi bạn giải thích cho chúng nghe không được làm này, không được làm kia, chúng bắt đầu nổi nóng lên,   chúng khóc, chúng nói chúng không thương bạn nữa. Câu trả lời dễ nhất là mình cũng nói như vậy, và đó là chuyện tệ hại nhất. Phản ứng tốt nhất là kiên nhẫn giải thích lại, vì sao con không được làm chuyện này chuyện kia, và mình vẫn luôn yêu con, dù con không có kỹ luật. Theo cách này, bạn sẽ dạy cho con cái rất nhiều, nhiều hơn những gì bạn hình dung.
  1. “Đừng khóc, không sao đâu”
“Trẻ con thật sự có vấn đề à? Chúng chỉ là những đứa trẻ con, chúng không lo lắng, buồn phiền, thất vọng, sợ hãi”. Đó là một sai lầm mà người lớn chúng ta thường phạm. Trẻ con cũng xúc cảm, có khi còn hơn cả người lớn. Sự khác biệt là chúng không diễn tả một cách bình thản như chúng ta. Còn vấn đề của chúng thì chúng có theo một cách nào đó, có khi cũng lớn vì vấn đề này đụng đến cuộc sống của chúng. Đừng bao giờ ước lượng thấp một sự sợ hãi, một nghi ngờ hay một mâu thuẫn mà trẻ con đang sống. Bạn giúp con mình vượt lên vấn đề và phản ứng một cách lành mạnh. Với một vài chỉnh sửa nhỏ, luôn xem trọng tình cảm và sự thoải mái của con mình, tránh các câu nói tệ hại, chúng ta sẽ có một gia đình có được các quan hệ trong yêu thương, bảo bọc và tốt lành.
Marta An Nguyễn chuyển dịch

Đàng Thánh Giá Với Mẹ Maria

Đàng Thánh Giá Với Mẹ Maria


Tác giả: 
 Cát Minh
ĐÀNG THÁNH GIÁ VỚI MẸ MARIA
KỶ NIỆM 100 NĂM MẸ HIỆN RA Ở FATIMA

Download file dạng Word  | PDF enlightened

Lời nguyện mở đầu:
Lạy Mẹ Maria, chúng con muốn cùng Mẹ đi lại chặng Đàng Thánh Giá của Chúa Giêsu mà Mẹ đã đi qua. Mẹ đã hiện diện và chứng kiến sống động những đau khổ mà Chúa Giêsu Con Mẹ đã phải chịu vì tội lỗi của chúng con. Ôi còn nỗi đau nào hơn nỗi đau người mẹ nhìn con ra pháp trường! Biết bao nhiêu nước mắt đau xót của Mẹ đã đổ xuống con đường thương khó của Chúa. Mẹ đã đi trọn Đàng Thánh Giá của Chúa từ đầu đến cuối để hiệp thông và chia sẻ nổi khốn khó của Chúa. Xin Mẹ giúp chúng con có được đôi chân, trái tim của Mẹ để chúng con cảm nghiệm được tình yêu và lòng thương xót của Chúa dành cho chúng con. Amen.

NƠI THỨ NHẤT
CHÚA GIÊSU BỊ QUAN PHILATÔ KẾT ÁN TỬ HÌNH

Xướng (quỳ): Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô.
Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Suy niệm: Mẹ đứng giữa đám đông chen lấn, xô đẩy và la hét kết án Con Mẹ. Họ la to với lòng căm phẫn, hận thù: "Đóng đinh nó đi!" "Đóng đinh nó đi!". Nhìn thấy Con Mẹ trên pháp đình bầm tím da thịt, mặt bê bết máu thì nước mắt Mẹ tuôn trào. Mẹ lấy khăn lau nước mắt để nhìn rõ Con Mẹ. Philatô dẫn Baraba ra và hỏi dân chúng: Các ngươi muốn ta tha cho ai, Baraba hay Giêsu? Mẹ giơ tay muốn la to: Tha Giêsu, nhưng đám đông nhao lên: Tha Baraba. Mẹ hiểu điều ấy phải xảy ra như vậy nên Mẹ thinh lặng vâng theo thánh ý Chúa Cha.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu!
  • Mỗi lần chúng con vu khống, kết án người khác là con la to: "Đóng đinh nó đi!"
  • Mỗi lần chúng con nguyền rủa, chúc dữ người khác là con đưa tay lên cao: "Đóng đinh nó đi!"
  • Mỗi lần chúng con nói xấu, dèm pha, đổ lỗi cho người khác là con chỉ tay: "Đóng đinh nó đi!"
Xin cho chúng con đừng kết án để khỏi bị Chúa kết án, đừng xét xử để khỏi bị Chúa xét xử, nhưng hãy lấy tình yêu mà xóa bỏ hận thù. Amen.

Hát: Mẹ Khi đứng bên Thánh Giá thảm thương, thấy Con treo trên thập giá đau lòng, hai hàng nước mắt tuôn ròng ròng.

NƠI THỨ HAI
CHÚA GIÊSU VÁC THÁNH GIÁ

Xướng (quỳ): Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô.
Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Suy niệm: Đánh đập Chúa Giêsu chán, quân lính kiêng cây thật giá đặt lên vai Chúa Giêsu. Chúa Giêsu không từ chối, Người ôm đón nhận nó như là một sứ mệnh được trao ban. Ngài vác lên vai và bắt đầu bước đi. Sức nặng của cây thánh giá đè trên vai, khiến Chúa chao đảo. Quân lính quát mắng, chửi rủa, truyền lệnh cho Chúa bước đi. Mẹ Maria muốn vượt rào cản chạy tới nâng đỡ thánh giá cho Chúa, nhưng Mẹ hiểu điều ấy phải xảy ra như vậy, và Mẹ đau đớn lặng lẽ bước theo.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu! Chúng con cũng đang vác thập giá theo Chúa, khi chúng con:
  • Thi hành trách nhiệm, bổn phận trong gia đình và cộng đoàn.
  • Vâng lời cha mẹ, các bậc bề trên.
  • Nhường nhịn, chịu đựng, sống với cá tính khác biệt của người khác.
  • Chiến đấu với bệnh tật, đau khổ.
Xin cho chúng con cam lòng đón nhận những thập giá xảy đến trong cuộc đời, và giúp chúng con nhận ra hồng ân của thập giá, để chúng con trung thành vác thập giá theo Chúa cho trọn. Amen.

Hát: Lòng thân mẫu như gươm sắc thâu qua, khóc thương khổ đau cùng Chúa thiên đàng như lời ngôn sứ xưa rõ ràng.

NƠI THỨ BA
CHÚA GIÊSU NGÃ XUỐNG ĐẤT LẦN THỨ NHẤT

Xướng (quỳ): Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô.
Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Suy niệm: Quân lính thúc giục Chúa bước đi bước đi cho nhanh với những trận roi đòn và tiếng la hét nguyền rủa. Một tên lính đưa chân đạp vào cây thánh giá, Chúa Giêsu chao đảo chúi về phía trước và ngã xuống đất. Bụi đất bay tung tóe, có hạt bám vào mồ hôi máu của Chúa, khiến thân xác Chúa nhơ nhuốc. Quân dữ xúm lại kéo Chúa dậy và bắt tiếp tục bước đi. Mẹ Maria đau tê tái trong lòng, tay chân Mẹ rụng rời. Mẹ cố chống đỡ để khỏi ngã xuống đất.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu!
  • Mỗi lần chúng con vấp ngã, xin cho chúng con biết đứng lên.
  • Mỗi lần chúng con đi lạc, xin cho chúng con biết quay trở về.
  • Mỗi lần chúng con lỗi phạm, xin cho chúng con biết nhận lỗi.
  • Mỗi lần chúng con xưng tội, xin cho chúng con biết ăn năn.
Như Chúa kiên nhẫn, tha thứ cho những lần chúng con vấp ngã, xin cho chúng con không nhạo cười, khinh khi trước sự sa ngã của người khác, không nóng giận trước những lầm lỗi của họ. Amen.

Hát: Mẹ thương Con một Thiên Chúa chí nhân, đã cưu mang xưa vinh phúc vô ngần, nay Người đau khổ hơn ngàn lần.

NƠI THỨ BỐN
CHÚA GIÊSU GẶP ĐỨC MẸ

Xướng (quỳ): Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô.
Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Suy niệm: Mẹ tách ra khỏi đám đông tiến lên phía trước. Mẹ cố gắng gọi Người nhưng tiếng của Mẹ quá yếu ớt không thế lấn án tiếng ồn ào của đám đông. Như có một sự linh cảm đặt biệt của tình Mẹ Con, Chúa Giêsu dừng lại quay lại phía sau. Bốn mắt Mẹ Con nhìn nhau chan hòa trong nước mắt. Không gian như đứng lại, và trái đất như dừng quay. Chúa Giêsu gật đầu như muốn cám ơn tình yêu của Mẹ dành cho mình. Quấn lính tiến lại ngăn cản, Mẹ thì từ từ cúi đầu lùi lại phía sau vì Mẹ hiểu điều ấy phải xảy ra như vậy.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu! Xin cho chúng con không ngoảnh mặt làm ngơ trước những nỗi sầu khổ của tha nhân. Xin cho chúng con tấm lòng đầy ắp yêu thương như Mẹ, để biết an ủi, nâng đỡ những đau khổ của anh chị em chúng con. Amen.

Hát: Nào ai chẳng cùng than khóc thảm thương, với Maria, Mẹ Chúa Thiên Đàng, trong giờ Con Chúa mang tội trần.

NƠI THỨ NĂM
ÔNG SIMON VÁC ĐỠ THÁNH GIÁ CHÚA

Xướng (quỳ): Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô.
Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Suy niệm: Một người đàn ông từ xa đi tới. Có lẽ ông không biết điều gì đang xảy ra. Thấy Chúa Giêsu kiệt sức, mỗi bước đi như thể là bước đi sau cùng, một tên lính bắt ông ta vác đỡ thánh giá cho Chúa. Động lòng trắc ẩn, ông đã không chối từ và kề vai vác đỡ thánh giá Chúa. Hai người bước đi trong thinh lặng và cảm thông. Ông cảm thấy hạnh phúc như là một ân huệ từ trời cao gởi tới và không còn cảm thấy sức nặng của thập giá. Mẹ ngậm ngùi nhìn và được an ủi, vơi bớt đau khổ trong lòng.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu! Chúng con đang vác đỡ thánh giá cho Chúa, mỗi khi chúng con:
  • Thăm viếng, săn sóc người già, bệnh tật, tù đày.
  • Giúp đỡ, chia sẻ cơm áo cho người nghèo khổ.
  • An ủi, khích lệ những người đau buồn, thất vọng.
  • Chia sẻ công việc chung nơi gia đình, giáo xứ…
Xin cho chúng con biết biết mang lấy ách của nhau trong mọi gian nan khốn khó của cuộc sống. Amen.

Hát: Người ơi hãy trông Mẹ Chúa Ngôi Hai, dưới cây khổ đau không khóc thương Người, sao lòng không cảm thông cùng Người.

NƠI THỨ SÁU
BÀ VÊRÔNICA LAU MẶT CHÚA

Xướng (quỳ): Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô.
Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Suy niệm: Con đường lên núi Sọ còn xa. Chúa Giêsu lê bước đi với chút sức lực còn lại. Tới khúc đường hẹp được thấy Chúa gần hơn, khuôn mặt của Chúa bầm dập máu me, nhóm phụ nữ theo Chúa òa lên thương khóc. Bà Verônica rút ra một chiếc khăn lau mặt cho Chúa. Toàn bộ khuôn mặt đầy thương tích của Chúa in vào khăn bà như một bức tranh vẽ. Quân lính tiến tới đẩy họ ra xa, bà vội cất chiếc khăn và mang theo suốt cuộc đời của bà. Mẹ nhìn thấy những điều đó và Mẹ ghi nhớ những hình ảnh ấy trong lòng.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, bà Veronica không chỉ khóc thương nhưng đã thể hiện lòng yêu mến Chúa qua việc làm. Trong đời sống của chúng con có rất nhiều cơ hội thấy được khuôn mặt thương tích của Chúa nơi tha nhân, nhưng đã có nhiều lần chúng con từ chối lau mặt cho Chúa. Xin Chúa giúp cho chúng con biết thể hiện đức tin qua việc làm, dù là một việc rất nhỏ bé, tầm thường nhưng làm với trái tim yêu mến. Amen.

Hát: Giờ đây ngắm xem Mẹ Chúa chí nhân, khổ đau khi con chịu chết vui lòng, cam chịu đau đớn cho phàm trần.

NƠI THỨ BẢY
CHÚA GIÊSU NGÃ XUỐNG ĐẤT LẦN THỨ HAI

Xướng (quỳ): Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô.
Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Suy niệm: Đường lên núi Sọ gập ghềnh sỏi đá. Những viên đá sắc cạnh rải rác trên đường cắt nát da thịt bàn chân của Chúa Giêsu. Đôi chân mỏi mòn yếu đuối, Chúa ngã xuống đất lần thứ hai. Quân lính nhào tới đánh đập và kéo xốc Chúa dạy. Chúng bắt Chúa đi cho mau kẻo không kịp lên tới đỉnh đồi. Trái tim Mẹ đau nhói nhìn theo dấu chân đầy máu của Con Mẹ. Mẹ ước gì con đường thập giá của Chúa được rút ngắn lại, để những đau thương của Chúa được nhẹ bớt đi.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu,
  • Mỗi lần chúng con đau đớn, buồn khổ, xin cho chúng con nhìn thấy Chúa Giêsu vác thánh giá để chúng con có sức mạnh vượt qua.
  • Mỗi lần chúng con bị mắng chửi, xỉ nhục, xin cho chúng con nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh để chúng con có thể vui lòng chịu đựng như Chúa.
  • Mỗi lần chúng con chán nản, tuyệt vọng, xin cho chúng con nhìn ra Chúa Giêsu phục sinh để chúng con có niềm hỵ vọng.
Xin Chúa ở bên chúng con những lúc cuộc đời chúng con gặp nhiều sóng gió, bão táp, giúp chúng con vượt qua mọi trông gai thử thách. Amen.

Hát: Vì tội của dân Thiên Chúa yêu thương, Chúa Giêsu cam chịu khổ trăm đường, roi đòn gây nát tan mình trần.

NƠI THỨ TÁM
CHÚA GIÊSU KHUYÊN NHỦ CÁC PHỤ NỮ THÀNH GIÊRUSALEM

Xướng (quỳ): Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô.
Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Suy niệm: Những người phụ nữ theo Chúa kêu la, khóc thương Người. Chúa Giêsu động lòng thương và dừng lại bảo họ: “Đừng khóc thương Ta làm chi nhưng hãy khóc thương chính mình và con cháu mình về tội lỗi của họ”. Họ sẽ phải trải qua những con đường thập giá của kiếp sống nhân sinh. Mọi người ai cũng sẽ phải chiến đấu với thập giá của chính mình, nhưng không phải ai cũng chiến thắng. Khi nghe những điều ấy, Mẹ suy gẫm trong lòng bởi chính Mẹ cũng phải đi con đường thập giá riêng của Mẹ.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết khóc than những tỗi lỗi của chúng con đã phạm, để chúng con xoa dịu những đớn đau mà Chúa đã chịu vì chúng con. Xin cho chúng con một trái tim sám hối để chúng con xa lánh những dịp tội làm mất lòng Chúa. Amen.

Hát: Vừa trông thấy Con sắp chết cô đơn chẳng ai ủi an nâng đỡ tâm hồn đau lòng thay Mẫu thân dịu dàng.

NƠI THỨ CHÍN
CHÚA GIÊSU NGÃ XUỐNG ĐẤT LẦN THỨ BA

Xướng (quỳ): Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô.
Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Suy niệm: Con của Mẹ lại ngã xuống đất một lần nữa. Trời đất quay cuồng và sức lực rã rời, Chúa Giêsu nằm bất động. Lần ngã này của Chúa Giêsu rất sót xa đau đớn cho Mẹ. Lòng Mẹ như chiếc bình thủy tinh vỡ ra từng mảnh cắt nát lòng Mẹ. Mẹ tưởng Chúa không thể đứng dậy được nữa, và cuộc thương khó chấm dứt ở đây. Quân lính đổ nước lên đầu cho Chúa lấy lại sức. Chúng lại thúc giục Chúa đứng dậy, đi nhanh lên. Nhìn thấy đỉnh đồi đã rất gần, đường thương khó sắp hoàn tất, Chúa Giêsu gắng sức đứng dậy và bước đi để hoàn thành hy lễ cứu chuộc nhân loại.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, Chúa ngã xuống đất ba lần để nhắc nhở chúng con:
  • Dù sa ngã, phạm tội nhiều lần nhưng luôn sám hối ăn năn là được.
  • Dù chối Chúa, phản bội, thất hứa với Chúa nhưng trở về nhận lỗi, sửa lỗi là được.
  • Dù tin nhiều, tin ít miễn còn tin vào Chúa là được.
Xin cho chúng con kiên nhẫn không hề mất niềm tin cậy vào Chúa cho dù khó khăn không ngừng xảy đến cho chúng con. Amen.

Hát: Mẹ như suối ân ban xuống cho con, để con cảm thông tình Chúa vô cùng, cho lòng con khổ đau cùng Mẹ.

NƠI THỨ MƯỜI
QUÂN DỮ LỘT ÁO CHÚA GIÊSU

Xướng (quỳ): Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô.
Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Suy niệm: Lên tới đỉnh đổi, chẳng cho Chúa nghỉ ngơi, quân lính hùng hổ xông tới lột áo Chúa ra. Những vết thương ngoài da đóng thành vảy khô bám vào áo, giờ đây lại bị kéo xước ra càng thêm đau đớn hơn nữa. Mẹ nhớ lại hình ảnh ngày Chúa Giêsu chào đời nằm trong máng cỏ không đủ vải che cho ấm thân, và giờ đây chỉ có tấm áo che thân trước khi lìa đời cũng bị người ta lấy đi. Mẹ sót xa vô ngần. Mẹ biết giờ cứu rỗi đã gần kề, và Mẹ âm thầm nuốt đi những giọt nước mắt mặn đắng trên môi.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con thấy được sự trần truồng đói rách tâm linh của chúng con, để chúng con biết tìm kiếm tình thương và lòng thương xót của Chúa bao phủ lấy linh hồn chúng con. Xin cho chúng con không bao giờ làm ngơ trước những đói khát của anh chị em chúng con, bởi họ chính là hình ảnh của Chúa đang bị lột trần trên thập giá. Amen.

Hát: Lòng con cháy lên lửa mến Kitô, mến yêu Giêsu Con Chúa nhân từ, cho lòng con cảm thông cùng Người.

NƠI THỨ MƯỜI MỘT
CHÚA GIÊSU CHỊU ĐÓNG ĐINH TRÊN CÂY THÁNH GIÁ

Xướng (quỳ): Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô.
Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Suy niệm: Quân dữ xô Chúa nằm ngửa trên cây thập giá. Chúng kéo tay chân Chúa ra và lấy đinh sắt đóng vào đau lắm. Máu chảy vọt ra lênh láng, nhưng họ như những con hổ săn mồi say máu vẫn không dừng tay. Không thể chứng kiến cảnh tượng dã man trước mắt, Mẹ nhắm nghiền mặt lại. Từng tiếng búa đóng đinh chát chúa, từng tiếng kêu đau đớn của Con Mẹ như thể đang đóng đinh chính Mẹ vậy.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con nhận ra:
  • Mỗi khi chúng con đánh đập, hành hạ, hãm hại người khác là chúng con đang đóng đinh họ.
  • Mỗi khi chúng con nói xấu, vu khống, đổ lỗi cho người khác là chúng con đang đóng đinh họ.
  • Mỗi khi chúng con nguyền rủa, chúc dữ, kế án người khác là chúng con đang đóng đinh họ…
Xin giúp chúng con từ nay thôi đóng đinh người khác, nhưng can đảm đóng đinh thói hư tật xấu của chúng con vào thập giá Chúa, và chết đi cái tôi trong mỗi người chúng con. Amen.

Hát: Mẹ ghi dấu thương tích Chúa Giêsu, hãy ghi trong con để chẳng phai mờ, cho lòng con khóc thương thật thà.

NƠI THỨ MƯỜI HAI
CHÚA GIÊSU CHẾT TRÊN THÁNH GIÁ

Xướng (quỳ): Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô.
Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Suy niệm: Dưới chân thánh giá, Mẹ đứng nghe từng hơi thở thoi thóp cuối cùng trên thập giá của Con Mẹ. Mẹ muốn ôm Chúa vào lòng lau khô những giọt máu cho Chúa. Hơi thở của Mẹ bị đứt quãng từng khúc khi nhìn Chúa quằn quại hấp hối. Thế rồi từ trên thập giá, Chúa kêu lớn tiếng, và gục đầu trút hơi thở cuối cùng. Mẹ ôm chặt cây thánh giá như ước gì được chết với Con Mẹ, nhưng Mẹ hiểu rằng hy lễ hiến tế dâng lên Chúa Cha đang được cử hành để mang lại ơn cứu rỗi cho nhân loại.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, yêu thương chúng con Chúa đã cho đi tất cả, ngay cả sự sống và vinh quang của Chúa. Xin cho chúng con được chết đi:
  • Cái tôi, tính ích kỷ, kiêu căng, tự mãn
  • Thói hư, tật xấu, đam mê, nghiện ngập
  • Lười biếng, tham lam, ghen ghét…
Cám ơn Chúa đã đến với tình yêu, và ra đi để lại tình yêu cho chúng con. Amen.

Hát: Lòng con nhớ luôn ơn Chúa Cứu con, hiến dâng lên Chúa toàn thể xác hồn, cho dù đau đớn không sờn lòng.

NƠI THỨ MƯỜI BA
THÁO ĐINH ĐỨC CHÚA GIÊSU XUỐNG MÀ ĐẶT TRONG TAY ĐỨC MẸ

Xướng (quỳ): Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô.
Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Suy niệm: Bầu trời Golgotha ảm đạm ngả màu tím, ai nấy buồn bã trở về nhà mình. Các kinh sư và thượng tế vui mừng vì họ đã giết được đối thủ không đội trời chung của họ. Hai môn đệ tháo xác Chúa xuống và đặt trong tay Mẹ. Mẹ ôm Chúa trên tay, nhìn một chứng tích tội ác của nhân loại dành cho Con Mẹ. Nước mắt Mẹ đã khô cạn, Mẹ chỉ còn biết ôm chặt thân xác Chúa, truyền hơi ấm của Mẹ sưởi ấm cho một thân xác lạnh lẽo, nát tan.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con biết nhổ những cái đinh đã đóng vào đời nhau, để mang lại sự giải thoát cho chính mình và cho người khác bằng cách:
  • Làm hòa, tha thứ cho nhau.
  • Không ôm mối hận, trả thù.
  • Quên đi, đừng nhắc lại quá khứ, dĩ vãng đau thương.
Xin cho chúng con biết ôm lấy những thương tích của Chúa mà hằng suy gẫm đêm ngày để cảm tạ tình yêu bao la mà Chúa đã dành cho chúng con. Amen.

Hát: Cùng Mẹ hãy cho con khóc thảm thương. Khóc thương Giêsu chịu chết u buồn sau này con sống lại khải hoàn.

NƠI THỨ MƯỜI BỐN
TÁNG XÁC ĐỨC CHÚA GIÊSU TRONG MỒ ĐÁ

Xướng (quỳ): Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa Kitô.
Đáp: Vì Chúa đã dùng Thánh Giá Chúa mà chuộc tội cho thiên hạ.

Suy niệm: Mẹ Maria đi theo các môn đệ mang xác Chúa tới một huyệt đá. Chính tay Mẹ khẽ cuốn những tấm khăn trắng bọc xác Chúa. Mẹ âu yếm nhìn Chúa một lần cuối mà lòng tê tái sót xa. Mẹ sẽ không còn gặp được Con Mẹ bằng xương bằng thịt nữa, nhưng Mẹ an lòng vì Mẹ biết Con Mẹ sẽ phục sinh và không bao giờ phải chết nữa.

Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con mạnh mẽ bước ra khỏi nấm mồ êm ái của thú vui, hưởng thụ, để chúng con xông pha làm chứng nhân cho Chúa. Xin cho chúng con mở tung nắp cửa mồ tội lỗi đang chôn sống linh hồn của chúng con, để chúng con được phục sinh với Chúa. Amen.

Hát: Nguyện xin Giêsu thương đến chúng con, khấng ban Mẫu Thân thương giúp linh hồn, công toàn danh thắng khi lìa trần.

Lời Nguyện Kết Thúc:
Lạy Chúa Giêsu, lời sau cùng của Chúa trên Thánh Giá: “Này là Mẹ con” như muốn nói với mỗi người chúng con, hãy đón nhận Mẹ trong cuộc sống, và hãy cùng Mẹ vác lấy thập giá của chính mình. Vâng, cuộc đời của chúng con không thể thiếu Mẹ Maria, vì tình yêu đặc biệt của Mẹ dành cho mỗi người chúng con. Khi con cái Mẹ lầm đường lạc lối, sống trong tội lỗi, đối diện với những đau khổ, Mẹ đã hiện ra ở Fatima, Lộ Đức, Lavang, Guadalupe, Akita… để đưa con cái Mẹ trở về với Thiên Chúa. Mẹ muốn ơn cứu độ của Con Mẹ không ra hư mất nơi mỗi người chúng con. Xin Mẹ luôn ở bên chúng con và đồng hành với chúng con hằng ngày trong cuộc sống, để chúng con tìm được niềm an ủi, khích lệ nhờ có Mẹ ở bên chúng con. Amen.

Hát: Ngày xưa trên đồi Golgotha

1. Ngày xưa trên đồi Golgotha Mẹ đứng gần bên Thánh Giá, Mẹ nhìn Chúa trút hơi thở cuối đời. Mẹ đồng công dâng lễ đền bồi. Giờ đây trên bàn thờ bao vui say đoàn con hợp dâng thánh lễ, nguyện Mẹ giúp xác hồn con trắng trong để xứng đáng tham dự lễ này.

ÐK: Con dâng lên Nữ Vương tấm lòng nhỏ bé được thật tình mến Chúa yêu người. Cho đời con trở nên trót đời của lễ chờ ngày về hưởng phúc trên trời.

2. Nhìn lên bàn thờ ôi đau thương. Thập giá còn lênh láng máu, mà vì Chúa vốn chưa thỏa mối tình, còn đòi nơi rượu bánh ẩn mình. Ðoàn con suy về tình yêu bao la, đồng dâng niềm tin sắt đá. Nguyện Mẹ giúp con được luôn thiết tha, lòng mến Chúa không sợ phai nhòa.

50 điều chưa biết về Chúa Thánh Thần

Tác giả: 
 Trầm Thiên Thu


50 điều chưa biết về Chúa Thánh Thần

ROB KERBY

Đây là 50 điều trích từ Tân ước đã được tác giả Frank Viola liệt kê trong cuốn “Jesus: A Theography” (NXB Thomas Nelson). Rất có thể đây là những điều bạn chưa biết về Chúa Thánh Thần (CTT):

1. CTT chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính và việc xét xử (Ga 16:8).
2. CTT hướng dẫn chúng ta tới sự thật (Ga 16:13).
3. CTT tái sinh chúng ta (Ga 3:5-8; Tt 3:5).
4. CTT làm chứng và tôn vinh Đức Kitô (Ga 15:26; 16:14).
5. CTT mặc khải Đức Kitô cho chúng ta và trong chúng ta (Ga 16:14-15).
Viola viết: “CTT kết hiệp chúng ta với Đức Giêsu Kitô và với Nhiệm thể của Ngài”.
6. CTT hướng dẫn chúng ta (Rm 8:14; Gl 5:18; Mt 4:1; Lc 4:1).
7. CTT thánh hóa chúng ta (2 Tx. 2:13; 1 Pet. 1:2; Rm 5:16).
8. CTT trao quyền chúng ta (Lc 4:14; 24:49; Rm 15:19; Cv 1:8).
9. CTT làm chúng ta nên trọn (Ep 5:18; Cv 2:4; 4:8, 31; 9:17).
10. CTT dạy chúng ta cầu nguyện (Rm 8:26-27; Jude 1:20).
11. CTT làm chứng chúng ta là con cái của Thiên Chúa (Rm 8:16).
12. CTT sinh hoa kết trái trong chúng ta hoặc minh chứng sự tác động và sự hiện hữu của Ngài (Gl 5:22-23).
13. CTT phân phát các ân sủng và cách thể hiện sự hiện hữu của Ngài (1 Cr 12:4, 8-10; Dt 2:4).
14. CTT xức dầu tấn phong chúng ta (Lc 4:18; Cv 10:38).
15. CTT tẩy rửa và canh tân chúng ta (Tt 3:5).
16. CTT liên kết chúng ta nên MỘT trong Đức Kitô (Ep 4:3; 2:14-18).
17. CTT là bảo chứng sự phục sinh mai sau (2 Cr 1:22; 2 Cr 5:5).
18. CTT ghi dấu ấn trên chúng ta để chờ ngày cứu độ (Ep 1:13; Ep 4:30).
19. CTT giải thoát chúng ta khỏi nô lệ tội lỗi và sự chết (Rm 8:2).
20. CTT làm sống động thân thể hay chết của chúng ta (Rm 8:11).
21. CTT mặc khải những điều cao siêu về Thiên Chúa (1 Cr 2:10).
22. CTT mặc khải những gì đã được Thiên Chúa trao ban cho chúng ta (1 Cr 2:12).
23. CTT cư ngụ trong chúng ta (Rm 8:9; 1 Cr 3:16; 2 Tim. 1:14; Ga 14:17).
24. CTT nói với, nói trong, và nói qua chúng ta (1 Cr 12:3; 1 Tm 4:1; Kh 2:11; Heb 3:7; Mt 10:20; Cv 2:4; 8:29; Cv 10:19; Cv 11:12, 28; Cv 13:2; Cv 16:6,7; Cv 21:4,11).
25. CTT làm cho chúng ta nên một trong Nhiệm thể Đức Kitô khi lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy (1 Cr 12:13).
26. CTT đem lại sự tự do (2 Cr 3:17).
27. CTT biến đổi chúng ta nên giống Đức Kitô (2 Cr 3:18).
28. CTT kêu trong lòng chúng ta: “Áp-ba, Cha ơi!” (Gl 4:6).
29. CTT làm cho chúng ta có thể chờ đợi (Gl 5:5).
30. CTT trao ban Đức Kitô cho chúng ta (Pl 1:19, KJV).
31. CTT trao ban sự sống vĩnh hằng (Gl 6:8).
32. CTT dẫn chúng ta đến với Chúa Cha (Ep 2:18).
33. CTT làm cho chúng ta thành nơi Thiên Chúa cư ngụ (Ep 2:22).
34. CTT mặc khải mầu nhiêm Thiên Chúa (Ep 3:5).
35. CTT làm cho tâm hồn chúng ta vững mạnh (Ep 3:16).
36. CTT làm cho chúng ta vâng lời sự thật (1 Pr 1:22).
37. CTT làm cho chúng ta nhận biết Chúa Giêsu ở trong chúng ta (1 Ga 3:24; 4:13).
38. CTT tuyên xưng rằng Chúa Giêsu hóa thành nhục thể (1 Ga 4:2).
39. CTT nói: “Xin ngự đến, lạy Chúa Giêsu!” cùng với Nương tử (Kh 22:17).
40. CTT ban phát tình yêu Chúa trong tâm hồn chúng ta (Rm 5:5).
41. CTT làm chứng sự thật trong lương tâm của chúng ta (Rm 9:1).
42. CTT dạy dỗ chúng ta (1 Cr 2:13; Ga 14:26).
43. CTT trao ban niềm vui cho chúng ta (1 Tx 1:6).
44. CTT làm cho chúng ta có thể loan báo Tin Mừng (1 Pr 1:12).
45. CTT thúc đẩy chúng ta (2 Pr 1:21).
46. CTT biết mọi sự của Thiên Chúa (1 Cr 2:11).
47. CTT xua đuổi ma quỷ (Mt 12:28).
48. CTT làm cho chúng ta ghi nhớ mọi thứ (Ga 14:26).
49. CTT an ủi chúng ta (Cv 9:31).
50. CTT làm cho một số người cai quản Giáo hội và sai một số người làm công việc của Giáo hội (Cv 20:28; Cv 13:2).

Viola viết: “Nhờ CTT, lịch sử của Chúa Giêsu trở thành câu chuyện và kinh nghiệm của chúng ta”.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

Mười lời khuyên để nuôi dạy con cái yêu Chúa Giêsu

Mười lời khuyên để nuôi dạy con cái yêu Chúa Giêsu


infochretienne.com, 2017-02-20
Chúng ta nghĩ mình biết hết về cách dạy con, về vai trò làm cha làm mẹ cho đến khi chúng ta bắt đầu làm cha mẹ! Khi đó chúng ta nhận ra mình chẳng biết gì nhiều và các hiểu biết về giáo dục, về vai trò làm cha mẹ rơi rụng từ mảnh này qua mảnh khác…
Là cha mẹ là một trong các chức vụ thỏa lòng nhất trong cuộc sống, nhưng cũng là một trong các chức vụ đòi hỏi nhất. Chăm sóc trẻ con trong khuôn khổ công việc của mình hay trong sứ vụ của mình là cả một trách nhiệm lớn lao. Ông Dale Hudson là cha của hai người con. Trong vòng 26 năm, ông phục vụ cho sứ vụ trẻ con của tổ chức Christ Fellowship Church ở phía nam bang Florida, nước Mỹ. Tổ chức này được xem là một trong 20 tổ chức có ảnh hưởng trong sứ vụ phục vụ trẻ em.
Ông cho biết: “Ngoài tất cả các lỗi lầm tôi đã làm trong một quá trình dài, hai con của tôi yêu Chúa Giêsu và yêu nhà thờ. Tôi không có tất cả các câu trả lời… Nhưng ai có thể có được? Tuy nhiên tôi có thể thấy các điểm chung nơi các cha mẹ mà trẻ con lớn lên trong tình yêu của Chúa Giêsu.”
Đây là 10 điểm chung mà ông Dale trình bày hôm nay:
  1. Có hành động đi đôi với lời nói
“Làm những gì tôi nói, nhưng đừng làm theo những gì tôi làm!” Câu châm ngôn này cho thấy mặt trái mà tất cả chúng ta có thể vướng phải. Không cha mẹ nào hoàn hảo, nhưng chúng ta đừng quên đặt hành động của mình theo lời mình nói, để có thể là khuôn mẫu làm vinh danh Chúa.
  1. Nhận biết tài năng và ân huệ của các con
Nhận biết các đức tính, các tài năng, ân huệ mà Chúa đặt để trong đời sống các con mình để chúng được triển nở. Khẳng định các điểm mạnh của chúng để tránh cho chúng khỏi đi tìm những chuyện xấu.
  1. Đọc Lời Chúa
Các trẻ con lớn lên trong tình yêu của Chúa Giêsu, cha mẹ của chúng là những người có quyển Thánh Kinh sờn gáy. Chúng ta đọc Thánh Kinh trước mặt con cái và cùng với con cái.
  1. Ăn tối chung
Các nghiên cứu cho biết, các trẻ con ăn tối với cha mẹ thường ít vướng vào ma túy, rượu, hút xách, có thai sớm, suy thoái tinh thần hay có các vấn đề ăn uống. Bữa ăn không phải chỉ đơn thuần là bữa ăn, nhưng là thời gian cầu nguyện, nói chuyện, trao đổi và học hỏi.
  1. Phục vụ tha nhân
Một đứa bé thấy cha me phục vụ người khác sẽ lớn lên trong tình yêu người khác và trong tình yêu của Chúa Giêsu. Một trong những điều tốt nhất cha mẹ có thể làm với con là đưa chúng đi phục vụ người khác.
  1. Yêu người bạn đời của mình
Khí cụ tốt nhất cho tình cha mẹ con cái là một hôn nhân hạnh phúc. Các hôn nhân vững chắc tạo ra các đứa con vững chắc.
  1. Cầu nguyện cho con cái và với con cái
Cầu nguyện là một phần chủ yếu trong sự phát triển của trẻ con trong tình yêu của Chúa Giêsu. Cầu nguyện với con mình để con mình là mảnh đất màu mỡ cho sự phát triển của chúng.
  1. Đặt các giới hạn
Các trẻ em xa Chúa Giêsu nhất thường là các em không có các giới hạn có lý. Chắc chắn điều này không có nghĩa là phải có các quy tắc nghiêm khắc đi ra khỏi quan hệ với con mình. Nhưng các nghiên cứu khoa học cho thấy các giới hạn giúp cho trẻ con được lớn lên một cách bình tâm.
  1. Canh chừng các nơi trẻ con hay lui tới
Phần lớn thì giờ của con cái chúng ta là chúng ở với bạn. Ảnh hưởng của bạn bè không phải là không có hệ quả trên sự phát triển của chúng, chúng ta phải canh chừng các nơi chúng lui tới, những người chung quanh chúng.
  1. Xây dựng lòng lòng biết ơn trong tâm hồn trẻ con
Xây dựng một thái độ biết ơn trong tâm hồn trẻ con và xem đây như một lối sống. Chúng ta không có công trạng gì, chúng ta luôn sống trong ơn sủng Chúa. Trách nhiệm của cha mẹ là duy trì lòng biết ơn này trong tâm hồn trẻ con.
Marta An Nguyễn chuyển dịch

“Người được bầu làm giáo hoàng không nhất thiết phải là người thông minh nhất”

“Người được bầu làm giáo hoàng không nhất thiết phải là người thông minh nhất”


“Người được bầu làm giáo hoàng không nhất thiết phải là người thông minh nhất, nhưng là người mà Chúa muốn cho Giáo hội lúc đó”. Đó là lời Đức Phanxicô giải thích với các em bé ngày chúa nhật 19 tháng 2-2017 khi ngài đến thăm giáo xứ Maria-Josepha ở Castelverde, vùng ngoại ô Rôma.
Đây là chuyến thăm mục vụ thứ 13 của Đức Phanxicô kể từ ngày bắt đầu giáo triều của mình. Đức Phanxicô đã gặp các giáo dân, các hội đoàn, các người bệnh, người lớn tuổi trong giáo xứ.
Các em bé đã có buổi gặp với Đức Giáo hoàng, các em đã đặt nhiều câu hỏi cho ngài, trong đó có câu vì sao ngài làm giáo hoàng năm 2013, Đức Phanxicô dí dỏm trả lời: “Vì có những người phạm tội, một trong những người phạm tội đó đang ở đây!”, ngài chỉ Hồng y Agostino Vallini, hồng y tổng đại diện giáo phận Rôma của ngài.
Ai là người thông minh nhất?
Sau đó Đức Phanxicô hỏi, trong 115 hồng y có mặt ở phòng mật nghị, ai là người thông minh nhất? Tất cả trẻ con trả lời: “Cha!”. Ngài trả lời: “Không, mình không biết ai là người thông minh nhất. Người được bầu làm giáo hoàng không nhất thiết phải là người thông minh nhất, người nhanh nhất phải làm chuyện họ phải làm, nhưng là người mà Chúa muốn lúc đó cho Giáo hội”.
Ngài nói tiếp: “Sau đó thì đến ngày giáo hoàng phải chết, hay về hưu như Đức Bênêđictô XVI vì sức khỏe yếu”. Đức Phanxicô giải thích, sẽ có một giáo hoàng khác kế tiếp, và lúc nào giáo hoàng cũng được bầu theo cách sau: “Dưới ánh sáng của Thần Khí”.
Vượt lên các khó khăn nhờ đức tin và lòng can đảm
Sau đó Đức Phanxicô nói đến nhiều khó khăn trong đời của mình, đặc biệt một trong các khó khăn này là lần ngài bị nhiễm trùng phổi cấp tính năm 21 tuổi. Ngài nói, ở đời lúc nào cũng có các khó khăn, nhưng các khó khăn này được vượt lên nhờ đức tin và nhờ lòng can đảm.
Sau khi gặp các em, Đức Phanxicô gặp các gia đình phục vụ cho cơ quan Caritas của giáo xứ. Ngài xin họ nhìn Chúa Giêsu nơi từng người đến xin mình giúp đỡ: “Dù họ đi nhà thờ hay không đi nhà thờ, dù họ tin Chúa hay không tin Chúa, người này là hiện thân của Chúa Giêsu”. Sau đó, Đức Phanxicô xin thiện nguyện viên dâng hành động của mình cho Chúa Kitô, như một nụ cười, như mang đến sự trợ giúp cho người khác. Ngài nhấn mạnh: “Đó là con đường thánh thiện của anh chị em”.
Trong bài giảng, Đức Phanxicô xác nhận, ngay với cả kẻ thù, người kitô hữu không nên hận thù hay chua xót, nhưng ngược lại nên cầu nguyện để có bình an.
Hình minh họa: Trong lần Đức Phanxicô gặp trẻ em ngày 15 tháng 12-2016 tại Vatican.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2017

Đức Phanxicô có phải là vị giáo hoàng đầu tiên bị chống đối đến thế hay không?

Đức Phanxicô có phải là vị giáo hoàng đầu tiên bị chống đối đến thế hay không?

Tác giả: 
 Vũ Văn An

Khi có những bích chương chống đối Đức Phanxicô xuất hiện trên các bức tường quanh thành phố Rôma, ký giả John Allen, ngày 4 tháng Hai, được một người bạn ký giả Ý lâu năm sau khi điện đi khắp nơi hỏi một giám mục, một nhà thần học hoặc bất cứ ai có một cái tên xem câu chuyện đầu đuôi ra sao mà không gặp, bèn chạy đến ông hỏi: chuyện này trước đây có không, đã trả lời đại ý như sau:

Các bích chương công khai chỉ trích một vị giáo hoàng thì trước đây chưa từng có. Năm 2013, nhân mật nghị hội bầu giáo hoàng, chỉ có các bích chương ở Rôma vận động bất thành công cho Đức Hồng Y Peter Turkson làm giáo hoàng.

Thời Đức Gioan Phaolô II, có các truyền đơn tố cáo ngài lạc giáo do các cố gắng đại kết và liên tôn của ngài. Còn thời Đức Bênêđíctô XVI thì có những phim tài liệu trên truyền hình Ý chỉ trích ngài về các vụ tai tiếng giáo sĩ lạm dụng tình dục. Nhưng bích chương thì không từng có.

Về phạm vi và cường độ chỉ trích, John Allen nghĩ rằng Đức Phanxicô không bị nặng hơn các vị tiền nhiệm của ngài. Ông đã được chính tai nghe những chỉ trích miệng và viết chẳng tốt đẹp gì của các nhà thần học Công Giáo đối với nhiều khía cạnh khác nhau của triều giáo hoàng Gioan Phaolô II. Với Đức Bênêđíctô XVI cũng thế. Ngài bị chỉ trích từ nhiều phía nhưng cao độ hơn cả là dịp ngài tha vạ tuyệt thông cho vị giám mục duy truyền thống và sau đó vị này bác bỏ “truyền thuyết” diệt chủng Do Thái. Lời chỉ trích nặng đến nỗi, Đức Bênêđíctô XVI phải viết thư xin lỗi hàng giám mục hoàn cầu. Đây là lần đầu tiên, một vị giáo hoàng hành động như thế.

Chỉ có điều khác một chút là những người chỉ trích Đức Phanxicô mạnh nhất phát xuất từ cánh hữu và phản ứng của ngài đối với họ không kém quyết liệt. Thứ hai, dưới thời truyền thông xã hội thống trị này, bất cứ lời chỉ trích nhân vật nổi tiếng nào cũng được loan truyền nhanh hơn vi khuẩn (viral). Thành thử nguyên điều này không thể chứng minh ngài bị chỉ trích nặng nề và phổ quát hơn. Vả lại, đại đa số tín hữu không bị nao núng bởi các chỉ trích này. John Allen cho hay 85 phần trăm giáo dân Mỹ vẫn rất yêu mến ngài.

Bị chỉ trích với cùng những lý do

Một tác giả khác tại Brussels, chuyên viết về các giáo huấn xã hội của Giáo Hội, và về triết lý chính trị cũng như các cuộc tranh luận xã hội hiện nay, là Hrvoje Vargić, mới đây nhận định rằng điều lý thú là ba nhân vật vĩ đại mà những người chỉ trích Đức Phanxicô luôn nhân danh để chống lại ngài vốn cũng bị chỉ trích với cùng những lý lẽ. Đó là Thánh Tôma Aquinô, Đức Gioan Phaolô II và Đức Bênêđíctô XVI.

Ai cũng biết Thánh Tôma Aquinô quảng bá tư tưởng của Aristốt qua các triết gia Ả Rập và tư tưởng này trước đó vốn bị các đại học Công Giáo bác bỏ. Lúc đó, thuyết Platông mới là triết học Kitô Giáo, còn Aristốt đơn giản chỉ là “triết gia của kẻ thù”, tức Hồi Giáo. Trong không khí trí thức ấy, các đề xuất của Thánh Tôma có lúc đã bị coi là sách cấm.

Đức Gioan Phaolô II, sau khi cho công bố tác phẩm triết học “Osoba i czyn” (sau này được phiên dịch là Con Người Hành Động, “The Acting Person”), đã bị tố cáo là duy hiện đại và theo chủ nghĩa triết chung, pha trộn bừa bãi học thuyết Tôma và hiện tượng luận. Tuy nhiên, tác phẩm này, sau đó, đã ảnh hưởng lớn tới triều giáo hoàng của ngài.

Một điều tương tự như thế cũng đã xẩy đến với cuốn "Các Nguồn Gốc Canh Tân" của ngài. Trước cuộc gặp gỡ thượng đỉnh liên tôn năm 1986 ở Assisi, nhiều nhóm duy truyền thống đã tố cáo ngài tội lạc giáo.

Đức Bênêđíctô XVI, trong cuộc phỏng vấn gần đây nhất của nhà báo Peter Seewald, đã nhìn nhận rằng thời Vatican II, ngài vốn theo phe cấp tiến. Chính ngài bị tố cáo là lạc giáo sau bài báo “Các người ngoại đạo mới và Giáo Hội” và giám mục của ngài, Đức Hồng Y Joseph Wendel, đã muốn ngăn cản việc ngài được bổ nhiệm làm giáo sư ở Bonn với cùng lý do này.

Người ta cũng còn nhớ văn kiện do Cha Joseph Ratzinger soạn thảo cho Vatican II cũng đã bị một số người mô tả là việc làm của Tam Điểm.

Lý do phê phán chỉ trích

Theo tác giả này, thì giai cấp có học trong Giáo Hội đôi khi gặp trở ngại trong việc biện phân giữa thuyết duy hiện đại một bên và bên kia việc thâm hậu hóa cách hiểu sự thật. Những tâm trí không bằng lòng với việc lặp lại các công thức cũ và cố gắng thâm hậu hóa cách hiểu đức tin hầu hết trong lịch sử đều bị các tư tưởng gia và tín hữu khác tố cáo là đi lạc ra ngoài học lý chính thống.

Những người trên thông thạo trích dẫn nhưng không hiểu các trích dẫn đó trong ngữ cảnh của chúng. Họ cũng hiểu lầm về truyền thống. Khi kết án Lefèbre, Đức Gioan Phaolô II cho rằng vị này có “quan niệm không đầy đủ và mâu thuẫn về truyền thống”. Không đầy đủ vì họ không lưu ý tới đặc điểm sinh động của truyền thống, như Vatican II từng nhấn mạnh, truyền thống này “phát xuất từ các tông đồ và diễn tiến trong Giáo Hội với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần. Có sự lớn mạnh về cách nhìn thấu suốt vào thực tại và các lời lẽ được truyền lại”. Họ quên mất lời của Đức Bênêđíctô XVI khi ngài nhận định rằng Kitô Giáo “luôn là điều đang xẩy ra, một cuộc gặp gỡ, chứ trước nhất không phải là một lý thuyết hay hệ thống luân lý”. Ngài còn nói thêm: “chúng ta không sở hữu chân lý, chân lý sở hữu chúng ta”.

Họ cũng hiểu lầm cả khoa giải thích liên tục. Liên tục không có nghĩa là nhắc lại các biểu thức chính thức của tín lý, mà có nghĩa là chân thực với bản chất đức tin và cố gắng thâm hậu hóa cách hiểu nó. Các hình thức cũ không thể có giá trị cao hơn chỉ vì chúng lâu đời hơn. Trong "Tinh Thần Phụng Vụ", Đức Bênêđíctô XVI từng viết: “tuổi, tự nó và trong bản chất của nó, không thể là một tiêu chuẩn và những gì xuất hiện qua diễn trình phát triển lịch sử không thể tự động bị xếp vào loại xa lạc ngoại vi đối với điều nguyên thủy. Xét cho cùng có thể có việc phát triển đem lại sinh khí mạnh mẽ nhờ đó hạt giống nguyên thủy lớn lên và sinh hoa trái”.

Chúng ta, theo tác giả này, rất biết ơn khi Đức tiên giáo hoàng vẫn còn sống để minh giải nguyên tắc liên tục này. Thực thế, trong cuộc phỏng vấn cuối cùng của Peter Seewald, khi được hỏi: “như thế, Đức Thánh Cha không thấy có sự gián đoạn nào với triều giáo hoàng của ngài sao?”, Đức Bênêđíctô XVI đã trả lời “Không. Tôi nghĩ một vài chỗ có thể bị giải thích sai và… Khi một vài chỗ bị tách biệt, cắt rời, thì các chống chọi có thể được tạo ra, nhưng không, nếu ta nhìn vào toàn bộ. Có lẽ có những giọng điệu mới, nhưng không có gián đoạn”.

Dù sao, như nhận định của nữ ký giả San Martin của tờ Crux, tuy Đức Đương Kim Giáo Hoàng không có thì giờ lục tìm trên internet để thấy những người chủ trương Đức Piô XII là vị giáo hoàng cuối cùng thực sự (sedevacantists) viết gì về ngài. Nhưng họ viết rất nhiều: từ các lăng nhục kiểu các phim ảnh thuộc loại R tới các tố cáo lạc giáo, chẳng còn điều gì họ không viết và không nói.

Vị giáo hoàng bị chống đối hơn cả từ tứ phía 

Tuy thế, Đức Phanxicô chỉ bị phe bảo thủ hay duy truyền thống chỉ trích mà thôi. Cho đến nay, vị giáo hoàng bị chống đối nhiều hơn cả và từ tứ phía phải kể Đức Phaolô VI. Sáng kiến triệu tập Công Đồng Vatican II là của Thánh Gioan XXIII, nhưng người lèo lái Công Đồng này qua các khó khăn trăm bề tới thành công mỹ mãn không ai khác ngoài Chân Phúc Phaolô VI.

Ngài được cả Giáo Hội biết ơn. Nhưng không thiếu những người cực lực chống đối ngài. Những người này thuộc phe cực hữu mà nổi nhất là Tổng Giám Mục Lefèbre và Hội Thánh Piô X (SSPX) của vị này.

Nhóm Lefèbre, ly khai nhưng không nhận là ly khai

Hội Thánh Piô X được coi như một tổ chức Công Giáo bất hợp pháp vì đi ngược lại kỷ luật và tín lý Công Giáo. Tuy không coi mình là một Giáo Hội (ly khai), nhưng trên thực tế, không vâng phục thẩm quyền Giáo Hoàng và các quyết định của Vatican II, dù cấm các đệ tử không được tra vấn tính thành hiệu (validity) của các vị giáo hoàng đang trị vì, chỉ tra vấn các quyết định gọi là dựa vào “khôn ngoan” (prudence) của các ngài mà thôi.

Năm 1974, phản ứng lại phúc trình của các thanh tra Giáo Hội, vị tổng giám mục này đã ra một tuyên ngôn nói rằng mình chỉ suy phục “Rôma Công Giáo”, “Rôma muôn thuở” chứ không suy phục thứ Rôma của “thuyết tân duy hiện đại” và “các khuynh hướng tân Thệ Phản” thể hiện ở Vatican II và các cải tổ trong Giáo Hội tiếp theo sau đó, nhằm phá hủy Giáo Hội chân chính của Chúa Kitô.

Ngày 29 tháng 6 năm 1976, Lefèbvre tự ý phong chức linh mục cho 13 chủng sinh thuộc chủng viện Écône do ông thiết lập trái với lệnh cấm của Tòa Thánh. Ông bị cấm không được truyền chức (suspensio a collatione ordinum). Chống lại lệnh cấm này, ông cho rằng việc canh tân Giáo Hội của Đức Phaolô VI theo tinh thần của Vatican II là “thỏa hiệp với ý nghĩ của con người hiện đại” phát sinh từ một thỏa hiệp ngầm giữa các chức sắc cao cấp trong Giáo Hội và các tên Tam Điểm cao cấp trước khi có Công Đồng. Và sau khi không chịu xin lỗi Đức Phaolô VI, ngày 22 tháng Bẩy năm 1976, ông bị ngài cấm không được cử hành các bí tích (suspensio a divinis).

Ông tự giải thích là bị cấm không được cử hành Thánh Lễ theo "Novus Ordo", chứ Thánh Lễ gọi là của Công Đồng Trent hay của Đức Piô V (thánh lễ hướng đông bằng tiếng Latinh) thì không bị cấm, nên ông tiếp tục cử hành Thánh Lễ và các bí tích khác theo kiểu cũ.

Để biểu lộ sự bất tuân của mình, ngày 29 tháng Tám, năm 1976, ông tổ chức một thánh lễ đại trào tại Nhà Thờ Lille với sự tham dự của 6,000 tín hữu. Báo La Croix hồi đó tường thuật khá đầy đủ về buổi lễ này với tựa đề: “Mgr Lefèbre: un pas de plus vers la Rupture” (Đức Cha Lefèbre: một bước nữa tới ly giáo).

Chủ bút tôn giáo của La Croix là Jean Potin nhận định như sau: “Thánh lễ cử hành hôm qua ở Lille đã hoàn tất vụ ly giáo của Đức Cha Lefèbre với hợp đoàn Giáo Hội Công Giáo. Việc ly giáo trên thực tế đã hiện hữu, dù không được phát biểu bằng một vạ tuyệt thông long trọng. Đây là một bi kịch đối với Giáo Hội, một đau khổ đối với mỗi Kitô hữu, vì bất cứ cuộc chia rẽ nào cũng làm tổn thương đến tình yêu và sự hợp nhất mà Chúa Kitô muốn có giữa những kẻ tin vào Người”.

Cũng theo Tờ La Croix, ngày ấy Đức Phaolô VI, theo dõi biến cố trên tại nhà nghỉ hè của ngài ở Castel Gandolpho, đã lên tiếng xin 7 ngàn khách hành hương cầu nguyện “cho sự hòa hợp, sự hợp nhất và bình an trong nội bộ Giáo Hội” để “Giáo Hội luôn trung thành với ước nguyện tối cao của Chúa Kitô, Đấng muốn Giáo Hội vừa là một vừa là Công Giáo, như một hiệp thông phổ quát mọi tín hữu sống trong cùng một đức tin và cùng một đức ái”.

Đức Phaolô nói tiếp, theo báo La Croix: “Giây phút này đây [lúc Lefèbre cử hành Thánh Lễ tại Lille] phải củng cố trong lương tâm ta sự gắn bó chắc chắn và đầy tình con thảo với Giáo Hội của ta đang gặp khốn khó và bị xé nát vào ngay lúc này bởi những vụ tranh cãi khác nhau có khuynh hướng tách rời những người chủ xướng và những người theo họ ra khỏi tình liên đới Giáo Hội chân thực. Vụ tranh chấp này cũng có khuynh hướng thúc đẩy họ tiến vào những con đường khó hiểu của ý kiến cá nhân, tán loạn và phá hoại gia đình độc nhất, chân chính và duy nhất của Chúa Kitô”.

Tuy rất đau buồn trước biến cố này, Đức Phaolô vẫn coi Lefèbre là “anh em”. Ngài nói thêm: “một trong các vụ đau đớn và nay hết sức trầm trọng này, không cần phải dấu diếm chi, là vụ một trong các anh em của ta trong hàng giám mục mà ta luôn qúy mến và kính trọng. Bất chấp các lời khuyên của ta, ngài đã phạm một vi phạm nặng nề đối với một trong các luật lệ của Giáo Hội là cử hành trái phép các vụ phong chức thánh này. Như thế, ngài đã chuốc lấy việc ngưng thi hành các năng quyền linh mục dự liệu bởi Bộ Giáo Luật”.

Đức Phaolô VI nói tiếp: “tuy nhiên, ta được biết rằng người anh em này, trong một thái độ khinh thường đối với quyền chìa khoá được Chúa Kitô đặt trong tay ta, muốn tự ban cho mình quyền cử hành các hành vi thờ phượng và thừa tác mà không có sự hòa giải xứng đáng và được lưu ý trướx đó, với Giáo Hội của Thiên Chúa”.

Đức Phaolô VI cho hay thêm: “Ta rất đau lòng và chắc chắn anh chị em cũng thế”. Nhưng ngài vẫn không ra vạ tuyệt thông cho Lefèbre. Vạ này chỉ diễn ra thời Đức Gioan Phaolô II khi vị tổng giám mục này phong chức giám mục cho 4 linh mục theo ông.

Một điều đáng nói là lý luận được nhóm Lefèbre đưa ra để chống lại các cải tổ về phụng vụ của Đức Phaolô VI khá giống với lý chứng mà phe bảo thủ hiện nay trong Giáo Hội dùng để chống lại Tông Huấn Amoris Laetitia của Đức Phanxicô. Nhóm trước cho rằng không thể thay đổi luật thờ phượng (lex orandi) mà không thay đổi luật tin (lex credendi). Ai cũng biết nguyên tắc bất hủ: luật cầu là luật tin (lex orandi lex credenda est). Còn nhóm sau thì chủ trương rằng không thể thay đổi thực hành mục vụ mà không thay đổi tín lý.

Humanae Vitae

Trở lại với Đức Phaolô VI. Ngài bị phe bảo thủ trong Giáo Hội tấn công dữ dội là điều dễ hiểu vì ai cũng biết Vatican II là một aggiornamento vĩ đại, một luồng gió mới thổi vào Giáo Hội. Người Bảo thủ bao giờ cũng ngại những điều mới lạ. Nhưng phản ứng tiêu cực của phe cấp tiến đối với ngài có khi còn dữ dội hơn qua vụ thông điệp Humanae Vitae.

Thực vậy, ai cũng nghĩ: với sự ủng hộ việc sử dụng một số phương tiện ngừa thai nhân tạo của đa số thành viên trong Ủy Ban Giáo Hoàng về Kiểm Soát Sinh Sản, một ủy ban do Đức Gioan XXIII thiết lập và được ngài mở rộng, Đức Phaolô VI sẽ ban hành một thông điệp nghiêng về phía đa số ấy. Nhưng không ngờ, ngài đã ngả theo phe thiểu số, rất nhỏ, của Ủy Ban để duy trì giáo huấn truyền thống của Giáo Hội: người Công Giáo không được sử dụng bất cứ phương pháp nhân tạo nào để điều hòa việc sinh sản!

Chính vì thế, thông điệp Humanae Vitae đã bị chống đối dữ dội đến nỗi từ đó, dù ngài tiếp tục giảng dậy bằng 122 Tông Hiến, 8 Tông Huấn, 121 Tông Thư, rất nhiều bài giảng, thư từ và suy gẫm, nhưng không bao giờ ra một thông điệp nào nữa!

Người bên ngoài phản đối đã đành nhất là kỹ nghệ ngừa thai. Điều đáng nói là người trong Giáo Hội còn hung hăng hơn. Đức Hồng Y Leo Joseph Suenens, một trong những phối trí viên của Vatican II, khi ví vụ này như vụ Galilêô, đã đặt câu hỏi (kiểu dubia sau này) “liệu thần học luân lý có lưu ý đủ tới tiến bộ của khoa học chăng, là tiến bộ có thể giúp xác định điều gì phù hợp với tự nhiên. Tôi xin các hiền huynh của tôi tránh một vụ Galilêô khác. Một vụ đã đủ cho Giáo Hội rồi”. Trong một cuộc phỏng vấn ngày 15 tháng Năm năm 1969 (gần một năm sau), vị Hồng Y này chỉ trích quyết định của Đức Phaolô VI là phá hoại tính hiệp đoàn đã được Công Đồng ấn định, gọi nó là một hành vi không hiệp đoàn, thậm chí chống hiệp đoàn. Nhận định này được sự ủng hộ của các thần học gia Vatican II như Karl Rahner, Hans Küng, và một số giám mục.

Nhưng phản đối công khai mạnh nhất ngay hai ngày sau khi Humanae Vitae được công bố phải kể nhóm thần học gia bất phục thuộc Đại Học Công Giáo America, do linh mục Charles Curran lãnh đạo. Họ ra tuyên bố cho rằng “các người phối ngẫu có thể quyết định một cách có trách nhiệm theo lương tâm họ rằng ngừa thai nhân tạo trong một số trường hợp là điều được phép và thực sự còn cần thiết nữa để duy trì và cổ vũ gía trị và tính thánh thiêng của hôn nhân”.

Chưa hết, hai tháng sau, “Tuyên Ngôn Winnipeg” được Hội Đồng Giám Mục Gia Nã Đại công bố. Tuyên ngôn này quả quyết rằng không được cấm cản những người không thể chấp nhận giáo huấn của Humanae Vitae ra khỏi Giáo Hội Công Giáo và các cá nhân, với một lương tâm tốt, có thể dùng phương tiện ngừa thai miễn là trước nhất họ phải trung thực cố gắng chấp nhận các chỉ thị khó khăn của thông điệp.

Ở Đức, Hội Đồng Giám Mục công bố “Königsteiner Erklärung" (Tuyên Ngôn Königstein) vào năm 1968. Và cũng cùng năm này, ở Áo, Hội Đồng Giám Mục công bố tuyên ngôn “Mariatroster”. Trong một diễn văn năm 2008 ở Giêrusalem, Đức Hồng Y Christoph Schönborn cho rằng với hai tuyên ngôn này, các giám mục đã phạm một tội rất nặng. Thêm vào đó còn là tội thiếu can đảm nói ngược lại việc phá thai.

Trong cả hai tuyên ngôn trên, bằng một ngôn ngữ hàm hồ, các vị giám mục, cuối cùng, đã để cho lương tâm cá nhân của giáo dân quyết định có nên dùng thuốc ngừa thai hay không. Việc này dẫn đến việc bất tuân rộng rãi và các khuynh hướng muốn ly giáo.

Đức Hồng Y Carlo Maria Martini, một Hồng Y cấp tiến khác, thì tố cáo Đức Phaolô VI che giấu sự thật, để mặc các nhà thần học và các mục tử chỉnh đốn sự việc bằng cách thích ứng các giới răn vào thực hành.

Điều kỳ diệu là lòng khiêm nhường của Đức Phaolô VI. Tháng Ba năm 1969, nhân cuộc gặp gỡ với Đức Hồng Y Suenens, ngài lắng nghe quan điểm của vị này và chỉ thưa lại: “vâng, xin Đức Hồng Y cầu nguyện cho tôi; vì các yếu đuối của tôi, nên Giáo Hội bị cai trị không tốt”. Tuy nhiên, ngày 23 tháng Sáu, năm 1978, chỉ vài tuần trước khi qua đời, trong bài diễn văn với Hồng Y Đoàn, ngài tái khẳng định rằng Humanae Vitae: “tuân theo các xác quyết của khoa học nghiêm túc” trong việc khẳng định nguyên tắc tôn trọng luật tự nhiên và “tư cách làm cha mẹ có ý thức và hợp trách nhiệm đạo đức”.

Chính nhờ thế, dù có những người bất phục trong Giáo Hội phản đối, Humanae Vitae vẫn được các giáo huấn của các vị giáo hoàng liên tiếp sau đó bênh vực và hết lòng bảo vệ. Theo ký giả John Allen, “ba thập niên bổ nhiệm các giám mục của Đức Gioan Phaolô II và Bênêđícô XVI, cả hai vị đã minh nhiên cam kết đối với Humanae Vitae, có nghĩa: các vị lãnh đạo cao cấp trong Đạo Công Giáo ngày nay ít có khuynh hướng như năm 1968 muốn tách mình ra khỏi việc ngăn cấm kiểm soát sinh đẻ, hay tỏ ra êm dịu với nó. Một số đáng kể các giám mục Công Giáo gần đây còn cho ban hành các văn kiện riêng nhằm bênh vực Humanae Vitae. Từ thập niên 1960 đến nay, nhiều khai triển về ý thức thai sản đã làm phát sinh ra nhiều tổ chức kế hoạch hóa gia đình cách tự nhiên như Phương Pháp Billings, Liên Đoàn Cặp Với Cặp (Couple to Couple League) và Hệ Thống Săn Sóc Thai Sản Kiểu Mẫu Creighton, chuyên huấn luyện cách dùng và tính đáng tin cậy của các phương pháp ngừa thai tự nhiên”.

Có người cho rằng lòng can trường của Đức Phaolô VI trở thành mẫu gương cho Đức Phanxicô, vị đã phong á thánh cho ngài. Ngày 1 tháng Năm năm 2014, trong một cuộc phỏng vấn của Tờ Corriere della Sera, Đức Phanxicô đã nói vềHumanae Vitae như sau: “Mọi sự còn tùy ở việc giải thích Humanae Vitae ra sao. Xét cho cùng, chính Đức Phaolô VI cũng đã thúc giục các vị giải tội phải rất từ bi thương xót và lưu ý tới các hoàn cảnh cụ thể. Nhưng óc thiên phú của ngài có tính tiên tri, ngài có can đảm đưa ra một chủ trương chống lại đa số, để bênh vưc kỷ luật luân lý, để thực thi một tự chế văn hóa, chống đối thuyết tân Malthus hiện nay và tương lai. Vấn đề không phải là thay đổi tín lý, nhưng đào sâu và bảo đảm để việc chăm sóc mục vụ lưu ý tới các hoàn cảnh và những điều người ta có thể làm”.

Bầu khí 1968

Hy vọng giáo huấn biện phân của Đức Phanxicô cũng vượt qua được các khó khăn hiện nay để khởi sắc như Humanae Vitae. Dù sao, bầu khí hiện nay cũng thuận lợi cho ngài nhiều hơn cho Đức Phaolô VI năm 1968, mà theo Marie Meaney, là năm của “anarchical idealism” (lý tưởng vô chính phủ) và “sexual hedonism” (duy khoái lạc tính dục) bởi cuộc tổng nổi dậy của sinh viên thế giới năm đó mang lại.

Đức Hồng Y James Stafford, lúc ấy còn là một linh mục ở Baltimore, Hoa Kỳ, mô tả bầu khí năm 1968 như sau: “Mùa hè năm 1968 phá kỷ lục nóng nhất của Thiên Chúa. Các hoài niệm không quên được; chúng hiện còn rất đau đớn. Chúng vẫn sống động như cơn lốc ở đồng bằng Colorado. Chúng chứa đựng cơn gió lốc nơi cơn giận của Thiên Chúa cư ngụ. Năm 1968, một điều gì đó rất đáng sợ đã xẩy ra cho Giáo Hội. Trong hàng linh mục thừa tác, các vụ tuyệt giao phát triển khắp nơi giữa bạn bè mà không bao giờ hàn gắn lại được. Và các vết thương cứ thế tiếp tục ảnh hưởng tới toàn thể Giáo Hội. Sự bất phục, cùng với sự thao túng cơn giận mà các nhà lãnh đạo xúi bẩy trở nên một thử thách tối thượng. Nó thay đổi các mối liên hệ nền tảng trong Giáo Hội. Đây là một Peirasmòs [nghĩa là thử thách, thử thách đức tin] đối với nhiều người…

"Các cuộc chuyện trò giữa hàng giáo sĩ …trở nên nhiễm mùi sợ hãi. Nghi ngờ giữa hàng linh mục trở nên kinh niên. Sợ hãi trùm phủ. Và cứ thế tiếp diễn. Hàng linh mục trong Tổng Giáo Phận mất hết một điều gì đó thuộc tình anh em trọn vẹn mà các linh mục Baltimore trong bao thế hệ vốn có. Năm 1968 đánh dấu một gián đoạn trong tình hiệp thông thế hệ… Tình anh em linh mục đã bị tổn thương. Sự bất phục mục vụ đã tấn công nền tảng Thánh Thể của Giáo Hội. Ý nghĩa hôn ước của Giáo Hội đã bị bác bỏ. Một số linh mục coi giám mục không hơn không kém như những người nộm của Rôma.

"Đức Hồng Y Shehan (lúc đó là Tổng Giám Mục Baltimore) sau đó phúc trình rằng vào sáng Thứ Hai, mồng 5 tháng Tám, ngài “hết sức ngỡ ngàng đọc thấy trên tờ Baltimore Sun: 72 linh mục của vùng Baltimore đã ký vào Tuyên Ngôn Bất Phục”. Điều sau này ngài gọi là “những năm khủng hoảng” đã bắt đầu cho ngài vào… buổi tối nóng bức tháng Tám năm 1968… Các hậu quả mặc tình cứ thế tiếp diễn. Sự bất phục đầy lăng nhục, bức bách đã trở thành một thực tế trong Giáo Hội và buộc Giáo Hội phải chịu những cuộc tranh cãi vũ bão, gây tê liệt, vô bổ và kinh niên.

"Tính bạo động của việc bất tuân khởi đầu chỉ là khúc dạo đầu dẫn tới tính bạo động hơn nữa và có tính phổ quát hơn nữa… Việc coi thường sự thật, bất kể là hung hăng hay thụ động, đã trở thành thông thường trong đời sống Giáo Hội. Các linh mục, các nhà thần học và giáo dân bất phục vẫn tiếp diễn các kỹ thuật bức bách của họ. Ngay từ đầu, báo chí đã sử dụng họ để đẩy mạnh hơn nữa nghị trình lươn lẹo của mình”.