Thứ Sáu, ngày 05 tháng 2 năm 2016

Sự công chính của Thiên Chúa là lòng thương xót




Sự công chính của Thiên Chúa là lòng thương xót
WHĐ (05.02.2016) – “Mối tương quan giữa lòng thương xót và công lý trong ánh sáng của Kinh Thánh là chủ đề bàigiáo lý của Đức Thánh Cha Phanxicô trong buổi tiếp kiến ​​chung hôm thứ Tư 03-02 tại Quảng trường Thánh Phêrô vớihơn 10.000 người tham dự.
Đức Thánh Cha nói: “Kinh Thánh trình bày Thiên Chúa như lòng thương xót vô hạn, nhưng cũng là công lý hoàn hảo.Làm sao dung hoà hai hình ảnh này? Hai khái niệm xem ra mâu thuẫn, nhưng không phải thế, vì chính lòng thương xót của Thiên Chúa dẫn đưa chúng ta đến chỗ thực thi công lý đích thựcTrong nền công lý của con người, chúng ta thấy rằng những người cho mình là nạn nhân chạy đến tòa án để đòi thực thi công lý. Đó là một nền công lý trừng trịgiángphạt kẻ phạm tội, theo nguyên tắc mỗi người phải lãnh lấy những gì mình đáng chịu. ... Nhưng con đường này không dẫn đến công lý đích thực, như trong thực tế nó không thắng được điều ác, mà chỉ đơn giản là hạn chế điều ác. Thay vì thế, chỉ khi dùng điều tốt đáp lại điều ác thì điều ác mới thực sự bị khuất phục.
Đức Thánh Cha giải thíchKinh Thánh đưa ra một hình thức công lý khác, trong đó nạn nhân mời gọi người có tộihoán cải, giúp người ấy hiểu được những thiệt hại họ đã gây ra và kêu gọi lương tâm của họBằng cách này, khi nhìn nhận tội lỗi của mình, người ấy có thể mở ra để đón nhận sự tha thứ của người bị hại. ... Đây là cách giải quyết xung đột trong gia đình, trong tương quan vợ chồng, tương quan giữa cha mẹ và con cái, trong đó người bị tổn thương yêumến người gây nên tội và không muốn mất đi mối tương quan giữa họ. Đó chắc chắn là một con đường khó khăn: nó đòi hỏi nạn nhân phải sẵn sàng tha thứ và mong muốn sự cứu rỗi và điều lành cho người gây thiệt hạiNhưng chỉ cónhư thế công  mới chiến thng, vì nếu người gây nên tội nhìn nhận những thiệt hại mình đã làm và sẽ không làm nhưthế nữathì cái xấu sẽ không còn tồn tại và điều bất công sẽ trở nên công bằngkhi người ấy đã được tha thứ và giúp đỡ để tìm ra con đường nên tốt.
Thiên Chúa cũng đối xử với chúng ta là những người tội lỗi như thếNgài vẫn luôn tha thứ cho chúng ta, giúp chúng ta đón nhận Ngài và ý thức điều xấu xa mình đã làm để ra khỏi điều xấu. Thiên Chúa không tìm kết án chúng tanhưngcứu rỗi chúng ta. Thiên Chúa không muốn kết án bất cứ ai! ... Chúa của Lòng thương xót muốn cứu tất cả mọi người. ...Vấn đề là chúng ta hãy để cho Ngài đi vào trong cõi lòng chúng ta. Tất cả những lời của các ngôn sứ là lời yêu thương tha thiết kêu gọi chúng ta hoán cải”.
Trái tim của Thiên Chúa là “Trái tim của một người Cha yêu thương tất cả con cái mình và muốn chúng được sống trong sự tốt lành và trong công lý, tức là sống sung mãn và hạnh phúc. Trái tim của một người Cha vượt ra khỏi khái niệm hạn hẹp của chúng ta về công lý để mở rộng đến những chân trời bao la của lòng thương xót của Ngài. Trái tim của một người Cha không đối xử với chúng ta hay trả cho chúng ta theo tội lỗi chúng ta, như Thánh vịnh đã nói.
Đức Thánh Cha nhấn mạnh: “Chúng ta gặp được chính trái tim của Chúa Cha khi chúng ta đến tòa giải tộiđể chúng tahiểu rõ hơn về tội của mình. Nhưng tại toà giải tội, mọi người chúng ta đều đi tìm một người cha sẽ giúp mình thay đổi cuộc sống, một người cha cho chúng ta sức mạnh để tiếp bước, một người cha nhân danh Thiên Chúa tha thứ cho chúng ta.
Kết luận, Đức Thánh Cha nói với các linh mục: “Thế nên, cha giải tội có một trách nhiệm rất lớn, khi một người con đến với anh em để gặp một người cha. Và anh em linh mục, anh em  ngồi đó nơi toà giải tội, là nơi mà Chúa Cha thực thi công lý bằng tấm lòng thương xót của Ngài”.
(VIS)

Minh Đức

Nơi Chúa Giêsu chịu Phép Rửa được UNESCO công nhận là “Di sản của nhân loại”






Nơi Chúa Giêsu chịu Phép Rửa được UNESCO công nhận là “Di sản của nhân loại
WHĐ (04.02.2016) – Chiều thứ Ba 02 tháng HaiUNESCO đã chính thức công nhận Nơi Chúa Giêsu chịu Phép Rửa trên bờ sông Jordan là “Di sản của nhân loại” trong một buổi lễ tại Paris.
Tham gia buổi lễ này có một phái đoàn đến từ Vương quốc Jordan, trong đó có Bộ trưởng Bộ Du lịch Nayef H Al-Fayez và Đức Tổng giám mục Maroun Lahham, Đại diện Toà Thượng phụ Latinh Giêrusalem đặc trách Jordan. Trong bài phát biểu, Đức Tổng giám mục Maroun Lahham gọi nơi Chúa Giêsu chịu Phép Rửa là nơi vẫn còn âm vang giọngnói của Chúa Kitô trong một đất nước Jordan yên bình và an toàn, giữa lòng một Trung Đông rực lửaNgài ghi nhận: “Tin Mừng đã nói về nơi ấy hai ngàn năm trước, lòng sùng mộ bình dân đã luôn xác quyếtnhững nghiên cứu khảo cổ học cũng đã minh chứng, bốn vị giáo hoàng đã đến viếng thăm và ngày hôm nay cộng đồng quốc tế đã chính thức công nhận”.
Đức Tổng giám mục nói thêm: “Từ nay chúng ta có thể lớn tiếng công bố rằng Jordan là Thánh Địa. Thánh Địa gồm chủ yếu là Jerusalem, Bethlehem và Nazareth nhưng về điều đó Jordan cũng không phải là kém thánh thiện hơn”.
(Agenzia Fides)

Minh Đức

Suy niệm Chú Giải Chúa nhật V thường niên C - Lm Inhaxiô Hồ Thông

Suy niệm Chú Giải Chúa nhật V thường niên C - Lm Inhaxiô Hồ Thông
Trong Bài Đọc I, ngôn sứ I-sai-a thuật lại ơn gọi của mình từ một thị kiến uy nghi hùng vĩ xảy ra trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, vào năm 740 trước Công Nguyên.

CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật này, cả ba bài đọc, đều tập trung vào một chủ đề duy nhất: ƠN GỌI.

Is 6: 1-2a, 3-8

Trong Bài Đọc I, ngôn sứ I-sai-a thuật lại ơn gọi của mình từ một thị kiến uy nghi hùng vĩ xảy ra trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, vào năm 740 trước Công Nguyên.

1Cr 15: 1-11

Trong đoạn trích thư thứ hai của thánh Phao-lô gởi tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô nhắc lại ơn gọi đặc biệt mà thánh nhân đã lãnh nhận từ chính Chúa Ki-tô Phục Sinh. Ngài đã biến đổi thánh nhân từ một kẻ bách đạo cuồng tín trở thành một Tông Đồ nhiệt thành loan báo Tin Mừng.

Lc 5: 1-11

Thánh Lu-ca thuật lại câu chuyện mẽ cá kỳ diệu; ngay liền sau đó, thánh Phê-rô, thánh Gia-cô-bê và thánh Gioan đáp trả lời mời gọi của Chúa Giê-su, họ từ bỏ mọi sự mà cất bước đi theo Ngài.

BÀI ĐỌC I (Is 6: 1-2a, 3-8)
Chúa Nhật vừa qua chúng ta đã đọc bài tường thuật về ơn gọi của ngôn sứ Giê-rê-mi-a; Chúa Nhật này, chúng ta đọc ơn gọi của ngôn sứ I-sai-a. Hai bài tường thuật được viết theo văn phong rất khác nhau và hai phản ứng của hai vị ngôn sứ này cũng đối lập với nhau. Nét đặc trưng của ơn gọi ngôn sứ Giê-rê-mi-a là bầu khí thân tình lòng bên lòng với Thiên Chúa, trong khi ơn gọi của ngôn sứ I-sai-a được định vị vào trong một thị kiến uy nghiêm hùng vĩ của một cuộc thần hiển. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a không hề run sợ trước Thiên Chúa, nhưng lại sợ hãi khi phải đối đầu với con người. Trái lại, ngôn sứ I-sai-a run sợ trước vẻ uy nghi cao cả của Thiên Chúa và tự nguyện xin Chúa sai mình đi thi hành sứ vụ của Ngài cho con người.
Xem ra ngôn sứ I-sai-a xuất thân từ một gia đình ở Giê-ru-sa-lem và có mối quan hệ gần gũi với giai cấp lãnh đạo. Những người mà ông có sứ mạng chuyển giao sứ điệp là vua và các triều thần ở chốn triều đình.
Ngôn sứ I-sai-a cho chúng ta niên biểu ơn gọi của ông: “Năm vua Út-di-gia-hu băng hà”. Vua Út-di-gia-hu là vị vua bất hạnh thuộc vương quốc Giu-đa; vào cuối triều đại hạnh phúc và thịnh vượng, vua bị bệnh cùi và qua đời năm 740 trước Công Nguyên.

1.Thị kiến khai mạc:
I-sai-a sinh vào năm 765 trước Công Nguyên; vì thế vào khoảng năm 25 tuổi, ông đón nhận thị kiến ở Đền Thánh Giê-ru-sa-lem, trong những giờ phút xuất thần hay trong một buổi phụng vụ. Dù thế nào, ông vẫn có một mặc khải về sự siêu việt và thánh thiện của Thiên Chúa đến nổi làm xáo động tâm trí của ông. Ngay liền sau đó, ông trở thành vị ngôn sứ của Thiên Chúa ngàn trùng chí thánh.
Cuộc thần hiển được diễn tả theo hình tượng truyền thống: đất rung chuyển, khói tỏa mù mịt, như ở trên núi Xi-nai trong Cựu Ước hay như ở Nhà Tiệc Ly vào ngày lễ Ngũ Tuần trong Tân Ước. Đền Thờ Giê-ru-sa-lem đã là nơi Thiên Chúa ngự giữa cõi thế.
Đức Chúa tỏ mình ra cho ông I-sai-a như một vị vua quyền năng mà sự uy nghi cao cả của Ngài bao phủ đền thánh, có các thần Xê-ra-phim hộ giá. Các thần này tung hô: “Thánh! Thánh! Chí Thánh! Đức Chúa các đạo binh là Đấng Thánh! Cả mặt đất rạng ngời vinh quang Chúa!”. Đây là lời tung hô “ba lần thánh”, nghĩa là, cực thánh hay ngàn trùng chí thánh, xem ra được dùng trong phụng vụ rồi. I-sai-a hiểu lời tung hô này và sẽ đặt nó vào trọng tâm sứ điệp của mình. Ông sẽ gọi Đức Chúa là “Đấng Thánh của Ít-ra-en”.

2.Sự khiêm hạ của con người và lòng xót thương của Thiên Chúa:
I-sai-a nhận ra ngay sự bất xứng của mình nên thốt lên: “Khốn thân tôi, tôi chết mất! Vì tôi là một người môi miệng ô uế, tôi ở giữa một dân môi miệng ô uế, thế mà mắt tôi đã thấy Đức Vua là Đức Chúa các đạo binh!”.
Với lời thú nhận đầy khiêm hạ này, Đức Chúa đáp trả bằng lòng xót thương; Ngài sai một trong các thần Xê-ra-phim, tay cầm một hòn than hồng trên bàn Hương Án và thanh tẩy môi miệng ô uế của vị ngôn sứ tương lai: “Đây, cái này đã chạm vào đến môi ngươi, ngươi đã được tha tội và xá tội”, để ông có thể xứng đáng là sứ giả của Ngài, người được Chúa sai đi truyền đạt Lời Chúa cho con người.

3.Ơn gọi:
Đức Chúa đã bày tỏ sự siêu việt của Ngài nhưng cũng sự hào hiệp của Ngài. Trước tiếng gọi của Thiên Chúa: “Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?”, chàng thanh niên I-sai-a mới 25 tuổi đời mau mắn đáp trả không một chút đắn đo suy nghĩ: “Dạ, con đây, xin sai con đi”. Chàng cảm thấy mình có liên đới với dân này, “một dân môi miệng ô uế”; chàng sẽ là sứ giả của Thiên Chúa cho họ.
Thánh Phao-lô sau thị kiến về Đấng Phục Sinh trên đường đi Đa-mát, thánh Phê-rô, thánh Gia-cô-bê và thánh Gioan sau mẽ cá kỳ diệu, đã không thể nào cưỡng kháng lại trước tiếng gọi của Chúa Ki tô.

BÀI ĐỌC II (1Cr 15: 1-11)
Chúng ta tiếp đọc thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi các tín hữu Cô-rin-tô.

1.Hai điều lợi ích:
Đoạn trích hôm nay cho chúng ta hai điều lợi ích. Điều lợi ích thứ nhất đó là thánh Phao-lô biện minh phẩm chất Tông Đồ của mình, vì thánh nhân đã lãnh nhận ơn gọi của mình từ chính Chúa Ki-tô. Điều lợi ích thứ hai rất nổi tiếng: bản văn này là lời tuyên xưng đức tin về giá trị cứu độ của cái chết Đức Ki tô và một lời khẳng định quý báu về cuộc Phục Sinh, kèm theo danh sách của tất cả những chứng nhân đã thấy Đấng Phục Sinh, danh sách mà chỉ một mình thánh Phao-lô cho đầy đủ nhất. Các tác giả Tin Mừng không nói đến việc Chúa Ki tô hiện ra cho năm trăm người, cũng không nói đến việc Ngài hiện ra cho ông Gia-cô-bê, người anh em họ của Chúa Giê-su, người đảm nhận trách nhiệm của Cộng Đoàn Giê-ru-sa-lem. Trong danh sách này, thánh Phao-lô cũng kể ra việc Chúa Giê-su hiện ra cho tất cả các Tông Đồ. Thuật ngữ “Tông Đồ” ở đây rõ ràng phải được hiểu theo nghĩa rất rộng, bởi vì Nhóm Mười Hai được trích dẫn trước đó.
Chúng ta ghi nhận rằng thánh Phao-lô đặt cuộc xuất hiện của Chúa Ki-tô mà thánh nhân đã được thụ hưởng trên đường đi Đa-mát trên cùng một bình diện với những lần xuất hiện của Chúa Ki-tô giữa biến cố Phục Sinh và biến cố Thăng Thiên.
Ở đây chúng ta chỉ dừng lại ở nơi ơn gọi của thánh Phao-lô mà chủ đề phụng vụ Lời Chúa hôm nay muốn hướng đến.

2.Ơn gọi của thánh Phao-lô:
Như ngôn sứ I-sai-a, thánh Phao-lô đã bị Thiên Chúa bắt lấy. Thánh nhân đã có một thị kiến về Đức Ki tô Phục Sinh, Ngài tỏ mình ra trong một luồng ánh sáng rực rỡ khiến thánh nhân ngã xuống đất. Kẻ trước đây đã điên cuồng ra tay bắt hại các người Ki tô hữu, bây giờ thú nhận là mình bất xứng: “Tôi là kẻ hèn mọn nhất trong số các Tông Đồ, tôi không đáng được gọi là Tông Đồ, vì đã ngược đãi Hội Thánh của Thiên Chúa”.
Nhưng giống như I-sai-a, thánh Phao-lô đã được tha thứ và được gọi đích thân: “Nhưng tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa, và ơn Người ban cho tôi đã không vô hiệu”. Chúng ta nhận ra tâm hồn của vị Tông Đồ này: một sự trộn lẫn thường hằng giữa sự khiêm tốn và sự tự hào hãnh diện.

3.Thánh Phao-lô biện minh ơn gọi Tông Đồ của mình:
Thánh Phao-lô có nhiều lý do để mà biện minh ơn gọi của mình. Trong số những tín hữu Cô-rin-tô, vài người bác bỏ tước hiệu Tông Đồ của thánh nhân và buộc tội thánh nhân là huênh hoang tự đắc.
Ở đầu thư, thánh Phao-lô tự giới thiệu mình: “Tôi là Phao-lô, bởi ý Thiên Chúa được gọi làm Tông Đồ của Đức Giê-su Ki tô” (1Cr 1: 1). Như vậy, ngay từ đầu thư, các tín hữu Cô-rin-tô được báo trước rằng vị rao giảng của họ đòi hỏi tính chính danh ơn gọi Tông Đồ của mình. Sự đòi hỏi này được lập lại xa hơn một chút: “Tôi không phải là tông đồ ư? Tôi đã không thấy Đức Giê-su, Chúa chúng ta sao? Anh em không phải là công trình của tôi trong Chúa sao? Nếu đối với những người khác tôi không phải là tông đồ, thì ít ra đối với anh em tôi là tông đồ, vì ấn tín chứng thực chức vụ tông đồ của tôi trong Chúa chính là anh em” (9: 1-2).
Đoạn văn mà chúng ta đọc hôm nay được định vị vào cuối thư, vì thế, đây là lời thánh Phao-lô nhắc lại lần thứ ba về tính chất đặc thù của ơn gọi mình: chính Đức Ki-tô đã đích thân ủy thác sứ vụ tông đồ cho thánh nhân, chứ không có bất kỳ trung gian phàm nhân nào.

TIN MỪNG (Lc 5: 1-11)
Xem ra khi viết đoạn Tin Mừng này, thánh Lu-ca vận dụng cùng một phương pháp văn chương mà thánh ký đã sử dụng rồi trong bài tường thuật “Chúa Giê-su viếng thăm Na-da-rét”: tập hợp lại những sự kiện nối tiếp nhau thành một bài tường thuật duy nhất trong cùng một khung cảnh, để tránh những lập lại và để câu chuyện trở nên sống động hơn, thậm chí kịch tính hơn.
Như vậy, thánh Lu-ca trình bày “một bức tranh có ba cảnh” nối tiếp nhau:
-Chúa Giê-su rao giảng trên bờ hồ Ghen-nê-xa-rét (5: 1-3).
-Mẽ cá kỳ diệu (5: 4-7).
-Ơn gọi của các môn đệ đầu tiên (5: 8-11).

1.Chúa Giê-su rao giảng bên bờ hồ (5: 1-3).
Trong Tin Mừng Lu-ca, trước đây Đức Giê-su chọn các hội đường để truyền đạt đạo lý của Ngài cho dân chúng, bây giờ Ngài chọn bờ hồ Ghen-nê-xa-rét làm khung cảnh cho lời rao giảng của Ngài. Thánh Mác-cô cho chúng ta nhiều bằng chứng về điểm này, xin trích dẫn một bản văn rất gần với Lu-ca: “Đức Giê-su lại bắt đầu giảng dạy ở ven Biển Hồ. Một đám đông người rất đông tụ họp lại chung quanh Người, nên Người phải xuống thuyền mà ngồi dưới biển, còn toàn thể đám đông thì ở trên bờ” (Mc 4: 1-2).
Đây là khúc quanh sứ vụ của Chúa Giê-su, tiên báo khúc quanh sứ vụ của Giáo Hội sau này, như W. Barclay nhận xét : “Tại đây chúng ta đối diện một khúc quanh trong sứ vụ Chúa Giê-su. Lần trước Chúa giảng trong hội đường, bây giờ Ngài ở tại bờ biển. Rồi Ngài sẽ còn trở lại hội đường nữa, nhưng sẽ đến một ngày, cửa hội đường đóng lại trước mặt Ngài thì Hội Thánh của Ngài sẽ ở nơi bờ hồ, sẽ ở ngoài đường cái, và tòa giảng của Ngài sẽ là chiếc thuyền. Ngài sẽ tới bất cứ nơi nào người ta muốn nghe Ngài giảng” (Tin Mừng theo thánh Lu-ca, Nhà XB Tôn Giáo, 2008, tr. 53).

A-Lời Thiên Chúa:
Dân chúng đến để lắng nghe “Lời Thiên Chúa”; cách nói này thay thế cách nói “Tin Mừng” mà cho đến lúc đó thánh Lu-ca thường dùng. Thánh Lu-ca sẽ lấy lại cách nói “Lời Thiên Chúa” này nhiều lần (8: 11, 21; 11: 28). Chắc chắn trong lời rao giảng của các Tông Đồ, cả hai cách nói này: “Lời Thiên Chúa” và “Tin Mừng” đều thông dụng và có thể được thay thế cho nhau như chính thánh Lu-ca làm chứng trong Công Vụ (Cv 6: 7; 8: 14; 11: 1; 13: 44, 46; 15: 35; 18: 11, vân vân). Ở đây sắc thái xem ra gần với tư tưởng mà thánh Gioan sẽ diễn tả trong Tựa Ngôn Tin Mừng của mình: Đức Giê-su được nhận dạng với Lời Thiên Chúa, Ngài là Ngôi Lời Thiên Chúa.

B-Thuyền của ông Si-mon:
Việc Chúa Giê-su chọn thuyền của ông Si-mon trong hai chiếc thuyền đậu ở đó không phải là một sự tình cờ. Chính “từ trên thuyền này Người giảng dạy đám đông”. Trong câu chuyện này, Chúa Giê-su chưa cho ông Si-mon một tên mới là Phê-rô; Ngài sẽ cho ông tên mới này vào lúc Ngài chọn Nhóm Mười Hai (Mc 6: 14). Nhưng ngay trong câu chuyện này thánh Lu-ca chỉ định trước người ngư phủ miền Ga-li-lê này một tên kép “ông Si-mon Phê-rô”. Hình ảnh con thuyền Giáo Hội được lèo lái bởi thánh Phê-rô đã trở thành kinh điển kể từ Giáo Phụ Tết-tu-li-a-nô Tertullien và thánh Giáo Phụ Âu-gút-ti-nô; hình ảnh này xem ra tiềm ẩn ở nơi đoạn Tin Mừng này rồi. Các Giáo Phụ đã thấy ở nơi con thuyền được lèo lái bởi ông Si-mon Phê-rô một biểu tượng kinh điển về Giáo Hội lữ hành trên trần thế. “Đây là con thuyền mà theo thánh Mát-thêu đang có nguy cơ bị chìm và theo thánh Lu-ca thì đầy cá. Ở đây chúng ta có thể thấy những bước khởi đầu đầy khó khăn của Giáo Hội và những thành quả sau này của nó” (St Ambrose, Expositio evangelii sec. Lucam, in loc.). Đức Ki tô bước vào thuyền để dạy đám đông dân chúng – và từ con thuyền của ông Phê-rô, tức Giáo Hội, Ngài tiếp tục dạy toàn thể thế giới.

2.Mẽ cá kỳ diệu (5: 4-7).
Thánh Lu-ca liên kết việc Chúa Giê-su rao giảng bên bờ hồ với mẽ cá kỳ diệu. Thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu không biết tình tiết này. Chúng ta cũng gặp thấy mẽ cá kỳ diệu này ở trong phần phụ chương của Tin Mừng Gioan (ch. 21), nhưng được đinh vị sau biến cố Phục Sinh. Có thể chỉ có một biến cố duy nhất, nhưng chúng ta không còn biết rõ biến cố này được định vị vào lúc nào. Điều này cho thấy mỗi tác giả Tin Mừng có quan điểm thần học khác nhau về cùng một biến cố này.
Chúa Giê-su đòi hỏi thánh Phê-rô một hành vi đức tin. Theo kinh nghiệm của một ngư phủ, đêm là thời gian thuận tiện để ra khơi thả lưới bắt cá, chứ ban ngày không phải là thời gian thích hợp cho việc đánh cá. Ấy vậy, Chúa Giê-su lại bảo ông Si-mon: “Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”. Dựa trên kinh nghiệm nghề nghiệp của mình, ông Si-mon nhấn mạnh sự phi lý của sự đòi hỏi này: “Thưa Thầy, chúng tôi vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả”; tuy nhiên, đức tin của ông mách bảo ông chấp nhận sự thách đố này:“Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”. Đối với đức tin, điều không thể lại có thể. Một mẽ lưới đầy cá đến nổi họ phải ra hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền khác, là Gia-cô-bê và Gioan, đến giúp.
Chúng ta ghi nhận rằng ông An-rê, anh của ông Si-mon không được kể ra. Tuy nhiên thánh Lu-ca dùng số nhiều: “họ” bắt được nhiều cá khi nói về những người đồng nghiệp cùng ở với ông Si-mon. Trước hết, thánh Luca nghĩ đến bộ ba bất khả phân: thánh Phê-rô, thánh Gia-cô-bê và thánh Gioan, bộ ba này sẽ được liên kết với Chúa Giê-su một cách đặc biệt hơn các Tông Đồ khác: họ sẽ là chứng nhân về cuộc phục sinh của con gái của ông trưởng hội đường (Lc 8: 51), về biến cố Biến Hình trên núi (Lc 9: 28), và về cơn hấp hối trong vườn Ô-liu (Mc 14: 33). Thật đáng ghi nhận rằng Chúa Giê-su đã không tách tình bạn của những người bạn đồng nghiệp: Ngài tôn trọng tình bạn này trong suốt cuộc đời thi hành sứ vụ của Ngài, tuy nhiên ba người môn đệ này sẽ là cột trụ của Giáo Hội tiên khởi. Sự cộng tác của tất cả họ vào mẽ cá kỳ diệu này phác họa sứ vụ của Giáo Hội trong tương lai rồi.

3.Ơn gọi của các môn đệ đầu tiên (5: 8-11).
“Ơn gọi của các môn đệ đầu tiên” được thánh Lu-ca ở đây cũng được thánh Mác-cô và thánh Mát-thêu thuật lại: trong cùng một khung cảnh bên bờ hồ, trong khi thánh Phê-rô và thánh An-rê đang quăng lưới đánh cá, còn thánh Gioan và thánh Gia-cô-bê đang vá lưới ở trong thuyền, Chúa Giê-su gọi họ: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” và họ mau mắn đáp trả bằng cách bỏ lại tất cả mà bước đi theo Ngài. Hoạt cảnh thật giản dị nhưng thật cảm động.
Thánh Lu-ca liên kết ơn gọi này với tình tiết mẽ cá kỳ diệu, điều này làm cho câu chuyện thêm phần kịch tính hơn. Các môn đệ tương lai xem ra không cưỡng được trước một nhà phép thuật thần thông hơn là trước sứ giả Tin Mừng, cho dù họ không tách biệt quá rõ nét hai khía cạnh hấp dẫn này ở nơi con người Đức Giê-su.
Phản ứng của thánh Phê-rô tương tự với phản ứng của ngôn sứ I-sai-a, bày tỏ cũng một thứ tình cảm ngăn cách giữa con người tội lỗi và Thiên Chúa thánh thiện: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!”.
Như trong câu chuyện ơn gọi của vị ngôn sứ I-sai-a ở đó lòng xót thương của Thiên Chúa đáp trả sự khiêm tốn của vị ngôn sứ, Chúa Giê-su cũng trấn an thánh Phê-rô: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta”. Chính con người mà thánh nhân có sứ mạng thu phục. Những bờ hồ Ghen-nê-xa-rét mờ nhạt đi để trở thành những biên giới của thế giới.
Một bức tranh ba cảnh của thánh Lu-ca có một sự duy nhất thật thấm thía: trên phong nền của toàn cảnh nổi bật một viễn cảnh Giáo Hội.

Thứ Năm, ngày 04 tháng 2 năm 2016

Công lý thương xót của Thiên Chúa là sự tha thứ

Công lý thương xót của Thiên Chúa là sự tha thứ



Công lý của Thiên Chúa là sự tha thứ, bởi vì Thiên Chúa không muốn kết án chúng ta, nhưng Ngài muốn cứu rỗi chúng ta. Chúa Giêsu là lòng thương xót nhập thể của Thiên Chúa Cha từ nhân. Là con cái của Thiên Chúa Cha từ bi chúng ta được mời gọi tiếp nhận ơn tha thứ và tha thứ cho các anh chị em khác.
 ĐTC Phanxicô đã nói như trên với tín hữu và du khách hành hương năm châu trong buổi tiếp kiến sáng thư tư hàng tuần hôm qua.
Trong bài huấn dụ ngài đã khai triển đề tài “lòng thương xót và công lý của Thiên Chúa”. ĐTC nói: Thánh Kinh giới thiệu Thiên Chúa với chúng ta như lòng thương xót vô biên, nhưng cũng như sự công thẳng hoàn hảo. Làm thế nào để hoà giải hai điều này? Thực tại của lòng thương xót được ăn khớp với các đòi buộc của công lý như thế nào đây? Xem ra chúng là hai thực tại trái nghịch nhau. Thật ra không phải như vậy, bởi vì chính lòng thương xót của Thiên  Chúa đưa tới chỗ thành toàn công lý đích thực. Nhưng chúng ta để cập tới công lý nào vậy?
Nếu nghĩ tới việc điều hành hợp pháp của công lý, chúng ta thấy rằng ai cho mình là nạn nhân của một bất công thì hướng tới một thẩm phán ở toà án và yêu cầu thực thi công lý cho mình. Đây là một công lý thưởng phạt, phạt kẻ có lỗi theo nguyên tắc của ai trả lại cho người ấy, như viết trong sách Châm Ngôn: “Người thực thi công chính được đi vào cõi sống, kẻ theo đuổi gian tà phải đến chốn tử vong.” (Cn 11,19). Chúa Giêsu cũng nói đến điều này trong dụ ngôn bà goá tới với thẩm phán nhiều lần và xin: “Xin hãy thực thi công lý cho tôi chống lại kẻ thù tôi” (Lc 18,3). ĐTC giải thích loại công lý này như sau:
Tuy nhiên con đường này không đưa tới công lý đích thực, bởi vì thật ra nó không chiến thắng sự dữ, nhưng chỉ gạt bỏ sự dữ ra một bên thôi. Trái lại, chỉ khi đáp trả lại sự dữ với sự thiện ta mới thực sự dữ chiến thắng sự dữ.
Đó là một kiểu thực thi công lý khác mà Thánh Kinh giới thiệu với chúng ta như con đường chính phải theo. Nó là một tiến trình tránh chạy tới toà án, và dự kiến rằng nạn nhân trực tiếp hướng tới kẻ có lỗi để mời gọi họ hoán cải, bằng cách giúp họ hiểu rằng họ đang làm sự dữ, và kêu gọi lương tâm của họ. Trong cách thế này, sau cùng khi đã hồi tâm và thừa nhận sự sai trái của mình, họ có thể rrộng mở cho sự tha thứ mà phiá bị tổn thương cống hiến cho họ. Và đây là điều hay đẹp: theo sau việc thuyết phục điều dữ, con tim rộng mở cho sự tha thứ được cống hiến cho nó. Đây là kiểu giải quyết các xung đột bên trong các gia đình, trong các tương quan giữa vợ chồng hay giữa cha me và con cái, trong đó người bị xúc phạm yêu thương người có lỗi, và ước mong cứu vãn tương quan giữa họ. Không chặt đứt tương quan ấy, liên lạc ấy.
Tiếp tục bài huấn dụ, ĐTC nói: Dĩ nhiên đây là một con đường khó khăn. Nó đòi hỏi người chịu sự sai trái sẵn sàng tha thứ và mong muốn ơn cứu rỗi và hạnh phúc cho người đã xúc phạm tới họ. Nhưng chỉ như thế công lý mới có thể chiến thắng sự dữ không còn nữa, và người đã bất công trở thành công chính, vì đã được tha thứ và được trợ giúp tìm lại được con đường sự thiện. Và chính ở đây liên quan tới ơn tha thứ và lòng thương xót.
Tiếp đến ĐTC khẳng định như sau:
Và Thiên Chúa hành động như vậy đối với chúng ta là những người tội lỗi. Chúa liên tục cống hiến cho chúng ta ơn tha thứ của Ngài, giúp chúng ta tiếp nhận nó và ý thức được sự dữ mà chúng ta đã làm để có thể tự giải thoát khỏi nó. Vì Thiên Chúa không muốn kết án chúng ta nhưng muốn cứu thoát chúng ta.
Thiên Chúa không muốn kết án ai hết! Một ai đó trong anh chị em có thể hỏi tôi: “Nhưng thưa cha, Ngài có đáng bị quan Philatô kết án không? Thiên Chúa có muốn sự kết án đó không? Không! Thiên Chúa muốn cứu quan Philatô và cả Giuđa nữa, Ngài muốn cứu tất cả mọi người! Ngài là Chủa của lòng thương xót muốn cứu vớt tất cả mọi người! Vấn đề đó là để Chúa bước vào trong con tim.
Tất cả các lời các ngôn sứ là một lời mời gọi tha thiết và tràn đầy tình yêu tìm kiếm sự hoán cải của chúng ta. Đó là điều Thiên Chúa phán qua ngôn sứ Edekiel: “Chẳng lẽ Ta lại vui thích khi kẻ gian ác phải chết … hơn là muốn cho nó từ bỏ đường lối của nó để được sống sao?” (Ed 18,23; 33,11), đây là điều Thiên Chúa thích.
Và đó là con tim của Thiên Chúa, con tim của một Người Cha yêu thương và muốn rằng con cái mình sống trong sự thiện và sự công chính, và vì thế sống tràn đầy và hạnh phúc. Một trái tim của Người Cha vượt xa hơn ý niệm công lý của chúng ta để rộng mở chúng ta cho các chân trời vô tận lòng thương của Ngài. Một con tim của Người Cha không xử với chúng ta theo các tội lỗi của chúng ta, và không trả cho chúng ta theo các lỗi lẫm của chúng ta, như thánh vịnh nói (Tv 103,9-10). Đó chính là con tim của người cha, mà chúng ta muốn gặp gỡ, khi chúng ta đi xưng tội. Có lẽ Ngài nói với chúng ta điều gì đó để giúp chúng ta hiểu sự dữ hơn, nhưng tất cả chúng ta đều đi đến toà giải tội để tìm một người cha giúp đỡ chúng ta thay đổi cuộc sống; một người cha trao ban cho chúng ta sức mạnh để tiến bước; một người cha tha thứ cho chúng ta nhân danh Thiên Chúa. Vì thế là cha giải tội là một trách nhiệm lơn lao biết bao, bởi vì người con trai con gái đó đến với bạn chỉ để tìm một người cha. Và bạn là linh mục ở trong toà giải tội, bạn ở đó trong chỗ của Thiên Chúa Cha là Đấng thi hành công lý với lòng thương xót của Ngài.
ĐTC đã chào các đoàn hành hương đến từ các nước Pháp, Thuỵ Sĩ, các nước nói tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, Ba Lan, Hoa Kỳ, Côte d’ Ivoire. Ngài cũng chào các tu huynh, nữ tu và thân nhân Hội Teutonico Đức quốc về Roma hành hương nhân kỷ niệm 825 thành lập.
Chào các nam nữ nghệ sĩ của đoàn xiệc America về các màn biểu diễn của họ ĐTC nói: Xin cám ơn anh chị em. Tôi muốn lập lại điều tôi đã nói tuần vừa qua với các nam nữ nghệ sĩ biểu diễn. Anh chị em biểu diễn cái đẹp và cái đẹp luôn đưa chúng ta tới gần Thiên Chúa. Vì thế xin cám ơn anh chị em. Nhưng tôi muốn nói một điều khác nữa: đàng sau việc biểu diễn đẹp ấy là biết bao nhiều thời giờ tập luyện vất vả. Tập luyện gây khó chịu. Thánh Phaolô nói để đi tới cùng chúng ta phải tập luyện, tập luyện, tập luyện để chiến thắng và đây là một gương cho tất cả chúng ta, vì cám dỗ của đời sống dễ dãi, tìm một kết thúc tốt và không cần phải cố gắng là môt cám dỗ, nhưng hôm nay với gương tập luyện của mình anh chị em làm chứng cho thấy cuộc sống không cố gắng liên tục là một cuộc sống tầm thường. Xin cám ơn anh chị em về mẫu gương này.
ĐTC cũng chào các thành viên Liên hiệp tĩnh tâm Italia và cầu chúc kinh nghiệm đức tin này được sống rộng rãi trong Năm Thánh Lòng Thương Xót. Chào đoàn hành hương tổng giáo phận Trento do ĐC Luigi Bressan và chính quyền tỉnh hướng dẫn ĐTC cám ơn vùng đã đảm trách làm hang đá Giáng Sinh rất đẹp tại quảng trường thánh Phêrô, mà tín hữu và du khách đã chiêm ngưỡng trong mấy tuần qua hôm nay là ngày cuối. Ngài cầu chúc việc bước qua Cửa Thánh với lòng tin cũng biến đổi con tim mỗi người để nó rộng mở cho tha nhân.
Chào các bạn trẻ người đau yếu và các đôi tân hôn ĐTC nhắc cho mọi người biết hôm qua là lễ nhớ thánh Biaggio, Giám mục tử đạo  của Mỹ. Ngài là vị giám mục đã dấn thân loan báo Tin Mừng cả trong những điều kiện khó khăn. ĐTC khích lệ các bạn trẻ can đảm làm chứng cho đức tin, người đau yếu dâng thập giá khổ đau mỗi ngày cho ơn hoán cải của những người sống xa Chúa Kitô, và các cặp vợ chồng mới cưới trở thành những nguời loan báo tình yêu của Chúa.
Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lậy Cha và phép lành toà thánh cho mọi người.
 
Tác giả: Linh Tiến Khải
Nguồn: http://vietvatican.net/

Thứ Tư, ngày 03 tháng 2 năm 2016

Nhiệm Vụ Của Tông Đồ An-rê Trong Các Sách Tin Mừng

Nhiệm Vụ Của Tông Đồ An-rê Trong Các Sách Tin Mừng
Trong các Tin Mừng Nhất Lãm, An-rê, dù được xác định là anh của Simon Phê-rô, dường như đã bị đặt ở vị trí sau cặp anh em Gia-cô-bê và Gio-an, con của ông Dê-bê-đê.

Nhiệm Vụ Của Tông Đồ An-rê Trong Các Sách Tin Mừng

 


Nhiệm Vụ Của Tông Đồ An-rê Trong Các Sách Tin Mừng
 

Lm. Michael H. Crosby, OFMCap


Nhiều người cho rằng trong tất cả các tông đồ, An-rê là nhân vật  bí ẩn và bị hiểu lầm nhất.  Trong các Tin Mừng Nhất Lãm, An-rê, dù được xác định là anh của Simon Phê-rô, dường như đã bị đặt ở vị trí sau cặp anh em Gia-cô-bê và Gio-an, con của ông Dê-bê-đê. Ngay cả bà Dê-bê-đê cũng có một vai trò quan trọng hơn ông (Mt 20, 20-21; 27, 56). Để tìm hiểu những điều thú vị về An-rê, con của Jonah, ta phải nghiên cứu Tin Mừng Thứ Tư. Thế nhưng, có nhiều vấn để nảy sinh khi đọc Tin Mừng này, đặc biệt xung quanh việc tác giả hình như có ý định đề cao vai trò  của An-rê và như thế lại hạ thấp căn tính truyền thống và vai trò của Phê-rô, ít ra là trong một sự kiện quan trọng: gọi tên Chúa Giêsu là “Đức Kitô”.

Có lẽ một phần lý do chuyện mập mờ về An-rê là vì ông là người duy nhất được biết đến như là môn đệ của Gioan Tẩy Giả trong tất cả các tông đồ của Chúa Giêsu. Các mối quan hệ mơ hồ giữa các môn đệ của Gioan Tẩy Giả và môn đệ của Chúa Giêsu có thể dùng để giải thích chuyện vai trò của An-rê bị hạ thấp trong các Tin Mừng Nhất Lãm nhưng lại được nâng cấp trong Tin Mừng Thứ Tư.

 
An-rê trong Tin Mừng Nhất Lãm

An-rê được nhắc đến bảy lần trong ba Tin Mừng đầu tiên (Mc 1, 16, 29; 03, 18; 13, 3; Mt 1, 18; 10, 2; Lc 6, 14). Nơi duy nhất mà cả ba Tin Mừng cùng ghi tên An-rê là trong danh sách các tông đồ (Mc 3,14-19; Mt 10: 2-4; Luke 6,13-16). Tuy nhiên, trong Tin Mừng Mác-cô (3,18) và Lu-ca (6,14) tên của An-rê không nằm sau tên Si-môn Phê-rô, như trong Tin Mừng Mát-thêu (10, 2). Thay vào đó, tên Gia-cô-bê và Gio-an lại đứng trước tên ông (Mc 3, 18; Lc 6, 14). Cũng trong Tin Mừng Mác-cô, nơi đoạn kể về những người cùng ngồi với Chúa Giê-su trên núi Ô-liu, đối diện với Đền Thờ khi Chúa Giêsu báo trước sự tàn phá của nó (Mc 13, 1-2), lại một lần nữa tên bốn người đó được liệt kê như sau: "Phê-rô, Giacôbê, Gioan, và An-rê "(Mc 13, 3). An-rê, anh trai của Simon Phê-rô, được kể sau anh em nhà Dê-bê-đê.

Tin Mừng Lu-ca đề cập đến An-rê chỉ một lần (Luca 6: 14), sác Công Vụ Tông Đồ cũng thế. Khi kể tên những người ở Lầu Trên dịp lễ Ngũ Tuần, tương tự như trong Tin Mừng Luca, tác giả Công Vụ Tông Đồ cũng đặt tên An-rê ở vị trí như sau: "Phê-rô, Gio-an, Gia-cô-bê, An-rê" (Cv 1, 13).

Câu Mc 1,29 cho chúng ta biết rằng Simon và An-rê ở chung nhà, nhưng trong khi Tin Mừng Lu-ca viết về Gia-cô-bê và Gio-an như "bạn chài với ông Si-môn" (Lc 5, 8-9), thì chẳng có Tin Mừng nào đề cập đến chuyện An-rê làm nghề hay thuộc một gia đình chài lưới. Tuy nhiên, vì Tin Mừng Mác-cô và Mát-thêu đề cập đến việc Chúa Giêsu kêu gọi Phê-rô trước rồi đến An-rê khi họ đang ở trên thuyền của họ, ta có thể giả định rằng ông Giô-na, người cha của Phê-rô và An-rê, đã chết hoặc là ông ta không thể quán xuyến cái nghề chài lưới của gia đình được nữa; ông Giô-na không như cha của Gia-cô-bê và Gio-an, (người đã có mặt với hai con trên chiếc thuyền của gia đình).

Chúng ta có thể thấy rõ việc An-rê là “người ngoài cuộc” trong ba trình thuật được kể trong các sách Tin Mừng Nhất Lãm,  tên các tông đồ được nêu trong chuyện gồm Phê-rô, Gia-cô-bê, Gio-an, nhưng không có tên An-rê. Ba trình thuật đó là: chữa bệnh của các con gái của Gia-ia, trưởng hội đường (Mc 5, 37; Lc 8, 51); biến hình (Mc 9, 2;  17, 1; Lc 9, 28); và lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu (Mc 14, 34; Mt 26,37). Cuối cùng, theo Tin Mừng Luca, Chúa chỉ sai Phê-rô và Gio-an (không có tên An-rê và Gia-cô-bê) chuẩn bị cho bữa ăn lễ Vượt Qua (Lc 22, 8; Mc 14, 13).

Từ những điều vừa đề cập, chúng ta có thể nói rằng, dù có một ưu đãi đối với An-rê, khi Chúa Giêsu gọi Phê-rô và Anrê trước (Mc 1, 16-17; Mt 4, 18-19), nhìn tổng thể, các Tin Mừng Nhất Lãm đã đặt tên Gia-cô-bê và Gio-an trước tên An-rê, Thật vậy, khi Tin Mừng Lu-ca thuật lại việc Chúa kêu gọi các môn đệ, tên An-rê thậm chí không được nhắc tới trong tên những môn đệ được gọi  (Lc 5, 1-11). Rõ ràng, có chuyện gì đó đã xảy ra khiến An-rê trở thành một môn đệ hạng hai, đặc biệt trong mắt của Mác-cô và Lu-ca. Thực ra đây không phải là trường hợp với Mát-thêu và điều đó có thể giúp chúng ta hiểu tại sao.
 
An-rê trong Tin Mừng Thứ Tư

Tên An-rê được nhắc đến trong Tin Mừng Thứ Tư nhiều hơn bất cứ các Tin Mừng khác (Ga 1, 40, 44; 6, 8; 12,22 [2X]); thêm vào đó,  có một chỗ mô tả Bethsaida là "thành phố của An-rê và Phê-rô" (Ga 1:44).  Dù cho số lần tên "An-rê" được nhắc đến trong Tin Mừng Gioan vượt trội hơn các Tin Mừng Nhất Lãm, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy Tin Mừng Thứ Tư cho An-rê một vai trò hoàn toàn khác, không tìm thấy nơi các sách Tin Mừng Nhất Lãm. Hơn nữa, nếu vị trí của An-rê có vẻ như bị chuyển xuống sau cặp anh em Gia-cô-bê và Gio-an trong Tin Mừng Mác-cô và Lu-ca, thì chuyện đó sẽ khác hẳn trong Tin Mừng Thứ Tư. Trong Tin Mừng này, chính An-rê mời em mình là Si-môn làm môn đệ Chúa, và rồi còn quan trọng hơn thế nữa, không phải Phê-rô tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, nhưng chính An-rê đã loan báo điều này cho em mình là Si-môn. Chúng ta hãy đọc lại bản văn đó, như sau:

Sau khi ông Gio-an Tẩy Giả (đang đứng với hai môn đệ) công bố lần hai tên Đức Giê-su là "Chiên Thiên Chúa" (Ga 1, 29; 36)

Hai môn đệ này nghe ông nói thế… liền đi theo Đức Giê-su. Khi Đức Giê-su quay lại và thấy họ đi theo, Ngài nói với họ, " Các anh tìm gì thế?" Họ nói với ông: "Thưa Ráp-bi (nghĩa là thưa Thầy), Thầy ở đâu? Ngài nói với họ: " Người bảo họ: "Đến mà xem." Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười. Ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, là một trong hai người đã nghe ông Gio-an nói và đi theo Đức Giê-su. Trước hết, ông gặp em mình là ông Si-môn và nói: "Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a" (nghĩa là Đấng Ki-tô). Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức Giê-su. Đức Giê-su nhìn ông Si-môn và nói: "Anh là Si-môn, con ông Gio-an, anh sẽ được gọi là Kê-pha" (tức là Phê-rô). (Ga 1, 37-42).

Tiếp theo khuynh hướng của Tin Mừng Thứ Tư giảm nhẹ vai trò của Phê-rô (và đặc biệt tạo sự tương phản với các đoạn văn nhấn mạnh đến sự độc đáo của Phê-rô trong Tin Mừng Mát-thêu (ví dụ, Mt 14, 28-31; 16, 17-19), tác giả của Tin Mừng Thứ Tư dường như đã cố gắng nêu tên An-rê trước Phê-rô ở một vài chỗ. Chúng ta nghe kể rằng: "Ông Phi-líp-phê là người Bết-xai-đa, cùng quê với các ông An-rê và Phê-rô", (Ga 1:44) Trong tường thuật nơi chương 6 của Tin Mừng Gio-an về phép lạ hóa bánh ra nhiều, chúng ta được biết rằng: " Một trong các môn đệ, là ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, thưa với Người: "Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu! "(Ga 6, 8). Và, có lẽ với một chút xem thường Phê-rô, (người được biết là bị một số kẻ ngoại Hy Lạp trong số những người Do Thái cải đạo thách thức), Tin Mừng Gioan kể cho chúng ta nghe rằng chính Phi-líp và An-rê thưa với Chúa Giêsu rằng có" người Hy Lạp "muốn tìm gặp Chúa": " Trong số những người lên Giê-ru-sa-lem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy người Hy-lạp. Họ đến gặp ông Phi-líp-phê, người Bết-xai-đa, miền Ga-li-lê, và xin rằng: "Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giê-su." Ông Phi-líp-phê đi nói với ông An-rê. Ông An-rê cùng với ông Phi-líp-phê đến thưa với Đức Giê-su."(Ga 12, 20-22).

Nhưng rồi chúng ta lại thấy xuất hiện một sự đảo ngược, và thứ tự các tên lại được xếp đặt như trong Tin Mừng Nhất lãm, tên An-rê  đứng sau Phê-rô, Giacôbê và Gioan (ít ra là trong Tin Mừng Mác-cô và Lu-ca), thật vậy, chúng ta không thấy tên An-rê nơi đoạn kết thứ hai của Tin Mừng Gioan, nơi mà tên Phê-rô và "các con trai của  Dê-bê-đê " đã được nhắc đến cùng với tên của các môn đệ khác. Nhìn thoáng qua, chúng ta có thể nói ở đây tác giả đã xử dụng một bản tường thuật có xu hướng thiên về truyền thống xem nhẹ An-rê. Chỗ được đề cập tới Biển Hồ Ti-bê-ri-a, nơi Chúa Giêsu "đã tỏ mình ra": " Ông Si-môn Phê-rô, ông Tô-ma gọi là Đi-đy-mô, ông Na-tha-na-en người Ca-na miền Ga-li-lê, các người con ông Dê-bê-đê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. "(Ga 21: 2). Có lẽ vì Chương 21 được thêm vào từ nguồn Ngoài Gio-an để phục hồi" và hòa giải” Phê-rô với Chúa Giêsu, qua đó, chúng ta đoán biết là có một sự đôi co / tranh luận giữa một bên là Tin Mừng Nhất Lãm (hay ít ra là  hai Tin Mừng Mác-cô và Lu-ca) có khuynh hướng hạ thấp An-rê và một bên là Tin Mừng Gio-an với khuynh hướng đề cao An-rê.
 
Kết luận

Tại sao lại có sự khác biệt rõ ràng này? Các Tin Mừng Nhất Lãm cho là, vì Chúa Giêsu đã nhận phép rửa của Gioan, nên Ngài là một môn đệ của Gioan Tẩy Giả (Mc 1, 9-11;  Matt 3, 3-17; Lc 3, 21-22). Và chỉ trong Tin Mừng Thứ Tư, chúng ta mới được biết là An-rê là một môn đệ của Gioan Tẩy Giả. Tin Mừng Thứ Tư  cũng ngụ ý rằng vì Chúa Giêsu đã chịu phép rửa của Gioan Tẩy Giả, nên việc này đã khiến Ngài trở nên một môn đệ của Gio-an (xem Ga 1, 32-33). Phải chăng có điều gì đó đặc biệt trong mối liên kết của họ với Gio-an Tẩy Giả như là những cựu môn đệ và tạo nên một mối quan hệ có một không hai giữa Chúa Giêsu và An-rê? Phải chăng điều này khơi dậy một sự ghen tuông nào đó được thể hiện trong ý đồ hạ thấp vai trò của An-rê mà chúng ta tìm thấy nơi Tin Mừng Mác-cô và Lu-ca? Phải chăng cái vị thế đặc biệt của An-rê trong mối liên hệ với Chúa Giêsu vì cả hai cùng là môn đệ của Gio-an Tẩy Giả đã khiến Mác-cô và Lu-ca cố gắng "đặt An-rê vào đúng vị trí của ông ta"? Chúng ta có chứng cớ để nói rằng hình như đã có một sự căng thẳng giữa các nhóm người cải đạo, những người xưa đã từng là đệ tử của Gio-an Tẩy Giả, những người vẫn còn là đệ tử của Gio-an Tẩy Giả, và những người không bao giờ là môn đệ của Gio-an Tẩy Giả. Trong ý nghĩa này, Raymond Brown viết: " 'bằng chứng hạn chế' về mối liên hệ giữa các môn đệ của Gio-an Tẩy Giả và các môn đệ của Chúa Giêsu cho phép chúng ta suy đoán rằng đã có tranh chấp giữa một bên là cộng đoàn theo thánh sử Gio-an và một bên là những môn đệ của Gio-an Tẩy Giả. (Raymond E. Brown,The Community of the Beloved Disciple: The Life, Loves, and Hates of an Individual Church in New Testament Times) [New York, et al.: Paulist Press, 1979].

Tin Mừng Thứ Tư rõ ràng đối xử với Phê-rô cách khác hẳn, không như cách chúng ta thấy trong các Tin Mừng Nhất Lãm, đặc biệt là Tin Mừng Mát-thêu (Tin Mừng này có khuynh hướng đề cao Phê-rô vượt hơn cả điều mà Mát-thêu tìm được từ các nguồn mà Mác-cô và Lu-ca cùng xử dụng). Sự khác biệt nơi Tin Mừng Gio-an là cách dùng “Nhóm Mười Hai” thay cho “các môn đệ”.  Cha Raymond E. Brown viết rằng “Thánh Sử Gioan muốn biểu tượng hóa nhóm đặc biệt của các Kitô hữu với hình tượng của Phê-rô và Nhóm Mười Hai” (Ga 6, 60-69) và bởi vì sự tương phản có chủ ý và kiên định giữa Phê-rô và người Môn Đệ Được Sủng Ái, cũng là người hùng của cộng đoàn Gio-an”, người được nhắc đến trong năm hay sáu đoạn Tin Mừng …. và điều này rõ ràng tương phản với Phê-rô.” Cha Brown lý luận rằng “khi đem người anh hùng của họ đối nghịch với người nổi nhất trong Nhóm Mười Hai, một cách biểu tượng cộng đoàn của thánh sử Gio-an (1) đang tự mình đối nghịch với các giáo hội kính trọng Phê-rô và Nhóm Mười Hai – còn gọi là các Giáo Hội Tông Đồ, và cũng được các học giả đặt tên là ‘Giáo Hội Cả’” (Community of the  Beloved Disciple, 82-83).

Như đã biết Tin Mừng Thứ Tư giảm nhẹ vai trò của Phê-rô (ít ra là so với Tin Mừng Mát-thêu), chúng ta có thể suy đoán về lý do mà An-rê, chứ không phải là Phê-rô (Mc 8,29; Mt 16,16; Lc 19,20) là người đã nhận ra Đức Giê-su là  Đấng Ki-tô (Ga 1, 41). Thật vậy, An-rê không chỉ nhận ra Ngài là Đấng Mê-si-a, nhưng chính ông đã nói cho Phê-rô biết thông tin đó. Chuyện này cho thấy ý đồ của thánh sử Gio-an muốn đánh đổ truyền thống cho rằng Phê-rô là người đầu tiên đã gọi Đức Giêsu là Đấng Ki-tô.

Với lập luận trên, Cha Brown nhận định rằng: trái ngược với trình thuật thời thơ ấu trong Tin Mừng Mát-thêu và Lu-ca, Lời Tựa của Tin Mừng Gio-an làm nổi bật sự tiền hữu (2) của Chúa Giê-su với câu Ngôi Lời đã trở nên người phàm (Ga 1, 1-18). Và “Kitô học, nền tảng cho niềm tin của các Kitô hữu thời các tông đồ chưa có ý niệm đầy đủ về sự tiền hiện hữu của Chúa Giê-su và nguồn gốc từ trên cao của Ngài.” Trong khi hai Tin Mừng Mát-thêu và Lu-ca thừa nhận việc Chúa được sinh ra mà không cần một người cha trần thế, cả hai Tin Mừng này không chứa đựng một “thượng Kitô học” với những chỉ dấu về sự tiền hữu (Community of the Beloved Children). Từ cách nhìn đó, chúng ta có thêm một dấu chỉ về sự khác biệt trong vai trò của An-rê nơi Tin Mừng Nhất Lãm và Tin Mừng Thứ Tư.  Phải chăng chúng ta có thể tìm được lời giải thích cho sự khác biệt đó bằng cách đọc kỹ phần cuối đoạn 1 của Tin Mừng Gio-an?  Thật vậy, ngay sau khi Chúa mời gọi An-rê “ở lại” với mình (để trở nên một môn đệ Chúa cùng với một đồ đệ khác của Gio-an Tẩy Giả), và An-rê đã giới thiệu Chúa Giê-su là “Đấng Mê-si-a” cho Si-mon, người được Chúa đặt tên là Phê-rô (Ga 1. 42), chúng ta nghe được cuộc tranh luận của Na-tha-na-en về nguồn gốc của Chúa (Ga 1, 43-51)? Ở đoạn văn đó, sự tiền hữu của Chúa Giêsu được diễn đạt một cách thân mật với việc Ngài được gọi tên là Con Thiên Chúa và Con Người, thêm vào những danh hiệu khác đã có trước.
 
The Bible Today – Jan/Feb 2016
 

---------------------------------------

Chú thích:

1/ Cộng Đoàn Thánh Sử Gioan là một mạng lưới các giáo hội ở vùng Tiểu Á, gồm những tín hữu di cư từ Palestine tới đó sau biến cố thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá năm 70. Có giả thuyết cho rằng bốn bản văn Tân Ước gồm Tin Mừng Gio-an và ba thư của Gio-an có gốc gác từ cộng đoàn này, khi các thành viên của cộng đoàn có những tranh luận tôn giáo với những người Do Thái gốc Giu-đê-a, bao gồm cả những môn đệ của thánh Gio-an Tẩy Giả.

2/ Tiền hữu –từ thần học. Pre-existence:  Tiên tồn, tồn tại từ trước, tính tiên tồn, tồn tại tiên nghiệm, tiền hữu, tiền thế [như Phúc âm Gioan, Ngôi Lời trước khi nhập thể, thì đã có từ nguyên thủy; hay như quan niệm linh hồn đã có từ đời đời] (Tự Điển Thần Học Tín Lý Anh Việt, VietMissio 1996).
Đọc số 444 của Giáo Lý Công Giáo – năm 1992  (536, 554). Vào hai thời điểm quan trọng, Phép Rửa và Hiển Dung của Đức Ki-tô, các sách Tin Mừng ghi lại tiếng Chúa Cha gọi Đức Giê-su là "Con yêu dấu" ( x.Mt.3,17; 17,5) của Người. Chính Đức Giê-su cũng tự xưng là "Con Một của Thiên Chúa" (Ga 3,l6) và qua danh hiệu đó, xác nhận mình tiền hữu từ muôn thuở ( x.Ga l0,36). Người đòi phải tin vào "danh Con Một Thiên Chúa" (Ga 3,l8). Lời tuyên xưng này của Ki-tô giáo đã xuất hiện ngay từ trong tiếng kêu của viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giê-su trên Thập Giá : "Quả thật ông này là Con Thiên Chúa" (Mc l5,39). Chỉ trong mầu nhiệm Phục Sinh, người tín hữu mới hiểu được đầy đủ danh hiệu "Con Thiên Chúa".
 

 

Tác giả bài viết: Lucas Khổng Kim Quang dịch và chú thích.

Phó thác

Phó thác





Như chiếc lá cuối thu
Giữa phong ba bão táp
Đời con thật bé nhỏ
Giữa cuộc đời, Chúa ơi !

Thân cô đơn lữ thứ
Dặm đường dài xa xôi
Xác thân sao yếu đuối
Bao giờ đến Nước Trời !

Mơ một ngày gặp Chúa
Trong đêm dài cô liêu
Chúa ơi, Chúa có thấu !
Lòng phó thác muôn chiều.

Như chiếc lá cuối thu
Bơ vơ giữa mưa bão
Đời con bao khổ lụy
Phó thác Ngài, Chúa ơi.

 NGUYỄN THÁI HÙNG

thơ. một cõi riêng 31