Thứ Năm, ngày 05 tháng 3 năm 2015

Thứ Sáu Tuần II Mùa Chay Năm lẻ

Thứ Sáu Tuần II Mùa Chay Năm lẻ


BÀI ĐỌC I: St 37, 3-4. 12-13a. 17b-28
"Này thằng chiêm bao đến kia rồi, anh em hãy lại đây, chúng ta bắt giết nó".
Trích sách Sáng Thế.
Israel mến thương Giuse hơn mọi đứa con khác, vì ông sinh ra Giuse trong lúc tuổi già. Ông may cho Giuse một chiếc áo nhiều mầu. Các anh của Giuse thấy cha mình thương Giuse hơn mọi đứa con, nên sinh lòng ghen ghét và không thể nói chuyện thân mật với Giuse.
Khi các anh Giuse đi chăn những đoàn chiên của cha mình tại Sikem, thì Israel nói với Giuse: "Có phải các anh con đang chăn chiên ở Sikem không? Con hãy lại đây, cha sai con đi tìm các anh con".
Giuse đi tìm các anh mình và gặp các anh tại Đôtain. Khi các anh thấy Giuse từ đằng xa tiến lại gần, họ liền âm mưu tìm cách giết Giuse. Họ nói với nhau rằng: "Này thằng chiêm bao đến kia rồi, anh em hãy lại đây, chúng ta bắt giết nó, ném xác nó xuống một cái giếng cạn và nói nó bị thú dữ ăn thịt, rồi xem các điềm chiêm bao của nó sẽ ra sao?"
Ruben nghe nói thế, liền định cứu Giuse khỏi tay anh em, nên nói rằng: "Chúng ta đừng giết nó, đừng làm đổ máu, song ném nó xuống giếng nơi hoang vu này, và như thế, tay các em không phải vấy máu". Ruben nói như thế, vì có ý muốn cứu Giuse khỏi tay các anh em, để đem Giuse về cho cha mình. Khi Giuse vừa đến gần, các anh liền cởi áo dài Giuse đang mặc, và bắt ném xuống giếng cạn.
Đang khi các ông ngồi ăn bánh, thì thấy một đoàn người Ismael từ Galaad tiến về Ai-cập, các con lạc đà của họ chở đầy hương liệu, nhựa thơm và dầu thơm. Giuđa nói với các anh em rằng: "Chúng ta giết em chúng ta và giấu máu nó đi, thì có ích lợi gì? Tốt hơn là chúng ta đem bán nó cho người Ismael và tay chúng ta không phải vấy máu, vì Giuse là em ruột thịt chúng ta". Các anh em nghe theo lời Giuđa, nên khi các người lái buôn từ Mađian đi ngang qua đó, các ông kéo Giuse lên khỏi giếng và đem bán cho các người Ismael với giá hai mươi đồng bạc, và họ dẫn Giuse sang Ai-cập. Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA: Tv 104, 16-17. 18-19. 20-21
Đáp:  Các ngươi hãy nhớ lại những điều kỳ diệu Chúa đã làm (c. 5a).
1) Chúa đã gọi cảnh cơ hàn về trên đất nước, và rút đi mọi sự nâng đỡ bằng cơm bánh. Ngài đã sai một người đi trước họ: Giuse đã bị bán để làm nô lệ. - Đáp.
2) Thiên hạ đã lấy xiềng để trói chân người, và cổ người bị cột bằng xích sắt, cho tới khi ứng nghiệm lời tiên đoán của người, lời của Chúa đã biện minh cho người. - Đáp.
3) Vua đã sai cởi trói cho người, Chúa của chư dân cũng đã giải phóng người. Vua đã tôn người làm chủ của mình, và làm chúa trên toàn diện lãnh thổ. - Đáp.
CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Tv 94, 8ab
Hôm nay các ngươi đừng cứng lòng, nhưng hãy nghe lời Chúa phán.

PHÚC ÂM: Mt 21, 33-43. 45-46
"Đứa con thừa tự kia rồi, nào anh em, chúng ta hãy giết nó".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: "Các ông hãy nghe dụ ngôn này: Có ông chủ nhà kia trồng được một vườn nho. Ông rào dậu chung quanh, đào hầm ép rượu và xây tháp canh; đoạn ông cho tá điền thuê, rồi đi phương xa. Đến mùa nho, ông sai đầy tớ đến nhà tá điền để thu phần hoa lợi. Nhưng những người làm vườn nho bắt các đầy tớ ông: đánh đứa này, giết đứa kia và ném đá đứa khác. Chủ lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước, nhưng họ cũng xử với chúng như vậy. Sau cùng chủ sai chính con trai mình đến với họ, vì nghĩ rằng: Họ sẽ kính nể con trai mình. Nhưng bọn làm vườn vừa thấy con trai ông chủ liền bảo nhau: "Đứa con thừa tự kia rồi: Nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó". Rồi họ bắt cậu, lôi ra khỏi vườn nho mà giết. Vậy khi chủ về, ông sẽ xử trí với bọn họ thế nào? Các ông trả lời: "Ông sẽ tru diệt bọn hung ác đó và sẽ cho người khác thuê vườn nho để cứ mùa nộp phần hoa lợi". Chúa Giêsu phán: "Các ông chưa bao giờ đọc thấy trong Kinh Thánh sao:
" 'Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc; đó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta'? Bởi vậy, Ta bảo các ông: Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái".
Các Thượng tế và biệt phái nghe dụ ngôn đó, thì hiểu Người ám chỉ về mình. Họ liền tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì thiên hạ đều tôn Người là Tiên tri. Đó là lời Chúa.

SUY NIỆM :  Dụ Ngôn Tá Điền Vườn Nho
Qua dụ ngôn người làm vườn nho sát nhân, không những Chúa Giêsu ám chỉ đến cái chết dã man mà các Thượng tế và Biệt phái sẽ gây ra cho Ngài, nhưng Ngài còn loan báo về sự phục sinh mà Thiên Chúa quyền năng sẽ thực hiện cho Ngài. Với sự phục sinh âý, Thiên Chúa như tuyên bố rằng tình yêu mạnh hơn sự chết, yếu đuối đã trở thành sức mạnh, thất bại biến thành khơi nguồn của ân ban. Chúa Giêsu đã gói ghém tất cả các mạc khải ấy trong câu trích từ Tv 118: “Chính viên đá thợ xây loại bỏ, đã trở nên viên đá góc tường”. Cái bị loại bỏ đã trở thành chuẩn mực, cái yếu đuối đã trở thành sức mạnh, cái điên dại đã trở thành lẽ khôn ngoan, cái chết đã trở thành cửa ngõ và khởi đầu nguồn sống mới.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta tin tưởng phó thác vào tình thương quan phòng của Thiên Chúa. Màu tím của Mùa Chay có lẽ không nên phủ lên khuôn mặt chúng ta lớp khăn tang của buồn sầu, thiểu não; trái lại, việc suy niệm cuộc Tử nạn của Chúa Giêsu, việc chay tịnh trong thể xác và tâm hồn phải hướng chúng ta đến sự phục sinh của Chúa Kitô. Cuộc Tử nạn của Ngài không phải là con đường hầm không có lối thoát, nhưng ở cuối con đường ấy là nguồn sáng chan hoà của phục sinh. Đó cũng phải là ánh sáng chiếu dọi vào những suy niệm của chúng ta.
Cũng như thánh Phaolô, chúng ta cũng có thể góp phần bổ túc những gì còn thiếu trong cuộc Tử nạn của Chúa Kitô. Những mất mát, thua thiệt, những thất bại khổ đau trong cuộc sống đều là những đóng góp của chúng ta với điều kiện chúng ta biết đón nhận chúng với tinh thần phó thác của Chúa Giêsu, biết nhìn vào đó như những viên đá để Thiên Chúa biến thành viên đá góc xây dựng Giáo hội Chúa Kitô.
Suy tôn Thánh giá Chúa Kitô trong Mùa Chay, xin cho chúng ta biết nhìn lên ánh sáng Phục sinh, để từ đó nhận ra được ý nghĩa và giá trị của đau khổ trong cuộc sống chúng ta.
(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)


Lời Chúa Mỗi Ngày
Thứ Sáu Tuần II MC
Bài đọc: Gen 37:3-4, 12-13ª, 17b-28; Mt 21:33-43, 45-46.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa
Các Bài Đọc hôm nay cho chúng ta nhìn thấy sự quan phòng của Thiên Chúa: nhiều sự tốt lành được thực hiện ngay cả từ những ghen tương, giận ghét của con người. Trong Bài Đọc I, ông Giuse đầu tiên bị các anh bán sang Ai-cập với giá 20 đồng bạc, vì ghen tị em mình được cha thương hơn tất cả mọi anh em. Nhưng trong sự quan phòng của Thiên Chúa, ông đã trở thành Tể-tướng của Ai-cập để chuẩn bị cứu đói và đưa cả gia đình: cha và các anh em qua đòan tụ. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đưa ra câu truyện vườn nho của Thiên Chúa để ám chỉ sự bạc bẽo của dân và cái chết tương lai của Ngài. Nhưng trong sự quan phòng của Thiên Chúa, “Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.” Ngài chính là Tảng Đá đem lại Ơn Cứu Độ, không những cho dân tộc Do-thái, mà còn cho tất cả các dân tộc.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Ông Giuse bị các anh bán sang Ai-cập.
1.1/ Sự ghen tị và ác độc của các anh: Ông Israel có lý do để yêu Giuse hơn tất cả các con, vì ông đã già mới sinh được cậu; nhưng khi các anh cậu thấy cha yêu cậu hơn tất cả các anh, thì sinh lòng ghét cậu và không thể nói năng tử tế với cậu. Cơ hội báo thù đến khi cha gởi cậu mang cơm nước cho các anh đang chăn chiên ngòai đồng, và cậu gặp các anh ở Dothan. Họ thấy cậu từ xa, và trước khi cậu tới gần họ thì họ lập mưu giết chết cậu. Họ bảo nhau: "Thằng tướng chiêm bao đang đến kia! Bây giờ, nào ta giết và ném nó xuống một cái giếng. Ta sẽ nói là một thú dữ đã ăn thịt nó. Rồi ta sẽ thấy các chiêm bao của nó đi tới đâu!"
Giuse có biệt tài về việc giải thích các điềm chiêm bao. Cậu đã từng chiêm bao và giải thích nó cho cha và các anh, vì cậu nói cha và các anh đều quỳ xuống lạy cậu. Chính điều này làm cho các anh càng ghét và gọi cậu là “Thằng tướng chiêm bao.” Khi qua Ai-cập, nhờ giải thích các điềm chiêm bao cho hai ông quan mà cậu được ra khỏi tù; và cho Vua Pharao mà cậu được thăng chức Tể-tướng. Trong Cựu-ước, chiêm bao là cách con người hiểu biết các kế họach kỳ diệu, nhưng ẩn giấu mà Thiên Chúa sắp làm trên con người. Qua những điềm chiêm bao này, Giuse thấu hiểu tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa đã hướng dẫn ông, gia đình, và nhân lọai.
1.2/ Kế họach của con người và sự quan phòng của Thiên Chúa: Các anh muốn giết cậu để thủ tiêu ngay từ đầu, nhưng một người anh là Reuben tìm cách cứu em khỏi tay họ, bằng cách đề nghị ném cậu xuống giếng; và họ đã ném cậu xuống một cái giếng cạn không có nước. Sau đó, khi họ đang ngồi ăn, một người anh khác là Judah đề nghị với các anh em: "Ta giết em và phủ lấp máu nó, nào có ích lợi gì? Thôi, ta hãy bán nó cho người Ismael, nhưng đừng động tay tới nó, vì nó là em ta, là ruột thịt của ta." Các anh em nghe cậu. Khi thấy những lái buôn người Madian đi qua đó, họ kéo Giuse lên khỏi giếng, rồi bán cậu cho người Ismael hai mươi đồng bạc. Những người này đưa Giuse sang Ai-cập. Anh Judah này là hình ảnh của Tông-đồ Judah sẽ bán Chúa Giêsu 30 đồng bạc. Qua biến cố này, chúng ta nhận ra Thiên Chúa dùng cả tình thương của anh Reuven và lòng tham tiền của anh Judah để cứu Giuse khỏi chết.
2/ Phúc Âm: Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường.
2.1/ Câu truyện Vườn Nho của Tân-ước: Sở dĩ chúng ta gọi như vậy là để phân biệt với câu truyện Vườn Nho của Cựu-ước mà Tiên-tri Isaiah tường thuật (Isa 5:1-7). Chúa Giêsu dùng thể văn lọai suy mà người nghe hiểu ngay Ngài đang muốn ám chỉ ai và về điều gì:
Vườn nho là nhà Israel và gia chủ là chính Thiên Chúa. Các tá điền là những người lãnh đạo trong Israel: tư tế, kinh sư, và biệt phái. Đầy tớ của chủ là các tiên tri qua các thời đại. Điểm khác biệt giữa hai câu truyện Vườn Nho là sự sai đi của Người Con. Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau: "Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó!" Thế là chúng bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi. Chúa Giêsu muốn đối thọai với khán giả để chính họ ra bản án cho các tá điền:
- “Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia?"
- Họ đáp: "Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông."
2.2/ Sự quan phòng của Thiên Chúa: Đức Giêsu bảo họ: "Các ông chưa bao giờ đọc câu này trong Kinh Thánh sao? Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta. Bởi đó, tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.” Câu Kinh Thánh Chúa Giêsu trích dẫn ở đây là Thánh Vịnh 118:22-23. Chúa Giêsu muốn cắt nghĩa cho họ biết Kế Họach Cứu Độ của Thiên Chúa đang được thực hiện ngay trong sự ghen ghét và ác độc của các tá điền. Ngài chính là Tảng Đá mà các nhà lãnh đạo Do-Thái sắp giết chết; nhưng chính cái chết của Ngài sẽ đem lại lợi ích cho mọi người: Do-thái cũng như Dân-ngọai. Từ nay, Nước Thiên Chúa không chỉ giới hạn trong dân tộc Do-thái nữa; mà sẽ mở rộng đến mọi dân tộc. Sẽ có những dân tộc biết sinh hoa lợi cho Thiên Chúa nhiều hơn dân tộc Do-thái.
Các Thượng-tế và Biệt-phái hiểu ngay là Người đang nói về họ qua dụ ngôn Người kể. Như là một sự sắp đặt, “Họ tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng cho Người là một ngôn sứ.” Họ chưa thi hành kế họach được, vì giờ của Ngài chưa đến. Khi giờ đến, họ sẽ làm theo Kế Họach Cứu Độ của Thiên Chúa đã vạch sẵn.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Thiên Chúa đang điều khiển và quan phòng mọi sự xảy ra trong thế giới này. Con người có thể nghĩ họ là người điều khiển, nhưng thực ra họ đang làm những gì đã được xếp đặt trong sự quan phòng của Ngài.
- Dĩ nhiên con người vẫn có tự do để cộng tác hay làm nghịch lại ý của Thiên Chúa; nhưng họ không thể làm cho những gì Thiên Chúa họach định đừng xảy ra. Ngài có thể dùng tất cả những cái tốt cũng như cái xấu của con người để đạt những gì Ngài họach định.
- Sự quan phòng của Thiên Chúa nhiều khi không dễ hiểu; nhưng chúng ta phải tin, vì nếu chúng ta hiểu được mọi sự quan phòng của Thiên Chúa, chúng ta không còn là người nữa.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP

Giêsu hỡi, Ngài là ai? Ch1- Sao ta không đọc chỉ mỗi Tin Mừng, mà thôi? (bài 2)

Giêsu hỡi, Ngài là ai? Ch1- Sao ta không đọc chỉ mỗi Tin Mừng, mà thôi? (bài 2)


 
Tác giả: 
 Mai Tá


Chương 1

Sao ta không đọc
chỉ mỗi Tin Mừng, mà thôi?
(bài 2)



Nhiều năm qua, tôi cố tìm đọc cho được cuốn sách gì đó có tựa đề là: “Đức Giêsu: Một Tiểu-Sử Đầy Cách-Mạng” thật ráo-riết. Những gì lâu nay tôi biết về Đức Giêsu chừng như không là điều mà nhiều người muốn “nói thật”; và quả nhiên là nơi tôi, luôn có niềm hãi-sợ, cỡ nhè nhẹ. Điều đó, có thể là: theo cách nào đó, tôi đang chối bỏ niềm-tin nung-nấu trong tôi như đưa trẻ bé! Nhưng, có điều chắc là: niềm-tin ấy đã hằn sâu nơi tâm-can tôi từ ngày đầu cuộc sống mộ-đạo của chính tôi. Quả là, sách của ông đã, theo cách nào đó, củng-cố niềm-tin của riêng tôi đang lớn mạnh dần với những điều tôi “chưa từng biết đến” cũng như những gì lâu nay mình vẫn được dạy? Và, đây là điều tích-cực, thực-thụ lại gây thích-thú đang tiến mạnh về phía trước chứ nó không làm giảm sút niềm-tin tôi vẫn có với Đức Giêsu. Sách ông viết, chắc cũng đã củng-cố nhiều điều đại lọai như thế. Đồng thời, nó còn mở rộng thêm lòng cảm-kích ở nơi tôi, qua tâm-trạng của một người từng dấn bước theo chân Ngài cho đến cùng.
                                                                 Một nữ giáo-dân sống ở Massachusetts.


“Có lẽ ông là người duy nhất có cái may được người khác trả tiền để chỉ mỗi lo tìm hiểu những gì mình thao-thức. Đồng thời, ông lại cũng là người có khả năng tra-cứu những gì thuộc thành-phần cuộc sống của chính ông…
Tôi đây, tuy đã ở lứa tuổi 52 nhưng cũng chỉ tìm ra được có một chút gì đó, mỗi thế thôi. Tôi nghĩ, mình cũng nên bắt đầu một kiếm tìm nào đó khả dĩ khiến cho Đạo của mình có ý-nghĩa hơn. Tôi nói thế, là bởi vì: khi xưa tôi bị bắt buộc phải đến nhà thờ để cho mấy ông cha Đạo rửa tội, rồi lại bắt buộc phải theo chương-trình “nhồi nhét” vào trong đầu các giáo-lý/tín-điều cũng như bí-tích này khác ở trường lớp mình theo học, nữa! Tôi chắc mình phải tự đưa ra một vài sáng-kiến, mới hòng thoát khỏi mọi sức ép hoặc cột buộc này khác. Và có thế, mới xa rời sự trông-đợi của người khác, để dõi theo một Đức Chúa khác với Thiên-Chúa từng áp-đặt nơi mình như khi trước. Điều quan-trọng hơn cả, là: ta cần tìm ra câu trả lời thỏa-đáng để có thể mãn-nguyện với những gì mình tìm ra. Có phải thế không, thưa ông?”
                                                                                Một giáo-dân viết từ Wisconsin.              

“Sách ông viết, có tên là “Đức Giêsu Lịch-sử, Cuộc Sống Của Một Nông-Dân Do-Thái thuộc Xứ Miền Địa-Trung-Hải” là sự truy-tìm của “chúng tôi” về cơn thác đổ này. Dùng chữ “chúng tôi” ở đây, tôi muốn nói đến một dãy các bàn quỳ ở nhà thờ, vì từ đó ta có nhiều tầm nhìn lầm lạc, tăm-tối về bất cứ loại hình nào khác từng được kể về của Đức Giêsu. Chúng tôi thấy mình gắn bó với riêng ông như vị quân-sư khiếm-diện của chúng tôi.”  
                                                                      Một nhóm giáo-dân ở North Carolina.

“Nhiều người lại vẫn cứ tin rằng: niềm tin tôn-giáo và khoa-học không thể nào đi đôi với nhau được. Ta càng biết nhiều, thì niềm tin càng yếu kém. Vì thế nên, tôi đóan chắc ông là người mộ đạo, tin tưởng. Bởi, với tư cách là người Công giáo chính-đáng lâu nay vẫn muốn củng-cố niềm-tin của mình và của người. Về phần tôi, tôi đọc Sách thánh cũng khá nhiều để đến nay, thấy được là: ta đã lẫn-lộn nhiều thứ. Nay viết thư cho ông, với danh-nghĩa của một người muốn kiếm tìm cho bằng được câu giải-thích đích-đáng cho những gì xem ra vẫn còn gây ngộ-nhận quanh các chương/đoạn đối chọi nhau. Có nhiều đoạn làm cho nhiều người giống như tôi cứ thắc-mắc đủ mọi thứ. Nhưng, có điều là tôi không khôn-ngoan/lanh-lợi đủ để tự mình định ra cách giải-quyết sự việc cho thoả-đáng. Bởi thế nên, tôi dám chắc ông là người đã tìm ra được một giải-pháp nào đó khá hài-hoà, để không còn sự đối chọi nghịch-chống nhau như trước nữa. Thế nhưng, vấn-đề là: làm thế nào để được như thế?”
                              Một người đang sống tại California

“Sống thời này, người thông-minh/tỉnh-trí một chút, đồng thời lại có kiến-thức về khoa-học, thì dứt-khoát phải có nhu-cầu về Đạo. Những người như thế, không thể không có động-thái tìm ra giải-đáp cho nhu-cầu ấy.”
Một người vẫn sống tại Massachusets

“Tôi thật sự cảm kích biết ơn tác giả John D. Crossan và các nhà thần-học giống như ông, là vì: nhóm các ông đều đã nhận ra rằng: tôi đây có đầu óc và con tim cũng khá trưởng-thành, để có được tư-thế chín-chắn trong tin-tưởng, ngõ hầu ta có thể bỏ qua một bên việc đọc các sách truyện giải-thích có phần “ấu-trĩ” những đoạn Phúc Âm một cách khá sát từng chữ bằng đầu óc tinh-thông để còn duy-trì niềm tin của mình nữa. Cuối cùng thì, nếu vì niềm tin khiến tôi không thể chấp-nhận được làn sóng và cơn lốc diễn-giải đầy thông-minh/trí-tuệ; thì khi ấy, với tư-cách là Kitô-hữu, tôi đây làm được gì trên con thuyền bềnh bồng sóng nước chứ?”
                                        Một cụ bà viết từ bang Illinois.

“Có một chuyện mà lâu nay tôi không thể hiểu được, là: làm sao ông và đồng-nghiệp khác ở trong nhóm “Chuyên Đề Về Đức Giêsu” lại bầu phiếu trong lặng thinh xem ngôn-từ nào đích-thực là lời Đức Giêsu, lời nào không! Phải chăng đây là cách để các ông đem ra mà bầu bán thế chứ? Sao các ông lại nói: chỉ một số lời Phúc Âm là đúng thật của Đức Giêsu, còn nhiều câu khác, thì lại không? Xin trả lời để tôi được học hỏi thêm đôi điều.”
                                                  Một nữ tín-hữu cũng ở bang Illinois.



Và sau đây, là các câu hỏi được tuần-tự đưa ra như thế này:

Tại sao việc nghiên-cứu/tìm-hiểu Đức Giêsu Lịch-sử lại cần-thiết thế?
Có phải là ta đã có 4 bộ tiểu-sử về Đức Giêsu do 4 tác-giả khác nhau là: Mát-thêu, Mác-cô, Luca và Gioan từng viết sao?
Ta có 4 bộ tiểu-sử ở trước mặt rồi, thì sao lại đặt vấn-đề nữa làm gì?

Thật ra thì, sự việc 4 bộ sách Tin Mừng đã và đang được dùng làm trọng-tâm cho vấn-đề mình đặt ra, là do có sự-kiện: ta đọc dụ-ngôn, lời nói hoặc truyện kể theo nhiều văn-bản khác hẳn nhau, nên không thể bỏ qua mối bất-đồng rõ đành rành giữa người viết được. Trước hết, ta thường bị cám dỗ nhiều lần nên đã bảo: các nhân-chứng khi xưa có nhớ lại sự việc từng xảy ra, thì trí nhớ của các ngài vẫn khác nhau là chuyện thường. Nhưng, rõ ràng là: tác giả Mát-thêu và Luca khi khở sự viết Tin Mừng, đều có văn-bản của thánh Mác-cô viết, ở trước mặt. Điều đó có nghĩa: dựa vào truyện kể do các ngài viết lại, thì bản-văn của hai tác-giả Mát-thêu và Luca không là nguồn-mạch biệt-lập, mà là thứ “biến-tấu” có từ văn-bản do thánh Mác-cô viết ra mà thôi. Điều này còn cho thấy: “biến-tấu” ấy, chỉ phản-ảnh thứ thần-học của người viết, mà thôi. Nói khác đi, thì: mỗi Tin Mừng là một bản diễn-giải có chủ-tâm về Đức Giêsu hơn là tiểu-sử đích-thực về Ngài.

Hơn nữa, cả 4 bộ Tin Mừng không là 4 bản văn duy-nhất nói về Đức Giêsu, mà thôi đâu. Nhiều Tin Mừng khác, cũng được tìm thấy do khai-quật hoặc vẫn hàm-ngụ trong 4 bản văn khác nhau ở Tân-Ước, hoặc do các phát-hiện từ bên ngoài các sách ấy, mà ra. Trường-hợp trên, là tư-liệu được tái-tạo mà mọi người được biết dưới danh-xưng là Văn-bản “Q”, tức chữ viết tắt của tiếng Đức là “Quelle” có nghĩa một “nguồn-mạch”. Bản này, từng làm nền cho hai Tin Mừng Luca và Mát-thêu, bởi hai bộ Tin Mừng này cùng xuất từ một nguồn-mạch nào đó không thấy trích ở Tin Mừng Mác-cô. Theo tôi thì: điều này nói lên rằng mạch-văn ấy không chỉ đóng vai-trò “khỏa lấp thiếu sót” mà thôi, nhưng còn là bộ Tin Mừng chuyên-chở thứ thần-học riêng rẽ của người viết. Tôi sẽ trở lại vấn-đề này vào các trang bên dưới, khi nói rõ hơn về bản-văn Tin Mừng có tên là “Q” tức “Quelle”.

Ví-dụ như: việc khám-phá ra nhu-liệu ngoại-tại của Tin Mừng Mát-thêu, Mác-cô, Luca và Gioan là từ Tin Mừng thánh Tôma tìm được ở Ai Cập từ một khai quật vào năm 1946. Theo thiển ý, Tin Mừng này tách-bạch khỏi 4 bộ Tin Mừng ở Tân-Ước. Tin Mừng thánh Tôma, khác với 4 Tin Mừng Tân Ước rất nhiều. Khác, về văn-phong thể-loại chắc chắn là thế, nhưng lại giống Tin Mừng “Quelle” không phải ít. Trên căn-bản, thì đây là bộ sưu-tập gom-gộp các câu nói của Đức Giêsu, không đính-kèm truyện-kể nào về hành-xử cũng như phép-mầu lạ-lùng do Đức Giêsu thực-hiện hoặc sự-việc Ngài bị đóng đinh trên thập-giá hoặc sống lại.

Bằng vào sự khác-biệt giữa Tin Mừng Mát-thêu, Mác-cô, Luca, Gioan cùng đa số các Tin Mừng khác hiện có, là như thế. Rõ ràng là, ta đang có vấn-đề vần thần-học Kinh-thánh đích thực rồi. Bởi, mỗi bộ Tin Mừng đều theo cách đặc-trưng/đặc-thù của nó khi ta xét về Đức Giêsu. Thế nên, câu hỏi là: các tài-liệu này sâu-sắc đến độ nào về lịch-sử?
                                                                                                    (còn tiếp)


Cựu Linh mục John D. Crossan
Mai Tá lược dịch


Nếu Chúa Giêsu tư vấn hôn nhân

Tác giả: 
 Trầm Thiên Thu



Nếu Chúa Giêsu tư vấn hôn nhân

Nếu Chúa Giêsu là nhà tư vấn hôn nhân, Ngài sẽ khuyên bạn làm gì?

1. PHỤC VỤ

Chắc hẳn Chúa Giêsu sẽ khuyên vợ chồng phải phục vụ lẫn nhau, như Thánh Phaolô nói: “Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em hãy tùng phục lẫn nhau. Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Người. Và như Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy. Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền. Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình” (Ep 5:21-28).

2. TRAO TẶNG và BIẾT ƠN

Hãy trao tặng cả con người của mình, vì “cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20:35). Mối quan hệ phu thê luôn cần nhiều sự quan tâm, chăm sóc, cả tinh thần và thể lý. Một bữa ăn, một ly cà phê, một lời cảm ơn,… đó là thể hiện tình yêu dành cho nhau: “Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ. Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19:4-6). Thánh Phaolô nói: “Ở đâu và lúc nào chúng tôi cũng đón nhận những ân huệ ấy với tất cả lòng biết ơn” (Cv 24:3).

3. YÊU THƯƠNG và THA THỨ

Yêu thương và tha thứ luôn liên quan với nhau. Có yêu thương thì mới khả dĩ tha thứ. Thánh Phaolô nói: “Anh em đừng mắc nợ gì ai, ngoài món nợ tương thân tương ái; vì ai yêu người thì đã chu toàn Lề Luật. Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời này: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy” (Rm 13:8-10). Thánh Phaolô phân tích: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13:4-7).

4. ĐỪNG ÍCH KỶ

Ích kỷ là tính xấu, là hoa trái không tốt lành. Chúa Giêsu muốn mọi người biết tôn trọng nhau và yêu thương nhau, huống chi là vợ chồng với nhau. Ngài biết chúng ta bất toàn, thế nên Ngài ở giữa để lấp đầy khoảng cách đó. Tuy nhiên, chúng ta có thể gieo hạt để có thể thu hoạch trong mối quan hệ phu thê. Thánh Giacôbê nói: “Nếu anh em sống theo tính xác thịt, anh em sẽ phải chết; nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em thì anh em sẽ được sống” (Rm 8:13).

5. ĐỪNG NÓNG GIẬN

Cơn giận khiến người ta mất khôn và khiến xa cách nhau. Do đó, hãy cố gắng làm hòa trước khi đi ngủ. Nóng giận là một trong những điều do tính xác thịt gây ra (Gl 5:19-20), không nóng giận là thể hiện đức mến (1 Cr 13:5). : “Mỗi người phải mau nghe, đừng vội nói, và khoan giận, vì khi nóng giận, con người không thực thi đường lối công chính của Thiên Chúa” (Gc 1:19-20). Không nóng giận sẽ làm cho gia đình ngập tràn niềm vui.

TRẦM THIÊN THU (Theo Beliefnet.com)


Kinh Thánh và án tử hình

Tác giả: 
 Trầm Thiên Thu



Kinh Thánh và án tử hình

Kinh Thánh có thực sự đề cập án tử đối với nhiều dạng vi phạm? CÓ và KHÔNG.

Tác giả David Reagan nói: “Rất nhiều người tin rằng Chúa Giêsu chống lại án tử. Theo cách nhìn của cả người đề xuất và người phản đối về án tử, trường hợp này đã khép lại. Chúa Giêsu chống lại án tử hình. Nhưng tôi phản đối. Các thần học gia cũng vẫn sai như thường. Chúa Giêsu đã được tái tạo bởi thế giới hiện đại qua danh nhân Mahatma Gandhi, Mẹ Teresa và Tiny Tim, những người có thể đã không thấy Chúa Giêsu được phác họa rõ ràng trong Kinh Thánh. Chúng ta hãy xem lại hồ sơ”.

Kinh Thánh đã liệt kê nhiều loại tội với khung hình phạt là án tử hình:

– Tội giết người: “Ai đánh chết người thì phải bị giết chết” (Xh 21:12).

– Tội bất hiếu: “Ai đánh cha hoặc mẹ thì phải bị giết chết. Kẻ nào nguyền rủa cha hoặc mẹ thì phải bị giết chết” (Xh 21:15 và 17).

– Tội bắt cóc tống tiền: “Ai bắt cóc người, dù đã bán đi hay còn giữ trong tay thì phải bị giết chết” (Xh 21:16).

– Tội thú tính: “Kẻ giao hợp với thú vật phải bị tử hình” (Xh 22:18); “Khi người đàn ông nào giao hợp với con vật thì phải bị xử tử, và các ngươi sẽ giết con vật. Khi người đàn bà nào đến gần bất cứ con vật nào để giao cấu với nó thì (các) ngươi phải giết người đàn bà và con vật; chúng phải bị xử tử, máu chúng đổ xuống đầu chúng” (Lv 20:15-16).

– Tội ngoại tình: “Khi người đàn ông nào ngoại tình với đàn bà có chồng, ngoại tình với vợ người đồng loại, thì cả đàn ông ngoại tình lẫn đàn bà ngoại tình phải bị xử tử” (Lv 20:10); “Nếu một người đàn ông bị bắt gặp đang nằm với một người đàn bà có chồng thì cả hai sẽ phải chết: người đàn ông đã nằm với người đàn bà, và cả người đàn bà” (Đnl 22:22).

– Tội thông dâm: “Khi một cô gái còn trinh đã đính hôn với một người đàn ông, mà một người đàn ông khác gặp cô trong thành và nằm với cô thì anh em sẽ lôi cả hai ra cửa thành ấy và ném đá, và chúng sẽ phải chết: cô gái, vì lý do ở trong thành mà đã không kêu cứu, và người đàn ông, vì lý do đã cưỡng bức vợ người đồng loại. Anh em phải khử trừ sự gian ác, không cho tồn tại giữa anh em” (Đnl 22:23-24).

– Tội hiếp dâm: “Nhưng nếu người đàn ông gặp ở ngoài đồng cô gái đã đính hôn, bắt lấy nàng và nằm với nàng, thì chỉ một mình người đàn ông đã nằm với nàng sẽ phải chết; còn cô gái thì anh em đừng làm gì nàng, nàng không có tội đáng chết. Trường hợp cũng như một người xông vào người đồng loại để giết người ấy: vì người đàn ông kia đã gặp cô ngoài đồng; cô gái đính hôn đã kêu mà không ai cứu” (Đnl 22:25-27).

– Tội loạn luân: “Khi người đàn ông nào nằm với vợ của cha mình, thì đã lột trần chỗ kín của cha mình; cả hai phải bị xử tử, máu chúng đổ xuống đầu chúng. Khi người đàn ông nào nằm với con dâu mình, thì cả hai phải bị xử tử; chúng đã làm điều quái đản, máu chúng đổ xuống đầu chúng” (Lv 20:11-12); “Khi người đàn ông nào lấy cả con gái lẫn mẹ thì đó là tội ác tày trời; người ta sẽ bỏ nó và hai người đàn bà vào lửa mà thiêu, để không còn tội ác tày trời giữa các ngươi” (Lv 20:14).

– Tội đồng tính luyến ái: “Khi người đàn ông nào nằm với một người đàn ông như nằm với đàn bà thì cả hai đã làm điều ghê tởm; chúng phải bị xử tử, máu chúng đổ xuống đầu chúng” (Lv 20:13).

– Tội tiên tri giả: “Nếu ở giữa anh em xuất hiện một ngôn sứ hay một kẻ chuyên nghề chiêm bao và nó báo trước cho anh em một dấu lạ hay một điềm thiêng, nếu dấu lạ hay điềm thiêng nó đã nói xảy ra, và nó bảo: ‘Chúng ta hãy theo và phụng thờ các thần khác’, những thần mà anh em không biết thì anh em đừng nghe những lời của ngôn sứ hay kẻ chuyên nghề chiêm bao ấy, vì Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, thử thách anh em cho biết anh em có yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ không. Chính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, là Đấng anh em phải theo; chính Người là Đấng anh em phải kính sợ; anh em phải giữ các mệnh lệnh của Người, phải nghe tiếng Người; chính Người là Đấng anh em phải phụng thờ; anh em phải gắn bó với Người. Ngôn sứ hay kẻ chuyên nghề chiêm bao ấy sẽ bị xử tử, vì nó đã hô hào nổi loạn chống Đức Chúa” (Đnl 13:2-6).

– Tội vu khống và đàng điếm: “Khi một người đàn ông lấy vợ và ăn nằm với nàng, rồi ghét bỏ nàng, vu khống và bôi xấu danh dự nàng mà nói: ‘Tôi đã lấy người đàn bà này, đã gần gũi với cô ấy và không thấy dấu nào chứng tỏ cô ấy còn trinh’, cha mẹ cô gái sẽ lấy những dấu chứng tỏ cô gái còn trinh và đưa ra cửa thành cho các kỳ mục thành ấy. Người cha cô gái sẽ nói với các kỳ mục: ‘Tôi đã gả con gái cho người đàn ông này, nhưng anh ta ghét bỏ nó; bây giờ anh ta vu khống nó và nói: Tôi không thấy những dấu chứng tỏ con gái ông còn trinh. Vậy đây là những dấu chứng tỏ con gái tôi còn trinh’. Họ sẽ mở chiếc áo choàng ra trước mặt các kỳ mục trong thành. Các kỳ mục trong thành sẽ bắt người chồng và sửa phạt: họ sẽ bắt người ấy nộp phạt một trăm thỏi bạc, và sẽ trao số bạc đó cho người cha cô gái, vì người ấy đã bôi xấu danh dự của một trinh nữ Ít-ra-en. Nàng sẽ là vợ người ấy và suốt đời người ấy không thể rẫy nàng. Nhưng nếu điều đó có thật, nếu người ta không tìm thấy nơi cô gái những dấu chứng tỏ cô còn trinh, họ sẽ lôi cô gái ra cửa nhà cha nàng; người trong thành của nàng sẽ ném đá nàng cho chết và nàng sẽ phải chết, vì nàng đã làm điều đồi bại trong Ít-ra-en, khi làm điếm trong nhà cha mình” (Đnl 22:13-21). Ở đây cũng hiểu là dạng hoạt động mại dâm.

Tuy nhiên, Thiên Chúa luôn tỏ lòng thương xót khi án tử được áp dụng. Đa-vít phạm tội ngoại tình và giết người (2 Sm 11:1-5, 14-17), nhưng Thiên Chúa không kết án tử (2 Sm 12:13). Cuối cùng, mọi tội lỗi chúng ta phạm đều đáng chịu án tử vì “lương bổng của tội lỗi là cái chết” (Rm 6:23). Tạ ơn Thiên Chúa, Ngài luôn tỏ lòng thương xót đối với chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân (Rm 5:8).

Có vấn đề gì đối với hành động của Chúa Giêsu?

Khi người Pharisêu dẫn một phụ nữ phạm tội ngoại tình đến gặp Chúa Giêsu, họ lý luận rằng chị ta phải bị ném đá đến chết theo luật Môsê, Ngài im lặng và cúi xuống lấy ngón tay viết trên đất, vì Ngài biết lòng lang dạ thú của nhóm Pharisêu. Nhưng họ cứ hỏi mãi, Ngài ôn tồn: “Ai trong các ông sạch tội thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8:7). Và rồi chẳng ai dám động tay vào hòn đá, họ lặng lẽ lần lượt rút lui, già đi trước, trẻ theo sau. Ở đây, Chúa Giêsu muốn lột trần thói giả hình của nhóm Pharisêu. Họ chỉ muốn gài bẫy để thấy Ngài phá bỏ Luật Cựu Ước, chứ họ thực sự không quan tâm việc ném đá nữ tội nhân kia.

Thiên Chúa không phản đối án tử đối với người phạm tội ác: “Ai đổ máu con người thì máu nó sẽ bị con người đổ ra, vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa” (St 9:6). Nhưng Thiên Chúa luôn nhân từ và giàu lòng thương xót. Khi chỉ còn lại mình nữ tội nhân ngoại tình khép nép đứng đó, Chúa Giêsu ngẩng lên và nói: “Này chị, họ đâu cả rồi? Không ai lên án chị sao?”. Chị nhỏ nhẹ đáp:“Thưa ông, không có ai cả”. Chúa Giêsu cười và nói: “Tôi cũng vậy, tôi không lên án chị đâu! Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa!” (Ga 8:1-11).

Thánh Phaolô nói về trật tự xã hội được thể hiện qua thế quyền: “Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập. Như vậy, ai chống đối quyền bính là chống lại trật tự Thiên Chúa đặt ra, và kẻ nào chống lại sẽ chuốc lấy án phạt. Thật thế, làm điều thiện thì không phải sợ nhà chức trách, có làm điều ác mới phải sợ. Bạn muốn khỏi phải sợ chính quyền ư? Hãy làm điều thiện, và bạn sẽ được họ khen ngợi, vì chính quyền là người thừa hành của Thiên Chúa để giúp bạn làm điều thiện. Nhưng nếu bạn làm điều ác thì hãy sợ, vì họ mang gươm không phải không có lý do. Thật vậy, họ là người thừa hành của Thiên Chúa để giáng cơn thịnh nộ của Người xuống kẻ làm điều ác. Vì lẽ đó, cần thiết phải phục tùng, không những vì sợ bị phạt, mà còn vì lương tâm. Đó cũng là lý do khiến anh em nộp thuế: nhân viên thu thuế là những người phục vụ Thiên Chúa, khi chu toàn phận sự. Anh em nợ ai cái gì thì hãy trả cho người ta cái đó: nộp sưu cho người đòi sưu, trả thuế cho người đòi thuế, sợ người phải sợ, kính người phải kính” (Rm 13:1-7). Người Việt có cách nói giản dị mà thâm thúy: “Ăn cây nào, rào cây ấy”. Chúa Giêsu cũng đã nói thẳng với tổng trấn Philatô: “Ngài không có quyền gì đối với tôi, nếu Trời chẳng ban cho ngài” (Ga 19:11).

Chúa Giêsu không làm gì ngược với luật Thiên Chúa đã truyền ban: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành” (Mt 5:17-18). Một bộ luật có nhiều điều khoản. Chúa Giêsu không bỏ qua một điều khoản nào. Như vậy, Ngài cũng chẳng phản đối án tử, nhưng Ngài muốn thể hiện lòng thương xót khi không kết án tử.

Sau Đại Hồng Thủy thời ông Nô-ê, Thiên Chúa đã che chở con người thoát khỏi bạo lực: “Ta sẽ đòi mỗi con vật phải đền nợ máu các ngươi, tức là mạng sống của các ngươi; Ta sẽ đòi con người phải đền nợ máu, Ta sẽ đòi mỗi người phải đền mạng sống của người anh em mình. Ai đổ máu con người thì máu nó sẽ bị con người đổ ra, vì Thiên Chúa đã làm ra con người theo hình ảnh Thiên Chúa” (St 9:5-6). Đó là tính thánh thiêng của sự sống con người, nên Cựu Ước có luật báo phục tương xứng:“Mắt đền mắt, răng đền răng” (Xh 21:24; Lv 24:20; Đnl 19:21).

Kitô hữu nghĩ gì về án tử? Trước hết, chúng ta phải nhớ rằng Thiên Chúa đã lập nên án tử. Chúng ta sẽ trở nên kiêu ngạo nếu nghĩ rằng chúng ta có thể lập nên một tiêu chuẩn cao hơn. Thiên Chúa có tiêu chuẩn cao nhất, vì Ngài hoàn hảo. Tiêu chuẩn này không chỉ áp dụng cho chúng ta mà còn cho chính Con Một Ngài: Chúa Giêsu bị người đời kết án tử, rồi Ngài đã bị đóng đinh và chết trên Thập Giá. Do đó, Ngài muốn cấp độ vô hạn, và Ngài có lòng thương xót ở cấp độ vô hạn. Thiên Chúa duy trì mức cân bằng tuyệt hảo.

Thứ hai, chúng ta phải biết rằng Thiên Chúa đã trao cho chính phủ quyền xác định khi nào cần áp dụng án tử (x. St 9:6 và Rm 13:1-7). Chúng ta nên chấp nhận án tử khi được áp dụng đối với những người phạm tội ác. Thánh Phaolô đã nói với ông Phét-tô: “Nếu quả thật tôi có tội, nếu tôi đã làm điều gì đáng chết, thì tôi không xin tha chết. Nhưng nếu những điều tố cáo của các người này là vô căn cứ, không ai có quyền nộp tôi cho họ. Tôi kháng cáo lên hoàng đế Xê-da!” (Cv 25:11).

Đừng ảo tưởng về một Giêsu nào khác. Thánh Phaolô đã cảnh báo về các thầy dạy giả và người rao giảng giả: “Nếu có ai đến rao giảng một Đức Giêsu khác với Đức Giêsu mà chúng tôi rao giảng, hay nếu anh em lãnh nhận một Thần Khí nào khác với Thần Khí anh em đã lãnh nhận, hoặc nếu anh em lãnh nhận một Tin Mừng nào khác với Tin Mừng anh em đã đón nhận, anh em sẵn lòng chịu đựng được ngay” (2 Cr 11:4). Chúng ta vẫn nên cảnh giác về các tiên tri giả ngày nay.

Tác giả Reagan kết luận: “Chúa Giêsu tin có án tử. Điều đó được Thiên Chúa thiết lập, được hệ thống hóa bởi luật pháp, được Chúa Giêsu chấp nhận và được Thánh Phaolô duy trì. Các thần học gia không có chứng cớ chống lại điều đó. Đừng hiểu về một Đức Giêsu nào khác. Mong sao chúng ta đừng bao giờ theo bất cứ một Đức Giêsu nào khác, mà chỉ trung tín với Chúa Giêsu của Kinh Thánh.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)


Khoảng cách

Khoảng cách
Một buổi trưa mùa hạ nắng như thiêu đốt, một người phụ nữ mù loà bước đi chậm chạp trên con đường mòn cua một vùng ngoại ô thưa thớt dân cư. Tay không cầm gậy, lối đi này rất quen thuộc với bà. Bên vệ đường có một cây to, bà rẽ… vào đó dường như để trốn cơn nắng hạ dưới bóng mát tàn cây phủ trùm trên một khoảng đất rộng. Có thể bà sẽ nghỉ trưa ở đây như bà đã từng làm như thế sau những buổi đi xin.

Bà đến gần gốc cây. Bà sẽ dựa vào gốc cây để tìm một giấc ngủ yên lành. Bà sẽ cảm thấy hạnh phúc không thua gì một mệnh phụ ngã lưng trên chiếc giường nệm êm ái. Bà đang mơ màng với thứ hạnh phúc lớn la nhất mà bà có thể có được, thì bất ngờ bà vấp phải một vật gì, bà chao đảo, chưa kịp lấy lại thăng bằng, thì bà nghe một tràng âm thanh chua chát:

- Ai đó? Bộ đui mù rồi hay sao mà không thấy tui đang ngồi đây vậy? Thứ đồ gì mà sớn xác thế?

- Xin lỗi, xin lỗi! Tôi mù cô ạ! Tôi mù thật! Cho tôi xin lỗi! Xin lỗi cô! - Bà hốt hoảng trả lời khi gượng đứng lên được.

Giọng nói thanh thót quá, chắc là cô ấy còn nhỏ lắm, tuổi cỡ con mình là cùng. - Bà nghĩ thế và bà hối hận vì thái độ bất cẩn của mình. 

Im lặng! Không có tiếng trả lời! Đúng như người phụ nữ suy đoán, tiếng nói phàn nàn gây gắt vừa rồi là của một cô bé trạc tuổi mười bốn mười lăm, có điều bà không biết được rằng, cô bé ấy cũng mù như bà. Cô bé cũng đi xin và dừng chân nghỉ nơi này trước bà.

Cô bé hối hận vì lời nói vừa rồi, cô bé im lặng! Nghe ngóng một lúc, người phụ nữ mù loà vẫn không nghe một lời nào đáp lại. Bà nói lớn lên một lần nữa: Cho tôi xin lỗi nhé! Tôi mù! Tôi mù thật đó! Rồi bà quay lưng bước đi. 

Chợt cô bé gọi lại: Nè bà ơi, tôi cho bà một ngàn nè! Số tiền duy nhất mà cô đang có. Nghe thế, bà rất mừng. Bà mừng vì nghĩ cô bé tha thứ cho mình, hơn là mừng vì nhận được một ngàn đồng. Bà dừng lại, quay ngược chiếc nón lá cũ kỹ đưa về phía tiếng nói. Chợt một chiếc lá vàng rơi vào chiếc nón của bà.

Bà tưởng cô bé bỏ tiền vào nón, bà nói: Cám ơn cô, cám ơn cô! Nhưng khi bà thọt tay vào nón lấy tiền, bà mới nhận ra đó chỉ là một chiếc lá khô. Bà lẩm bẩm: Cô bé gạt mình. Chắc cô bé còn giận mình. Bà buồn bã quay đi!

Trong khi đó, cô bé cầm tờ giấy một ngàn đồng đưa về phía bà chờ đợi bà lấy. Nhưng cô bé lại nghe tiếng bước chân xa dần. 

- Bà ấy không lấy tiền, chắc bà ấy còn giận mình. Cô bé nghĩ như vậy và lòng vô cùng buồn bã.

(Sưu tầm từ Internet) 

Đôi dòng suy tư

Đọc xong cây chuyện này, tôi chợt nhớ câu nói của một nhà văn nào đó: Tôi sợ một chiếc lá rơi vô tình làm vỡ ánh trăng vàng trên mặt hồ yên lặng!

Trong câu chuyện này, chiếc lá vàng không rơi vào mặt hồ yên lặng mà nó rơi vào chiếc nón của một tâm hồn hiền hoà đơn sơ, làm tan vỡ sự yên bình của hai tâm hồn cùng đau khổ. Hai người mù!

Người phụ nữ mù ở đây hiền quá, phải không các bạn! Có thể cuộc đời của bà ta đã gặp nhiều lận đận truân chuyên. Bà phản ứng rất dịu dàng với một cô bé có phần thô lỗ. Cô bé mà lời lẽ có vẻ mất dạy ấy, trong thẳm sâu tâm hồn, vẫn rất đáng yêu. Cô hối hận. Cô không biết nói gì, thậm chí một lời xin lỗi với người mà cô đã quá lời cũng không. Cô bé mù loà vô học ấy, cần được cảm thông, và người phụ nữ bị xúc phạm ấy đã có lòng bao dung với cô bé. Cô bé đã dùng số tiền mà cô có như một thái độ phục thiện, làm hoà , đó không phải là đáng yêu lắm sao!

Chỉ tiếc một điều, chiếc lá vô tình đã làm hai tâm hồn đơn sơ có một khoảng cách! Không còn có thể hiểu nhau!

- Cô bé gạt mình, Chắc cô bé còn giận mình. Bà buồn bã quay đi.

- Bà ấy không lấy tiền, chắc bà ấy còn giận mình. Cô bé nghĩ như vậy và lòng vô cùng buồn bã!

Cuộc đời có biết bao lần con người hiểu lầm nhau.

Thế giới vật chất mênh mong đã đành, thế giới tâm hồn của mỗi người càng bao la hơn nữa; nên có khi một người đang ở bên cạnh ta, mà vẫn như xa cách ngàn trùng!

Ngày nay, khoa học tiến bộ, thế giới ngày một gần nhau hơn, nhưng con người thật sự đã hiểu nhau chưa?

Vô tri bất mộ, không hiểu biết nhau, làm sao thương yêu nhau? 

Chợt nhớ có một câu truyện phim Ấn Độ mang tên Khoảng cách.

Chuyện phim kể:

Một buổi sáng đẹp trời, một chàng thanh niên lái xe đến sở làm, không may, anh đụng phải một đứa bé tuổi mới vừa lên 7. Đứa bé được chở đến bệnh viện cấp cứu. Tình trạng đứa bé không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng nó bị gãy chân và có thể sẽ không thể trở lại bình thường được.

Điều đáng nói, đứa bé này lại là con trai duy nhất của một goá phụ tuổi chưa đầy 30. Người goá phụ trẻ căm tức chàng trai, nàng nguyền rủa chàng thanh niên bằng những lời lẽ cay độc nhất. Điều đó có thể dễ hiểu: vì nàng quá thương con, niềm an ủi duy nhất của nàng khi chồng nàng mất không đầy một năm sau khi nàng sinh đứa con đầu lòng. Đứa bé xinh đẹp, thông minh và dễ thương, bổng dưng đứa bé thành kẻ tật nguyền. Càng nghĩ càng căm hận! Sau một thời gian điều trị, đứa bé xuất viện. Chân được phẫu thuật thành công, không phải cắt, tuy vậy đứa bé đi đứng còn rất khó khăn, cần phải luyện tập nhiều mới có thể trở lại bình thường.

Mẹ đứa bé không thể nguôi ngoai được mối sầu hận trong lòng.

Phần chàng trai, khoảng thời gian đứa bé ở bệnh viện, gần như lúc nào anh cũng ở bên đứa bé. Khi đứa bé được xuất viện, mỗi sáng trên đường đi làm việc chàng tranh thủ ghé thăm. Buổi chiều anh đến vui chơi với nó. Anh động viên nó tập đi từng bước, như người mẹ tập cho con những bước đi chập chững đầu tiên. Anh mua quà cho đứa bé, khích lệ đứa bé, cổ vũ đứa bé mỗi khi nó đi được nhiều bước đi liên tiếp một cách tự nhiên như người không bị thương tích! Anh kiên nhẫn.

Chưa bao giờ mẹ đứa bé ban tặng cho chàng một nụ cười! Điều đó có nghĩa là chàng trai chưa được tha thứ! Nhiều lúc anh cũng muốn trả tiền bồi thường trọn gói rồi quay lưng đi bỏ mặc sau lưng một goá phụ trẻ kiêu kỳ và sắt đá, nhưng anh thật sự thương đứa bé. Anh muốn trả lại cho đứa bé một cuộc sống bình thường, hay ít ra là không đến nỗi tồi tệ.

Rồi ngày tháng dần qua, những nỗ lực của chàng trai đã đem lại kết quả rất khả quan. Những bước chân của đứa bé tuy còn đôi chút vụng về, cũng như trên gương mặt mẹ nó còn vương nét lạnh lùng, nhưng tiếng cười đã tìm lại được trong căn nhà vốn thường ngày vắng vẻ ấy.

Rồi một chiều nọ, chàng trai nói lời từ giã hai mẹ con. Đứa bé ôm lấy anh và hồn nhiên nói: Sao chú không ở lại với cháu luôn vậy, chú? Được rồi, được rồi! Chàng trai nhanh nhẩu trả lời: Cháu ngoan nhé! Chú sẽ thường xuyên đến thăm cháu mà! Nhớ phải tập đi, tập chạy nhiều nữa nhé! Hôm nào ra bãi biển chạy đua với chú nha! Chạy thắng chú là có quà to cho cháu đấy! Người mẹ im lặng.

Một buổi sáng Chủ Nhật trên bãi biển, đứa bé chạy đùa giỡn với chàng trai. Nó nắm tay kéo mẹ nó lại bên nó để cùng hốt cát đắp ngôi nhà thật to. 

Chú với mẹ nhặt những viên sỏi đẹp lót xung quanh nhà nghen. - Đức bé nói rồi chạy tung tăng, hí ha hí hửng. Đôi chân nó đã khoẻ thật rồi! Nó vui quá. Nó không còn nhớ gì đến vết thương nữa. Bóng đứa bé sáng rực và lấp lánh trên bãi biển như cánh hải âu đang lấp lánh trong ánh nắng bình minh. Chàng trai nhìn theo đứa bé. Lòng vui khôn tả. Người goá phụ trẻ nhìn theo con mình, nụ cười rạng ngời không tắt trên môi.

Bất chợt hai người nhìn nhau. Niềm vui được chia sẻ là niềm vui được nhân đôi. Cả hai cùng cười. Họ đã quên khoảng cách tự bao giờ? Mới hôm nay hay đã từ lâu? Điều đó chỉ có hai người biết! Dường như có chút gì e thẹn sau cái nhìn bất chợt ấy.

Người mẹ cúi xuống như để che giấu một điều gì từ cõi thâm sâu của lòng. Bất ngờ chị nhìn thấy một viên sỏi lớn đang lấp lánh trong nắng. Chàng trai cũng thấy. Chị cúi xuống nhặt. Chàng trai cũng nhặt. Bàn tay của chị đặt lên viên sỏi. Bàn tay của anh đặt lên tay chị. Chị không rút tay lại. Anh cũng không.

Tiếng sóng biển vẫn muôn thuở rì rào như tiếng tơ lòng muôn thuở vẫn ngân nga. 

Chú! Mẹ! Con nhặt được một bụm sỏi rồi nè! Mẹ và chú được nhiều không? - Đứa bé chạy lại hỏi. Không có câu trả lời. Chỉ có một viên sỏi duy nhất hai người không nhường nhau! Cả hai đều đang cố giữ lấy viên sỏi ấy! Vì viên sỏi ấy đã hoá kiếp thành viên kim-cương-hạnh-phúc! Mà hạnh phúc thì phải hai người giữ mới được vẹn toàn! Và như thế, bạn đã biết phần kết luận của câu chuyện này rồi chứ?

Cách nào là do định mệnh, khoảng cách nào là tại chúng ta? - Không có làn ranh nào rõ ràng cả! Tận nhân lực, tri thiên mệnh. Chúng ta phải cố gắng hết sức mình, bằng tất cả nghị lực, để xoá tan khoảng cách của hận thù, để trái tim lên tiếng tình thương! 

Yêu nhau trăm sự chẳng nề,
Một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng!
 (Ca dao) 

Vâng, Tình Thương xoá tan mọi khoảng cách.

Sứ điệp viết bằng máu gửi Dân Tộc của Thập Giá

Sứ điệp viết bằng máu gửi Dân Tộc của Thập Giá

Theo Cha Robert Barron, sáng lập viên tác vụ hoàn cầu Word On Fire, thì khi chặt đầu 21 Kitô hữu Coptic, ISIS cho công bố cuốn video tựa đề là: “Sứ điệp viết bằng máu gửi Dân Tộc của Thập Giá”. Và theo cha, “Dân Tộc của Thập Giá” không có nghĩa nào khác ngoại trừ nghĩa chung chung chỉ Kitô Giáo.

Điều trên càng củng cố hơn nữa điều Đức Phanxicô quả quyết về ý nghĩa cái chết của 21 người Ai Cập nói trên: họ chết vì thập giá Chúa Kitô, không vì bất cứ lý do nào khác.
Tử đạo vào giờ thứ 25

Có điều theo Ahram-Canadian News, 1 trong số 21 người bị chém đầu nói trên không phải là Kitô hữu Coptic. Nói cho đúng, anh không phải là một Kitô hữu cho tới khi chứng kiến đức tin của những người Kiô hữu Coptic cương quyết bác bỏ việc chối từ Chúa Giêsu và sẵn sàng chấp nhận cái chết vì thế. Vì chứng tá của họ, anh quyết định tin vào Chúa Giêsu.

Bản tin của Ahram-Canadian News như sau: ISIS loan báo việc xử tử 21 người Coptics nhưng chỉ có 20 danh tính được xác nhận, phần lớn xuất thân từ tỉnh Minya (Thượng Ai Cập). Có sự thiếu chính xác trong con số con tin Ai Cập; chỉ có 20 người Ai Cập (Copts) mà thôi. Vậy thì nạn nhân không phải người Ai Cập này là ai?

Ahram-Canadian News đã thu lượm thông tin đầy đủ về người này. Anh ta là một công dân người Chad (nước da đen hơn). Anh chấp nhận Kitô Giáo khi chứng kiến đức tin bao la của các Kitô hữu Coptic vui lòng chết vì Chúa Kitô. Khi quân khủng buộc anh tuyên bố Chúa Giêsu Kitô không phải là Thiên Chúa, nhìn các bạn Kitô hữu của mình, anh trả lời “Thiên Chúa của họ là Thiên Chúa của tôi”, do đó, quân khủng bố cũng đã chém đầu anh.

Câu người Chad trên đây trả lời quân khủng bố cũng là câu Ruth Dân Ngoại trả lời mẹ chồng Dân Chúa Naomi trong Ruth 1:6: “Dân mẹ cũng là dân của con, Thiên Chúa của mẹ cũng là Thiên Chúa của con”. Nhờ câu này, Ruth không những được cứu rỗi mà thực sự đã trở thành tổ mẫu của Đấng Cứu Rỗi. Người Chad không những có quyền coi lời Chúa Kitô nói với người trộm lành cùng chịu đóng đinh với Người như là nói với anh, rằng: “Ta bảo thật, hôm nay con sẽ ở trên thiên đàng với Ta” (Lc 23:39-43), mà máu của anh cũng thành dòng máu phát sinh nhiều tín hữu khác, như Tertulianô từng quả quyết.

Tử đạo giờ thứ 25 như người Chad trên đây có thể là lý do khiến Trung Tâm Nghệ Thuật Trình Diễn Kennedy (Kennedy Center for Performing Arts) ở Hoa Thịnh Đốn, trong tuần này, cho trình diễn vở Nhạc Kịch bất hủ "The Dialogue of the Carmelites" (Cuộc Đối Thoại Của Các Nữ Đan Sĩ Cát Minh) do Francis Poulenc sáng tác năm 1956, dựa vào cuốn “Người Cuối Cùng trên Đoạn Đầu Đài” hay “Bài Ca Trên Đoạn Đầu Đài” của Văn sĩ Đức Gertrud von Le Fort. Đây là câu truyện có thực kể về 16 nữ đan sĩ Cát Minh của một đan viện vùng Compiègne, thời Cách Mạng Pháp. Họ bị một đoàn người có vũ trang bao vây, buộc phải rời khỏi đan viện và từ bỏ đức tin. Khi các nữ đan sĩ bác bỏ lời bó buộc đó, họ bị công khai chém đầu, trong khi vẫn cầu nguyện và hát thánh ca cho tới hơi thở cuối cùng.

Ai ở Đà Lạt vào năm 1960 và xem cuốn phim cùng tên của hai nhà đạo diễn Raymond Léopold Bruckberger và Philippe Agostini tại Rạp Hòa Bình, hẳn hiểu tại sao tựa truyện nguyên thủy lại là “Người Cuối Cùng Trên Đoạn Đầu Đài”. Người cuối cùng trong số 16 nữ đan sĩ này chính là Blanche De La Force. Tuy tên là De La Force (Có Sức Mạnh), nhưng cô rất sợ Cách Mạng Pháp vì cô vốn là một nhà qúy tộc. Nơi cô nghĩ sẽ che chở cô là Đan Viện Cát Minh Compiègne, bèn xin gia nhập. Mẹ bề trên, tuy nhận cô, nhưng cho cô hay: đan viện không phải là nơi trú thân; các nữ đan sĩ phải bảo vệ đan viện chứ đan viện không bảo vệ họ!

Lời mẹ bề trên trở thành sự thực. Cách Mạng Pháp không một chút nương tay đối với cả nơi không hề dính dáng chi tới chính sự. Họ quốc hữu hóa đan viện, buộc các nữ đan sĩ không những phải rời đan viện mà còn cởi bỏ tu phục và nhất là từ bỏ đức tin của mình. Dĩ nhiên các nữ đan sĩ không đầu hàng…

Thấy nguy, Blanche De La Force bí mật rời Đan Viện vì sợ. Trong khi ấy toàn bộ 15 nữ đan sĩ còn lại bị bắt và bị lên máy chém, từng người một, miệng hát bài thánh ca Salve Regina (Lạy Nữ Vương). Và phép lạ đã xẩy ra, Blanche De La Force bỗng xuất hiện. Cô là người cuối cùng anh dũng bước lên máy chém, miệng hát tiểu khúc cuối cùng của bài thánh ca Veni Creator Spiritus (Xin Thánh Thần Sáng Tạo Hãy Đến): Deo Patri sit Gloria… (Sáng Danh Đức Chúa Cha), bài thánh ca mà cô từng hát khi khấn hiến mình cho Chúa. Giờ đây quả là một lễ dâng toàn thiêu cho Thiên Chúa, dù là vào giờ thứ 25.

Cách Mạng Pháp không phải chỉ giết cô và 15 người đồng tu của cô, vì trong 1 năm cai trị đầy khủng bố (the Reign of Terror) của cuộc Cách Mạng này, hơn 40,000 người Pháp đã bị giết, trong đó, có rất nhiều linh mục và tu sĩ bị chính những đồng công dân của họ sát hại trong một quốc gia chính thức được coi là theo Kitô Giáo, chỉ vì bị coi, một cách bất phân biệt, là đồng loã với quân chủ chế và cơ cấu quyền lực thối nát. Việc thờ phượng công cộng bị ngăn cấm, ngày lễ nghỉ của Kitô Giáo bị bãi bỏ, tên các thánh chỉ đường phố bị thay thế. Họ quyết tâm phi Kitô hóa xứ sở!
Tìm nguyên nhân

Điều đáng lưu ý là nhạc kịch trên bắt đầu được trình diễn liền sau cuộc họp thượng đỉnh kéo dài 3 ngày tại Tòa Bạch Ốc bàn về việc ngăn chặn nạn khủng bố. Tại cuộc họp này, các nhà chuyên môn kết luận rằng những gì dẫn tới đợt tấn công khủng bố gần đây khá giống với những gì xẩy ra nhiều thế kỷ trước tại Pháp.

Người trẻ thất vọng với chính sách của các chính phủ độc đoán chuyên trừng trị người bất đồng, không dành cho họ một tiếng nói nào. Mất hết hy vọng, họ không ngần ngại hy sinh mạng sống mình cho các ý thức hệ cách mạng.

Cũng đáng lưu ý là một cuộc nghiên cứu mới được cơ quan Mercy Corps công bố tuần rồi cho thấy phần lớn các cố gắng trợ giúp của Tây Phương nhằm phản công các lôi kéo của chủ nghĩa khủng bố bằng cách tạo ra công ăn việc làm đã gần như vô giá trị: không hề có mối liên hệ nào giữa việc thất nghiệp và việc người trẻ sẵn sàng tham gia hàng ngũ khủng bố.

Nasir, một trong những người được nghiên cứu, cho hay: “tôi tham gia Taliban không phải vì tôi nghèo. Tôi tham gia vì tôi uất hận”. Uất hận chính là bài ca chính thức của Cách Mạng Pháp trong “Những Người Khốn Cùng” (Les Misérables).

Nhưng tại sao người trẻ đủ uất hận để tham gia các nhóm khủng bố? Cuộc nghiên cứu của Mercy Corps đưa ra nhiều lý do, nhưng có thể tóm gọn trong chữ “bất công”. Tuy nhiên, chống bất công phức tạp và nhiều sắc thái hơn là việc huấn luyện nhân dụng. Đây là một thách đố vượt quá các giải pháp đặc trưng có tính quân sự, chính trị và ngoại viện. Có lẽ vì thế mà Trung Tâm Nghệ Thuật Trình Diễn Kennedy muốn kéo người ta lưu tâm đến các chiều kích khác đó là Thiên Chúa, đức tin, và ý nghĩa của tử đạo, và sự kiện này nữa: ta sẽ phải trả giá cho việc sự thật không được ngỏ cùng quyền lực và ý thức về bất công có thể biến những hành vi không cao thượng chút nào thành cao thượng thực sự.
Ý nghĩa của thập giá

Linh mục Robert Barron, vì thế, nhân dịp này, đã đưa ra một số nhận định về ý nghĩa của thập giá. Theo cha, đối với phần đông Kitô hữu, thập giá chỉ còn hơn thuốc giảm đau một chút, một thứ biểu tượng vô hại, một thứ trang trí đạo hạnh. Nhưng thực ra, thập giá có nét dị biệt hết sức đặc trưng. Đặc trưng đến độ ISIS đã dùng nó để chỉ cả một khối người lớn lao bị họ coi là kẻ thù, ít nhất là cả Phương Tây đồ sộ.

Thời Chúa Giêsu, thập giá là dấu chỉ bạo tàn nhưng hết sức hữu hiệu của quyền lực Rôma. Các thẩm quyền đế quốc muốn cho thấy: “nếu anh vượt qua (cross) chúng tôi, chúng tôi sẽ đóng anh vào khí cụ tra tấn khủng khiếp này và để anh quằn quại trong hấp hối, thực sự hết sức đau đớn (excruciating= ex crucenhư từ thập giá) cho tới chết. Rồi chúng tôi sẽ bảo đảm để xác anh tòong teng trên cái giá đó cho tới khi bị thú vật ăn thịt ăn hết mới thôi”.

Nói tóm, thập giá là chủ nghĩa khủng bố của nhà nước, nhằm khủng bố người ta. Sau khi dẹp được cuộc nổi dậy của nô lệ Spartacus, chính quyền Rôma cho dựng dọc Appian Way hàng trăm thập giá để hăm dọa những đầu óc mưu toan cách mạng. Phôngxiô Philatô cũng có cùng định hướng ấy khi đóng đinh hàng tá người Do Thái chống đối tại Giêrusalem. Chính ông cũng đã cho đóng đinh Chúa Giêsu trên Đồi Canvariô, không xa cổng thành Giêrusalem xưa bao nhiêu để răn đe khách hành hương Do Thái tới kinh thành dự Lễ Vượt Qua.

Ngoại trừ Gioan, mọi môn đệ của Giêsu đã bỏ trốn (như Blanche De La Force), vì họ muốn thoát khỏi cái số phận khiếp đảm trên. Sau Thứ Sáu Tuần Thánh, họ khiếp sợ co cụm lại với nhau ở Thượng Lầu, chỉ sợ bị đóng đinh vào thập giá. Hai môn đệ trên đường Emmau cũng thế. Với họ, phong trào do Chúa Giêsu khởi xướng đã hóa ra số không. Nói tóm lại, thập giá có nghĩa thế gian đã chiến thắng, Chúa Giêsu đã hóa ra không, cùng với tất cả những gì Người chủ trương.

Ấy thế mà một trong các Tông Đồ và là nhà truyền giảng tiên khởi của Kitô Giáo lại viết rằng: “tôi chỉ dạy một điều đó là Chúa Kitô và là Đấng chịu đóng đinh!” (1 Cor. 1:23). Ngài chỉ có thể làm được điều này vì biết rõ Thiên Chúa đã cho Chúa Giêsu bị đóng đinh sống lại từ cõi chết, do đó, chứng minh rằng tình yêu và sự tha thứ của Thiên Chúa lớn hơn bất cứ điều gì trên thế gian. Chính vì thế, lối hiển dương thập giá của ngài là một lời chế nhạo đối với Rôma và mọi hậu huệ tàn ác của họ muôn đời về sau rằng “các anh nghĩ điều đó làm chúng tôi khiếp sợ sao? Thiên Chúa đã chiến thắng nó!”. Và đó cũng là lý do khiến các Kitô hữu, cho tới nay, vẫn can trường giơ cao hình ảnh Chúa Giêsu bị nhục mạ, bị tra tấn cho thế giới thấy. Điều họ muốn nói là: “chúng tôi không sợ”.

Điều ấy quả là tuyệt diệu nếu người ta chịu lưu tâm tới thảm kịch của tạp chí Charlie Hebdo và tới cuộc tranh cãi chung quanh bức hí họa vẽ tiên tri Muhammad một cách đầy diễu cợt ở Hòa Lan. Các Kitô hữu không làm om xòm trước các nhục mạ đối với Chúa Giêsu, vì chúng ta vốn coi việc mô tả Chúa Giêsu bị nhục mạ như là hình ảnh thánh thiêng nhất của ta. Với Thánh Phaolô, ta có thể nói “tôi chắc chắn điều này: cả sự chết lẫn sự sống, cả thiên thần lẫn vương chế, cả trời cao lẫn vực sâu, hay bất cứ tạo vật nào khác cũng không thể phân rẽ chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 8:38-39), vì ta biết rằng thế gian giết Chúa Giêsu nhưng Thiên Chúa đã cho Người sống lại từ cõi chết.

Ngay trước khi bị cắt cổ, các Kitô hữu Coptic vẫn kêu “Giêsu Kitô” và “Chúa Giêsu là Chúa”. Hai chữ đầu là phiên âm từ tiếng Aram Ieshouah Maschiach, nghĩa là “Chúa Giêsu được xức dầu”. Kiểu nói này có từ thời Vua Đavít, nhân vật điển hình được xức dầu trong Cựu Ước. Thuật ngữ thứ hai trích từ lời xưng hô sơ truyền của Thánh Phaolô Iesous Kyrios (Lạy Chúa Giêsu!), nhằm đánh đổ khẩu lệnh thời ấy là Kaiser Kyrios (Xêda là Chúa Tể). Nói tóm lại, cả hai lời tuyên xưng đều quả quyết vương tước của Chúa Giêsu, nhưng quả là một vương tước đặc biệt. Tân Đavít cai trị, nhưng không cai trị trên ngai vàng mà là trên thập giá; vị hoàng đế thế chỗ của Xêda không lãnh đạo bất cứ đoàn quân nào, nhưng hiện thân cho sự tha thứ của Thiên Chúa.

Những kẻ man rợ của ISIS quả rất đúng khi đề tựa cho cuốn video giết người của họ là “Sứ điệp viết bằng máu”. Suốt trong các thế kỷ qua, các bạo chúa và tay sai của chúng vốn nghĩ họ sẽ quét sạch các tín hữu của Chúa Giêsu bằng các hành vi bạo lực. Nhưng, như lời Tertullianô từng nói xưa kia, máu các tử đạo là hạt giống gieo Kitô hữu. Và họ cũng rất đúng khi gửi sứ điệp đó tới “Dân Tộc của Thập Giá”. Nhưng họ nên biết rằng thập giá đang chế nhạo họ.

Vũ Van An3/3/2015(vietcatholic)