Thứ Tư, ngày 18 tháng 5 năm 2016

LỄ CHÚA BA NGÔI

Tác giả: 
 Lm Nguyễn Hữu An


Ba Ngôi  Mầu Nhiệm Tình Yêu
LỄ CHÚA BA NGÔI

Làm dấu Thánh Giá là lời tuyên xưng đức tin, tôn vinh Chúa Ba Ngôi của người Kitô hữu, là dấu chỉ phân biệt những người môn đệ của Chúa Giêsu và những người theo đạo khác.

Mùa Phục Sinh kết thúc với đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Giáo hội nhìn lại chương trình cứu độ được Thiên Chúa thực hiện trong lịch sử nhân loại và nhận ra rằng: nguồn ơn cứu độ chính là Thiên Chúa Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần. Vì thế, chúng ta hiểu tại sao ngày Chúa nhật mùa Thường niên tiếp ngay sau lễ Hiện Xuống, luôn luôn được Giáo hội mừng kính và suy niệm về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi.

Giáo Hội là công trình của tình yêu Thiên Chúa Ba Ngôi. Từ Ngài, Giáo Hội sinh ra; nhờ Ngài, Giáo Hội hoạt động; và hướng tới Ngài, Giáo Hội dấn bước. Chỉ một mình Thiên Chúa mới nắn đúc nên Giáo Hội theo lòng Ngài mong ước. (Thư Chung HĐGMVN 2011, số 19).

Giáo hội được Chúa Cha tập hợp chung quanh Chúa Giêsu dưới tác động của Chúa Thánh Thần. Là dân tộc lữ hành, Giáo hội phát xuất từ Chúa Cha, sẽ trở về với Chúa Cha, nhờ trung gian của Chúa Kitô, dưới hơi thở của Chúa Thánh Thần. Chính từ mầu nhiệm Ba Ngôi mà Giáo hội được sinh ra và cũng từ Thiên Chúa mà Giáo hội lãnh nhận sứ mạng để tất cả nhân loại làm thành một Dân Thiên Chúa, tập họp thành Thân Thể Chúa Kitô, được xây dựng thành Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Giáo hội như là hình ảnh của mầu nhiệm hiệp thông giữa Ba Ngôi Thần Linh và Giáo hội là dấu chỉ của sự hiệp thông giữa Thiên Chúa và nhân loại (x.GH1; GLCG số 772). Ba Ngôi là cội nguồn và là cùng đích của Giáo hội. Giáo hội là công trình của Ba Ngôi. Giáo hội nuôi sống con cái mình bằng thần lương Ba Ngôi ban tặng qua các bí tích.

1. Mầu nhiệm Ba Ngôi là mầu nhiệm trung tâm của đức tin Kitô giáo.

Đây là một mầu nhiệm thâm sâu nhất, cao cả nhất mà lý trí con người, ngay cả óc tưởng tượng của con người, cũng không thể nào thấu hiểu hay hình dung được. Bởi vì Thiên Chúa Ba Ngôi không phải là một vấn đề, càng không phải là một vấn đề toán học. Mầu nhiệm không phải là vấn đề hay bài toán : 3 là 3; 1 là 1. Không tính với bài toán nào mà 1 là 3 hay 3 thành 1 được. Thiên Chúa không phải là những con số. Không thể làm trò ảo thuật hay lý luận đưa ngón tay ba đốt hay hình tam giác mà ví von được.

Vậy ai đã cho chúng ta biết mầu nhiệm này? Chính Chúa Giêsu Kitô. Nếu Chúa không dạy bảo thì loài người không thể nào biết được. Cho tới trước khi Chúa Kitô đến, loài người không có một ý niệm nào. Dân Do thái, dân riêng của Chúa, cũng không biết gì về mầu nhiệm Ba Ngôi. Cựu Ước chỉ nói tới một Thiên Chúa duy nhất, tạo dựng và làm chủ vũ trụ. Chính Chúa Giêsu, trong đời sống công khai giảng dạy đã mạc khải dần dần. Ngài đã từng bước vén lên bức màn của mầu nhiệm Ba Ngôi.

Ngài cho biết : Chúa Cha là Thiên Chúa, còn Ngài là Con Một của Chúa Cha. Ngài và Chúa Cha là một. Ngài ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Ngài, cùng bản tính với Chúa Cha. Ngài cũng là Thiên Chúa. Ngài với Chúa Cha là một Thiên Chúa.

Ngài cũng cho biết : Chúa Thánh Thần là Đấng mà Chúa Cha sai đến, cũng là Thiên Chúa. Như vậy, chỉ là một Thiên Chúa duy nhất nhưng có Ba Ngôi riêng biệt nhau chứ không phải là ba Chúa.

2. Mầu nhiệm Ba Ngôi là mầu nhiệm Tình Yêu.

Tại sao Chúa Giêsu lại mạc khải cho chúng ta một mầu nhiệm quá cao siêu như thế? Chắc chắn không phải là để thử thách thiện chí của con người, hoặc để xây lên bức tường chặn đứng suy luận và óc tưởng tượng của con người. Nhưng vì Chúa muốn chúng ta hiểu biết đời sống nội tại của Thiên Chúa, đó là tình yêu. Thiên Chúa là Tình yêu. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi nói lên điều đó.

Thiên Chúa là Tình yêu. Thiên Chúa yêu thương con người. Đó là một công thức khác để nói về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Vì tình yêu thương, Thiên Chúa đã tạo dựng con người giống hình ảnh Chúa, ban cho con người được hạnh phúc như Chúa. Nhưng con người đã phạm tội phản nghịch đánh mất hạnh phúc. Thiên Chúa không từ bỏ con người. Ngài đã quyết định ban Con Một yêu dấu để cứu chuộc. Và vì yêu thương con người, Đức Kitô đã vâng lời Chúa Cha đến trần gian thực hiện sứ mệnh yêu thương đó. Và khi hoàn tất, Ngài về trời. Chúa Thánh Thần đến để tiếp tục công việc của Ngài, công việc yêu thương. Nhờ Chúa Thánh Thần, tình yêu của Thiên Chúa tiếp tục được bày tỏ mãi cho tới chúng ta hôm nay và mãi về sau nữa.

Vì thế, khi mừng kính mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, Giáo Hội không chỉ nhắc nhở chúng ta xác tín lại tín điều quan trọng này, nhưng còn mời gọi chúng ta hãy sống mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, là sống yêu thương và hiệp nhất. Như tình yêu thương giữa Ba Ngôi Thiên Chúa đã trào tràn trên mọi thụ tạo, thì tình yêu thương của người Kitô hữu cũng vậy, phải mở ra cho hết mọi người. Sống yêu thương là cách diễn tả đúng và đầy đủ ý nghĩa cuộc sống làm người và làm con Chúa; đồng thời cũng diễn tả cuộc sống của Chúa Ba Ngôi : yêu thương và hiệp nhất.

3. Mầu nhiệm Ba Ngôi là mầu nhiệm gần gũi nhất trong đời sống đạo.

Mầu nhiệm Ba Ngôi thật cao cả và cũng thật gần gũi. Thánh Augustinô đã nói: “Nếu bạn thấy tình yêu, bạn sẽ thấy Chúa Ba Ngôi”. Tình yêu gắn liền với đời sống con người.

Chúng ta có thấy tình yêu không, và thấy như thế nào? Tình yêu được nhìn thấy qua những hành vi yêu thương.

-Yêu thương là ban tặng: khi yêu người ta trái tim của mình cho người yêu. Yêu thương sâu đậm là cho đi điều quý báu nhất cho người mình yêu, như trường hợp của Chúa Cha mà Chúa Giêsu nói tới trong Tin mừng Gioan: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một mình cho thế gian” (Ga 3,16). Hay chính trường hợp của Chúa Giêsu: “Không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người dám thí mạng sống vì bạn hữu” (Ga 15,13). Yêu thương là cho đi chính mình, là tự hiến chính mình. Vợ chồng yêu thương nhau, dâng hiến bản thân cho nhau, kể cả thân xác mà không chút e dè, trái lại còn hạnh phúc nữa. Cha mẹ và con cái yêu thương nhau có thể hy sinh mạng sống mình cho nhau.

-Yêu thương là chia sẻ: yêu nhiều, người ta chia sẻ cho nhau nhiều, yêu nhau hết mức thì người ta chia sẻ cho nhau tất cả. Vợ chồng yêu nhau chia sẻ cho nhau tất cả, từ của cải vật chất đến gia sản tinh thần, đến cả tình gia đình. Ông bà cha mẹ của chồng trở thành ông bà cha mẹ của vợ và ngược lại. Trong Thiên Chúa cũng thế, Ba Ngôi Thiên Chúa chia sẻ cùng một sự sống thần linh. Và chính sự sống thần linh duy nhất làm cho Ba Ngôi là một. Chúa Cha đã sai Chúa Con mang sự sống thần linh ấy xuống trần gian chia sẻ cho nhân loại. Sự sống ấy là Bánh bởi trời mà chúng ta nhận lãnh trong bí tích Thánh Thể.

-Yêu nhau là đón nhận nhau. Đón nhận tình yêu và ý muốn của người mình yêu, đón nhận tất cả, đón nhận chính bản thân của người yêu. Người được yêu có vị trí quan trọng trong trái tim của người yêu. Suy nghĩ về tình yêu giữa Chúa Con và Chúa Cha, chúng ta sẽ thấy ở trần gian này, không có sự đón nhận nào trọn vẹn như thế. Chúa Con đón nhận tất cả từ Chúa Cha: giáo lý, ý muốn, lời nói, hành động. Chúa Con đón nhận chính bản thân Chúa Cha làm bản thân của mình, vì vậy mà đồng bản thể với Chúa Cha.

-Yêu nhau còn là gắn bó với nhau. Càng yêu nhau càng gắn bó mật thiết đến nỗi là một với nhau. Hai vợ chồng yêu nhau ở mức độ cao nhất thì trở nên một: một xương thịt, một thân mình. Bấy giờ tình yêu vợ chồng không những là dấu chỉ hữu hình của tình yêu Chúa Giêsu đối với Giáo Hội, mà còn là dấu chỉ của tình yêu Ba Ngôi. Ba Ngôi gắn bó với nhau đến nỗi là Một với nhau. Và chỉ có một Thiên Chúa mà thôi, Thiên Chúa là Tình Yêu nguồn suối, mẫu mực cho mọi tình yêu của con người (ĐTGM Phaolô Bùi Văn Đọc).

Noi gương Thiên Chúa Ba Ngôi, chúng ta biết sống hiệp nhất yêu thương, hiệp nhất nên một giữa vợ chồng, hiệp nhất giữa các thành viên trong gia đình: "Chính sự hiệp thông mật thiết trong gia đình Kitô giáo là hình ảnh hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa" (Thư chung HĐGMVN 2002, số 6), hiệp nhất giữa các thành viên trong cộng đoàn, hiệp nhất giữa mọi thành phần trong Giáo Hội.

Hôm nay chúng ta mừng mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Gọi là mầu nhiệm vì đó là điều vượt quá trí hiểu của loài người. Tuy không thể hiểu thấu mầu nhiệm đó, nhưng may thay qua Chúa Giêsu, chúng ta thấy được biểu hiện của mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi chính là mầu nhiệm của tình yêu.

Chúng ta được tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình yêu. Đời sống của chúng ta chỉ có ý nghĩa khi biết yêu thương. Chúng ta chỉ được hạnh phúc khi tham dự vào tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. Nhưng tội lỗi làm cho chúng ta xa lìa tình yêu của Chúa. Sự ghen ghét hận thù làm cho khuôn mặt chúng ta lem luốc méo mó, không còn giống khuôn mặt Thiên Chúa.

Hôm nay ta hãy biết sống theo khuôn mẫu của Chúa Ba Ngôi. Biết sống hiệp nhất với nhau. Biết dâng hiến bản thân mình, biết cho đi, biết chia sẻ, biết sống chan hoà tình bác ái. Để thực hiện những điều ấy, ta phải biết bỏ mình, bỏ sở thích riêng, bỏ của cải và nhất là phải biết bỏ ý riêng, hoàn toàn sống theo thánh ý Thiên Chúa. Khi biết bỏ mình như thế, ta sẽ nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Khi hoàn toàn quên mình để sống cho tình yêu ta sẽ được kết hiệp với tình yêu của Thiên Chúa. Đó chính là hạnh phúc thiên đàng. Đó chính là đích điểm của đời chúng ta.

Trước khi dùng cơm, phần lớn trong chúng ta đều làm dấu thánh giá và đọc nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Khi đọc kinh trong nhà thờ hay tại nhà, chúng ta đều bắt đầu bằng nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Có những người có thói quen tốt là trước khi làm bất cứ việc gì, họ đều làm dấu thánh giá. Qua đài truyền hình, thỉnh thoảng chúng ta thấy, có những cầu thủ bóng đá quốc tế làm dấu thánh giá sau khi đá lọt lưới đối phương, hoặc trước khi đá phạt đền.

Làm dấu trên trán, chúng ta tuyên xưng Chúa Cha là Đấng tạo dựng trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình. Làm dấu trên ngực, chúng ta tuyên Chúa Con là Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa đã từ trời xuống thế nhập thể trong lòng trinh nữ Maria và đã làm người. Làm dấu trên hai vai chúng ta tuyên xưng Chúa Thánh Thần là Chúa và Đấng ban sự sống, Người bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra, Người được phụng thờ và tôn vinh cùng với Chúa Cha và Chúa Con. Dấu chữ thập mà chúng ta làm chỉ thánh giá của Chúa Giêsu, nơi mạc khải trọn vẹn tình yêu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần đối với nhân loại.

Dấu Thánh Giá là lời tuyên xưng đức tin vắn tắt nhất của người Kitô hữu, là dấu chỉ phân biệt những người môn đệ của Chúa Giêsu và những người theo đạo khác. Lời kinh nhân danh Cha và Con và Thánh Thần tóm tắt đức tin mà chúng ta đã nhận lãnh khi chịu phép rửa tội, mà nội dung là ba điều khoản lớn của đức tin công giáo, điều khoản thứ nhất tuyên xưng Chúa Cha, điều khoản thứ hai tuyên xưng Chúa Con, điều khoản thứ ba tuyên xưng Chúa Thánh Thần và Hội thánh.

Dấu Thánh Gía là một công thức ngắn gọn nhất, nhưng lại đầy đủ nhất về đức tin vào Một Thiên Chúa Ba Ngôi.

Như vậy cách thực tế và đơn giản nhất để tôn vinh Chúa Ba Ngôi là chúng ta hãy làm dấu Thánh Giá cách sốt sắng và ý thức, với tất cả lòng yêu mến và kính trọng.

Lạy Chúa, khi làm dấu Thánh Giá, xin cho con biết khắc ghi tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa trong trái tim con. Ôi dấu thánh nhiệm mầu, dấu ấn tình yêu, Chúa mãi ở trong con, con ở trong Chúa. Amen.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Chỗ Ngồi May Mắn

Chỗ Ngồi May Mắn

Suốt gần một năm nay, nhà hàng của Dennis liên tục ế ẩm vì thời buổi kinh tế khó khăn sau cuộc khủng bố 9/11 đã làm chùn bước nhiều khách hàng. Nhà hàng của anh trước kia cũng đã có lúc khách đợi sắp hàng dài nhất trong khu shopping này, thế mà bây giờ thì cả chủ và thợ đều phải ngáp gió đập ruồi cho qua ngày tháng.Dennis đã ráng cầm cự hơn sáu tháng nay, mỗi tháng anh phải mượn nợ từ bạn bè, thân thuộc để trang trải tiền công cho thầy thợ, tiền thuê cửa hàng. Nhưng tuần rồi anh bắt buộc phải tập hợp những người cộng tác của anh lại để thông báo cho biết là dịch vụ của nhà hàng sẽ phải tạm đình chỉ từ cuối tháng này. Anh đã cẩn thận cộng đi cộng lại sổ sách nhiều lần, mỗi tháng dịch vụ thương mại của anh đều vướng phải một số âm to tướng. Trương mục tiết kiệm dành cho ngày dưỡng lão cũng biến thành một chữ số Zero. Dennis bắt đầu cảm thấy tay của anh giá lạnh như thể anh là một tay chơi trong sòng bài đang đến lúc cùng đường mạt vận. Buộc lòng anh phải nghĩ đến quyết định sau cùng là: Hãy bán hết ngày hôm nay, có thể anh phải đóng cửa kể từ ngày mai, tức là hai tuần sớm hơn dự định.
 
Đã đến giờ ăn tối mà sao khách của nhà hàng đi đâu hết rồi. Ở một góc khuất của quán ăn chỉ có hai cha con nọ đang ngồi đợi thực phẩm dọn lên, đứa nhỏ trông có vẻ nghịch ngợm, hết khua chén rồi lại gõ đĩa, người cha hình như có vẻ phiền muộn, không màng ngó ngàng đến đứa con đang làm huyên náo khung cảnh yên lặng của nhà hàng vắng khách.

Lúc đó, một người đàn ông ăn mặc sang trọng nhưng có gương mặt tái nhợt bước vào, Dennis chua chát nghĩ thầm: "Có thể đây là người khách cuối cùng của đêm nay mà cũng là cuối cùng của nhà hàng mình chăng? Hay là ta đặc biệt chiêu đãi để tạo cho người ta có một thiện cảm với mình. Sau này, dù mình không còn mở cửa, nhưng biết đâu hình ảnh nhà hàng mình sẽ để lại trong lòng ông ta một ấn tượng đẹp đẽ!”
 

Người khách ngồi xuống gọi ngay một cốc rượu mạnh rồi mới bắt đầu lướt mắt qua tấm thực đơn đi tìm những món ăn đặc biệt nhất của tiệm Dennis. Không đợi ông gọi, Dennis tự động bước tới hớn hở nói với ông ta:
- Chúc mừng khách quí, ngài đã chọn đúng một chỗ ngồi tốt nhất, may mắn nhất trong tiệm của chúng tôi, vì vậy đêm nay không những ngài được miễn phí chiêu đãi mà những món ăn của ngài lại là phần ăn của một VIP.
Người khách ngây người nhìn Dennis một chặp rồi hỏi:
- Không ngờ tôi lại may mắn đến thế cơ à?

Dennis tiếp theo đó đã mang ra một phần ăn đặc biệt nhất trong tiệm anh để chiêu đãi người khách này. Đến món tráng miệng, thay vì chỉ một mẩu kem nhỏ thì anh mang ra một chiếc bánh ngọt hạng trung màu sắc rực rỡ và có nến thắp sáng giống như một chiếc bánh sinh nhật. Người khách lạ lúc này mới chịu nở một nụ cười tươi tắn.
Đứa trẻ bàn bên cạnh thấy chiếc bánh ngọt mang ra quá đẹp cũng ngây người nhìn một chặp rồi nó vòi vĩnh với cha:
-Ba à, con cũng muốn ăn chiếc bánh sinh nhật to như vậy đó.
Cha đứa bé nạt ngang:
-Cha con mình đâu có nhiều tiền để ăn những món đắt tiền như vậy đâu con.
Người khách may mắn thấy sự việc như vậy nên quay lại nói với Dennis:
-Đứa bé có vẻ thèm bánh ngọt, thôi thì anh hãy mang sự may mắn của tôi san sẻ với những người chung quanh của tôi vậy.

Dennis vâng lời chia cái bánh của ông làm đôi rồi mang nửa chiếc sang tặng cho cha con người khách ngồi bàn kế cận. Đứa bé hớn hở đón nhận tặng vật và múc ăn ngon lành. Người cha của đứa bé thấy con mình vui nên ông cũng cảm kích bước sang bên này để cảm ơn ông khách tốt bụng.

Hai ông khách từ những câu xã giao thông thường rồi bắt đầu bước vào thăm hỏi nhau qua nghề nghiệp. Ông khách sang trọng tự giới thiệu ông tên là Kent, chủ nhân kiêm giám đốc một hãng thiết kế điện tử ở Thung Lũng Hoa Vàng. Cơ sở của ông tuy còn rất nhỏ nhưng đã có những sản phẩm ăn khách bán chạy và bắt đầu có lời. Cha của đứa bé thì nghẹn ngào cho biết ông làm nghề địa ốc, nhưng tình hình kinh tế hiện nay đã khiến cho những tay dealer mua bán nhà cửa như ông gần như khánh tận. Ông đã nhận được giấy báo của công ty bắt đầu cho ông nghỉ việc kể từ đầu tháng tới.
Kent, ông khách sang trọng ngẫm nghĩ một chặp rồi nói với người cha đứa bé:
-Công ty của tôi đang cần những người saleman có khả năng, hay là anh vào hãng của tôi tạm thời làm thử một thời gian xem có thích hợp hay không?
Cha đứa bé bất ngờ gặp được quí nhân thì mừng rõ vô cùng, ông ta rối rít cảm ơn người khách lạ rồi họ trao đổi số phone và địa chỉ liên lạc …

Qua đêm hôm đó, Dennis bỗng nhiên bỏ qua ý định dẹp tiệm, anh nghĩ còn nước thì còn tát chớ có sao đâu. Bắt đầu từ ngày hôm đó, mỗi ngày anh chọn một vị trí may mắn trong nhà hàng của anh để chiêu đãi miễn phí cho một vị thực khách với tất cả sự vinh hạnh đúng nghĩa. Cái tin này được loan ra, thiên hạ ùn ùn kéo đến không ngớt. Người ta không chỉ muốn ăn miễn phí mà hình như ai nấy cũng muốn thử thời vận của họ xem có được là người may mắn trong đêm của nhà hàng nổi tiếng này hay không? Độc chiêu của Dennis bỗng nhiên hiệu nghiệm khiến nhà hàng của anh tức thì trở thành đông khách nhất khu vực tuy rằng trong giai đoạn kinh tế khó khăn này.

Mấy năm trôi qua, ông Kent đã trở thành khách thường trực và là bạn thân của Dennis. Một đêm cuối tuần, khi đợt khách cuối cùng đã ra về, được dịp Kent mời Dennis một ly rượu mạnh, ông bỗng hỏi Dennis một câu như sau:
- Anh có biết cái đêm hôm đó khi đến tiệm của anh, tôi đang nghĩ ngợi và có dự định gì trong đầu hay không?
Dennis lắc đầu, Kent gật gù nói:
-Buổi chiều ngày hôm đó tôi nhận được email của nhà tôi, bà ta cho biết là không thể nào chịu đựng thêm được cái tính say mê công việc (work-aholic) của tôi. Bà ta cho rằng dưới mắt tôi, bà ta không là gì cả, cho nên từ 6 tháng trước đó bà đã ngoại tình và hôm đó bà đã chính thức bỏ tôi để đi theo tiếng gọi của con tim. Tôi đã suy nghĩ cả một buổi chiều, ruột gan tôi rối tung lên. Đêm đó, trong đầu tôi dự định là sau khi ăn uống no say tôi sẽ trở về nhà để kết liễu sinh mạng của mình. Anh nên biết, cuộc đời tôi đã đi từ thành công này sang thành công khác, nhưng lúc đó tôi mới nhận ra là tôi đã thất bại hoàn toàn ngay từ bước đầu tiên. Kim tự tháp của tôi đã bị hỏng nền cho nên tôi chỉ còn cách là kết liễu sinh mạng của tôi thôi. Thế rồi tôi được anh chỉ cho một chỗ ngồi may mắn, tôi cảm thấy ngỡ ngàng và tưởng chừng như ông trời đang giở trò châm biếm tôi. Nhưng sau khi tôi mang nửa cái bánh tặng cho đứa bé, rồi mang một việc làm giúp cho cha đứa bé thì lúc đó tôi mới thấy là cuộc đời của tôi cũng còn có một chút xíu giá trị và hữu dụng. Cuộc đời tôi mới bắt đầu đứng lên từ lúc đó. Cho nên phải nói chính anh đã cứu lấy cuộc đời của tôi. Cám ơn Dennis, người bạn thân thiết của tôi.

Dennis cảm động ôm chầm lấy Kent, mắt anh cũng đoanh tròng ngấn lệ,bây giờ anh mới hiểu ra, sự may mắn chỉ có thể đến với ta khi nào lòng ta mở rộng vị tha. Nếu như anh không nghĩ ra cách mang tặng một phần ăn miễn phí, thì có thể là cơ nghiệp của anh đã không có được như ngày hôm nay. Bản thân anh phải chăng cũng chính là một nhân vật may mắn nhất trong chuỗi cờ domino dài nhằng đang xảy ra nhan nhãn trên khắp quả địa cầu mà chúng ta đang cư ngụ.
(Phạm Huê dịch)

Đời người

Đời người

Đời người tựa như cánh cửa, có người lạc quan khi ở bên trong, có người lại vui vẻ khi đứng bên ngoài. Kỳ thực, có rất nhiều thứ không biết như thế nào mới là tốt nhất, chỉ cần bạn cho là đáng giá thì mới là tốt nhất…
 photo Life -Love_zpsokzsdrvo.jpg

1. Bốn cái khổ
Một là nhìn không thông: Không nhìn thấy được bản thân mình lạc trong vòng luẩn quẩn, không thấy vết thương của mình sau mỗi lần tranh đấu, không nhìn thấy nơi yên tĩnh ở phía sau sự sầm uất vô vị, chính là một nỗi khổ lớn của đời người.
Hai là luyến tiếc: Luyến tiếc sự ưu việt của bản thân trong quá khứ, luyến tiếc những sự việc không tới nơi tới chốn đã từng làm, luyến tiếc những hư vinh, những tiếng vỗ tay đắc thắng. Sống trong luyến tiếc thì cả đời sẽ dằn vặt không yên.
Ba là không thể đứng dậy sau thất bại: Cuộc sống ai mà chưa từng thất bại, nhưng nếu thất bại mà lại gục ngã, không thể đứng dậy được thì phần đời còn lại có lẽ chỉ là những lời than trách mà thôi.
Bốn là không thể vứt bỏ: Không buông bỏ được người và sự việc đã đi xa, không vứt bỏ được những mặc cảm về tội lỗi trong quá khứ sẽ giống như mang theo tảng đá khi đi đường dài vậy, thật khổ, thật mệt.
2. Nỗi đau
Một đời người, không phải tốt đẹp như trong mơ, cũng không xấu như trong tưởng tượng.
Phía sau mỗi người đều có nỗi đau ẩn chứa, đều có nỗi khổ không thể nói ra bằng lời.
Mỗi người đều bước đi trên con đường của mình. Chỉ cần nhớ:
– Khi lạnh hãy mặc thêm áo khoác cho mình;
– Khi đói mua cho mình một cái bánh;
– Khi đau hãy tự cho mình một chút kiên cường;
– Khi thất bại thì tự đặt cho mình một mục tiêu, hãy chịu đau đứng dậy sau khi bị té ngã, hãy đích thực là chính mình.


3. Tiêu chuẫn
Không nên lấy tiêu chuẩn của mình để đặt yêu cầu cho người khác, cũng không nên đeo kính màu để nhìn người khác. Bởi vì mỗi người đều có sở thích, cá tính, cũng như giá trị của riêng họ. Những điều bạn thấy không thuận mắt, cũng không nhất định là điều không tốt.
Lý giải về hạnh phúc có hàng ngàn vạn loại, quan niệm về hạnh phúc của mỗi người cũng không giống nhau. Hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời chính là có thể được làm chính mình.
Tin tưởng chính mình, đi theo tiếng gọi của tâm hồn mình, không viễn tưởng đặt ra mục tiêu vượt xa khả năng bản thân, không mù quáng ganh đua, bạn chính là người hạnh phúc nhất.
Không có vàng nguyên chất, cũng không có người hoàn mỹ, bởi vì không hoàn mỹ mới là chúng ta đích thực nhất.
4. Hạnh phúc
Hạnh phúc là sự gom góp từng chút từng chút, là được thực hiện từng ngày từng ngày. Đừng làm tổn thương người yêu mến bạn, cũng đừng làm người bạn yêu mến bị tổn thương.
Một người dẫu có tốt đến mấy, nhưng nếu họ không nguyện ý cùng bạn đồng hành cho đến hết cuộc đời, thì họ chính là người khách ghé thăm bạn mà thôi.
Một người dẫu có nhiều nhược điểm, nhưng lại có thể luôn nhường nhịn bạn, chăm sóc bạn, nguyên ý suốt đời ở bên bạn, đó chính là hạnh phúc của bạn.
Ai cũng muốn tìm một người thập toàn thập mỹ, nhưng con ngươi ai cũng có khuyết điểm. Yêu chính là nhường nhịn, thành thật với nhau, trọn đời bên nhau.
Có được một người có thể làm cho bạn vui vẻ cả đời, mới chính là mục tiêu của cuộc sống.
5. Buông bỏ
Khi những thứ mà ta sở hữu và những chấp nhất của chúng ta trở thành một loại “vũ khí” gây tổn thương, thì buông bỏ chính là giải pháp tốt nhất cho cuộc đời.
Mấy ai có thể biết được mình có bao nhiêu đau khổ, ai biết được mình bị bao nhiêu tổn thương. Nếu nước mắt không đọng lại ở trên mặt thì không ai biết được nó lạnh giá đến chừng nào, cái đau không nằm trên thân thể thì không thể biết nó đau đớn nhường nào.
Bạn có thể nhìn thấy giọt lệ đọng nơi khóe mắt, vết sẹo ở trên thân nhưng không nhất định hiểu được nỗi đau buồn và bi thương ở trong tâm hồn.
Hãy ngoảnh mặt bước đi trước khi rơi lệ, để lại sau lưng một hình bóng kiên cường, bạn sẽ thấy tâm hồn thật nhẹ nhõm trên hành trình kế tiếp của cuộc đời mình.
 photo Nature_zpsvjsioxmg.jpg
6. Được và mất
Khi còn trẻ không hiểu biết, trung niên sẽ luyến tiếc.
Có một số thứ, khi bạn hoàn toàn sở hữu được, lại cảm thấy buồn tẻ vô vị; có một số thứ, khi vĩnh viễn mất đi, mới phát hiện ra nó trân quý vô cùng.
Khi lâm vào giai đoạn khốn khổ của cuộc đời, cái gì tới thì muốn ngăn cản cũng không ngăn được, cái gì đi thì muốn giữ cũng giữ không được.
Trong cái được và mất, có những sự việc nhỏ bé không đáng kể, nhưng chúng khiến bạn đau, khiến bạn yêu, bạn hận, khiến bạn cả đời phải đau khổ, cả đời phải khác cốt ghi tâm.
 photo let-go-_zpshngb0fq1.jpg

7. Cánh cửa cuộc đời
Đời người tựa như một cánh cửa, có người cảm thấy bi quan khi ở trong cánh cửa tối om, có người lạc quan khi được ở trong cánh cửa tĩnh mịch, có người ưu sầu vì mưa gió khi đứng bên ngoài cánh cửa, có người thấy vui vẻ bởi vì được tự do khi đứng ngoài cánh cửa.
 photo the_door_of_life__zpsdalarhc5.jpeg
Kỳ thực trong đời người, có rất nhiều thứ không biết như thế nào mới là tốt nhất, chỉ cần bạn cho là đáng giá thì nó là tốt nhất.
Thành công và thất bại, hạnh phúc và bất hạnh, định nghĩa trong nội tâm của mỗi người là không giống nhau. Mấu chốt là phải năm chắc được điều bạn muốn là cái gì, đừng để nó tuột khỏi tay bạn, đừng để mình phải hối tiếc quá nhiều.
8. Tình bạn
Tình nghĩa bạn bè, cuối cùng sẽ dần dần phai nhạt. Để có một người bạn đích thực thường phải mất vài năm hoặc vài chục năm, mà đắc tội với một người bạn có thể chỉ trong vài phút, hoặc chỉ vì một chuyện.
. photo friendships_zpswm2e9qcd.jpg
Thế tục phù phiếm, lòng người phức tạp, rất mẫn cảm với những lặt vặt nhỏ nhoi, đều là trở ngại cho sự tiến triển của tình bạn.
Có lẽ bởi vì là bạn bè, nên đã thiếu đi một chút băn khoăn, thiếu đi một chút tôn trọng, vì thế mới thành ra như vậy. Giữa bạn bè với nhau khi thân cận quá, quan hệ sẽ trở nên phức tạp, khoảng cách quá xa thì lại mất đi liên lạc.
Hãy biết quan tâm, trân quý, che chở cho tình bạn. Cho dù không trường tồn muôn thủa, thì ít nhất đã từng có một tình bạn khắc cốt ghi tâm.
 photo Friend_zpsktsdwthw.jpg

9. Thấu hiểu
“Thấu hiểu” là thuật ngữ thâm tình nhất, khắc sâu nhất trong thế giới tình cảm.
– Thấu hiểu, chính là dùng ánh mắt của ta để an ủi nỗi ưu thương của người khác.
– Thấu hiểu, chính là để nhịp tim đập theo nhịp tim của người khác.
– Thấu hiểu, chính là im lăng lắng nghe âm thanh của tâm hồn.
– Thấu hiểu, chính là trong mắt của tôi luôn có hình bóng của bạn.
– Người thấu hiểu, chính là yêu hết mức có thể. Bởi vì chỉ có “thấu hiểu”, mới có thể trầm tĩnh, mới có thể ung dung, mới biết thế nào là trân quý.
 photo Thu hiu_zpszugstiv6.jpg

10. Lựa chọn
Người coi cuộc đời người như một hành trình, thì sẽ luôn nhìn thấy phong cảnh. Người coi cuộc đời như một chiến trường, thì gặp phải luôn là những tranh đấu.
Cuộc đời chính là như vậy, lựa chọn cái gì thì sẽ gặp cái đấy, không có đúng hay sai, chỉ có chấp nhận hay không.
Học cách quên đi những chuyện làm mình không vui, học cách rời xa những người làm cho mình trở nên hèn mọn. Chỉ cần vẫn có ngày mai, thì ngày hôm nay mãi mãi vẫn là khởi điểm.
Những điều đáng quý
– Gặp gỡ nhiều người thì biết sự đáng quý của tình bạn.
– Va vấp nhiều thì biết được sự đáng quý của hiểu biết.
– Thất bại nhiều mới biết sự đáng quý của tư tưởng.
– Thành công nhiều thì biết được sự đáng quý của dũng khí.
– Mâu thuẫn nhiều thì biết sự đáng quý của ý chí.
– Không thuận mắt nhiều thì biết sự đáng quý của tu dưỡng.
– Nịnh nọt nhiều mới biết sự đáng quý của chân thành.
– Danh lợi nhiều mới biết sự đáng quý của xem nhẹ.
– Xã giao nhiều mới biết sự đáng quý của thanh tịnh.

Theo  Tinh Hoa

Thứ Ba, ngày 17 tháng 5 năm 2016

Sứ điệp của Đức Thánh Cha Ngày Thế Giới truyền giáo 90

S đip ca Đc Thánh Cha Ngày Thế Gii truyn giáo 90

VATICAN. Trong sứ điệp nhân ngày thế giới truyền giáo lần thứ 90, ĐTC đề cao vai trò của phụ nữ và các gia đình trong việc biểu lộ lòng thương xót của Thiên Chúa.

 Ngày thế giới truyền giáo năm nay sẽ được cử hành vào chúa nhật 23 tháng 10 tới đây với chủ đề ”Giáo hội thừa sai, chứng nhân lòng thương xót”. Trong sứ điệp công bố hôm chúa nhật 15-5-2016 để chuẩn bị cho ngày đó, sau khi nói về lòng thương xót của Thiên Chúa, ĐTC khẳng định rằng:
 ”Khi đón nhận và theo Chúa Giêsu qua Tin Mừng và các bí tích, nhờ tác động của Chúa Thánh Linh, chúng ta có thể trở nên người có lòng thương xót như Cha chúng ta trên trời, học yêu thương như Chúa yêu thương chúng ta và biến cuộc sống chúng ta trở thành một món quà nhưng không, dấu chỉ lòng nhân lành của Ngài” (Misericordiae Vultus 3).”
 ĐTC cũng nhận xét rằng ”Có bao nhiêu người nam nữ thuộc mọi lứa tuổi và giai tầng xã hội, đã và đang làm chứng về tình yêu thương xót của Chúa, như trong thời kỳ đầu qua kinh nghiệm của Giáo Hội. Dấu chỉ hùng hồn về tình yêu thương từ mẫu của Thiên Chúa là sự hiện diện gia tăng đáng kể của nữ giới trong thế giới truyền giáo, bên cạnh sự hiện diện của nam giới. Các phụ nữ, nữ giáo dân và các người nữ thánh hiến, và ngày nay cũng có nhiều gia đình, đang thực thi ơn gọi truyền giáo của họ dưới nhiều hình thức khác nhau: từ việc trực tiếp rao giảng Tin Mừng cho đến các dịch vụ bác ái.”

 ”Bên cạnh hoạt động loan báo Tin Mừng và cử hành các bí tích do các nam thừa sai đảm nhận, cũng có các phụ nữ và các gia đình hiểu biết một cách thích hợp hơn các vấn đề của dân chúng và biết đương đầu với các vấn đề ấy một cách thích hợp, và đôi khi một cách ”chưa từng có”: qua sự chăm sóc cuộc sống, đặc biết chú ý đến con người hơn là các cơ cấu, tận dụng mọi tài nguyên nhân bản và tinh thần để xây dựng sự hòa hợp, các quan hệ, hòa bình, liên đới, cộng tác và tình huynh đệ, trong lãnh vực các tương quan giữa con người với nhau, cũng như trong lãnh vực rộng hơn lớn của đời sống xã hội và văn hóa, nhất là việc chăm sóc người nghèo”.

 Trong phần cuối của sứ điệp, ĐTC nhắc lại sự kiện trong Năm Thánh này, có dịp kỷ niệm 90 năm thành lập Ngày Thế Giới truyền giáo, do Hội Giáo Hoàng truyền bá đức tin, đề xướng và được ĐGH Piô 11 phê chuẩn năm 1926.. ĐTC cho biết ngài tiếp nối truyền thống của các vị tiền nhiệm, cổ võ cuộc lạc quyên tại các giáo phận, giáo xứ, dòng tu, các hiệp hội và phong trào của Giáo Hội để giúp đỡ các cộng đoàn Kitô túng thiếu và để đẩy mạnh việc loan báo Tin Mừng cho đến tận bờ cõi trái đất” (SD 15-5-2016)

 G. Trần Đức Anh OP

Fatima, Đức Gioan Phaolô II và bí mật thứ ba

Fatima, Đức Gioan Phaolô II và bí mật thứ ba
Vũ Văn An



Nhân dịp kỷ niệm biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Fatima lần đầu tiên ngày 13 tháng 5 năm 1917, cách nay 99 năm, báo chí Công Giáo viết nhiều chung quanh ý nghĩa của sự kiện Fatima nói chung.

Năm điều đáng lưu ý của Bí Mật Thứ Ba

Điều nổi bật nhất vẫn là ý nghĩa của Bí Mật Thứ Ba, một bí mật dù đã được bật mí nhưng vẫn là một bí mật với rất nhiều người Công Giáo hiện nay. Về ý nghĩa này, chính thị nhân hàng đầu của biến cố là chị Lucia cho hay: “việc giải thích không thuộc thị nhân mà thuộc Giáo Hội”. Thành thử, việc giải thích một số dấu hiệu và biểu tượng của Đức Mẹ Fatima nhằm đem lại cho tín hữu một hướng dẫn rõ ràng để hiểu ý định của Thiên Chúa muốn mạc khải cho ta là tùy thuộc Giáo Hội Công Giáo.

Giáo Hội đã làm việc trên năm 2000, khi Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, Bộ Trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin (nay là Đức Giáo Hoàng Hưu Trí Bênêđíctô XVI), viết một bài nhận định và giải thích thần học khá dài về “Bí Mật Thứ Ba” nổi tiếng. Ngài được trao trách nhiệm minh giải các dấu hiệu và biểu tượng trong các thị kiến về Đức Mẹ và ngài đã thực hiện được nhiều khám phá rất đáng lưu ý.

Theo ký giả Philip Kosloski, trong số các khám phá ấy, 5 điều sau đây đáng lưu ý hơn cả.

Thống hối, thống hối, thống hối!

1. “Chữ chủ yếu của phần thứ ba này là lời nài van 3 lần: ‘Thống hối, thống hối, thống hối!’ Lời đầu tiên của Tin Mừng xuất hiện trong tâm trí ta: ‘Hãy thống hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1:15). Hiểu các dấu chỉ của thời đại có nghĩa chấp nhận sự cấp thiết của thống hối, của hóan cải, của đức tin. Đây là đáp ứng đúng đắn đối với thời điểm lịch sử này, một thời điểm được đánh dấu bằng nhiều nguy cơ trầm trọng được phác họa trong các hình ảnh sau đây”.

Sứ điệp chính của Đức Mẹ Fatima là “thống hối”. Ngài tìm cách nhắc thế giới nhớ tới việc phải quay lưng khỏi sự ác và sửa chữa các tàn hại do tội lỗi ta gây ra. Đây là “chìa khóa” để hiểu các phần còn lại của “bí mật”. Mọi sự đều xoay quanh nhu cầu thống hối này.

Chúng ta đã rèn nên Lưỡi Gươm Rực Lửa 

2. “Thiên thần với lưỡi gươm rực lửa bên trái Mẹ Thiên Chúa nhắc ta nhớ tới các hình ảnh tương tự trong Sách Khải Huyền. Điều này muốn nói lên đe dọa phán xét đang ló dạng trên thế giới. Ngày nay, viễn tượng thế giới trở thành đống tro tàn bởi biển lửa không còn là một sản phẩm thuần tưởng tượng nữa: chính con người, với các phát minh của họ, đã rèn nên lưỡi gươm rực lửa. Thị kiến, sau đó, đã cho thấy quyền lực chống lại thứ sức mạnh tàn phá ấy, sự huy hoàng của Mẹ Thiên Chúa và, theo một nghĩa nào đó, phát xuất từ việc này là lời mời gọi thống hối”. 

Phần hiện ra này là phần gây phiền não hơn cả. Dường như Thiên Chúa muốn giáng xuống ta “lưỡi gươm rực lửa”. Tuy nhiên, Đức Hồng Y Ratzinger nhấn mạnh rằng “lưỡi gươm rực lửa” này là điều chính chúng ta tạo ra (như bom nguyên tử chẳng hạn), chứ không hẳn từ trời giáng xuống. Tin vui là: thị kiến cho hay lưỡi gươm rực lửa “tàn lụi khi tiếp xúc với vẻ huy hoàng của Đức Mẹ” trong liên hệ với lời kêu gọi “thống hối, thống hối, thống hối!”. Mẹ Diễm Phúc mới là người có tiếng nói quyết định sau cùng và vẻ sáng lạn của ngài chặn đứng mọi tai biến.

Tương lai không được tạc vào đá 

3. “Sự quan trọng của tự do con người được làm nổi bật: thực vậy, tương lai không được xác định một cách bất biến, và hình ảnh mà ba trẻ nhìn thấy không hề là một cuộc duyệt phim trước về tương lai trong đó, không điều gì có thể thay đổi được. Thực thế, trọn trọng điểm của thị kiến là đem tự do vào viễn ảnh và lái tự do về hướng tích cực… [Viễn kiến này] nhằm huy động các lực lượng thay đổi theo hướng đúng đắn của chúng”. 

Trái với niềm tin bình dân, các viễn kiến được Đức Mẹ Fatima ban cho không phải là một cuộc duyệt trước điều sẽ xẩy ra. Chúng là một cuộc duyệt trước những điều có thể xẩy ra, nếu ta không đáp lại lời kêu gọi thống hối và hoán cải của Đức Mẹ. Ta vẫn còn duy trì được ý chí tự do của ta và ta được thúc giục sử dụng nó để phục vụ thiện ích của toàn thể nhân loại.

Máu Các Tử Đạo là Hạt Giống của Giáo Hội 

4. “Phần kết luận của ‘bí mật’… là một thị kiến đầy an ủi, một thị kiến nhằm mở ra một lịch sử máu và nước mắt cho quyền năng chữa lành của Thiên Chúa. Dưới cánh thập giá, các thiên thần thu lượm máu các tử đạo, và với máu này, các ngài đem lại sự sống cho các linh hồn đang trên hành trình hướng về Thiên Chúa… Như Giáo Hội đã được sinh hạ từ sự chết của Chúa Kitô, từ cạnh sườn bị đâm thủng của Người thế nào, thì sự chết của các tử đạo cũng sinh hoa trái cho sự sống tương lai của Giáo Hội như vậy. Do đó, thị kiến của phần thứ ba trong ‘bí mật’, dù thoạt đầu gây phiền não là thế, nhưng đã kết thúc bằng một hình ảnh đầy hy vọng: không có đau khổ nào vô ích cả, và chính một Giáo Hội đau khổ, một Giáo Hội của các vị tử đạo mới trở thành cột mốc cho con người trong cuộc tìm kiếm Thiên Chúa của họ”.

Đúng là thị kiến trên có mùi đau khổ và nguy biến, nhưng nó không vô ích. Giáo Hội có thể phải đau khổ nhiều trong những năm sắp tới, nhưng việc này không nên khiến ta phải ngạc nhiên. Giáo Hội vốn kinh qua bách hại ngay từ thời đóng đinh và sự đau khổ của chúng ta hiện nay sẽ chỉ sinh hiệu quả tốt trong tương lai.

Đừng sợ. Thầy đã thắng thế gian 

5. “ ‘Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ sẽ thắng’. Điều này có nghĩa gì? Trái tim rộng mở cho Chúa, được thanh tẩy nhờ việc chiêm ngắm Người, thì mạnh hơn súng đạn bất cứ loại nào… Thần Ác đang có uy lực trong thế giới này… Nó có uy lực vì tự do của ta liên tục để mình bị dẫn xa rời Thiên Chúa. Nhưng… tự do chọn điều ác không còn tiếng nói sau cùng của nó nữa… tiếng nói thắng thế là tiếng nói này: ‘Các con sẽ chịu nhiều thống khổ trong thế gian, nhưng các con đừng sợ; Thầy đã thắng thế gian’ (Ga 16:33). Sứ điệp Fatima mời gọi ta tin tưởng vào lời hứa này”. 

Tóm lại, “bí mật” Fatima cho chúng ta niềm hy vọng giữa lòng một thế giới bị tan hoang bởi tham lam, ích kỷ và chiến tranh. Satan sẽ không chiến thắng và các kế hoạch tàn ác của nó sẽ bị phá tan bởi Trái Tim Vô Nhiễm của Đức Mẹ. Rất có thể có đau khổ lớn lao trong một tương lai gần, nhưng nếu ta bám chặt lấy Chúa Giêsu và Mẹ của Người, chúng ta vẫn mãi chiến thắng.

Đức Gioan Phaolô II và biến cố Fatima

Cựu mục sư Anh Giáo nay là linh mục Công Giáo Dwight Longenecker thì cho rằng Fatima chứng minh cho ta thấy đàng sau chính trị và quyền lực, còn có “Một Tay Chơi” khác. Và theo vị linh mục này, các vị giáo hoàng từ Đức Piô XII trở đi đều nói lên niềm tin của các ngài vào tính siêu nhiên của các biến cố diễn ra tại Fatima, nên toàn thể loài người nên lưu tâm tới chúng.

Đức Piô XII có liên hệ trực tiếp với các biến cố Fatima vì ngài được thụ phong giám mục cùng ngày với việc khởi đầu của chúng. Nhưng vị giáo hoàng có liên hệ nhiều nhất với chúng phải kể Đức Gioan Phaolô II. Trước nhất, ngày 13 tháng 5 năm 1981, đúng vào ngày kỷ niệm lần thứ 64 Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, ngài bị ám sát ngay tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô.

Hôm đó, một sát thủ có huấn luyện đã cận kề bắn hai loạt đạn trực tiếp vào Đức Giáo Hoàng. Một viên đạn trượt ngón tay ngài, một viên trúng thân ngài nhưng không trúng động mạch chính ở bụng và cột xương sống cũng như mạch thần kinh chính.

Wodzimierz Redzioch, tác giả cuốn “Stories about John Paul II. Told by his close friends and co-workers” (Ignatius Press), ngày 13 tháng 5 vừa qua, thuật lại các biến cố diễn ra tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô ngày 13 tháng 5 năm 1981 mà chính ông được mục kích.
Theo ông, lịch trình làm việc của Đức Gioan Phaolô rất xít xao. Hôm đó là ngày ngài chính thức thiết lập Viện Giáo Hoàng Nghiên Cứu Về Hôn Nhân và Gia Đình. Buổi sáng ngài tiếp nhà di truyền học nổi danh người Pháp là Jerome Lejeune và vợ ông ta, sau đó dùng bữa trưa với họ. Buổi chiều, ngài có buổi yết kiến chung thường lệ vào ngày thứ Tư. Khoảng 5 giờ chiều, xe jeep mầu trắng chở Đức Giáo Hoàng xuất hiện tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô… Xe chạy chậm giữa đám đông tín hữu vẫy cờ, vẫy khăn tay. Thỉnh thảng xe dừng lại để Đức Giáo Hoàng ôm hôn trẻ thơ rồi trao lại cho cha mẹ chúng.

Bỗng nhiên Redzioch thấy bồ câu ở công trường vụt bay đi và sau đó là cảnh hỗn loạn quanh chiếc xe chở Đức Giáo Hoàng; chiếc xe ngay sau đó lùi lại và chạy về hướng lầu chuông. Ông không hiểu chuyện gì xẩy ra, rồi nghe những tiếng thất thanh nổi lên: “Tấn Công! Tấn Công!”. Người thì òa lên khóc, người thì tỏ ý thất vọng hoặc đứng im không một lời nói. Có người qùy xuống cầu nguyện vì nghĩ rằng Đức Giáo Hoàng đã qua đời.

Lúc ấy các nhân viên Tòa Thánh đều rút lui hết, công chúng không biết phải làm gì. Linh mục Casimir Przydatek, giám đốc trung tâm dành cho các khách hành hương Ba Lan giật lấy máy vi âm và bắt đầu đọc kinh mân côi: công chúng tham gia cầu nguyện và hát thánh ca. Một trong các món quà được khách hành hương Ba Lan đem tới định tặng Đức Gioan Phaolô II, bức ảnh Đức Mẹ Czestochowa. Cha Casimir đã đặt bức ảnh đó vào chiếc ghế trống của Đức Giáo Hoàng.

Tới phòng báo chí của Tòa Thánh, ông được nghe cha Panciroli đề cập tới khả thể thủng lá lách. Sau đó, xem truyền hình trực tiếp từ Bệnh Viện Gemelli, ông được hay: xe cứu thương đến bệnh viện rất nhanh, nên cuộc giải phẫu đã tiến hành vào lúc 5 giờ 55 chiều, và đã thành công như mọi người đã biết.

Một chi tiết được Redzioch cho biết thêm là trong khi tới tái khám tại Bệnh Viện Gemelli hồi tháng Bẩy, Đức Gioan Phaolô II được trao cho một phong bì trong đó có nguyên văn bản “bí mật thứ ba” của Fatima do chính tay chị Lucia viết. Điều này cho thấy ngài rất lưu tâm tới vấn đề và đã ra chỉ thị cho Đức Hồng Y Joseph Ratzinger viết bài nhận định như trên đã nói. Điều ấy cũng đủ chứng minh sự tương quan giữa việc được cứu thoát khỏi cuộc mưu sát và biến cố Fatima.

Trước nhiều giải thích khác nhau về biến cố sống sót lạ lùng này, Đức Gioan Phaolô II cho biết: “Một bàn tay bắn, một bàn tay khác hướng dẫn đạn đạo”. Chính sát thủ Mehmet Ali Agca đã nói với Đức Giáo Hoàng, ngày hai người gặp nhau hôm 27 tháng 12 năm 1983 rằng: anh nể sợ “thần nữ Fatima” vì ngài đã che chở Đức Giáo Hoàng tuyệt diệu đến thế.

Ký giả John L. Allen thì cho rằng biến cố trên có một tầm rất quan trọng đối với triều giáo hoàng của Đức Gioan Phaolô II. Đúng hơn nó là lý do khiến ngài tiếp tục thi hành thừa tác vụ Phêrô dù sức khỏe không còn cho phép ngài làm việc này một cách hữu hiệu theo cái hiểu của con người nữa.

Theo Allen, Đức Gioan Phaolô II luôn coi thế giới, cả các thăng trầm trong chính cuộc sống của ngài, như là một phần trong vở bi hài kịch của vũ trụ bao la, của cuộc chiến đấu giữa sự thiện và sự ác, và tin chắc rằng các giải thích của trái đất về các thăng trầm ngài gặp không bao giờ làm cạn kiệt các khả thể.

Như trên đã nói, đối với ngài, chính sự bầu cử của Đức Mẹ Fatima đã cứu sống ngài. Và trong thế giới quan của ngài, việc cứu sống này không những giúp ngài sống còn mà còn giúp cả triều giáo hoàng của ngài sống còn nữa.

Và nếu bạn thành thực tin rằng nếu Đức Mẹ đã cầu bầu để Thiên Chúa “treo chén” các định luật vật lý và giữ bạn tại chức, thì bạn không thể, một buổi sáng thức giấc nào đó, đành lòng mà buông câu: đủ lắm rồi, và bỏ đi. Nói khác đi, Đức Gioan Phaolô đơn giản tin rằng quyết định bỏ đi không phải nằm trong tay ngài.

Thế giới quan nói trên có thể có liên quan tới biến cố Fatima ở một khía cạnh khác. Đây là nhận định của linh mục Jeff Kirby. Ai cũng biết tên của thị trấn này vốn do người Moors, theo Hồi Giáo, đặt cho, lúc họ chiếm đóng bán đảo Tây Bồ, để vinh danh Fatimah, người con gái yêu qúy của giáo chủ Mohammed, vì chỉ có cô là sinh cho ông các người thừa kế nam nhi sống quá tuổi thơ.

Họ coi cô là người phụ nữ thánh thiện thứ hai xưa nay của trần gian. Tước hiệu người phụ nữ thánh thiện nhất xưa nay được họ dành cho Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu. Thành thử, ta có quyền hỏi tại sao Đức Mẹ đã chọn Fatima để hiện ra? Nếu Đức Mẹ đã vượt qua mọi rào cản kỳ thị để hiện ra ở địa điểm ấy, thì rất có thể ngài sẽ một lần nữa vượt qua mọi rào cản để giúp con cái ngài có cơ hội sống hòa bình và hiệp thông với những người hiện bị coi là trở ngại lớn nhất của hoà bình và hiệp thông.

Chủ Nhật, ngày 15 tháng 5 năm 2016

Đức Trinh nữ Maria, trở thành người nữ uy quyền nhất thế giới như thế nào

Đức Trinh nữ Maria, trở thành người nữ uy quyền nhất thế giới như thế nào

bởi  - 

Hiếm khi lên tiếng trong Kinh thánh, nhưng hình ảnh và di sản của Mẹ, thể hiện và được cung nghênh khắp thế giới.
National Geographic –
Bài viết: Maureen Orth
Hình ảnh: Diana Markosian
Picture of pilgrims visiting Virgin Mary statue at Medjugorje in Bosnia and Herzegovina

Người hành hương viếng tượng Đức Trinh nữ Maria tại Medjugorje, Bosnia-Herzegovina

Khi hoàng hôn buông xuống Medjugorje, Bosnia-Herzegovina, một nơi tương truyền Đức Trinh nữ Maria hiện ra, nhiều người sốt mến thuộc nhiều đức tin và quốc tịch khác nhau cùng quy tụ trong lời cầu nguyện.

Vào giờ chập choạng, 5:40 chiều. Trong một nhà nguyện Công giáo La Mã nhỏ ở Bosnia-Herzegovina, ở làng Medjugorje, Ivan Dragicevic bước xuống lối giữa nhà nguyện, quỳ gối trước bàn thờ, cúi đầu một lúc, rồi mỉm cười, hướng mắt lên trời. Anh bắt đầu thì thầm, lắng nghe, lại thì thầm, và không chớp mắt suốt 10 phút. Đó là buổi đối thoại hằng ngày của anh với Đức Trinh nữ Maria.
Dragicevic là một trong sáu mục đồng được Đức Trinh nữ Maria hiện ra vào năm 1981. Mẹ đã hiện ra với 4 cô bé và 2 cậu bé, nhận mình là ‘Nữ vương Hòa bình’ và truyền cho các thiếu niên này, thông điệp đầu tiên trong hàng ngàn thông điệp khuyên bảo các tín hữu hãy cầu nguyện thường xuyên và sám hối tội lỗi. Lúc đó, Dragicevic 16 tuổi, và Medjugorje, rồi cả nước Yugoslavia đang dưới chế độ cộng sản, nổi bùng một cơn bão những việc chữa lành phép lạ và hoán cải thiêng liêng, lôi cuốn 30 triệu người hành hương đến đây trong vòng 3 thập kỷ qua.
Tôi đang ở Medjugorje với một nhóm người Mỹ, hầu hết là những ông bố thể thao từ Boston, và thêm 2 đàn ông, 2 phụ nữ đang bị ung thư giai đoạn cuối. Trưởng đoàn của chúng tôi là Arthur Boyle, 59 tuổi, cha của 13 người con, lần đầu đến nơi này vào ngày Lao động Quốc tế năm 2000, mang trong mình khối ung thư và chỉ còn vài tháng để sống. Ông sụp đổ và chán nản, hẳn đã không đi chuyến hành hương này nếu như hai người bạn không thúc ép ông. Nhưng đêm đầu tiên ở đây, sau khi đi xưng tội ở nhà thờ thánh Giacôbê Tông đồ, tâm lý của ông được xoa dịu tức thời.
Ông cho tôi biết, ‘Những lo âu và trầm cảm biến mất. Bạn biết cảm giác khi vác một ai đó chơi trò đấu nhau dưới nước, rồi họ nhảy xuống, bạn thấy nhẹ nhõm và tự do. Tôi cũng như thế. Chờ một chút, chuyện gì vừa xảy đến với tôi? Tại sao?’
Sáng hôm sau, cùng với hai người bạn Rob và Kevin, trong một cửa hàng trang sức, ông gặp một ‘thị nhân’ khác, Vicka Ivankovic-Mijatovic, và xin cô giúp đỡ. Một tay đặt bên đầu ông, cô cầu Đức Trinh nữ Maria xin Chúa chữa lành cho ông. Boyle nói rằng, ngay lúc đó, ông cảm nghiệm một cảm thức bất thường. ‘Cô bắt đầu cầu nguyện cho tôi. Rob và Kevin đặt tay trên tôi, và lời cầu nguyện của cô làm nhiệt lượng lan khắp cơ thể tôi đến nổi đổ mồ hôi.’
Một tuần sau, về lại Boston, khi kiểm tra với máy chụp CT ở Bệnh viện Trung ương Massachusetts, các khối u của ông đã thu nhỏ đến mức gần như không còn.
Từ thời điểm đó, ông Boyle đã trở lại Medjugorje 13 lần. ‘Tôi là một người đều độ. Tôi thích chơi hockey và uống bia. Tôi chơi golf nữa.’ Nhưng tôi phải thay đổi mọi sự trong đời.’ Ông cho biết, ngày hôm nay, ông trở thành kiểu như ‘người phát ngôn cho quyền năng chữa lành của Chúa Giêsu Kitô, và tất nhiên là uy thế của Đức Mẹ và sức mạnh trong lời chuyển cầu của Mẹ.’
Picture of Roman Catholic youths guarding a life-size figure of Mary

Các thanh niên Công giáo cung nghênh bức tượng Đức Mẹ, trong lễ Đức Mẹ Mông triệu Thăng thiên ở Kalwaria Paclawska, Ba Lan

Đức Mẹ đầy sức hút với người trẻ cũng như người già. Ngày 12-8, trong thánh lễ kính Đức Mẹ về trời, các thanh niên Công giáo La Mã cung nghênh tượng Đức Mẹ ở Kalwaria Pacławska, Ba Lan. Ở nơi đây, lễ Đức Mẹ Mông triệu Thăng thiên là một lễ hội kéo dài cả tuần.

CẦU NGUYỆN XIN ĐỨC TRINH NỮ MARIA CHUYỂN CẦU và lòng sùng kính Đức Mẹ là một hiện tượng toàn cầu. Khái niệm Đức Mẹ chuyển cầu với Chúa Giêsu, bắt đầu từ phép lạ tiệc cưới Cana. Theo Tin mừng theo thánh Gioan, Mẹ bảo Chúa Giêsu, ‘Họ hết rượu rồi,’ và từ đó mở ra phép đầu tiên của Ngài. Năm 431 sau Chúa Giáng Sinh, Hội đồng Đại kết III, ở Ephesus, chính thức tôn dương Đức Mẹ tước hiệu Theotokos, Mẹ Thiên Chúa. Từ đó, không một người nữ nào cao quý bằng Mẹ Maria. Là một biểu tượng chung về tình mẫu tử, cũng như về đau khổ và hi sinh, Đức Mẹ thường là tiêu chuẩn cho khát khao của chúng ta về ý nghĩa cuộc đời, một mối liên kết với siêu nhiên dễ tiếp cận hơn so với các giáo lý chính thức của giáo hội. Tà áo của Mẹ vừa là che chở vừa là bảo đảm. Khi được hỏi Đức Mẹ có ý nghĩa thế nào với ngài, Đức Giáo hoàng Phanxicô trả lời rằng, “Mẹ là mẹ tôi.’ [mamá, tiếng gọi mẹ thân thương]
Các tường thuật về việc Đức Mẹ hiện ra, các thị kiến thường đến với các trẻ nghèo ở những vùng xa xôi hẻo lánh, hay những vùng chiến loạn, đã tăng thêm mạnh mẽ sự huyền bí và hương thơm của Mẹ. Và khi các trẻ không chệch khỏi câu chuyện mình đã kể, đặc biệt là trong những chuyện đi kèm những ‘dấu chỉ’ không giải thích được, như mặt trời nhảy múa hay suối nước tuôn trào, thì hình tượng Đức Mẹ càng lớn lao hơn nữa.
Đức Mẹ ở mọi nơi. Hoa cúc vạn thọ (marigold) được đặt theo tên Mẹ. Cú chuyền bóng Kính Mừng [Hail Mary pass] cứu rỗi cho môn bóng bầu dục. Hình ảnh Đức Mẹ Guadalupe ở Mễ Tây Cơ, là một trong những hình ảnh người nữ được lan truyền nhất mọi thời đại. Đức Trinh Nữ Maria lôi cuốn hàng triệu người đến các đền thánh như Fatima ở Bồ Đào Nha, và Knock ở Ireland, nâng đỡ cho ngành du lịch hành hương ước tính giá trị hàng tỷ đô một năm và đem lại hàng công ăn việc làm. Mẹ là nguồn cảm hứng cho các tuyệt phẩm nghệ thuật và kiến trúc, (như tượng ‘Pietà’ của Michelangelo, và Nhà thờ Đức Bà) cũng như các vầng thơ, phụng vụ và âm nhạc (như Kinh chiều kính Đức Trinh nữ Diễm phúc của Monteverdi). Và Mẹ là bạn thiêng liêng của hàng tỷ người, dù cho họ có bị cô lập và quên lãng đến đâu đi nữa.
Không chỉ Kitô hữu, mà cả người Hồi giáo cũng xem Mẹ là thánh thiện hơn mọi người nữ, và tên của Mẹ, ‘Maryam’ xuất hiện trong kinh Koran còn thường xuyên hơn cả ‘Maria’ trong Kinh thánh nữa. Trong Tân Ước, Đức Mẹ chỉ lên tiếng 4 lần, mở đầu là lúc truyền tin, khi thiên thần Gabriel hiện ra và nói Mẹ sẽ mang ‘Con của Đấng Tối Cao.’ Mẹ trả lời, ‘Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa’ Những lời nói dài duy nhất của Mẹ, cũng trong tin mừng theo thánh Luca, là trong tán ca Magnificat: ‘Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi,  Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới. Từ nay, hết mọi đời, sẽ khen tôi diễm phúc.’
Chắc chắn là thế.
Nhưng các manh mối về cuộc đời Đức Mẹ có rất ít. Các học giả về Thánh Mẫu, phải rút lấy tất cả những thông tin có thể từ Kinh thánh Do Thái, các bản văn ở Địa Trung hải hồi thế kỷ I, Tân Ước, và các công trình khảo cổ học.
Picture of Anna Pidlisna of Ukraine who came to Medjugorje after receiving a vision of Mary

Anna Pidlisna, người Ukraine, đã đến Medjugorje sau khi được thị kiến thấy Đức Mẹ.

Anna Pidlisna, 32 tuổi, người Ukraine, nói rằng cô đến Medjugorje, sau khi được thị kiến thấy Đức Mẹ. Những lần hiện ra, không phải là dấu chỉ duy nhất của Đức Mẹ, nhiều người cho biết họ từng thấy mặt trời nhảy múa. Nhà vật lý Artur Wirowski có một giải thích duy vật rằng: Hiện tượng này có thể xảy ra khi ánh nắng mặt trời phản chiếu và khúc xạ các tinh thể nước đá rung động trong các đám mây.

Kinh thánh cho biết, Mẹ Maria sống ở Nazareth, thời Roma cai trị toàn lãnh địa Do Thái. Sau khi Mẹ có thai, hôn phu Giuse, người thợ mộc, định lẳng lặng bỏ đi, nhưng sau khi thiên thần hiện đến trong giấc mộng, ông đã đổi ý. Việc sinh hạ Chúa Giêsu được nhắc đến trong tin mừng theo thánh Luca và Matthêu. Còn Tin mừng theo thánh Máccô và Gioan nhắc đến Đức Mẹ một vài lần.
Cha Bertrand Buby, tác giả của bộ sách nghiên cứu 3 tập, Maria thành Galilee, và là một nhân vật xuất chúng trong Viện Nghiên cứu Thánh Mẫu Quốc tế tại Đại học Dayton, Ohio, thì các tác giả phúc âm viết khoảng 40 đến 50 năm sau khi Chúa Kitô tử nạn, và đây không phải là các tiểu sử. ‘Vậy nên đừng kỳ vọng các vị cho chúng ta đủ mọi chi tiết về Đức Mẹ. Chúng ta biết về cuộc đời của Mẹ qua nhiều giai thoại.’
Một vài học giả Thánh Mẫu mới đây tập trung vào hình ảnh một người mẹ Do Thái. María Enriqueta García, trong phân viện thần học thiêng liêng ở Viện Thánh Mẫu, giải thích rằng Đức Mẹ đem lại cho chúng ta Chúa Giêsu, ánh sáng thế gian, như một người mẹ Do Thái thắp lên những cây nến trong ngày Shabbat. ‘Chúng ta thấy mối liên hệ giữa Đức Mẹ với chúng ta, không như bất kỳ liên hệ nào khác, bởi đây là một mối liên hệ thiêng liêng.’
Trong thiên niên kỷ thứ nhất, khi Kitô giáo trở thành tôn giáo chính thức của Đế chế La Mã, và bắt đầu lan khắp châu Âu, Đức Mẹ thường được họa hình như một nhân vật uy nghi, như những hoàng đế, vận hoàng bào thiếp vàng. Trong thiên niên kỷ thứ hai, kể từ thế kỷ XII, theo sử gia trung cổ Miri Rubin của Đại học Nữ vương Maria ở Luân Đôn, thì ‘Đức Mẹ có một sự đảo chiều lớn về hình tượng,’ trở nên một nhân vật dễ gần hơn, ân cần hơn, ghi đậm sự dịu dàng của một người mẹ hơn. Mẹ Maria như một người mẹ thứ hai trong các tu viện, nơi các tập sinh thường đang ở lứa tuổi nhỏ và cần sự âu yếm. Cô Rubin nói rằng, ‘Một tình yêu của người mẹ, đến để bày tỏ cốt lõi của trình thuật tôn giáo.’
Amy-Jill Levine, giáo sư về nghiên cứu Tân Ước và Do Thái, tại Đại học Vanderbilt, thì do trong Kinh thánh có quá ít chi tiết về Đức Mẹ, ‘nên bạn có thể phóng chiếu Mẹ theo bất kỳ giá trị tôn giáo nào bạn có.’ Theo Rubin, thì đây là ‘sự pha trộn văn hóa.’ Levnine thì thêm rằng, ‘Mẹ có thể là một người mẹ đau đớn, một trinh nữ trẻ, một nữ thần. Như Chúa Giêsu là người nam lý tưởng, thì Đức Mẹ là người nữ lý tưởng.’
Trong cuộc Kháng cách (1517-1648), khái niệm về Đức Mẹ chuyển cầu bị những người Tin Lành bác bỏ, họ muốn đi thẳng đến với Thiên Chúa trong lời cầu nguyện. Nhưng Đức Mẹ lại được thêm hàng triệu người Công giáo tân tòng trong cuộc chinh phục Tân Thế giới hồi đầu thế kỷ XVI, và mới đây là ở châu Phi.
Picture of a nun pausing to pray in a field

Xơ Marzena Michalczyck, 31 tuổi một nữ tu từ Krakow, Ba Lan, dừng lại để cầu nguyện trong chuyến đi bộ nhiều tuần đến Częstochowa. Hàng triệu người hành hương tìm đến đây để cầu nguyện với tượng Đức Mẹ Đen, thường hay làm phép lạ.

Kibeho, một thành phố nhỏ ở Rwanda, được biết đến như là nơi Đức Trinh nữ Maria hiện ra với 3 cô gái nhỏ, và cho các bé biết trước về cuộc diệt chủng đẫm máu kinh hoàng sẽ chấn động đất nước vào năm 1994, khi người Hutu chiếm đa số tấn công người Tusti thiểu số, và trong vòng chỉ 3 tháng, hơn 800.000 người bị tàn sát.
Tháng 3, 1982, giám mục địa phương đã nhờ bác sỹ Venant Ntabomvura, đến gặp các cô bé ở ngôi trường trên đồi tại Kibeho. Ông đã điều tra 3 học sinh này, những người cho biết là họ đã có những thị kiến và nói chuyện với Đức Trinh nữ Maria. Ntabomvura, chuyên khoa tai mũi họng, bây giờ 89 tuổi, và vẫn đang hành nghề thầy thuốc, kể lại rằng, Alphonsine Mumureke, trước hết kể về những lần hiện ra từ tháng 11-1981. Trong những lần thị kiến này, cô nói chuyện với một người nào đó rõ ràng như nói chuyện qua điện thoại vậy.
Đức Mẹ trước hết hiện ra với Alphonsine, rồi đến Anathalie Mukamazimpaka, tiếp theo là cho Marie Claire Mukangango. Các cô gái nói rằng họ đã có vô số giờ nói chuyện với Đức Mẹ, và Mẹ xưng mình là Nyina wa Jambo, Mẹ Thế giới. Đức Maria nói chuyện với các em quá thường xuyên đến mức các em gọi Đức Mẹ là má.
Tôi gặp được Anathalie vào buổi hoàng hôn, trong căn nhà giản dị của cô gần trường học cũ, ngôi nhà đầy những tràng hạt và tượng Đức Mẹ.
Picture of a boy receiving Communion at Jasna Góra Monastery in Częstochowa, Poland

Một cậu bé rước lễ ở Tu viện Jasna Góra, ở Częstochowa, Ba Lan Tượng ảnh Đức Mẹ Đen, một tấm hình Đức Trinh nữ Maria và Chúa Giêsu với màu da đen, tương truyền là tác phẩm của thánh Luca, được giữ trong tu viện này.

Anathalie kể rằng, ‘Lần đầu tiên Mẹ hiện ra, là lúc tôi đang lần hạt, và Mẹ gọi tên tôi. Tôi nghe Mẹ nói, ‘Nathalie, con ta.’ Mẹ thực sự rất đẹp, khoảng 20 đến 30 tuổi. Mẹ nói bằng tiếng Kinyarwanda với một giọng nhẹ nhàng điềm đạm. Mẹ mang áo trắng và áo choàng màu xanh dương. Mẹ không bao giờ nói vì sao Mẹ chọn tôi. Mẹ nói rằng Mẹ hiện ra với bất kỳ ai Mẹ muốn, bất kỳ lúc nào Mẹ muốn, bất kỳ nơi đâu Mẹ muốn.’ Anathalie nói rằng, Mẹ không bao giờ đề cập đến bất kỳ tôn giáo cụ thể nào. ‘Mẹ chỉ muốn chúng ta yêu mến Mẹ nhiều như Mẹ yêu mến chúng ta vậy.’
Lời tiên tri khủng khiếp của Đức Mẹ đến vào một ngày vào năm 1982, ngày mà mọi người xem là đặc biệt hạnh phúc, 15-8, lễ Đức Mẹ Lên trời. Ntabomvura cũng có ở đó, và Gaspard Garuka sống gần đó. Các cô gái đầy nước mắt, vì Đức Mẹ cũng đang khóc. Bác sỹ Garuka kể lại, ‘Alphonsine gục ngã nhiều lần, bởi đã thấy những điều khủng khiếp. Có lần cô đã xin Đức Mẹ, ‘Xin đừng để con thấy những điều này.’
Anathalie nói rằng những gì Đức Mẹ báo trước, ‘chính xác những gì tôi đã thấy’ trong cuộc diệt chủng cách đây 12 năm. ‘Người ta giết người bằng giáo, bằng thiêu sống, chặt đầu. Tôi thấy những hố chôn tập thể, chung quanh đầy bóng tối, máu chảy thành sông. Tất cả những điều này đã được báo trước.’ Anathalie trốn được khỏi Rwanda, đến Congo, rồi Kenya. Alphonsine trở thành một nữ tu ở Ý. Marie Claire thì bị giết trong cuộc diệt chủng đó. Ngày 29-6-2001, gần 20 năm sau khi Alphonsine lần đầu cho biết về việc Đức Mẹ hiện ra, giám mục Augustin Misago của Rwanda và Vatican tuyên bố rằng, Đức Trinh nữ Maria đã hiện ra ở Kibeho.
Picture of a Polish woman who claims a direct connection to Mary that allows her to heal people

Ở Rutka, Ba Lan, Anna Bondaruk, 84 tuổi, cầu nguyện với Marek Włodzimirow, 38 tuổi, đến tìm bà để được chữa lành về tinh thần. Bà Bondaruk nói rằng bà có liên hệ trực tiếp với Đức Mẹ, cho bà có khả năng chữa bệnh.

Michael O’Neill, 39 tuổi, tốt nghiệp Đại học Stanford, ngành cơ khí và thiết kế sản xuất, là một nguồn dữ liệu vô cùng lớn về Đức Trinh nữ Maria. Trên trang web của mình, miraclehunter.com ông đã hệ thống hóa tất cả mọi lần Đức Mẹ hiện ra kể từ năm 40 sau Chúa Giáng Sinh. Việc điều tra có hệ thống và lưu trữ tài liệu về các sự kiện siêu nhiên, kể từ thời Công đồng Trent, phản ứng chung của Giáo hội Công giáo với cuộc Kháng cách cách đây hơn 450 năm. Trong số hơn 2000 lần được cho là Đức Mẹ hiện ra, thì chỉ có 28 lần được xác nhận bởi giám mục địa phương, người đầu tiên quyết định xem ‘những thị nhân’ có đáng tin hay không. Và chỉ có 16 trong số này được Vatican xác nhận.
O’Neill, trong quyển sách mới xuất bản của mình, Khám phá sự Phi thường [Exploring the Miraculous], ông kể ra chi tiết quá trình tỉ mỉ của Vatican để quyết định xem có chuẩn cho việc hiện ra này là phép lạ, thực sự phi thường.  Sự ‘xác thực’ và sự ổn định về tâm thần của các thị nhân là yếu tố hàng đầu, và bất kỳ ai bị nghi ngờ là cố gắng tìm danh tiếng hay tiền bạc từ việc nhận mình có liên hệ với Đức Trinh nữ Maria, thì đều bị loại và bị lên án.
Medjugorje là một trong khoảng hơn 20 điểm đang trong tình trạng chờ-và-xem để được Vatican phê chuẩn. Các giám mục địa phương ở Medjugorje, chưa bao giờ thực sự tin vào các lần hiện ra này, đối lập với các cha dòng Phanxicô đang điều hành giáo xứ này và là những người tin chắc chắn về những lần Đức Mẹ hiện ra. Để giải quyết tình thế bế tắc này, Vatican đã lập một ủy ban. Ủy ban đã báo cáo kết quả vào cuối năm 2014.
Vatican chưa từng xác nhận cho bất kỳ lần được cho là Đức Mẹ hiện ra nào mà thông điệp trong đó lại đi ngược với huấn giáo của giáo hội, và các tín hữu không bị buộc phải tin vào các việc hiện ra này. Nhưng nhiều người, kể cả các linh mục, lại không như vậy. Cha Johann Roten, giám đốc của các dự án nghiên cứu đặc biệt ở Thư viện Thánh Mẫu tại Đại học Dayton, với hơn hàng trăm ngàn bộ sách về Đức Mẹ. Cha cho biết, ‘Khó để phân biệt được những gì từ Đức Mẹ, và những gì được diễn giải theo lời các thị nhân.’ Quyết định cuối cùng là tùy theo đức tin.
 Mapping Virgin Mary Sightings

Bản đồ về các lần Đức Trinh nữ Maria hiện ra, bắt đầu từ thế kỷ XVI. Giáo hội Công giáo La Mã lập một tiến trình điều tra nghiêm ngặt về các phép lạ, cũng như với hơn 2000 lần được cho là Đức Mẹ hiện ra từ năm 40 sau Chúa Giáng Sinh. Để đáng tin và được giáo hội ủng hộ, thì các việc hiện ra phải phi thường, có mức độ chắc chắn cao, và phù hợp với giáo lý, và phải có tác động tích cực

Ghi chú: Một vài thị kiến có thể không được ghi lại, bởi các chi tiết về thời điểm, địa điểm và người làm chứng, đã bị mất đi trong lịch sử.

 Robert Spitzer, một linh mục dòng Tên, trưởng Trung Tâm Magis ở California, làm việc để giải thích đức tin, vật lý, và triết học, cho biết, ‘Các phép lạ biến đổi bản chất và các luật tự nhiên. Khoa học nhìn vào các luật vật lý trong tự nhiên, vì vậy bạn đang đối mặt với một nghịch lý. Liệu có thể có kiểm nghiệm khoa học cho các phép lạ? Không. Khoa học chỉ kiểm nghiệm cho các luật vật lý hay các kết quả vật lý mà thôi.’
Dù thế, trong nhiều năm, như một phần của tiến trình điều tra của giáo hội, các thị nhân là đối tượng của nhiều cuộc kiểm nghiệm. Có các nỗ lực để khiến các thị nhân ở Medjugorje, nháy mắt hay phản ứng với tiếng động lớn, khi họ đang trong thị kiến. Năm 2001, nhật báo Khám phá Khoa học viết về các thị nhân rằng ‘phần nào và có biến thiên, tách khỏi thế giới bên ngoài trong thời gian thị kiến.’ Các cảm thức về tiếng động và ánh sáng mạnh vẫn đi vào não bộ họ bình thường, nhưng vỏ não không nhận sự truyền dẫn của các phản ứng dây thần kinh thính giác và thị giác.’ Cho đến bây giờ, khoa học vẫn chưa có lời giải thích.
Trong chuyên ngành y khoa, thì những gì mà bạn và tôi gọi là phép lạ, thường được xem là một ‘an thần tự phát’ hay ‘hồi quy về khoảng giữa.’ Frank McGovern, bác sỹ phẫu thuật tiết niệu, người đã làm hết sức có thể cho ông Athur Boyle, kể rằng việc biến mất các khối ung thư là chuyện ‘hiếm’ theo thống kê, thì có thể xảy ra. Nhưng ông thêm rằng, ‘Tôi cũng tin rằng có những lúc trong đời người, chúng ta vượt ngoài những gì mình dự kiến.’
Liệu luồng khi nóng mà ông Boyle cảm nghiệm khi Vicka Ivankovic-Mijatovic chạm tay vào đầu ông, có phải là một phần của việc chữa lành không? Theo quyển sách xuất bản năm 2006, Chứng thân nhiệt cao trong Điều trị Ung thư: Một Kích nổ [Hyperthermia in Cancer Treatment: A Primer], thì ‘sự hồi quy tự phát của một vài khối ung thư đã được mô tả có quan hệ với việc mở đầu một cơn sốt và kích hoạt mạnh mẽ hệ miễn dịch.’
Ông Boyle nói rằng dù ông tiếp tục đi thử nghiệm sau khi trở về từ Medjugorje, nhưng ‘chính đức tin cho tôi được bình an, để hệ miễn dịch của tôi tái kích hoạt và giết chết khối ung thư, đây là chuyện hoàn toàn do tay Chúa làm.’
Picture of Haitian dancers honoring the Black Madonna

Hình các vũ công Haiti tôn vinh Đức Mẹ Đen.

Đức Mẹ mang nhiều khuôn mặt. Ở Haiti, Mẹ là Ezili Dantò – Đức Mẹ Đen. Một nhân vật mẫu tử tha thiết cũng như một nữ thần, Ezili là một thần được tôn kính trong tôn giáo Vodou, kể từ sau cuộc Cách mạng Haiti. Các vũ công này đang chuẩn bị cho nghi lễ canh thức nửa đêm vinh danh Đức Maria.

Các hình ảnh và câu chuyện cụ thể về Đức Trinh nữ Maria quá mạnh mẽ, đến độ góp phần định hình một quốc gia. Đây là trường hợp ở Mễ Tây Cơ, của Đức Mẹ Guadalupe, với hình ảnh Mẹ trên tấm áo choàng tilma của một người thổ dân da đỏ vào năm 1951. Bất kỳ ai chứng kiến lòng mến và sự sùng kính tuôn tràn của những người hành hương với Madre yêu dấu của mình, trong ngày lễ Đức Mẹ Guadalupe, vốn được truyền hình trực tiếp toàn quốc vào ngày 12-12 hàng năm, thì đều thấy được Đức Trinh nữ Maria đã ghi sâu vào những trái tim và linh hồn người dân Mễ Tây Cơ đến thế nào.
Người Mễ mang hình ảnh Mẹ theo mình trong chiến trận chống lại Tây Ban Nha để giành độc lập vào năm 1810, và trong cuộc cách mạng nội bộ năm 1910. César Chávez tuần hành với lá cờ mang hình Đức Mẹ trong cuộc chiến đấu để thống nhất các nông dân ở California vào thập niên 1960. Đức Mẹ Guadalupe ban phúc lành ngay lập tức cho những đứa con lai Tây Ban Nha và thổ dân da đỏ, từng một thời bị miệt thị. Mẹ là biểu tượng cho la raza, định nghĩa về giá trị của người Mễ, và do bởi Đức Mẹ Guadalupe, mà người Mễ luôn tin rằng mình đặc biệt.
Bình minh ngày 11-12, một ngày trước lễ Đức Mẹ Guadalupe, tôi lái xe từ Mexico City về Puebla ở phía đông nam. Những người hành hương đi theo chiều ngược lại, họ hướng đến Vương cung Thánh đường Đức Mẹ Guadalupe, đền thánh lớn nằm ngay giữa lòng thủ đô. Dọc đường cao tốc xe cộ dập dìu, tôi thấy mọi người đi bộ, một mình hay với nhóm, những đội lái xe đạp mang áo quần như đồng phục, và vô số người khác với đủ phương tiện, mang theo mình những đèn màu chớp nháy, hoa vải, và những tượng Đức Mẹ đeo trên vai.
Tôi ghé vào một trại trong rừng, nơi những người hành hương ngủ đêm trên đất. Nhạc về Đức Mẹ vang lên từ các loa di động gần ánh lửa. Bữa sáng đã sẵn sàng, với trà, cà phê và bánh miễn phí. Một tình nguyện viên cho tôi biết, đến lễ Đức Mẹ Guadalupe, họ phục vụ cho 5000 người hành hương ở đây.
Vừa đưa cho tôi tách cà phê, anh tình nguyện viên Treno Garay nói, ‘Mễ Tây Cơ là của Đức Mẹ, và Đức Mẹ là của Mễ Tây Cơ.’ Bốn thế hệ phụ nữ trong cùng một gia đình cho biết, họ đi bộ 10 tiếng một ngày từ thành phố Papalotla, bang Tlaxcala, nhưng nghỉ đêm trong một chiếc xe tải của gia đình, được một người bà con lái theo. Một bà 77 tuổi, đang đi từ Santa Maria, ở bang Puebla, cùng với cháu trai 19 tuổi. Một tài xế xe tải từ California, đến đây hàng năm, cho tôi biết, ‘Ai ai cũng phải thăm mẹ của mình mà.’
Pictures of pilgrims on their way to visit the shrine of Our Lady of Guadalupe in Mexico City 3Pictures of pilgrims on their way to visit the shrine of Our Lady of Guadalupe in Mexico CityPictures of pilgrims on their way to visit the shrine of Our Lady of Guadalupe in Mexico City 2

Hình ảnh các người hành hương đang trên đường đến viếng đền thánh Đức Mẹ Guadalupe ở Mexico City.

Trong nhiều thế kỷ, Mẹ Maria, Đức Mẹ Guadalupe, là thánh bảo trợ của Mễ Tây Cơ, với lễ kính vào ngày 12-12. Hàng năm, hàng ngàn người hành hương như Felipe Méndez, 24 tuổi (bên trái)  và Esther Silva, 16 tuổi, lên đường đến đền thánh ở Mexico City. Sau nhiều ngày hay nhiều tuần đi bộ, những người hành hương tạ ơn và cầu nguyện xin Mẹ giúp đỡ hay chúc lành.

Sáng hôm sau, khi tôi đến quảng trường trước vương cung thánh đường, một dòng người chật cứng đủ mọi lứa tuổi, trong đó có cả Alejandra Anai Hernán de Romero, bà mẹ 18 tuổi mang theo đứa con 7 tuần tuổi đang ốm, bé Dieguito, sinh ra bị biến chứng thận. Khắp quảng trường, mọi người đang đi bằng đầu gối, và chỉ đứng dậy khi vào trong vương cung thánh đường. Nhiều người nước mắt lưng tròng. Hầu hết những người tôi trò chuyện đều nói họ đến đây để tạ ơn. Họ đã có lời hứa với Đức Mẹ, và Mẹ đã đáp lại lời họ cầu xin.
Trong vương cung thánh đường, sau bàn thờ chính, là tấm hình bằng vải của Đức Mẹ Guadalupe, đặt trong khung kính, nơi mà mọi tín hữu chăm chăm nhìn vào khi lần lượt xếp hàng đi ngang qua theo thứ tự. Theo giai thoại được giáo hội xác nhận, thì vào năm 1531, Đức Mẹ Giáo hội đã hiện ra với Juan Diego, một người thổ dân da đỏ đã được rửa tội, được phong thánh vào năm 2002. Mẹ nói bằng tiếng thổ dân Nahuatl, thúc dục anh hãy bảo với giám mục là Mẹ muốn một nhà thờ được xây trên nơi này, đồi Tepeyac, từng là nơi thờ nữ thần đất của Aztec.
Thánh Juan Diego không được giám mục đồng ý, ông muốn có một dấu chỉ mới được. Vậy nên Đức Mẹ bảo Juan trèo lên ngọn đồi, lấy vài bông hoa, và đem chúng đến với Giám mục. Hoa ở đây không nở vào tháng 12, nhưng Juan đã tìm được một bó hồng tuyệt đẹp, bọc trong áo choàng tilma của mình, được thêu bằng sợi cây thùa. Khi Juan đến gặp giám mục và mở áo choàng ra, thì các đóa hồng tràn ra, và cho thấy hình Đức Mẹ Guadalupe trên tấm tilma. Đây là lần duy nhất Đức Maria để lại một hình ảnh vẽ của mình.
Nhiều sử gia nghệ thuật xem đây là một bức họa tiêu chuẩn của châu Âu về Đức Mẹ, điển hình của thế kỷ XVI. Nhưng, trong nhiều thập niên qua, nhiều học giả giáo hội đã bắt đầu diễn giải hình tượng này là một sự kết hợp giữa hội họa chân dung của Công giáo và văn hóa Aztec. Theo các diễn giải mới đây, thì ngay cả một người thổ dân mù chữ sẽ ngay lập tức đọc được các ký hiệu như là một giáo lý không lời.
Our Lady of GuadalupeMái tóc đen rẽ ngôi giữa, có thể là biểu trưng cho người trinh nữ, nhưng trong hình, Mẹ lại mang một thắt lưng màu đen, dấu chỉ là đang có thai. Quanh cổ Mẹ là một chiếc vòng, không phải với viên đá thần màu xanh lá của Aztec, mà là một thánh giá. Đôi mắt nhìn xuống đượm buồn, cho thấy Mẹ không phải là một nữ thần. Cũng như thế, đôi bàn tay, chắp lại cầu nguyện, cũng cho biết là mẹ không phải thần thánh. Một chân Mẹ nhấc lên, cho thấy có thể Mẹ đang nhảy mừng khi cầu nguyện. Màu ngọc lam của áo choàng Mẹ mang, đối với người Aztec, là biểu trưng cho sự thiêng liêng và bầu trời. Họa tiết bông hoa bốn cánh ở chính giữa áo màu hồng của Mẹ, mang ý nghĩa Mẹ là Mẹ Thiên Chúa.
Khoảng giữa năm 1531 đến 1570, hình ảnh gốc trên tấm tilma của thánh Juan Diego đã được vẽ thêm. Theo một nghiên cứu hồi năm 1983, thì các ngôi sao hoàng kim được thêm vào tà áo choàng của Đức Mẹ, theo bố cục của buổi bình minh ngày 12-12-1531, ngày mà hình Đức Mẹ in lên áo choàng tilma của Joan Diego. Người Aztec rất tôn sùng thần mặt trời, và những ánh hào quang được thêm phía sau Đức Mẹ, ngụ ý rằng Mẹ đến từ thiên đàng và Thần Linh của Mẹ có quyền năng thần thiêng. Một giả thuyết nữa cho rằng, trong tiếng Nahuatl, từ “Mexico’ là kết hợp của 3 từ, nghĩa là ‘giữa trung tâm mặt trăng’ và trong hình, Đức Mẹ đang đứng giữa một mặt trăng lưỡi liềm màu đen. Mặt trăng này đội trên vai một thiên thần mang những nét thổ dân, có ý là Mẹ thống trị cả ánh sáng lẫn bóng tối.
Một điều đáng kinh ngạc, là tấm hình này không bị hư hại gì, dù cho tấm hình vải được treo trong vương cung thánh đường hơn một thế kỷ mà không có sự bảo vệ nào, dễ bị bụi bẩn và khói ám vào. ‘Mẹ in hình như trong một tấm ảnh chụp vậy,’ theo lời Nydia Mirna Rodríguez Alatorre, giám đốc bảo tàng vương cung thánh đường, cho biết hồi năm 1785, một công nhân làm việc tẩy khung bạc bên ngoài, đã lỡ tay làm đổ axit nitric lên tấm hình. Nhưng tấm hình vẫn không hề hấn gì. Một văn bản sau đó vài chục năm, cho biết axit đổ lên tấm hình, chỉ để lại một vết mờ như vệt nước mà thôi. Hồi năm 1921, Luciano Pérez Carpio, nhân viên trong văn phòng tổng thống Mễ Tây Cơ, chịu trách nhiệm làm suy yếu các tôn giáo, đã cho đặt một quả bom trong bình hoa dưới chân tượng. Vụ nổ phá tan bàn thờ, và làm cong thánh giá bằng đồng cũng như các chân đèn gần đó. Nhưng tấm hình Đức Trinh Nữ Maria vẫn không hề hấn gì.
Rodríguez Alatorre nói rằng, ‘Khi lòng sùng kính Đức Mẹ Guadalupe biến mất, thì bản chất của Mễ Tây Cơ cũng biến mất.’
Picture of a mother and daughter bathing in Saut d'Eau falls, Haiti

Hình ảnh một người mẹ và con gái đang tắm ở Saut d’Eau, Haiti

Một người mẹ và con gái ở Ville Bonheur, Haiti, tắm trong thác thiêng Saut d’Eau. Tương truyền, Đức Mẹ Đen [Ezili Dantò] đã hiện ra trên một cây cọ ở đây vào năm 1849. Cha Johann Roten, học giả về Đức Mẹ, nói rằng sự hiện diện của Đức Mẹ ở Caribbe, có thể xuất phát từ sự kết hợp giữa hai nền văn hóa, của người Công giáo từ Tây Ban Nha, và người gốc Phi trước khi trở lại Kitô giáo, nền văn hóa này bắt đầu từ đầu thế kỷ XVI.

Là người nữ duy nhất có riêng một sura, một chương của mình trong kinh Koran, Mẹ Maria được Thiên Chúa chọn ‘trên mọi phụ nữ khác trên thế giới’ vì sự tinh tuyền và vâng phục của Mẹ. Cũng như trong Kinh thánh, thì trong kinh Koran của Hồi giáo, một thiên thần đến báo tin Mẹ sẽ mang thai. Nhưng không như trong Kinh thánh, ở đây, Đức Mẹ, Maryam, sinh hạ một mình. Không có thánh Giuse.
Bakr Zaki Awad, trưởng khoa thần học tại Đại học Al Azhar, đại học thần học hàng đầu ở Cairo, cho biết, ‘Mẹ Maria là người tinh tuyền và nhân đức nhất trong tất cả mọi phụ nữ trên vũ trụ.’
Ở Ai Cập, tôi đã từng nói chuyện với những người Hồi giáo sùng đạo, những người vì lòng tôn kính Đức Trinh nữ Maria, mà không thấy có gì ngại ngùng khi viếng các nhà thờ Kitô giáo và cầu nguyện với Mẹ trong các nhà thờ hệt như trong đền thờ của mình. Một ngày nọ ở Cairo, tôi gặp hai phụ nữ Hồi giáo trẻ mang khăn choàng, đang đứng trước nhà thờ Abu Serga của giáo hội Coptic, được xây dựng trong một hang động từng là nơi ở của Thánh Gia. Lúc đó đang là đêm trước lễ Phục Sinh của người Coptic, và bên trong, các giáo dân đang hát thánh ca và cầu nguyện nhiều giờ. Bên ngoài, hai phụ nữ này nói rằng họ yêu mến Đức Mẹ, khi được biết về Mẹ qua kinh Koran.
Youra, 21 tuổi, nói rằng, ‘Câu chuyện đời của Mẹ nói cho chúng tôi rất nhiều điều. Mẹ có thể đối diện với rất nhiều khó khăn trong đời, đó là nhờ đức tin của Mẹ, niềm tin vào Thượng đế.’ Bạn của Youra, cô Aya thêm rằng, ‘Có một chương mang tên Mẹ trong kinh Koran, vậy nên chúng tôi tò mò muốn biết trong nhà thờ thì như thế nào.’
Tôi đã gặp Nabila Badr, 53 tuổi, tại một nhà thờ Coptic bên dòng sông Nile, ở một góc Cairo, tên là Al Adaweya, một trong nhiều nơi ở Ai Cập mà Thánh gia từng dừng chân. Badr là một bà mẹ của 3 người con, và là một nhà tổ chức sự kiện cho thống đốc một bang gần Cairo. Cùng với kinh Koran, trong túi, cô còn mang theo các huy hiệu Kitô giáo với hình Đức Trinh nữ Maria. Trong một căn phòng nhỏ phía sau nhà thờ, Badr hòa vào những người Kitô hữu Coptic đang cầu nguyện ở đây, thắp nến, cúi đầu, và cầu nguyện với tượng Đức Mẹ trên tường, tương truyền từng đổ nước mắt. Badr nói rằng cô nói chuyện với Đức Mẹ về cuộc sống mình, và cho biết nhiều lần Đức Mẹ đã trả lời cô bằng những thị kiến trong mơ và về sau thành sự thật.
Picture of volunteers pushing the wheelchairs of pilgrims in Lourdes

Hình các tình nguyện viên đẩy xe lăn cho khách hành hương ở Lộ Đức.

Ở Lộ Đức, một thành phố nhỏ ở Pháp, với danh tiếng về các phép lạ và dấu chỉ của Đức Mẹ, các tình nguyện viên giúp đỡ đẩy xe lăn cho những khách hành hương mắc bệnh kinh niên hay nan y. Mỗi năm, khoảng 80.000 người bệnh hay khuyết tật, tìm đến đền thánh Đức Mẹ này để xin ơn lành bệnh.

Như nhiều người Ai Cập khác, Bard cũng tin vào jinn, hay các linh thần tác động lên những chuyện tốt xấu trong đời, dù cho cô nhận là mình có thiên thần riêng của mình.’ Cô nói, ‘Và thiên thần cũng tin vào Đức Trinh nữ Maria.’ Cô Badr thường xin Đức Mẹ chuyển cầu, và cô còn viết một bài thơ cho Mẹ Maria. Cô cho biết, ‘Khi thấy chán nản, tôi cầu nguyện với Thượng đế rất nhiều, nhưng tôi cũng xin Mẹ Maria chỉ bảo nữa, và sau một hồi, mọi sự an bình trở lại.’
Tại nhà thờ Đức Mẹ ở Zaytun, phụ cận Cairo Cũ, tương truyền Đức Mẹ đã hiện ra trong thinh lặng với ánh sáng trắng bao quanh, trên mái vòm nhà thờ vào ban đêm, trong khoảng 3 năm từ 1968 đến 1971. Có lúc Đức Mẹ hiện ra với các chú bồ câu trắng lấp lánh. Yohanna Yassa, một linh mục Coptic đã mục vụ ở nhà thờ Đức Mẹ từ năm 1964, cho tôi biết các phụ nữ Hồi giáo muốn có thai thường đến nhà thờ này cầu nguyện. ‘Hôm nay, có một bà đến xin ơn. Đức Mẹ đang gọi mời chúng ta, và vì thế cả Kitô hữu lẫn người Hồi giáo đều yêu mến và tôn kính Mẹ.’
 Picture of a man bathing in the Massabielle Grotto at Lourdes

Hình một người đàn ông tắm trong Massabielle Grotto ở Lộ Đức. Các tình nguyện viên giúp một người đàn ông tắm dòng nước lạnh chảy ra từ suối ở Lộ Đức.

Massabielle Grotto là nguồn gốc danh tiếng của Lộ Đức kể từ năm 1858, khi Đức Mẹ hiện ra với một cô gái và bảo cô hãy đào một dòng suối nơi vùng đất đá rắn. Một vũng nước sớm thành một hồ, và cuối cùng là nguồn nước thiêng, hàng năm có đến 6 triệu người hành hương đến đây.

Theo nhiều con đường khác nhau của Mẹ Maria, tôi học biết được rằng, Mẹ thường hiện ra với những người ở các vùng khủng hoảng, như Kibeho và Bosnia-Herzegovina, tìm cách để cảnh báo hiểm nguy hay trở nên một biểu tượng chữa lành. Và đã có nhiều hiện tượng chữa lành được cho là phép lạ, như ở Medjugorje, còn việc chữa lành phần hồn thì không kể hết. Lộ Đức, điểm hành hương Đức Mẹ nổi tiếng nhất, nằm ở dưới chân dãy Pyrenees, miền tây nam nước Pháp, như một nhà máy phép lạ, với hơn 7000 lần chữa lành phi thường kể từ giữa thập niên 1800. Chỉ có 69 trường hợp được giới chức giáo hội chính thức công nhận.
Ở Lộ Đức, với hơn trăm mét vuông, 6 triệu người viếng thăm mỗi năm, đủ không gian cho 25.000 người thờ phượng trong vương cung thánh đường ngầm rộng lớn. Vương cung thánh đường này được xây cất vào năm 1958, để kỷ niệm 100 năm Đức Trinh nữ Maria lần đầu hiện ra vào năm 1858, với Bernadette, một cô bé nông dân 14 tuổi. (Thánh Bernadette được phong thánh vào ngày 08-12-1933) Hang động Đức Mẹ Lộ Đức gần đó, với các tảng đá ghi dấu hàng triệu dấu chân, là nơi Đức Mẹ bảo Bernadette dùng tay không múc bùn để khơi thông một dòng suối. Dòng nước kỳ diệu này là nguồn nước tắm, mà mỗi ngày hàng ngàn người bệnh tật đến đây xin được chữa lành. Các tình nguyện viên đẩy những người bệnh trên những xe nhỏ màu xanh, sắp hàng nối đuôi nhau trên những con đường nhỏ của Lộ Đức.
Hôm tôi đến suối, trời đổ mưa và lạnh. Có một nguyên tắc nghiêm ngặt về cách thức thay đồ và mang một tấm vải màu sáng quanh mình, để được một mình ngụp nhanh chóng trong bồn nước, với sự hỗ trợ của hai tình nguyện viên đỡ hai tay. Một bà người Ireland bảo tôi, ‘Nói ý nguyện xin, làm dấu thánh giá, rồi chúng tôi sẽ trầm bạn xuống.’ Và thế là bạn trải qua thời gian nhấn chìm trong làn nước lạnh buốt, nhưng là một thời khắc an bình thâm sâu.
Không lâu sau Thế chiến II, các quân nhân của Đức và Pháp gặp nhau tại Lộ Đức, để hòa giải và hàn gắn các vết thương do chiến tranh, và bây giờ cứ mỗi độ xuân về, các nhóm cựu quân nhân lại hòa vào làn người hành hương. Ngày 14-5-2015, tôi đến Lộ Đức cùng 184 thương binh, các quân nhân Hoa Kỳ phục vụ ở Irắc và Afghanistan, cùng với gia đình họ. Chuyến đi được tài trợ bởi Tổng giáo phận và Các Hiệp sỹ Columbus. Họ đến để dự cuộc hành hương thường niên của các quân nhân (năm nay là từ 35 nước khác nhau) để mừng hòa bình. Trong suốt phần đời còn lại, tất cả những con người can trường âm thầm này, và những ai nâng đỡ họ, phải chiến đấu với các tổn thương từ những lần ra trận.
Trong số đó, có một trong người phụ nữ phi thường nhất mà tôi từng gặp. Đại tá Dorothy A. Perkins, 60 tuổi, một vận động viên 3 môn phối hợp và là mẹ của hai người con, chỉ huy tiểu đoàn 480 lính ở Fort Hood, Texas, vào thời điểm Hoa Kỳ bị tấn công vụ 11-9-2001. Bởi tiểu đoàn của bà là tiểu đoàn duy nhất mà quân binh thành thạo về phản gián và thẩm vấn, nên bà giám sát việc triển khai quân đến 5 quốc gia, và bà gởi một nhóm đến Vịnh Guantánamo để triển khai cơ sở cho POWs. Cho đến vụ 11-9, bà Perkins đã đến Irắc hai lần cùng với Ủy ban Đặc biệt của Liên hiệp quốc, trên tư cách trưởng nhóm thanh tra vũ khí, và đã có hơn chục năm trong các đơn vị đặc biệt của quân đội. Năm 2006 đến 2007, bà là cố vấn chính cho đại sứ Hoa Kỳ về các vụ bắt cóc con tin ở Irắc.
Bà Perkins lớn lên từ một cô bé da trắng nghèo sống giữa vùng nội thành hầu hết là người da đen ở Tacoma, Washington, với sự hỗ trợ có cũng như không từ mẹ mình và bố dượng nghiện rượu. Mười tuổi, cô bé đã đi hái berry ngoài cánh đồng. Cô học tiếng Đức trong thời gian giữa trung học và cao đẳng, thời gian cô làm việc như một ‘nô tỳ bắt buộc,’ dọn dẹp phòng trong một khách sạn của gia đình ở dãy Alps thuộc Đức. Thú vui duy nhất của cô lúc đó là đi bộ trên các đường mòn núi non, nơi cô gặp một đền thánh nhỏ kính Đức Mẹ.
Picture of pilgrims lighting candles in Deir al Adra monastery in Egypt

Hình ảnh các người hành hương thắp nến ở tu viện Deir al Adra, Ai Cập.

Ở tu viện Deir al Adra, Minya, Ai Cập, người Hồi giáo và Kitô giáo, đều thắp nến để kính nhớ nơi mà Thánh Gia đã ngụ lại trong thời gian trốn chạy đến Ai Cập. Một lễ hội kính Đức Mẹ ở vùng này, thu hút 2 triệu tín hữu hàng năm.

Bà Perkins cho biết, ‘Đức tin của tôi luôn luôn là cốt lõi con người tôi. Đây là một lựa chọn tôi đã thực hiện từ thời trẻ.’ Bà cho biết, khi không thể nương tựa nơi gia đình, Đức Trinh nữ Maria trở thành nơi cho bà nương tựa. ‘Mẹ yêu thương bạn như bạn muốn. Qua Mẹ đến với Chúa, Mẹ tập trung tôi vào việc kết thân gần gũi hơn nữa với Chúa Giêsu.’
Bà Perkins gia nhập Đại học San Francisco, một trường dòng Tên, trong suốt 12 năm, nhưng sau đó bà tốt nghiệp trường Suny, Albania. Khi ở San Francisco, bà nhận việc ở Macy, và dần trở thành điều hành cấp cao. Hồi ở trường, bà đã gia nhập quân lực dự bị. Sau khi kết hôn với Green Beret, bà đăng ký gia nhập quân đội toàn thời gian, và làm việc trong ngành phản gián.
Với bà Perkins, ‘Lộ Đức thực sự thúc đẩy mỗi một người nhìn vào phần hồn của mình. Mọi sự luôn luôn ập đến quá nhanh. Chúng ta bị chôn vùi trong truyền thông và kẹt cứng trong cái ngày qua ngày. Người ta không thúc mình nhìn vào những gì quan trọng nhất, là sự chính trực của linh hồn.’
Trong nghi thức kết lễ ở vương cung thánh đường, một trong các giám mục Âu châu, nói bằng tiếng Pháp, ‘Chiến tranh thế giới III đang diễn ra ở Trung Đông và châu Phi.’ Ngài tôn vinh quân đội vì biết tập trung vào ‘hòa bình, công lý, và nhân quyền. Mong sao cảm nghiệm này khiến các bạn làm chứng cho hi vọng.’
Tôi nghĩ về cảnh tượng không thể nào quên của buổi rước kiệu nến trong đêm trước đó, khi hàng ngàn người hành hương, từ mọi nơi, Argentina cho đến Zambia, đang lặng lẽ thắp lên cây nến của mình với lời cầu nguyện. Cuối cùng là vài chục cựu chiến binh trên xe lăn tiến tới phía trước, gần Hang Đức Mẹ Lộ Đức, hát ca và cầu nguyện. Quá nhiều linh hồn mong mỏi làm chứng cho hi vọng, quá nhiều linh hồn thấm đẫm một niềm tin rằng Đức Trinh nữ Maria đang thắp sáng dẫn đường cho họ.
Picture of a young boy reaching to touch a painting of Mary

Hình ảnh một cậu bé vươn lên để chạm vào bức họa Đức Mẹ

Một cậu bé ở tu viện Deir al Adra, vươn lên để chạm vào hình Đức Mẹ. Trong kinh Koran, Maryam hay Mẹ Maria, là người nữ thánh thiện nhất. ‘Vậy nên Đức Trinh nữ Maria hoàn toàn không xa lạ với người Hồi giáo. Thật vậy, bất kỳ nơi đâu có mối liên kết giữa Kitô hữu và người Hồi giáo, hay bất kỳ nhóm nào biết và yêu mến Mẹ, thì có một giá trị chung giữa họ, nơi người mẹ chung này.’


 Mary - The most powerful woman
Maureen Orth, nhà báo từng đoạt nhiều giải thưởng, là cộng tác viên của Vanity Fair, đã đi khắp thế giới và kể lại những câu chuyện thật không ngờ của mình, kể từ thời cô còn là tình nguyện viên cho Peace Corps hồi thập niên 1960.
Ngày chúa nhật, 13-12, Kênh National Geographic sẽ bắt đầu loạt phim về Tôn kính Đức Mẹ.

J.B. Thái Hòa chuyển dịch