Thứ Hai, ngày 26 tháng 9 năm 2016

Tổng Quan Về Ba Thư Gioan




Lm. Giuse Lê Minh Thông, OP.


---------------------------------------

Nội dung

I. Tác giả và niên biểu Ba thư Gio-an

     1. Tác giả

     2. Niên biểu

II. Cấu trúc và nội dung ba thư Gio-an

     1. Thư thứ nhất Gio-an

          a) Cấu trúc

          b) Nội dung

     2. Thư thứ hai Gio-an

          a) Cấu trúc

          b) Nội dung

     3. Thư thứ ba Gio-an

          a) Cấu trúc

          b) Nội dung

III. Bối cảnh thư thứ nhất Gio-an

     1. Tình trạng chia rẽ trong cộng đoàn

     2. Thiên tính và nhân tính của Đức Giê-su

     3. Mời gọi hiệp thông

IV. Kết luận

-----------------------------------------

******

I. TÁC GIẢ VÀ NIÊN BIỂU BA THƯ GIOAN

1. Tác giả

Các thư Gio-an không cho biết rõ tên tác giả. Thư 1Ga cũng không cho biết chức vụ của tác giả. Trong lời tựa (1Ga 1,1-4), tác giả tự xưng ở ngôi thứ nhất, số nhiều: “Chúng tôi”. Giáo huấn và lời mời gọi trong 1Ga cho phép hiểu tác giả là một cá nhân hay tập thể đứng đầu cộng đoàn và có trách nhiệm điều chỉnh những sai lạc trong cộng đoàn Ki-tô hữu.

Thư 2Ga và 3Ga không cho biết tên của tác giả nhưng cho biết chức vụ. Tác giả là kỳ mục. Bối cảnh và nội dung của thư 2Ga và 3Ga khác nhau, nhưng về cấu trúc hai thư này đều có lời mở đầu và lời kết, nên có thể giả thuyết là thư 2Ga và 3Ga do một kỳ mục viết. Tuy nhiên, vì tình trạng bản văn không cho phép xác định ba thư Gio-an là do một người, hai người hay ba người viết. Về nội dung, 1Ga và 2Ga có liên hệ với nhau, và hai thư này có từ ngữ và ý tưởng liên hệ với Tin Mừng Gio-an. Còn thư 3Ga, tuy vẫn có xung đột nhưng không liên hệ nhiều đến 1Ga và 2Ga, có thể hiểu 3Ga được được viết sau 1Ga và 2Ga.

Truyền thống gán cho tông đồ Gio-an, con ông Dê-bê-đê là tác giả của Tin Mừng Gio-an và ba thư Gio-an. Tuy nhiên khi phân tích nội dung bản văn, có thể nói về các tác giả của Tin Mừng và Ba thư Gio-an như sau:

Đứng đầu trường phái Gio-an là “người môn đệ Đức Giê-su yêu mến”, người môn đệ này đã viết lại lời chứng và để lại bút tích trong Tin Mừng Gio-an (Ga 19,35; 21,24). Nhóm biên soạn Tin Mừng Gio-an khẳng định: “Chính môn đệ này [người môn đệ Đức Giê-su yêu mến] là người làm chứng về những điều đó và người đã viết những điều này, và chúng tôi biết rằng lời chứng của người ấy là xác thực” (Ga 21,24).

Nội dung Tin Mừng Gio-an hiện nay cho thấy Tin Mừng được biên soạn qua nhiều giai đoạn. Nên tác giả (hay nhóm tác giả) của Tin Mừng Gio-an thuộc nhóm các môn đệ của người môn đệ Đức Giê-su yêu mến. Nhóm này được gọi là “trường phái Gio-an” (école Johannique) đã sưu tập tài liệu, biên soạn và xuất bản Tin Mừng thứ tư như chúng ta có hiện nay.

Đến giai đoạn ba thư, tác giả của các thư Gio-an cũng thuộc “trường phái Gio-an”, vì một số đề tài trong 1Ga và 2Ga lấy trong sách Tin Mừng. Ba thư được viết sau Tin Mừng vì những xung độ trong thư Gio-an có thể đã xảy ra sau khi Tin Mừng Gio-an được biên soạn.

2. Niên biểu

Có thể dựa vào bốn dấu hiệu sau đây để xác định niên biểu của ba thư Gio-an:

1. Nội dung ba thư Gio-an bàn về cách hiểu đúng đắn và lối giải thích sai lạc về vai trò của Đức Giê-su đã trình bày trong sách Tin Mừng.

2. Các thư 1Ga và 2Ga nhắc lại điều răn mới là điều răn yêu thương trong Tin Mừng Gio-an (Ga 13,34; 15,12).

3. Ngôn từ trong các thư Gio-an có liên hệ với Tin Mừng Gio-an, đặc biệt trong lời tựa 1Ga 1,1-4.

4. Trong sách Tin Mừng Gio-an không có dấu hiệu xung đột và chia rẽ giữa nhóm các môn đệ về thiên tính và nhân tính của Đức Giê-su. Trong khi các thư Gio-an bàn về những vấn đề của cộng đoàn liên quan đến đề tài trên.

Những nhận xét trên cho phép hiểu hai thư 1Ga và 2Ga có thể được biên soạn ít lâu sau khi xuất bản sách Tin Mừng. Thư 3Ga nói đến sinh hoạt cộng đoàn với những bất đồng giữa các vị có trách nhiệm trong cộng đoàn, nên có thể được viết sau 2Ga.

Có thể đưa ra niên biểu các bản văn Gio-an như sau:

Tin Mừng Gio-an: 90 – 95 CE (Christian Era).

Ba thư Gio-an:    95 – 100 CE, theo thứ tự: 1Ga, 2Ga, 3Ga.   

II. CẤU TRÚC VÀ NỘI DUNG BA THƯ GIOAN

1. Thư thứ nhất Gioan

a) Cấu trúc

Ngoài lời tựa (prologue) và lời kết (épilogue), thư thứ nhất Gio-an có thể cấu trúc thành ba phần song song:

A, B, C, // A’, B’, C’, // –, B’’, C’’ (khuyết yếu tố A’’).


b) Nội dung

Trong 3 thư Gio-an, thư thứ nhất Gio-an dài hơn cả, gồm 5 chương (thư thứ hai Gio-an: 13 câu và thư thứ ba Gio-an: 15 câu). Trong thư 1Ga, tác giả kêu gọi cộng đoàn sống hiệp thông với tác giả. Bởi vì có những kẻ tách ra khỏi cộng đoàn, gieo rắc giáo lý sai lạc, và lôi cuốn Ki-tô hữu đi vào con đường đó. Tác giả đưa ra những lập luận cho thấy đạo lý sai lầm của nhóm ly khai mà tác giả gọi là phản Ki-tô và ngôn sứ giả. Tác giả mời gọi cộng đoàn đề phòng lạc thuyết, nắm vững đạo lý chính thống và sống điều răn yêu thương đã được Đức Giê-su trao ban trong Tin Mừng Gio-an.

2. Thư thứ hai Gioan

a) Cấu trúc

Thư thứ hai Gio-an có 13 câu và cấu trúc như sau:

1-3:     Lời chào

4-6:     Điều răn yêu mến

7-11:   Những kẻ phản Ki-tô

12-13: Lời kết thúc

b) Nội dung

Bối cảnh 2Ga khá giống 1Ga, tác giả là một kỳ mục viết thư cho người đứng đầu cộng đoàn Ki-tô hữu. Trước là để mời gọi đứng vững trong sự thật và sống điều răn yêu thương mà Đức Giê-su đã ban cho cộng đoàn các môn đệ (Ga 13,34; 15,12). Thứ đến tác giả nói đến nhóm phản Ki-tô và dặn dò cộng đoàn phải đề phòng và tránh xa những giáo lý sai lạc của nhóm này.

3. Thư thứ ba Gioan

a) Cấu trúc

Thư thứ ba Gio-an có 15 câu và cấu trúc như sau:

1-2:     Lời chào

3-8:     Ca tụng ông Gai-ô

9-11:   Hành vi của ông Đi-ốt-rê-phét

12:      Làm chứng cho ông Đê-mết-ri-ô

13-15: Lời kết thúc

b) Nội dung

Thư 3Ga không nhắc đến nhóm phản Ki-tô, tác giả thư là một kỳ mục, thư gửi cho ông Gai-ô. Tác giả ca ngợi ông Gai-ô và than phiền về người đứng đầu cộng đoàn ông Gai-ô là ông Đi-ốt-rê-phét. Cuối thư tác giả làm chứng cho ông Đê-mết-ri-ô.

III. BỐI CẢNH THƯ THỨ NHẤT GIOAN

Thư thứ nhất Gio-an được viết trong bối cảnh đặc biệt, khác với bối cảnh của Tin Mừng thứ tư. Nội dung thư 1Ga cho thấy khủng hoảng trầm trọng đã xảy ra ngay giữa cộng đoàn người tin. Tác giả cho biết nguyên nhân gây khủng hoảng, qua đó mời gọi cộng đoàn nắm vững đạo lý và sống hiệp thông với nhau. 

1. Tình trạng chia rẽ trong cộng đoàn

Sự chia rẽ, xung đột và căng thẳng đã xảy ra, khi một nhóm trong cộng đoàn hiểu sai vai trò của Đức Ki-tô. Tác giả thư thứ nhất Gio-an tố cáo nhóm này ở 1Ga 2,22: “Ai là kẻ dối trá, nếu không phải là người chối bỏvà cho rằng Đức Giê-su không phải là Đấng Ki-tô? Người ấy là tên phản Ki-tô, là kẻ chối bỏ Cha và Con” (1Ga 2,22).

Nhóm sai lạc này đã từng là thành viên của cộng đoàn, nhưng họ không thuộc về cộng đoàn nữa. Tác giả viết ở 1Ga 2,19: “Chúng [những kẻ phản Ki-tô] xuất thân từ nơi chúng ta, nhưng chúng không thuộc về chúng ta; vì nếu chúng thuộc về chúng ta, chúng đã ở lại với chúng ta. Nhưng để tỏ hiện ra là không phải tất cả thuộc về chúng ta.”

Trong bối cảnh này, tác giả nói với các thành viên còn ở lại trong cộng đoàn ở 1Ga 2,18-19: “18 Hỡi các con thơ bé, đây là giờ cuối cùng, như anh em đã nghe là tên phản Ki-tô sẽ đến, và giờ đây nhiều tên phản Ki-tô đã xuất hiện. Do đó, chúng ta biết rằng đây là giờ cuối cùng. 19 Chúng xuất thân từ nơi chúng ta, nhưng chúng không thuộc về chúng ta; vì nếu chúng thuộc về chúng ta, chúng đã ở lại với chúng ta. Nhưng để tỏ hiện ra là không phải tất cả thuộc về chúng ta.”

Những lời trên của tác giả cho thấy cộng đoàn đang bị chia rẽ. Có một nhóm đã tách rời khỏi cộng đoàn và trở thành “phản Ki-tô”, “ngôn sứ giả” (1Ga 4,1.4.5) và là “kẻ dối trá” (1Ga 2,22). Đây là khủng hoảng thần học và Ki-tô học. Câu hỏi đặt ra là sai lạc ở chỗ nào?

2. Thiên tính và nhân tính của Đức Giê-su

Có thể cho rằng nguyên nhân gây chia rẽ trong 1Ga là cách hiểu khác nhau về vai trò và sứ vụ của Đức Giê-su. Tác giả viết ở 1Ga 4,2-3: “2 Trong điều này, anh em biết thần khí của Thiên Chúa: Mọi thần khí tuyên xưng Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã đến trong thân xác là bởi Thiên Chúa. 3 Mọi thần khí nào phân chia (luei) Đức Giê-su thì không bởi Thiên Chúa, đó là thần khí của tên phản Ki-tô (antikhristou) mà anh em đã nghe là nó đang tới và hiện nay nó ở trong thế gian rồi.”

Động từ “luô” (phân chia) trong câu 4,3a có hai dị bản (variante): Dị bản thứ nhất dùng động từ: “homologeô” (tuyên xưng, confesser): “không tuyên xưng Đức Giê-su.” Dị bản thứ hai dùng động từ “luô” (huỷ bỏ, phân chia, séparer, diviser): “phân chia Đức Giê-su.” Một số bản dịch chọn dị bản “mê homologei” (không tuyên xưng) vì dị bản này có trong nhiều thủ bản quan trọng (xem các dị bản trong phần chú thích của NTG 27ème édition). Còn dị bản “luei ton Iêsoun” (phân chia Đức Giê-su) chỉ xuất hiện trong các thủ bản (manuscrits) La Tinh và nơi một số Giáo phụ (xem chú thích của NTG 27ème édition). Bản dịch BJ (Bible de Jérusalem) chọn dị bản “homologeô” (tuyên xưng). Bản dịch TOB (Traduction œcuménique de la Bible) chọn dị bản “luô” (phân chia). Các tác giả R. E. Brown (The Epistles of John, (AB 30), New York (NY), Doubleday, 1982, p. 485-511) và J. Painter (1, 2, and 3 John, (SPS 18), Collegeville (MN), The Liturgical Press, 2002, p. 253-264) chọn dị bản “luô”. Cùng với các tác giả trên, chúng tôi chọn dị bản “luô” (phân chia).

Lý do là dị bản “luô” (phân chia, chia rẽ) phù hợp với bối cảnh thư thứ nhất Gio-an. Theo đó, những kẻ phản Ki-tô đã phân chia, tách biệt nhân tính và thiên tính của Đức Ki-tô. Nên 1Ga 4,3 muốn nói rằng những kẻ phản Ki-tô đã tách rời “Đức Giê-su lịch sử” khỏi “Đức Ki-tô của lòng tin”, như thế là sai lạc, không đúng với mặc khải của Thiên Chúa như tác giả khẳng định ở 1Ga 4,2b: “Mọi thần khí tuyên xưng Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã đến trong thân xác là bởi Thiên Chúa.”

Kiểu nói: “Đến trong thân xác” vừa gợi đến mầu nhiệm nhập thể, vừa ám chỉ sứ vụ công khai và sự chết của Đức Giê-su trong thân phận làm người. Như thế, theo tác giả thư thứ nhất Gio-an, nhân tính của Đức Giê-su không thể tách rời khỏi thiên tính của Người. Những kẻ phản Ki-tô đã sai lạc vì họ không tuyên xưng “Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã đến trong thân xác” (1Ga 4,2). Họ đã phân chia Đức Giê-su (1Ga 4,3) và tách rời “Đức Giê-su” (nhân tính) và “Đức Ki-tô” (thiên tính). Những kẻ phản Ki-tô đã hiểu sai giáo huấn và đạo lý chính thống của cộng đoàn. Từ đó dẫn đến những lệch lạc về đạo đức và luân lý.

3. Mời gọi hiệp thông

Phần trên cho thấy đã xảy ra khủng hoảng trầm trọng và chia rẽ trong cộng đoàn thư thứ nhất Gio-an. Vì thế, nhiều lần tác giả mời gọi các thành viên trong cộng đoàn hiệp thông (koinônia) với nhau (1Ga 1,3a.3b.6.7). Tác giả kêu gọi ở 1Ga 1,3: “Điều chúng tôi thấy và chúng tôi nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em, để chính anh em cũng có sự hiệp thông với chúng tôi. Sự hiệp thông của chúng tôi với Cha và với Con của Người, Đức Giê-su Ki-tô.”

Tác giả thư thứ nhất Gio-an còn kêu gọi tuân giữ điều răn yêu thương. Điều răn này không phải là điều răn mới, bởi vì đã có ngay từ khởi đầu. Khi cộng đoàn đầu tiên được thành lập, Đức Giê-su đã ban điều răn yêu thương cho cộng đoàn các môn đệ ở Ga 13,34; 15,12.

IV. KẾT LUẬN

Tìm hiểu Ba thư Gio-an là bước vào thế giới của bản văn và rút ra từ đó những điều thiết thực cho độc giả này nay. Bản văn không nói rõ ai là tác giả của các thư Gio-an, nên điều này không quan trọng. Điều quan trọng là chú ý tìm hiểu bản văn để hiểu thông điệp gửi tới cho độc giả qua lá thư. Chẳng hạn hoàn cảnh khó khăn và những lời mời gọi trong thư 1Ga gợi đến hoàn cảnh cộng đoàn mà độc giả đang sống. Qua bản văn độc giả biết được cách hiểu đúng đắn về Đức Giê-su và tránh rơi vào con đường sai lạc. Đồng thời độc giả biết phải làm gì để giữ vững niềm tin và xây dựng cộng đoàn. Theo tác giả thư 1Ga, cộng đoàn được xây dựng dựa trên “sự hiệp thông” và “thực hành điều răn yêu thương”. Nhờ đó có thể thẩm định và phân biệt “thần khí sự thật” và “thần khí sai lầm”, “ngôn sứ thật” và “ngôn sứ giả”. Về phía độc giả, chúng ta học hỏi được gì qua các thư Gio-an? Làm gì để trách hiểu sai về Đức Giê-su? Và dựa vào đâu để xây dựng công đoàn?

http://daminhvn.net/tim-hieu-kinh-thanh/tong-quan-ve-ba-thu-gioan-5105.html

Hôn Nhân Và Gia Đình Trong Tin Mừng Gio-an

 
Dẫn nhập: 

Tin Mừng Gio-an (Tin Mừng) kể về cuộc đời và sứ vụ của Đức Giê-su, vậy có thể nói gì về “đời sống hôn nhân và gia đình trong Tin Mừng này”? Bài viết tập trung vào một số đoạn văn để tìm hiểu đề tài trên. Câu hỏi đặt ra từ hai phía: Hôn nhân và gia đình góp phần thế nào vào sứ vụ và mặc khải của Đức Giê-su? Đức Giê-su mang lại điều gì thiết thực cho đời sống hôn nhân và gia đình? Phần trình bày gồm ba mục: (I) “Rượu ngon” trong đời hôn nhân; (II) “Sinh con” và “làm con”; (III) Gia đình ruột thịt và gia đình người tin.
Các trích dẫn không có tên sách là của Tin Mừng Gio-an và được lấy trong bản dịch: Giuse Lê Minh Thông, Bản văn Gio-an, Tin Mừng và ba thư, Hy Lạp – Việt, Nxb. Tôn Giáo, 2011. Một số từ Hy Lạp được nói đến luôn kèm theo nghĩa tiếng Việt.


I. “Rượu ngon” trong đời hôn nhân

Tin Mừng chỉ dùng từ “tiệc cưới” 2 lần (2,1.2) trong dấu lạ đầu tiên tại Ca-na (2,1-12). Câu chuyện mở đầu ở 2,1-2: “1 Ngày thứ ba, có tiệc cưới tại Ca-na miền Ga-li-lê, và thân mẫu Đức Giê-su ở đó. 2 Đức Giê-su và các môn đệ của Người cũng được mời đến tiệc cưới.” Hai câu này giới thiệu các nhân vật của trình thuật: thân mẫu, Đức Giê-su và các môn đệ. Bản văn không giới thiệu cô dâu, chú rể, cũng không kể về diễn tiến tiệc cưới mà đi vào vấn đề chính: “hết rượu” ở 2,3: “Vì thiếu rượu, thân mẫu Đức Giê-su nói với Người: ‘Họ không có rượu nữa’.” Sau khi Đức Giê-su làm dấu lạ: 6 chum đầy nước (tất cả khoảng 600 lít) hoá thành rượu ngon, người quản tiệc gọi chú rể và nói: “Mọi người đãi rượu ngon trước, và khi khách đã ngà ngà mới đãi rượu xoàng hơn. Còn anh, anh giữ rượu ngon đến bây giờ” (2,10). Trình thuật kết luận trong câu tiếp theo 2,11: “Đức Giê-su đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Ca-na, miền Ga-li-lê, Người đã tỏ vinh quang của Người, và các môn đệ của Người đã tin vào Người.” Khung cảnh tiệc cưới trở thành nơi Đức Giê-su “bày tỏ vinh quang” và các môn đệ đã nhận ra và “đã tin vào Người”
Đoạn Tin Mừng này thường đọc trong lễ cưới với nhiều ý nghĩa. Trước hết sự hiện diện của thân mẫu, Đức Giê-su và các môn đệ cho thấy tầm quan trọng của tiệc khởi đầu đời sống hôn nhân. Các ngài hiện diện để chia sẻ niềm vui, giúp đỡ và nhất là giải quyết vấn đề khó khăn: “hết rượu”. Liệu tiệc cưới ngày nay còn cảm nhận được sự hiện diện quý báu của thân mẫu, Đức Giê-su các môn đệ không? Hôn nhân ngày nay có thể gặp những khó khăn như thiếu tình yêu, thiếu quảng đại, thiếu hiểu biết, không thể tha thứ và đón nhận nhau... đó là dấu chỉ “hết rượu” trong đời hôn nhân.
Theo lời ông quản tiệc, người ta thường đãi “rượu ngon” trước, “rượu xoàng” sau, nhưng theo mạch văn thì rượu đãi trước trong tiệc cưới (giả thiết là rượu ngon) thì trở thành “rượu xoàng” khi so với “rượu hảo hạng” Đức Giê-su ban tặng cách dồi dào. Mạch văn cho phép hiểu, khả năng của con người chỉ làm được từ “rượu xoàng” đến “rượu xoàng hơn” để đãi nhau. Nếu đời hôn nhân mà không có “rượu ngon” thì nguy cơ đổ vỡ có thể xảy ra. Để đời sống hôn nhân và gia đình luôn được tươi mới bằng thứ “rượu hảo hạng” và không sợ “hết rượu” thì cần có sự hiện diện của thân mẫu và của Đức Giê-su. Nhất là nhận ra “vinh quang” của Người và “tin vào” Người. Với thứ “rượu chất lượng cao” Đức Giê-su ban tặng, vợ chồng có thể vượt qua những khó khăn thử thách trong đời hôn nhân và đứng vững trước những tác động tiêu cực đến từ bên trong cũng như bên ngoài.
Đức Giê-su khởi đầu sứ vụ công khai tại tiệc cưới, và giới thiệu với mọi người thứ “rượu mới” (so với Cựu Ước) có thể mang lại niềm vui đích thực cho đời sống hôn nhân. Tiếp theo Người dùng hình ảnh “sinh con” và “làm con” để nói về hành trình của người môn đệ.

II. “Sinh con” và “làm con” 

Diễn tả thần học qua kinh nghiệm đời sống gia đình: “sinh con” và “làm con” là điểm độc đáo của Tin Mừng Gio-an. Đề tài này được trình bày qua 3 mục: (1) Cơn đau và niềm vui khi sinh con (16,21); (2) Được sinh ra một lần nữa (3,1-8); (3) Sinh ra làm con Thiên Chúa (1,12-13).
  
1. Cơn đau và niềm vui khi sinh con (16,21)


Hình ảnh người phụ nữ sinh con là giai đoạn tiếp theo sau tiệc cưới với nỗi lo và niềm vui của đời sống hôn nhân và được so sánh với nỗi buồn và niềm vui của các môn đệ. Trước khi bước vào cuộc Thương Khó, Đức Giê-su nói với họ ở 16,21-22: “22 Người đàn bà khi sinh con thì lo buồn vì giờ của mình đã đến; nhưng sinh con rồi thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, vì niềm vui là một con người đã được sinh ra trong thế gian. 22 Anh em cũng vậy, bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ lại thấy anh em, và lòng anh em sẽ vui mừng; và niềm vui của anh em, không ai lấy khỏi anh emđược.” Sinh con là biến cố quan trọng trong đời người phụ nữ, lo lắng trước khi sinh và niềm vui của đại gia đình khi “mẹ tròn con vuông”. Tương phản giữa “lo lắng” trước và “vui mừng” sau  khi sinh con được so sánh với nỗi buồn của các môn đệ khi Đức Giê-su bước vào cuộc Thương Khó và niềm vui của họ khi gặp lại Đức Giê-su Phục Sinh. Đức Giê-su sẽ bị người ta giết chết và các môn đệ sẽ bị bách hại, nhưng Đức Giê-su hứa là “nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui” (16,20a), đó là niềm vui của người mẹ đã sinh con, vui vì “một con người đã được sinh ra trong thế gian” (16,21b). Đối với các môn đệ, có Đức Giê-su Phục Sinh ở với mình là niềm vui lớn lao và bền bỉ. Đó là niềm vui không ai lấy khỏi các môn đệ được (16,22c).
Qua so sánh hình ảnh người mẹ sinh con với hành trình người môn đệ, Đức Giê-su đề cao vai trò người mẹ, như thể chính các môn đệ cũng đang trải qua tiến trình sinh nở, phải trải qua đau đớn mới đạt tới niềm vui đích thực. Hình ảnh cưu mang và sinh nở còn áp dụng cho tất cả mọi công trình, mọi hoạt động của con người. Cưu mang công trình xây dựng, công trình nghiên cứu có thể kéo dài nhiều tháng đến nhiều năm, và hoàn thành được hay không vẫn còn ở phía trước. Có thể ví cuộc đời người môn đệ là một chuỗi cưu mang và sinh nở. Khác với những công trình trần thế có thể “gãy gánh dọc đường”, Đức Giê-su hứa cho những ai tin vào Người rằng, những nỗi đau trong hiện tại chắc chắn sẽ kết thúc trong niềm vui. Ước mong hình ảnh người phụ nữ sinh con trở thành biểu tượng và nguyên tắc sống cho đời sống hôn nhân và gia đình và nhất là đời người tin. Trong mọi khó khăn thử thách, sự hiện diện của Đức Giê-su là niềm vui lớn lao, sâu xa và bền bỉ.
Đặc biệt Đức Giê-su ban “niềm vui” và “bình an” cho các môn đệ ngay lúc họ đang xao xuyến và sợ hãi. Đức Giê-su nói với các môn đệ ở 14,27-28a: “27 Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Không như thế gian ban mà chính Thầy ban cho anh em. Lòng anh em đừng xao xuyến, đừng sợ hãi. 28a Anh em đã nghe chính Thầy đã nói với anh em: ‘Thầy ra đi và Thầy đến với anh em.’” Đức Giê-su phân biệt rõ “bình an của thế gian” và “bình an của Người” là thứ bình an có khả năng vượt qua và vượt lên trên “xao xuyến” và “sợ hãi” trong hiện tại. Thứ bình an ấy được bảo đảm bằng chính sự hiện diện của Đức Giê-su: “Thầy đến với anh em ” (14,28a).
Lắng nghe và đón nhận giáo huấn Đức Giê-su làm cho niềm vui của Người ở lại nơi các môn đệ, đó là niềm vui trọn vẹn như Đức Giê-su đã nói với họ ở 15,11: “Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để niềm vui của Thầy ở trong anh em và niềm vui của anh em được trọn vẹn.” “Các điều ấy” là những gì Đức Giê-su đã nói trước đó, cụ thể là mặc khải về “tương quan giữa tình yêu”, “ở lại trong tình yêu” và “giữ các điều răn” (15,9-10); mặc khải về “người trồng nho”, “cây nho” và “cành nho” (15,1-8). Trong bối cảnh rộng hơn là mặc khải trong ch. 13 – 14 và đối với độc giả hôm nay, “các điều ấy” gợi đến toàn bộ giáo huấn của Đức Giê-su trong Tin Mừng. Đó là những lời ban sự sống, lời đem lại bình an và niềm vui đích thực.
Tóm lại, niềm vui có hai chiều kích: (1) Niềm vui theo dòng thời gian (trước và sau) là niềm vui của người mẹ sau khi sinh con (buồn trước, vui sau). Niềm vui này đề cao biến cố Thương Khó và Phục Sinh là biến cố nền tảng trong đời sống các môn đệ, biến cố mang lại niềm vui đích thực. (2) Chiều kích thứ hai là niềm vui và bình an được ban xuống từ trên, đó là niềm vui và bình an ngay trong lúc đang gặp thử thách. Nghĩa là bình an và niềm vui của Đức Giê-su không làm biến mất gian nan khốn khó, nhưng có khả năng làm cho các môn đệ đứng vững và vượt qua thử thách. (Xem Giuse Lê Minh Thông, Khủng hoảng và giải pháp cho các môn đệ trong Tin Mừng thứ tư,Hà Nội, nxb. Tôn Giáo, 2010, tr. 226-253; xem bài viết về đề tài này tại:http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com).
Qua hình ảnh nỗi buồn và niềm vui của người mẹ sinh con, đời sống hôn nhân và gia đình ví như những cuộc cưu mang và sinh nở không ngừng, nghĩa là luôn đối diện với những khó khăn, bấp bênh, mong manh. Nguy cơ hôn nhân đổ vỡ, xung đột gia đình vẫn còn đó. Giữa mây mù, bão tố làm sao có thể đứng vững và vượt qua? Tin Mừng mở ra con đường cho những ai muốn nếm hưởng bình an và niềm vui sâu xa, trọn vẹn và bền bỉ. Con đường đó là mở lòng ra đón nhận quyền năng và tình yêu của Đức Giê-su, bước vào tương quan với Người, lắng nghe và sống giáo huấn của Người, tin vào Người, xác tín Người đồng hành với ta trong gian nan thử thách. Lời cuối cùng Đức Giê-su nói với các môn đệ trước khi bước vào cuộc Thương Khó vừa là lời động viên, vừa là lời hứa chiến thắng mọi thử thách trong đời người môn đệ cũng như đời sống hôn nhân và gia đình: “Trong thế gian, anh em có sự khốn khó, nhưng anh em hãy can đảm, chính Thầy đã thắng thế gian” (16,33b).
 
  2. Đ
ược sinh ra một lần nữa (3,1-8)


Ai trong chúng ta cũng được sinh ra bởi một người mẹ, nhưng để có thể thưởng thức thứ “rượu ngon”, trong niềm vui và bình an đích thực, thì cần được sinh ra một lần nữa. Đức Giê-su mặc khải cho Ni-cô-đê-mô ở 3,3: “A-men, a-men, Tôi nói cho ông: Nếu ai không được sinh ra một lần nữa (anothen), thì không thể thấy vương quốc Thiên Chúa.” Đức Giê-su dùng tính từ Hy Lạp “anothen”, từ này có hai nghĩa: “một lần nữa” và “bởi trên”, Ni-cô-đê-mô hiểu theo nghĩa sinh ra “một lần nữa” nên hỏi lại: “Làm sao một người có thể được sinh ra khi đã già? Chẳng lẽ có thể trở vào lòng mẹ của mình lần thứ hai để được sinh ra sao?” (3,4) Đây là kỹ thuật hành văn hiểu lầm khi mặc khải của Đức Giê-su dị nghĩa, gây thắc mắc. Nhờ câu hỏi của nhân vật trong trình thuật, Đức Giê-su có dịp mặc khải ý nghĩa lời của Người. Kiểu hành văn hiểu lầm làm nổi bật tư cách mặc khải của Đức Giê-su ở 3,5: “A-men, a-men, Tôi nói cho ông: Nếu ai không được sinh ra bởi nước và Thần Khí, thì không thể bước vào vương quốc Thiên Chúa.” Trong mạch văn, “sinh ra bởi nước và Thần Khí” là đón nhận sự sống mới Đức Giê-su ban tặng nhờ tin vào Người.
Khi tin vào Đức Giê-su chúng ta đã được sinh ra “một lần nữa”, sinh ra “bởi trên”, liệu các thành viên trong gia đình có chính mình được sinh ra “một lần nữa” để “vào vương quốc Thiên Chúa” (3,5) không? Các bậc cha mẹ đã sinh con về thể lý, được mời gọi lo lắng để con mình được sinh ra một lần nữa trong niềm tin.

   3. Sinh ra làm con Thiên Chúa (1,12-13)

Con cái là thành phần của đời sống gia đình. Lời tựa Tin Mừng nói đến mục đích là làm cho mọi người tin trở thành con cái Thiên Chúa. Tác giả viết ở 1,12-13: “12 Nhưng những ai đã đón nhận Người [Lời, Logos], Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa. Họ là những người tin vào danh của Người. 13 Họ được sinh ra không bởi khí huyết, cũng không bởi ước muốn của người phàm, cũng không bởi ước muốn của đàn ông, nhưng bởi Thiên Chúa.” Ở đây, “quyền trở nên con Thiên Chúa” dành cho những ai “đón nhận” “Lời (Logos) trở thành người phàm” (1,14a) là Đức Giê-su. Như thế Tin Mừng dùng hình ảnh “con cái” trong gia đình để nói về “con cái” Thiên Chúa. Con cái trong gia đình được cha mẹ sinh ra, còn con cái Thiên Chúa thì được sinh ra bởi Thiên Chúa nhờ tin vào Đức Giê-su. Người tin có Thiên Chúa là Cha, tuy nhiên điều này còn lệ thuộc vào hành động và lựa chọn cụ thể (xem “III.3. Ai là cha, Thiên Chúa hay quỷ?”).
III. Gia đình ruột thịt và gia đình người tin
Qua hình ảnh gia đình, Tin Mừng xây dựng gia đình mới trong niềm tin. Điều này sẽ trình bày qua ba mục: (1) Một gia đình mới khai sinh dưới chân thập giá; (2) Trở thành anh chị em trong gia đình mới; (3) Ai là cha? Thiên Chúa hay quỷ? (Ga 8,31-44).
   1. Gia đình mới khai sinh dưới chân thập giá (19,25-27)
Những gì xảy ra dưới chân thập giá có ý nghĩa thần học đặc biệt quan trọng. Người thuật chuyện kể ở 19,25-27: “25 Vậy đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu của Người và chị của thân mẫu Người, Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát và Ma-ri-a Mác-đa-la. 26 Khi Đức Giê-su thấy thân mẫu và môn đệ đứng bên cạnh, – môn đệ Người yêu mến –, Người nói với thân mẫu: ‘Thưa bà, đây là con của bà.’ 27 Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Và kể từ giờ đó, người môn đệ đón nhận mẹ về nhà mình.” 
Tên riêng thân mẫu Đức Giê-su: “Ma-ri-a” không xuất hiện trong Tin Mừng Gio-an. Tin Mừng này chỉ dùng cách gọi: “thân mẫu” của Đức Giê-su (10 lần: 2,1.3.5.12; 6,42; 19,25a.25b.26a.26b.27). Điều này đề cao chức năng làm mẹ trong tương quan với con mình là Đức Giê-su. Thân mẫu Đức Giê-su chỉ xuất hiện hai lần trong Tin Mừng: ở đầu Tin Mừng trong tiệc cưới Ca-na và ở cuối Tin Mừng dưới chân thập giá.
Đức Giê-su gọi Mẹ của Người là “gunê” (bà, người nữ) ở tiệc cưới Ca-na (2,4) và dưới chân thập giá (19,26). Kiểu xưng hô này gợi đến “người đàn bà” trong lời Đức Chúa phán với con rắn ở đầu sách Sáng thế: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3,15). Như thế, thân mẫu Đức Giê-su, đại diện dân Ít-ra-en, thừa hưởng lời Đức Chúa đã hứa. Mẹ giới thiệu Con của Mẹ ở đầu Tin Mừng (tiệc cưới Ca-na), Con của Mẹ giới thiệu cho Mẹ một người con khác là môn đệ Người yêu mến vào cuối Tin Mừng (lúc Người hấp hối trên thập giá). Qua đó, Đức Giê-su thiết lập gia đình mới gồm những kẻ tin vào Người. Một gia đình mà Người yêu mến những kẻ thuộc về Người cho đến cùng (về thời gian), cho đến tột cùng (về mức độ): hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên. Từ nay, tương quan gia đình ruột thịt (Đức Giê-su và thân mẫu Người) được mở rộng thành tương quan gia đình người tin.
Lời trăng trối của Đức Giê-su với thân mẫu: “Thưa bà, đây là con của bà” (19,26b) và  với môn đệ Người yêu mến: “Đây là mẹ của anh” (19,27a) được trình bày theo lối văn mặc khải thần học. Đức Giê-su mặc khải cho thân mẫu sứ vụ làm mẹ môn đệ Người yêu mến, và mặc khải cho người môn đệ này tư cách làm con thân mẫu của Người. Mối tương quan mới trong tư cách “làm mẹ” và “làm con” khai sinh cộng đoàn Hội Thánh qua chi tiết: “Và kể từ giờ đó, người môn đệ đón nhận (elaben) bà về nhà mình” (19,27b). Không phải thân mẫu đón nhận người môn đệ về nhà thân mẫu mà là người môn đệ Đức Giê-su yêu mến đón nhận thân mẫu về nhà mình. Động từ “lambanô” (đón nhận, nhận lấy, tiếp đón) ở 19,27b vừa diễn tả nối kết giữa dân Ít-ra-en với cộng đoàn các môn đệ Đức Giê-su, vừa  diễn tả sự mới mẻ và đứt đoạn với Cựu Ước. Cộng đoàn người tin trở thành nơi đón nhận ơn cứu độ và sự sống đời đời, nơi nhận biết Thiên Chúa và bước vào tương quan với Người.
Như thế lời hứa cứu độ của Đức Chúa dành cho toàn thể nhân loại nói chung và dành cho dân Ít-ra-en nói riêng đã được thực hiện trong sự kiện thân mẫu Đức Giê-su hội nhập vào cộng đoàn môn đệ Đức Giê-su mà đại diện là môn đệ Đức Giê-su yêu mến. Trước khi rời khỏi thế gian về với Cha, qua lời trăng trối, Đức Giê-su thiết lập gia đình mới là cộng đoàn Hội Thánh. (Xem Giuse Lê Minh Thông, Người môn đệ Đức Giê-su yêu mến trong Tin Mừng thứ tư là ai?, Nxb. Phương Đông, 2010, tr. 234-139). Ước mong các thành viên trong gia đình ruột thịt họ hàng thực sự bước vào gia đình mới trong lòng tin, có thân mẫu Đức Giê-su là mẹ, có Thiên Chúa là cha, có Đức Giê-su là anh, và mọi người tin trở thành anh chị em với nhau.
   2. Trở thành anh chị em trong gia đình mới
Tin Mừng dùng từ “adelphos” (anh em), và “adelphê” (chị em), để nói vềquan hệ ruột thịt, họ hàng, cũng như tương quan anh chị em trong cộng đoàn người tin. Phần này sẽ trình bày 3 điểm: (1) Anh chị em ruột thịt, họ hàng; (2) Trở thành anh em của Đức Giê-su; (3) Người tin là anh chị em với nhau.
(1) Trong tương quan anh, chị, em, tiếng Hy Lạp không phân biệt tuổi tác lớn (anh, chị) hay nhỏ (em), có thể dựa theo truyền thống Kinh Thánh, em thường nổi bật hơn anh (Ca-in – A-ben; E-sau – Gia-cóp; Đa-vít là em út…) để gọi An-rê là “anh” và Si-mon Phê-rô là “em”. Từ “adelphos” được dùngđể nói về hai anh em An-rê và Phê-rô (1,40.41; 6,8), và nói về “anh em của Đức Giê-su” (2,12; 7,3.5.10). Về gia đình ba chị em ở làng Bê-ta-ni-a, bản văn dùng từ “adelphos” (giống đực) để nói về La-da-rô (11,2.19.21.23.32) và từ “adelphê” (giống cái) để nói về hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a (11,1.3.5.28.39).
Câu chuyện La-da-rô mở đầu ở 11,1: “Có một người bệnh là La-da-rô ở Bê-ta-ni-a, làng của Ma-ri-a và Mác-ta, chị của cô ấy.” Đức Giê-su yêu mến ba chị em gia đình này (11,5) nhưng không đến cứu La-da-rô khỏi bệnh (11,6). Và điều gì phải đến đã đến, La-da-rô đã chết 4 ngày (11,39), Đức Giê-su mới tới thăm gia đình. Người không đến cứu La-da-rô để mặc khải cho mọi người biết rằng chết thể lý là thân phận làm người, sứ vụ của Đức Giê-su không phải cứu con người khỏi chết về thể lý. Việc Đức Giê-su gọi La-da-rô ra khỏi mồ (11,43) không đề cao sự sống thể lý mà là dấu chỉ về sự chết và sự sống lại của Đức Giê-su. Dấu lạ này  nhằm minh chứng lời Đức Giê-su mặc khải cho Mác-ta ở 11,25-26a: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, dù đã chết cũng sẽ được sống, 26a và tất cả những ai sống và tin vào Thầy, muôn đời sẽ không chết.” Qua gia đình ba chị em, Đức Giê-su bày tỏ tình yêu của Người đến tất cả mọi gia đình và Người đem đến cho người tin điều lớn lao hơn cả việc sống lại về thể lý: Bất kỳ ai tin vào Đức Giê-su thì ngay bây giờ đã có sự sống đời đời rồi. Liệu gia đình người tin hôm nay có tin và cảm nhận sự sống đời đời Đức Giê-su ban tặng nơi mình không? Sự sống mới này làm cho người tin trở thành “anh em của Đức Giê-su” và “anh chị em với nhau”.
(2) Trong sứ vụ công khai, Đức Giê-su gọi những ai tin vào Người là “môn đệ” (13,35), là “bạn hữu” (15,14.15), chỉ sau khi Phục Sinh (20,17), Người mới gọi các môn đệ là “anh em” (adelphos). Đức Giê-su nói với Ma-ri-a ở 20,17: “Đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Cha. Nhưng hãy đi đến với anh em (adelphous) của Thầy và nói với họ: ‘Thầy lên cùng Cha củaThầy cũng là Cha của anh em (humôn), Thiên Chúa của Thầy cũng là Thiên Chúa của anh em (humôn)’.” Câu này có 3 lần từ “anh em” trong tiếng Việt, nhưng chỉ lần đầu tiên dùng từ “adelphos” (anh em) còn hai lần sau là đại từ ngôi thứ 2 số nhiều: “humôn” (của anh em). Danh từ “adelphos” ở 20,17 có ý nghĩa thần học. Sau khi được tôn vinh, Đức Giê-su đưa các môn đệ vào trong tương quan mới mẻ với Người và với Cha của Người. Từ nay các môn đệ trở thành anh em của Đức Giê-su và có cùng Cha và cùng Thiên Chúa với Đức Giê-su.
Dầu vậy, Đức Giê-su vẫn phân biệt “Thiên Chúa của Thầy” và “Thiên Chúa của anh em”; “Cha của Thầy” và “Cha của anh em” (20,17). Đức Giê-su không nói “Thiên Chúa của chúng ta”. Kiểu nói trên nhấn mạnh sự khác biệt giữa cương vị của Đức Giê-su là Con Một Thiên Chúa (1,18), và vị trí của các môn đệ. Đức Giê-su khác với các môn đệ vì Người có nguồn gốc từ trời (6,38) và Người hiệp thông nên một với Chúa Cha (10,30; 14,11). Đồng thời Người là đối tượng niềm tin của các môn đệ. Vì thế, các môn đệ là anh em của Đức Giê-su, nhưng không trên cùng một bình diện. Điều lớn lao là Đức Giê-su làm cho các môn đệ trở thành anh em của Người và như thế mọi người tin là anh chị em với nhau.
(3) Cuối Tin Mừng (21,23) cộng đoàn người tin được gọi là anh em(adelphos). Cách xưng hô này được người thuật chuyện nói đến khi nói về thân phận người môn đệ Đức Giê-su yêu mến. Khi Phê-rô hỏi Đức Giê-su về người môn đệ này (21,21b), Đức Giê-su trả lời: “Nếu Thầy muốn anh ấy ở lại cho tới khi Thầy đến, thì việc gì đến anh? Phần anh, anh hãy theo Thầy” (21,22). Người thuật chuyện cho biết ở 21,23: “Vậy có lời đồn giữa anh em (adelphous) là người môn đệ ấy không chết. Nhưng Đức Giê-su đã không nói với ông ấy là ‘Anh ấy không chết’, mà là ‘Giả như Thầy muốn anh ấy ở lại cho tới khi Thầy đến [, thì việc gì đến anh?]’” Trong bối cảnh sau Phục Sinh, cộng đoàn người tin trở thành anh chị em với nhau (adelphos). Từ hình ảnh anh chị em trong gia đình ruột thịt, Tin Mừng Gio-an xây dựng tương quan anh em mới mẻ trong niềm tin và trong tự do.

   3. Ai là cha, Thiên Chúa hay quỷ? (8,31-44)


Dấn thân làm con cái Thiên Chúa, làm anh em của Đức Giê-su và làm anh chị em với nhau là quyết định hoàn toàn tự do. Nghĩa là các môn đệ có thể quyết định thôi không theo Đức Giê-su nữa, điều này đã xảy ra trong Tin Mừng. Sau khi Nghe diễn từ về bánh sự sống, “nhiều môn đệ của Người bỏ đi và không còn đi với Người nữa” (6,66). Tự do quyết định, theo hay không theo Đức Giê-su, vừa đề cao sự dấn thân của các môn đệ, vừa cho thấy đó là lựa chọn không bị ép buộc hay bị áp lực. (Xem, Giu-se Lê Minh Thông, Tình yêu và tình bạn trong Ga 15,9-17, Nxb. Phương Đông, 2010, tr. 257-261).
Hơn nữa, tư cách “môn đệ Đức Giê-su”, tư cách “con cái Thiên Chúa” còn được xác định qua hành động và lựa chọn cụ thể trong cuộc sống. Câu hỏi đặt ra cho những người Do Thái trong đoạn văn Ga 8,31-44: ai thực sự là cha, Thiên Chúa hay quỷ? cũng là câu hỏi đặt ra cho tất cả mọi người.
Tranh luận trong đoạn văn Ga 8,31-44 nhằm làm rõ ai là cha thực sự của những người Do Thái. Trong đoạn văn này họ khẳng định là con cháu Áp-ra-ham và có Thiên Chúa là Cha, nhưng không phải thế. Tại sao? Trước hết, họ nói với Đức Giê-su: “Cha của chúng tôi là Áp-ra-ham” (8,39a), nhưng Đức Giê-su phủ nhận điều này khi nói với họ: “39b Nếu các ông là con cái Áp-ra-ham, các ông đã làm những việc của Áp-ra-ham. 40 Nhưng bây giờ các ông tìm giết Tôi, là người đã nói cho các ông sự thật mà Tôi đã nghe nơi Thiên Chúa. Điều đó, Áp-ra-ham đã không làm. 41a Còn các ông, các ông làm những việc của cha các ông” (8,39b-41a). Từ “cha” trong câu này nói về ai? Ở đây chưa có câu trả lời. Những người Do Thái nói tiếp: “Chúng tôi không phải là con đẻ hoang. Chúng tôi chỉ có một Cha là Thiên Chúa” (8,41b). Nhưng Đức Giê-su cũng phủ nhận lời này ở 8,42: “Nếu Thiên Chúa là Cha các ông, các ông đã yêu mến Tôi, vì chính Tôi phát xuất và đến từ nơi Thiên Chúa. Tôi không tự mình mà đến, nhưng chính Đấng ấy đã sai Tôi.”
Như vậy, cha của họ không phải là Áp-ra-ham, cũng chẳng phải là Thiên Chúa. Đức Giê-su cho biết ai là cha của họ ở 8,44: “Các ông thuộc về quỷ là cha các ông, và các ông muốn làm những ước muốn của cha các ông. Ngay từ đầu, nó đã là kẻ sát nhân, và nó đã  không đứng về phía sự thật, vì sự thật không ở trong nó. Khi nó nói, nó nói theo bản tính của nó là sự gian dối, vì nó là kẻ nói dối, và là cha của sự gian dối.” Tại sao họ lại có cha là quỷ trong khi trên “giấy tờ” họ là con cháu Áp-ra-ham (8,33.39) và có Cha là Thiên Chúa (8,41b) và họ khẳng định như thế? Điều làm cho họ mất tư cách con cháu Áp-ra-ham và có Thiên Chúa là Cha là vì hành động cụ thể của họ: không tin vào Đức Giê-su và đang tìm giết Người (8,37.40). Chính hành động thù nghịch với Đức Giê-su làm cho họ trở thành những người có cha là quỷ. Điều trớ trêu là họ không còn có Cha là Thiên Chúa nữa mà họ không biết.
Câu hỏi đặt ra cho những người được gọi là “con cái Thiên Chúa” là họ còn thực sự có Cha là Thiên Chúa hay không? Câu trả lời ở nơi lựa chọn và hành động trong cuộc sống thường ngày. Vấn đề thuộc về ai, “thuộc về Đức Giê-su” hay “thuộc về thế gian”, “thuộc về sự thật” hay “thuộc về sự dối trá”, “thuộc về Cha là Thiên Chúa” hay “thuộc về cha là quỷ” vẫn là thách đố và là lời chất vấn mọi người tin trong lựa chọn hằng ngày.

Kết luận


Đề tài hôn nhân và gia đình trong Tin Mừng được đề cao qua từ ngữ: “tiệc cưới”, “sinh con”, “làm con”, cùng với các tương quan trong gia đình như “mẹ – con”, “cha – con”,  “anh chị em ruột thịt”, “anh chị em họ”... Tin Mừng đề cao những hình ảnh đẹp về hôn nhân và gia đình qua sự hiện diện của thân mẫu Đức Giê-su, chính Đức Giê-su và các môn đệ ở tiệc cưới Ca-na; qua việc dấn thân làm môn đệ của hai anh em An-rê và Si-môn; qua tương quan tình bạn và tình yêu giữa gia đình ba chị em ở Bê-ta-ni-a và Đức Giê-su; qua sự hiện diện của thân mẫu, chị của thân mẫu dưới chân thập giá Đức Giê-su.
Từ hình ảnh hôn nhân và gia đình trần thế, Tin Mừng xây dựng gia đình người tin với những từ ngữ: sinh ra một lần nữa để làm con Thiên Chúa, tin vào Đức Giê-su để trở thành anh em của Người, trở thành con cái cùng một Cha. Từ nay mọi người tin trở thành anh chị em với nhau, anh em của Đức Giê-su, cùng nhau sống sự sống mới, sự sống đích thực Đức Giê-su ban tặng. Sự sống này được diễn tả bằng thứ “rượu ngon hảo hạng” như trong tiệc cưới Ca-na; bằng niềm vui bền bỉ và bình an sâu xa để đứng vững và vượt qua thử thách; bằng tình liên đới, tình yêu và tình bạn với Đức Giê-su và với nhau.
Tuy vậy, hành trình “làm con cái Thiên Chúa”, “làm anh em với Đức Giê-su” và “làm anh chị em với nhau” vẫn luôn là thách đố qua lựa chọn và quyết định hằng ngày. Tin Mừng mời gọi mọi thành viên trong gia đình mới sống và hành động theo giáo huấn của Đức Giê-su, thuộc về sự thật và làm theo sự thật, tin vào Đức Giê-su và tin vào quyền năng của Người. Điều này cần được thể hiện qua đời sống cụ thể hằng ngày.
Bài viết này không thể trình bày hết các trình thuật liên quan đến hôn nhân và gia đình trong Tin Mừng, chẳng hạn Gio-an Tẩy Giả nói về “chú rể” và “bạn của chú rể” (3,29-30); dấu lạ thứ hai ở Ca-na là hành trình của người cha tìm cách cứu sống con mình (4,43-54) với phần kết: “Ông ấy và cả nhà của ông đã tin” (4,53b). Hình ảnh hôn nhân và gia đình hiển nhiên giữ vai trò quan trọng trong sứ vụ của Đức Giê-su. Đồng thời, Đức Giê-su đem lại quà tặng lớn lao và ý nghĩa đích thực cho đời sống hôn nhân và gia đình trần thế./.

Nguồn: http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.co.il/2015/01/hon-nhan-va-gia-inh-trong-tin-mung-gio_14.html