Thứ Sáu, ngày 17 tháng 10 năm 2014

Thượng Hội Đồng về Gia Đình: phiên họp chung mười hai

Thượng Hội Đồng về Gia Đình: phiên họp chung mười hai

Trong cuộc họp báo tại Phòng Báo Chí Toàn Thánh chiều ngày 16 tháng Mười, Cha Federico Lombardi, Cha Thomas Rosica, và TGM Vienna, Đức HY Christoph Schonborn đã nói tới công việc đang tiếp diễn của THĐ về Gia Đình.

Cuộc họp báo

Cha Lombardi nhấn mạnh rằng bất cứ bản văn nào được công bố cũng chỉ là những “bước” cho thấy “chúng đang tiến tới trên hành trình đang tiếp diễn và vẫn còn sẽ tiếp diễn”. Chúng “không phải là các thành quả dứt khoát” mà đúng hơn chỉ là “các đóng góp”. 

Cha Rosica thì cho biết: các ngài mới trở lại từ cuộc trình bày của các các nhóm nhỏ theo ngôn ngữ. Cha cho hay: “đang khi chúng tôi nói ở đây, thì các bản văn đang được sao chép cho các bạn nên các bạn sẽ có chúng vào cuối cuộc họp báo này.” 

Ngài cho biết tiếp: nhóm soạn thảo sẽ tổng hợp tất cả các bản văn này, rồi các nghị phụ sẽ bỏ phiếu cho bản tổng hợp này vào sáng thứ Bẩy, sau đó, các ngài còn thảo luận thêm về nó vào chiều thứ Bẩy. 

Sau khi cho biết đây là lần thứ ba tham dự một THĐ, Cha Rosica trình bày 3 nhận xét riêng. Trước nhất, THĐ lần này quả là một THĐ đúng nghĩa, nơi người ta được nói một cách thoải mái, nhờ thế diễn trình của THĐ sẽ được canh tân hẳn. Thứ hai, cha yêu cầu các nhà báo khi nhận được các bản văn nên đọc chúng một cách trọn vẹn. “Đây là những bản văn đầy suy tư; chúng ta có được một điều gì đó để học hỏi từ chúng… Có những dòng bỗng từ các bản văn này ‘nhẩy ra’ với một tầm quan trọng cực kỳ lớn”. Thứ ba, những bản văn này cho thấy chiều sâu sắc của công việc vẫn còn đang tiếp diễn trong các nhóm nhỏ. Những gợi ý trong các bản văn này rất hữu ích và có ý nghĩa lớn. “Nên, thay vì chơi trò điều này tốt điều kia nên bỏ v.v…, xin qúy bạn đọc chúng với nhau như một toàn bộ”. 

Phiên nhóm chung mười hai

"Liên quan tới các hoàn cảnh gia đình khó khăn, Các Nhóm Nhỏ làm nổi bật điều này: Giáo Hội nên là tổ ấm chào đón mọi người, ngõ hầu không ai cảm thấy bị từ khước”. 

Phiên họp chung thứ mười hai của THĐ đặc biệt về Gia Đình đã nghe phần trình bày các Phúc Trình của 10 nhóm nhỏ, phân chia theo ngôn ngữ: hai nhóm tiếng Pháp, ba nhóm tiếng Anh, ba nhóm tiếng Ý và hai nhóm tiếng Tây Ban Nha. Nói chung, các nhóm nhỏ trình bày cả việc đánh giá “Bản Tường Trình Sau Thảo Luận” (RPD), tức tài liệu tạm thời công bố vào giữa khóa họp của THĐ, lẫn các đề nghị để tổng hợp vào trong “Bản Tường Trình của THĐ” (RS), tức văn kiện dứt khoát và có tính kết luận của THĐ. 

Trước nhất, có việc lên tiếng tỏ ra bối rối trước việc công bố, dù hợp lệ, Bản RPD, vì cho rằng đây chỉ là tài liệu để làm việc, chưa nói lên ý kiến nhất thống của mọi nghị phụ THĐ. Do đó, sau khi phát biểu sự đánh giá của mình đối với công việc soạn thảo bản văn và cấu trúc của nó, các nhóm nhỏ đã trình bày các gợi ý của họ. 

Đầu tiên có sự nhấn mạnh cho rằng trong RPD, có sự tập chú quan tâm tới các gia đình đang khủng hoảng, mà không nhắc một cách bao quát hơn tới sứ điệp tích cực của Tin Mừng gia đình hay tới sự kiện này: gia đình trong tư cách một bí tích, một sự kết hợp bất khả tiêu giữa người đàn ông và người đàn bà vẫn giữ được giá trị rất hợp thời trong đó nhiều cặp vợ chồng vẫn tin tưởng. Do đó, hy vọng rằng bản RS sẽ chứa đựng một sứ điệp khuyến khích và hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho Giáo Hội và cho các cặp vợ chồng tín hữu. 

Ngoài ra, cũng có nhận định cho rằng điều chủ yếu là phải làm nổi bật một cách rõ ràng hơn nữa tín lý về hôn nhân, nhấn mạnh rằng đây là hồng ơn của Thiên Chúa. Cũng có đề nghị thêm cho rằng các yếu tố không có trong bản RPD phải được lồng vào bản RS, như vấn đề nhận con nuôi, hy vọng rằng các thủ tục giấy tờ được đơn giản hóa, cả trên bình diện quốc gia lẫn trên bình diện quốc tế, cả vấn đề kỹ thuật sinh học nữa và việc truyền bá văn hóa qua ngả liên mạng (internet), một việc có thể có tác động qui định cuộc sống gia đình, đồng thời các nhóm cũng nhận định về tầm quan trọng của các chính sách phò gia đình. 

Thêm vào đó, các nhóm cho rằng phải chú ý nhiều hơn tới sự hiện diện của người cao niên trong gia đình, và các gia đình đang sống trong cảnh nghèo cùng cực. Các vấn đề nghiêm trọng về đĩ điếm, cắt bỏ bộ phận sinh dục nữ và việc khai thác các vị thành niên cho các mục tiêu tính dục và lao động đã được kịch liệt lên án. Điều quan trọng là phải làm nổi bật vai trò chủ yếu của các gia đình trong việc phúc âm hóa và lưu truyền đức tin, bằng cách nhấn mạnh tới ơn gọi truyền giáo của họ. Tóm lại, mục đích là đưa ra một ý niệm cân bằng và có tính hoàn cầu về gia đình theo chiều hướng Kitô Giáo. 

Liên quan tới các hoàn cảnh gia đình khó khăn, các nhóm nhỏ nhấn mạnh rằng Giáo Hội nên là một mái ấm chào đón mọi người, để không ai cảm thấy bị từ khước. Tuy nhiên, cần có sự rõ ràng hơn để tránh mơ hồ, do dự và các uyển ngữ (euphemisms), thí dụ như liên quan tới luật tiệm tiến, sao cho nó đừng trở thành tính tiệm tiến của luật (gradualness of the law). Ngoài ra, nhiều nhóm còn cho biết rất bối rối trước việc so sánh với đoạn 8 của Lumen Gentium, vì việc so sánh này có thể khiến người ta có cảm tưởng Giáo Hội sẵn sàng hợp pháp hóa các hoàn cảnh gia đình bất bình thường, cho dù các gia đình này có thể tượng trưng cho một giai đoạn của cuộc hành trình tiến tới bí tích hôn nhân. Các nhóm khác bày tỏ hy vọng có được sự tập chú sâu sắc hơn đối với ý niệm “rước lễ thiêng liêng”, để ý niệm này được đánh giá và cuối cùng được cổ vũ và phổ biến. 

Liên quan tới khả thể cho phép người ly dị và tái hôn được tham dự bí tích Thánh Thể, hai viễn tượng đã được nêu lên: một đàng, có đề nghị cho rằng không được thay đổi tín lý, phải duy trì nó như hiện nay; đàng khác, nên mở ra khả thể truyền đạt (communication) với một phương thức đặt căn bản trên cảm thông và xót thương, nhưng chỉ trong một số điều kiện nhất định. Ngoài ra, trong các trường hợp khác, có gợi ý cho rằng nên để vấn đề này cho một Ủy Ban đặc nhiệm liên khoa (intredisciplinary) nghiên cứu thêm. Một nền chăm sóc mục vụ lớn hơn đã được gợi ý liên quan tới những người ly dị nhưng không tái hôn và là các chứng tá anh hùng của lòng thủy chung phu phụ. Đồng thời, việc làm nhanh chóng hơn các thủ tục để tuyên bố hôn nhân vô hiệu và xác nhận tính thành hiệu của hôn nhân đã được cổ vũ; ngoài ra, có nhấn mạnh cho rằng con cái không phải là gánh nặng mà là ơn phúc của Thiên Chúa, hoa trái của tình yêu vợ chồng. 

Một xu hướng qui Kitô hơn đã được đề nghị, cũng như phải nhấn mạnh rõ ràng hơn tới mối liên hệ giữa các bí tích hôn phối và rửa tội. Viễn kiến về thế giới phải là viễn kiến băng qua lăng kính của Tin Mừng, để khuyến khích mọi người nam nữ hồi tâm. 

Ngoài ra, các nhóm nhấn mạnh rằng bất chấp việc không thể coi các cuộc kết hợp đồng tính ngang hàng với cuộc hôn nhân giữa 1 người đàn ông và 1 người đàn bà, nhưng những người có xu hướng này phải nhận được sự đồng hành mục vụ và phẩm giá của họ phải được che chở, tuy nhiên không nên ngụ ý rằng điều này là một hình thức Giáo Hội chấp thuận xu hướng và lối sống của họ. Liên quan tới vấn đề đa thê, nhất là những người đa thê trở lại đạo Công Giáo và muốn tham dự các bí tích, một nghiên cứu thấu đáo đã được đề nghị. 

Các nhóm nhỏ yêu cầu phải suy tư nhiều hơn về khuôn mạo Đức Maria và Thánh Gia, khuôn mạo này cần được cổ vũ nhiều hơn như là kiểu mẫu noi theo của mọi đơn vị gia đình. Cuối cùng, có yêu cầu phải nhấn mạnh rằng bản RS dù sao cũng chỉ là tài liệu chuẩn bị cho THĐ bình thường dự tính cho tháng Mười năm 2015.


Vũ Văn An10/17/2014(vietcatholic)

Thượng Hội Đồng về Gia Đình, có hy vọng Phúc Trình Sau Thảo Luận sẽ được viết lại

Thượng Hội Đồng về Gia Đình, có hy vọng Phúc Trình Sau Thảo Luận sẽ được viết lại

Thực ra, Phúc Trình Sau Thảo Luận, công bố vào thứ Hai tuần này, được viết ra nhằm mục đích để các nhóm thảo luận nhỏ tiếp tục bàn luận. Từ các đóng góp của các nhóm này, ủy ban soạn thảo của THĐ, hiện gồm 8 thành viên (khởi đầu chỉ có 1, sau thêm 5, và mới đây thêm Đức HY Napier của Nam Phi, và Đức TGM Hart của Melbourne), sẽ tổng hợp để hoàn thành Bản Tường Trình của THĐ (Relatio Synodi). Hiện có nhiều hy vọng, Bản Tường Trình của THĐ này sẽ khác với Bản Tường Trình Sau Thảo Luận hiện đang gây nhiều tranh cãi gay gắt. 

Dấu hiệu thứ nhất là việc cử nhiệm Đức HY Napier, thuộc Nam Phi, vào ban soạn thảo tường trình. Ai cũng biết các phát biểu mới đây của Đức HY Kasper về các Giáo Hội Phi Châu cho người ta một cảm giác nặng nề hơn về việc không một đại diện nào của Giáo Hội này ở trong ban soạn thảo cả, khiến cho Bản Tường Trình Sau Thảo Luận có nhiều thiếu sót đáng tiếc, không phản ảnh được các quan điểm đã được phát biểu tại phòng THĐ, nhất là các quan điểm của Giáo Hội Phi Châu, một Giáo Hội năng động nhưng bị coi là bảo thủ về tín lý. 

Theo John Allen, hai ngày trước đây, Đức HY Napier phát biểu tại một cuộc họp báo của Vatican rằng “điều không đúng” là cho rằng toàn thể THĐ đứng sau lưng sứ điệp của tài liệu phát hành hôm thứ Hai. 

Như một vị Hồng Y ẩn danh cho biết: tại Vatican II, Phi Châu ít lên tiếng. Nay đã khác rồi, họ đã ra khỏi bóng tối và cương quyết làm cho tiếng nói của họ được lắng nghe, không phải chỉ tại Phi Châu, mà tại THĐ, tại bất cứ đâu! 

Trước khi có cử nhiệm trên, nhiều người ghi nhận đã có một cuộc đẩy lui của nhiều nghị phụ THĐ chống lại Bản Tường Trình Sau Thảo Luận, ngay sau khi nó được công bố. Theo Jimmy Akin, buổi sáng hôm sau, Tổng Thư Ký THĐ đã vội vã thanh minh bằng cách thừa nhận đã có một hụt hẫng (misstep) lớn và tài liệu đã bị báo chí tường trình không đúng. 

Cùng ngày, Sở Thông Tin Vatican (VIS) cho công bố một tường trình về các lời chỉ trích của một số nghị phụ đối với Bản Tường Trình Sau Thảo Luận. Trong có có mấy điểm đáng chú ý sau đây:

* Phải nói nhiều hơn về các gia đình vẫn luôn trung thành với giáo huấn Tin Mừng, cám ơn họ và khuyến khích họ về các chứng tá họ đóng góp.

* Phải nhấn mạnh rằng cuộc hôn nhân bất khả tiêu, hạnh phúc và trung thành là tươi đẹp, là khả hữu và luôn hiện hữu trong xã hội, cho nên phải tránh việc chỉ tập chú gần như duy nhất vào các hoàn cảnh gia đình bất toàn. 

* Phải minh giải và thăm dò sâu xa hơn nữa “luật tiệm tiến” hiện đang có nguy cơ bị hiểu lầm. 

* Liên quan tới việc cho phép người ly dị và tái hôn dân sự được lãnh nhận các bí tích, có ưu tư cho rằng khó có thể đưa ra ngoại lệ mà các ngoại lệ này không trở thành qui luật thông thường trên thực tế.

* Chữ “tội” gần như vắng bóng trong Bản Tường Trình Sau Thảo Luận. Bản Tường Trình này cần phản ảnh cung giọng tiên tri trong lời lẽ của Chúa Giêsu, để tránh nguy cơ chạy theo não trạng của thế giới ngày nay.

* Chỉ nên chào đón người đồng tính và người dị tính đang sống chung với nhau một cách không khiến người ta có cảm tưởng Giáo Hội đánh giá tích cực việc họ đang làm.

Nói chung thì như thế, nói riêng, thì nhiều nghị phụ đã đích danh lên tiếng phản đối một số khía cạnh của Bản Tường Trình Sau Thảo Luận.

Đức HY Raymond Burke: “Có sự lẫn lộn liên quan tới vấn đề những người hiện sống trong các cuộc kết hợp trên thực tế, hay những người bị lôi cuốn đối với người cùng phái đang sống với nhau, và việc giải thích thiếu thỏa đáng của Giáo Hội về các liên hệ này cho những người liên hệ”. Ngài nói thêm: “chắc một điều: tôi hy vọng rằng tài liệu này sẽ được hoàn toàn để qua một bên, và sẽ có một cố gắng để trình bày giáo huấn và thực hành mục vụ chân thực của Giáo Hội, hai điều này phải luôn đi đôi với nhau trong tài liệu mới”. 

Đức HY Gerhard Muller: “Bất xứng, đáng xấu hổ” và “hoàn toàn sai lầm”. Đó là nhận định nghiêm khắc của Đức HY Gerhard Muller, tổng trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, về cái gọi là “bản tường trình” của THĐ về Gia Đình. 

Đức HY Wilfrid Napier: Phản ứng của truyền thông đối với tài liệu, một số gọi bản tường trình là một thay đổi tuyệt vời trong cách tiếp cận của Giáo Hội đối với những người đồng tính, đã tạo nên “một sự bối rối nơi các nghị phụ THĐ. Chúng tôi hiện phải làm việc từ một vị thế gần như không thể cứu vãn được nữa… Sứ điệp đã được truyền đi rằng đây là điều công đồng nói, đây là điều Giáo Hội CG đang nói, nhưng nó không hề là điều chúng tôi đang nói”. Ngài thêm: “bất kể chúng tôi có cố gắng sửa lại điều đó ra sao, nhưng đây là kinh nghiệm của tôi với truyền thông: một khi điều đó ra tới tai công chúng, thì không còn cách nào lấy lại nó nữa. Y hệt như qúy bạn, tôi rất ngạc nhiên khi nó được công bố. Qúy bạn (báo giới) có tài liệu trước chúng tôi, nên chúng tôi khó mà đồng ý”. 

Đức HY George Pell nói với tập san Công Giáo The Tablet: Tài liệu này là một “bản tóm lược không đầy đủ” những gì các nghị phụ THĐ nói là cần “được nâng cao và được sửa đúng”. Ngài thêm rằng sau khi Bản Tường Trình được công bố, 3 phần 4 các tham dự viên tại phòng THĐ từng có tham luận đã nêu lên nhiều vấn nạn đối với bản văn. Ngài thêm: “khi tìm cách tỏ lòng từ bi, nhiều người muốn mở rộng giáo huấn Công Giáo về hôn nhân theo hướng hoàn toàn tự do, mà các hoa trái ai trong chúng ta cũng đã thấy nơi các truyền thống Kitô Giáo khác… Điều kỳ quái là trong tài liệu ít có nhắc tới giáo huấn Thánh Kinh và giáo huấn huấn quyền về hôn nhân, tính dục, gia đình… Trách nhiệm hiện nay là phải làm an lòng những người Công Giáo thực hành đạo rằng thay đổi tín lý là điều không thể có; là phải thúc giục người ta hít thật sâu, rồi nghỉ và làm việc để ngăn ngừa chia rẽ và cực đoan hóa các phe phái”. 

Đức TGM Stanislaw Gadecki: “(nó được viết) như thể quan điểm của thế gian thắng thế và mọi sự bất toàn đều sẽ dẫn tới hoàn hảo”, đó là nhận định của vị chủ tịch HĐGM Ba Lan. Ngài nói tiếp “(trong một cuộc thảo luận về bản tường trình) đã có sự chú ý tới không hẳn những điều tài liệu này nói mà là những gì nó không nói. Nói về các ngoại lệ thực tế, nhưng cũng cần phải trình bày sự thật chứ”. Ngài nhấn mạnh rằng lúc nào cũng chỉ tập chú vào lòng thương xót cũng là một vấn đề. “nó tạo cho người ta có cảm tưởng giáo huấn của Giáo Hội là bất nhân xưa nay, như thể giáo huấn về xót thương chỉ mới bắt đầu có từ lúc này”.

Ký giả Andrea Gagliarducci thì cho hay đang có lời kêu gọi bản tường trình của THĐ phải phản ảnh các quan tâm và đề nghị được nêu ra trong các nhóm nhỏ. Ông thuật lại lời của Đức TGM Zbignev Stankevics của Riga, Latvia rằng “Hiện nay, gia đình đang chịu sức tấn công rất mạnh của ý thức hệ. Nhiệm vụ chính của các nghị phụ THĐ không phải thực hiện những vụ cởi mở bị định nghĩa một cách nghèo nàn, mà là áp dụng giáo huấn của Giáo Hội, một lần nữa vào tình thế ngày nay”. Ngài nói thêm: “chắc chắn chúng ta phải giải quyết các thách đố hiện nay bao nhiêu có thể; nhưng không được đánh mất căn tính Công Giáo của mình, và không được bác bỏ sự thật về hôn nhân”. 

Như đã tường trình trước đây, theo Đức TGM Joseph Kurtz, một trong các tường trình viên của THĐ, từ các cuộc thảo luận nhóm này, đã có ba gợi ý đáng lưu ý: phải nhấn mạnh tới giá trị tích cực của gia đình Kitô Giáo; phải bảo đảm để lời lẽ của Giáo Hội có tính chào đón và đụng tới tâm can người ta; và phải bảo đảm sao cho việc chăm sóc mục vụ phải bắt rễ trong vẻ đẹp của giáo huấn Giáo Hội và giáo huấn Thánh Kinh. 

Gagliarducci cũng cho hay: trong một cuộc đàm đạo với hãng tin CNA, một nghị phụ THĐ đã cho biết nhóm của ngài đã “căn bản viết lại phần dẫn nhập của bản tường trình, đã cắt bỏ lời trích dẫn về ‘hạt giống sự thiện’, vì đã trích dẫn sai ngữ cảnh và có thể gây hiểu lầm, và đã yêu cầu rằng phải nhấn mạnh nhiều hơn tới các gương mẫu tích cực của tín hữu”.

Đức TGM Salvatore Fisichella, chủ tich Hội Đồng Giáo Hoàng Cổ Vũ Tân Phúc Âm Hóa cho hay nhóm của ngài “cũng thảo luận các chủ đề chưa được thảo luận thích đáng tại phòng THĐ”. Ngài nói thêm: “chúng tôi đề nghị rằng các diễn trình tuyên bố hôn nhân vô hiệu phải được miễn phí, vì không bao giờ nên nghe nói là Giáo Hội được trả tiền mới chịu tuyên bố vô hiệu: điều này khiến tín hữu nghĩ án vô hiệu là điều có thể mua được bằng tiền”. 

Đức TGM cũng nhấn mạnh điều này nữa: “(tài liệu) ít chú ý tới các phương pháp kế hoạch hóa gia đình cách tự nhiên: gần như có cả một hình thức tẩy chay việc giáo dục về kế hoạch hóa gia đình cách tự nhiên”. 

Các vị giám mục Phi Châu cũng nêu ra “những điểm nóng không có” trong bản tường trình giữa khóa. Đức Cha Nicolas Djomo Lola của Tshumbe, thuộc Cộng Hòa Dân Chủ Congo, liệt kê một trong các điểm nóng đó là “chú ý tới các trẻ em không có gia đình vì chiến tranh”. 

Khó khăn lắm mới tổng hợp được các đóng góp tại THĐ

Theo Nicole Winfield của hãng tin AP, Đức HY Timothy Dolan của New York cho rằng quan điểm của Đức HY Burke phản ảnh quan điểm “của một số rất đông những người cho hay, rồi, tài liệu này soạn khá dở, cần phải duyệt lại phần lớn. Theo tôi, ngài đúng, ngài đã đứng về phía mà nhiều giám mục, trong đó có tôi, cảm thấy phải viết lại phần lớn bản tường trình này”.

Đức HY Tổng Tường Trình Viên, Peter Erdo, thì bênh vực bản tường trình nhưng thừa nhận nó có nhiều vấn đề và cho biết nó cần được tu chính. Nói với Đài Phát Thanh Vatican, ngài cho biết 16 viên chức soạn thảo bản tường trình phải chật vật lắm mới tổng hợp được quan điểm của 30-40 giám mục về bất cứ chủ đề chuyên biệt nào; họ còn phải vội vàng hoàn tất nó đúng thời hạn. Ngài thừa nhận có những trường hợp bản tường trình nói là “nhiều” giám mục đã đưa đề nghị này đề nghị nọ, nhưng thực ra chỉ có “một vài” vị. 

Ngài cũng chính thức cho biết chính Đức Cha Bruno Forte đã viết các phần về đồng tính luyến ái. Vị giáo phẩm này xưa nay có tiếng là người bênh vực người trong các hoàn cảnh bất bình thường dù vẫn trung thành với tín lý Công Giáo. 

Đã đành, Đức Cha Forte và các thành viên khác trong ban soạn thảo sử dụng được nhiều tài liệu hơn các vị giám mục, vì họ nắm sẵn trong tay tất cả các bản tham luận viết tay được chính các vị giám mục đệ trình trước phiên họp. Tất cả các bản viết đóng góp này đều được đưa vào bản tường trình sau thảo luận, dù chưa được các vị giám mục nói ra trong 4 phút mỗi vị được phép nói. Chính Cha Lombardi cũng nhìn nhận rằng chỉ có một trong số 265 bài tham luận “nói” tại THĐ đề cập tới người đồng tính mà thôi. 

Tuy nhiên, Winfield cho rằng “không có cách chi biết vị giám mục hay các vị giám mục nào đề nghị những điều này hay phải chăng chúng phản ảnh quan niệm riêng của Đức Cha Forte”.

Vũ Văn An10/16/2014(vietcatholic)


Nhật ký Thượng Hội đồng Giám mục về gia đình – Ngày thứ chín –

Nhật ký Thượng Hội đồng Giám mục về gia đình
– Ngày thứ chín –


WHĐ (17.10.2014) - Ngày 16-10, các nghị phụ Thượng Hội đồng Giám mục ngoại thường về gia đình (THĐ) bước sang ngày làm việc thứ chín với Phiên họp khoáng đại XII.
*
Phiên họp khoáng đại XII
- Hiện diện: Đức Thánh Cha Phanxicô và toàn thể nghị phụ, dự thính viên và 8 đoàn khách mời thuộc các Giáo hội anh em.
- 10 nhóm thảo luận (Circuli minores) trình bày kết quả thảo luận và những kiến nghị của nhóm về bản Tường trình đúc kết thảo luận (Relatio post disceptationem) qua mười phiên họp kháng đại trong giai đoạn một của THĐ.
- Ngoài 9 vị được Đức Thánh Cha bổ nhiệm vào ban soạn thảo văn kiện THĐ cuối giai đoan một (x. Bản tin của WHĐ:http://www.hdgmvietnam.org/nhat-ky-thuong-hoi-dong-giam-muc-ve-gia-dinh-%E2%80%93-ngay-thu-sau/6399.57.7.aspx) hôm nay THĐ đã tăng cường hai vị vào ban này cho đầy đủ đại diện 5 châu lục: Đức hồng y Napier (Nam Phi) và Đức Tổng giám mục Hart (Úc). Như vậy ban văn kiện THĐ có 11 vị.
- Ban soạn thảo văn kiện của THĐ đã tóm tắt những điểm chính được các vị Đại diện tường trình của các nhóm trình bày tại Phiên họp khoáng đại XII.
Sau đây là toàn văn bản tóm tắt:
Nội dung làm việc tại phiên họp khoáng đại XII của THĐ gồm các bản tường trình của 10 nhóm, được chia theo ngôn ngữ: ba nhóm tiếng Anh, ba nhóm tiếng Ý, hai nhóm tiếng Pháp và hai nhóm tiếng Tây Ban Nha. Nhìn chung, các nhóm trình bày hai nội dung, một là nhận định về bản Tường trình đúc kết thảo luận, một văn kiện mang tính chất tạm thời, sơ kết nửa chặng đường làm việc của THĐ, và hai là, đưa ra những đề nghị đóng góp vào bản Tường trình đúc kết Thượng Hội đồng (Relatio Synodi), văn kiện cuối cùng, kết thúc THĐ.
Trước hết, có một số lo ngại cho rằng, bản Tường trình đúc kết thảo luận mặc dù hợp lệ, được coi là một tài liệu làm việc, nhưng không thể hiện được ý kiến đã được các nghị phụ nhất trí. Vì vậy, sau khi biểu dương công việc soạn thảo và cấu trúc của văn kiện này, các nhóm thảo luận đã đưa ra các đề nghị của mình.
Điều đầu tiên được các nhóm nhấn mạnh là, bản Tường trình đúc kết thảo luận đã tập trung vào các mối quan tâm đến các gia đình đang gặp khủng hoảng, nhưng lại không liên hệ rộng hơn đến sứ điệp tích cực của Tin Mừng về gia đình hoặc thực tế hôn nhân chính là một bí tích, là sự liên kết bất khả phân ly giữa một người nam và một người nữ, điều này vẫn là một giá trị rất thời sự, được nhiều đôi vợ chồng xác tín. Vì vậy, mong rằng bản Tường trình đúc kết Thượng Hội đồng sẽ thể hiện một sứ điệp mạnh mẽ nhằm khích lệ và nâng đỡ Hội Thánh và các đôi vợ chồng tín hữu.
Hơn nữa, các kiến nghị cũng đã nhấn mạnh việc chính yếu là phải nhấn mạnh rõ ràng hơn nữa giáo thuyết về hôn nhân, đặt trọng tâm vào hôn nhân chính là quà tặng được Thiên Chúa ban cho. Ngoài ra còn đề nghị những nội dung chưa được đề cập trong bản Tường trình đúc kết thảo luận sẽ được đưa vào bản Tường trình đúc kết Thượng Hội đồng, chẳng hạn vấn đề nhận con nuôi, sao cho các thủ tục hành chính được sắp xếp hợp lý, cả ở cấp quốc gia cũng như quốc tế, cũng như các vấn đề về công nghệ sinh học và sự quảng bá văn hoá qua internet đang ảnh hưởng lên đời sống gia đình, cũng như lưu ý về tầm quan trọng của các chính sách đối với gia đình.
Ngoài ra, các kiến nghị cho rằng cần lưu tâm hơn nữa đến sự hiện diện của bậc cao niên trong các gia đình, đến những gia đình đang sống trong cảnh đói nghèo cùng cực. Các phát biểu cũng đã tố cáo những vấn đề nghiêm trọng như nạn mại dâm, tục cắt bỏ cơ quan sinh dục nữ và tình trạng khai thác trẻ em vào các mục đích tình dục và lao động. Các ý kiến còn đề cập việc cần nhấn mạnh vai trò chính của gia đình trong công cuộc Phúc âm hoá và thông truyền đức Tin, làm nổi bật ơn gọi thừa sai của các gia đình. Tất cả đều nhằm mục đích mang lại một ý niệm quân bình và toàn cục về “gia đình” mang ý nghĩa Kitô giáo.
Về những hoàn cảnh khó khăn của gia đình, các nhóm thảo luận đã nhấn mạnh Giáo hội phải là ngôi nhà chào đón mọi người, để không một ai thấy mình bị khước từ. Tuy nhiên, cần nói rõ ràng hơn, tránh sự nhầm lẫn, cách nói lấp lửng, vòng vo, chẳng hạn nói về “luật tiệm tiến” sao cho không trở thành là “sự tiệm tiến về luật”. Ngoài ra, nhiều nhóm cũng thấy lúng túng về sự loại suy được nói đến trong số 8 của Hiến chế Lumen Gentium (Ánh sáng muôn dân), vì điều này có thể gợi lên ấn tượng Giáo hội sẵn sàng hợp pháp hoá những tình trạng gia đình không hợp lệ, mặc dù những tình trạng này có thể tiêu biểu cho một giai đoạn trong hành trình hướng đến bí tích hôn nhân.
Về khả năng những người ly dị tái hôn được rước lễ, có hai quan điểm chính được nêu lên: một đàng cho rằng không được thay đổi giáo thuyết và giữ nguyên như hiện nay; đàng khác lại nêu ý kiến, nên mở khả năng cho mối liên lạc với nhau, dựa trên sự đồng cảm và lòng thương xót, và chỉ thực hiện với những điều kiện nhất định. Ngoài ra một số ý kiến khác đề nghị: vấn đề này cần được nghiên cứu bởi một Uỷ ban liên ngành chuyên biệt. Có ý kiến đề nghị cần chú ý hơn đến những người ly dị không tái hôn, và thường họ là những chứng nhân anh hùng cho sự trung tín trong đời sống hôn nhân. Đồng thời, cũng cần thúc đẩy tiến độ của thủ tục tuyên bố hôn nhân vô hiệu hoặc thành hiệu, ngoài ra cần nhấn mạnh con cái không phải là gánh nặng mà chính là quà tặng của Thiên Chúa, hoa trái của tình yêu vợ chồng.
Sự định hướng cần “quy về trung tâm là Chúa Kitô” hơn nữa, cũng như cần phải nhấn mạnh một cách rõ ràng hơn về mối liên hệ giữa bí tích hôn nhân và bí tích thánh tẩy. Thế giới quan cần phải thông qua lăng kính Tin Mừng, khích lệ mọi người nam nữ hoán cải tâm hồn mình.
Hơn nữa, cần phải nhấn mạnh, dù không thể nào có chuyện đặt hôn nhân giữa một người nam và một người nữ ngang bằng với sự kết hợp của những người đồng tính, nhưng người người có khuynh hướng đồng tính này cũng phải được nhận sự đồng hành mục vụ và phẩm giá của họ cần phải được bảo vệ, tuy nhiên điều đó không hàm ý như vậy là đã được chấp thuận về phía Giáo hội đối với khuynh hướng và lối sống của họ. Còn về vấn đề đa thê, nhất là những người đa thê trở lại đạo Công giáo và muốn được lãnh nhận các bí tích, vấn đề này cần được nghiên cứu thấu đáo.
Các nhóm thảo luận ủng hộ việc cần suy tư hơn nữa, để khuyến khích các gia đình noi theo mẫu gương Đức Maria và Thánh gia về đời sống gia đình.
Cuối cùng, các nhóm đề nghị bản Tường trình đúc kết Thượng Hội đồng sẽ là văn kiện chuẩn bị cho Thượng hội đồng Giám mục khoá thường lệ được tổ chức vào tháng Mười 2015.

Thành Thi


Tường trình của các nhóm nhỏ tại Thượng HĐGM thế giới về gia đình

Tường trình của các nhóm nhỏ tại Thượng HĐGM thế giới về gia đình

VATICAN. Thượng HĐGM thế giới khóa đặc biệt về gia đình đang tới hồi kết thúc. Trong phiên khoáng đại thứ 14 sáng thứ bẩy 18-10-2014, từ 9 giờ đến 12 giờ rưỡi, các nghị phụ sẽ nghe đọc dự thảo Bản tường trình kết thúc công nghị GM thế giới này, và bỏ phiếu chấp thuận văn bản chung kết Sứ điệp Thượng HĐGM gửi cộng đồng dân Chúa.

Ban chiều từ 4 giờ rưỡi đến 7 giờ, có phiên khoáng đại thứ 15 và là phiên cuối cùng. Các nghị phụ sẽ bỏ phiếu thông qua Bản tường trình Thượng HĐGM để đệ lên ĐTC. Văn kiện này chưa phải là quyết định chung kết nhưng sẽ được dùng làm Tài Liệu làm việc cho Thượng HĐGM thế giới khóa thường lệ lần thứ 14 nhóm vào tháng 10 năm tớim 2015.

Để đi tới Bản tường trình chung kết này, các nghị phụ đã làm việc khẩn trương trong hai tuần qua: trong tuần đầu là phần góp ý kiến, được đúc kết thành bản Tường trình giữa khóa mà ĐHY Peter Erdoe, người Hungari, Tổng tường trình viên, đã trình bày sáng thứ hai, 13-10, trong phiên khoáng đại thứ 11.

Bản này bị dư luận và nhiều nghị phụ phê bình và đã được nghiên cứu đào sâu thêm trong 6 cuộc họp nhóm nhỏ, mỗi nhóm khoảng từ 18 đến 20 nghị phụ, cùng với các dự thính viên và chuyên gia. Sau đó, sáng thứ năm, 16-10 vừa qua, Thượng HĐGM thế giới đã nhóm phiên khoáng đại thứ 12 để nghe tường trình về kết quả các cuộc thảo luận nhóm: 3 nhóm tiếng Ý, 3 nhóm tiếng Anh, 2 nhóm tiếng Pháp và 2 nhóm Tây Ban Nha. Vị tường trình viên của mỗi nhóm lần lượt trình bày kết quả cuộc thảo luận. Sau đây chúng tôi xin gửi đến quí vị một số ý chính trong các bản tường trình nhóm:

Vài nét chính trong các bản bá cáo của các nhóm

Tất cả các nhóm đều đưa ra nhiều nhận xét và đưa ra 500 yêu cầu sửa chữa bản phúc trình giữa khóa mà ĐHY Peter Erdoe trình bày.

Nói chung, Phúc trình này bị phê bình là quá nhấn mạnh đến các vấn đề, có nguy cơ làm cho các gia đình và người trẻ không quan tâm cố gắng làm cho hôn nhân và gia đình được tiến hành tốt đẹp. Theo nhiều nghị phụ, Thượng HĐGM về gia đình phải qui trọng tâm nhiều hơn về vẻ đẹp của hôn nhân và tránh để cho lối tiếp cận ”chào đón” và thương xót lấn át nghĩa vụ của Giáo Hội phải kêu gọi con người từ bỏ con đường tội lỗi.

Nhiều nhóm muốn có sự thay đổi lớn, hay là viết lại một số phần trong phúc trình giữa khóa, nhấn mạnh tầm quan trọng của một Giáo Hội tìm đến các gia đình và những người đang có vấn đề trong thế giới ngày nay, trong đó có những cặp sống chung mà không kết hôn, những tín hữu Công Giáo ly dị và tái hôn dân sự, những cặp đồng phái. Cần giúp đỡ và tháp tùng họ trở về cùng Giáo Hội. Hầu hết các nhóm nghị phụ đều muốn thấy Phúc trình chung kết của Thượng HĐGM này nhấn mạnh hơn về vẻ đẹp và sự thu hút trong cái nhìn của Thiên Chúa về hôn nhân bất khả phân ly giữa một người nam và một người nữ, cởi mở đối với sự sống.

- Nhóm Anh ngữ thứ 2, trong đó có ĐHY Timothy Dolan, TGM New York, Hoa Kỳ, ĐHY Wilfried Napier, TGM Durban, Nam Phi, và Đức TGM Diarmuid Martin của giáo phận Dublin, thủ đô Ai Len, cho biết nhiều vị trong nhóm cảm thấy rằng một người trẻ, khi đọc bản tường trình giữa khóa, sẽ cảm thấy bớt phấn khởi trong chấp nhận ơn gọi sống đời hôn nhân Kitô với tất cả những thách đố kèm theo.

- Nhóm tiếng Anh thứ 1, do ĐHY Raymond Burke, người Mỹ, Chủ tịch Tối Cao Pháp viện của Tòa Thánh, nói rằng bản Tường trình chung kết của Thượng HĐGM phải công bố chân lý Phúc Âm, sự sống con người, và tính dục dựa trên mạc phải và luật tự nhiên, vì việc săn sóc mục vụ không thể tách rời khỏi giáo huấn của Giáo Hội. Nhóm này cũng có ĐHY Gerhard Mueller, người Đức, Tổng trưởng Bộ giáo lý đức tin, Đức TGM Vincent Nichols của giáo phận Westminster, Anh quốc. Nhóm phê bình phương pháp của bản tường trình giữa khóa, theo đó trước tiên lắng nghe dân chúng trước khi phán đoán và phân định hành trình mục vụ. Theo nhóm, Giáo Hội luôn phải nhìn thế giới qua lăng kính Tin Mừng để có thể yêu thương và săn sóc con người, đồng thời thẳng thắn nhìn nhận những tình trạng tội lỗi và tìm kiếm con đường để mời gọi con người hoán cải tâm hồn.

Nhóm này cảm thấy phúc trình giữa khóa có vẻ như muốn nói tính dục ngoài hôn nhân và những lối sống bất hợp lệ có thể là điều được phép khi khẳng định rằng: ”Có những hạt giống sự thật và tốt đẹp ở nơi những ngừơi liên hệ, và qua việc săn sóc mục vụ, những hạt giống ấy có thể được quí chuộng và phát triển”. Nhóm này nói bất kỳ sự ngụ ý nào nói hành vi vô luân là điều có thể chấp nhận được, sẽ làm cho các cha mẹ ngỡ ngàng và tự hỏi: tại sao mình lại phải cố gắng vất vả như vậy để dạy con cái về Tin Mừng?

- Nhóm tiếng Anh thứ ba, trong đó có ĐHY Donald Wuerl, TGM thủ đô Washington, Hoa Kỳ, Đức TGM Joseph Kurtz của giáo phận Louisville, bang Kentucky, Chủ tịch HĐGM Mỹ, và Đức TGM Denis Hart của giáo phận Melbourne, Australia, tuyên bố là không muốn bản phúc trình chung kết làm suy yêu cảm thức hy vọng rằng ”sự dấn thân có hiệu quả và trọn đời trong hôn nhân là điều có thể đạt tới được”. Nhóm này nói: Giáo Hội cần tìm đến để chào đón, mà không phán xét hay lên án, những người vì lý do nào đó, chưa có thể diễn tả sự dấn thân trọn đời trong hôn nhân giữa một người nam và một ngừơi nữ”, nhưng nhóm cũng kêu gọi quan tâm làm sao để biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa đối với con người, vì chúng ta có thể vô tình gây ra cảm tưởng hôn nhân không phải là quan trọng, hoặc nó chỉ là một lý tưởng mà một vài người ưu tuyển có thể đạt tới.

- Nhóm tiếng Ý thứ 2, trong đó có nhiều vị thuộc giáo triều Roma như ĐHY Walter Kasper, Pietro Parolin Quốc vụ khanh Tòa Thánh, ĐHY Gianfranco Ravasi, Chủ tịch Hội đồng văn hóa và Đức TGM Rino Fisichella, Chủ tịch Hội đồng tái truyền giảng Tin Mừng, kêu gọi nhấn mạnh làm sao để không có sự rạn nứt hay tách biệt giữa đạo lý và việc săn sóc mục vụ. Nhưng nhóm cũng nhấn mạnh trách nhiệm của Giáo Hội phải đưa ra một phán đoán về những vấn đề trong nền văn hóa ngày nay, Giáo Hội không thể quên vai trò ngôn sứ của mình và phải cảnh cáo những kẻ xấu về hình phạt của Thiên Chúa nếu họ không thay đổi cuộc sống gian ác (Ez 3,17-19).

- Nhóm tiếng Pháp do ĐHY Christoph Schoenborn, TGM giáo phận Vienne bên Áo, làm điều hợp viên, và có Đức TGM Paul-André Durocher của giáo phận Gatineau, Québec, Canada là thành viên, nói rằng thách đố ở đây là làm sao dung hợp “lòng yêu mến sự thật và đức bác ái mục tử, để không gây sốc cho những người đang cố gắng sống trọn các giáo huấn của hội Thánh. Nhóm này nói đến người anh cả trong dụ ngôn người con trai hoang đàng, cảm thấy không hài lòng khi người cha mở tiệc đón đứa em tội lỗi trở về, nhưng không bao giờ cho anh ta, vốn là người ở lại gia đình và làm việc, được mở tiệc để vui với các bạn.

Nhóm Pháp ngữ này có nhiều GM Phi châu. Các vị khẳng định sự tôn trọng và chào đón những người đồng tính luyến ái và lên án những kỳ thị đối với những người này, nhưng các vị nói rằng Giáo Hội không thể ”hợp thức hóa những việc thực thi đồng tính luyến ái, và càng không thể nhìn nhận những cặp đồng phái là hôn phối. Các vị tố giác các tổ chức quốc tế đặt điều kiện đòi các nước nghèo phải ban hành những luật tháo thứ hơn về luân lý thì mới được viện trợ.

- Nhóm tiếng Ý, trong đó có nhiều vị thuộc giáo triều, trong đó có ĐHY George Pell, Chủ tịch Hội đồng kinh tế, ĐHY Coccopalmerio Chủ tịch Hội đồng về các văn bản luật, và Đức TGM Paglia, Chủ tịch Họi đồng về gia đình, nói rằng có hai quan niệm khác nhau trong các cuộc thảo luận tại Thượng HĐGM. Một quan niệm cho rằng không nên do dự gì khi dùng những từ như ”tội lỗi”, ngoại tình và hoán cải, khi nói về những tình trạng trái ngược với Tin Mừng. Trong khi một lối tiếp cận khác phải nhìn nhận rằng ước muốn có một gia đình đã được Thiên Chúa đặt để trong tâm hồn mỗi người, cả những tín hữu vì những lý do khác nhau không sống hoàn toàn phù hợp với Lời Chúa Kitô”.

Nhóm này cũng nói: Một sự thiếu ý thức về tội lỗi và những hoàn cảnh văn hóa nghiệm trọng thường là lý do khiến một tín hữu không sống phù hợp với giáo huấn của Giáo Hội. Tường trình chung kết phải nhấn mạnh sự cầnthiết phải cải tiến việc giáo dục về đức tin (CNS 16-10-2014)

- Nhóm nghị phụ tiếng Ý thứ I, do ĐHY Filoni Tổng trưởng Bộ truyền giáo làm điều hợp viên, nói đến khó khăn trong việc mang lại một ý nghĩa cho thành ngữ ”luật tiệm tiến” đã được nhắc đến trong bản tường trình giữa khóa để biện minh cho sự bất toàn trong hành động của một số tín hữu, và áp dụng vào việc cho tín hữu ly dị tái hôn được rước lễ. Các nghị phụ nói rằng luật tiệm tiến không thể áp dụng được cho số 34 của Tông Huấn Familiaris consortio về gia đình, vì trong tông huấn này luật tiệm tiến được áp dụng chủ yếu cho vấn đề luân lý liên quan đến việc làm cha làm mẹ ý thức. Thành ngữ ”Luật tiệm tiến” dường như vượt ra ngoài sự kiểm soát với nguy cơ làm cho người ta nghĩ rằng những khó khăn trong đời sống vợ chồng đưa tới sự hạ thấp ý nghĩa trọn vẹn của chính ơn gọi vợ chồng. Nhóm này yêu cầu viết lại phần thứ II của tường trình giữa khóa để làm nổi vợt dự phóng vui tươi về hôn nhân do Thiên Chúa đề ra.

Nhóm cũng không đồng ý về việc để cho ĐGM giáo phận trực tiếp can dự vào các vụ án tuyên bố hôn nhân vô hiệu, vì thường các GM không phải là những nhà chuyên môn trong lãnh vực này, vì thế nên đề nghị một sự phối hợp mục vụ giữa những người liên hệ với tòa án hôn phối, các cố vấn và các văn phòng khác nhau của giáo phận về gia đình.

Về vấn đề cho người ly dị tái hôn được rước lễ, các nghị phụ trong nhóm tuy nhạy cảm đối với vấn đề, nhưng vẫn đề nghị tái nghiên cứu vấn đề này dưới ánh sáng số 84 của Tông huấn Familiaris consortio, để xác định những điều kiện khác với kỷ luật hiện hành.

G. Trần Đức Anh OP

Thứ Năm, ngày 16 tháng 10 năm 2014

"Giáo hội là Hôn thê chờ đợi Hôn phu của mình"

"Giáo hội là Hôn thê chờ đợi Hôn phu của mình"
VATICAN. Trong buổi tiếp kiến chung 80.000 tín hữu hành hương sáng thứ tư 15-10-2014 tại Quảng trường Thánh Phêrô, ĐTC đã diễn giải về đề tài "Giáo hội là Hôn thê chờ đợi Hôn Phu của mình".

ĐTC tạm vắng mặt khỏi phiên họp trong nhóm nhỏ của các nghị phụ Thượng HĐGM Thế giới về Gia đình, và lúc quá 9 giờ 30 sáng, ngài tiến vào Quảng trường Thánh Phêrô trên chiếc xe díp màu trắng mui trần để chào thăm các tín hữu, ôm hôn và chúc lành cho các em bé được nhân viên an ninh bế đưa lên ngài.

Lên tới lễ đài ở thềm Đền thờ, ĐTC khởi sự buổi tiếp kiến với dấu Thánh giá và lời chào phụng vụ. Và sau phần tôn vinh lời Chúa với bài đọc ngắn trích từ sách Khải Huyền của Thánh Gioan nói về vị hôn thê trang điểm chờ đợi hôn phu và Giáo hội như thành Jerusalem thiên quốc, ĐTC đã trình bày bài thứ chín trong loạt bài giáo lý về Giáo Hội, và ngài bàn về chủ đề "Giáo Hội hôn thê chờ đợi Hôn phu của mình".

Huấn dụ của ĐTC

“Anh chị em thân mến, chào anh chị em, 

Trong thời gian này chúng ta đã nói về Giáo hội, về Mẹ Giáo hội thánh thiện và có phẩm trật, là Dân Thiên Chúa đang lữ hành.

Hôm nay, chúng ta hãy tự hỏi: sau cùng, dân Chúa sẽ ra sao? Mỗi người chúng ta sẽ ra sao? Chúng ta phải chờ đợi cái gì? Thánh Phaolô Tông Đồ trấn an các tín hữu Kitô thuộc Cộng đoàn Tessalonica, là những người đặt ra những câu hỏi ấy và sau khi lý luận thánh nhân nói những lời này thuộc vào những lời đẹp nhất của Tân Ước:

“Và như thế chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn mãi!” (1 Ts 4,17). Những lời này đơn sơ, nhưng rất xúc tích về hy vọng.

Thật là biểu tượng như trong sách Khải Huyền của Thánh Gioan, nhắc lại trực giác của các ngôn sứ, và đã mô tả chiều khích cuối cùng, chung kết, như "thành Jerusalem mới, xuống từ trời, từ nơi Thiên Chúa, sẵn sàng như hôn thể trang điểm đón chờ Hôn Phu của mình" (Kh 21,2). Đó là điều đang chờ đợi chúng ta! Vậy Giáo Hội là ai? thưa là Dân Thiên Chúa đi theo Chúa Giêsu và chuẩn bị ngày qua ngày cho cuộc gặp gỡ với Chúa, như một hôn thê chuẩn bị gặo hôn phu của mình. Đó không phải là một kiểu nói; sẽ có những hôn lễ thực sự! Đúng vậy, vì Chúa Kitô, khi làm người như chúng ta và làm cho tất cả chúng ta trở thành điều duy nhất với Ngài, qua cái chết và sự sống lại của Ngài, Ngài đã thực sự kết hôn với chúng ta và làm cho chúng ta trở nên hôn thê của Ngài. Điều này không là gì khác hơn là sự viên mãn kế hoạch hiệp thông và yêu thương được Thiên Chúa thực hiện qua dòng lịch sử.

Nhưng có một yếu tố khác, an ủi và ủng cố chúng ta, mở rộng con tim chúng ta: Thánh Gioan nói với chúng ta rằng trong Giáo Hội là Hôn thê của Chúa Kitô, "thành Jerusalem mới" trở nên hữu hình. Điều này có nghĩa là Giáo Hội, không những là hôn thê, nhưng còn được kêu gọi trở nên thành thị, biểu tượng tuyệt hảo của sự sống chung và quan hệ giữa con ngừơi với nhau. Vì thế, thật là đẹp khi có thể chiêm ngưỡng ngay từ bây giờ một hình ảnh khác rất xúc tích của sách Khải Huyền, tất cả các dân nước được tập hợp với nhau trong thành ấy, như trong một căn lều, "lều của Thiên Chúa" (x. Kh 21,3)! Và trong khung cảnh vinh quang đó sẽ không còn cô lập, thiếu thốn và những phân biệt nào - về mặt xã hội, chủng tộc và tôn giáo - nhưng tất cả chúng ta sẽ được hiệp nhất trong Chúa Kitô.

Đứng trước cảnh tượng chưa từng có và tuyệt vời ấy, con tim chúng ta không thể không cảm thấy được củng cố một cách mạnh mẽ trong niềm hy vọng. Anh chị em hãy xem, niềm hy vọng Kitô không phải chỉ là một ước muốn, một mong ước, không phải là lạc quan: đối với Kitô hữu, hy vọng là chờ đợi, nồng nhiệt chờ đợi, say mê mong sự viên mãn chung kết một mầu nhiệm, mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa, trong đó chúng ta được tái sinh và đang sống. Và đó là sự chờ đợi người sắp đến: đó là Chúa Kitô ngày càng trở nên gần gũi chúng ta, ngày qua ngày, và Ngài đến để dẫn đưa chúng ta vào cuộc hiệp thông viên mãn và an bình của Ngài. Vì thế, Giáo Hội có nghĩa vụ phải giữ cho ngọn đèn hy vọng luôn cháy sáng và hữu hình, để có thể tiếp tục chiếu tỏa như dấu chỉ cứu độ chắc chắn và có thể soi sáng cho toàn thể nhân con đường dẫn đến cuộc gặp gỡ với tôn nhan từ bi của Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến, này đây điều mà chúng ta đang mong đợi: chúng ta đợi Chúa Giêsu trở lại! Giáo Hội hôn thê chờ đợi hôn phu của mình! Nhưng chúng ta phải tự hỏi rất chân thành: chúng ta có thực sự là những chứng nhân sáng ngời và đáng tin cậy về niềm hy vọng ấy hay không? Các cộng đoàn của chúng ta có còn sống trong dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Giêsu Kitô và nồng nhiệt chờ đợi Chúa đến hay không, hay là tỏ ra mệt mọi, ngái ngủ, dưới gánh nặng của mệt mỏi và cam chịu? Chúng ta có nguy cơ hết dầu đức tin và vui mừng hay không! Chúng ta hãy chú ý!

Chúng ta hãy khẩn cầu Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ hy vọng và là nữ vương trời cao, xin Mẹ luôn giữ chúng ta trong thái độ lắng nghe và chờ đợi, để có thể ngay từ bây giờ được thấm nhiễm tình yêu Chúa Kitô và một ngày kia được tham phần niềm vui vô tần, trong sự hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa. Anh chị em đừng bao giờ quên câu "Và chúng ta sẽ luôn ở với Thiên Chúa!" Chúng ta hãy lặp lại câu này 3 lần."

Chào thăm các tín hữu

Sau bài giáo lý bằng tiếng Ý, các linh mục và giám chức của Toà Thánh đã tóm tắt bài này bằng các sinh ngữ khác nhau cũng như dịch những lời ĐTC chào các tín hữu hành hương cùng với những lời nhắn nhủ của ngài.

Chào nhóm tiếng Anh, ĐTC đặc biệt nhắc đến các đoàn đến từ Anh quốc, Ecosse, Na Uy, Đan Mạch, Ấn Độ, Nhật Bản, Thái Lan, Australia và Hoa Kỳ, đặc biệt là đoàn hành hương toàn quốc Ireland nhân dịp kỷ niệm 1.400 năm Thánh Colombano qua đời.

Khi chào các tín hữu nói tiếng Bồ Đào Nha, nhất là các tín hữu đến từ Brazil, ngài xin họ cầu nguyện cho ngài và nhắn nhủ rằng gia đình anh chị em hãy họp nhau hằng ngày để đọc Kinh Mân Côi, dưới cái nhìn của Đức Mẹ, để trong gia đình không bao giờ bị thiếu dầu đức tin và niềm vui, nảy sinh từ cuộc sống của các phần tử được hiệp thông với Thiên Chúa.

Với các tín hữu nói tiếng Ba Lan, ĐTC nhắc nhở: "Hôm nay chúng ta kính nhớ Thánh Têrêxa Chúa Giêsu, thuộc Dòng Cát Minh nhặt phép, trinh nữ và tiến sĩ Hội Thánh. Trái lại, ngày mai chúng ta kỷ niệm Thánh Gioan Phaolô II được bầu làm Giáo hoàng. Hai vị thánh này được liên kết với nhau trong sự phó thác cho Thiên Chúa, lòng tận tuỵ đối với Giáo Hội và có đời sống thần bí. Chúng ta hãy học nơi các vị đặc tính quyết liệt của Tin Mừng và tăng trưởng trong niềm hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa.

Sau cùng, bằng tiếng Ý, ĐTC đặc biệt chào các tham dự viên Hội nghị kỳ 4 của Quỹ Ratzinger-Bênêđictô XVI sẽ nhóm tại thành phố Medellín, Colombia, và khuyên nhủ họ hãy nghiên cứu những con đường kiến tạo hòa bình và thăng tiến phẩm giá con người.

ĐTC kết thúc buổi tiếp kiến với Kinh Lạy Cha và phép lành Toà Thánh ban cho mọi người.

G. Trần Đức Anh OP
Nguồn: RV

HÔN NHÂN MỘT VỢ MỘT CHỒNG: THÁCH ĐỐ HAY HỒNG ÂN

HÔN NHÂN MỘT VỢ MỘT CHỒNG: THÁCH ĐỐ HAY HỒNG ÂN



Ly dị hiện nay không còn được coi là một trọng tội đối với đời sống hôn nhân; ngược lại, nó đã được chấp thuận và hợp pháp hóa tại nhiều quốc gia trên thế giới. Theo đó, ít người cho rằng ly dị là một hành động xấu và cần phải tránh né. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là luật “một vợ một chồng” của Thiên Chúa đã trở nên lỗi thời. Và Thiên Chúa cũng đã lỗi thời!!!

CHUYỆN MỘT LOÀI CHIM

Đi tìm một câu trả lời cho luật “một vợ một chồng”, thiên nhiên đã cho con người một câu trả lời mang đầy ý nghĩa và rất đáng để suy nghĩ:

Một câu chuyện được kể về loài thiên nga, đó là có mội đôi thiên nga đang bay bên nhau trên nền trời xanh đẹp tuyệt vời. Không biết vì lý do gì một con bỗng dưng lảo đảo rồi lao xuống một triền đá chết. Con còn lại sau khi lượn quanh xác chết của bạn mình kêu lên những tiếng thảm thiết, rồi tự nhiên lao vút lên cao như để lấy đà rồi lao xuống gềnh đá và chết cạnh bạn của nó.  

Người ta đã thêu tặng nhau những bức tranh trong dịp cưới với hình một đôi thiên nga, vì thiên nga là loài vật rất đặc biệt. Sau khi đã trải qua thời gian thử thách, tìm hiểu và đã chấp nhận sống với nhau, thì đây là một “hôn phối bất khả phân ly” đối với chúng. Có nghĩa là hai con thiên nga ấy sẽ sống với nhau, bên nhau cho đến chết. Không cãi vã, không ngoại tình và không ly dị. Chúng chỉ có nhau và gắn bó với nhau ngay cả khi con cái chúng khôn lớn và bỏ chúng ra đi. Và nếu một trong hai chết, thì con còn sống sẽ “ở vậy” suốt đời mà không hề có chuyện “tái giá” hay “tục huyền”.
Cùng với loài thiên nga, phượng hoàng đầu bạc ở Bắc Mỹ, và loại chim két hoàng bích ở Úc Châu cũng có cùng một đặc tính “một vợ một chồng” như vậy.

TỪ ĐẦU TIÊN ĐÃ KHÔNG XẢY RA NHƯ VẬY  

Ngày nay, nhiều người kể cả Công Giáo khi nói đến luật “Một vợ, một chồng”, ý nghĩa đầu tiên là cho rằng Thiên Chúa không thông cảm và hiểu những thách đố, khó khăn của đời sống hôn nhân. Giáo Hội Công Giáo khe khắt, đòi hỏi. Giáo Hội không bắt kịp trào lưu tư tưởng tiến hóa của con người thời đại. Theo quan niệm của những người chủ trương ly dị thì làm gì mà phải chung thủy? Tại sao phải sống chết với một người, nhất là người ấy gây phiền, gây khổ cho mình? Thiên hạ ly dị đầy đường có chết chóc ai đâu? Tại sao mình lại không thử một lần để may ra đổi được số mệnh???
Đó là những lý luận thoạt nghe tưởng như hữu lý vì nó hết sức hấp dẫn. Tuy nhiên, khi đi sâu vào ý nghĩa của đời sống vợ chồng, vào cái mà Giáo Hội Công Giáo gọi là “Ơn Gọi Hôn Nhân”, ta mới hiểu rằng ly dị không phải là giải pháp cuối cùng và tốt nhất cho đời sống hôn nhân. Ngược lại, chung thủy, một vợ, một chồng mới là cái làm cho đời sống hôn nhân trở nên hạnh phúc. Chính Chúa Giêsu đã xác định với những người Do Thái hỏi Ngài về ly dị như thế. Trước câu hỏi tại sao Maisen cho phép họ ly dị, Ngài đã trả lời: “Từ đầu đã không có chuyện ấy” (Mt 19:8).

Tại sao từ ban đầu Thiên Chúa đã không cho phép ly dị?  

Thiên Chúa khi kêu gọi con người bước vào đời sống hôn nhân, là Ngài đã có ý muốn họ hạnh phúc. Ngài biết sự chọn lựa và lời mời gọi ấy là tốt cho họ, bởi thế Ngài không muốn họ thay đổi: “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly” (Mt 19: 6). Đó là luật, nhưng là một luật êm ái, nếu tuân theo con người sẽ được hạnh phúc.

Con người khi bước vào đời sống hôn nhân là tự chọn và đáp lại ơn gọi cao cả ấy. Sẵn sàng chấp nhận “luật” ấy bằng sự đáp trả của hiểu biết, tự do và tiếng nói của con tim. Không ai bắt buộc phải lấy người mình không muốn lấy. Và cũng không ai có quyền dùng sức mạnh, tiền bạc, hoặc quyền lực để cưỡng ép, chiếm đọat tình yêu người khác. Tình yêu trong hôn nhân, do đó, là một đáp trả tự do, công bằng, và trưởng thành.

Tình yêu vợ chồng dành cho nhau là một thứ tình phát xuất từ tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa. Thiên Chúa đã chia sẻ tình này cho con người. Ngài đã cho con người biết về dự án yêu thương này: “Chúng ta hãy tạo dựng con người giống hình ảnh chúng ta” (Sáng Thế 1:26). Và qua đó, Ngài đã tạo dựng nên họ “có nam, có nữ” (1:27). Do đó, khi đáp lại tiếng gọi con tim của nhau trong ơn gọi hôn nhân là con người chia sẻ thứ tình yêu cao cả ấy với Thiên Chúa và với nhau.

Như vậy, luật một vợ một chồng không phải là do Giáo Hội đặt ra và áp đặt trên con người. Đó là luật của Thiên Chúa. Mà những gì Thiên Chúa đã làm thì tốt đẹp, mang lại hạnh phúc cho mọi loài thụ tạo trong đó có con người.

DO SỰ CỨNG LÒNG CỦA CÁC NGƯƠI

Người Kitô hữu phải sống với suy tư này, đó là hôn nhân không phải là một khế ước đơn thuần của xã hội, một định chế của luật lệ xã hội. Nó cũng không phải là một đáp trả có tính cách tình cảm và dựa vào sự thôi thúc của dục vọng. Hôn nhân, theo cái nhìn Kitô Giáo là một ơn gọi. Một lời đáp trả trực tiếp đối với Thiên Chúa về sự chọn lựa bậc sống của mình, cũng như sự đáp trả tiếng gọi của con tim, của tình yêu giữa hai người. Đây chính là lý do tại sao Thiên Chúa đã không cho phép con người ly dị.
Con người có thể là coi thường lời hứa và coi thường tình cảm của nhau, nhưng đối với Thiên Chúa thì không. Những gì Ngài đã hứa, và những gì Ngài trao tặng nó phải mang tính cách vững bền, không thay đổi. Ngài không bao giờ làm một việc gì mà không nhìn đến hạnh phúc của con cái Ngài. Tình yêu mà Ngài mời gọi họ bước vào. Tình yêu mà Ngài san sẻ cho hai người để trao cho nhau cũng phát xuất từ sự thánh thiện và bền vững ấy. Do đó, khi con người phản bội nhau, chính là phản bội Thiên Chúa.

Các quan tòa, các thẩm phán, các luật sư và ngay cả các đương đơn ly dị, tất cả ai cũng đều biết rõ điều này là ly dị, một nghĩa nào đó là hành động phản bội. Nhưng sở dĩ họ vẫn làm là vì theo Chúa Giêsu đã nói: “Bởi vì lòng dạ các ngươi cứng cỏi, nên Maisen mới cho phép các ngươi ly dị vợ” (Mat 19:8). Việc cho phép của Maisen, như vậy chỉ là một việc làm miễn cưỡng, một hành động chẳng đặng đừng mà Thiên Chúa làm ngơ cho phép xảy ra theo sự cứng lòng của con người. Một cách tương tự, luật cho phép ly dị của các quốc gia hiện nay trên thế giới cũng chính là một hành động đi ngược với chủ ý của Thiên Chúa, nhưng vì tôn trọng tự do của con người, Ngài đành nhắm mắt làm ngơ!  
  
Nhìn vào những lý do ly dị hiện nay, hầu hết các trường hợp ly dị đều dựa vào lý do: “Những khác biệt không thể hàn gắn được” -Irrecconcilable differences. Đây có thể được coi là một sáng kiến khôn ngoan, nhưng cũng đầy lật lọng, đầy gian dối đối với các quan tòa và các luật sư biện hộ.  Nó cũng là lý do để những ai đâm đơn ly dị dựa vào đó để tự trấn át lương tâm mình.

Trong thực tế, ai có thể chứng minh được những khác biệt không thể hàn gắn ấy là những khác biệt nào, và chúng đến từ nguyên nhân nào, ngoại trừ người đứng đơn ly dị! Những khác biệt không thể hàn gắn ấy có thể là vì tôi đã có bồ, đã ngọai tình. Tôi đã lường gạt được anh hay em cho bõ ghét và nay thì không còn thèm muốn nữa.  Nó cũng có thể là tự thâm tâm, tôi chỉ là một anh hay một chị đồng tính, hoặc vừa đồng tính vừa lưỡng tính. Một anh hay một chị đào mỏ chỉ thích cái gia tài khổng lồ của người khác. Những người mà tự mình đã dối gạt khả năng bất lực của mình, đối gạt tính ham mê cờ bạc, rượu chè, và nghiện hút. Và rất nhiều những lý do khác được gói trọn vào một câu: “Những khác biệt không thể hàn gắn được” - Irrecconcilable differences.
Chúa Giêsu, Đấng thấu hiểu lòng dạ con người nên đã giải thích những khác biệt ấy bằng một câu vắn tắt nhưng đầy ý nghĩa, đó là “sự cứng cỏi của tâm hồn”. Mà nếu đã như vậy, thì người chồng hay người vợ có làm cách gì đi nữa cũng vẫn không thể “hàn gắn” được.

Một điều nghe như khôi hài mà rất nhiều người vẫn tự bào chữa cho thái độ vô tội, cho việc làm chính đáng của mình khi ly dị, đó là: “Tôi không bỏ vợ hay bỏ chồng vì một bóng hình thứ ba, không hề có chủ ý nào, mà chỉ đơn thuần là những khác biệt giữa hai người không thể hàn gắn. Tôi ly dị vì nghĩ đến ảnh hưởng giáo dục của những đứa con…” Thực tế lại cho thấy một nguyên tắc hoàn trái ngược, đó là chẳng ai dại gì bỏ đi cái mà mình đang có, họa chăng là đổi lấy cái mà mình cho là tốt hơn. Nguyên tắc tâm lý này đã được chứng minh trong hầu hết các trường hợp ly dị, mặc dù kết quả khảo cứu lại không cho thấy những đánh đổi kia là đúng, hoặc tốt hơn. Đông Tây gặp nhau, kinh nghiệm của tiền nhân Việt Nam cũng đã cho thấy điều này: “Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa”, hoặc : “Chê thằng toét mắt, lấy thằng gù lưng ”.

Kết quả các cuộc khảo cứu cũng cho biết thêm đời sống sau khi ly dị   người đàn bà là người chịu thiệt thòi nhiều so với đàn ông.  Rất tiếc, cũng những khảo cứu ấy lại cho thấy đàn bà đứng đơn ly dị nhiều hơn đàn ông.

HỒNG ÂN CHỨ KHÔNG PHẢI THÁCH ĐỐ

Trở lại câu truyện một loài chim, thiên nhiên đã cho con người một bài học rất bổ ích, đầy ý nghĩa. Điều này minh chứng rằng Thiên Chúa và Giáo Hội đã không đặt trên vai con người những gánh nặng không thể mang vác, hoặc đòi hỏi những điều xem ra vô lý. Thiên Chúa chỉ muốn con người được hạnh phúc, và Giáo Hội chỉ hướng dẫn và giúp con người thực thi ý Chúa để được hạnh phúc.

  Hạnh phúc của luật “một vợ một chồng” được nhìn thấy qua thái độ hớn hở và hạnh phúc của Adong khi đón nhận Evà từ tay Thiên Chúa. Ông hạnh phúc và sửng sốt kêu lêu: “Đây là xương của xương tôi, thịt của thịt tôi. Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì được rút ra từ đàn ông” (2:23). Vì ý nghĩa này mà người Việt Nam gọi chồng hay vợ là “mình”.  Do đó, khi vợ chồng tự ý loại bỏ nhau, tự ý cho phép mình ly dị và dan díu với người khác là bỏ đi một phần của chính mình để đi tìm cái phần ấy của kẻ khác. Hoặc cũng có thể nói là đi ăn cắp, cướp giật phần của kẻ khác.

Tâm lý chung thủy, tự nó cũng nói lên khía cạnh tích cực vì nó thôi thúc hai người phải có trách nhiệm nối kết, mang lại hạnh phúc cho nhau. Trong hôn nhân không có thứ hạnh phúc một mình, vì hạnh phúc của người này cũng là hạnh phúc của người kia. Các nhà tâm lý đã khám phá ra rằng, hễ người nào cứ mang ý tưởng “ly dị” trong đầu, hoặc những ai bước vào hôn nhân như một “trò chơi”, những người này trước sau cũng ly dị. Những khảo cứu gần đây về lý do ly dị còn cho biết thêm là những ai đã một lần ly dị, họ thường là những người sẽ dễ dàng ly dị lần thứ hai hoặc thứ ba.

Như vậy, khi Thiên Chúa muốn con người bước vào ơn gọi hôn nhân bằng luật “nhất phu, nhất phụ” - một vợ một chồng - là Ngài muốn cho con người sống với tâm lý này. Ngài không muốn con người phải xao động, phải hối hận, và phải phân vân về chọn lựa của mình. Xao động, hối hận, hoặc phân vân nói lên tâm trạng thiếu trưởng thành, một tâm lý  không đem lại hạnh phúc của hôn nhân. Cũng chính vì vậy, khi xét định một trường hợp hôn nhân “bất thành sự”, các thẩm phán trong các tòa án hôn phối của Giáo Hội đã căn cứ vào yếu tố trưởng thành tâm lý để quyết định giá trị thành sự của hôn nhân đó. Dĩ nhiên, đây chỉ là một trong nhiều những nguyên nhân khiến cho một cuộc hôn nhân không thành sự.

Trở lại những yếu tố tâm lý, tâm linh và thiên nhiên, và với cái nhìn tích cực, thì hôn nhân một vợ một chồng là một hôn nhân không vượt quá sự cố gắng của con người. Nó cũng không phải là gánh nặng mà Thiên Chúa đã vô tình đặt trên vai con người. Nhưng chỉ nói lên đó là một hồng phúc. Thật vậy, chỉ khi nào chúng ta bình tâm, sâu lắng và thành thật với mình, chúng ta sẽ nhận ra người vợ hay người chồng của mình chính là một tặng vật vô cùng quí giá và không thể thiếu trong cuộc đời và trên hành trình trần thế. Tóm lại, ly dị không phải là giải pháp cuối và tốt nhất cho hôn nhân. Việc này nếu xảy ra thì chỉ là một việc bất đắc dĩ và đòi hỏi nhiều lý do vững chắc, khả tín, khoa học. Điều mà Giáo Hội gọi là những lý do đưa đến sự bất thành ngay từ ban đầu của Bí tích Hôn nhân.  
Tác giả: Trần Mỹ Duyệt
Nguồn: giaolyductin.net

Tin Mừng Gia Đình và Luật Tự Nhiên (2)

Tin Mừng Gia Đình và Luật Tự Nhiên (2)



Ngày nay, do nhiều tổ chức học thuật thiếu đi sự quy chiếu về luật tự nhiên, những phàn nàn chính yếu đến từ việc thực hành thái quá chuyện ly dị, sống thử, ngừa thai, các thủ tục sinh sản nhân tạo và kết hôn đồng giới. Những phàn nàn khác chống lại luật tự nhiên đến từ những vùng nghèo nhất và những vùng ít bị ảnh hưởng bởi tư tưởng Tây phương – đặc biệt là các quốc gia Phi Châu – vốn có nhiều hiện tượng gia trưởng, đa thê, tảo hôn, ly dị vì vô sinh hay không có con trai cũng như loạn luân hay những hành vi lạ thường khác.
Hầu như tất cả các câu trả lời cũng như những quan sát đều liên hệ tới một sự gia tăng con số các trường hợp gia đình “pha trộn”, đặc biệt bởi vì có sự hiện diện của con cái nhiều cặp khác nhau. Xã hội Tây phương ngày nay đang chứng kiến nhiều trường hợp trong đó con cái, ngoài việc sống với bố mẹ đã ly dị hoặc chia tay, có thể hoặc không thể tái hôn, sống với ông bà cùng một hoàn cảnh như vậy. Hơn nữa, cách riêng là ở Châu Âu và Nam Mỹ (cũng như ở một số nước Nam Á), những trường hợp các cặp hay những người độc thân, những người thiếu tâm thức mở ra với cuộc sống, đang gia tăng; cảnh gia đình thiếu vợ hoặc chồng cũng gia tăng. Nơi các châu lục này, người ta cũng thấy có một sự gia tăng đáng buồn về độ tuổi mà mọi người quyết định kết hôn. Nhiều khi, đặc biệt là ở Bắc Âu và Nam Mỹ, con cái bị xem là một rào cản cho sự hưng thịnh của cá nhân và các cặp vợ chồng.
Một vài trả lời, đặc biệt là ở các lãnh thổ ở Châu Á, nói đến một sự sẵn lòng, trên cấp độ công dân, để nhận ra điều gọi là sự kết hiệp “đa nhân vị” giữa các cá nhân thuộc nhiều xu hướng tính dục và căn tính tính dục khác nhau, chỉ đơn giản dựa trên những nhu cầu cá nhân và những điều cần thiết chủ quan riêng tư của mình. Nói tóm lại, khuynh hướng này quy quyền tuyệt đối vào tự do cá nhân mà không có bất cứ thỏa hiệp nào: người ta được “hình thành” chỉ trên nền tảng những khao khát riêng của mình mà thôi. Điều mà ngày càng được đánh giá là “tự nhiên” chỉ là một sự quy chiếu về cái tôi càng nhiều, khi nó thỏa đáp những khao khát và mong chờ của họ. Tình cảnh này bị ảnh hưởng nhiều bởi phương tiện truyền thông, và bằng lối sống của những người trong làng thể thao và giải trí. Những phương diện này đang có những ảnh hưởng thậm chí nơi các quốc gia có nền văn hóa gia đình truyền thống, vốn cho đến nay, dường như đang phải cố gắng chống cự lại về chuyện này (Châu Phi, Trung Đông và Nam Trung Á).
Xưa đến nay, ngôn ngữ được sử dụng để giải thích từ “luật tự nhiên” luôn phải được cải thiện để những giá trị của Tin Mừng có thể được thông truyền cho con người ngày nay trong một cách thức dễ hiểu hơn. Cụ thể, có rất nhiều câu trả lời và thậm chí là cả một phần lớn những quan sát đòi hỏi rằng cần phải nhấn mạnh hơn nữa về vai trò của Lời Chúa như là một công cụ ưu tiên trong quan niệm về đời sống hôn nhân và gia đình, và đề xuất một sự quy chiếu lớn hơn tới Kinh Thánh, ngôn ngữ và những trình thuật trong Kinh Thánh. Những người trả lời đã đề nghị mang vấn đề này vào thảo luận chung với nhau và phát triển ý tưởng về soi sáng kinh thánh và “trật tự tạo dựng”, vốn cho phép đọc lại khái niệm luật tự nhiên một cách ý nghĩa hơn trong thế giới ngày nay (cf. ý tưởng luật được viết trong tâm khảm con người ở Rm 1:19-21; 2,14-15). Hơn nữa, đề nghị này nại vào việc sử dụng ngôn ngữ mà mọi người đều có thể hiểu được, chẳng hạn, ngôn ngữ biểu tượng mà phụng vụ sử dụng. Cũng có đề nghị làm sao để người trẻ được dấn thân trực tiếp vào những vấn đề này.
(Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới, The Pastoral Challenges of the Family in the Context of Evangelization (Instrumentum Laboris), Bản dịch Việt ngữ của Lê Hoàng Nam, SJ, số 27-30)

Cầu nguyện
Lạy Cha, chúng con đang gặp phải nhiều khó khăn và thách đố trong đời sống gia đình. Nhiều nơi, nhiều gia đình không còn là tổ ấm yêu thương nữa. Xin Cha dủ lòng thương xót chúng con, và ban cho chúng con ơn hoán cải, và trở về cùng Chúa, Đấng đã dựng nên chúng con theo hình ảnh Chúa, và đã ban lề luật của Ngài cho chúng con để nhờ sống theo sự hướng dẫn của Ngài chúng con được hạnh phúc. Amen.

Câu hỏi phản tỉnh
1. Nhiều gia đình đổ vỡ hoặc không còn là tổ ấm yêu thương nữa. Theo bạn, đâu là nguyên nhân?
2. Bạn và gia đình có tin tưởng và chọn Chúa cũng như giới luật của Ngài làm nguyên lý và nền tảng để  xây dựng hạnh phúc gia đình không? Bạn kinh nghiệm thế nào về hiệu quả từ việc chọn hay không chọn sống theo nguyên tắc căn bản này?

Tác giả: Truyền thông Dòng Tên
Nguồn: http://dongten.net