Thứ Ba, ngày 02 tháng 9 năm 2014

Mặc khải, mạc khải

Mặc khải, mạc khải



"Mặc khải là Thiên Chúa tỏ bày mầu nhiệm của Người cho nhân loại qua trung gian loài người như ông Môsê, ông Êlia, nhất là qua Chúa Giê-su. Đến lượt mình, Chúa Giêsu lại tỏ cho các Tông Đồ biết mọi bí nhiệm, ý định của Thiên Chúa."[1]

Ở đây, vấn đề chúng tôi muốn tìm hiểu là vì trong tiếng Việt, ngoài thuật từ “mặc khải” còn có “mạc khải” (cả hai đều dịch từ chữ La Tinh là revelatio, có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp là apocalypsis) để diễn tả việc “Thiên Chúa tỏ bày mầu nhiệm của Người cho nhân loại”.

1. Nguyên ngữ apocalypsis, revelatio

Mặc khải hay mạc khải dịch từ chữ Latinh là revelatio, gốc từ chữ Hylạp là apocalypsis.

1.1. Apocalypsis, có tiếp đầu ngữ apo- nghĩa là cách, tách biệt, khỏi (off, from, away); calypsis có nghĩa là che, phủ (cover). Như vậy, apocalypsis nguyên nghĩa là vén màn che lên (lifting of the veil), tức là tỏ ra cho biết, cho thấy.

1.2. Revelatio: Danh từ velum trong La ngữ có nghĩa là: Mạng che mặt, khăn trùm hay tấm màn (trước thế kỷ XIII: Pháp: voile; Anh: veil). Từ đó có động từ velare nghĩa là: che phủ, che đậy, giấu kín (thế kỷ XIV: Pháp: voiler, couvrir; Anh: to veil, to cover) và revelare (với tiếp đầu ngữ re- hàm nghĩa là: phản nghĩa với) nghĩa là: bỏ mạng che mặt, cất màn; nghĩa rộng là: khánh thành; trình bày công khai; để lộ, tiết lộ (Pháp: dévoile, découvrir; Anh: unveil, uncover). Từ hậu bán thế kỷ XIV, revelare được dịch sang tiếng Pháp là reveler và tiếng Anh là reveal có nghĩa là: bộc lộ, tiết lộ (điều bí mật); phát hiện, khám phá (vật bị giấu...). Vào khoảng năm 1230, tựa đề quyển sách cuối cùng của Thánh Kinh được chuyển sang tiếng Anh là Apocalypse. Khoảng năm 1380, John Wiclif (Tin Lành) dịch tựa đề sách này là Revelation. Thời Trung Cổ, từ này có nghĩa là “insight, vision, hallucination” (thấu thị, thị kiến, ảo giác); ngày nay có nghĩa là “A cataclysmic event” (Một cuộc hồng thủy hay câu chuyện về ngày tận thế).[2] 

Revelatio có nghĩa[3]: (1) Hành vi vén mở, tiết lộ. (2) Những việc trước đây không được biết đến, nay được biết đến. (3) (Về mặt thần học): (a) Chúa để lộ ra chính mình Chúa và thánh ý Chúa cho các loài thụ tạo. (b) Trường hợp truyền đạt hay tiết lộ. (c) Những việc được truyền đạt hay tiết lộ. (d) Những gì chứa đựng việc tiết lộ này, như Thánh Kinh. (4) Khi viết hoa, là chỉ cuốn Khải Huyền của Thánh Gioan.

1.3. Hành trình đến Viễn Đông

Tại Viễn Đông, các nhà truyền giáo trong những thế kỷ đầu thường dùng những lý lẽ tự nhiên và những chứng cứ thực tế, cụ thể và dễ hiểu để trình bày đức tin Kitô giáo. Các ngài rất ít khi viện dẫn tới những ý niệm thuộc siêu hình học hay thần học kinh viện cao xa. Vì thế, ý niệm về revelatio vắng mặt trong các tác phẩm như Phép Giảng Tám Ngày[4] và Từ điển Việt-Bồ-La[5] của cha Đắc Lộ (xuất bản năm 1651) cũng như các thuật từ khải huyền, mạc khải hay mặc khải đều không có trong những tự điển, tự vị trước năm 1896 như Dictionarium Annamitico Latinum của Đức cha P.J. Pigneaux (1772) Dictionarium Anamitico-Latinum của Đức cha Taberd (1838), Đại Nam Quấc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Paulus Của (1895-1896).

Có người cho rằng thừa sai Giêrônimô Majorica, S.J., là người đầu tiên đã dịch từ révélation sang chữ Nôm là khải mông[6] trong cuốn giáo lý Công giáo đầu tiên của Việt Nam là "Thiên Chúa Thánh Giáo Khải Mông" (năm 1623). Điều này không đúng, vì cuốn này tuy là bản dịch ra chữ Nôm của cuốn Controverses[7] của Thánh Hồng y Robert Bellaminô soạn năm 1581-1593, nhưng tựa đề của nó là do cha Majorica tự đặt ra và chính ngài giải nghĩa chữ khải mông là "lời tóm lại mọi sự Đức Chúa Giêsu truyền xưa" (x. đoạn I) còn nội dung bên trong thì không có chỗ nào sử dụng thuật từ révélation cả.

Có lẽ Julien Thiriet là người đầu tiên ghi nhận ý nghĩa phổ thông của từ revelatio là “sự tỏ ra, bày tỏ ra” trong cuốn Tự vị Latinh-Annam[8] xuất bản năm 1868, tiếp theo là P.G. Vallot[9] (năm 1898). Đồng thời gian này, Genibrel[10] ghi nhận révélation được dịch là mặc chiếu, mặc thị. Cha Cố Chính Linh trong bản dịch Thánh Kinh (1914-1916) cũng dịch từ này theo nghĩa phổ thông là "tỏ ra, tỏ hiện, hiện ra, hiện đến, soi sáng". Trong Tân Ước (bản Vulgata) chữ apocalypsis xuất hiện 3 lần, cha Cố Chính Linh dịch là "tỏ sự kín nhiệm" (1 Cr 14,26) và "khải huyền" (tựa sách Kh và Kh 1,1), và ngài chú thích: "Apocalysis nghĩa là bày tỏ ra sự gì kín nhiệm hay là sự gì chưa biết: Revelatio, khải thị, khải huyền v.v...". Bản dịch Thánh Kinh năm 1932 của cụ Phan Khôi cũng dùng chữ tỏ ra (revelation) và sự mặc thị, mặc thị lục (apocalypsis). Chúng tôi chưa tìm thấy chữ khải huyền trong tài liệu nào trước đó (1914) tại Việt Nam cũng như Trung Quốc.

2. Nghĩa chữ khải

Khải có các chữ Hán: 凱 (凯), 剴 (剀), 啟 (啓, 启),塏 (垲), 豈 (岂), 愷 (恺), 楷 , 覬, 鍇 (锴), 鎧 (铠), 闓 (闿), 卡, 咳 (cũng đọc là khái), 磕 (cũng đọc là khái), 綮 (棨) (cũng đọc là khể), 榼 (cũng đọc là khạp), và các chữ Nôm: 凯, 凱, 剀, 剴, 启, 啓, 垲, 塏, 愷, 揩, 鎧. Trong thuật từ mạc khải, mặc khải hay khải huyền, khải là chữ啟. 
Chữ khải 啓giáp cốt văn là:  
 
Chữ này do ba chữ cấu thành: (môn : cửa), (thủ: tay), (khẩu: miệng), mang nghĩa một bàn tay mở cửa ra, rồi thuyết giáo.

Nghĩa gốc là ‘mở’, như Tả Truyện: “Môn khải nhi nhập: cửa mở cứ vào”. Nghĩa được mở rộng thành ‘chỉ đường’, như Luận Ngữ: “Bất phẫn bất khải, bất phi bất phát (不憤不啟. 不悱不發): Đối với học sinh, phải chờ đến khi chúng không nghĩ ra, mới gợi ý; chờ đến khi chúng không nói ra được mới giải thích”. Trong tiếng Hán hiện đại, mặc cũng có nghĩa là ‘trần thuật’, ‘thông báo’[11].  

Khải 啟 có các nghĩa: (đt.) (1) Mở: Khải môn (mở cửa). (2) Mở mang đất đai: Đại khải Nam Dương (mở mang Nam Dương rất nhiều). (3) Mở trí, chỉ dạy: Khải đạo (hướng dẫn chỉ dạy). (4) Bày tỏ, giải bầy: Khải sự (giải bầy công việc). (5) (cũng đọc là khởi) Bắt đầu: Khải lễ (bắt đầu nghi thức), khải hành (bắt đầu đi). (6) Báo tin (cổ văn): Kính khải giả (Xin báo cáo). (dt.) (7) Tờ viết (cổ văn): Tạ khải (thư cám ơn). (8) Từ ngữ viết thư, viết sau họ tên người nhận thư: XX đài khải (kính thư XX). (9) Họ Khải. (10) Phiên âm của hành tinh venus: Khải minh tinh.

3. Nghĩa chữ mặc và mặc khải

3.1. Mặc có các chữ Hán: 默, 墨, 万, 纆, 嘿, 嚜; và các chữ Nôm: 默, 袙, 嚜, 墨. Trong thuật từ mặc khải, mặc là chữ默. Chữ mặc (默) gồm bộ khuyển (犬) và chữ hắc (黑), 黑 cũng dùng làm hình thanh, chỉ tối tăm, trong bóng tối. Nên nghĩa gốc chỉ con chó lén lút tấn công người. Tấn công ngầm thường không có tiếng động, nên chữ mặc còn có nghĩa là ‘im lặng, không lên tiếng’; nghĩa rộng là ‘lặng lẽ, tĩnh mịch, đen tối, trong bóng tối’[12]

Mặc 默, chữ Hán có nghĩa: (pht.) (1) Im (im lìm, im lặng, không nói ra, làm thinh, không lên tiếng): Mặc đảo (cầu nguyện thầm), mặc niệm (đọc thầm trong bụng), mặc toạ (ngồi im), mặc tụng (đọc không ra tiếng, lầm rầm). (2) Thầm kín (âm thầm, kín đáo, ngấm ngầm): Mặc cải chính trị (cải cách chính trị cách âm thầm), mặc thị (ra hiệu lén = tỏ ý một cách kín đáo, signal), mặc nhận (thầm nhận = ưng thuận cách ngấm ngầm). (3) Nhớ (thuộc lòng, nằm lòng): Mặc ký (nhớ trong lòng), mặc tả (viết thuộc lòng), mặc thức (ghi nhớ trong lòng), mặc toán (tính rợ, tính trong bụng). (4) (dùng kết hợp): Mặc mặc (im im = dáng buồn so); u mặc (có tính hài hước nhẹ nhàng). dt. (5) Họ Mặc.

Mặc Trong tiếng Hán hiện đại, cũng có nghĩa là trần thuật, thông báo[13].

Mặc 默, chữ Nôm có nghĩa: Nín lặng, không thèm nói đến; để tuỳ tiện, không kể đến: mặc ai, mặc bay, mặc dầu, mặc ý, mặc lòng, mặc sức, mặc tình, mặc xác, mặc kệ = mặc đời, phó mặc.

3.2. Mặc khải (révélation), có nghĩa : (1) Tỏ lộ những điều bí ấn, khó hiểu. (2) Chỉ những sách có công tác đó.[14]  

4. Từ “mặc khải”... đến “mạc khải”

Năm 1956, theo sự phân công của của Ban Từ ngữ Chuyên môn trong Hội nghị Thống nhất Ngôn ngữ Sài Gòn (từ ngày 5/9-3/10), Lm. Gioan Maria Trần Văn Hiến Minh (sau này là Đức ông) được bầu làm trưởng ban đồng thời đặc trách Tiểu ban Danh từ Triết học. Cuốn Từ điển và Danh từ Triết học mà ngài xuất bản năm 1966 là kết quả của tiểu ban này sau gần 10 năm biên soạn, trong đó chúng tôi thấy có thuật từ mạc khải[15]. Vậy chúng tôi suy đoán rằng thuật từ mạc khải là do Đức ông Hiến Minh tạo ra. Trước thời gian này, ngài sử dụng từ mặc khải trong các tác phẩm của mình[16] nhưng về sau thì ngài đã thay đổi bằng từ mạc khải[17]. Vài năm sau, hàng loạt sách quan trọng đã sử dụng từ mạc khải thay cho mặc khải có từ trước, như: Hai bản dịch các văn kiện Công đồng Chung Vatican II của cha Trần Văn Thông, Senatus Sài Gòn (xb. năm 1969) và của Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X; bộ Điển ngữ Thần học Thánh Kinh của Giáo hoàng Học viện Thánh Piô X; Tân Ước của cha Nguyễn Thế Thuấn và đặc biệt là bộ Sách Bài Đọc, Sách Lễ Rôma, Sách Lễ Giáo dân của Uỷ ban Giám mục về Phụng vụ... tất cả đều xuất bản trong năm 1971. Đến nay, ngoài cuốn Điển ngữ Đức tin Công giáo của cha Hồng Phúc (xb. 1996) và Tự Điển Đức Tin Kitô Giáo Pháp Việt (bản dịch khuyết danh, xb. 2001?) còn dùng thuật từ mặc khải, các từ điển Công giáo khác đều sử dụng từ mạc khải mà thôi.

5. Chữ "mạc" viết thế nào?
Rất tiếc là chúng ta không biết người tạo ra thuật từ mạc khải đã muốn dùng chữ mạc nào trong tiếng Hán. Vì vậy mà có người cho rằng chữ mạc trong mạc khải là  幕 (mạc莫thêm chữ cân 巾, nghĩa là cái màn幕); người khác[18] thì cho chữ mạc là 漠 (mạc莫thêm bộ thuỷ 氵, có nghĩa là yên lặng 漠); hoặc mạc cũng là chữ  mặc 默 trong mặc khải?

Trong Dictionnaire Annamite Français của J.F.M. Genibrel, xb. 1898, tr. 434 có ghi:" 默MẠC. (= Mặc), 1. Solitude, f. Silence, m. Se taire, r. 2. Mạc tưởng, Méditer, a. Mạc thổn, Considérer, a. Cung mạc tư đạo, Méditer sur ses devoirs dans un."
 
(Nguồn: J.F.M. Genibrel, Dictionnaire Annamite Français, 1898, tr. 434)

Trang 442: "默 MẶC. (Lặng), Silence, m. Mặc thị, Révélation, f. Mặc chiếu, id. Mặc tưởng, Méditer, a. n. Réfléchir, n."
 

(Nguồn: J.F.M. Genibrel, Dictionnaire Annamite Français, 1898, tr. 442)

Nếu mạc lấy chữ mạc bộ thuỷ (漠) hay chữ mặc (默) và lấy nghĩa im lặng, thì rõ ràng mạc và mặc đồng nghĩa: mạc khải = mặc khải, chúng ta sẽ không có gì để tranh cãi. Có điều là chỉ có mặc  墨 (chữ hắc 黑 thêm chữ thổ 土, nghĩa là mực, sắc đen) mới đọc trại là "mạc"; còn nói như Génibrel thì rất lạ, chúng tôi chưa thấy tài liệu nào nói như vậy, phải chăng chỉ là cách phát âm riêng của một địa phương nào đó ở Việt Nam hay chỉ là một trong những sai sót của cuốn tự điển này?[19]

Còn phiên thiết theo (1)Thuyết Văn Giải Tự說文解字là : 莫(mạc) + 北 (bắc), 切 (thiết) → mặc. (2) Khang Hi tự điển 康熙字典 là: 密 (mật) + 北 (bắc), 切 (thiết) → mặc. (3)Từ Hải 辭海 và Từ Nguyên 辭源 là : 暮 (mật) + 劾 (hặc), 切 (thiết) → mặc. Như vậy默chỉ có duy nhất một âm là mặc.

Như số đông, chúng tôi cho rằng trong thuật từ mạc khải, mạc lấy nghĩa là màn và viết là幕 (mạc phần dưới có chữ cân).

6. Nghĩa chữ mạc và mạc khải

6.1. Mạc có các chữ Hán: 莫, 幕 (幙), 摸, 漠, 獏, 瘼, 瞙, 羃, 膜, 貘, 邈, 鏌 (镆), 鄚, 摹 (cũng đọc là mô), 模 (橅, 糢) (cũng đọc là mô), 寞 (冪, 羃, 幎, 幂) (cũng đọc là mịch), 墨 (còn đọc trại là mặc); và các chữ Nôm: 莫, 漠, 瘼, 訡, 邈. Trong thuật từ mạc khải, mạc là chữ幕, nghĩa là: (dt.) (1) Tấm màn. (2) Trướng (lều bạt): Doanh trại của tướng lãnh (Cái màn che ở trên gọi là mạc. Trong quân phải giương màn lên để ở, nên, chỗ quan tướng ở gọi là mạc phủ - bộ tư lệnh quân đội. Người tham mưu bí thư ở trong quân gọi là mạc hữu; những người thư ký coi việc văn thư gọi là mạc liêu.). (3) Màn (sân khấu): Việc bắt đầu hay kết thúc (Đóng tuồng trước phải căng màn, đến lúc diễn trò mới mở, vì thế sự gì mới bắt đầu làm đều gọi là khai mạc (mở màn, dẫn đầu); khi hết tuồng thì kéo màn đóng lại, vì thế sự gì kết thúc cũng gọi là bế mạc (đóng màn, chấm dứt). (4) Màn (kịch): Hồi ở bản kịch: Đệ nhất mạc (Màn một). (5) (còn đọc là mạn hay mán): Mặt trái hay mặt sau của đồng tiền (Đồng tiền thời xưa, mặt phải hay mặt trước có chữ, mặt trái hay mặt sau thì trơn). (6) Có khi dùng như chữ mạc 漠,nghĩa là: Bể cát : sa mạc; yên lặng: đạm mạc (hờ hững, không thể lấy danh lợi làm động lòng được). (đt.) (7) Bao phủ, che trùm: "Giải triều phục nhi mạc chi: cởi áo triều phục mà che lại" (Quốc Ngữ Hoạt Dụng Từ Điển) (8) (dùng kết hợp) nội mạc (chuyện thật bên trong), mạc yến (én làm tổ trên màn: tình cảnh nguy ngập, ‘trứng treo đầu gậy’).

6.2. Mạc khải (révélation): Tác động của Thiên Chúa bộc lộ những điều vượt tầm hiểu biết của con người. Ví dụ: Sự hiện hữu của Thiên Chúa vừa do lý trí khám phá vừa được chính Ngài mạc khải.[20]

6.3. Mạc khải có sai ngữ pháp?

Mạc khải (幕啟) là từ ghép không có trong tiếng Hoa, chỉ mới có trong tiếng Việt gần 50 năm nay.[21]

Trong tiếng Hoa có những từ ghép như: thuỳ mạc (垂幕,dt.: thả màn, drop curtain), yết mạc (揭幕, đt.: vén màn, to unveil,)... Nhưng những cụm từ như: mạc khải (幕啟 kéo màn, the curtain rises), mạc lạc (幕落hạ màn, curtainfall), mạc thùy (幕垂 thả màn, the curtain dropped) là những cụm từ tự do. Trong tiếng Việt, dù các thành tố đều có gốc Hán, nhưng nếu xét theo quan hệ cú pháp tiếng Hán, ta có những từ ghép như: khai mạc, bế mạc... (thành tố chính sau - thành tố phụ trước), còn xét theo quan hệ cú pháp tiếng Việt, ta cũng có những từ ghép như: trưởng đoàn, viện hàn lâm... (thành tố chính trước - thành tố phụ sau). Đặc điểm này có người gọi là "văn phạm kép" của tiếng Việt.

Theo Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Thiện Giáp[22], từ ghép có hai đặc điểm là: (1) Hoàn chỉnh về nghĩa và (2) Tính phi cú pháp trong quan hệ của các thành tố cấu tạo:

(1) Một đơn vị được coi là có tính hoàn chỉnh về nghĩa khi nó có khả năng biểu thị một khái niệm về đối tượng tồn tại bên ngoài chuỗi lời nói. Từ ghép có tính hoàn chỉnh về nghĩa, còn cụm từ tự do không có tính chất này. Mạc khải được coi là từ ghép có tính hoàn chỉnh về nghĩa vì trong bất kỳ trường hợp nào nó cũng đã được sử dụng như một thuật từ chuyên biệt (để chỉ tác động của Thiên Chúa bộc lộ những điều vượt tầm hiểu biết của con người) chứ không phải là cụm từ tự do.

 (2) "Về mặt lịch sử, chính cú pháp là địa hạt đã diễn ra sự cấu tạo của từ ghép, tức là các từ ghép đã được cấu tạo theo mô hình của cụm từ (mặc dù có thể có ngoại lệ) nhưng do tính hoàn chỉnh về nghĩa, do được sử dụng như các từ, cho nên quan hệ giữa các thành tố trong các từ ghép trở nên có tính phi cú pháp". Mạc khải là từ ghép phụ nghĩa, gồm hai thành tố cùng loại (cùng gốc chữ Hán), có quan hệ cú pháp tiếng Hán (thành tố chính đứng sau - thành tố phụ đứng trước). 

Theo Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn[23], về nguyên tắc, từ ghép phụ nghĩa không thể có hiện tượng tự do về mặt trật tự; yếu tố nào phải đứng trước, yếu tố nào phải đứng sau, là một vấn đề do thói quen thông thường (ngữ ngôn) chứ không phải do chuẩn mực chi phối (ngữ pháp). 

Chính yếu tố ngữ ngôn này đã góp phần tạo nên bản sắc văn hoá các dân tộc. Chẳng hạn nếu nói khải mạc là mở màn, thì rất đúng ngữ pháp Hán Việt và tiếng Hoa, nhưng chúng ta lại không có "khải mạc" mà lại có thuật từ mạc khải - từ mà Trung Quốc không có! Có thể nêu ra ở đây một vài thí dụ để thấy rằng vị trí từ Hán Việt trong các từ ghép tiếng Việt đôi khi ngược với tiếng Hoa:

Tiếng Việt         Tiếng Hoa     
       
bản sao                   抄 本          sao bản 
đầu đạn                   弹 頭          đạn đầu 
hồn Việt                   越 魂         Việt hồn 
liên quan                  關 連          quan liên 
sắc phục                  服 色          phục sắc
số mệnh                   命數          mệnh số 
thu hồi                     回收           hồi thu 
bộ ngoại giao           外交部         ngoại giao bộ 
quan hệ xã hội          社會關係    xã hội quan hệ 
khoa học tự nhiên    自然科学     tự nhiên khoa học

Có những trường hợp tiếng Việt có hai cách nói, trong đó có  cách nói giống tiếng Hoa:
Tiếng Việt = Tiếng Hoa         Tiếng Việt
(văn phạm Hán)                       (văn phạm Việt)
(danh từ chính sau)                   (danh từ chính trước)

- trưởng đoàn                         - đoàn trưởng
- ngoại giao đoàn                   - đoàn ngoại giao

(danh từ chung sau)               (danh từ chung trước) 

- hàn lâm viện                       - viện hàn lâm 
- ngôn ngữ viện                    - viện ngôn ngữ 

Sau đây, chúng tôi thử liệt kê một số từ ghép theo văn phạm tiếng Hán và tiếng Việt, với các thành tố chính chỉ sự vật (danh từ) kết hợp với thành tố phụ chỉ hành động (động từ) và trường hợp ngược lại (thành tố chính chỉ hành động (động từ) - thành tố phụ chỉ sự vật (danh từ):

Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã có khá nhiều tài liệu nghiên cứu, phân tích và xếp loại về vấn đề từ ghép nghĩa. Việc phân loại căn cứ vào mặt từ loại, ví dụ phân loại thành kiểu kết cấu danh + danh, kiểu kết cấu động + động, kiểu kết cấu danh + động vv... cũng là một hướng nghiên cứu còn đang bỏ ngõ. Như vậy, chúng tôi chưa thấy đủ cơ sở để kết luận thuật từ mạc khải với cấu trúc danh + động là "sai ngữ pháp Hán Việt".

7. Nhận xét

7.1. Mặc khài là từ ngữ chung trong văn hoá Trung Quốc và Việt Nam đã được các thế hệ tiền bối sử dụng như một thuật ngữ trong thần học. Nếu mặc khải theo nghĩa hẹp là "sự tỏ bày điều kín ẩn trong âm thầm", thì từ này có thể dùng để hiểu chữ revelation cũng như inspiration. Công Giáo Trung Quốc đã từng hiểu như vậy, có lẽ vì thế mà ngày nay Giáo hội Trung Quốc đã thay thế từ mặc khải bằng hai thuật từ khác, đó là khải thị (cho revelation) và mặc cảm (cho inspiration).

Tại Việt Nam, ngay từ những thập niên đầu thế kỷ XX, Giáo hội Việt Nam đã có sử dụng thuật từ mặc khải.[25]

7.2. Mạc khải là thuật từ của riêng và mới có sau này trong thần học Công giáo Việt Nam. Ban biên tập cuốn Từ điển Đức tin Kitô giáo chắc phải có lý do gì đó khi xếp mục từ Révélation, rélvélé vào ngay bên dưới mục từ Voile (Khăn che, màn che)? - Có lẽ các tác giả muốn trước khi tìm hiểu Révélation, người ta cần đọc trước mục từ Voile: "tấm vải dùng để che giấu một cái gì... Màn đền thờ... Lý do tồn tại của các bức màn này là cái gì là thánh và thần linh đều phải không thấy được, không bị dơ nhớp bởi những cái nhìn của loài người... Khi Đức Kitô sinh thì, thì MÀN bị xé rách trọn vẹn, biểu tượng sự chấm dứt Giao Ước cũ..."[26]  để có thể hiểu hơn về khái niệm Révélation trong Kitô giáo? Kitô hữu Việt Nam khi sử dụng từ mạc khải có thể sẽ liên tưởng đến BỨC MÀN đó vậy.

8. Mặc hay mạc?

Năm 1994, trong bản dịch Tân Ước của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ (Nhóm CGKPV) xuất bản, nơi chú thích b) của Sách Khải Huyền, đoạn 1, câu 1 có ghi: "Do từ Hylạp apocalypsis, dùng từ mặc thay cho mạc. Nếu dùng mạc phải đổi lại là khải mạc mới đúng ngữ pháp Hán-Việt.”

Sau đó, Sr. E. Nguyễn Thị Sang (thuộc Nhóm CGKPV) có bài viết nói rõ hơn về lý do Nhóm không sử dụng thuật từ mạc khải. Thời gian gần đây đã có nhiều bài viết hoặc bênh hoặc bác việc sử dụng thuật từ này[27]. Lý do quan trọng, nếu không nói được là duy nhất mà chúng tôi thấy qua các bài chủ trương không dùng thuật từ mạc khải chính là: Mạc khải là thuật từ Hán Việt có cấu trúc danh từ bổ túc + động từ ngược thứ tự bình thường của các thuật từ Hán Việt là động từ + danh từ bổ túc. Ví dụ: khai mạc, bế mạc... Không ai nói mạc khai, mạc bế, vậy cũng không nên sử dụng kiểu nói mạc khải. Nếu dùng mạc phải đổi lại là khải mạc mới đúng ngữ pháp Hán Việt.

Kết luận


Trong giai đoạn trưởng thành, Giáo hội Việt Nam may mắn đã sớm có được nhiều vị tiên phong tài ba và nhiệt tâm xây dựng một hệ thống thuật ngữ triết học và thần học bằng chữ Quốc ngữ. Trước là các cha Vũ Kim Điền (thường được gọi là Điền Rôma), Trần Văn Hiến Minh, Bửu Dưỡng, Đỗ Minh Hồng (Papineau), Đỗ Minh Vọng (Cras)... tiếp đến các cha  Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Lập... Phần đông am hiểu chữ Hán, tốt nghiệp đại học ở ngoại quốc và có đủ trình độ để giảng dạy triết học và thần học. Các ngài đã cống hiến công sức chế tạo từ mới hoặc xây dựng định nghĩa riêng cho hơn 5.000 mục từ  trong lãnh vực triết học và thần học Kitô giáo để kịp thời phục vụ công việc giảng dạy, đào tạo và loan báo Phúc Âm.

Bốn cuốn: DANH TỪ THẦN HỌC VÀ TRIẾT HỌC (1952), DANH TỪ TRIẾT HỌC (1959), TỪ ĐIỂN LA-VIỆT-PHÁP (1960), TỪ ĐIỂN VÀ DANH TỪ TRIẾT HỌC (1966) đã là những tài liệu giáo khoa căn bản cho hàng vạn học sinh, sinh viên ban triết các trường trung học, đại học và các chủng sinh trãi bao thế hệ. Đó cũng là di sản văn hoá quý báu đối với Giáo hội Việt Nam.

Phần lớn trong số 5.000 mục từ đó vẫn còn được đón nhận rộng rãi trong khi một số đã bị lãng quên. Chắc chắn cũng có một số thuật từ cần phải xem lại và thay thế cho thích hợp hơn. Công việc đó cũng cần có sự đóng góp ý kiến xây dựng của mọi người thiện chí, đồng thời cần phải dựa trên các học lý, học thuật nghiêm túc. Tránh thái độ phê phán, kích bác chỉ dựa trên cảm tính hay sở thích riêng. Trường hợp hai thuật từ mặc khải và mạc khải cũng vậy. 

Nhứ thế, ta có thế kết luận rằng, nếu muốn thuật từ được phổ thông thì dùng mặc khải, còn nếu muốn tạo ra thuật từ đặc ngữ cho Giáo Hội tại Việt Nam thì có thể dùng mạc khải, nhưng cần giải thích rõ ý nghĩa của chữ mạc và có tính thuyết phục.



---------------------

[1] Bản dịch Tân Ước của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ (Nhóm CGKPV) xuất bản năm 1994, nơi chú thích b) của Sách Khải Huyền, đoạn 1, câu 2.
[2]  Tham khảo: www.etymonline.com.
[3]  http://dictionary.reference.com/browse/revelation.
[4] Tựa đề sách này là: “Cathechismvs Pro Iis, Qui Volunt Suscipere Baptismvm, In Octo Dies Diuisus - Phép Giảng Tám Ngày Cho Kẻ Muấn Chịu Phép Rứa Tọi, Ma Ƀěào Đạo Thánh Đức Chúa Blời (Phép Giảng Tám Ngày Cho Kẻ Muốn Chịu Phép Rửa Tội, Mà Vào Đạo Thánh Đức Chúa Trời) - Ope Sacrae Congregationis De Propaganda Fide In Lucem Editus - Ab Alexandro De Rhodes è Societate Iesv, Ejusdemque Sacrae Congregationis Missionario Apostolico”, Roma, 1651.
[5] Tựa đề sách này là : "Dictionarivm Annamiticvm, Lvsitanvm, Et Latinvm, Ope Sacrae Congregationis De Propaganda Fide In Lvcem Editvm - Ab Alexandro De Rhodes E Societate Iesv, Eivsdemque Sacrae Congregationis Missionario Apostolico", Roma, 1651.
[6] Đào Duy Anh, HÁN VIỆT TỪ ĐIỂN, in lần thứ ba, NXB. Trường Thi, Sài Gòn, 1957, tr. 360: "Khải mông (啓蒙) là mở mang cái tối tăm, cái ngu tối. Nghĩa bóng: Dạy học trò từ lúc bắt đầu còn ngu dốt". Chữ này, nghĩa rất nghiêm nghị, được các giáo sĩ dùng trong bối cảnh truyền bá Đạo Kitô thời bấy giờ, “đem Đạo đến để mở mang tâm trí những kẻ còn ngu dốt tối tăm”. Vì vậy từ này về sau không còn sử dụng nữa. Thuật từ này bên Trung Quốc ngày nay vẫn sử dụng với nghĩa là học từ đầu, (môn học) nhập môn.
[7] Tựa sách đầy đủ là: “Disputationes De Controversiis Christianae Fidei Adversus Hujus Temporis Haereticos” thường được gọi tắt là "De Controversiis" hay "Controverses".
[8] Julien Thiriet, Dictionarium Latino-Annamiticum, 1868, tr. 219: Revelatio, onis, f. Sự tỏ ra. Revelo, as, avi, atum, are, a. Bày tỏ ra.
[9] P.G. Vallot, Dictionnaire Franco-Tonkinois Illustre, 1898, tr. 323: Révélation: Sự tỏ điều kín, điều kín đã tỏ. Révéler: Tỏ sự kín, cho biết, tố cáo, tố giác.
[10] J.F.M. Genibrel, Dictionnaire Annamite-Français (Đại Việt Quốc  Âm Hán Tự Pháp Thích Tập Thành), 1898, tr. 442 : 默 Mặc. (Lặng), Im lặng, m. Mặc thị, Révélation, f. Mặc chiếu, id. Mặc tưởng, ngẫm nghĩ, a. n. Hồi tưởng.
[11] Th.s. Nguyễn Mạnh Linh, Từ Điển Từ Nguyên Tiến Trung, Hồng Đức, Hà Nội, 2008, tr.389.
[12] Lý Lạc Nghị, Tìm Về Cội nguồn Chữ Hán, nxb. Thế Giới, Hà Nội, 1997, tr. 389.
[13]  Th.s. Nguyễn Mạnh Linh, Từ Điển Từ Nguyên Tiếng Trung, Hồng Đức, Hà Nội, 2008, tr.389.
[14]  Trần Văn Hiến Minh, Kytô Học, Ra Khơi xb, Sài Gòn, 1957, tr. 386.
[15] Trần Văn Hiến Minh, Từ điển và Danh từ Triết học, Ra Khơi, Sài Gòn, 1966, tr. 148.
[16]  Ví dụ xem: Trần Văn Hiến Minh, Kytô Học, Ra khơi, Sài Gòn, 1957, hay Thượng Đế học, Ra Khơi, Sài Gòn, 1958.
[17]  Ví dụ xem: Trần Văn Hiến Minh, Mari học, Ronéo, TP. HCM, 1986.
[18]  Trần Văn Chánh, HÁN VIỆT TỰ ĐIỂN và Thiều Chửu, Hán Việt Tự Điển, Đuốc Tuệ, Hà Nội, 1942, cho rằng: "Mạc 幕có khi cũng dùng như chữ mạc 漠" và trang http://vi.wikipedia.org. dùng chữ mạc 漠.
[19] Xem thêm bài của Nguyễn Quảng Tuân: "Những sai lầm trong quyển Tự Điển Génibrel" trong Tập Chí Hán Nôm, Số 2(3), năm 1987.
[20] Trần Văn Hiến Minh, Từ điển và Danh từ Triết học, Ra Khơi, Sài Gòn, 1966, tr. 148.
[21]  Cấu trúc thuật từ mạc khải cũng tương tự như thuật từ sứ ngôn mà chúng tôi đã có dịp tìm hiểu trong bài "Tiên tri - Ngôn sứ - Sứ ngôn" đã đăng trong Bài Giảng Chúa Nhật, số 11, năm 2006, trang 93.
[22] Nguyễn Thiện Giáp, Từ vựng học Tiếng Việt, NXB. ĐH&THCN, Hà Nội, 1985, tr. 77-78.
[23] Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ Pháp Tiếng Việt, NXB. ĐH & THCN, Hà Nội, 1981, tr.91.
[24]  Xin xem bài "Tiên tri - Ngôn sứ - Sứ ngôn" đăng trong Bài Giảng Chúa Nhật, Số tháng 8 năm 2006, tr. 93.
[25] Chúng tôi không có cuốn Từ Điển Pháp Việt (dictionnaire franẵais-vietnamien) của Lê Công Đắc xuất bản lần I năm 1939, nhưng có quyển xuất bản lần III của NXB. Nam Sơn, Hà Nội, 1954. Trong đó ghi: Révélation: n.f. Sự lộ ra, sự thóc mách, sự thú giác. Đạo trời lộ ra, đạo thiên khải, đạo mặc khải; Révélé, e.a. Được trời soi sáng, thiên khải, mặc khải; Révéler, v.t. Tỏ cho biết, tiết lộ, lộ. soi sáng, mặc chiếu. Se-révéler [à] v.p. Tỏ mình ra, lộ ra (cho), vở lở. Trong cuốn Danh từ Thần học và Triết học của Ban giáo sư trường Thần học Bùi Chu biên soạn, Tủ sách Liên Chủng viện, Bùi Chu, 1952, có ghi: Révélation: Mặc khải.
[26] Olivier de La Brosse & Ntg, Dictionnaire De La Foi Chrétienne, Cerf, Paris, 1968.
[27] Các bài chủ trương dùng từ Mặc khải: Khuyết danh: Góp ý về từ ngữ “mặc” trong “mặc khải” hay “mạc” trong “mạc khải” – Thiên Chúa “mặc khải” hay chỉ “mạc khải” (mặc hay mạc)?  (http://tonggiaophanhue.net); Lm. Nguyễn Nhân Tài, SJB.: “Nên dùng chữ “mạc khải” hay “mặc khải”? (vietcatholic.com); Lm. Nguyễn Hữu Triết: Vấn đề hội nhập văn hoá; Các bài chủ trương dùng từ Mạc khải: Lm. Nguyễn Long Thao: Đặc ngữ Công Giáo Việt Nam: mạc khải hay mặc khải (www.dunglac.org); Đaminh Phan Văn Phước: Nguyên nghĩa của chữ mạc khải (http://tonggiaophanhue.net); Lê Anh Dũng: Mặc khải hay mạc khải, thiên khải? (www.thienlybuutoa.org); Huỳnh Christian Timothy: Mạc khải cuối cùng (www.thanhkinhthanhoc.net); Các bài chủ trương dùng cả hai từ mạc khải và mặc khải: Bất Tiếu Nguyễn Quốc Bảo: Linh thao và mạc (mặc) khải" (www.chimviet.free.fr); Joseph Phạm Thanh Liêm, S.J.: Mặc khải (http://pierrequangminh.blogspot.com).
Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ

VUI HỌC THÁNH KINH THÁNH GIOAN KIM KHẨU Giám mục, tiến sĩ

VUI HỌC THÁNH KINH
THÁNH GIOAN KIM KHẨU
Giám mục, tiến sĩ
Ngày 13 tháng 9
Tin Mừng thánh Mátthêu 5,13-16


Tin Mừng

Muối cho đời và ánh sáng cho trần gian (Mc 9:50; Lc 14:34-35)

13 "Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.

14 "Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được.15 Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà.16 Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.

13  "You are the salt of the earth. But if salt loses its taste, with what can it be seasoned? It is no longer good for anything but to be thrown out and trampled underfoot.

14 You are the light of the world. A city set on a mountain cannot be hidden.

15 Nor do they light a lamp and then put it under a bushel basket; it is set on a lampstand, where it gives light to all in the house.

16 Just so, your light must shine before others, that they may see your good deeds and glorify your heavenly Father.




I. HÌNH TÔ MÀU


* Chủ đề của hình này là gì?
………………………………………………….

* Bạn hãy viết câu Tin mừng Mátthêu 5,14a
………………………………………………….
………………………………………………….
………………………………………………….
………………………………………………….
II. TRẮC NGHIỆM

A.
a1. Đức Giêsu nói anh em là gì cho đời? (Mt 5,13)
a. Men
b. Muối
c. Ánh sáng
d. Sự an ủi

a2. Nếu muối trở thành vô dụng, thì làm gì? (Mt 5,13)
a. Làm đường đi
b. Để xây tường
c. Làm phân bón cho cây
d. Quăng ra ngoài cho người ta chà đạp

a3. Đức Giêsu nói anh em là ánh sáng cho ai? (Mt 5,14)
a. Trần gian
b. Con người
c. Mọi người
d. Những người tin Chúa

a4. Người ta thắp đèn rồi đặt ở đâu để đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà? (Mt 5,15)
a. Trên đế
b. Sau bức vách
c. Dưới đáy thùng
d. Trong phòng kín

a5. Khi nhìn thấy những việc tốt đẹp của anh em làm, người ta tôn vinh ai? (Mt 5,16)
a. Cha của anh em, Đấng ngự trên trời
b. Thiên Chúa của anh em
c. Anh em là người công chính
d. Đấng giải thoát anh em

B.
b1. Thánh Gioan Kim Khẩu sinh năm 334 tại nước nào?
a. Nước Thổ Nhĩ Kỳ
b. Nước Syria
c. Nước Ai cập
d. Nước Ba Tư

b2. Thánh Gioan Kim Khẩu được mẹ ngài truyền đạt cho những điều gì?
a. Một đức ái nhân hậu,
b. Một đức tin sắt đá
c. Một lòng hy sinh hào hiệp
d. Cả a, b và c đúng

b3. Năm 397, Thánh Gioan Kim Khẩu được bầu làm giám mục, thánh nhân lưu tâm nghiên cứu về thánh Phaolô tông đồ, cải tổ hàng giáo sĩ, thiết lập một số qui chế để thánh hóa bản thân, hủy bỏ tận căn mọi tập tục xa xỉ gây tốn phí tiền bạc, của cải, vật chất. Ngài chống đối kịch liệt các bè rối Ariô, Novatio vv. Ngài được chọn làm giám mục thành nào?
a. Thành Constantinople
b. Thành Rôma
c. Thành Côrinthô
d. Thành Antiôkia

b4. Năm 403, Thánh Gioan Kim Khẩu lên tiếng phản đối nữ hoàng đã chiếm đoạt tài sản của bà góa thành Callitrope nên bị nữ hoàng kết án lưu đày. Nữ hoàng này tên là gì?
a. Nữ Hoàng Êlisabét I
b. Nữ Hoàng Bát Seba
c. Nữ Hoàng Étte
d. Nữ hoàng Eudoxie


b5. Thánh Gioan Kim Khẩu qua đời vào ngày 14/7/407, Chúa thưởng công Ngài bằng vô số phép lạ sau khi Ngài chết. Ðức Thánh cha Piô X đã nâng Ngài lên bậc tiến sĩ Hội Thánh và đặt Ngài làm bổn mạng cho những ai?
a. Những nhà giảng thuyết.
b. Những nhà truyền giáo
c. Các nhà thần học
d. Các cha giải tội


III. Ô CHỮ




Những gợi ý

01. Đức Giêsu nói: “Anh em là ánh sáng cho ai? (Mt 5,14)

02. Ánh sáng của anh em phải chiếu giải trước mặt ai? (Mt 5,16)

03. Đức Giêsu nói anh em là gì cho trần gian? (Mt 5,14)

04. "Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì làm cho nó cho mặn lại?  (Mt 5,13)

05. Anh em là gì cho đời? (Mt 5,13)

06. Ai đã nói: “Anh em là muối cho đời, là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,1-16)(Mt 5,1-16)

07. Đèn được thắp đặt trên đế là đèn để làm gì cho mọi người trong nhà? (Mt 5,15)

Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì ?


IV. CÂU THÁNH KINH HỌC THUỘC LÒNG

“Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.”
Tin Mừng thánh Mátthêu 5,14a



VUI HỌC THÁNH KINH
THÁNH GIOAN KIM KHẨU
Giám mục, tiến sĩ
Ngày 13 tháng 9
Tin Mừng thánh Mátthêu 5,13-16

I. HÌNH TÔ MÀU

* Chủ đề :
Thánh Gioan Kim Khẩu

* Tin mừng thánh Mátthêu 5,14a :

“Chính anh em là ánh sáng cho trần gian”.

II. TRẮC NGHIỆM

A.
a1. b. Muối (Mt 5,13)
a2. d. Quăng ra ngoài cho người ta chà đạp (Mt 5,13)
a3. a. Trần gian (Mt 5,14)
a4. a. Trên đế (Mt 5,15)
a5. a. Cha của anh em, Đấng ngự trên trời
(Mt 5,16)

B.
b1. a. Nước Thổ Nhĩ Kỳ
b2. d. Cả a, b và c đúng
b3. a. Thành Constantinople
b4. d. Nữ hoàng Eudoxie
b5. a. Những nhà giảng thuyết.


III. Ô CHỮ

01. Trần gian (Mt 5,14)
02. Thiên hạ (Mt 5,16)
03. Ánh sáng (Mt 5,14)
04. Muối (Mt 5,13)
05. Muối (Mt 5,13)
06. Đức Giêsu (Mt 5,1-16)
07. Soi chiếu (Mt 5,15)

Hàng dọc : Giám Mục

NGUYỄN THÁI HÙNG




THÁNH GIOAN KIM KHẨU,
Giám mục,tiến sĩ Hội Thánh
(Saint John Chrysostom)
Ngày 13/9/2002
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT


Mỗi vị thánh đều mang Chúa Kitô trong mình và một cách nào đó các Ngài luôn chóng vánh giới thiệu Ðức Kitô cho người khác. Thánh là để Chúa phủ lấp toàn bộ con người mình, để Chúa chiếu sáng xuyên suốt từng ngõ ngách, từng đường tơ,kẽ tóc.Thánh là họa lại chính Chúa Kitô càng rõ nét bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu,đúng như lời sách khởi nguyên viết:"Họalại hình ảnh của Thiên Chúa". Thánh Gioan kim khẩu là một trong muôn vàn vị thánh đã trở nên giống Chúa Kitô.

GIOAN KIM KHẨU LÀ AI ?
Thánh nhân sinh tại nước Thổ nhĩ Kỳ vào năm 334 tại Antiokia. Người ta gọi Ngài là Gioan thành Antiokia. Ngài được mệnh danh là Kim Khẩu: Chrysostome .Miệng
tuôn toàn những lời quí như vàng.Thánh nhân có tài hùng biện và trí khôn ngoan minh mẫn hiếm có. Gioan thành Antiokia ngay từ khi còn nhỏ đã được mẹ Ngài giáo dục với một lòng nhân ái bao la,truyền đạt cho Ngài một đức tin sắt đá và lòng hy sinh hào hiệp.Năm 373,thánh nhân được tuyển vào chức đọc sách,nhưng tài lợi khẩu,hoạt bát của Ngài đã làm say mê bao người,từ đó danh tiếng Ngài vang dội khắp nơi.

ÐỜI CON NGƯỜI LÀ DO CHÚA
Vì danh tiếng lẫy lừng nổi bật do lòng đạo đức thánh thiện và tài hùng biện có sức thuyết phục nhiều người trở về với chúa,người ta nhất loạt tôn thánh nhân lên chức giám mục,nhưng Ngài khiêm tốn khước từ và chỉ thích ẩn mình,ăn chay,cầu nguyện.Ý Chúa lạ lùng không ai hiểu thấu,sau bốn năm sống khắc khổ,Ngài lâm bệnh dạ dầy nặng,buộc Ngài phải trở về Antiokia. Năm 386, thánh nhân lãnh nhận sứ vụ linh mục và trong cương vị linh mục,suốt 12 năm, thánh nhân đã làm say mê dân thành Antiokia nhờ lòng sốt sắng, tài ăn nói thuyết phục,miệng tuôn những lời quí như vàng và đưa rất nhiều người quay về với Chúa do lời giảng dậy của Ngài.Thánh nhân đả phá những cổ tục mê tín,cuộc sống hào phóng,xa hoa, trụy lạc của những người giầu và kêu gọi mọi người lưu tâm đến những người nghèo.Chính thánh nhân nêu gương sáng sống nghèo và giúp đỡ người nghèo.Năm 397,Ngài được bầu làm giám mục thành Constantinople, thánh nhân lưu tâm nghiên cứu về thánh Phaolô tông đồ,cải tổ hàng giáo sĩ,thiết lập một số qui chế để thánh hóa bản thân,hủy bỏ tận căn mọi tập tục xa xỉ gây tốn phí tiền bạc, của cải,vật chất. Ngài chống đối kịch liệt các bè rối Ariô, Novatio vv.

CHÚA THƯỞNG CÔNG CHO THÁNH NHÂN
Năm 403, Ngài bị Nữ hoàng Eudoxie kết án lưu đày vì thánh nhân dám lên tiếng phản đối Eudoxie đã chiếm đoạt tài sản của một bà goá ở Callitrope.Thánh nhân đã phải chịu biết bao nhiêu đau khổ,cay đắng,chông gai và thử thách vì Chúa. Mọi người sẽ mãi mãi thán phục lòng bác ái ,tài giảng thuyết và các sách vở giá trị Ngài đã để lại cho hậu thế.
Cuộc đời của Ngài có thể ví như một bông hoa đẹp giữa những bông hoa khác muôn mầu,muôn hương . Bông hoa thơm là chính Ngài bị cầm tù,bị tra khảo,đánh đập,nhưng hương thơm mãi mãi tỏa ra thơm ngát làm say mê mọi người.
Thánh nhân qua đời vào ngày 14/7/407, Chúa thưởng công Ngài bằng vô số phép lạ sau khi Ngài chết. Ðức Thánh cha Piô X đã nâng Ngài lên bậc tiến sĩ Hội Thánh và đặt Ngài làm bổn mạng của những nhà giảng thuyết.

Lạy thánh Gioan Kim Khẩu,xin ban cho chúng con biết dùng miệng lưỡi để ca tụng và cảm tạ tri ân Thiên Chúa.

Xin cho chúng con lòng can đảm dám nói lên sự thật,dù sự thật làm người khác mất lòng.

Xin ban cho mọi người Kitô hữu biết sống khó nghèo như Chúa.

 http://www.simonhoadalat.com/suyniem/saints/Thang9/GioanKimKhau.htm




VUI HỌC THÁNH KINH DANH THÁNH ĐỨC MARIA 12 tháng 9

VUI HỌC THÁNH KINH
DANH THÁNH ĐỨC MARIA
12 tháng 9
Tin Mừng thánh Luca 1, 26-38
Ngày 12 tháng 9

TIN MỪNG

26 Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét,27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.

28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà."29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

30 Sứ thần liền nói: "Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa.31 Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su.32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người.33 Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận."

34 Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng! "

35 Sứ thần đáp: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.36 Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng.37 Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được."

38 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói." Rồi sứ thần từ biệt ra đi.



26  In the sixth month, the angel Gabriel was sent from God to a town of Galilee called Nazareth,27 to a virgin betrothed to a man named Joseph, of the house of David, and the virgin's name was Mary.

28 And coming to her, he said, "Hail, favored one! The Lord is with you."

29 But she was greatly troubled at what was said and pondered what sort of greeting this might be.

30 Then the angel said to her, "Do not be afraid, Mary, for you have found favor with God.

31 Behold, you will conceive in your womb and bear a son, and you shall name him Jesus.

32 He will be great and will be called Son of the Most High,  and the Lord God will give him the throne of David his father,33 and he will rule over the house of Jacob forever, and of his kingdom there will be no end."

34 But Mary said to the angel, "How can this be, since I have no relations with a man?" 35 And the angel said to her in reply, "The holy Spirit will come upon you, and the power of the Most High will overshadow you. Therefore the child to be born will be called holy, the Son of God.

36 And behold, Elizabeth, your relative, has also conceived  a son in her old age, and this is the sixth month for her who was called barren;37 for nothing will be impossible for God."

38 Mary said, "Behold, I am the handmaid of the Lord. May it be done to me according to your word." Then the angel departed from her.

I. HÌNH TÔ MÀU



* Chủ đề của hình này là gì?
………………………………………………
* Bạn hãy viết câu Tin Mừng thánh Luca 1,38
………………………………………………
………………………………………………
………………………………………………
………………………………………………
II. TRẮC NGHIỆM


a1. Sứ thần truyền tin cho Đức Maria tên là gì? (Lc 1, 26)
a. Sứ thần Gaprien.
b. Sứ thần Micaen.
c. Sứ thần Raphaen.

a2. Người thiếu nữ được truyền tin tên là gì? (Lc 1,27)
a. Cô Gioanna.
b. Cô Maria.
c. Cô Êlisabét.
d. Cô Anna.

a3. Trinh nữ Maria cư ngụ nơi thành nào? (Lc 1,27)
a. Thành Giêrusalem.
b. Thành Nadarét.
c. Thành Caphácnaum.
d. Thành Samaria.

a4. Hôn phu của Đức Maria thuộc dòng dõi của vua nào? (Lc 1,27)
a. Vua Salem.
b. Vua Đavít.
c. Vua Hêrôđê.
d. Vua Pharaô.

a5. "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói." (Lc 1,38)
a. Cô Mácta.
b. Cô Maria.
c. Cô Êlisabét.
d. Cô Anna.

B.

b1. Thánh Danh Maria có những ý nghĩa:
a. “Biển".
b. “Bà Chúa", “Lệnh Bà”
c. "Lộng lẫy diễm lệ","làm sáng tỏ"
d. Cả a, b và c đúng

b2. Maria nghĩa hay nhất là "làm sáng tỏ" vì Mẹ là gì?
a. Bức gương trong, phản chiếu ánh sáng hằng hữu
b. Trung gian ánh sáng ơn thánh,
c. Rạng đông và là mỹ nữ lồng bóng mặt trời.
d. Cả a, b và c đúng


b3. Anh Chị hãy viết lại Bảy lời của Đức Maria nói trong cuộc đời Chúa Giêsu :
1. (Lc 1,34).
2. (Lc 1,38).
3. (Lc 1,38).
4. (Lc 1,46-55).
5. (Lc 2,48).
6. (Ga 2,3).
7. (Ga 2,5).

b4. Đức Giáo Hoàng Innocentê XI nào đã cho phổ biến Lễ kính thánh danh Maria trên khắp cùng thế giới năm 1683?
a. Đức Giáo Hoàng Innocentê XI
b. Đức Giáo Hoàng Lêô XIII
c. Đức Giáo Hoàng Grêgôriô X
d. Đức Giáo Hoàng Piô V

b5. Đức Giáo Hoàng đã cho phổ biến này trên khắp cùng thế giới năm 1683 để cảm tạ tri ân Đức Mẹ, kỷ niệm biến cố gì?
a. vua Ba Lan John Soboeski đánh bại quân Thổ Nhĩ Kỳ vây hãm thành Viênna và đe dọa các nước Tây Phương.
b. Công Đồng Êphêsô khẳng định tước hiệu: Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa
c.Cuộc chiến thắng quân Thổ tại vịnh Lê-pan-tô.
d. Biến cố thánh nữ He len tìm được cây thập tự mà Chúa Giêsu bị đóng đinh.

 III. Ô CHỮ



Những gợi ý

01. Tổ tiên của Đức Giêsu thuộc dòng dõi vua nào? (Lc 1, 32)

02. Đức Maria xưng mình là gì của Chúa ? (Lc 1,38)

03. Sứ thần nói Đức Maria đẹp lòng ai ? (Lc 1,30)

04. Trinh nữ tại thành Nadarét được sứ thần truyền tin tên là gì? (Lc 1, 27)

05. Thiên Chúa sẽ ban cho Người cái gì của  vua Đavít, tổ tiên Người? (Lc 1,32)

06. Khi nghe sứ thần chào, trinh nữ Maria có thái độ thế nào? (Lc 1, 29)

07. Trinh nữ Maria sẽ sinh hạ 1 con trai, và đứa trẻ được đặt tên là gì? (Lc 1,31) (Lc 1,31).

08. Người sẽ trị vì nhà ai đến muôn đời? (Lc 1,33)

Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì?

V. CÂU THÁNH KINH HỌC THUỘC LÒNG

"Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa,
xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói."
Tin Mừng thánh Luca 1,38




Lời giải đáp
VUI HỌC THÁNH KINH
DANH THÁNH ĐỨC 12 tháng 9
Tin Mừng thánh Luca 1, 26-38
Ngày 12 tháng 9

I. HÌNH TÔ MÀU

* Chủ đề :
Đức Maria

* Tin Mừng thánh Luca 1,38

"Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa,
 xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói."

II. Lời giải đáp trắc nghiệm

A.
a1. a. Sứ thần Gaprien (Lc 1, 26)
a2. b. Cô Maria (Lc 1,27)
a3. b. Thành Nadarét (Lc 1,27)
a4. b. Vua Đavít (Lc 1,27)
a5. b. Cô Maria (Lc 1,38)

B.
b1. d. Cả a, b và c đúng
b2. d. Cả a, b và c đúng
b3. Bảy lời của đức Maria nói trong cuộc đời Chúa Giêsu :
1. Mẹ quyết tâm giữ lời khấn trọn đời đồng trinh: "Điều đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam" (Lc 1,34).
2. Mẹ sốt sắng nhiệt thành phục vụ Chúa: "Này tôi là tôi tớ Chúa" (Lc 1,38).
3. Mẹ trung thành vâng phục thánh ý Chúa: "Tôi xin vâng như lời thiên sứ truyền" (Lc 1,38).
4. Mẹ hoan hỉ chúc tụng Chúa: Linh hồn ngợi khen sự cao cả của Chúa (Lc 1,46-55).
5. Mẹ tỏ ra mẫu quyền của Mẹ với Chúa Giêsu: "Hỡi Con, sao Con làm như thế? Con thấy Cha con và Mẹ phải đau khổ tìm Con?" (Lc 2,48).
6. Mẹ yêu thương thông cảm những nỗi khó khăn người khác: "Họ hết rượu rồi" (Ga 2,3).
7. Mẹ vững tin quyền phép Chúa: "Người bảo sao, các anh cứ làm như vậy" (Ga 2,5).

b4. a. Đức Giáo Hoàng Innocentê XI
b5. a. vua Ba Lan John Soboeski đánh bại quân Thổ Nhĩ Kỳ vây hãm thành Viênna và đe dọa các nước Tây Phương.


III. Ô CHỮ

01. Đavít (Lc 1,32).
02. Nữ tỳ (Lc 1,38)
03. Thiên Chúa (Lc 1,30)
04. Maria (Lc 1,27).
05. Ngai vàng (Lc 1,32)
06. Bối rối (Lc 1,29).
07. Giêsu (Lc 1,31).
08. Giacóp (Lc 1,33)

Hàng dọc : Đức Maria


NGUYỄN THÁI HÙNG



Thánh Danh Đức Maria 12-9
LỄ THÁNH DANH ĐỨC MẸ
L.m. Phêrô, CMC

I. THÁNH DANH MARIA

Thánh Danh Maria theo tiếng Do Thái trong Cựu ước là Myriam, tiếng Aram là Maryam, tiếng Hy Lạp dịch Cựu ước là Mariam, tiếng Hy Lạp dịch Tân ước là Maria, tiếng Anh là Mary, tiếng Pháp là Marie, tiếng Latinh là Maria.

Trong Thánh kinh có tám người mang tên như Thánh Danh Đức Mẹ:

1. Chị ông Maisen thường gọi là Miriam (Xh 15:20-21; Ds 12:1-10);
2. Một phụ nữ con gái của Ezra (1 Sb 4:17);
3. Maria Mađalêna, người phụ nữ được trừ khỏi bảy quỉ (Lc 8:2);
4. Maria chị Lagiarô và em của Martha (Lc 10:38-42);
5. Maria mẹ của Thánh Giacôbê và Gioan (Mc 15:40-47);
6. Maria vợ ông Clopas (Ga 19:25) có lẽ là mẹ của Thánh Giacôbê và Gioan;
7. Maria mẹ của Thánh Marcô tác giả Phúc âm II (Cv 12:12);
8. Maria là một Kitô hữu ở Rôma mà Thánh Phaolô gửi lời chào (Rm 16:6).

II. Ý NGHĨA THÁNH DANH MARIA

Thánh Danh Maria có những ý nghĩa:

1. Theo Thánh Giêrônimô, Maria tiếng Do Thái có nghĩa là "biển". Do đó, Thánh Bênađô gọi Đức Mẹ là "Sao biển". Giáo hội có Thánh thi "Ave Maris Stella".
2. Cũng theo Thánh Giêrônimô, Maria tiếng Aram là "Marta = Bà Chúa". Tiếng Latinh là Domina, tiếng Ý là Madona, tiếng Pháp là Notre Dame, tiếng Anh là Our Lady.
3. Maria tiếng Ai Cập là "mari" nghĩa là được yêu, là "mara" nghĩa là phương phi, hợp với vẻ thẩm mỹ của Á Đông là "lộng lẫy diễm lệ".
4. Maria tiếng Ugarit là "mrym" nghĩa là cao sang, uy nghi, tuyệt vời.
5. Theo nhà Thánh Mẫu học Scheeben, Maria tiếng Do Thái là Miryam biến thành myrrha maris, stilla maris, stella maris.
6. Maria nghĩa hay nhất là "làm sáng tỏ" vì Mẹ là bức gương trong, phản chiếu ánh sáng hằng hữu, là trung gian ánh sáng ơn thánh, là rạng đông và là mỹ nữ lồng bóng mặt trời.
7. Maria có nghĩa Tân Evà đem lại ơn Cứu rỗi, tương phản với Evà đem lại ác hoạ.

III. CÁC NHÂN ĐỨC CỦA MẸ MARIA

Mẹ Maria có 12 nhân đức, đó là:

1) Ba nhân đức đối thần: Tin, Cậy, Mến.
2) Bốn nhân đức trụ: Khôn ngoan, Công bằng, Đại đảm, Tiết độ.
3) Ba nhân đức theo lời khuyên Phúc âm: Thanh khiết, Khó nghèo, Tuân phục.
4) Hai nhân đức theo gương Chúa Giêsu: Hiền từ và Khiêm nhượng.

IV. BẢY LỜI ĐỨC MẸ NÓI TRONG CUỘC ĐỜI CHÚA GIÊSU

1. Mẹ quyết tâm giữ lời khấn trọn đời đồng trinh: "Điều đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam" (Lc 1:34).
2. Mẹ sốt sắng nhiệt thành phục vụ Chúa: "Này tôi là tôi tớ Chúa" (Lc 1:38).
3. Mẹ trung thành vâng phục thánh ý Chúa: "Tôi xin vâng như lời thiên sứ truyền" (Lc 1:38).
4. Mẹ hoan hỉ chúc tụng Chúa: Linh hồn ngợi khen sự cao cả của Chúa (Lc 1:46-55).
5. Mẹ tỏ ra mẫu quyền của Mẹ với Chúa Giêsu: "Hỡi Con, sao Con làm như thế? Con thấy Cha con và Mẹ phải đau khổ tìm Con?" (Lc 2:48).
6. Mẹ yêu thương thông cảm những nỗi khó khăn người khác: "Họ hết rượu rồi" (Ga 2:3).
7. Mẹ vững tin quyền phép Chúa: "Người bảo sao, các anh cứ làm như vậy" (Ga 2:5).

V. BẢY NIỀM VUI CỦA MẸ

Thánh Tôma Canterbury có thói quen đọc bảy kinh Kính mừng kính bảy niềm vui của Mẹ Maria là:

1. Thiên sứ truyền tin cho Mẹ;
2. Mẹ đi thăm viếng Thánh Êlizabeth;
3. Mẹ hạ sinh Chúa Giêsu tại Bêlem;
4. Các đạo sĩ đến thờ lạy Ấu Chúa Giêsu;
5. Mẹ tìm thấy Chúa Giêsu trong đền thánh;
6. Mẹ biết Chúa Giêsu sống lại;
7. Ngày Mẹ hồn xác lên trời.

Nhưng một hôm, Mẹ hiện ra với Thánh Tôma Canterbury mà nói: Hỡi Tôma, lòng sùng kính của con rất đẹp lòng Mẹ, nhưng tại sao con chỉ nghĩ đến những niềm vui Mẹ đã cảm nghiệm ở dưới đất? Vậy con hãy tưởng nhớ những niềm vui của Mẹ ở trên trời nữa.
_ Nhưng làm sao mà con biết được?
_ Con cũng đọc bảy kinh Kính mừng kính nhớ bảy niềm vui của Mẹ ở trên trời:

1. Vinh quang của Mẹ vượt trên vinh quang của tất
cả các Thánh;
2. Ánh sáng của Mẹ chói chang, soi sáng các tầng trời;
3. Mẹ là Nữ Vương Thiên đàng;
4. Lời cầu xin của Mẹ luôn được Chúa nhấp nhận;
5. Thiên Chúa ban thưởng những ai sùng kính Mẹ;
6. Mẹ Maria được gần nhất Chúa Ba Ngôi;
7. Niềm vui Thiên đàng của Mẹ cho đến muôn thuở
muôn đời.

VI. NIÊN SỬ CUỘC ĐỜI ĐỨC MẸ

Niên sử cuộc đời Đức Mẹ hoàn toàn dựa theo niên sử cuộc đời Chúa Giêsu Con của Mẹ:

Trước Chúa giáng sinh

- Năm 23/20 Sinh nhật Đức Mẹ, ái nữ của Thánh Gioakim và Thánh Anna.
- Năm 20/17 Đức Mẹ dâng mình vào đền thờ.
- Năm 11/8 Đức Mẹ đính hôn với Thánh Giuse (Mt 1:16; Lc 1:27).
- Năm 7 Thiên sứ Gabrie truyền tin cho Đức Mẹ (Lc 1:26-38).
Đức Mẹ mang thai Chúa Giêsu (Mt 1:18-25).
Đức Mẹ đi viếng thăm bà Thánh Êlizabeth (Lc 1:39-56).
- Năm 7/6 Đức Mẹ sinh Chúa Giêsu tại Bêlem (Lc 2:1-9).
Đức Mẹ đưa Chúa Giêsu chịu phép cắt bì (Lc 2:21).
Đức Mẹ lên đền tịnh tẩy và dâng Con (Lc 2:22-24).
Cụ già Simeon nói tiên tri về Chúa Giêsu và Mẹ (Lc 2:25-35).
Cụ bà Anna nói tiên tri về Chúa Giêsu (Lc 2:36-38).
- Năm 6/4 Ba vua đến thờ lạy Ấu Chúa (Mt 2:1-11).
Đức Mẹ và Thánh Giuse đem Con trốn sang Ai Cập (Mt 2:13-14).
- Năm 4 (?) Đức Mẹ và Thánh Giuse đem Con trở về Nagiarét (Mt 2:19-23).

Sau Chúa giáng sinh

- Năm 6 Đức Mẹ và Thánh Giuse tìm thấy Chúa Giêsu trong đền thờ (Lc 2:41-50).
Đức Mẹ và Thánh Giuse sống với Chúa Giêsu tại Nagiarét (Lc 2:51).
- Năm 27/28 Mẹ với Chúa Giêsu đi dự tiệc cưới Cana (Ga 2:1-11).
- Năm 30 Mẹ Maria trong cuộc sống công khai của Chúa Giêsu (Mt 12:46-50; Mc 3:31-35; Lc 8:19-21; Ga 2:12-13).
Chúa Giêsu gián tiếp ca ngợi đức tin của Mẹ (Lc 11:27-28).
- Năm 30 Mẹ Maria dưới chân thánh giá trên đồi Canvê (Ga 19:25-27).
Mẹ Maria và các tông đồ tại nhà Tiệc ly (Cv 1:14).
Mẹ Maria lên trời với Chúa Giêsu Con của Mẹ.

VII. NHỮNG BIỂU TƯỢNG ĐỨC MẸ

1. Rượu; hương dầu thơm (Dc 1:1-3).
2. Lều trại Kedar; trướng gấm của Salem (Dc 1:5).
3. Mặt trời; vườn nho (Dc 1:6).
4. Cam tùng toả mùi thơm nức (Dc 1:12).
5. Hoa thuỷ tiên cánh đồng Saron; hoa huệ thung lũng sâu (Dc 2:1).
6. Bồ câu nơi kẽ đá (Dc 2:14).
7. Cột khói ngát trầm hương (Dc 3:6).
8. Mắt bồ câu (Dc 4:1).
9. Tháp lầu Đavid (Dc 4:4).
10. Mật ong nhỏ giọt (Dc 4:11).
11. Cột bạch ngọc (Dc 5:15).
12. Đoàn quân dàn trận (Dc 6:10).
13. Rạng đông; mặt trăng; mặt trời (Dc 6:10).
14. Môi miệng Đấng Tối Cao (Hc 24:3).
15. Cột mây (Hc 24:4).
16. Ánh sáng không mờ phai (Hc 29:6).
17. Vòm trời; vực sâu (Hc 24:8).
18. Cây trắc diệp trên núi Hermon (Hc 24:13).
19. Cây cảm lãm trong cánh đồng; cây tiêu huyền
bên bờ nước (Hc 24:14).
20. Cây quế và dầu thơm ngát (Hc 24:15).
21. Xạ hương man mác (Hc 24:15).
22. Hòm bia Thiên Chúa (Xh 25: 10-16).
23. Hoa hường mầu nhiệm (Dc 2:1).
24. Vườn địa đường (St 2:8-14).
25. Tàu Noe (St 6:14-16).
26. Đền thờ Salomon (1V 6:1-37).
27. Chiếc thang Giacóp (St 28:12).

VIII. BẢY PHỤ NỮ TIỀN ẢNH ĐỨC MẸ

Theo các Giáo phụ, những phụ nữ sau đây trong Cựu ước là những tiền ảnh Đức Mẹ:

1. Bà Sara vợ của tổ phụ Abraham, son sẻ và đã cao niên mà được Chúa cho hạ sinh một con trai là Isaac, trưởng tộc một đoàn dân đông đảo (St 21:7-8). Mẹ Maria sinh hạ một cách lạ lùng Chúa Giêsu là trưởng tử một đoàn em đông đúc.

2. Bà Rakel có một sắc đẹp dịu hiền khiến cho Giacóp sẵn lòng làm rể ông Laban mười bốn năm để cưới làm vợ (St 29:17). Sắc đẹp tâm hồn Mẹ Maria khiến Thiên Chúa tuyển chọn Mẹ làm Mẹ Con của Người nhập thể Cứu thế.

3. Bà Miriam là chị ông Maisen. Bà đã cứu em khỏi bàn tay sát hại của vua Pharaon, Ai Cập, đã được đặc ân nói tiên tri, là một trong những phụ nữ đầu tiên qua biển đỏ khô chân, đã cất tiếng ca ngợi cám ơn Chúa (Xh 15:20). Mẹ Maria đã cộng tác với Con Mẹ cứu nhân loại khỏi tội lỗi và tử thần.

4. Bà Deborah, dưới thời quan án của Israel, đã hạ sát Sisơra, đứng cản địch quân Canaan (Tl 4:4). Mẹ Maria đã chiến thắng Satan địch thù của dân thánh Chúa.

5. Bà Giuđitha vừa có sắc đẹp vừa có sức mạnh tinh thần. Bà đã hạ sát Holoferne, hùng tướng của Philitinh, để cứu dân thành Bethulia. Toàn dân ca tụng bà: "Bà là vinh quang của Giuđêa, là niềm vui của Israel, là niềm hãnh diện của dân tộc chúng tôi" (Gđt 15:9). Mẹ Maria đã vinh thắng trên Satan và đạp nát đầu nó, và đem lại vinh dự cho Thiên Chúa, hân hoan cho Thiên Đàng, và niềm hãnh diện cho toàn thể dân Chúa chọn.

6. Bà Esther là hoàng hậu của vua Assuerô nước Ba tư, đã cứu dân Israel khỏi nạn diệt vong (Et 2:17). Mẹ Maria là Nữ Hoàng đã cứu dân thánh Chúa khỏi nạn đoạ trầm.

7. Tân Evà. Bà Evà đã làm cho loài người phải sa đoạ, thì Mẹ Maria là Tân Evà đã làm cho loài người được phục hồi (Thánh Giustinô).

IX. NHỮNG TƯỚC HIỆU MẸ MARIA

1. Trạng Sư cùng với Chúa Giêsu là Trạng Sư để bầu chữa cho loài người trước toà Chúa Cha. Tước hiệu này được Giáo hội dùng từ thời Trung cổ trong kinh Lạy Nữ Vương và các văn kiện của Thánh Bênađô.

2. Đấng Đồng Công. Các Đức Giáo hoàng Lêô XIII, Piô X, Piô XI, Piô XII và Công đồng Vatican II đã minh chứng Mẹ Maria đã đặc biệt đồng công cộng tác với Chúa Kitô trong công trình Cứu chuộc loài người. Riêng Đức Piô XI đã trực tiếp gọi Mẹ là Đấng Đồng Công (Coredemptrix).

3. Mẹ rất thánh. Mẹ là Mẹ toàn thể loài người vì Mẹ sinh ra Chúa Kitô là đầu, mà mọi tín hữu là chi thể của Nhiệm Thể Chúa Kitô, nên Giáo hội gọi Maria là Mẹ rất thánh của Chúa và của loài người.

4. Nữ tử Sion. Tiên tri Isaia và Mica gọi thành Giêrusalem là "con gái Sion". Tiên tri Giêrêmia gọi "con gái Sion" là dân thành Giêrusalem, ám chỉ toàn dân thánh Chúa. Trong sách Khải huyền, đoạn 12, Mẹ Maria được ám chỉ là "con gái Sion" sinh ra một dân tộc mới mà Đầu là Con Trai chiến thắng Satan.

5. Gương mẫu. Công đồng Vatican II gọi Mẹ Maria là gương mẫu tuyệt vời và hiếm có, là mẫu mực của Giáo hội về đức tin, đức ái và hiệp nhất hoàn hảo với Chúa Kitô (LG, 63).

6. Nữ tỳ của Chúa. Chính Mẹ Maria đã xưng mình là "nữ tỳ" của Chúa khi thiên sứ truyền tin cho Mẹ (x. Lc 1:38), và Mẹ đã tự phát trong Ca Ngợi khen: "Chúa đã đoái nhìn thân phận thấp hèn tôi tớ của Người" (Lc 1:48).

7. Đấng phù hộ các giáo hữu. Đức Piô V thêm vào kinh cầu Đức Bà câu: "Đức Bà phù hộ các giáo hữu" năm 1571 để cám tạ Mẹ đã giúp đạo binh Công giáo chiến thắng quân Hồi giáo ở vịnh Lepante, và để kỷ niệm Mẹ dẹp tan bè rối Albigensê nhờ kinh Mân côi hồi thế kỷ XII. Năm 1815, Đức Piô VII lập lễ Đức Mẹ phù hộ. Đức Mẹ phù hộ cũng là bổn mạng dòng Salêdiên, của Úc châu và Tân Tây Lan.

8. Đấng Vô nhiễm. Mẹ Maria đã được đặc ân đầu thai vô nhiễm nguyên tội mà Đức Piô IX đã định tín năm 1854. Và Mẹ đã hiện ra tại Lộ Đức năm 1858 với Thánh Bernađetta và xưng mình là "Đấng Vô nhiễm thai".

9. Đấng Trung gian. Tước hiệu Mẹ trung gian đã được dùng bên Đông phương thế kỷ VI và bên Tây phương thế kỷ IX. Từ thế kỷ XVII tước hiệu này được dùng khắp nơi trong Giáo hội. Mẹ trung gian vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa được đầy ơn đứng giữa Thiên Chúa và loài người; vì Mẹ cộng tác với Chúa Kitô để giao hoà loài người với Thiên Chúa, và vì Mẹ là Đấng ban phát mọi ơn lành cho con cái Mẹ.

10. Mẹ Thiên Chúa. Đầu tiên Thánh Hippolitô đã tuyên đọc Mẹ Maria là "Mẹ Thiên Chúa". Năm 431 Công đồng Êphêsô tuyên tín Mẹ là "Mẹ Thiên Chúa" để luận án bè rối Nestoriô. Mẹ Maria sinh ra Chúa Giêsu. Mà Chúa Giêsu là Thiên Chúa. Do đó, Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa.

11. Mẹ Giáo hội. Công đồng Vatican II dạy: Giáo hội Công giáo dâng lên Mẹ Maria tình con thảo như đối với người Mẹ rất dấu yêu (LG, 53). Năm 1964, Đức Phaolô VI tuyên ngôn: Mẹ Maria là "Mẹ của Giáo hội". Năm 1980, câu "Mẹ Maria là Mẹ Giáo hội" được thêm vào kinh cầu Đức Bà.

12. Mẹ thương xót. Tước hiệu Mẹ thương xót đã có từ thế kỷ III. Nhiều vị Thánh đã kêu cầu Mẹ thương xót. Thánh Đamianô, Thánh Bênađô, và Thánh Anphong kêu cầu Mẹ thương xót bằng kinh Lạy Nữ Vương. Mẹ hiện ra với Thánh Brigitta và nói: "Mẹ là Nữ Vương Thiên đàng, là Mẹ thương xót. Mẹ là niềm vui cho người công chính, là cửa cho tội nhân đến cùng Chúa. Không có người tội lỗi nào mà vô phúc ở ngoài tình thương xót của Mẹ. Không có người nào bị Chúa ruồng bỏ đến nỗi không trở về với Người và được Người thương xót nếu họ kêu xin Mẹ hộ giúp. Mọi người đều gọi Mẹ là Mẹ thương xót. Lòng thương xót của Con Mẹ đối với loài người cũng làm cho Mẹ thương xót. Mẹ cảm thương mọi người và tha thiết cứu giúp các tội nhân".

13. Nữ Vương hoà bình. Năm 1917, khi thế giới bị Đệ nhất Thế chiến tàn phá, Đức Bênêđictô XV thêm vào kinh cầu Đức Bà câu "Nữ Vương ban sự bình an". Mẹ khuyên nhủ con cái Mẹ hãy thực thi công bình và bác ái để họ được bình an trong Chúa Kitô.

14. Toà khôn ngoan. Tước hiệu Mẹ là Toà khôn ngoan có từ thời các Thánh Giáo phụ như Thánh Au-gustinô. Mẹ là ngai toà khôn ngoan, là đền thờ Đấng Khôn Ngoan, vì Mẹ hằng suy niệm trong lòng những mầu nhiệm của Chúa Giêsu Con Mẹ (Lc 2:19, 51).

15. Mẹ hằng cứu giúp. Mẹ Maria là Mẹ đầy lòng từ bi thương xót, hằng bênh vực chở che cứu giúp mọi người trong những nỗi gian nan cơ khổ. Từ thế kỷ III, người ta đã kêu cầu Mẹ cứu giúp với kinh "Chúng con chạy đến cùng Mẹ". Đức Lêô XIII đã giải thích rõ ràng. Và Dòng Chúa Cứu Thế chuyên rao giảng về Đức Mẹ hằng cứu giúp.

X. LỊCH SỬ PHỤNG VỤ

Giáo hội Tây Ban Nha đi tiên phong trong việc mừng lễ Thánh Danh Maria, và được Toà thánh phê chuẩn năm 1513. Đức Innocentê XI truyền dạy mừng lễ này khắp Giáo hội năm 1683 để cảm tạ Mẹ trợ phù Gioan Sobieski, vua Balan, chiến thắng quân Hồi Thổ Nhĩ Kỳ tại Vienna, và được mừng ngày 12 tháng 9, sau lễ Sinh nhật Đức Mẹ bốn ngày, cũng là ngày chiến thắng Vienna.

Lễ Thánh Danh Mẹ chỉ là lễ thường, nên đã bị bãi bỏ năm 1970, nhưng năm 1975 được hồi phục là một lễ Votiva (ngoại lịch).

XI. LỜI CÁC THÁNH

- Thánh Êphrem: Danh Thánh Maria là chìa khoá mở cửa Thiên đàng.
- Thánh Ambrôsiô: Lạy Maria, Thánh Danh Mẹ là một thuốc dầu quí giá toả hương ơn Thánh Chúa. Xin Mẹ cho thuốc dầu Cứu rỗi vào tận thẳm cung trong linh hồn chúng con.
- Thánh Phêrô Kim ngôn: Danh Thánh Maria biểu lộ đức Trinh khiết.
- Thánh Isiđôrô Sévilla: Maria có nghĩa là Ánh sáng, vì bởi Mẹ sinh ra Chúa Kitô là Ánh sáng thế gian.
- Thánh Germanô: Lạy Mẹ Thiên Chúa, ước chi Thánh Danh Mẹ là tiếng sau cùng phát ra từ môi miệng con.
- Như hơi thở không những là một dấu hiệu, mà còn là căn do của sự sống, Danh Thánh Maria luôn trên môi miệng những tôi tớ Thiên Chúa, chứng tỏ rằng họ thực sự sống động, đồng thời phát sinh và gìn giữ sự sống của họ và cứu giúp họ mọi lúc.
- Thánh Mêthôđiô: Lạy Mẹ Thiên Chúa, Thánh Danh Mẹ tràn đầy ơn thánh và phúc lành của Thiên Chúa.
- Thánh Antôn: Danh Thánh Maria là niềm vui trong cõi lòng, là mật ngọt trong miệng, là âm điệu vui tai của những tôi tớ Mẹ.
- Thánh Bônaventura: Lạy Mẹ Maria, Thánh Danh Mẹ huy hoàng tuyệt diệu, vì những người kêu tên Mẹ lúc chết không phải sợ mọi quyền lực của hoả ngục. Người ta không sợ đạo binh thù địch hùng mạnh như những quyền lực hoả ngục sợ Danh Thánh Mẹ và sự che chở của Mẹ.
- Như sáp tan chảy trước lửa, ma quỉ mất ngụy lực đối với những linh hồn tưởng nhớ và sốt sắng kêu cầu Thánh Danh Mẹ.
- Danh Thánh này ngọt ngào rất xứng với một Trinh Nữ thánh thiện dịu dàng, vì Maria có nghĩa là Biển đắng, là Sao biển, là Đấng sáng soi. Maria được hiểu là Bà Chúa. Maria là Biển đắng cho ma quỉ, là Sao biển cho người đời, là Đấng sáng soi cho các thiên thần, là Bà Chúa mọi thụ tạo.
- Thánh Tôma: Maria có nghĩa là Sao biển, vì như thuỷ thủ được sao biển hướng dẫn vào hải cảng, các Kitô hữu tới vinh quang nhờ sự cầu bầu Hiền Mẫu của Mẹ Maria.
- Chân phúc Henri Susô, C.P.: Khi đọc tên Mẹ Maria, tôi cảm thấy bừng lên tình mến và niềm vui đến nỗi trong nước mắt sung sướng tôi đọc tên cao đẹp này, tôi cảm thấy tim tôi như thoát ra khỏi ngực, vì tên dịu ngọt này giống như tảng mật ong tan ra trong chiều sâu thẳng của linh hồn tôi.
- Thánh Bênađinô: Lạy Đức Nữ Trinh vinh hiển, xin Mẹ cho con sức mạnh, tài năng và lợi khẩu để con loan truyền vinh quang của Thánh Danh Mẹ cho giáo dân và con cái của Mẹ.
- Thánh Antôninô: Thánh Danh Maria là niềm vui cho tim con, là mật ong cho môi miệng con, là nhạc điệu cho tai con.
- Thánh Tôma Kempi: Quỉ dữ khiếp sợ Nữ Vương thiên đàng đến độ khi nghe tên Mẹ, chúng trốn chạy như bị lửa hồng.
- Thánh Canisiô: Sau tên rất thánh và rất đáng kính của Chúa Giêsu, không có tên nào vinh hiển và quyền năng hơn tên Mẹ Maria. Khi nói đến tên này, các thiên thần vui mừng, các quỉ dữ run giùng. Kêu xin tên này, các tội nhân được ơn phúc và ơn tha thứ.
- Thánh Lêonarđô Fort Maurice: Thường tên ngọt ngào Mẹ Maria đọc trên môi, bạn phải hình dung một kỳ công của quyền năng Thiên Chúa, rất tuyệt hảo và tuyệt vời đến nỗi cánh tay Đấng Toàn năng không thể tác tạo sự gì hoàn hảo hơn trong mẫu mực một thụ tạo tinh tuyền.