Trang

Thứ Tư, 31 tháng 12, 2025

KINH MÂN CÔI VÀ NGHỆ THUẬT: MẦU NHIỆM THỨ NĂM MÙA VUI - ĐỨC BÀ TÌM ĐƯỢC CHÚA GIÊSU TRONG ĐỀN THÁNH

 

KINH MÂN CÔI VÀ NGHỆ THUẬT: MẦU NHIỆM THỨ NĂM MÙA VUI - ĐỨC BÀ TÌM ĐƯỢC CHÚA GIÊSU TRONG ĐỀN THÁNH

avatarJohn M. Grondelski, Ph.D.
WHĐ (30/12/2025) – Có những bài học bí nhiệm từ việc Mẹ Maria tìm được Chúa Giêsu trong đền thánh.

Mầu nhiệm thứ năm mùa Vui có lẽ đã mang lại niềm vui lớn cho Mẹ Maria và Thánh Giuse. Bạn có vui mừng không nếu đứa con thất lạc của mình được tìm thấy sau ba ngày không biết ở đâu?

Tin mừng thuật lại rằng: “Hằng năm, cha mẹ Ngài lên Giêrusalem mừng lễ Vượt qua. Khi Ngài được 12 tuổi, cha mẹ Ngài lên Giêrusalem theo tục lệ”. Vào thời Chúa Giêsu, khi Đền thờ vẫn còn tồn tại, những người Do Thái sùng đạo hành hương đến Giêrusalem để tham dự lễ Vượt qua, lễ quan trọng nhất trong năm của người Do Thái. Lễ Vượt qua đánh dấu sự giải phóng dân tộc Do Thái khỏi ách nô lệ Ai Cập sau khi Thiên Chúa thực hiện nhiều dấu lạ và điều kỳ diệu cho họ, đỉnh điểm là cái chết của những đứa con đầu lòng Ai Cập. Có những lễ khác cũng được tổ chức trong các cuộc hành hương, và như chúng ta đã lưu ý, chuyến đi từ Nadarét đến Giêrusalem bằng các phương tiện giao thông có sẵn vào thời Chúa Giêsu không giúp cho chuyến đi dễ dàng hay nhanh chóng.

Không giống như cuộc điều tra dân số của Xêda, nơi các gia đình phải phân tán khắp Israel để trở về quê hương tổ tiên, cuộc hành hương lễ Vượt qua hàng năm chỉ có một điểm quy tụ đối với những người Do Thái sùng đạo. Do đó, rất có thể một đoàn lữ hành đã khởi hành từ Nadarét và Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse đã đi cùng. Tin mừng cũng nói rõ điều này khi ghi nhận rằng, trên đường trở về, Chúa Giêsu dường như không đi cùng cha mẹ khi đoàn lữ hành khởi hành, nhưng điều đó không gây ra sự lo lắng ngay lập tức. Cha mẹ Ngài cho rằng Ngài có thể đang ở cùng một số người thân thuộc và chỉ đơn giản là tìm kiếm trong đoàn trước khi phát hiện ra Chúa Giêsu đã mất tích.

Thánh Gia thất đã đến Giêrusalem để dự lễ Vượt qua, để tưởng nhớ hành động cứu rỗi của Thiên Chúa dành cho Israel. Khi người Do Thái nói về lễ Vượt qua, họ hiểu theo cách Kinh thánh hiểu (Xuất hành 12:14): một lễ tưởng niệm - zikkaron. Trong tư tưởng của người Do Thái, zikkaron không phải là một sự kiện đã qua và đã kết thúc. Đó là một sự kiện mà những người đang sống và hiện diện hiện nay là một phần của sự kiện đó. Minh họa hay nhất: Khi đứa con út trong một gia đình Do Thái hỏi câu hỏi nghi lễ về lễ Vượt qua: “Tại sao đêm nay lại khác với tất cả những đêm khác?” Đứa trẻ không hỏi: “Tại sao đêm đó lại khác?" Thần học Do Thái khẳng định rằng toàn thể Israel đều hiện diện trong lễ Vượt qua đầu tiên đó qua mọi thời đại.

Khi lễ Vượt qua “hoàn tất”, chuyến trở về đã khởi hành, và Chúa Giêsu được phát hiện mất tích, cha mẹ Ngài đã quay trở lại Giêrusalem. Họ đã dành “ba ngày” lùng sục khắp Thành thánh để tìm con trai mình. Chúng ta hãy tưởng tượng cõi lòng và tâm trí của các ngài ra như thế nào!

“Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Đền thờ, đang ngồi giữa các thầy dạy” trò chuyện với các thầy dạy Lề luật, “vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi”, và những lời đối đáp của Ngài khiến những người đối thoại với Ngài phải “kinh ngạc” (Lc 2: 46-47).

Người ta có thể tưởng tượng được sự nhẹ nhõm của Mẹ Maria và Thánh Giuse. Hãy tưởng tượng cảnh hai ngài vào Đền thờ và tìm thấy Con mình, nghe thấy tiếng Ngài từ một góc nào đó, rồi lại thấy Ngài giữa khuôn viên Đền thờ. Chắc hẳn Thánh Giuse đã vô cùng tự hào về con trai mình.

Nhưng khi Mẹ Ngài hỏi tại sao Ngài lại ở đó và khiến hai ngài lo lắng, câu trả lời đầu tiên của Chúa Giêsu có vẻ khó nghe: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” (Lc 2: 49). Cha mẹ nghĩ con sẽ ở đâu nữa?

“Nhưng ông bà không hiểu lời Ngài vừa nói” (Lc 2: 50).

Dĩ nhiên, lý do thúc đẩy hành động của Thánh Gia là duy nhất. Bất cứ gia đình nào có một người con mà đồng thời cũng là Thiên Chúa thì sẽ như vậy. Bất cứ gia đình nào có ít nhất hai thành viên không mắc phải tội nào thì sẽ như vậy. Tuy nhiên, cũng có những mối bận tâm thường tình của con người đang diễn ra ở đây.

Đầu tiên, Chúa Giêsu đã “12 tuổi”. Đó là độ tuổi truyền thống để làm lễ bar mitzvah. Nghi lễ bar mitzvah có nghĩa là trở thành một người là “con trai của các giới luật”, nghĩa là một người Do Thái trưởng thành chính thức. Điều đó có nghĩa là người đó không có lý do gì để bào chữa rằng mình vẫn còn là một đứa trẻ con: Toàn bộ sức nặng của lề luật bắt buộc người đó phải là “con trai của các giới luật”. Bởi vì trong thực hành của người Do Thái, một buổi lễ tại giáo đường Do Thái yêu cầu phải có 10 người đàn ông Do Thái trưởng thành, nghĩa là một minyan, và sau lễ bar mitzvah người đó được tính vào số những người trưởng thành đó. Khi còn là một cậu bé Do Thái, Chúa Giêsu chắc chắn đã tham dự một kiểu “trường học Do Thái” nào đó để học về Kinh thánh và về mối tương quan của Thiên Chúa với Israel. Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi Ngài ở trong Đền thờ giữa các luật sĩ, “lắng nghe và đặt câu hỏi cho họ”, và tham gia thảo luận với họ.

Thứ hai, Chúa Giêsu vắng mặt vì Ngài đang ở Giêrusalem “ba ngày”. Một ngày nào đó, Chúa Giêsu sẽ vắng mặt khỏi Giêrusalem “ba ngày”, từ thứ Sáu tuần Thánh đến Chúa nhật Phục sinh. Nhiều người sẽ tìm kiếm Ngài và cảm nhận được sự vắng mặt của Ngài. Đó chính là tinh thần của ngày thứ Bảy tuần Thánh.

Thứ ba, Chúa Giêsu đang nói về công việc của Cha Ngài. Đó là câu chuyện về cuộc đời Ngài. Trong tương lai, Ngài sẽ đưa ra những câu trả lời tương tự mà một số người không thể hiểu được, ví dụ, khi Ngài hỏi “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?” (Mt 12: 48-50) hoặc khi Ngài nói với một môn đệ tương lai muốn nói lời tạm biệt gia đình trước khi đi theo Ngài, rằng ai cầm cày mà còn ngoái lại phía sau là không xứng đáng (Lc 9: 62). Thông điệp rất đơn giản: Ý Chúa quan trọng hơn mọi điều khác. Chúng ta đã thấy điều đó trong cuộc đời của Mẹ Maria và cách “Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Ngài” (Rôma 8: 28). Điều đó không làm cho tính triệt để của sự cam kết trở nên kém đòi hỏi hơn. Chúa Giêsu là “dấu hiệu của sự mâu thuẫn” và sự mâu thuẫn có thể gây tổn thương.

Mầu nhiệm thứ năm được khắc họa trong tác phẩm nghệ thuật của họa sĩ người Anh thế kỷ 19, William Holman Hunt, thuộc trường phái tiền Raphael. Hầu hết mọi người biết đến ông qua bức tranh nổi tiếng “Ánh sáng thế gian”, mô tả Chúa Giêsu đứng bên cánh cửa đóng kín và gõ cửa trái tim mỗi người.

William Holman Hunt, “Tìm thấy Đấng Cứu Thế trong Đền thờ”, 1854 (ảnh: Public domain)

Bức tranh “Tìm thấy Đấng Cứu Thế trong Đền thờ”, có niên đại khoảng năm 1855, hiện đang được lưu giữ tại Viện Bảo tàng và Phòng trưng bày Nghệ thuật Birmingham, nước Anh. Không giống như những họa sĩ khác thường đặt các sự kiện Kinh thánh vào bối cảnh Kitô giáo một cách lệch lạc về mặt niên đại, ví dụ, dưới mái hiên hoặc trong nhà thờ, nhiều họa sĩ thế kỷ 19 tìm cách thể hiện tính chân thực trong nghệ thuật, “trung thành với bối cảnh” của miền Giuđê và Galilê vào thế kỷ thứ nhất. Thực tế, nhiều họa sĩ đã thực hiện các chuyến đi đến Đất thánh.

Thánh Gia được đặt bên phải. Mẹ Maria nói chuyện với Chúa Giêsu lúc đó còn nhỏ, hai ngài nắm tay nhau. Thánh Giuse, với vẻ che chở, đứng bên cạnh cả hai. Đó là một khoảnh khắc “tạm dừng”: “Con ơi, cho phép cha ngắt lời con để hỏi: Con đã đi đâu vậy?”

Thánh Gia hướng về phía chúng ta, và Chúa Giêsu lôi kéo chúng ta vào bức tranh và vào cuộc thảo luận, điều Ngài cần làm. Bên trái, xếp thành hình bán nguyệt, có ít nhất tám vị trưởng lão dạy về Lề luật, tất cả đều nhìn Chúa Giêsu. Vị trưởng lão bên trái cầm những cuộn Kinh thánh. Một số dường như đang bàn bạc với nhau. Phía sau họ, chủ yếu mặc đồ màu xanh lá cây, là các cậu học trò và cũng là người giúp việc của họ.

Đó là một góc sân Đền thờ, nơi những hoạt động khác cũng đang diễn ra. Hậu cảnh, phía sau các luật sĩ, chúng ta thấy một số người khác, có lẽ đang cầu nguyện hoặc đổi chác lấy tiền Đền thờ để mua các vật phẩm tôn giáo. Một người đàn ông nghèo ngồi ăn xin trên bậc thềm ngay bên ngoài khu vực tranh luận. Như mọi khi, cuộc sống vẫn tiếp diễn, ngay cả chung quanh Chúa Giêsu.

Kinh thánh cho chúng ta biết Chúa Giêsu đã cùng cha mẹ Ngài trở về Nadarét “và vâng phục các ngài”. Kinh thánh cũng ghi nhận “mẹ Ngài đã ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng”. Ngay từ khi thụ thai, có những điều về đứa trẻ này mà Mẹ Maria có thể chưa hiểu. Nhưng Mẹ hiểu rằng Thiên Chúa đã gọi Mẹ đến nơi này trong kế hoạch của Ngài, và Mẹ là “người nữ tỳ của Chúa”.

Và Chúa Giêsu đã lớn lên. Nhưng ngoài những sự kiện từ thời thơ ấu đến tuổi thành niên mà chúng ta suy ngẫm trong số các mầu nhiệm mùa Vui, phần lớn cuộc đời Chúa Giêsu được gọi là “Cuộc sống ẩn dật”. Ba mươi trong số 33 năm của Ngài đã trôi qua trong ngôi nhà Nadarét, vừa cầu nguyện vừa làm việc. Qua đó, Chúa Giêsu nêu gương cho chúng ta về Hội thánh tại gia và tầm quan trọng của Hội thánh đó trong việc đào tạo các thành viên của mình.

Chúng ta có quan tâm đến Nhà Cha chúng ta giống như Chúa Giêsu, dù đó là Nhà thờ - Hội thánh địa phương hay Nhà thờ - Hội thánh tại gia, được hình thành trong lòng gia đình không?

Phêrô Phạm Văn Trung

Chuyển ngữ từ: ncregister.com


BÀI GIẢNG CỦA HỒNG Y LUIS ANTONIO TAGLE (1 GA 4,7–16; GA 11,19–27) - Ý NGHĨA ĐÍCH THỰC CỦA “ẢNH HƯỞNG” TRONG ĐỜI SỐNG CÁ NHÂN, XÃ HỘI VÀ THIÊNG LIÊNG

 


BÀI GIẢNG CỦA HỒNG Y LUIS ANTONIO TAGLE (1 GA 4,7–16; GA 11,19–27) - Ý NGHĨA ĐÍCH THỰC CỦA “ẢNH HƯỞNG” TRONG ĐỜI SỐNG CÁ NHÂN, XÃ HỘI VÀ THIÊNG LIÊNG
avatarChuyển ngữ: Lm. Đaminh Ngô Quang Tuyên
31/12/2025
WHĐ (31/12/2025) – Năm thánh của các nhà truyền giáo kỹ thuật số và những người Công giáo có ảnh hưởng (Catholic influencers) mời gọi chúng ta suy tư về ý nghĩa đích thực của “ảnh hưởng” trong đời sống cá nhân, xã hội và thiêng liêng. Trong một thế giới nơi nhiều “dòng chảy” quyền lực tìm cách thao túng con người qua tiêu thụ, chính trị, ý thức hệ, hay thậm chí bằng bạo lực, đức tin nhắc chúng ta rằng ảnh hưởng đích thực tuôn chảy từ tình yêu của Thiên Chúa được tỏ lộ nơi Đức Giêsu Kitô. Ngài là “Người Ảnh Hưởng vĩ đại”, là Ngôi Lời làm người, Đấng biến đổi và canh tân nhân loại bằng một tình yêu thần linh và nhân loại mà không thuật toán nào có thể tạo ra. Các mẫu gương của Mácta, Maria và Ladarô cho thấy: tình bạn với Đức Giêsu biến các môn đệ thành những người có ảnh hưởng đích thực, phục vụ với lòng nhiệt thành, lắng nghe Lời Chúa, và loan báo sức mạnh của sự sống mới. Vì thế, các nhà truyền giáo kỹ thuật số được mời gọi để trước hết được thấm nhuần bởi tình yêu của Đức Kitô, và rồi trở nên nguồn ảnh hưởng trong thế giới nhân loại và kỹ thuật số bằng sự thật, công lý, bình an và hy vọng phát xuất từ Tin mừng.

BÀI GIẢNG CỦA HỒNG Y LUIS ANTONIO TAGLE

TRONG DỊP NĂM THÁNH DÀNH CHO CÁC NHÀ TRUYỀN GIÁO KỸ THUẬT SỐ VÀ NHỮNG NGƯỜI CÔNG GIÁO CÓ ẢNH HƯỞNG

Đền Thánh Phêrô

Thứ Ba, ngày 29 tháng 7, 2025

Chúng ta chúc tụng tạ ơn Chúa, Đấng đã quy tụ chúng ta thành cộng đoàn của Người quanh bàn tiệc Thánh Thể. Năm thánh này mời gọi anh chị em, các nhà truyền giáo kỹ thuật số và những người Công giáo có ảnh hưởng, trở nên những người hành hương của niềm hy vọng.

Ảnh hưởng là gì? Ảnh hưởng thường được hiểu là khả năng hay quyền năng tác động và thay đổi ai đó hoặc điều gì đó. Theo các học giả, từ influence (ảnh hưởng) trong tiếng Anh cổ bắt nguồn từ tiếng Latinh influere, nghĩa là “tuôn chảy vào”, vì xưa kia người ta tin rằng có một thứ “chất lỏng” (fluid) từ các ngôi sao chảy vào con người, khiến họ hành động theo một cách nhất định. Nếu vậy, ta có thể nói: những “người có ảnh hưởng” là một dạng “chất lỏng” phát xuất từ các ngôi sao. Nhưng là những ngôi sao nào?

Chúng ta cần nhớ rằng ảnh hưởng và chịu ảnh hưởng là một sự kiện của đời sống hằng ngày. Cuộc sống hằng ngày là một tấm thảm đan xen muôn vàn ảnh hưởng. Gia đình, khu xóm, nhà trường, chính quyền, người nông dân, bệnh viện, cảnh sát, nghệ thuật, văn hóa, công việc... tất cả đều ảnh hưởng đến chúng ta và xã hội, cũng như chúng ta ảnh hưởng đến các thực tại ấy. Sự suy thoái của gia đình, cộng đồng, giáo dục, chính quyền, nông nghiệp, y tế, an ninh, nghệ thuật, văn hóa hay lao động... cũng tác động đến con người và xã hội ta, bởi chúng là kết quả từ ảnh hưởng của chúng ta trên chúng. Khi chúng ta tạo ảnh hưởng, chúng ta cũng chịu ảnh hưởng. Như trái đất và môi trường ảnh hưởng đến ta, thì hoạt động của chúng ta cũng tác động đến hành tinh này.

Năm thánh mời gọi chúng ta xem xét ý hướng đang làm bùng lên những dạng “ảnh hưởng” mà thế giới hiện nay muốn tạo ra. Sự thay đổi mà ta mong muốn thường gắn liền với phương tiện mà ta dùng để tác động lên những con người và những hoàn cảnh khác. Xin nêu ra đây một vài ví dụ. Để tác động lên người tiêu dùng nhằm tăng lợi nhuận, một số nhà sản xuất đã quảng cáo gian dối, thậm chí dùng người nổi tiếng để lôi kéo. Để ảnh hưởng đến kết quả bầu cử, có chính trị gia mua chuộc cử tri hoặc hủy hoại danh dự đối thủ. Để thúc đẩy một thỏa thuận tài chính, có người đe dọa tống tiền. Để truyền bá tư tưởng hay ý thức hệ, có người dùng cưỡng bức hay tẩy não. Để khuất phục kẻ thù, có những người hay những quốc gia hùng mạnh gây chiến, ném bom, và dùng nạn đói làm vũ khí. Tất cả những điều ấy là những “chất độc” của ảnh hưởng, chảy ra từ “những vì sao nguy hiểm”. Anh chị em hãy biết phân định! Anh chị em không được phép dùng đến những dòng chảy hay ảnh hưởng độc hại ấy. Anh chị em không chỉ là người có ảnh hưởng, mà còn là những nhà truyền giáo.

Thật phù hợp khi chúng ta cử hành Thánh lễ Năm thánh này vào đúng ngày lễ kính thánh Mácta, Maria và Ladarô, một gia đình thân thiết với Đức Giêsu. Ai đã ảnh hưởng họ? Và họ đã được ảnh hưởng như thế nào để trở nên những bạn hữu và thánh nhân như hôm nay? Các bài đọc của thánh lễ hôm nay cho chúng ta câu trả lời.

Thánh Gioan trong bài đọc thứ nhất trả lời: Người Ảnh Hưởng vĩ đại chính là Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu. Để thực hiện cuộc biến đổi, canh tân, thánh hóa và cứu độ nhân loại bằng tình yêu, Thiên Chúa không gửi cho ta một tin nhắn, email, hay tệp tài liệu, nhưng gửi chính Con Một của Người, Ngôi Lời Thiên Chúa đã làm người để ta được sống (x. 1 Ga 4,9–10). “Ngôi Lời đã trở nên xác phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Đức Giêsu không phải là một khuôn mặt hay giọng nói được tạo bởi chương trình kỹ thuật số. Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là “Trưởng tử của mọi tạo vật” (Cl 1,15). Tình yêu không thể sinh ra bởi thuật toán. Chỉ có một Ngôi Vị thần linh với con tim nhân loại mới có thể có tình yêu thương vừa thần linh vừa nhân loại, và tạo nên sự biến đổi sâu xa và bền vững. Thánh Gioan mời gọi chúng ta để cho tình yêu của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu ảnh hưởng và biến đổi chúng ta thành người biết yêu. Như ta đã được yêu, ta cũng hãy yêu nhau. Như ta đã chịu ảnh hưởng bởi tình yêu Thiên Chúa, ta cũng hãy tác động người khác bằng tình yêu ấy. Khi chúng ta yêu thương, Thiên Chúa ở lại trong ta, và ta ở lại trong Người, một dòng ảnh hưởng bất tận được thúc đẩy bởi tình yêu thần linh và nhân loại (x. 1 Ga 4,11–12). Tôi xin nêu câu hỏi này: Chúng ta có để nước và máu Đức Giêsu, đổ ra vì tình yêu chúng ta, trở thành “dòng chảy ảnh hưởng” đích thực, rửa sạch mọi gian ác, giả trá, bất công, thành kiến, thao túng và bạo lực không? Anh chị em thân mến, hãy để tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Giêsu và Chúa Thánh Thần ngăn chặn các dòng ảnh hưởng độc hại len lỏi vào tâm hồn và xã hội loài người.

Sau cùng, chúng ta hãy học nơi Mácta, Maria và Ladarô. Họ đón tiếp Đức Giêsu như một người bạn, một vị khách vào nhà của họ, thật ra là đón Ngài vào chính cuộc đời họ. Đức Giêsu là nguồn ảnh hưởng lớn lao trong gia đình ấy. Mácta, bừng cháy lòng mến, chuẩn bị bữa ăn ngon nhất cho Ngài (x. Lc 10,38–40). Khi đón Đức Giêsu vào đời, bạn sẽ trở nên người có ảnh hưởng nhiệt thành trong phục vụ. Maria ngồi dưới chân Chúa để lắng nghe lời Ngài (x. Lc 10,39). Khi đón Đức Giêsu, bạn sẽ là người có ảnh hưởng biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa. Ladarô, người bạn được Đức Giêsu khóc thương, trở nên dấu chỉ vinh quang của sự Phục sinh. Dù đã chết bốn ngày, khi nghe tiếng Đức Giêsu gọi: “Ladarô, hãy ra ngoài!” (Ga 11,43), ông nghe được, sống lại và bước ra khỏi mồ. Khi đón Đức Giêsu, bạn sẽ là người có ảnh hưởng đem tiếng nói của Ngài giúp người khác thoát khỏi mồ chôn của tội lỗi, sợ hãi, và tuyệt vọng. Được Đức Giêsu yêu thương, họ tin vào Ngài. Mácta tuyên xưng đức tin của mình, một lời tuyên xưng dựa trên tình yêu: “Lạy Thầy, con tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến trong thế gian” (Ga 11,27). Mácta, Maria và Ladarô có thể là mẫu gương cho những người có ảnh hưởng truyền giáo. Được ảnh hưởng, biến đổi và cứu độ bởi tình yêu Đức Giêsu, họ loan báo Ngài là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng đang đến, đang “tuôn chảy vào” thế gian. Anh chị em là các nhà truyền giáo kỹ thuật số và người Công giáo có ảnh hưởng thân mến, Chúa Giêsu yêu thương anh chị em. Đừng bao giờ nghi ngờ điều đó. Qua anh chị em, ước gì chính con người của Đức Giêsu có thể tác động, ảnh hưởng và biến đổi nhiều người, cả trong thế giới nhân loại và kỹ thuật số, để sự thật, công lý, tình yêu và bình an của Thiên Chúa được tuôn chảy tới tận cùng trái đất! Nguyện xin tình yêu của Đức Giêsu không ngừng tuôn đổ trong chúng ta, nhờ sự chuyển cầu của Đức Maria, Ngôi Sao của việc rao giảng Tin mừng.

Chuyển ngữ: Linh mục Đaminh Ngô Quang Tuyên

Ủy ban Loan báo Tin mừng/ Hội đồng Giám mục Việt Nam

TÁC VỤ TÌNH YÊU - AMORIS OFFICIUM (X. GA 21,15–21; 2 CR 5,14)

 

TÁC VỤ TÌNH YÊU - AMORIS OFFICIUM (X. GA 21,15–21; 2 CR 5,14)

avatarLm. Anthony Trung Thành
WHĐ (31/12/2025) – Tiêu chuẩn của tác vụ không phải là khả năng hay thành tích, nhưng là tình yêu, một tình yêu được thanh luyện, được nuôi dưỡng, và được cụ thể hóa trong đời sống phục vụ.

1. Dẫn nhập: Ơn gọi khởi đi từ tình yêu

2. “Con có yêu mến thầy không?”: Tình yêu được thanh luyện và tái sinh

a. Tình yêu được Chúa hỏi ba lần: tiến trình thanh luyện và tái sinh

b. Với chủng sinh: tình yêu phải được thanh luyện trong thực tập mục vụ

3. Dấu chỉ của tình yêu thật trong khi thi hành tác vụ

4. “Hãy chăm sóc chiên của Thầy”: Tình yêu trở thành phục vụ

a. Tình yêu phải trở thành hành động

b. Tình yêu “đến cùng”: sứ vụ tình yêu và hiến dâng mạng sống

c. Đặc điểm của “tác vụ tình yêu” nơi người mục tử tương lai

5. “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi” (2 Cr 5,14)

a. Tình yêu “thúc bách” chứ không “ép buộc”

b. Không có tình yêu, mục vụ trở thành gánh nặng

c. Thực tập mục vụ: trường học của tình yêu trưởng thành

6. Kết luận


1. Dẫn nhập: Ơn gọi khởi đi từ tình yêu

Trình thuật Tin mừng theo Thánh Gioan (Ga 21,15–21) đưa chúng ta trở về khung cảnh bờ hồ Tibêria, nơi Đấng Phục Sinh gặp lại Thánh Phêrô sau biến cố Thương khó. Trong bối cảnh mang chiều sâu thần học và biểu tượng ấy, Đức Giêsu không đặt Thánh Phêrô trước những tiêu chí thường được dùng để đánh giá hiệu quả mục vụ, như khả năng lãnh đạo, chiến lược tông đồ hay những thành quả đã đạt được. Trái lại, Ngài chỉ đặt một câu hỏi duy nhất, nhưng mang tính nền tảng và quyết định đối với toàn bộ căn tính và sứ mạng của người môn đệ: “Anh có yêu mến Thầy không?” (x. Ga 21,15–21). Và chính từ câu trả lời khiêm tốn và chân thành của Thánh Phêrô: “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy”, Đức Giêsu mới trao phó sứ mạng mục tử: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy” (x. Ga 21,15–17).

Trình thuật Tin mừng này cho thấy một nguyên lý nền tảng của thần học mục vụ: tác vụ trong Hội thánh không khởi đi từ những hoạt động, nhưng từ tình yêu. Hơn nữa, chỉ khi tình yêu ấy được thanh luyện và trưởng thành trong tương quan cá vị với Đức Kitô, nó mới có khả năng trở thành nền tảng đích thực cho mọi hình thức phục vụ và sứ vụ. Xác tín này đã được Thánh Phaolô diễn tả bằng một mệnh đề mang tính cốt lõi đối với đời sống tông đồ: “Tình yêu Đức Kitô thúc bách chúng tôi” (2 Cr 5,14). Như thế, tình yêu không chỉ là động lực tâm lý hay đạo đức, nhưng là nguyên lý nội tại định hướng toàn bộ đời sống và hoạt động mục vụ của người được sai đi.

Nguyên lý Tin mừng ấy không dừng lại ở bình diện lý thuyết, nhưng được thể hiện cách cụ thể và sinh động trong lịch sử Hội thánh, đặc biệt nơi cuộc đời của Thánh Gioan Maria Vianney. Khi được sai đến một giáo xứ nghèo nàn và đức tin suy yếu, ngài đã không chọn lối tiếp cận dựa trên những kế hoạch cải tổ quy mô hay các chương trình mục vụ rầm rộ. Trái lại, ngài khởi đi từ một chọn lựa mang chiều sâu thiêng liêng: ở lại với Chúa và ở lại với dân. Qua sự hiện diện bền bỉ nơi tòa giải tội, qua việc thăm viếng các gia đình và chia sẻ những thực tại rất đời thường của giáo dân, thánh nhân đã để cho tình yêu mục tử dần dần thấm nhập và biến đổi cộng đoàn. Việc ngày càng có nhiều người trở lại không phát xuất từ tài hùng biện hay kỹ năng tổ chức, nhưng từ cảm nghiệm sống động về một tình yêu chân thành: tình yêu dành cho Thiên Chúa và cho các linh hồn.

Cuộc đời Thánh Gioan Maria Vianney trở thành một chứng từ sống động cho chiều kích nền tảng của tác vụ mục tử, được xác định trong trình thuật Đức Giêsu Phục Sinh bên bờ hồ Tibêria: mục vụ đích thực không hệ tại ở việc làm cho nhiều, nhưng ở việc yêu cho đúng, yêu bằng sự hiện diện, bằng hiến thân, và bằng việc để cho tình yêu của Đức Kitô trở thành lực thúc đẩy từ bên trong.

Chính từ ánh sáng Tin mừng và chứng tá sống động của Thánh Gioan Maria Vianney, mỗi chủng sinh được mời gọi dừng lại để phân định nội tâm cách nghiêm túc: Đâu là động lực thực sự đang chi phối các hoạt động mục vụ của tôi hôm nay? Đó là tình yêu đối với Đức Kitô và những người mình đang phục vụ, hay là những yếu tố dễ pha trộn và làm sai lệch ý hướng ban đầu như bổn phận, áp lực, thành tích, hoặc nhu cầu được nhìn nhận? Việc đặt ra những câu hỏi ấy giúp dịp tĩnh tâm này trở thành một hành trình trở về: trở về với nền tảng và cùng đích của mọi tác vụ mục vụ, đó là tình yêu.

2. “Con có yêu mến thầy không?”: Tình yêu được thanh luyện và tái sinh

a. Tình yêu được Chúa hỏi ba lần: tiến trình thanh luyện và tái sinh

Cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu và Thánh Phêrô trong đoạn Tin mừng theo Thánh Gioan (Ga 21,15–17) không thể được hiểu như một cuộc trò chuyện thông thường, nhưng phải được đọc như một tiến trình chữa lành và tái tạo mang chiều kích thiêng liêng. Tại đây, Đức Giêsu Phục Sinh không chỉ phục hồi vị thế tông đồ của Phêrô, nhưng còn “tái tạo” con người đã sa ngã của ông sau ba lần chối Thầy (x. Lc 22,54–62). Trình thuật này cho thấy việc phục hồi không diễn ra bằng sự quên lãng quá khứ, nhưng bằng việc đối diện và thanh luyện ký ức đổ vỡ trong ánh sáng của tình yêu.

Ba lần Đức Giêsu đặt câu hỏi không mang tính chất trách vấn hay xét xử, nhưng lần lượt đi vào ba chiều kích của tiến trình thanh luyện nội tâm, qua đó tình yêu của Thánh Phêrô được đưa từ tình trạng non yếu đến sự trưởng thành.

Trước hết, câu hỏi: “Anh có yêu mến Thầy hơn các anh em này không?” (Ga 21,15) đặt Thánh Phêrô trước vấn đề ưu tiên căn bản của đời sống người môn đệ. Đây không đơn thuần là một so sánh với người khác, nhưng là một thẩm vấn về trật tự nội tâm: Thiên Chúa có thực sự chiếm vị trí tối thượng trong đời người môn đệ hay không. Theo chiều kích này, người mục tử chỉ có thể chăm sóc đoàn chiên cách đích thực khi chính đời mình được định hướng bởi tình yêu đặt Thiên Chúa trên mọi sự (x. Mt 10,37).

Tiếp đến, câu hỏi lần thứ hai: “Anh có yêu mến Thầy không?” đào sâu chiều kích bền bỉ của lòng mến. Ở đây, Đức Giêsu không đòi hỏi một tình yêu không tỳ vết, nhưng đặt Thánh Phêrô trước sự thật của thân phận yếu đuối: sau vấp ngã, con còn có thể yêu nữa hay không. Tình yêu trưởng thành, theo nghĩa này, không phải là tình yêu không bao giờ ngã, nhưng là tình yêu biết đứng dậy, biết trở về, và biết để cho mình được yêu trước. Chính trong kinh nghiệm yếu hèn ấy, Thánh Phêrô khám phá rằng sức mạnh của ngài không phát xuất từ bản thân, nhưng từ Đấng đã yêu ông trước (x. 1 Ga 4,19).

Sau cùng, ở lần thứ ba, khi Đức Giêsu thay đổi động từ - từ agapāō sang phileō - trình thuật đạt tới chiều sâu thần học đặc biệt. Như nhiều nhà chú giải (tiêu biểu là R. Brown) nhận định,[1] đây là khoảnh khắc Đức Giêsu “bước xuống” với Phêrô, nghĩa là Ngài không đòi ông yêu bằng khả năng trọn vẹn của Thiên Chúa, nhưng chấp nhận tình yêu mong manh, giới hạn và chân thật của con người. Chính tại điểm này, Thánh Phêrô buồn, không phải vì bị khiển trách, nhưng vì nhận ra rằng Đức Giêsu thấu suốt toàn bộ nội tâm của mình: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21,17).

Như thế, tiến trình thanh luyện ba lần là điều cần thiết và mang tính chữa lành toàn diện: ba lần chối làm rạn nứt tương quan, thì ba lần tuyên xưng làm tái sinh tương quan ấy. Ở đây, Đức Giêsu không chỉ chữa lành quá khứ, mà còn thanh luyện động lực cho tương lai. Thánh Phêrô không thể lãnh nhận tác vụ mục tử nếu tình yêu của ngài chưa được giải phóng khỏi tự mãn, kiêu hãnh, ảo tưởng về bản thân, và nhất là khỏi sự cậy dựa quá mức vào sức riêng. Đức Giêsu muốn một người mục tử không đặt nền tảng trên tài năng hay năng lực cá nhân, nhưng đặt nền tảng trên ân sủng của Thiên Chúa như nguồn nâng đỡ và định hướng.

Chính ánh sáng này soi sáng đời sống chủng sinh trong bối cảnh thực tập mục vụ: không phải sự hoàn hảo cá nhân, nhưng chính ân sủng của Thiên Chúa mới là nền tảng cho việc lãnh nhận và thi hành tác vụ. Thiên Chúa không tìm những con người hoàn hảo để trao sứ mạng, nhưng tìm những con người khiêm tốn, sẵn sàng để cho Ngài hướng dẫn và biến đổi. Truyền thống Hội thánh cho thấy, sau cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh bên bờ hồ, Thánh Phêrô đã bước vào một đời sống hoàn toàn mới: không còn cậy dựa vào sức riêng, nhưng hoàn toàn phó thác vào ân sủng, can đảm rao giảng giữa bách hại, và cuối cùng hiến mạng sống vì Đức Kitô.

b. Với chủng sinh: tình yêu phải được thanh luyện trong thực tập mục vụ

Trong ý nghĩa ấy, chủng sinh thực tập mục vụ tại giáo xứ không chỉ nhằm tích lũy kinh nghiệm hay rèn luyện kỹ năng, nhưng trước hết là một thời gian thanh luyện động lực ơn gọi. Chính trong đời sống mục vụ cụ thể, Thiên Chúa đào luyện trái tim người chủng sinh, để tình yêu dành cho Đức Kitô được tinh luyện khỏi những động lực pha trộn và trở nên ngày càng trong sáng.

Những khác biệt về văn hóa và tính khí, những công việc nhỏ bé lặp đi lặp lại, những yêu cầu bất ngờ, những góp ý thẳng thắn, cũng như những giới hạn và thất vọng nơi chính bản thân, không chỉ là các yếu tố hoàn cảnh. Chúng trở thành những tình huống thử luyện, trong đó Đức Giêsu như một lần nữa đặt ra câu hỏi dành cho Phêrô: “Con có yêu mến Thầy … hơn những điều ấy không?” (x. Ga 21,15). “Những điều ấy” không chỉ là công việc hay hoàn cảnh bên ngoài, mà còn là những chuyển động nội tâm rất tinh tế như lòng tự ái, nhu cầu được nhìn nhận, mong đợi được khen ngợi, hoặc khuynh hướng muốn mọi sự diễn ra theo ý riêng. Nếu không nhận diện và thanh luyện, các yếu tố ấy dễ làm lệch hướng tình yêu: từ hiến dâng sang tìm mình, từ phục vụ sang khẳng định bản thân.

Vì thế, trong thực tập mục vụ, Đức Giêsu không hỏi chủng sinh trước tiên về khả năng tổ chức hay sáng tạo, nhưng về chất lượng của tình yêu: liệu người phục vụ còn trung tín khi phải làm việc trong âm thầm, khi bị hiểu lầm, và khi không được công nhận hay đáp trả. Thiếu vắng tình yêu thúc bách, việc phục vụ dễ trở thành gánh nặng, dẫn đến mệt mỏi, so sánh, tự ái và chán nản. Giáo huấn Hội thánh đã khẳng định rõ ràng rằng bác ái mục tử là nguyên lý nội tại và là linh hồn của mọi hoạt động mục vụ. Do đó, thực tập mục vụ có thể được hiểu như một tiến trình trưởng thành nhân bản và thiêng liêng, nơi người chủng sinh học yêu Chúa trong thực tế đời sống.[2]

Chính trong tiến trình này, người chủng sinh lớn lên không nhờ sự hoàn hảo cá nhân, nhưng nhờ ân sủng; không bằng cách né tránh giới hạn, nhưng bằng việc khiêm tốn để cho Thiên Chúa chạm đến những giới hạn ấy và biến đổi chúng thành nơi gặp gỡ. Như Phêrô năm xưa, người chủng sinh chỉ thực sự trưởng thành trong ơn gọi khi có thể phó thác đời mình trong lời tuyên xưng đơn sơ nhưng chân thật: “Lạy Thầy, Thầy biết mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21,17).

3. Dấu chỉ của tình yêu thật trong khi thi hành tác vụ

Tình yêu thật, tức tình yêu đã được thanh luyện, luôn để lại những dấu chỉ cụ thể trong đời sống mục vụ. Nó không biểu lộ bằng sự ồn ào hay khoa trương, nhưng bằng sự bền bỉ, âm thầm và nhất quán. Đối với người mục tử tương lai, đặc biệt trong giai đoạn thực tập, những dấu chỉ này trở thành thước đo nội tâm, giúp phân định xem việc phục vụ đang được thực hiện bằng tình yêu của Đức Kitô hay chỉ bằng khả năng và cảm xúc cá nhân.

Trước hết, yêu thật là không tìm thành tích nhưng tìm lợi ích thiêng liêng cho đoàn chiên. Người mục tử đích thực không hành động để được khen ngợi hay để tạo dấu ấn cá nhân, nhưng hướng mọi nỗ lực về lợi ích thiêng liêng của người khác (x. Ga 10,10; 1 Cr 9,23).

Thứ đến, yêu thật là không hành xử theo cảm xúc thất thường, nhưng theo lòng nhân từ của Thầy Giêsu. Khi để cho lòng hiền lành và khiêm nhường của Đức Kitô hướng dẫn (x. Mt 11,29), người chủng sinh không còn phản ứng theo tính khí, nhưng hành động theo logic của lòng thương xót.

Thứ ba, yêu thật là phục vụ không vì phải làm, nhưng vì vui mừng được cộng tác với Thiên Chúa. Theo linh đạo của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, ngay cả những việc nhỏ bé nhất cũng trở thành của lễ khi được thực hiện với tình yêu.[3]

Sau cùng, yêu thật là không giữ chỗ cho mình, nhưng nhường chỗ cho Chúa trong mọi tương quan và hoạt động. Tinh thần “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại” (Ga 3,30) giúp người mục tử trở thành khí cụ trong suốt để chính Đức Kitô chạm đến và biến đổi tâm hồn tha nhân.

Từ những dấu chỉ ấy, người chủng sinh được mời gọi tự xét lại động lực phục vụ của mình. Lời khẳng định của Thánh Augustinô có thể tóm kết toàn bộ chiều sâu này: “Hãy yêu đi, rồi muốn làm gì thì làm.”[4] Nếu tình yêu ấy là tình yêu của Đức Kitô, thì mọi điều được thực hiện trong tình yêu đó sẽ trở nên tốt lành và sinh nhiều hoa trái tốt lành.

4. “Hãy chăm sóc chiên của Thầy”: Tình yêu trở thành phục vụ

Ngay khi Thánh Phêrô khiêm tốn tuyên xưng: “Thưa Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21,17), Đức Giêsu không để cho lời ấy dừng lại ở bình diện cảm xúc hay lý tưởng thiêng liêng. Ngài lập tức gắn kết lời tuyên xưng tình yêu với một sứ mạng cụ thể: “Hãy chăm sóc chiên con của Thầy… Hãy chăn dắt chiên của Thầy” (Ga 21,15–17). Trình thuật này cho thấy một nguyên tắc nền tảng: tình yêu và sứ vụ không thể tách rời. Yêu mến Đức Kitô đích thực không chỉ là một thái độ nội tâm, nhưng phải được kiểm chứng qua hành động phục vụ cụ thể, hướng về những con người thật mà Thiên Chúa trao phó.

a. Tình yêu phải trở thành hành động

Tình yêu đích thực không bao giờ dừng lại ở một chuyển động nội tâm hay một cảm xúc đạo đức trừu tượng. Bản chất của tình yêu là hướng ngoại, là tự hiến, là trở thành quà tặng cho người khác. Thánh Gioan Tông đồ đã diễn tả điều này một cách dứt khoát: “Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm” (1 Ga 3,18). Theo ý nghĩa đó, bất cứ tình yêu nào không đi đến hành động đều vẫn là một tình yêu chưa trưởng thành, chưa đạt đến “độ chín” để Thiên Chúa có thể trao phó trách nhiệm mục tử.

Hơn nữa, tình yêu không thể tồn tại như một thực tại khép kín. Không ai có thể vừa tuyên xưng tình yêu đối với Thiên Chúa lại vừa thờ ơ với đoàn chiên. Chính Đức Giêsu đã nêu gương: “Người đã yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1), nghĩa là yêu bằng những hành động rất cụ thể: rửa chân, phục vụ, hiến thân. Khi nói với Phêrô: “Chiên của Thầy”, Đức Giêsu nhấn mạnh rằng đoàn chiên không thuộc về người mục tử, nhưng thuộc về Thiên Chúa. Người mục tử chỉ là cộng tác viên trong tình yêu của Chúa dành cho dân Người.

Chính vì thế, mục vụ không phải là việc làm cho nhiều, mà là một cách sống. Một chủng sinh có thể đảm nhận nhiều công việc trong giáo xứ, nhưng số lượng công việc tự nó không làm nên mục vụ. Mục vụ chỉ thực sự là mục vụ khi các công việc ấy được thực hiện trong và bởi tình yêu. Như Đức Bênêđictô XVI khẳng định, căn tính và sứ mạng phục vụ của Hội thánh chỉ có thể được hiểu đúng trong ánh sáng của tình yêu.[5] Mục vụ, vì thế, không phải là một chuỗi nhiệm vụ cần hoàn tất, nhưng là một lối yêu thương: yêu bằng sự hiện diện, kiên nhẫn, lắng nghe, khích lệ và bằng cả những hy sinh âm thầm không ai thấy. Chính tình yêu làm cho hành động trở nên mục tử, và khi được thấm đẫm tình yêu của Đức Kitô, hành động ấy trở thành tác vụ.

Kinh nghiệm của Thánh Vinh Sơn Phaolô minh họa rõ nét nguyên tắc này. Một lần nọ, ngài thăm viếng một người hấp hối. Khi nghe người ấy xưng tội, ngài nhận thức rằng nhiều người nghèo bị bỏ rơi không phải vì họ khước từ Thiên Chúa, nhưng vì không có ai đến với họ. Từ một kinh nghiệm mục vụ rất “đời thường” ấy, ngài khởi sự các sáng kiến loan báo Tin mừng bằng bác ái: tổ chức thăm viếng, chăm sóc, nâng đỡ người nghèo.[6] Sứ vụ lớn lao của thánh nhân khởi đi từ một việc nhỏ: đến với một con người cụ thể. Câu chuyện giúp các thầy hiểu: “Chăm sóc chiên” không bắt đầu từ ý tưởng lớn, nhưng từ một trái tim biết cúi xuống trước nhu cầu cụ thể của từng người.

b. Tình yêu “đến cùng”: sứ vụ tình yêu và hiến dâng mạng sống

Trong lịch sử Hội thánh, tác vụ tình yêu không hiếm khi dẫn tới sự hiến dâng trọn vẹn mạng sống. Những chứng tá ấy không nhằm lý tưởng hóa đau khổ, nhưng giúp hiểu cách hiện thực lời Đức Giêsu: “Không ai có tình yêu lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình” (Ga 15,13).

Thánh Maximilian Kolbe, khi tự nguyện chết thay cho một người tù tại Auschwitz, đã diễn tả tình yêu mục tử như một hành vi “thay chỗ”, nơi mạng sống của người này trở thành giá chuộc cho sự sống của người khác. Thánh Oscar Romero, bị ám sát khi đang cử hành Thánh lễ, trở thành dấu ấn cho một mục tử dám ở lại với đoàn chiên bị bách hại. Nữ tu Dorothy Stang, khi hiến mạng sống vì người nghèo và vì công lý xã hội, cho thấy rằng tác vụ tình yêu cũng mang chiều kích xã hội và ngôn sứ, nơi việc bảo vệ phẩm giá con người có thể dẫn đến bách hại và cái chết.[7]

Những chứng tá này không đặt ra một chuẩn mực anh hùng cho mọi người, nhưng khơi lên một câu hỏi thiết yếu cho người chủng sinh: Liệu tôi có sẵn sàng yêu đến cùng trong những “cái chết nhỏ” hằng ngày, chết cho cái tôi, cho tự ái, cho thói quen tìm mình, để trung tín chăm sóc đoàn chiên mà Thiên Chúa trao phó hay không?

c. Đặc điểm của “tác vụ tình yêu” nơi người mục tử tương lai

Khi trao sứ mạng chăn dắt, Đức Giêsu không chỉ giao một công việc, nhưng trao ban một phong cách sống yêu thương. Vì thế, người chủng sinh được mời gọi tập sống phong cách mục tử ấy ngay từ hôm nay, qua những thái độ cụ thể trong đời sống mục vụ.

Trước hết là sự hiện diện. Hiện diện là hình thức căn bản của yêu thương. Người mục tử không yêu từ xa, nhưng sống giữa đoàn chiên, với một sự hiện diện mang chiều kích nội tâm, khiến người khác cảm nhận được giá trị và phẩm giá của mình.

Kế đến là lắng nghe. Lắng nghe không chỉ là một kỹ năng giao tiếp, nhưng là một thái độ tôn trọng và đồng hành. Người mục tử tương lai phải học lắng nghe trước khi học nói: lắng nghe Lời Chúa, lắng nghe Hội thánh và lắng nghe người khác, đặc biệt những người bị tổn thương. Lắng nghe không chỉ là nghe âm thanh, mà là đón nhận con người, đón nhận nỗi đau, nỗi sợ và hy vọng của họ.

Tình yêu mục tử cũng được thể hiện qua sự chia sẻ, nghĩa là dấn thân vào đời sống thực của đoàn chiên, vui với người vui, khóc với người khóc (x. Rm 12,15), để mục vụ trở thành một tương quan tình yêu, chứ không chỉ là việc thi hành nhiệm vụ.

Bên cạnh đó là sự kiên nhẫn, Chúa Giêsu dùng hình ảnh hạt giống để diễn tả Nước Trời (x. Mc 4,26–29), qua đó nhắc rằng sự biến đổi của con người và hoa trái của ân sủng cần thời gian. Người làm mục vụ phải chấp nhận rằng không phải lúc nào mình cũng thấy kết quả; có khi người gieo không phải là người gặt (x. Ga 4,37). Kiên nhẫn vì thế là dấu chỉ của một tình yêu chân thật và trưởng thành.

Không thể thiếu khiêm tốn, biểu lộ nơi việc trung thành với những công việc nhỏ bé và âm thầm. Người mục tử không tìm mình trong công việc, nhưng tìm Chúa, để dấu ấn của Người, chứ không phải dấu ấn cá nhân, tỏa sáng.

Cuối cùng là tế nhị, thương xót và hy sinh âm thầm. Người mục tử phải biết chạm đến những vết thương của đoàn chiên mà không làm họ đau hơn. Sự tế nhị là biểu hiện của lòng thương xót. Đức Giêsu đã nâng người phụ nữ ngoại tình bằng một ánh nhìn không kết án (x. Ga 8,10-11). Một ánh nhìn không kết án, một lời nói nhẹ nhàng, có thể mở lại cánh cửa lòng đã khép kín; trái lại, một thái độ khắc nghiệt có thể làm tổn thương thêm một trái tim đang tìm nơi nương náu. Mặt khác, người mục tử phải chấp nhận những hy sinh kín đáo không được ghi nhận, trong xác tín rằng Thiên Chúa thấy những gì kín đáo và chính Người là phần thưởng đích thực: “Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh” (x. Mt 6,6).

Tóm lại, người chủng sinh sống tác vụ tình yêu không bằng việc làm thật nhiều, nhưng bằng việc làm mọi sự với trái tim của Đức Kitô. Khi ấy, tác vụ không chỉ là công việc phải hoàn thành, nhưng trở thành một căn tính, một cách sống, và một lời đáp trả mỗi ngày cho câu hỏi vẫn vang lên: “Con có yêu mến Thầy không?”

Chứng tá của thánh Têrêsa Calcutta diễn tả cách sinh động chân lý ấy: Mẹ kể rằng điều thúc đẩy mẹ không phải là một kế hoạch lớn, nhưng là một tiếng gọi nội tâm mãnh liệt thúc bách mẹ “đi ra” với những người nghèo nhất. Mẹ bắt đầu từ những điều rất cụ thể: băng bó vết thương, lau rửa thân thể, bồng ẵm người bị bỏ rơi trên đường phố. Khi được hỏi vì sao làm những việc nặng nề và âm thầm ấy, mẹ đã nhấn mạnh rằng mẹ phục vụ Đức Kitô nơi “những người nghèo nhất trong các người nghèo”.[8]

5. “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi” (2 Cr 5,14)

a. Tình yêu “thúc bách” chứ không “ép buộc”

Trong tất cả những động lực có thể chi phối hành vi con người - chức vụ, bổn phận, trách nhiệm, luật lệ, truyền thống, uy tín, thậm chí nỗi sợ - những động lực ấy có thể giúp khởi sự một công việc, nhưng khó đủ sức bảo đảm sự bền đỗ của một đời sống hiến thân. Theo chứng từ của Thánh Phaolô, chỉ có một động lực có thể đưa người tông đồ đi trọn hành trình: tình yêu. Vì thế, ngài khẳng định: “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi” (2 Cr 5,14). Điều đáng chú ý là Phaolô không quy chiếu đến luật lệ hay chức vụ, cũng không đặt nền trên nghĩa vụ tông đồ, nhưng quy về một nguyên lý duy nhất: tình yêu.

Từ ngữ “thúc bách” (synechei trong Hy Lạp) gợi một sức ép nội tại, mạnh mẽ nhưng không mang tính cưỡng chế. Đó không phải là áp lực từ bên ngoài, mà là một năng lực thẳm sâu “nắm giữ”, “đẩy tới” và “giữ lại” trong trung tín: đẩy người ta vượt qua mệt mỏi, và giữ người ta đứng vững trong thử thách. Thực tại ấy được kiểm chứng nơi chính cuộc đời của Thánh Phaolô, giữa những trải nghiệm khắc nghiệt của sứ vụ: gian truân, tù đày, đòn vọt, hiểu lầm và phản bội (x. 2 Cr 11,23–28). Điều giữ ngài đứng vững không phải là nghị lực cá nhân, nhưng là lửa tình yêu của Đức Kitô đang bừng cháy trong lòng.

Trong cùng chiều kích ấy, Đức Bênêđictô XVI nhấn mạnh: không phải con người yêu Thiên Chúa trước, nhưng chính Thiên Chúa yêu trước; và khi nhận ra tình yêu khởi nguyên ấy, con người được thôi thúc yêu đáp trả.[9] Nói cách khác, bổn phận có thể giúp bắt đầu, nhưng chỉ tình yêu mới giúp tiếp tục; trách nhiệm có thể khiến người ta “đứng dậy”, nhưng chỉ tình yêu mới khiến người ta “đi vào” những nơi mệt mỏi nhất, những hoàn cảnh khó khăn nhất, và những tâm hồn đau khổ nhất. Từ đây có thể rút ra một hệ luận mục vụ: thiếu tình yêu, tác vụ trở thành gánh nặng; có tình yêu, tác vụ có thể trở thành niềm vui.

Thực tế cho thấy: người mục tử có thể làm nhiều việc, nhưng sẽ sớm cạn kiệt nếu mọi hoạt động không khởi đi từ tình yêu Đức Kitô. Ngược lại, khi tình yêu ấy trở thành nền tảng, người ta có thể thực hiện những điều vượt quá sức tự nhiên mà vẫn giữ được sự bình an nội tâm, tương ứng với lời Đức Giêsu: “Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,30). Sự êm ái và nhẹ nhàng ấy không đến từ việc gánh nhẹ, nhưng từ một trái tim yêu mến, trái tim đã để tình yêu của Đức Kitô trở thành động lực và mục đích của mọi hành động.

Vì thế, đối với chủng sinh, câu hỏi quyết định không chỉ là “mình làm gì”, nhưng sâu hơn: điều gì đang thực sự thúc bách mình? Là nhiệt thành chân thật hay nhu cầu chứng tỏ? Là tình yêu Đức Kitô hay tự ái được che giấu? Là khát vọng phục vụ hay nhu cầu được nhìn nhận? Một ngày nào đó, khi đối diện các thử thách đặc thù của sứ vụ linh mục: cô đơn, hiểu lầm, thiếu thốn, bệnh tật, áp lực, những đêm phải lên đường vì một bệnh nhân, điều giúp người mục tử đứng vững không thể chỉ là “sức mình”, nhưng là sự thật này: “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi.”

Một mẫu gương sáng ngời cho chủng sinh về tình yêu được thúc bách đến mức ở lại chính là Thánh Đamien. Được sai đến đảo Molokai, nơi những người phong cùi bị loại trừ, cô độc và bị coi như đã chết đối với xã hội, cha đã không chọn cách phục vụ từ xa, nhưng để cho tình yêu Đức Kitô thúc bách mình ở lại, sống giữa họ như người anh em. Cha chăm sóc người bệnh, chôn cất người qua đời, dựng lại nhà cửa, ban các bí tích, và chia sẻ trọn vẹn thân phận của những con người bị bỏ rơi. Cha không gọi họ là “những người phong cùi”, nhưng là “chúng ta”, bởi nơi họ cha nhận ra chính Đức Kitô đau khổ.

Khi chính mình mắc bệnh phong, thánh nhân không rút lui, nhưng coi đó như sự hoàn tất của một chọn lựa đã được tình yêu dẫn dắt đến cùng. Trong một lá thư, cha viết: “Tôi làm cho mình nên người phong cùi với những người phong cùi để đưa tất cả về với Đức Giêsu Kitô”.[10] Nơi Thánh Đamien, tác vụ mục tử không còn là một công việc phải chu toàn, nhưng trở thành một tình yêu thúc bách đến mức dám ở lại, dám chia sẻ số phận đoàn chiên cho đến cùng, minh họa cách cụ thể lời tuyên tín của Thánh Phaolô: “Tình yêu Đức Kitô thúc bách tôi” (2 Cr 5,14).

b. Không có tình yêu, mục vụ trở thành gánh nặng

Tình yêu không chỉ là điểm khởi đầu của tác vụ, mà còn là nguồn lực nâng đỡ và bảo vệ trái tim mục tử trước các cám dỗ và mệt mỏi thường ngày. Khi thiếu tình yêu, ngay cả những công việc tốt đẹp trong Hội thánh cũng có thể biến thành một áp lực nội tâm, khiến người phục vụ bị hao mòn.

Trước hết, thiếu tình yêu, người mục tử dễ chuyển từ thái độ mục vụ sang thái độ “công việc”: thay vì nhìn thấy con người đau khổ, ta chỉ nhìn thấy “điều phiền phức”; thay vì nhận ra nhu cầu thiêng liêng, ta chỉ thấy sự bất tiện. Hệ quả là tâm thế dễ nóng nảy, phản ứng theo cảm xúc và thiếu kiên nhẫn, khiến lòng nhân hậu của Đức Kitô không còn được phản chiếu cách trung thực.

Kế đến, thiếu tình yêu, người mục tử dễ sa vào cơ chế so bì và phàn nàn: so sánh giáo xứ mình với giáo xứ khác, so sánh thành quả của mình với người khác, so sánh sự công nhận dành cho mình với sự chú ý dành cho cha hay thầy khác. So sánh luôn dẫn đến phàn nàn, và phàn nàn sẽ sớm biến thành mệt mỏi nội tâm.

Đồng thời, thiếu tình yêu, người mục tử dễ khép lòng trước những người “khó chịu”: chỉ ưu tiên những ai dễ thương, dễ hợp tác, còn những ai gây khó chịu thì tìm cách tránh né. Khi ấy, người ta không còn nhìn thấy Đức Kitô nơi người bé nhỏ, người nghèo, người tội lỗi hay người phiền phức, trong khi chính họ lại là “chiên lạc” mà Chúa đặc biệt sai mục tử đi tìm (x. Lc 15,4).

Sau nữa, thiếu tình yêu, người mục tử dễ tìm sự bù đắp qua quyền lợi và sự công nhận: trở nên nhạy cảm quá mức với thiệt thòi, với lời khen chê và đánh giá của người khác. Điều này rất nguy hiểm, vì trái tim mục tử không được tạo ra để hướng vào mình, mà để hướng ra ngoài. Thánh Phaolô cảnh báo: “Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh” (x. Pl 2,3); và Đức Thánh Cha Phanxicô cũng nhiều lần nhấn mạnh nguy cơ đặt bản thân ở trung tâm thay vì để Chúa và đoàn chiên ở trung tâm.

Hệ luận là: không có tình yêu, tác vụ có thể trở thành “gánh nặng chức vụ”: làm đúng mà không vui, làm nhiều mà không thấy ý nghĩa, giữ bổn phận mà mất dần nhiệt thành. Ngược lại, khi có tình yêu, các hoàn cảnh thay đổi ý nghĩa: công việc khó, trở thành cơ hội để yêu; những đòi hỏi bất ngờ, trở thành lời mời gọi; và hy sinh âm thầm, trở thành của lễ đẹp lòng Thiên Chúa (x. Ep 5,2).

Trong viễn tượng đó, Thánh Gioan Thánh Giá nói: “Ở đâu không có tình yêu, hãy đặt tình yêu vào, bạn sẽ tìm thấy tình yêu.”[11] Và chính Đức Giêsu xác nhận đỉnh cao của tình yêu: “Không ai có tình yêu lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình” (Ga 15,13). Tình yêu ấy làm cho đời mục vụ không chỉ có thể sống được, mà sống một cách sung mãn; không chỉ chịu đựng, mà còn rạng rỡ. Tình yêu ấy làm cho cuộc đời linh mục trở thành một bài ca dâng hiến, chứ không phải một gánh nặng phải kéo lê từng ngày.

c. Thực tập mục vụ: trường học của tình yêu trưởng thành

Thời gian thực tập mục vụ không chỉ là một giai đoạn “đi thực tập” theo nghĩa hành chính hay chương trình đào tạo. Nếu nhìn bằng đôi mắt đức tin, đây chính là một trường học thiêng liêng, nơi Chúa đào tạo trái tim của người mục tử tương lai. Mỗi ngày, qua những công việc lớn nhỏ, những biến cố vui buồn, những tương quan đơn sơ hay phức tạp, Chúa đều âm thầm đặt lại câu hỏi mà Ngài đã hỏi Phêrô bên bờ hồ Tibêria: “Con có yêu mến Thầy không?” (Ga 21,15).

Trước hết, đây là thời gian để Chúa đặt câu hỏi về tình yêu của mỗi chủng sinh. Không phải trong lớp học tại chủng viện, không phải chỉ qua sách vở thần học, nhưng chính trong những tiếp xúc hằng ngày với giáo dân, trong sự kiên nhẫn lắng nghe, trong sự tế nhị khi xử lý một hiểu lầm, trong sự khiêm tốn chấp nhận góp ý, Chúa đang gõ nhẹ vào tâm hồn mỗi chủng sinh và hỏi: “Con có yêu Thầy… trong hoàn cảnh này không? Con có yêu Thầy… qua người này không?” Đôi khi chính những người khó thương nhất, những việc khó chịu nhất lại là nơi Chúa thử luyện tình yêu của mỗi chủng sinh.

Tiếp đến, đây là thời gian để mỗi chủng sinh học yêu trong thực tế khó khăn, không phải bằng một tình yêu lý tưởng, nhưng bằng một tình yêu thực tế: yêu khi không được công nhận, yêu khi mệt mỏi, yêu khi phải làm những việc lặp lại mỗi ngày, yêu khi phải đón nhận sự bất đồng, yêu khi phải hy sinh thì giờ riêng tư cho ai đó đang cần mình. Như thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu nhắc nhở: “Tình yêu đích thực được đo bằng khả năng hy sinh.”[12] Chính những khó khăn trong mục vụ là “lò luyện” để tình yêu non trẻ trở thành tình yêu trưởng thành.

Đồng thời, đây là thời gian để mỗi chủng sinh trưởng thành trong nhân bản và mục vụ. Người mục tử không chỉ cần kiến thức thần học, nhưng còn cần một trái tim rộng mở, một nhân cách trưởng thành và một khả năng gặp gỡ con người bằng lòng thiện cảm. Trưởng thành nhân bản là biết kiểm soát cảm xúc, biết sống kỷ luật, biết hợp tác, biết đón nhận và cho đi, biết giải quyết xung đột với sự bình an. Trưởng thành mục vụ là biết nhìn con người bằng ánh mắt của Đức Giêsu, biết đặt lợi ích thiêng liêng của họ trên ý riêng của mình, biết tìm kiếm ý Chúa trong mọi biến cố.

Tóm lại, thực tập mục vụ không phải chỉ là thời gian theo chương trình đào tạo của chủng viện, nhưng thực sự là khởi đầu của chính đời linh mục. Và trong khởi đầu ấy, Thiên Chúa không đòi sự hoàn hảo tức thời; Ngài đòi một điều căn bản hơn: để cho tình yêu của Người lớn lên. Bởi sau cùng, tiêu chuẩn của tác vụ không phải là khả năng hay thành tích, nhưng là tình yêu, một tình yêu được thanh luyện, được nuôi dưỡng, và được cụ thể hóa trong đời sống phục vụ.

6. Kết luận

Từ những suy tư trên đây cho chúng ta thấy, tác vụ mục vụ chỉ thực sự có ý nghĩa khi khởi đi từ tình yêu đã được thanh luyện trong tương quan cá vị với Đức Kitô. Không phải làm cho nhiều, nhưng là yêu cho đúng; không phải tìm thành tích, nhưng tìm thánh ý Chúa và lợi ích thiêng liêng của đoàn chiên. Chính tình yêu Đức Kitô, chứ không phải sức riêng, mới là động lực bền vững nâng đỡ người mục tử đi trọn hành trình hiến thân. Ước gì thời gian thực tập mục vụ trở thành trường học giúp mỗi chủng sinh học yêu như Thầy đã yêu.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, Chúa đã hỏi Thánh Phêrô và hôm nay cũng hỏi từng người chúng con: “Con có yêu mến Thầy không?” Xin thanh luyện trái tim chúng con khỏi mọi động lực pha trộn, để tình yêu dành cho Chúa trở nên trong sáng và trưởng thành. Xin cho tình yêu của Chúa thúc bách chúng con biết ở lại, biết phục vụ và biết hiến thân mỗi ngày trong những việc nhỏ bé và âm thầm. Xin cho chúng con trở thành những mục tử theo trái tim Chúa, yêu mến Chúa trên hết mọi sự và chân thành chăm sóc đoàn chiên Chúa trao phó. Amen.

(Bài gợi ý tĩnh tâm lớp chủng sinh thực tập mục vụ, tháng 12/2025)

Lm. Anthony Trung Thành


[1] Raymond E. Brown, The Gospel According to John XIII–XXI (Anchor Bible 29A), New York: Doubleday, 1970, phần chú giải Ga 21,15–17 (về agapāō/phileō).

[2] Thánh Gioan Phaolô II, Tông huấn Pastores Dabo Vobis (25.03.1992), số 23.

[3] Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Histoire d’une âme (Tự thuật), Bản thảo C (linh đạo “làm việc nhỏ với tình yêu lớn”).

[4] Thánh Augustinô, In Epistolam Ioannis ad Parthos Tractatus, VII, 8: “Dilige et quod vis fac.”

[5] Đức Bênêđictô XVI, Thông điệp Deus Caritas Est (25.12.2005), các số 1–7.

[6] Louis Abelly, La Vie du vénérable serviteur de Dieu Vincent de Paul, Paris, 1664 (các trình thuật về kinh nghiệm mục vụ khởi phát sứ vụ bác ái).

[7] Về các chứng tá: Thánh Maximilian Kolbe (Auschwitz, 1941); Thánh Oscar A. Romero (bị sát hại khi dâng lễ, 1980); Sr. Dorothy Stang, S.N.D. (bị sát hại tại Brazil, 2005).

[8] Mother Teresa, Come Be My Light: The Private Writings of the “Saint of Calcutta”, ed. Brian Kolodiejchuk, M.C., New York: Doubleday, 2007.

[9] Đức Bênêđictô XVI, Deus Caritas Est, số 17.

[10] Thánh Damien de Veuster, thư từ thời kỳ Molokai (trong các tuyển tập Letters of Father Damien), đoạn diễn tả việc đồng hóa đời mình với người phong cùi.

[11] Thánh Gioan Thánh Giá, Thư tín (Epistolario), thư thường được trích với câu: “Donde no hay amor, poned amor y sacaréis amor.”

[12] Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Derniers entretiens (Những cuộc đối thoại cuối đời), ý tưởng: tình yêu được đo bằng hy sinh.