Trang

Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2026

TÍNH CHẤT HAI MẶT CỦA AI

 

ĐỨC HỒNG Y ARIZMENDI: TÍNH CHẤT HAI MẶT CỦA AI

avatarĐức Hồng y Felipe Arizmendi
WHĐ (07/02/2026) - Giữa trợ giúp và phi nhân hóa: Con dao hai lưỡi của trí tuệ nhân tạo.

XEM

Trên máy tính của tôi, mỗi khi muốn viết điều gì đó trong Word, một thông báo lập tức hiện ra: “Hãy mô tả điều bạn muốn viết với Copilot”. Nói cách khác, tôi chỉ cần đưa ra vài ý tưởng và máy sẽ làm phần việc thay tôi. Và khi tôi mở một tài liệu dài để đọc, lại có một thông báo khác xuất hiện: “Tài liệu này có vẻ dài. Hãy tiết kiệm thời gian bằng cách đọc bản tóm tắt bằng trợ lý AI”. Nghĩa là máy có thể cung cấp cho tôi một bản tóm lược để tôi khỏi phải đọc toàn bộ bản văn. Tôi hoàn toàn không can thiệp; tất cả đều do một cỗ máy mà ai đó đã lập trình thực hiện. Cỗ máy thay thế tôi, và tôi không còn phải suy nghĩ nhiều nữa. Điều này có những ưu điểm nhưng cũng có những hạn chế của nó.

Nếu điều đó xảy ra với tất cả chúng ta qua các thiết bị điện tử, hãy thử hình dung trí tuệ nhân tạo có thể làm được bao nhiêu việc trong mọi lĩnh vực: y học, hàng không, truyền thông, giáo dục, giải trí, thông tin, chính trị, kinh tế, v.v. Nó giúp chúng ta rất nhiều trong việc tìm đường đến một nơi cụ thể! Máy sẽ chỉ cho bạn đường đi, và bạn không còn phải lo lắng hay phải hỏi đường nữa.

Điều này có cả mặt lợi lẫn mặt hại. Bởi lẽ công cụ phi thường này có thể được dùng cho điều tốt, nhưng cũng có thể bị sử dụng vào những mục đích lệch lạc, khiến người khác suy nghĩ và quyết định thay cho bạn. Vấn đề không nằm ở chính sự tiến bộ khoa học và công nghệ mà nó đại diện, mà ở cách nó được sử dụng. Nó có thể rất hữu ích, nhưng cũng có thể làm mất tính cá vị và tính nhân bản của bạn. Bạn không còn là người trực tiếp xây dựng và quyết định nữa mà là một cỗ máy sẽ làm thay. Một số quốc gia đã bắt đầu ban hành luật để bảo vệ trẻ vị thành niên khỏi những nội dung trên internet, vì điều đó có thể gây hại cho sự phát triển trí não và năng lực cá nhân của các em.

XÉT

Đức Giáo hoàng Lêô XIV, trong Sứ điệp nhân ngày Thế giới Truyền thông Xã hội lần thứ 60 năm 2026 (24/ 01/ 2026), cảnh báo:

Công nghệ kỹ thuật số, khi không được quản lý đúng đắn, có nguy cơ làm thay đổi triệt để một số cột trụ cơ bản của nền văn minh nhân loại, những điều mà đôi khi chúng ta coi là đương nhiên. Bằng cách mô phỏng giọng nói và khuôn mặt con người, sự khôn ngoan và tri thức, ý thức và trách nhiệm, sự đồng cảm và tình bạn, các hệ thống được gọi là trí tuệ nhân tạo không chỉ can thiệp vào các hệ sinh thái thông tin, mà còn xâm chiếm đến mức độ sâu thẳm nhất của truyền thông: đó là mối tương quan giữa người với người.

Vì thế, thách đố không phải là vấn đề công nghệ, mà là vấn đề nhân học. Việc bảo vệ khuôn mặt và tiếng nói, xét cho cùng, chính là chăm sóc cho chính mình. Đón nhận những cơ hội mà công nghệ số và trí tuệ nhân tạo mang lại với lòng can đảm, quyết tâm và sự phân định không có nghĩa là né tránh trước những điểm then chốt, những mơ hồ và những rủi ro của nó.

Kèm theo đó là một niềm tin ngây thơ, thiếu phê phán vào trí tuệ nhân tạo như một người bạn toàn tri, người cung cấp mọi thông tin, kho lưu trữ mọi ký ức, và là nhà tiên tri cho mọi lời khuyên. Tất cả điều này có thể tiếp tục làm xói mòn khả năng tư duy phân tích và sáng tạo của chúng ta, khả năng hiểu ý nghĩa, cũng như khả năng phân biệt giữa cú pháp và ngữ nghĩa.

Mặc dù AI có thể hỗ trợ và trợ giúp trong việc quản lý các nhiệm vụ truyền thông, giúp chúng ta bỏ qua nỗ lực tự suy nghĩ và bằng lòng với những bản tổng hợp thống kê do máy tạo ra, về lâu dài, nó có nguy cơ làm suy giảm năng lực nhận thức, cảm xúc và giao tiếp của chúng ta.

Tuy nhiên, câu hỏi khiến chúng ta phải quan tâm không phải là máy có thể hoặc sẽ làm gì, mà là chính chúng ta có thể hoặc sẽ có thể làm được gì, khi lớn lên trong nhân tính và tri thức nhờ biết sử dụng cách khôn ngoan những công cụ mạnh mẽ đang phục vụ mình. Nhân loại từ lâu vẫn bị cám dỗ muốn chiếm lấy thành quả của tri thức mà không cần đến nỗ lực dấn thân, nghiên cứu và trách nhiệm cá nhân. Thế nhưng, từ bỏ tiến trình sáng tạo và phó mặc các chức năng tinh thần cũng như trí tưởng tượng của mình cho máy móc đồng nghĩa với việc chôn vùi những nén bạc mà chúng ta đã lãnh nhận để trưởng thành như những cá vị trong tương quan với Thiên Chúa và với tha nhân. Điều đó cũng có nghĩa là che giấu khuôn mặt và làm câm lặng tiếng nói của chính mình.

Nguy cơ là rất lớn. Sức mạnh mô phỏng của trí tuệ nhân tạo lớn đến mức nó có thể đánh lừa chúng ta bằng cách tạo ra những thực tại song song, chiếm dụng khuôn mặt và giọng nói của chúng ta. Chúng ta đang sống trong một thế giới đa chiều, nơi ngày càng khó phân biệt đâu là thực tại và đâu là hư cấu.

LÀM

Chính Đức Giáo hoàng Lêô XIII đề nghị: “Thách đố đang chờ đợi chúng ta không phải là ngăn chặn sự đổi mới kỹ thuật số, nhưng là định hướng nó và ý thức rõ về bản chất hai mặt của nó. Mỗi người chúng ta có trách nhiệm cất tiếng nói để bảo vệ con người, để những công cụ này thực sự được chúng ta tích hợp như những người bạn đồng hành; để gia tăng khả năng suy tư phê phán của bản thân; để biết đánh giá độ đáng tin cậy của các nguồn tin và những lợi ích có thể ẩn sau việc chọn lọc thông tin đến với chúng ta; để hiểu những cơ chế tâm lý được kích hoạt trong phản ứng; và giúp các gia đình, cộng đoàn và các hiệp hội của mình phát triển những tiêu chí thực tiễn cho một nền văn hóa truyền thông lành mạnh và có trách nhiệm hơn.”

Là người Công giáo, chúng ta có thể và cần góp phần mình để con người, đặc biệt là giới trẻ, đạt được khả năng suy nghĩ cách phê phán và trưởng thành trong tự do nội tâm.

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP

Dòng Đa Minh Thánh Tâm

Chuyển ngữ từ: exaudi.org

“MUỐI CHO ĐỜI” NGHĨA LÀ GÌ?

 

“MUỐI CHO ĐỜI” NGHĨA LÀ GÌ?

avatarPhêrô Phạm Văn Trung
WHĐ (07/02/2026) – Để hiểu trọn vẹn lời Chúa Giêsu: “Chính anh em là muối cho đời” (Mt 5: 13), cần trở lại với vai trò của muối trong thế giới cổ đại, trong Cựu ước, và trong truyền thống của Giáo hội.

1. Dấu hiệu của sự khôn ngoan

Một trong những dấu chỉ ít được biết đến của Giáo hội là muối thánh. Vào thời Thánh Augustinô, việc đặt muối thánh lên lưỡi là một phần của nghi thức Rửa tội trong Giáo hội phương Tây. Ngài viết trong cuốn Tự thú rằng khi được rửa tội, ngài đã “được đóng dấu Thánh giá của Chúa Kitô và được xức muối của Chúa Kitô ngay khi mới ra khỏi lòng mẹ”. Trong Nghi thức Rôma năm 1962, muối được thánh hóa và đặt lên lưỡi dự tòng với lời nguyện: “Hãy nhận lấy muối này như dấu hiệu của sự khôn ngoan… dấu hiệu báo trước sự sống đời đời.

Muối thánh cũng thường được pha vào nước thánh, gợi nhớ đến câu chuyện tiên tri Êlisa dùng muối làm cho nguồn nước ô uế trở nên tinh sạch (2 V 2: 19–22). Trong truyền thống phụng vụ, muối gắn liền với các nghi thức trừ tà, chúc phúc, và cả nghi thức thánh hiến chuông có từ thế kỷ VIII. Tất cả cho thấy muối không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng đơn giản, mà còn gắn liền với sự thanh tẩy, bảo vệ và sự sống.

Khi Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Chính anh em là muối cho đời” (Mt 5: 13), lời này, giống như nhiều hình ảnh Kinh thánh khác, đã phần nào mất đi chiều sâu ban đầu do khoảng cách thời gian và văn hóa. Trong tiếng Anh hiện đại, “salt of the earth” thường chỉ một người hiền lành, chất phác, chăm chỉ và đáng tin cậy. Oscar Wilde từng mô tả những người lao động như ngư dân, nông dân là “muối cho đời”. Cách hiểu này tuy tích cực, nhưng chưa chạm tới điều Chúa Giêsu thực sự muốn nói.

Ngày nay, khi muối rẻ và phổ biến, chúng ta dễ hiểu “muối cho đời” như việc làm cho cuộc sống thêm “đậm đà”. Quả thật, muối tạo hương vị và giúp bảo quản thực phẩm, và các bài giảng thường giải thích rằng người Kitô hữu được mời gọi, trở nên như muối, gìn giữ sự hiện diện của Thiên Chúa trong thế giới. Tuy nhiên, để hiểu trọn vẹn lời Chúa Giêsu, cần trở lại với vai trò của muối trong thế giới cổ đại, trong Cựu ước, và trong truyền thống của Giáo hội.

2. Muối trong thế giới cổ đại

Trong thế giới cổ đại, muối là một mặt hàng vô cùng quý giá, thiết yếu cho sự sống và cho việc xây dựng các đế chế. Cả con người lẫn động vật đều cần muối để tồn tại. Đối với quân đội, muối dùng để bảo quản thịt, cá, pho mát và rau củ trong những chiến dịch dài ngày. Một số loại muối còn cần thiết cho việc thuộc da, sản xuất lều trại, áo giáp, giày dép và các trang bị quân sự.

Muối đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự bành trướng của Đế chế La Mã đến nỗi đôi khi binh lính được trả lương bằng muối, từ đó có cụm từ La tinh “dignus salarium - xứng đáng với muối”. Số tiền được trả bằng “muối” được gọi là salarium, nguồn gốc cho từ “salary – tiền lương” hiện nay. Nhiều từ hiện đại liên quan đến sức khỏe và ơn cứu độ cũng bắt nguồn từ tiếng La tinh sal – muối, như salvation - cứu rỗi, gợi nhắc đến mối liên hệ sâu xa giữa muối, sự sống và sự chữa lành.

Thành phố Rôma được hình thành phần nào nhờ các tuyến đường vận chuyển muối, đặc biệt là “Via Salaria – Con đường muối”. Bất cứ nơi nào người La Mã đi đến, họ đều mang theo muối và tìm kiếm các nguồn muối mới. Bối cảnh này giúp ta hiểu tại sao muối lại mang ý nghĩa sống còn đối với thế giới thời Chúa Giêsu.

3. Muối, cá và biển Galilê

Biển Galilê là nguồn cung cấp lương thực và thu nhập quan trọng cho dân Israel. Phần lớn cá đánh bắt không được bán tươi mà được bảo quản bằng muối, do không có đá hay phương tiện làm lạnh. Muối được khai thác từ vùng Biển Chết và các mỏ muối lân cận.

Bài giảng Trên núi diễn ra gần thị trấn Mácđala, một trung tâm thương mại cá muối nổi tiếng. Cá muối từ Mácđala bên hồ Galilê được xuất khẩu khắp Đế chế La Mã. Tiếng Hy Lạp chỉ Mácđala  Taricheae – Ταριχέαι, có gốc từ động từ tiếng Hy Lạp ταριχεύω - taricheuō, nghĩa là bảo quản, ướp, hoặc sấy khô. Taricheae – Ταριχέαι có nghĩa là “nơi có cá muối”. Những người nghe Chúa Giêsu giảng chắc chắn hiểu rõ vai trò thiết yếu của muối: không chỉ là gia vị, mà là điều kiện để thực phẩm không bị hư hoại, và qua đó, để sự sống được duy trì.

Vì thế, khi Chúa Giêsu gọi các môn đệ là “muối cho đời”, Ngài không chỉ nói đến việc làm cho thế giới “ngon hơn”, mà còn nói đến điều cần thiết cho sự sống và sự tồn tại của cộng đoàn.

4. Muối của giao ước

Trong Cựu ước, muối giữ vai trò quan trọng trong việc thờ phượng. Hương đốt trong đền thờ được pha muối: “Tô hợp hương, hương loa, phong tử hương, các hương chất và nhũ hương nguyên chất; số lượng mỗi thứ sẽ đồng đều. Ngươi sẽ lấy các thứ hương đó chế thành hương để đốt: hợp chất các hương này sẽ là sản phẩm của thợ làm hương; hương đó sẽ là hương pha muối, nguyên chất, và là hương thánh” (Xh 30: 35), và mọi lễ tế đều phải có muối: “Các ngươi không được để lễ phẩm thiếu muối của giao ước của Thiên Chúa các ngươi” (Lv 2: 13). Ở đây xuất hiện khái niệm “muối của giao ước”.

Cụm từ này được nhắc đến ba lần trong Cựu ước, đặc biệt trong giao ước giữa Thiên Chúa và Đavít: “Các ngươi lại không biết rằng Thiên Chúa của Israel đã ban vương quyền vĩnh viễn trên Israel cho Ðavit, cho ông và con cái ông làm Giao ước muối sao?” (2 Sử biên niên 13: 5). Qua tiên tri Nathan, Thiên Chúa hứa với Đavít rằng vương quyền của ông sẽ tồn tại mãi mãi. Lời hứa này vang vọng lời hứa trước đó dành cho Abraham, rằng nhờ dòng dõi ông, muôn dân sẽ được chúc phúc.

Đối với Đavít, đây là khoảnh khắc mặc khải lớn lao: ông nhận ra rằng giao ước cứu độ của Thiên Chúa dành cho Israel đang được hoàn thành nơi chính dòng tộc mình. Giao ước ấy được gọi là “giao ước muối”, một giao ước bền vững, không hư hoại, như chính đặc tính của muối.

Những người Do Thái nghe Chúa Giêsu giảng chắc chắn quen thuộc với khái niệm này. Vì thế, “muối cho đời” hẳn đã gợi lên trong tâm trí họ lời hứa cứu độ gắn liền với giao ước Đavít và Abraham.

5. Muối trong Giao ước mới

Dù cụm từ “muối của giao ước” không xuất hiện trực tiếp trong Tân ước, nhưng ý nghĩa của nó vẫn hiện diện. Trong Công vụ Tông đồ 1: 4, Thánh Luca viết rằng Chúa Giêsu “đang khi dùng bữa với các Tông đồ”. Trong phần hai của cuốn sách Chúa Giêsu thành Nazareth, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã cho thấy rằng cụm từ đó là bản dịch của từ Hy Lạp συναλιζόμενος - synalizomenos, nghĩa đen là “ăn muối với họ”. Chúa Kitô không chỉ đơn thuần ở lại với họ, nói lời tạm biệt trước khi rời khỏi trần gian. Ngài “ăn muối với họ”, đó là dấu hiệu của một bữa ăn giao ước, giống như những khoảnh khắc Chúa Kitô bẻ bánh với các tông đồ sau khi phục sinh, gợi nhớ đến bữa Tiệc ly khi Ngài thiết lập Giao ước mới. Ở đây trong sách Công vụ các tông đồ, Thánh Luca đang nhắc lại muối của giao ước được lập giữa Thiên Chúa và Đavít và sự hoàn thành giao ước được lập với Abraham rằng một người con trai của ông sẽ trở thành vua, nhờ đó tất cả các gia tộc sẽ được chúc phúc.

Đức Giáo hoàng Bênêđíctô cho chúng ta biết rằng việc chia sẻ muối này là “dấu hiệu của sự sống mới và vĩnh cửu” và hướng đến “bữa tiệc mới của Chúa Phục Sinh với các môn đồ Ngài”. Do đó, nó liên quan trực tiếp đến bữa Tiệc ly. Đức Giáo hoàng Bênêđíctô nói rằng có một “mối liên kết nội tại” giữa bữa ăn vào đêm trước cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu và sự hiệp thông mới của Chúa Phục Sinh: “Vì vậy, mật mã bí ẩn của việc ăn muối thể hiện một mối liên kết nội tại giữa bữa Tiệc ly và sự thông công bàn tiệc mới của Chúa Phục Sinh. Ngài hiến dâng chính mình cho các môn đệ như thức ăn và do đó cho họ được chia sẻ sự sống của Ngài. Chúa đang lôi kéo các môn đồ vào một giao ước mới, sự hiệp thông với Ngài. Ngài ban cho họ được chia sẻ sự sống thực sự, làm cho họ thực sự sống động và thanh tẩy cuộc đời họ thông qua sự tham gia vào cuộc Khổ nạn của Ngài, sức mạnh thanh tẩy của sự đau khổ của Ngài” (Chúa Giêsu thành Nazareth, Tập 2, trang 271-272).[1]

Việc “ăn muối” này là dấu hiệu của sự sống mới và vĩnh cửu, hướng tới sự hiệp thông giữa Chúa Kitô Phục Sinh và các môn đệ. Như vậy, muối của Giao ước cũ được hoàn tất trong Giao ước mới, nơi Chúa Kitô hiến dâng chính mình làm lương thực ban sự sống.

6. “Muối cho đời” hôm nay

Từ đó, ta có thể hiểu trọn vẹn hơn lời kêu gọi trở thành “muối cho đời”. Người Kitô hữu không chỉ được mời gọi làm cho thế giới trở nên dễ chịu hơn, mà còn được kêu gọi mang ơn cứu độ đến cho thế giới, như muối từ Mácđala đã được phân phối khắp Đế chế La Mã.

Muối còn có tác dụng bảo quản. Vì thế, trở thành “muối cho đời” cũng có nghĩa là gìn giữ đức tin tông truyền tinh tuyền, không bị biến chất, và trao truyền đức tin ấy cho các thế hệ mai sau. Điều này đòi hỏi không chỉ lời rao giảng, mà còn sự hiệp thông: “ăn muối với” người khác, ngồi vào bàn với họ, như chính Chúa Kitô đã làm.

Vì thế, khi nghe ai đó được gọi là “muối cho đời”, chúng ta không nên hiểu điều đó chỉ theo nghĩa xã hội hời hợt. Dù sự tử tế và chăm chỉ là những đức tính đáng quý, nhưng lời mời gọi của Chúa Giêsu sâu xa hơn nhiều: trở thành chứng nhân của Giao ước mới, mang Tin mừng và sự sống của Ngài đến tận cùng thế giới.

Nếu chúng ta dành cả đời để sống ơn gọi ấy, thì chúng ta thực sự “xứng đáng với muối của mình”. Và như Chúa Kitô đã hứa, phần thưởng, hay “tiền lương bằng muối”, dành cho chúng ta trong Nước Trời sẽ vô cùng phong phú.

Phêrô Phạm Văn Trung (theo Daniel Mattson)

_____________

[1] Chú thích của người dịch: https://blog.adw.org/2025/07/what-does-acts-14-mean-by-saying-that-jesus-was-eating-salt-with-them/