Trang

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2026

Mộc dược – Món quà không mong muốn

 


Mộc dược – Món quà không mong muốn

Ronald Rolheiser r

Trong các sách Tin Mừng, chúng ta đọc câu chuyện Ba nhà đạo sĩ từ phương Đông đến và đặt các món quà của họ bên máng cỏ Chúa Giêsu mới sinh. Những món quà đó không mang tính thực dụng như thức ăn cho em bé, tã lót, chăn mền. Các món quà mang tính biểu tượng, vậy chúng biểu tượng cho điều gì?

Ở một ý nghĩa nào đó, các món quà này biểu tượng cho những điều mà theo cách chúng ta được dạy theo kinh điển, đó là vương quyền, thần tính và nhân tính. Nhưng chúng còn có những tầng ý nghĩa khác. Vàng có thể được xem là món quà mang lại nguồn lực cần thiết cho những điều đứa trẻ sẽ cần trong cuộc đời. Nhũ hương có thể được cho là món quà tôn vinh phẩm giá độc nhất vô nhị của đứa trẻ. Còn mộc dược có thể được xem là lời nhắc nhở một ngày kia đứa trẻ sẽ chết.

Đó là ba món quà mà mọi bậc cha mẹ đều cần trao cho con cái, cụ thể là những nguồn lực cho những điều đứa trẻ cần để lớn lên, niềm tự hào để tôn vinh phẩm giá của bé, và lời nhắc nhở (dưới bất kỳ hình thức nào) để giữ đứa trẻ luôn ý thức rằng một ngày kia mình sẽ chết. Đó là các món quà của các đạo sĩ: chúng ta được trao nguồn lực, chúng ta được tôn vinh, và chúng ta được nhắc sẽ có ngày chúng ta chết.

Khi còn nhỏ, chúng ta khao khát hai món quà đầu tiên, vàng và nhũ hương, nhưng lại cự với món quà cuối cùng, mộc dược, lời nhắc chúng ta sẽ phải chết, một lời nhắc chúng ta không muốn nghe, nhưng lại rất cần.

Thuở nhỏ, cha mẹ tôi đã trao cho tôi cả ba món quà này: vàng, nguồn năng lực tôi cần để sống và trưởng thành, nhũ hương, ý thức về phẩm giá độc nhất vô nhị của mình, và mộc dược, ý thức một ngày nào đó tôi sẽ chết, rằng cuộc sống này không phải là tất cả, rằng tuổi trẻ và sức khỏe không tồn tại mãi, và những quyết định trong cuộc đời tôi luôn cần được đưa ra trong ý thức hướng về chân trời đó.

Khi lớn lên, tôi luôn kháng cự món quà cuối cùng. Tôi không muốn nhìn thi thể trong các buổi canh thức tiễn biệt hay tang lễ, và tôi tránh nghe những lời nói về sự mong manh của cuộc sống. Tôi không muốn nhìn hay nghe bất kỳ điều gì về cái chết. Với tôi, đó là những lời nói bệnh hoạn che lấp ánh mặt trời và rút cạn dưỡng khí xung quanh.

Nhưng cha mẹ tôi, trong mọi điều tốt đẹp cha mẹ trao cho tôi và anh chị em tôi, ông bà không bao giờ để chúng tôi né tránh mộc dược. Trong mọi thời điểm của cuộc sống, luôn có những lời nhắc nhở về thân phận phải chết, về sự thật sinh mạng thì mong manh và cái chết cuối cùng sẽ chờ chúng tôi. Cha mẹ tôi không tàn nhẫn, không độc ác, cũng không đặc biệt bi quan. Họ chỉ luôn đặt ý thức này trước mắt chúng tôi, nhắc nhở chúng tôi về cái có thật. Trong suốt thời gian đó, tôi chỉ mong được đi chơi ở Disneyland.

Có lẽ trong chuyện này, cha mẹ tôi không chỉ chịu ảnh hưởng bởi đức tin của họ, mà còn bởi gốc gác văn hóa Đức, nền văn hóa đã cho chúng tôi Truyện cổ Grimm, vốn có một thái độ đặc biệt khắc kỷ về cái chết, và tin rằng người lớn che chắn chúng khỏi những khía cạnh u tối hơn của cuộc sống thì chẳng phải là đang làm điều gì tốt đẹp cho chúng. Nhưng xét cho cùng, món quà đặc biệt này thực sự đến từ đức tin của họ và đó là món quà lành mạnh, đồng thời vô cùng cần thiết.

Bất chấp mọi kháng cự và những nỗ lực tránh né, món quà này  vẫn len vào cuộc đời tôi, và len vào mạnh mẽ đến mức tôi có thể thành thật tuyệt đối để nói mọi quyết định lớn trong đời tôi đều được đưa ra trong ý thức về chân trời đó. Tôi sẽ không bao giờ bước vào Cộng đoàn tu trì và làm linh mục nếu không có điều mà món quà này luôn mãi bắt tôi ý thức. Tôi sẽ không thể kiên trì giữ lời khấn nếu không có món quà này. Nếu không ý thức về hiện thực phải chết của mình, thì ai lại muốn sống lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục? Thật vậy, trong bất kỳ lối sống nào, nếu không ý thức về chân trời rộng lớn hơn này, ai có được sức mạnh để trung tín?

Khi còn nhỏ, tôi không biết ơn cha mẹ (cũng như văn hóa Công giáo của họ) vì không bao giờ họ để tôi quên ‘là người là phải chết’, họ đã mang mộc dược tượng trưng đến bên chiếc nôi của tôi. Nhưng giờ đây nhìn lại, tôi nhận ra đây là một trong những món quà lớn nhất cha mẹ đã trao cho tôi, một món quà tôi không muốn nhưng lại vô cùng cần đến.

Tôi nhớ một giai đoạn đặc biệt tăm tối trong thời thơ ấu của tôi, vào hai mùa hè và thu năm tôi mười ba tuổi. Chỉ trong vòng năm tháng, ba người trẻ tuổi mà tôi quen biết, hai người hàng xóm và một người bạn cùng lớp, đều đột ngột qua đời, hai người gặp tai nạn và một người tự tử. Mỗi cái chết cướp đi một người trẻ khỏe mạnh khỏi cuộc đời đều là một đả kích vào sức sống và ước mơ tuổi trẻ của tôi, những điều vốn hoàn toàn dựa trên việc bước đi trong ánh sáng, dưới ánh mặt trời, với sức khỏe và tuổi trẻ, trong một thế giới nơi cái chết không có thật. Trong sáu tháng, tôi vật lộn với sự phủ nhận, trong nỗi cô độc đau đớn tuổi thiếu niên, cố gắng dàn hòa với sự thật trần trụi về cái chết. Và cuộc vật lộn đó đã in lên tâm hồn tôi một chiều sâu mà cho đến hôm nay tôi vẫn còn cảm nhận được. Mùa hè năm đó, một lần nữa tôi được trao món quà mộc dược, một phúc lành đến từ việc dàn hòa với sự khả tử của mình.

J.B. Thái Hòa dịch

Điều gì tạo nên gia đình: Sinh học hay Đức tin?

 

Điều gì tạo nên gia đình: Sinh học hay Đức tin?



Điều gì tạo nên gia đình: Sinh học hay Đức tin?

Ronald Rolheiser, 2025-11-17

Theo một nghĩa nào đó, chúng ta có thể nói Kitô giáo đã phát minh ra tôn giáo vì trước Kitô giáo, các cộng đồng đức tin chủ yếu dựa trên sắc tộc và bộ lạc. Chúa Giêsu đã định nghĩa một gia đình đức tin theo một cách khác, Ngài nói với chúng ta rằng không phải tử cung mà bạn được sinh ra, mà chính tử cung mà bạn được tái sinh mới định nghĩa gia đình của bạn. Đối với Chúa Giêsu, gia đình thực sự không dựa trên sinh học, sắc tộc hay quốc tịch. Gia đình dựa trên đức tin.

Chúa Giêsu dạy điều này ở đâu? Điều này hầu như hiện diện ở khắp mọi nơi như một chủ đề nền tảng cho lời dạy của Ngài. Tuy nhiên, nó được thể hiện rõ ràng nhiều lần trong cách Ngài định nghĩa mối quan hệ của Ngài với Mẹ của Ngài, cũng như vị trí và địa vị của Mẹ trong cộng đồng đức tin.

Có một số trường hợp trong Phúc âm, Chúa Giêsu dường như xa cách mẹ Ngài. Ví dụ, trong một sự việc, có người đến gặp Ngài và nói: “Mẹ và anh em của Thầy đang đứng ngoài kia, muốn nói chuyện với Thầy.” Nhưng Chúa Giêsu trả lời: “Ai là mẹ tôi, ai là anh em tôi?” Sau đó, Ngài chỉ vào các môn đệ và nói: “Đây là mẹ tôi và anh em tôi.”

Trong một trường hợp khác, khi Ngài đang nói chuyện với đám đông, một phụ nữ kêu lên: “Phúc cho dạ đã cưu mang Thầy và vú đã cho Thầy bú mớm!” Chúa Giêsu chỉ nói: “Phúc cho những ai nghe và giữ lời Thiên Chúa.”

Câu chuyện đó có thể được diễn đạt lại theo cách này. Một phụ nữ trong đám đông đặc biệt xúc động trước Chúa Giêsu và hét lên: “Chắc hẳn Thầy có một người mẹ tuyệt vời!” Chúa Giêsu trả lời: “Đúng vậy, bà ấy thật tuyệt vời, tuyệt vời hơn những gì các con nghĩ. Tất cả các bà mẹ đều tuyệt vời về mặt sinh học. Nhưng mẹ tôi còn tuyệt vời hơn về đức tin!”

Những sự việc này thoạt nhìn có thể gây nhầm lẫn vì có vẻ như Chúa Giêsu đang xa cách mẹ ruột của Ngài. Nhưng không phải vậy. Thay vào đó, Ngài đang định nghĩa lại mối quan hệ của mình với mẹ theo cách mang lại cho bà một địa vị khác (và cao quý hơn): Phúc thay những ai nghe và giữ lời Thiên Chúa. Các sách Phúc Âm cho thấy rõ ràng Đức Maria thực sự là người đầu tiên làm điều này. Đức tin của Mẹ khi thưa “Xin hãy làm cho tôi như lời Ngài” chính là điều làm cho Mẹ trở nên đặc biệt hơn cả dòng máu của Mẹ.

Trong các sách Phúc âm, Đức Maria có một địa vị đặc biệt trong cộng đồng tông đồ, không phải trước hết vì Mẹ là mẹ ruột của Chúa Giêsu, mà vì Mẹ là người đầu tiên thực sự lắng nghe và giữ lời Chúa. Đức tin, hơn cả dòng máu của Mẹ, đã mang lại cho Mẹ một địa vị đặc biệt.

Hơn nữa, với những câu trả lời này, Chúa Giêsu đang định nghĩa lại một cách cơ bản những gì cấu thành nên một gia đình đích thực, nghĩa là, đức tin, hơn cả dòng máu của Mẹ, quyết định ai là mẹ và ai là anh chị em của Mẹ. Gia đình đích thực không được xác định bởi dòng máu của Mẹ, mà bởi đức tin. Đối với tín hữu kitô, không phải tử cung mà Mẹ được sinh ra, mà chính tử cung mà Mẹ được tái sinh mới định nghĩa nên gia đình của Mẹ. Gia đình đích thực không còn dựa trên sắc tộc, dòng máu, bộ lạc hay quốc gia. Không điều nào trong số những điều này làm chúng ta trở thành anh chị em theo đúng nghĩa đen của từ gia đình.

Có những thách thức sâu rộng phát sinh từ điều này, những thách thức mà chúng ta luôn có xu hướng phớt lờ. Nói một cách đơn giản, chúng ta luôn phản đối việc định nghĩa gia đình một cách rộng rãi như vậy. Thay vào đó, chúng ta có khuynh hướng mãi mãi đồng nhất gia đình đức tin với gia đình sinh học, sắc tộc, quốc gia, giáo phái hoặc hệ tư tưởng của chính mình, do đó biến Chúa thành Chúa của bộ lạc, quốc gia, giáo phái hoặc hệ tư tưởng của chính mình. Điều này không chỉ mang lại cho chúng ta một quan niệm sai lầm về gia đình mà còn là một quan niệm sai lầm về Chúa. Theo một câu nói của tác giả Nikos Kazantzakis, khi chúng ta làm điều này, lòng Chúa trở thành khu ổ chuột.

“Ai là mẹ tôi? Ai là anh chị em tôi?” Ai là gia đình thực sự của tôi?

Để trả lời câu hỏi này, đức tin cuối cùng phải vượt lên trên các tham chiếu đến gia đình sinh học, sắc tộc, quốc tịch, giáo phái hoặc hệ tư tưởng. Những người đang nghe lời Chúa và đang giữ lời Chúa là “mẹ, anh chị em” của chúng ta.

Tôi tin việc Chúa Giêsu định nghĩa lại những gì cấu thành nên gia đình là một thách thức rất cần thiết cho chúng ta ngày nay, khi chúng ta ngày càng tách biệt nhau qua những khác biệt về hệ tư tưởng, quốc gia và sắc tộc, và đang định nghĩa gia đình rất khác so với Chúa Giêsu đã làm. Việc đồng nhất gia đình đức tin với gia đình sinh học, sắc tộc, quốc gia, giáo phái hoặc ý thức hệ là nền tảng của khái niệm chủ nghĩa dân tộc Kitô giáo và các loại chủ nghĩa bộ lạc khác cố gắng che đậy mình bằng Chúa Giêsu và Phúc âm. Những quan niệm đó, dù chân thành đến đâu, đều sai lầm và theo những cách đáng kể là đối lập với Chúa Giêsu và Phúc Âm. Trong Chúa Kitô, như Kinh Thánh đảm bảo với chúng ta, tất cả chúng ta đều được rửa tội để trở thành một thân thể, dù là người Do Thái hay người Hy Lạp, nô lệ hay tự do,  tất cả chúng ta đều được uống chung một Thánh Linh. Trong gia đình đức tin không có Johnson hay Rolheiser, người Mỹ hay người Mêxicô, người Anh hay người Pháp, người da trắng hay da màu, người theo chủ nghĩa tự do hay bảo thủ. Gia đình thực sự của chúng ta, gia đình của chúng ta trong Chúa Kitô, vượt lên trên tất cả những điều này – và bất chấp lòng trung thành lành mạnh với gia đình sinh học, giáo phái và quốc gia, đòi hỏi mỗi người chúng ta cũng phải vượt lên trên điều đó.

Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

HÃY ĐỂ CÁC TỔNG LÃNH THIÊN THẦN HƯỚNG DẪN BẠN!

 

HÃY ĐỂ CÁC TỔNG LÃNH THIÊN THẦN HƯỚNG DẪN BẠN!


WHĐ (28/9/2026) - Ba vị Tổng lãnh Thiên thần Raphael, Micael và Gabriel, mỗi vị đều có một sứ mạng riêng, và sứ mạng ấy ngày nay vẫn có thể gợi hứng cho chúng ta. Chỉ cần chúng ta để cho các ngài dẫn dắt.

Giáo hội kính nhớ ba Tổng lãnh thiên thần Micael, Gabriel và Raphael vào ngày 29 tháng 9. Các ngài không chỉ đơn thuần là những sứ giả của Thiên Chúa, các ngài còn âm thầm tỏ dấu hiệu mời gọi chúng ta, mà không hề ép buộc bất cứ điều gì: đó có thể là một trực giác thúc đẩy chúng ta làm điều thiện, một cú ngã tránh được trong gang tấc, một sự trợ giúp để ta trở nên chính mình, một tiếng nói giúp ta phân định, một cử chỉ đúng lúc, hay một niềm vui khi sống trọn giây phút hiện tại…

Trong Thánh vịnh 90, có lời viết: “Chúa truyền cho các thiên sứ của Người gìn giữ bạn trên khắp nẻo đường. Thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá” (Tv 90/91,11-12). Như thế, mỗi vị trong ba Tổng lãnh thiên thần có thể trao cho chúng ta những lời khôn ngoan được vang vọng trong Kinh thánh như những lời chỉ dẫn để sống mỗi ngày.

Thiên thần Micael - Tín thác nơi Thiên Chúa

Trước hết là Tổng lãnh thiên thần Micael, tên ngài có nghĩa là “Ai bằng Thiên Chúa?” Chính tên gọi của Thiên thần Micael đã là một lời khiển trách đối với Luxiphe, kẻ đã muốn trở nên như Thiên Chúa, cũng như đối với tính kiêu ngạo của con người, khi con người rơi vào cái bẫy của lời dối trá đầu tiên mà ông Ađam và bà Evà đã nghe trong vườn Địa Đàng: “Nhưng Thiên Chúa biết rằng ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần, biết điều thiện điều ác” (St 3,5).

Thiên thần Micael mời gọi chúng ta sống khiêm nhường, nhìn nhận sự yếu đuối của chính mình và tín thác nơi Thiên Chúa. Thế nhưng, cũng thật đáng ngạc nhiên là một ngày kia, những người giữ vững đức tin sẽ nên giống như Thiên Chúa: “Anh em thân mến, hiện giờ chúng ta là con Thiên Chúa, nhưng chúng ta sẽ như thế nào, điều ấy chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1 Ga 3,2). Thiên Chúa thì luôn cao cả vĩ đại hơn, vì thế chúng ta cùng hợp tiếng với Thiên thần Micael mà kêu lên: “Ai bằng Thiên Chúa?” Đồng thời, chúng ta biết rằng một ngày kia, nếu vẫn sống khiêm nhường và giữ vững đức tin, nhờ lòng nhân hậu của Thiên Chúa… chúng ta sẽ nên giống như Người.

Thiên thần Gabriel - Loan báo Tin mừng

Trong Tin mừng của mình, Thánh Luca thuật lại biến cố Truyền tin. Thiên thần Gabriel hiện đến với Đức Maria và loan báo rằng Mẹ sẽ trở thành Mẹ Thiên Chúa, đồng thời cho biết người chị họ của Mẹ là bà Êlisabét đã cưu mang một người con trong lúc tuổi già và sẽ sinh một người con trai. Những lời ấy mạnh mẽ tuyên bố rằng Thiên Chúa có thể chuyển núi dời non. Đó cũng là lời mời gọi chúng ta mở rộng tâm hồn trước những sứ điệp và ân sủng từ trời cao. Gabriel là Tổng lãnh thiên thần sứ giả. Để tôn kính ngài, tại sao chúng ta lại không nỗ lực loan báo Tin mừng? Dù là một tin nhắn, một tấm thiệp khích lệ chan chứa đức tin được gửi đến một người đang cần được nâng đỡ, hay chỉ là một lời chúc đơn sơ “Xin Thiên Chúa chúc lành cho bạn” nói với một người xa lạ, vẫn có vô số cách để làm chứng cho Tin mừng như thiên thần Gabriel đã làm với Đức Maria.

Thiên thần Raphael - Quan tâm chăm sóc tha nhân

Tổng lãnh thiên thần Raphael là sứ giả trực tiếp của Thiên Chúa và được ban cho những quyền năng phi thường, tên ngài có nghĩa là “Thiên Chúa chữa lành”, là vị thiên thần hiền hậu đã đồng hành với chàng trai Tôbia trong một chuyến đi tốt đẹp.

Mỗi khi Thiên Chúa muốn giúp ai đó tiến bước trên đường đời, Ngài sai Raphael đến. Giáo hội cũng nhìn nhận Thiên thần Raphael là bổn mạng của những người chữa bệnh, bổn mạng của những người lữ hành và là vị thiên thần hộ thủ đúng nghĩa nhất.

Như thế, Thiên thần Raphael nhắc chúng ta nhớ đến tầm quan trọng của việc quan tâm chăm sóc người khác như giúp một cụ già trên đường phố, đỡ đần một người mẹ đang tất bật, hỗ trợ một đồng nghiệp trong một công việc phức tạp…

Tác giả: Philip Kosloski – Anna Ashkova (aleteia.org)

THƯ MỤC VỤ NĂM 2026

 

THƯ MỤC VỤ NĂM 2026 CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM - MỖI GIA ĐÌNH CÔNG GIÁO LÀ MỘT CỘNG ĐOÀN THỪA SAI

WHĐ (25/9/2026) – Trong Hội nghị thường niên kỳ II - 2026 của Hội đồng Giám mục Việt Nam, các Đức Giám mục thuộc 27 giáo phận đã đưa ra định hướng mục vụ cho Hội Thánh tại Việt Nam trong năm 2027. Và khi kết thúc Hội nghị, các ngài đã có Thư Mục vụ gửi cộng đồng Dân Chúa với chủ đề: “Mỗi gia đình Công giáo là một cộng đoàn thừa sai”. Sau đây là nguyên văn Thư Mục vụ năm 2026 của Hội đồng Giám mục Việt Nam:

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM

THƯ MỤC VỤ 2026

“Mỗi gia đình Công giáo là một cộng đoàn thừa sai”

Kính gửi quý cha, quý tu sĩ nam nữ, và anh chị em tín hữu.

1. Nhân dịp Hội đồng Giám mục Việt Nam họp Hội nghị thường niên kỳ II tại Tòa Giám mục Thái Bình, các giám mục chúng tôi kính gửi đến anh chị em lời chào thân ái. Nguyện xin Thiên Chúa là Cha chúng ta và Chúa Giêsu Kitô ban cho anh chị em ân sủng và bình an (x. Pl 1,2).

Trong Thư Chung 2025, chúng tôi đã đề nghị định hướng mục vụ cho ba năm (2026-2028) là Loan báo Tin mừng, với chủ đề cụ thể cho từng năm. Chủ đề mục vụ năm 2026 là “Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai”, nhằm giúp mỗi người ý thức mình được Chúa Giêsu kêu gọi làm môn đệ và sai đi loan báo Tin mừng. Cũng trong định hướng ấy, chúng tôi đề nghị với anh chị em chủ đề mục vụ năm 2027 là: “Mỗi gia đình Công giáo là một cộng đoàn thừa sai”.

2. Hiến chế tín lý về Hội Thánh gọi gia đình Kitô hữu là Hội Thánh tại gia (x. số 11), một danh xưng gần gũi thân thương nhưng cũng hàm chứa trách nhiệm lớn lao. Nếu Chúa Kitô Phục Sinh đã trao cho Hội Thánh sứ mạng “các con hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19), thì gia đình là Hội Thánh tại gia cũng được tham dự vào chính sứ mạng ấy. Vì thế, Thánh Gioan Phaolô II khẳng định rằng: “Bí tích Hôn nhân làm cho đôi vợ chồng và cha mẹ Kitô hữu trở thành những chứng nhân của Chúa Kitô, thành những thừa sai đích thực của tình yêu và sự sống” (x. Tông huấn Familiaris Consortio, số 54). Cũng theo Thánh Gioan Phaolô II, các gia đình thi hành sứ vụ ấy ở ba bình diện: trong chính gia đình mình, trong cộng đoàn giáo xứ, và trong Hội Thánh phổ quát (x. Sứ điệp Ngày thế giới truyền giáo 1994).

3. Mỗi gia đình Công giáo thi hành sứ vụ loan báo Tin mừng trong chính gia đình mình qua việc vợ chồng sống trọn vẹn ý nghĩa của giao ước hôn nhân đã ký kết trước mặt Thiên Chúa và Hội Thánh; qua việc giáo dục và thông truyền đức tin cho con cái, để con cái “ngày càng khôn ngoan, cao lớn, và đầy ơn nghĩa trước mặt Thiên Chúa và người ta” (Lc 2,52). Hội Thánh ngày nay đề cao tính hiệp hành, và tính hiệp hành ấy cần được thể hiện ngay trong đời sống gia đình qua việc vợ chồng, cha mẹ và con cái lắng nghe nhau, cùng nhau phân định thánh ý Thiên Chúa, giúp nhau đi trên Đường Giêsu, là Đường Sự Thật và Sự Sống (x. Ga 14,6), và cùng với Chúa Giêsu tiến về Chúa Cha.

Đồng thời, các gia đình Công giáo tham gia vào sứ vụ loan báo Tin mừng trong cộng đoàn giáo xứ của mình, qua việc làm chứng về vẻ đẹp của hôn nhân Công giáo và đồng hành với các gia đình khác, nhất là trong thời đại ngày nay, khi đời sống hôn nhân và gia đình đang trải qua cuộc khủng hoảng trầm trọng.

Ngoài ra, gia đình Công giáo còn tham gia tích cực vào sứ mạng của Hội Thánh phổ quát bằng việc đến với anh chị em lương dân. Gia đình Công giáo được mời gọi sống hài hòa với các gia đình lương dân trong cùng khu xóm, thăm viếng và chia sẻ với họ những khó khăn trong đời sống, và khi có thể, mạnh dạn giới thiệu cho họ biết về Chúa Giêsu và Tin mừng của Ngài.

4. Khi chu toàn những điều trên, gia đình Công giáo thể hiện giáo huấn của Chúa Giêsu: “Các con là muối đất” (Mt 5,13), vừa giữ cho ơn gọi hôn nhân - gia đình không bị hư hoại, vừa giới thiệu vẻ đẹp của Tin mừng tình yêu và sự sống. Tuy nhiên, chúng ta đừng quên rằng ngay sau khi dạy “Các con là muối đất”, Chúa Giêsu đã đưa ra lời cảnh báo: “Nếu muối nhạt đi, thì làm sao cho nó mặn lại được? Nó chẳng còn ích gì, chỉ còn ném ra ngoài cho người ta chà đạp thôi” (Mt 5,13). Chính vì thế, để gia đình Công giáo thực sự là muối đất, chúng tôi kêu gọi anh chị em:

5. Hãy làm cho gia đình mình thành nhà cầu nguyện. Trước bàn thờ Chúa được đặt ở vị trí trang trọng trong gia đình, các thành viên nên dành một thời gian nhất định mỗi ngày để cùng cầu nguyện, đọc Lời Chúa, lần chuỗi Mân Côi. Cùng với lời cầu nguyện xin ơn bình an cho gia đình, chúng ta cũng cầu nguyện cho những người đau khổ thiếu thốn và cho công cuộc loan báo Tin mừng. Việc cầu nguyện trước và sau bữa ăn cũng là thói quen đạo đức truyền thống cần duy trì. Những giây phút cầu nguyện trong gia đình và những hình thức đạo đức bình dân có sức loan báo Tin mừng mạnh hơn bất kỳ việc dạy giáo lý và bài giảng đạo nào (x. Tông huấn Niềm vui của tình yêu, số 288).

6. Hãy làm cho gia đình mình thành ngôi trường giáo dục đức tin. Việc truyền đạt đức tin trong gia đình không phải là một nhiệm vụ chỉ dành riêng cho giáo xứ hay cho các lớp giáo lý. Cha mẹ là những người rao giảng Tin mừng đầu tiên và không thể thay thế đối với con cái mình (x. Hiến chế tín lý về Hội Thánh, số 11). Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh rằng cha mẹ phải là những chủ thể tích cực của việc dạy giáo lý; chính đời sống cầu nguyện, lòng đạo đức và gương sáng của cha mẹ có sức giáo dục đức tin cho con cái một cách đặc biệt (x. Tông huấn Niềm vui của tình yêu, số 287-288). Ngài cũng khuyên các gia đình nên trân trọng và cử hành những ngày kỷ niệm để tạ ơn Thiên Chúa, giúp gia đình nuôi dưỡng ký ức, củng cố tình yêu và truyền lại đức tin cho con cái (x. Tông huấn Niềm vui của tình yêu, số 226).

7. Với các hội đoàn và phong trào phục vụ gia đình, hãy quan tâm hơn nữa đến việc đồng hành, nâng đỡ và đào tạo các gia đình. Hãy tạo những cơ hội để các gia đình gặp gỡ, cầu nguyện, chia sẻ, nâng đỡ nhau và cùng nhau thực thi những việc bác ái, truyền giáo. Ước mong mỗi hội đoàn và phong trào trở thành người bạn đồng hành với các gia đình, nhất là những gia đình trẻ, những gia đình di dân, những gia đình ly hôn, và những gia đình đang xa rời đời sống đức tin.

8. Với các linh mục, đặc biệt là các cha xứ, hãy dành một vị trí ưu tiên cho mục vụ gia đình. Xin các cha quan tâm việc giáo dục giới tính cho người trẻ, việc chuẩn bị hôn nhân, đồng hành với các đôi vợ chồng trẻ, thăm viếng những gia đình đang gặp khó khăn, khuyến khích việc cầu nguyện, đọc Lời Chúa và sống đức tin trong gia đình. Đồng thời, các cha nên mời gọi và đào tạo những gia đình trưởng thành trong đức tin để họ có thể đồng hành với những gia đình khác. Một giáo xứ có nhiều gia đình sống đạo chắc chắn sẽ là một cộng đoàn gắn kết trong tình hiệp thông, hăng hái tham gia vào công việc chung, và nhiệt thành trong sứ vụ loan báo Tin mừng.

Với anh chị em thuộc các tu hội đời và các hội dòng sống đời thánh hiến, chúng tôi xin nhắc lại lời mời gọi của Thánh Gioan Phaolô II: “Trong khi luôn tôn trọng sâu sắc đặc sủng riêng và nguồn gốc nguyên thủy của mỗi đoàn sủng, xin hãy xem việc tông đồ hướng tới các gia đình như một trong những nhiệm vụ ưu tiên, một nhiệm vụ càng trở nên cấp bách hơn trong hoàn cảnh hiện nay” (x. Tông huấn Familiaris Consortio, số 74).

9. Kết thúc Thư Mục vụ này, chúng tôi mời anh chị em cùng dâng lời cầu nguyện:

Lạy Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Cha Thánh Giuse,

Nơi các Ngài, chúng con chiêm ngắm vẻ đẹp của đời sống gia đình.

Xin giúp chúng con biết thể hiện vẻ đẹp ấy trong gia đình chúng con.

Xin Thánh gia nâng đỡ ủi an những khi chúng con gặp gian nan thử thách.

Xin chữa lành những thương tích vì ích kỷ, bất hòa và chia rẽ của chúng con.

Xin làm cho các gia đình chúng con thực sự là những Hội Thánh tại gia,

là nhà của hiệp thông và cầu nguyện,

là trường dạy đức tin và những giá trị Tin mừng,

để gia đình chúng con trở thành những cộng đoàn loan báo Tin mừng.

Lạy Thánh gia Nadaret, chúng con tin tưởng phó thác nơi các ngài.

Xin đoái thương nhận lời chúng con cầu xin. Amen.

 

Làm tại Tòa Giám mục Thái Bình, ngày 24 tháng 9 năm 2026


Tổng Thư ký

(đã ký)

+ Giuse Đỗ Mạnh Hùng
Giám mục giáo phận Phan Thiết
Chủ tịch Hội đồng Giám mục

(đã ấn ký)

+ Giuse Nguyễn Năng
Tổng giám mục Tổng giáo phận Tp. Hồ Chí Minh