Trang

Thứ Năm, 28 tháng 5, 2026

TRONG HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI, “DẤU CHỈ THỜI ĐẠI” KHÔNG HỀ BỊ BỎ QUA

 

TRONG HỌC THUYẾT XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI, “DẤU CHỈ THỜI ĐẠI” KHÔNG HỀ BỊ BỎ QUA

avatarChuyển ngữ: Lm. Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên
WGPVL (28/5/2026) - Đầu tiên là cuộc cách mạng công nghiệp và sự đối lập giữa các giai cấp được Đức Giáo hoàng Lêô XIII chỉ ra, sau đó là chủ nghĩa toàn trị bị Đức Giáo hoàng Piô XI lên án và những vấn nạn xã hội bùng nổ trên toàn cầu bị Thánh Giáo hoàng Phaolô VI phê phán: Thông điệp “Magnifica humanitas” (Nhân loại kỳ diệu) năm trong dòng chảy của sự nhận thức trải qua nhiều thế kỷ.

Từ Đức Giáo hoàng Lêô XIII đến Đức Piô XII, từ Thánh Gioan XXIII và Thánh Phaolô VI đến Thánh Gioan Phaolô II và Đức Bênêđictô XVI, từ Đức Phanxicô đến Đức Lêô XIV, trải dài gần 150 năm lịch sử, Học thuyết Xã hội của Giáo hội tiếp tục cho chúng ta thấy Kitô giáo, dưới ánh sáng của Tin mừng, có thể mang đến sự ảnh hưởng tích cực để định hình một xã hội công bằng hơn. Với sự trỗi dậy của công nghiệp hóa trong suốt thế kỷ XIX và những hậu quả nổi tiếng của nó - sự bóc lột lao động, bao gồm cả lao động trẻ em, di cư từ nông thôn ra ngoại ô thành phố, sự tan vỡ của gia đình và cộng đồng, và sự phá vỡ các cấu trúc xã hội - chính Đức Giáo hoàng Lêô XIII, vào năm 1891, với Thông điệp Rerum Novarum, đã xây dựng một học thuyết Công giáo cũng liên quan đến cấu trúc xã hội. Nhằm mục đích đánh thức lương tâm của những người đương thời và giúp vượt qua sự đối lập giai cấp, ngài đã đặt việc sử dụng tài sản dưới sự chi phối của lợi ích chung, đòi hỏi mức lương công bằng cho người lao động, và các điều kiện đặc biệt cho phụ nữ và trẻ em. Ngài cũng lên án cả chủ nghĩa xã hội tập thể và chủ nghĩa tự do cá nhân, một lập trường đã trở thành hằng số bất biến trong quan điểm Công giáo về xã hội, công đoàn Kitô giáo và các sáng kiến như Tuần lễ Xã hội được khởi xướng vào đầu thế kỷ XX. Theo thời gian, những vị kế nhiệm ngài đã điều chỉnh tư tưởng đó cho phù hợp với những biến đổi không ngừng của xã hội và kinh tế, với những thách thức bắt nguồn từ những quá trình thậm chí không thể tưởng tượng nổi. Và các ngài đã làm như vậy với các văn kiện thường được xuất bản vào dịp kỷ niệm các văn kiện trước đó về cùng chủ đề. Ở đây, chúng tôi cố gắng tóm tắt các văn kiện này nhằm tổng kết sự phát triển của Học thuyết Xã hội, sau bước ngoặt của Công đồng Vaticanô II, khi phải đối mặt với những vấn đề xã hội chưa từng có, đan xen với các chiều kích nhân học và thần học.

Đến đây, quy chiếu đầu tiên là Thông điệp Quadragesimo anno của Đức Giáo hoàng Piô XI, được ban hành năm 1931 sau một “cuộc chiến tranh lớn” đã cho thấy sự mâu thuẫn của tiến bộ kỹ thuật. Đức Giáo hoàng Piô XI tiếp tục lên án chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tự do là trái với chân lý Kitô giáo vì sự ưu tiên dành cho chủ nghĩa duy vật; ngài khẳng định nguyên tắc bổ trợ; và tìm cách mở đường cho các giải pháp dựa trên sự tham gia. Đừng quên rằng, trong bối cảnh triều đại giáo hoàng của ngài (với chủ nghĩa toàn trị bị lên án bởi hai thông điệp Divini RedemptorisMit brennender Sorge, năm 1937), việc nâng cao tiếng nói của Giáo hội về vấn đề các quyền bất khả xâm phạm của con người, được đặt ở trung tâm của các thể chế, mà con người luôn là mục đích của chúng. Sự ưu tiên này đã được Đức Giáo hoàng Piô XII tái khẳng định, người tiếp tục suy tư của vị tiền nhiệm bằng cách liên kết nó với các thực tiễn hiện hành của các thể chế kinh tế, chính trị và xã hội, được phân tích dưới ánh sáng của mặc khải và trong khuôn khổ một mô hình kim tự tháp mà Giáo hội vẫn chiếm vị trí đỉnh cao. Đây là một thực tế dần thay đổi sau triều đại của Đức Giáo hoàng Piô XII, trong một tư tưởng mà, bắt đầu từ Thánh Giáo hoàng Gioan XXIII, tiếp tục đề cập đến mặc khải nhưng chú trọng hơn đến thực tế xã hội và sự đối mặt với những thách thức hiện đại. Quan điểm này được mở ra bởi Công đồng Vaticanô II, một công đồng được công bố vào tháng 1 năm 1959 và khai mạc vào ngày 11 tháng 10 năm 1962, dưới định hướng về việc cập nhật, không phải không có những hệ quả đối với học thuyết xã hội. Ngay trong Thông điệp Mater et Magistra, Thánh Gioan XXIII đã kêu gọi nhận biết “dấu chỉ thời đại,” tức là nhận ra những thay đổi lịch sử, xã hội và văn hóa và đáp lại chúng bằng Tin mừng, thậm chí còn khuyến khích các doanh nghiệp trở thành “những cộng đồng của con người.” Cách tiếp cận này cũng hiện diện trong Thông điệp Pacem in Terris. Một dạng nhân học cá nhân chủ nghĩa được các nghị phụ Công đồng làm rõ hơn trong Hiến chế Gaudium et Spes năm 1965. Và chúng ta đến với triều đại Thánh Giáo hoàng Phaolô VI với Thông điệp Octogesima Adveniens năm 1971, trong đó nêu ra đề xuất cho các Kitô hữu tham gia tích cực vào đời sống xã hội và chính trị, cùng với phân tích các vấn đề cần lời giải đáp: đô thị hóa, sự gạt bỏ, môi trường, bất bình đẳng xã hội. Tuy nhiên, bốn năm trước đó, Thánh Phaolô VI đã đánh dấu một bước ngoặt khác với Thông điệp Populorum Progressio. Ở đây, cái nhìn được soi sáng bởi mặc khải không chỉ đòi hỏi sự khám phá chiều sâu thiêng liêng của thực tại thế giới, mà còn - mở rộng đến những chân trời của hành tinh - đòi hỏi phải giải quyết các nguyên nhân của sự kém phát triển. Với Thánh Phaolô VI, vấn đề xã hội mang một chiều kích toàn cầu trong nhận thức rằng nghèo đói là sản phẩm của những bất công cần được khắc phục thông qua các chiến lược phát triển toàn diện con người. Một lần nữa, điểm mấu chốt vẫn là nhân vị.

Đây là điều rất gần gũi với tâm tư của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, người đã trực tiếp trải nghiệm chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản, và đã dành ba thông điệp cho Học thuyết Xã hội: Laborem exercens (1981), Sollicitudo rei socialis (1987), và Centesimus annus (1991). Thánh Gioan Phaolô II trước hết đề cập đến lao động của con người, sau đó là sự phát triển của các dân tộc, chỉ ra các cơ chế gây ra bất công toàn cầu là “những cơ cấu của tội lỗi,” nhấn mạnh sự hiện diện của nền đạo đức trong thị trường. Ngài nhấn mạnh mối liên hệ giữa Học thuyết Xã hội, nhân quyền, và tự do, diễn đạt bằng các phạm trù luân lý và đặt kinh tế cũng như lao động trong một quan điểm nhân học và thần học, trong đó con người tìm thấy sự viên mãn trong sự hiệp thông với người khác và với Thiên Chúa. Những nhận định của ngài về công lý vượt ngoài phạm vi thị trường, các giới hạn của thị trường, mục đích của các định chế và tinh thần liên đới đều mang ý nghĩa quan trọng. Gắn liền với tư tưởng của Thánh Gioan Phaolô II nhưng sẵn sàng phát triển những hiểu biết của Thánh Phaolô VI trong bối cảnh toàn cầu hóa, Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI đề cập đến trọng tâm của mình trong Thông điệp Caritas in Veritate, một thông điệp ra đời giữa cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nhưng được định hướng bởi niềm tin rằng bác ái, nguyên tắc chủ đạo của học thuyết xã hội, vẫn là động lực chính cho sự phát triển đích thực. Đức Bênêđictô XVI đi đến tận gốc rễ của các vấn đề bằng cách suy ngẫm về chủ nghĩa tương đối và mô hình kỹ trị, nhấn mạnh giá trị của sự cho đi, lòng quảng đại và việc điều chỉnh lối sống. Trên thực tế, Đức Bênêđictô XVI đặt nền tảng lý thuyết cho những tuyên bố tiếp theo về cùng những chủ đề này nhưng có mối liên hệ mật thiết với nhau: sinh thái, di cư, nghèo đói, bất công,…

Sự đánh giá của Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI được tiếp nối bằng ứng dụng thực tiễn do Đức Giáo hoàng Phanxicô đề xuất trong các nguyên tắc của hai thông điệp Laudato si’ (2015) và Fratelli tutti (2020), trong đối thoại với người dân và các phong trào quần chúng, trong lời kêu gọi về các quá trình phân phối lại của cải. Nhưng chúng ta đã chuyển từ lịch sử sang các sự kiện hiện tại: hôm qua với Đức Phanxicô và hôm nay với Đức Giáo hoàng Lêô XIV và Thông điệp Magnifica Humanitas. Và những gì vị Giáo hoàng hiện tại đang làm cho cuộc cách mạng kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo cũng tương tự như những gì Đức Giáo hoàng Lêô XIII đã làm cho cuộc cách mạng công nghiệp. Có nhiều điểm liên tục với các vị tiền nhiệm của ngài, vượt ra ngoài sự chuyển dịch từ “vấn đề lao động” sang “vấn đề thuật toán”: không còn chỉ là tư bản đối với lao động, mà là quyền lực kỹ thuật số đè bẹp nhân loại nếu, thay vì là một công cụ hay đồng minh, nó trở thành một thứ “sấm ngôn,” một dữ liệu thay thế khuôn mặt và không gian cho các mối quan hệ, hoặc thậm chí tước đoạt trách nhiệm của chúng ta. Cốt lõi vẫn là mối quan tâm muôn thuở: nhân loại. Một thông điệp được sinh ra từ một truyền thống lịch sử vĩ đại.

Tác giả: Marco Roncalli - Avvenire (27/5/2026)

Nguồn: giaophanvinhlong.net 

THÁNG HOA KÍNH MẸ: TỪ CHIỀU SÂU LỊCH SỬ ĐẾN NÉT ĐẸP LÒNG ĐẠO ĐỨC BÌNH DÂN

 

THÁNG HOA KÍNH MẸ: TỪ CHIỀU SÂU LỊCH SỬ ĐẾN NÉT ĐẸP LÒNG ĐẠO ĐỨC BÌNH DÂN

avatarVatican News
Vatican News (28/5/2026) - Chiêm ngắm Đức Maria trong Tháng Hoa không chỉ là một nét đẹp của lòng đạo đức bình dân mang đậm dấu ấn văn hóa, nhưng còn là hành trình thiêng liêng bén rễ sâu trong dòng lịch sử và phụng vụ của Giáo hội. Từ tiến trình thanh luyện các lễ hội mùa xuân cổ đại cho đến sự cổ võ mạnh mẽ của các Dòng tu và Huấn quyền Giáo hội, lòng sùng kính Đức Mẹ luôn được mời gọi quy hướng về Chúa Kitô, đạt tới ý nghĩa trọn vẹn khi được hòa quyện vào phụng vụ và sinh hoa trái nơi chứng tá đờ sống của các Kitô hữu.

Cội nguồn lịch sử và tiến trình Kitô hóa các lễ hội mùa xuân

Nhìn lại dòng lịch sử nhân loại, mối liên hệ giữa tháng Năm với sự sống, vẻ đẹp và tình mẫu tử vốn đã hiện diện trong tâm thức văn hóa của các nền văn minh cổ đại vùng Địa Trung Hải. Đối với người Hy Lạp và La Mã, tháng Năm là thời điểm thiên nhiên hồi sinh sau mùa đông khắc nghiệt: cây cối đâm chồi, hoa lá nở rộ và sự sống trỗi dậy khắp nơi. Chính vì thế, họ tổ chức những lễ hội mùa xuân để tôn vinh các vị thần liên quan đến sự sinh sản, mùa màng và vẻ đẹp thiên nhiên.

Trong thần thoại Hy Lạp, tháng Năm gắn liền với nữ thần Maia, biểu tượng của sự tăng trưởng và sinh nở. Người La Mã lại tổ chức lễ hội Nữ thần Hoa Floralia để kính nữ thần Flora, vị thần của hoa nở và mùa xuân. Những lễ hội ấy tràn ngập hoa tươi, ca múa và những nghi thức cầu mong cho mùa màng bội thu, cuộc sống sung túc.

Khi Tin mừng được loan báo khắp Đế quốc La Mã, Giáo hội sơ khai không chọn thái độ phủ nhận hay triệt tiêu hoàn toàn các giá trị văn hóa bản địa, nhưng khôn ngoan thanh luyện và mặc cho chúng một ý nghĩa mới trong ánh sáng đức tin Kitô giáo. Thay vì hướng lòng về các thần linh huyền thoại, tâm tình yêu mến của con người được quy hướng về Đức Maria, “đóa hoa tuyệt mỹ nhất của công trình tạo thành”, Đấng đã cưu mang chính Chúa Giêsu Kitô - Nguồn Sống đích thực của nhân loại.

Sự phát triển và phổ biến lòng sùng kính Đức Mẹ

Bước sang thời Trung cổ, lòng sùng kính Đức Maria phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong các cộng đoàn đan tu và các tu viện lớn tại Âu châu. Đây cũng là giai đoạn thần học về Đức Maria được đào sâu, đồng thời mối liên hệ giữa tháng Năm và lòng mến Mẹ ngày càng rõ nét hơn.

Các đan sĩ dòng Cluny hay dòng Xitô, giữa khung cảnh mùa xuân châu Âu rực rỡ, đã nhìn thấy nơi vẻ đẹp tinh tuyền của thiên nhiên hình ảnh phản chiếu sự thánh thiện và đầy ân sủng của Đức Maria. Chính trong bầu khí ấy, vua An-phong-sô X của Tây Ban Nha đã sáng tác tập thơ nổi tiếng “Cantigas de Santa Maria” (“Những bài ca kính Đức Thánh Maria”), ca ngợi Đức Mẹ qua vẻ đẹp của tháng Năm và mùa xuân.

Cũng trong thời kỳ này, nhiều thực hành đạo đức gắn với tháng Hoa bắt đầu hình thành: kết vòng hoa đội cho tượng Đức Mẹ, đọc kinh dưới chân bàn thờ Mẹ hay dâng các việc hy sinh trong suốt tháng Năm. Chân phước Heinrich Seuse thuộc dòng Đa Minh thế kỷ XIV cũng nổi tiếng với thói quen kết những vòng hoa mùa xuân để dâng kính Đức Mẹ.

Nếu thời Trung cổ đặt nền móng cho lòng sùng kính Đức Mẹ trong tháng Năm, thì thế kỷ XVIII đánh dấu bước phát triển mang tính phổ quát của thực hành này trong Giáo hội Latinh, đặc biệt nhờ công lao của Dòng Tên.

Trong bối cảnh các trào lưu duy lý và tục hóa lan rộng tại Âu châu, các linh mục Dòng Tên tại Học viện Rôma đã cổ võ việc dành riêng tháng Năm để giúp giới trẻ củng cố đời sống đạo đức. Các cuộc rước kiệu, tuần cửu nhật và đặc biệt là những “Bàn thờ tháng Năm” được trang trí bằng hoa tươi và nến sáng nhanh chóng trở thành hình ảnh quen thuộc trong đời sống Công giáo.

Bách khoa toàn thư Công giáo ghi nhận: “Sùng kính tháng Năm theo hình thức hiện tại có nguồn gốc từ Rôma, nơi Linh mục Latomia thuộc Học viện Rôma của Dòng Tên, nhằm chống lại sự bất trung và vô luân trong giới sinh viên, đã khấn hứa vào cuối thế kỷ mười tám là sẽ dành riêng tháng Năm cho Mẹ Maria. Từ Rôma, thực hành này đã lan rộng sang các học viện khác của Dòng Tên và từ đó đến hầu hết mọi nhà thờ Công giáo thuộc nghi lễ Latinh... Thực hành này là trường hợp lâu đời nhất về một việc đạo đức kéo dài suốt một tháng trọn vẹn” (Catholic Encyclopedia, "May", New Advent).

Từ Rôma, truyền thống này nhanh chóng lan rộng sang châu Âu rồi đến các vùng truyền giáo tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ.

Huấn quyền Giáo hội và Thông điệp Mense Maio

Sự phát triển mạnh mẽ của lòng sùng kính Đức Mẹ trong tháng Năm nơi đời sống giáo dân không phải là một phong trào tự phát thiếu định hướng, nhưng luôn được Huấn quyền Giáo hội đồng hành, nâng đỡ và hướng dẫn cách liên tục. Từ thế kỷ XIX sang thế kỷ XX, nhiều vị Giáo hoàng đã ban hành các sắc lệnh, trao ban ân xá cho những ai tham dự các việc đạo đức tháng Hoa, đồng thời công bố nhiều văn kiện nhằm đào sâu ý nghĩa thần học và mục vụ của truyền thống tốt đẹp này.

Đức Giáo hoàng Piô IX, vị Giáo hoàng đã công bố tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội năm 1854, đã đặc biệt khuyến khích các thực hành đạo đức trong tháng Năm bằng việc ban các ơn đại xá, qua đó giúp thời gian này trở thành một cơ hội hoán cải và canh tân đời sống thiêng liêng cho các tín hữu. Kế nhiệm ngài, Đức Giáo hoàng Lêô XIII - thường được gọi là “Giáo hoàng của Kinh Mân Côi” - đã ban hành nhiều thông điệp nhằm cổ võ việc lần chuỗi Mân Côi trong tháng Đức Mẹ để cầu nguyện cho Giáo hội và thế giới trước những thách đố của chủ nghĩa thế tục đang ngày càng lan rộng. Sang thế kỷ XX, Đức Giáo hoàng Piô XII tiếp tục nhấn mạnh việc kết hợp các lời cầu nguyện tháng Hoa với ý chỉ hòa bình cho nhân loại, đặc biệt trong bối cảnh đau thương của hai cuộc Thế chiến.

Một dấu mốc đặc biệt quan trọng trong Huấn quyền về tháng Đức Mẹ chính là Thông điệp Mense Maio (“Tháng Năm”), được Đức Giáo hoàng Phaolô VI ban hành ngày 29 tháng 4 năm 1965. Văn kiện ra đời trong một bối cảnh lịch sử đầy căng thẳng: thế giới bị phủ bóng bởi Chiến tranh Lạnh, nguy cơ hạt nhân ngày càng lớn, nhiều cuộc xung đột bùng nổ tại nhiều nơi, trong đó có chiến tranh Việt Nam, đồng thời Công đồng Vaticanô II cũng đang bước vào giai đoạn cuối với nhiều thảo luận quan trọng.

Trong những đoạn mở đầu của Thông điệp, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã bày tỏ niềm xúc động sâu xa trước lòng yêu mến Đức Mẹ của Dân Chúa: “Khi tháng Năm đến gần, tháng mà lòng đạo đức của các tín hữu đã dâng hiến cho Đức Maria rất thánh, tâm hồn chúng tôi vui mừng nghĩ đến cảnh tượng cảm động của đức tin và tình yêu thương, trong một thời gian ngắn nữa, sẽ được dâng lên ở khắp mọi nơi trên trái đất để tôn vinh Nữ Vương Thiên Đàng. Vì đây là tháng mà các Kitô hữu, trong các thánh đường cũng như tại tư gia, dâng lên Mẹ dồi dào hơn các lời cầu nguyện và lòng tôn kính tha thiết từ trái tim; và đây cũng là tháng mà các quà tặng của lòng Chúa thương xót tuôn đổ trên chúng ta phong phú hơn từ ngai tòa của Đức Mẹ”.

Qua Thông điệp này, Đức Phaolô VI không chỉ chuẩn nhận và khích lệ truyền thống tháng Hoa, nhưng còn mở rộng chiều kích thiêng liêng và mục vụ của lòng sùng kính Đức Mẹ. Ngài mời gọi các tín hữu biến những lời kinh, tiếng hát và các đóa hoa dâng kính Mẹ thành lời cầu nguyện tha thiết cho hòa bình thế giới, cho sự hiệp nhất của Giáo hội và cho phần rỗi các linh hồn, nhờ lời chuyển cầu từ mẫu của Đức Trinh Nữ Maria.

Hài hòa giữa đạo đức bình dân và phụng vụ

Sau Công đồng Vaticanô II, Giáo hội đặc biệt nhấn mạnh mối tương quan hài hòa giữa phụng vụ và các thực hành đạo đức bình dân. Vì tháng Năm thường trùng với Mùa Phục Sinh, nên Giáo hội lưu ý các tín hữu tránh tình trạng quá chú tâm vào các sinh hoạt tháng Hoa mà vô tình xem nhẹ đời sống phụng vụ.

Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích nhận định: “Ở Tây phương, thực hành giữ các tháng dành riêng cho Đức Trinh Nữ biểu lộ từ một bối cảnh mà Phụng vụ không phải lúc nào cũng được xem là hình thức chuẩn mực của thờ phượng Kitô giáo. Điều này đã gây ra, và tiếp tục gây ra, một số khó khăn ở cấp độ phụng vụ - mục vụ cần phải được xem xét một cách cẩn thận” (Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, Hướng dẫn về Đạo đức Bình dân và Phụng vụ, Đoạn 190).

Theo chỉ dẫn tại Đoạn 191 của văn kiện này, vì tháng Năm phần lớn diễn ra trong thời gian của 50 ngày Mùa Phục Sinh, nên các việc đạo đức bình dân kính Đức Mẹ cần làm nổi bật sự tham dự của Mẹ vào mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô (x. Ga 19,25-27) cũng như biến cố Hiện xuống (x. Cv 1,14). Đây cũng là thời gian Giáo hội cử hành và nhấn mạnh các bí tích khai tâm Kitô giáo như Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể. Vì thế, các giờ cầu nguyện, suy niệm hay sinh hoạt tháng Hoa được khuyến khích lồng ghép chiều kích phụng vụ và vai trò hiền mẫu của Đức Maria, Đấng luôn đồng hành và chuyển cầu cho các tín hữu trong đời sống bí tích.

Những định hướng ấy giúp lòng sùng kính Đức Mẹ tránh rơi vào cảm tính hoặc hình thức thuần túy, thiếu nền tảng Kinh Thánh và thần học. Đồng thời, điều đó cũng giúp các tín hữu tái khám phá vị trí trung tâm của phụng vụ, đặc biệt là ngày Chúa nhật - ngày cử hành mầu nhiệm Phục Sinh, được Giáo hội gọi là “ngày lễ nguyên thủy” của người Kitô hữu.

Giáo hội luôn nhấn mạnh rằng Đức Maria không phải là điểm dừng cuối cùng của lòng sùng kính, nhưng là Đấng luôn dẫn đưa con người đến với Đức Kitô. Trong đoạn 2 của Thông điệp Mense Maio, Đức Giáo hoàng Phaolô VI khẳng định: “Mẹ Maria luôn là con đường dẫn đến Chúa Kitô. Mọi cuộc gặp gỡ với Mẹ không thể không kết thúc bằng một cuộc gặp gỡ chính Chúa Kitô”.

Chiều sâu Thần học và Phụng vụ của lòng sùng kính Đức Mẹ

Nhà sử học Công giáo Christopher Dawson từng viết: “Trong khi nhà sử học thế tục hoàn toàn không có sự gắn kết nào với các nền văn hóa trong quá khứ, thì người Công giáo lại bị ràng buộc với quá khứ bởi niềm tin của mình vào tính liên tục của truyền thống” (Christopher Dawson, Memorandum, Harvard, 1958). Đối với người Công giáo, Đức Maria không chỉ là một nhân vật của lịch sử cứu độ, nhưng là đấng đang sống trong vinh quang Thiên Chúa và tiếp tục chuyển cầu cho con cái mình. Vì thế, việc dâng hoa hay cầu nguyện với Mẹ không phải là hồi tưởng về quá khứ, nhưng là cuộc gặp gỡ sống động trong mầu nhiệm các thánh thông công.

Christopher Dawson cũng nhấn mạnh vai trò của phụng vụ trong việc thanh luyện và định hướng các thực hành đạo đức: “Điều quan trọng hơn cả là vị trí của họ trong hoạt động thờ phượng Công giáo. Và ở đây chúng ta thấy tính chủ quan của trải nghiệm được phục tùng tính khách quan của trật tự phụng vụ” (Christopher Dawson, Memorandum, Harvard, 1958). Chính trong phụng vụ, các hình thức đạo đức bình dân được gạn lọc và quy hướng về trung tâm đức tin là Đức Kitô Phục Sinh. Vì thế, Tháng Hoa chỉ thực sự đạt đến chiều sâu thiêng liêng khi dẫn người tín hữu đến với Thánh lễ, Bí tích Thánh Thể và đời sống cầu nguyện chân thành.

Sống tinh thần “Tháng Hoa” giữa đời thường

Qua dòng lịch sử, lòng sùng kính Đức Mẹ trong tháng Năm đã kết tinh thành nhiều hình thức phong phú nơi các nền văn hóa khác nhau. Tại Việt Nam, nghi thức Dâng Hoa trở thành một nét đẹp rất riêng của lòng đạo đức bình dân. Những điệu múa, bài vãn cùng muôn sắc hoa diễn tả tâm tình yêu mến, cậy trông, hy sinh và vâng phục dâng lên Đức Mẹ. Hình ảnh các đoàn dâng hoa trong tà áo dài truyền thống đã trở nên thân thuộc nơi nhiều giáo xứ mỗi độ tháng Năm trở về.

Tuy nhiên, ý nghĩa của tháng Hoa không dừng lại ở những nghi thức hay vẻ đẹp bên ngoài. Những đóa hoa vật chất rồi sẽ tàn phai theo thời gian, nhưng Giáo hội mời gọi mỗi tín hữu tiếp tục dâng lên Đức Mẹ những “đóa hoa lòng” được kết bằng đời sống đức tin, lòng bác ái và tinh thần phục vụ theo gương Mẹ Maria. Đó là khi người Kitô hữu biết sống khiêm nhường, vâng phục thánh ý Thiên Chúa, quảng đại trao ban và trở nên khí cụ bình an giữa một thế giới còn nhiều chia rẽ, lạnh lùng và vô cảm.

Nguyện xin Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ Giáo hội, tiếp tục đồng hành, chuyển cầu và nâng đỡ Dân Chúa, để nhờ Mẹ và cùng với Mẹ, mọi tín hữu luôn vững bước trên hành trình tiến về Chúa Giêsu Kitô - Sự Sống đích thực của nhân loại.

Nguồn: vaticannews.va 

LỄ CHÚA BA NGÔI NĂM A - MAN-NA CHO NGƯỜI LỮ HÀNH

 

LỄ CHÚA BA NGÔI NĂM A - MAN-NA CHO NGƯỜI LỮ HÀNH

avatarLm. I-nha-xi-ô Hồ Văn Xuân
WHĐ (29/5/2026) – Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Xh 34,4b-6.8-9

Đáp ca : Đn 3,52.53-54.55-56 (Đ. c.52b)

Bài đọc 2 : 2 Cr 13,11-13

Tung hô Tin mừng : x. Kh 1,8

Tin mừng : Ga 3,16-18

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Xh 34,4b-6.8-9

Đáp ca : Thánh ca Đa-ni-en 3,52-56

Bài đọc 2 : 2 Cr 13,11-13

Bài Tin Mừng : Ga 3,16-18

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Sống và yêu theo nhịp Chúa Ba Ngôi”

2. “Giáo Hội nói những gì Giáo Hội làm”

3. “Hội Thánh và Thiên Chúa Ba Ngôi”

 

A. PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

Bài đọc 1: Xh 34,4b-6.8-9

Đức Chúa ! Đức Chúa ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi.

Bài trích sách Xuất hành.

4b Khi ấy, ông Mô-sê thức dậy và lên núi Xi-nai theo lệnh của Đức Chúa, tay mang hai bia đá.

5 Đức Chúa ngự xuống trong đám mây và đứng đó với ông. Người xưng danh Người là Đức Chúa. 6 Đức Chúa đi qua trước mặt ông và xướng : “Đức Chúa ! Đức Chúa ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín.” 8 Ông Mô-sê vội vàng phục xuống đất thờ lạy 9 và thưa : “Lạy Chúa, nếu quả thật con được nghĩa với Chúa, thì xin Chúa cùng đi với chúng con. Dân này là một dân cứng đầu cứng cổ, nhưng xin Ngài tha thứ những lỗi lầm và tội lỗi của chúng con, và nhận chúng con làm cơ nghiệp của Ngài.”

Đó là lời Chúa.

 

Đáp ca : Đn 3,52.53-54.55-56 (Đ. c.52b)

Đ. Xin dâng lời khen ngợi suy tôn muôn đời.

52 Lạy Chúa, chúc tụng Ngài
là Thiên Chúa tổ tiên chúng con,
chúc tụng danh thánh Ngài vinh hiển. Đ.

53 Chúc tụng Chúa trong thánh điện vinh quang,
54 chúc tụng Chúa trên ngôi báu cửu trùng. Đ.

55 Chúc tụng Chúa, Đấng ngự trên các thần hộ giá
mà thấu nhìn vực thẳm,
56 chúc tụng Chúa trên vòm trời tận chốn cao xanh. Đ.

 

Bài đọc 2 : 2 Cr 13,11-13

Ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, tình thương của Chúa Cha, và ơn hiệp thông của Chúa Thánh Thần.

Bài trích thư thứ hai của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.

11 Thưa anh em, anh em hãy vui mừng và gắng nên hoàn thiện. Hãy khuyến khích nhau, hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hoà. Như vậy, Thiên Chúa là nguồn yêu thương và bình an, sẽ ở cùng anh em.

12 Anh em hãy hôn chào nhau cách thánh thiện. Mọi người thuộc dân thánh ở đây gửi lời chào anh em.

13 Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần. A-men.

Đó là lời Chúa.

 

Tung hô Tin mừng : x. Kh 1,8

Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a.
Xin dâng lời tôn vinh chúc tụng
Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần
là Thiên Chúa đã có, hiện có và đang đến,
xin tôn vinh chúc tụng muôn đời. Ha-lê-lui-a.

 

Tin mừng : Ga 3,16-18

Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.

16 “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. 17 Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ. 18 Ai tin vào Con của Người, thì không bị lên án ; nhưng kẻ không tin, thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh của Con Một Thiên Chúa.”

Đó là lời Chúa.

 

B. CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài đọc 1 : Xh 34,4b-6.8-9

1. Bài đọc 1 chúng ta vừa nghe là bản văn rất quý vì trong đó chính Thiên Chúa mặc khải cho ta biết Người là ai : Người là Đức Chúa, một Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín. Cái độc đáo của bản văn này là chỉ trong mấy hàng ngắn ngủi, tác giả Kinh Thánh giúp ta cảm nhận được Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn khác nhưng lại rất gần gũi với tất cả chúng ta ! Mặc khải này được ghi lại ở chương 34 sách Xuất hành, nghĩa là sau một thời gian dài dân Ít-ra-en cảm nghiệm được tình thương của Chúa dành cho họ, khi giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai-cập và luôn đồng hành với họ trong tất cả những cơn thử thách nơi sa mạc. Từ nay về sau, dân được Thiên Chúa giải thoát sẽ sẵn sàng lắng nghe một Thiên Chúa nhân hậu từ bi. Không phải ngẫu nhiên mà bản văn hôm nay dùng từ “đi qua” : Đức Chúa đi qua trước mặt ông Mô-sê để mặc khải tên của Người cho ông, nhân hậu và từ bi, như Người đã “đi qua” giữa dân Người trong đêm Vượt Qua (Xh 12,12). Khi đi qua là Thiên Chúa luôn giải thoát dân Người. Và lần đi qua thứ hai này của Thiên Chúa (lần giải thoát thứ hai) còn quan trọng hơn lần đi qua thứ nhất, vì giúp ta hiểu đúng về bản tính của Thiên Chúa : “Người là Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín.”

2. Ông Mô-sê, vốn biết rõ dân Ít-ra-en, đoàn chiên mà ông đang dẫn dắt, nên vội thân thưa cùng Chúa : “Lạy Chúa, dân này là một dân cứng đầu cứng cổ, nhưng xin Ngài tha thứ những lỗi lầm và tội lỗi của chúng con, và nhận chúng con làm cơ nghiệp của ngài, vì Chúa là Đấng nhân hậu từ bi.” Kể từ ngày đó, sự khám phá này vang lên trong tất cả kinh nguyện của Ít-ra-en, và trở nên nền tảng của kinh nguyện này. Ta có thể tìm thấy dễ dàng và rất nhiều trong các thánh vịnh, chẳng hạn thánh vịnh 77 câu 38 : “Nhưng Người vẫn xót thương, thứ tha không tiêu diệt, nén giận đã bao lần, chẳng khơi bùng nộ khí.” Tv 85,15 : “Phần Ngài, muôn lạy Chúa, Ngài là Thiên Chúa nhân hậu từ bi, Ngài chậm giận, lại giàu tình thương và lòng thành tín.” Tv 144,8 : “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương. Chúa nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên.”

3. Chúng ta tuyệt đối tin tưởng vào lòng từ bi nhân hậu của Chúa, nhưng nhiều khi con người chúng ta lại không có được tâm tình như vậy đối với kẻ thù, chẳng hạn như trường hợp ngôn sứ Giô-na được Chúa sai đến nhắc nhở dân thành Ni-ni-vê phải sám hối, nếu không sẽ bị trừng phạt. Ông đào nhiệm đi chơi, tàu chìm, bị cá nuốt vào bụng ... Nhưng khi dân thành Ni-ni-vê sám hối và được tha thứ, thì ông lại bực mình với Thiên Chúa. Chúng ta nghe nhiều lần vấn đề “thành tín” của Thiên Chúa. Vấn đề này vang lên trong suốt lịch sử Ít-ra-en như là trụ cột vững chắc cho niềm hy vọng của họ. Dân Ít-ra-en đã có kinh nghiệm rất nhiều về sự tha thứ của Thiên Chúa. Đây là một trong những chủ đề lớn của sách Đệ nhị luật : “Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi là một Thiên Chúa giàu lòng thương xót, Người sẽ không bỏ rơi ngươi, Người sẽ không huỷ diệt ngươi, Người sẽ không quên Giao ước đã ký kết với cha ông của ngươi.” Ta có thể rút ra một kết luận, chúng ta, những người Ki-tô hữu, đừng bao giờ quên rằng Ít-ra-en vẫn tồn tại và luôn là dân được Chúa tuyển chọn, như thánh Phao-lô cho biết : “Quả thế, khi Thiên Chúa đã ban ơn kêu gọi, thì Người không hề đổi ý. Nếu ta không trung tín, Người vẫn một lòng trung tín, vì Người không thể nào chối bỏ chính mình” (2 Tm 2,13).

 

Đáp ca : Thánh ca Đa-ni-en 3,52-56

Thánh vịnh đáp ca là thánh ca của ba thanh niên trong lò lửa. Ba thanh niên bị quăng vào lò lửa đang cháy phừng phực vì từ chối khong chịu thờ lạy tượng vàng do vua Na-bu-cô-đô-nô-xo dựng lên. Điều đó cho thấy lòng trung thành của ba thanh niên Do-thái đối với Thiên Chúa : thà phải chịu khổ hình và cái chết chớ nhất quyết không thờ lạy tà thần. Tuy nhiên Thiên Chúa đã làm phép lạ để cứu họ thoát chết : Phép lạ thứ nhất là lửa không đốt cháy họ mà thiêu cháy những người đã vứt họ xuống lò lửa đang cháy phừng phực. Phép lạ thứ hai là dù bị trói nhưng họ vẫn đi lại giữa ngọn lửa, vừa đi lại vừa chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa. Những câu đầu của bài thánh thi này dành cho lễ Chúa Ba Ngôi : “Lạy Chúa, chúc tụng Ngài là Thiên Chúa tổ tiên chúng con, chúc tụng danh thánh Ngài vinh hiển. Chúc tụng Chúa trong thánh điện vinh quang, chúc tụng Chúa trên ngôi báu cửu trùng. Chúc tụng Chúa, Đấng ngự trên các thần hộ giá mà thấu nhìn vực thẳm, chúc tụng Chúa trên vòm trời tận chốn cao xanh.”

 

Bài đọc 2 : 2 Cr 13,11-13

Bài đọc 2 hôm nay là phần kết thúc thư thứ hai của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô, với những lời dặn dò, thăm hỏi và lời cầu nguyện cuối cùng. Câu cuối cùng của bản văn hôm nay là lời chào mở đầu của thánh lễ : “Nguyện xin ân sủng Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em.” Trong toàn bộ Tân Ước, công thức này nhắc đến Thiên Chúa Ba Ngôi cách đặc sắc nhất, có lẽ xuất phát từ Phụng vụ. Trong công thức nói trên, Thiên Chúa mời gọi chúng ta bước vào cuộc sống thân mật với Người, trong mái ấm tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa.

“Ân sủng”, “tình yêu”, “hiệp thông” chỉ là một. Cha, Con, Thánh Thần, đó là Ba Ngôi. “Ân sủng Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần” : đó là mái ấm tình yêu do Ba Ngôi dựng nên, và mời gọi chúng ta bước vào đời sống thân mật với Ba Ngôi khi chủ tế nói “ở cùng tất cả anh chị em”. Trong thư Ê-phê-xô, thánh Phao-lô viết : “Tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em … Chỉ có một Thân Thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người.” Đây là một lời tuyên xưng đức tin : lý do và nguồn mạch của sự hợp nhất : chỉ có một Thân Thể gồm có Đầu là Đức Ki-tô và các chi thể là các Ki-tô hữu, làm nên Hội Thánh. Chỉ có một Chúa Thánh Thần, Đấng đã tràn ngập thân xác Đấng Phục Sinh và được ban cho tất cả các tín hữu, bởi Đức Ki-tô và qua Đức Ki-tô.

2. Như vậy, Chúa Thánh Thần thấm nhập toàn thể Hội Thánh, làm cho Hội Thánh được hợp nhất. Đối tượng duy nhất mà Thiên Chúa dành cho ta khi kêu gọi ta chiếm hữu phần gia sản : “Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa.” Chính khi đón nhận phép rửa với lòng tin, người Ki-tô hữu được kết hợp với Đức Chúa độc nhất, tức là Đức Giê-su Phục Sinh (x. Rm 6,1-14); nhờ Người và nhờ Thánh Thần của Người, người Ki-tô hữu được liên kết với Thiên Chúa độc nhất (Rm 15–17).

Tuyên xưng niềm tin Chúa Ba Ngôi : Thiên Chúa (Cha), Đức Chúa (Con), Thần Khí (Thánh Thần).

Rồi thánh Phao-lô khuyên các tín hữu hãy sống ơn gọi Ki-tô hữu của mình, đó là sống trong niềm vui, bình an và đồng tâm nhất trí, ăn ở thuận hoà. Khi Cựu Ước đề cập đến niềm vui là luôn luôn nhắc đến kinh nghiệm của cuộc giải thoát ; chẳng hạn, ngôn sứ I-sai-a báo việc chấm dứt một cuộc chiến khi nói : “Họ mừng vui trước nhan Ngài, như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt …, vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gãy” (Is 9,2-3). Sau này, khi trở về từ chốn lưu đày Ba-by-lon, ngôn sứ I-sai-a cũng công bố một niềm vui trọng đại : “Những người được Đức Chúa giải thoát sẽ trở về, tiến đến Xi-on giữa tiếng hò reo, mặt rạng rỡ niềm vui vĩnh cửu. Họ sẽ được hớn hở tươi cười, đau khổ và khóc than sẽ biến mất” (Is 36,10). Những kinh nghiệm về sự giải thoát nói trên chỉ là một hình ảnh mờ nhạt của cuộc giải thoát vĩnh viễn được hứa ban cho nhân loại : “Này đây Ta sáng tạo trời mới đất mới, không còn ai nhớ đến thuở ban đầu và nhắc lại trong tâm trí nữa. Nhưng thiên hạ sẽ vui mừng và luôn mãi hỷ hoan, vì những gì chính Ta sáng tạo” (Is 65,17-18).

3. Cựu Ước là dấu chỉ của một đời sống đang phát triển, trong lúc đó niềm vui được xem như là đặc điểm của thời đại cứu độ và hoà bình của thời cánh chung. Khi nói với các Tông Đồ về niềm vui, Đức Giê-su cũng nói theo chiều hướng đó và cho biết nguyên nhân : “Anh em hãy can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16,33). Người nói tiếp : “Các điều ấy Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn” (Ga 15,11). “Bây giờ anh em lo buồn, nhưng Thầy sẽ gặp lại anh em, lòng anh em sẽ vui mừng, và niềm vui của anh em không ai lấy mất được” (Ga 16,22).

Lời khuyên thứ hai của thánh Phao-lô : “Anh em hãy đồng tâm nhất trí và ăn ở thuận hoà.” Đây là tiếng dội lại lời cầu nguyện của Đức Giê-su cho các Tông Đồ trong Tin Mừng Gio-an : “Xin cho họ nên một, để thế gian tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17,21). Thánh Phao-lô cũng nói điều đó theo cách của ngài trong thư gửi tín hữu Rô-ma : “Xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn và an ủi, làm cho anh em được đồng tâm nhất trí với nhau, như Đức Giê-su Ki-tô đòi hỏi. Nhờ đó, anh em có thể hiệp ý đồng thanh mà tôn vinh Thiên Chúa, là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta” (Rm 15,5-6). Sự hoà thuận được biểu lộ trong thánh lễ qua cái hôn bình an, vì kiểu nói “Anh em hãy tỏ tình bằng hữu bằng cách trao cho nhau cái hôn bình an.” Ta gặp nhiều lần trong các thư của thánh Phao-lô, và cử chỉ Phụng vụ này đã có từ thời của ngài. Khoảng năm 150, thánh Giút-ti-nô kể : “Khi cầu nguyện xong, chúng tôi hôn nhau.” Cử chỉ này được Công Đồng Va-ti-ca-nô II tái lập trong thánh lễ. Ở Việt Nam, chúng ta quay vào nhau để chào nhau.

 

Bài Tin Mừng : Ga 3,16-18

1. Sau khi đã đọc trong nhiều tuần lễ bài diễn từ giã biệt của Đức Giê-su với các môn đệ, hôm nay chúng ta đọc phần đầu của Tin Mừng Gio-an, về cuộc đối thoại giữa Đức Giê-su và ông Ni-cô-đê-mô. Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô là ơn cứu độ gần chúng ta hơn chúng ta tưởng. “Thiên Chúa yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,16-17). Để giúp dễ hiểu, Đức Giê-su nêu lên hai bản văn Cựu Ước : con rắn đồng và một lời ngôn sứ Da-ca-ri-a.

Trước tiên, ngay trước bản văn chúng ta vừa nghe, Đức Giê-su đã nhắc lại câu chuyện con rắn đồng lúc dân Ít-ra-en vượt qua sa mạc Xi-nai trong cuộc Xuất hành. Thời điểm đó có một cuộc xâm lăng của bầy rắn độc : trong những trường hợp tương tự, thói quen lúc bấy giờ là treo lên một cây sào hình ảnh một con rắn được xem như vị thần chữa lành (ngày nay dấu hiệu của ngành Y là cây gậy có hình hai con rắn chéo nhau, lấy ý tưởng từ con rắn xưa). Vâng lệnh Thiên Chúa, ông Mô-sê lấy lại thói quen này, lúc bấy giờ là ma thuật, và biến nó thành một hành động đức tin. Bản văn của sách Dân số nói : “Đức Chúa nói với ông Mô-sê : ‘Ngươi hãy làm một con rắn và treo lên một cây cột. Tất cả những ai bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đó, sẽ được sống.’” (Ds 21,8). Lúc bấy giờ Đức Giê-su nói với ông Ni-cô-đê-mô : “Như ông Mô-sê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.” Lời trên muốn nói rằng ơn cứu độ của chúng ta mà thánh Gio-an gọi là sự sống đời đời, hoàn toàn tuỳ thuộc lòng tin của chúng ta vào Đức Giê-su Ki-tô. Đó là lời mở đầu của bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe : “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một”, hiểu là chúng ta phải hướng nhìn lên Người để được cứu độ.

2. Tiếp theo là lời sấm của ngôn sứ Da-ca-ri-a : “Ta sẽ đổ ơn xuống cho nhà Đa-vít và dân cư Giê-ru-sa-lem, giúp chúng biết sống đẹp lòng Ta và tha thiết cầu nguyện. Chúng sẽ ngước nhìn lên Ta, chúng sẽ khóc than Đấng chúng sẽ đâm thâu, như người ta khóc than đứa con một. Chúa sẽ thương tiếc như người ta thương tiếc đứa con đầu lòng. Ngày ấy, một dòng suối sẽ vọt ra cho nhà Đa-vít và dân cư Giê-ru-sa-lem, để tẩy trừ tội lỗi và ô uế” (Dcr 12,10 ; 13,1). Thánh Gio-an không đưa ra lời sấm này ở đây, nhưng kể lại sau này trong cuộc Thương Khó của Đức Giê-su.

Đối với thánh Gio-an, lời sấm của ngôn sứ Da-ca-ri-a là một ánh sáng rất quan trọng. Khi suy niệm về mầu nhiệm Cứu Độ được Đức Giê-su hoàn tất, thánh Gio-an mới đề cập đến lời sấm này trong sách Khải huyền : “Kìa, Người ngự đến giữa đám mây. Ai nấy sẽ thấy Người, cả những kẻ đã đâm Người. Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Người” (Kh 1,7). Tại sao vậy ? Thưa vì trên gương mặt của Đấng Chịu Đóng Đinh, nhân loại khám phá ra dung mạo thật của Thiên Chúa nhân hậu, từ bi và hay tha thứ, chứ không phải một vị Thiên Chúa độc đoán và thích báo thù như chúng ta thường tưởng tượng. “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha.” Đức Giê-su nói như thế với các môn đệ trong Tin Mừng Gio-an.

Điều đặc biệt quan trọng đối với chúng ta là tin vào Thiên Chúa, Đấng giải thoát, để được giải thoát khỏi làm nô lệ tội lỗi. Chúng ta chỉ cần nhìn lên Đức Giê-su với một cái nhìn đức tin, chúng ta sẽ được cứu độ. Chính cái nhìn đức tin này đem lại cho ta ơn cứu độ. Điều này khiến ta nhớ lại nhiều lần trong Tin Mừng, Đức Giê-su nói với kẻ đã được Người chữa lành : “Đức tin của con đã cứu con.”

3. Theo Chouraqui, trong Tin Mừng Gio-an, động từ “tin” có một nghĩa rất mạnh, “bám chặt vào Đức Giê-su”, “tháp nhập vào Người”, “không thể tách rời khỏi Người”. Do đó, không phải ngẫu nhiên mà thánh Gio-an kể dụ ngôn “cây nho thật”, còn thánh Phao-lô dùng hình ảnh đầu và chi thể.

Qua đó, ta hiểu hơn kiểu nói “Con Một” : “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một”. Ngay từ đầu Tin Mừng thứ tư, thánh Gio-an đã nói : “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật” (Ga 1,14). Người là Con Một vì Người đầy tràn ân sủng và sự thật ; Người là Con Một vì là nguồn suối duy nhất của sự sống vĩnh cửu ; nói như ngôn sứ Da-ca-ri-a : chỉ cần ngước mắt nhìn lên Người sẽ được cứu độ ; cuối cùng, Người là Con Một vì chính Người đứng đầu nhân loại mới.

Chúng ta còn tìm thấy lại trong thư của thánh Phao-lô về kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa là toàn thể nhân loại tập họp nơi Đức Giê-su và sống sự sống của Người là bước vào sự hiệp thông tình yêu với Ba Ngôi Thiên Chúa. Đó chính là ơn cứu độ hay sự sống đời đời, nghĩa là sự sống thật. Không phải sự sống sau cuộc sống ở trần gian này, nhưng là một chiều kích khác của sự sống, bắt đầu ngay ở đời này.

“Sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến, là Giê-su Ki-tô” (Ga 17,3). Nhận biết Thiên Chúa là biết Người là Cha giàu lòng thương xót và Đức Giê-su là Đấng Cứu Độ duy nhất của trần gian.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa, xin ban thêm đức tin cho chúng con, xin củng cố đức tin còn yếu kém của chúng con.

Tự vấn :

Trong đời sống thường ngày, chúng ta đã sống niềm tin như thế nào khi gặp thử thách gian truân ?

 

C. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Sống và yêu theo nhịp Chúa Ba Ngôi”

(Jean-Noël BezanÇon, trong “Babor” tr. 131-132).

Mặc khải về Chúa Ba Ngôi không chỉ là sự bổ sung vào ý niệm chung về Thiên Chúa. Sẽ không đủ nếu chỉ thêm thắt vào ý niệm về Thiên Chúa của các tôn giáo khác. Mặc khải về Chúa Con và Chúa Thánh Thần để từ đó khám phá ra Thiên Chúa của Đức Giê-su Ki-tô. So với tôn giáo độc thần của Do-thái mà một Chúa Ba Ngôi là sự hoàn thành, ý niệm Chúa Ba Ngôi của người Ki-tô hữu là cả một cuộc cách mạng trong sự hiểu biết về Thiên Chúa. Vì thế trong kinh Tin Kính của Ki-tô giáo, không có một đoạn đầu chung chung nói về Thiên Chúa trong những từ mà chúng ta có thể chia sẻ với anh em Do-thái giáo hay Hồi giáo. Chức làm Cha của Thiên Chúa, quyền năng vô biên của Người, hành động sáng tạo của Người, quyền làm Chúa của Người trên vũ trụ phải được đọc dưới ánh sáng của Đức Giê-su và thập giá của Người. Đức tin Ki-tô giáo, đức tin vào Chúa Ba Ngôi, không chỉ khác bởi nội dung của nó, như thể là trong danh mục các chân lý phải tin, chỉ cần thêm vào, cho là ở đâu đi nữa, một chương về Ba Ngôi là đủ. Chính đức tin đã khác biệt rồi, khác trong chính kết cấu, trong năng động.

Đức tin cách nào đó, đảo ngược : Khi tôi nói tôi xây dựng cuộc sống tôi trên Người, trước hết tôi muốn nói rằng Người là nguồn suối. Người tin ở con người và phó thác cho tôi, Người ràng buộc mình với chúng ta, và tuỳ may rủi, Người chọn xây dựng tất cả dự tính tình yêu của Người, và chia sẻ, dựa trên sự đáp trả tự do và mong manh của chúng ta. Đức tin của chúng ta, tiếng A-men của chúng ta là câu trả lời như tiếng dội của lòng tin vào Thiên Chúa. Nói Người là Cha là Mẹ (đứa trẻ nói : Thiên Chúa là người Cha thương yêu như người mẹ), điều đó muốn nói chính Người luôn luôn đi bước đầu.

Huấn giáo (catéchèse) không có điểm xuất phát nào ngoài phát minh làm chóng mặt rằng một ai đó đã tin tôi đến nỗi làm cho tôi sống : “Con là con Ta, trong con, Ta đặt tất cả tình yêu.” Bởi thế ngay lập tức, đức tin ấy là tin vào Chúa Ba Ngôi. Dựa vào huấn giáo là đặt mình ở điểm chính xác nơi mà Lời của Thiên Chúa có thể tìm thấy tiếng dội trong con người. Đó là đi vào kinh nghiệm làm con của Đức Giê-su.

Cuối cùng huấn giáo là huấn giáo về Chúa Ba Ngôi vì đời sống Ki-tô giáo là tin vào Chúa Ba Ngôi : ở chỗ để Thánh Thần chiếm đoạt, đến nỗi nên một với Đức Giê-su mà Chúa Cha hằng sinh ra. Từ đó huấn giáo các bí tích mà người Ki-tô giáo học sống sự hiệp thông Ba Ngôi là rất quan trọng. Đó là dịp để quảng diễn các kinh trong sách nghi lễ, với điều kiện là đừng bắt đầu bằng cách loại bỏ những gì mà tất cả những ai được giáo huấn (catéchisés) cho rằng không hiểu.

Một nhóm nhỏ làm công tác giáo huấn cho ta nghĩ đến bức tượng thánh (Icône) của André Roublev, ba thiên thần được ông Áp-ra-ham đón tiếp, truyền thống công nhận đó là hình ảnh tiên báo về Chúa Ba Ngôi. Tất cả Giáo Hội, tất cả mọi tế bào của Giáo Hội, là hình ảnh của Chúa Ba Ngôi nếu như mỗi người đều hướng về kẻ khác trong sự chia sẻ và trong sự hiệp thông. Trong một ê-kíp làm công tác huấn giáo, trong đó mỗi người đều biết đón nhận những gì mà người khác nói và làm ở đó, những lúc thinh lặng và cầu nguyện thật là những giây phút hiệp thông, một cái gì đó sống, đồng thời cũng có giá trị mặc khải mầu nhiệm của Thiên Chúa như là cái nhìn nhau giữa các thiên thần của bức tượng thánh của Roublev.

Sự tuần hoàn của tình yêu trong Ba Ngôi Thiên Chúa, được anh em Hy-lạp gọi là “Périchorèse” (một thứ luân vũ, cũng có gốc với từ chorégraphie). Thiên Chúa không bất động. Và vì Người luôn luôn là chuyển động và chia sẻ chính Người, Người là chuyển động hướng về chúng ta.

Huấn giáo là nơi mà trẻ con, chúng biết chúng không bao giờ ở yên, được mời gọi đi vào chuyển động điệu múa Ba Ngôi, học sống và yêu với nhịp điệu của Cha, Con và Thánh Thần …”

2. “Giáo Hội nói những gì Giáo Hội làm”

(Pour dire le Credo, Cerf).

Nhìn Giáo Hội trong những gì Giáo Hội là, không phải là chuyện dễ dàng đâu. Giáo Hội loan báo Tin Mừng của Đức Ki-tô vì hạnh phúc con người, và Giáo Hội làm cho con người sống các bí tích mà Đức Ki-tô đã truyền lại, đặc biệt và ngay từ đầu, Giáo Hội làm cho con người sống bí tích Thánh Tẩy. Giáo Hội hiện hữu là thế đó, nghĩa là như một cộng đồng của những ai, nam cũng như nữ, chấp nhận tình yêu Chúa Cha và liều mình sống đời sống của Người.

Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19).

Nhiều khi chúng ta cho lời nói của Giáo Hội có tầm quan trọng (sự can thiệp của Đức Thánh Cha, các tuyên bố của các Giám Mục) hơn là việc làm của Giáo Hội, và chúng ta có cảm tưởng Giáo Hội là một tổ chức để nói, một bà già rất đáng kính nói hơi nhiều. Phải rồi Giáo Hội nói, và Giáo Hội phải làm thế để nói lại với loài người vẻ đẹp của lời dạy của Đức Giê-su, và giúp họ thay lòng đổi dạ.

Nhưng trong chân lý sâu thẳm của mình, trước hết Giáo Hội hành động, và khi suy nghĩ đến hành động của mình, Giáo Hội nói và khám phá ra những gì Giáo Hội đã làm. Như thế Giáo Hội kiểm tra lại sự thật của hành động mình, và cắt nghĩa giá trị của hành động ấy.

Giáo Hội làm phép Rửa, một hành động huyền bí cho phép con người nhận ra mình được Cha yêu thương và được hợp nhất với Đức Giê-su, nhờ ơn sức mạnh của Thánh Thần của Đức Giê-su …, được trở nên chứng nhân của tình yêu phổquát của Cha. Chúng ta luôn phải tái khám phá ra vẻ đẹp và sự quan trọng của phép Rửa mà chúng ta đã lãnh nhận.

Và trong dây liên kết chặt chẽ với hành động chịu phép Rửa mà Giáo Hội đã đề ra kinh Tin Kính, để cho mọi người sẽ chịu phép Rửa, cùng nhau nhận ra kho tàng họ được chia sẻ không do công trạng gì của họ. Phải luôn lặp lại lời thánh Phao-lô : “Nhờ do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ : đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa” (Ep 2,8). Kinh Tin Kính là bản đồ đi đường chỉ cho chúng ta thấy vẻ đẹp của thế giới mới trên bờ bến mà bí tích Thánh Tẩy đã đưa chúng ta tới. Việc tuyên xưng đức tin bắt đầu trong ngây ngất (của tâm hồn) và trong lời kinh tạ ơn.

3. “Hội Thánh và Thiên Chúa Ba Ngôi”

(B. Franck, trong “La Croix”, 12/2/1995, tr. 27).

Nếu Giáo Hội thật là một hiệp thông (koinonia), nếu từ cơ bản Giáo Hội là “dân Thiên Chúa”, “thân thể Đức Ki-tô và đền thờ Chúa Thánh Thần”, nếu Thiên Chúa Ba Ngôi vừa là nguồn gốc vừa là khuôn mẫu của sự sống của Giáo Hội, nếu những người chịu phép (giáo sĩ, giáo dân, tận hiến) phải được đào tạo theo mẫu những liên hệ nối kết Ba Ngôi Thiên Chúa, khi ấy Giáo Hội phải cố gắng phản ảnh lên trái đất, giữa các Ki-tô hữu, những mối liên hệ bình đẳng hỗ tương và bác ái, mối liên hệ giữa Cha, Con và Thánh Thần. Giữa Ba Ngôi, không có trên cũng không có dưới, không có Đấng quyết định và Đấng thi hành quyết định, Ba Ngôi với nhau, hoạt động với nhau, sống với nhau mà vẫn giữ được căn tính của mình và Ngôi Vị riêng biệt, tuy mỗi Đấng có một sứ mạng đặc trưng có một không hai.

Giáo Hội tự mình muốn tự nói mình là “bức tượng thánh của Ba Ngôi”. Giáo Hội phải luôn cố gắng hướng tới để trở nên cái mà mình phải là, chứ không phải luôn làm biến dạng khuôn mặt Ba Ngôi mà Giáo Hội tự cho mình là hình ảnh.