Trang

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026

CN 23 TN A- 5 phút Lời Chúa với Thiếu Nhi


Đây không chỉ là một quy tắc ứng xử, mà còn là một cách sống của Tin mừng: sửa lỗi để cứu người, sửa lỗi vì yêu thương.

CN 23 TN A- 5 phút Lời Chúa với Thiếu Nhi

CN 23 THƯỜNG NIÊN A- 5 phút Lời Chúa với Thiếu Nhi
Tin Mừng thánh Mt 18, 15-20

Chào các em,
Hôm nay, Chúa Nhật 23 Thường Niên, năm A, Tin mừng theo thánh Mát-thêu.
Đoạn Tin mừng Mt 18, 15-20 hôm nay nằm trong Diễn từ Giáo Hội (Mt 18), nơi Chúa Giê-su đặt nền tảng cho lối ứng xử trong cộng đoàn. Mục đích của Chúa Giê-su không phải lập “tòa án” để luận phạt, nhưng là đưa ra liệu pháp chữa lành nhằm bảo vệ sự hiệp nhất và cứu vớt người anh em lỡ lầm.

Nếu người anh em của anh trót phạm tội, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi. Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em.” (15) “Người anh em”, thánh Mát-thêu dùng từ Hy lạp là adelphos để chỉ một người cùng một cộng đoàn, cùng Cha trên trời. Người phạm lỗi không phải là kẻ thù, nhưng là người anh em cần được cứu vớt. “Sửa lỗi” (elencho) là động từ vạch cho thấy cái sai, giúp người kia nhận ra sự thật trong tình bác ái. Cụm từ “Chỉ hai người với nhau” là nguyên tắc bác ái tối thượng để bảo vệ danh dự, phẩm giá người phạm lỗi, tránh thói “ngồi lê đôi mách” làm tổn thương tâm hồn họ. “Nếu nó chịu nghe anh, thì anh đã chinh phục được người anh em.” Đây là mục tiêu thực sự của việc sửa lỗi. Sửa lỗi để người đó sống tốt chớ không phải để được phần thắng.

Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết, căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân(16) Đây là bước thứ hai, Chúa Giê-su trích dẫn Luật Cựu Ước, Đệ Nhị Luật 19, 15, về việc cần có hai hay ba người làm chứng khi xét xử. Điều này dạy chúng ta không nên kết án một người chỉ dựa trên lời kể một phía. Trong tinh thân Tân ước, các chứng nhân này đóng vai trò khách quan, hòa nhã và khôn ngoan giúp câu chuyện đi đúng hướng sự thật.

Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe, thì hãy kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế.(17) “Hội Thánh” (ekklesia) ở đây là cộng đoàn những người tin. Khi mọi nỗ lực cá nhân và nhóm nhỏ thất bại, sự việc được đưa ra cộng đoàn. Cộng đoàn ở đây đóng vai trò nâng đỡ, cầu nguyện và đưa ra phân xử cuối cùng. “Kể nó như một người ngoại hay một người thu thuế.” Câu này dễ bị hiểu lầm là một bản án tuyệt giao, thù ghét hay nguyền rủa. Nhưng chúng ta nhìn vào việc Chúa Giê-su đối xử với dân ngoại và người thu thuế thế nào? Chúa Giê-su ăn uống với người thu thuế (Mt 9,10), Chúa Giê-su khen ngợi lòng tin của người phụ nữ Ca-na-an (Mt 15,28), và Chúa chết trên thánh giá cho cả nhân loại. Cho nên, việc xem họ “như một người ngoại hay một người thu thuế” đơn giản là nhìn nhận một thực tế cay đắng, người này đã tự tay cắt đứt sự hiệp thông với cộng đoàn. Nhưng thái độ người môn đệ của Chúa Giê-su không phải là thù hằn hay xua đuổi, mà là quay trở lại mức độ yêu thương ban đầu là kiên nhẫn cầu nguyện, và luôn mở rộng cửa đón họ trở về.

“Thầy bảo thật anh em: dưới đất, anh em cầm buộc những điều gì, trên trời cũng cầm buộc như vậy; dưới đất, anh em tháo cởi những điều gì, trên trời cũng tháo cởi như vậy.”(18) Quyền “cầm buộc hay tháo cởi” vốn đã được trao cho thánh Phê-rô (Mt 16, 19), giờ đây được Chúa Giê-su mở rộng cho cộng đoàn. Đây là ngôn ngữ rab-bi Do thái liên quan đến việc xác định điều gì được phép hay không được phép, và trong bối cảnh Tin mừng thánh Mát-thêu, nó liên quan đến trách nhiệm của cộng đoàn trong việc bảo vệ đời sống đức tin và sự hiệp thông.

“Thầy còn bảo thật anh em: nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho.” (19) Điều Chúa Giê-su muốn nói là sự đồng tâm nhất trí của cộng đoàn. Khi con người tìm kiếm sự hòa giải, khi đặt cộng đoàn lên trên hết, thì con người đang đi vào chính ý muốn của Thiên Chúa.

“Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ.” (20) Khi có xung đột, điều quan trọng nhất không phải là ai thắng mà là Chúa Giê-su có còn ở giữa chúng ta không? Đây chính là mục đích của bài Tin mừng hôm nay. Khi có Chúa Giê-su ở giữa thì mọi sự khác biệt sẽ không nhất thiết dẫn đến chia rẽ.  

Các em thân mến.
Bài Tin mừng hôm nay Chúa Giê-su đưa ra cho chúng ta một con đường sửa lỗi anh em. Đây không chỉ là một quy tắc ứng xử, mà còn là một cách sống của Tin mừng: sửa lỗi để cứu người, sửa lỗi vì yêu thương.

Các em thân mến,
Theo lời hướng dẫn của Chúa Giê-su, chúng ta sống thế nào trong môi trường của chúng ta?

Khi nhận thấy bạn sai điều gì như nói tục, đánh bạn, ăn cắp bút …

- Bạn nói riêng với người ấy,

- Bạn nói nhẹ nhàng và thật lòng,

- Khi nhận lỗi, bạn hãy sẵn sàng tha thứ.

Có như thế, chúng ta mới trở nên những tông đồ đích thực của Chúa Giê-su.

Hãy trở nên những học trò ngoan của Thầy Giê-su các em nhé.

Mến chào tất cả các em.

Gb. Nguyễn Thái Hùng







Vui Học Chúa Nhật 23 TN A
Tin Mừng thánh Mt 18, 15-20

01. Theo Tin mừng thánh Mátthêu 18, 15, khi người anh em trót phạm lỗi, bước đầu tiên Chúa Giêsu dạy chúng ta phải làm gì?
a. Đưa sự việc cho toàn thể cộng đoàn phân xử.
b. Nhờ người khác góp ý với người đó.
c. Đi sửa lỗi riêng giữa bạn và người đó.
d. Tỏ thái độ im lặng và xa lánh.

02. Nếu người anh em không chịu nghe khi góp ý riêng, bước thứ hai Chúa Giêsu hướng dẫn là gì?
a. Đem theo một hay hai người nữa cùng đi.
b. Tìm mọi cách trả đũa để người đó nhận ra sai lầm.
c. Cắt đứt mối quan hệ với người đó.
d. Nói công khai cho mọi người nghe và biết.

03. Mục đích chính của việc mời thêm ‘một hay hai nhân chứng’ là gì?
a. Cùng nhau kết án người phạm lỗi.
b. Tạo nhóm đông để uy hiếp.
c. Làm trung gian hòa giải khách quan và bao dung.
d. Để có người làm chứng khi ra tòa dân sự.

04. Mục đích sửa lỗi người anh em là gì?
a. Để mọi người biết lỗi của người ấy.
b. Để người ấy bị xấu hổ.
c. Để chứng minh mình tốt hơn.
d. Để chinh phục và giúp người ấy trở lại.

05. Cụm từ “kể nó như một người dân ngoại hay người thu thuế” trong câu 17 mang ý nghĩa gì?
a. Tuyên án và trục xuất ra khỏi cộng đoàn.
b. Cho phép cộng đoàn dùng vũ lực trừng phạt.
c. Coi người đó không còn tồn tại.
d. Nhìn nhận sự đứt quãng hiệp thông nhưng vẫn kiên nhẫn cầu nguyện và yêu thương.

06. Trong đoạn Tin mừng này, quyền ‘cầm buộc-tháo cởi’ Chúa Giêsu trao cho ai?
a. Riêng cho thánh Phê-rô.
b. Toàn thể cộng đoàn Giáo Hội.
c. Những người thuộc nhóm đông hơn.
d. Chính quyền địa phương.

07. Điều kiện cốt lõi để Chúa Giêsu hiện diện ở giữa hai hoặc ba người họp lại là gì?
a. Họp nhau trong thánh đường lộng lẫy.
b. Họp nhau nhân danh Chúa Giêsu.
c. Khi họp hát những bài thánh ca hoành tráng.
d. Họ là những người hoàn toàn không mắc lỗi.

08. Thực hành ứng xử nào sau đây thể hiện đúng tinh thần sửa lỗi theo Tin mừng?
a. Tránh xỉa xói trước mặt người khác.
b. Giữ thái độ bằng mặt nhưng không bằng lòng.
c. Đưa ra cộng đồng để xét xử.
d. Rầy la ngay lập tức để làm gương cho mọi người.

09. Để tránh chia rẽ trong cộng đoàn, khi người anh em phạm lỗi, chúng ta nên làm gì?
a. Rời bỏ hội đoàn khi thấy có thành viên ứng xử chưa đúng.
b. Lập nhóm riêng để bàn luận.
c. Bỏ qua lỗi lầm nghiêm trọng không cần lên tiếng nhắc nhở.
d. Nói chuyện trực tiếp với người trong cuộc.

10. Chúa Giêsu nói “Ở đâu có hai hoặc ba người họp lại nhân danh Thầy…” thì …
a. “Thì họ sẽ không bao giờ phạm lỗi nữa.”
b. “Thì có Thầy ở đấy, giữa họ.”
c. “Thì Thầy sẽ cho họ mọi điều họ muốn.”
d. “Thì Thầy sẽ yêu mến họ.”

Gb. Nguyễn Thái Hùng


Lời giải đáp Vui Học Chúa Nhật 23 TN A

01. c. Đi sửa lỗi riêng giữa bạn và người đó.
02. a. Đem theo một hay hai người nữa cùng đi.
03. c. Làm trung gian hòa giải khách quan và bao dung.
04. d. Để chinh phục và giúp người ấy trở lại.
05. d. Nhìn nhận sự đứt quãng hiệp thông nhưng vẫn kiên nhẫn cầu nguyện và yêu thương.
06. b. Toàn thể cộng đoàn Giáo Hội.
07. b. Họp nhau nhân danh Chúa Giêsu.
08. a. Tránh xỉa xói trước mặt người khác.
09. d. Nói chuyện trực tiếp với người trong cuộc.
10. b. “Thì có Thầy ở đấy, giữa họ.”

Gb. Nguyễn Thái Hùng

VHTK Thánh Gioan Kim Khẩu Ngày 13.9

 




VHTK Thánh Gioan Kim Khẩu Ngày 13.9
VUI HỌC THÁNH KINH
THÁNH GIOAN KIM KHẨU

Giám mục, tiến sĩ
Ngày 13 tháng 9
Tin Mừng thánh Mátthêu 5,13-16

 
Tin Mừng
Muối cho đời và ánh sáng cho trần gian (Mc 9:50; Lc 14:34-35)

13 "Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.

14 "Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được.15 Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà.16 Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.

13  "You are the salt of the earth. But if salt loses its taste, with what can it be seasoned? It is no longer good for anything but to be thrown out and trampled underfoot.
14 You are the light of the world. A city set on a mountain cannot be hidden.
15 Nor do they light a lamp and then put it under a bushel basket; it is set on a lampstand, where it gives light to all in the house.
16 Just so, your light must shine before others, that they may see your good deeds and glorify your heavenly Father.

I. HÌNH TÔ MÀU
gioan kk 3
* Chủ đề của hình này là gì?
………………………………………………….
* Bạn hãy viết câu Tin mừng Mátthêu 5,14a
………………………………………………….
………………………………………………….
………………………………………………….
………………………………………………….


II. TRẮC NGHIỆM
A.
a1. Đức Giêsu nói anh em là gì cho đời? (Mt 5,13)
a. Men.
b. Muối.
c. Ánh sáng.
d. Sự an ủi.


a2. Nếu muối trở thành vô dụng, thì làm gì? (Mt 5,13)
a. Làm đường đi.
b. Để xây tường.
c. Làm phân bón cho cây.
d. Quăng ra ngoài cho người ta chà đạp.


a3. Đức Giêsu nói anh em là ánh sáng cho ai? (Mt 5,14)
a. Trần gian.
b. Con người.
c. Mọi người.
d. Những người tin Chúa.


a4. Người ta thắp đèn rồi đặt ở đâu để đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà? (Mt 5,15)
a. Trên đế.
b. Sau bức vách.
c. Dưới đáy thùng.
d. Trong phòng kín.


a5. Khi nhìn thấy những việc tốt đẹp của anh em làm, người ta tôn vinh ai? (Mt 5,16)
a. Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.
b. Thiên Chúa của anh em.
c. Anh em là người công chính.
d. Đấng giải thoát anh em.


B. Thánh Gioan Kim Khẩu

b1. Thánh Gioan Kim Khẩu sinh năm 334 tại nước nào?
a. Nước Thổ Nhĩ Kỳ.
b. Nước Syria.
c. Nước Ai cập.
d. Nước Ba Tư.


b2. Thánh Gioan Kim Khẩu được mẹ ngài truyền đạt cho những điều gì?
a. Một đức ái nhân hậu.
b. Một đức tin sắt đá.
c. Một lòng hy sinh hào hiệp.
d. Cả a, b và c đúng.


b3. Năm 397, Thánh Gioan Kim Khẩu được bầu làm giám mục, thánh nhân lưu tâm nghiên cứu về thánh Phaolô tông đồ, cải tổ hàng giáo sĩ, thiết lập một số qui chế để thánh hóa bản thân, hủy bỏ tận căn mọi tập tục xa xỉ gây tốn phí tiền bạc, của cải, vật chất. Ngài chống đối kịch liệt các bè rối Ariô, Novatio vv. Ngài được chọn làm giám mục thành nào?
a. Thành Constantinople.
b. Thành Rôma.
c. Thành Côrinthô.
d. Thành Antiôkia.


b4. Năm 403, Thánh Gioan Kim Khẩu lên tiếng phản đối nữ hoàng đã chiếm đoạt tài sản của bà góa thành Callitrope nên bị nữ hoàng kết án lưu đày. Nữ hoàng này tên là gì?
a. Nữ Hoàng Êlisabét I.
b. Nữ Hoàng Bát Seba.
c. Nữ Hoàng Étte.
d. Nữ hoàng Eudoxie.


b5. Thánh Gioan Kim Khẩu qua đời vào ngày 14/7/407, Chúa thưởng công Ngài bằng vô số phép lạ sau khi Ngài chết. Ðức Thánh cha Piô X đã nâng Ngài lên bậc tiến sĩ Hội Thánh và đặt Ngài làm bổn mạng cho những ai?
a. Những nhà giảng thuyết.
b. Những nhà truyền giáo.
c. Các nhà thần học.
d. Các cha giải tội.



III. Ô CHỮ
Gioan kimkhau
Những gợi ý

01. Đức Giêsu nói: “Anh em là ánh sáng cho ai? (Mt 5,14)

02. Ánh sáng của anh em phải chiếu giải trước mặt ai? (Mt 5,16)

03. Đức Giêsu nói anh em là gì cho trần gian? (Mt 5,14)

04. "Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì làm cho nó cho mặn lại?  (Mt 5,13)

05. Anh em là gì cho đời? (Mt 5,13)

06. Ai đã nói: “Anh em là muối cho đời, là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5,1-16)(Mt 5,1-16)

07. Đèn được thắp đặt trên đế là đèn để làm gì cho mọi người trong nhà? (Mt 5,15)

Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì ?
 
IV. CÂU THÁNH KINH HỌC THUỘC LÒNG

“Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.”

Tin Mừng thánh Mátthêu 5,14a

 
VUI HỌC THÁNH KINH
THÁNH GIOAN KIM KHẨU
Giám mục, tiến sĩ
Ngày 13 tháng 9
Tin Mừng thánh Mátthêu 5,13-16
 
I. HÌNH TÔ MÀU
* Chủ đề :
Thánh Gioan Kim Khẩu

* Tin mừng thánh Mátthêu 5,14a :
“Chính anh em là ánh sáng cho trần gian”.

II. TRẮC NGHIỆM
A.
a1. b. Muối (Mt 5,13)
a2. d. Quăng ra ngoài cho người ta chà đạp (Mt 5,13)
a3. a. Trần gian (Mt 5,14)
a4. a. Trên đế (Mt 5,15)
a5. a. Cha của anh em, Đấng ngự trên trời (Mt 5,16)


B. Thánh Gioan Kim Khẩu

b1. a. Nước Thổ Nhĩ Kỳ.
b2. d. Cả a, b và c đúng.
b3. a. Thành Constantinople.
b4. d. Nữ hoàng Eudoxie.
b5. a. Những nhà giảng thuyết.


III. Ô CHỮ
01. Trần gian (Mt 5,14)
02. Thiên hạ (Mt 5,16)
03. Ánh sáng (Mt 5,14)
04. Muối (Mt 5,13)
05. Muối (Mt 5,13)
06. Đức Giêsu (Mt 5,1-16)
07. Soi chiếu (Mt 5,15)


Hàng dọc : Giám Mục

NGUYỄN THÁI HÙNG
 
 
THÁNH GIOAN KIM KHẨU
Giám mục,tiến sĩ Hội Thánh
(Saint John Chrysostom)
Ngày 13/9/2002
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT
 
Mỗi vị thánh đều mang Chúa Kitô trong mình và một cách nào đó các Ngài luôn chóng vánh giới thiệu Ðức Kitô cho người khác. Thánh là để Chúa phủ lấp toàn bộ con người mình, để Chúa chiếu sáng xuyên suốt từng ngõ ngách, từng đường tơ,kẽ tóc.Thánh là họa lại chính Chúa Kitô càng rõ nét bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu,đúng như lời sách khởi nguyên viết:"Họalại hình ảnh của Thiên Chúa". Thánh Gioan kim khẩu là một trong muôn vàn vị thánh đã trở nên giống Chúa Kitô.

GIOAN KIM KHẨU LÀ AI ?

Thánh nhân sinh tại nước Thổ nhĩ Kỳ vào năm 334 tại Antiokia. Người ta gọi Ngài là Gioan thành Antiokia. Ngài được mệnh danh là Kim Khẩu: Chrysostome .Miệng tuôn toàn những lời quí như vàng.Thánh nhân có tài hùng biện và trí khôn ngoan minh mẫn hiếm có. Gioan thành Antiokia ngay từ khi còn nhỏ đã được mẹ Ngài giáo dục với một lòng nhân ái bao la,truyền đạt cho Ngài một đức tin sắt đá và lòng hy sinh hào hiệp.Năm 373,thánh nhân được tuyển vào chức đọc sách,nhưng tài lợi khẩu,hoạt bát của Ngài đã làm say mê bao người,từ đó danh tiếng Ngài vang dội khắp nơi.

ÐỜI CON NGƯỜI LÀ DO CHÚA

Vì danh tiếng lẫy lừng nổi bật do lòng đạo đức thánh thiện và tài hùng biện có sức thuyết phục nhiều người trở về với chúa,người ta nhất loạt tôn thánh nhân lên chức giám mục,nhưng Ngài khiêm tốn khước từ và chỉ thích ẩn mình,ăn chay,cầu nguyện.Ý Chúa lạ lùng không ai hiểu thấu,sau bốn năm sống khắc khổ,Ngài lâm bệnh dạ dầy nặng,buộc Ngài phải trở về Antiokia. Năm 386, thánh nhân lãnh nhận sứ vụ linh mục và trong cương vị linh mục,suốt 12 năm, thánh nhân đã làm say mê dân thành Antiokia nhờ lòng sốt sắng, tài ăn nói thuyết phục,miệng tuôn những lời quí như vàng và đưa rất nhiều người quay về với Chúa do lời giảng dậy của Ngài.Thánh nhân đả phá những cổ tục mê tín,cuộc sống hào phóng,xa hoa, trụy lạc của những người giầu và kêu gọi mọi người lưu tâm đến những người nghèo.Chính thánh nhân nêu gương sáng sống nghèo và giúp đỡ người nghèo.Năm 397,Ngài được bầu làm giám mục thành Constantinople, thánh nhân lưu tâm nghiên cứu về thánh Phaolô tông đồ,cải tổ hàng giáo sĩ,thiết lập một số qui chế để thánh hóa bản thân,hủy bỏ tận căn mọi tập tục xa xỉ gây tốn phí tiền bạc, của cải,vật chất. Ngài chống đối kịch liệt các bè rối Ariô, Novatio vv.

CHÚA THƯỞNG CÔNG CHO THÁNH NHÂN

Năm 403, Ngài bị Nữ hoàng Eudoxie kết án lưu đày vì thánh nhân dám lên tiếng phản đối Eudoxie đã chiếm đoạt tài sản của một bà goá ở Callitrope.Thánh nhân đã phải chịu biết bao nhiêu đau khổ,cay đắng,chông gai và thử thách vì Chúa. Mọi người sẽ mãi mãi thán phục lòng bác ái ,tài giảng thuyết và các sách vở giá trị Ngài đã để lại cho hậu thế.

Cuộc đời của Ngài có thể ví như một bông hoa đẹp giữa những bông hoa khác muôn mầu,muôn hương . Bông hoa thơm là chính Ngài bị cầm tù,bị tra khảo,đánh đập,nhưng hương thơm mãi mãi tỏa ra thơm ngát làm say mê mọi người.

Thánh nhân qua đời vào ngày 14/7/407, Chúa thưởng công Ngài bằng vô số phép lạ sau khi Ngài chết. Ðức Thánh cha Piô X đã nâng Ngài lên bậc tiến sĩ Hội Thánh và đặt Ngài làm bổn mạng của những nhà giảng thuyết.

Lạy thánh Gioan Kim Khẩu,xin ban cho chúng con biết dùng miệng lưỡi để ca tụng và cảm tạ tri ân Thiên Chúa.

Xin cho chúng con lòng can đảm dám nói lên sự thật,dù sự thật làm người khác mất lòng.
Xin ban cho mọi người Kitô hữu biết sống khó nghèo như Chúa.


http://www.simonhoadalat.com/suyniem/saints
/Thang9/GioanKimKhau.htm

 

VHTK Danh Thánh Đức Maria Ngày 12.9

 




VHTK Danh Thánh Đức Maria Ngày 12.9
VUI HỌC THÁNH KINH
DANH THÁNH ĐỨC MARIA

Tin Mừng thánh Luca 1, 26-38
Ngày 12 tháng 9


TIN MỪNG

26 Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét,27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.

28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà."29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.

30 Sứ thần liền nói: "Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa.31 Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su.32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người.33 Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận."

34 Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng! "
35 Sứ thần đáp: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.36 Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng.37 Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được."

38 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói." Rồi sứ thần từ biệt ra đi.


26  In the sixth month, the angel Gabriel was sent from God to a town of Galilee called Nazareth,27 to a virgin betrothed to a man named Joseph, of the house of David, and the virgin's name was Mary.
28 And coming to her, he said, "Hail, favored one! The Lord is with you."
29 But she was greatly troubled at what was said and pondered what sort of greeting this might be.
30 Then the angel said to her, "Do not be afraid, Mary, for you have found favor with God.
31 Behold, you will conceive in your womb and bear a son, and you shall name him Jesus.
32 He will be great and will be called Son of the Most High,  and the Lord God will give him the throne of David his father,33 and he will rule over the house of Jacob forever, and of his kingdom there will be no end."
34 But Mary said to the angel, "How can this be, since I have no relations with a man?" 35 And the angel said to her in reply, "The holy Spirit will come upon you, and the power of the Most High will overshadow you. Therefore the child to be born will be called holy, the Son of God.
36 And behold, Elizabeth, your relative, has also conceived  a son in her old age, and this is the sixth month for her who was called barren;37 for nothing will be impossible for God."
38 Mary said, "Behold, I am the handmaid of the Lord. May it be done to me according to your word." Then the angel departed from her.

I. HÌNH TÔ MÀU
 
me maria
* Chủ đề của hình này là gì?
………………………………………………
* Bạn hãy viết câu Tin Mừng thánh Luca 1,38
………………………………………………
………………………………………………
………………………………………………
………………………………………………

 
II. TRẮC NGHIỆM

a1. Sứ thần truyền tin cho Đức Maria tên là gì? (Lc 1, 26)
a. Sứ thần Gaprien.
b. Sứ thần Micaen.
c. Sứ thần Raphaen.


a2. Người thiếu nữ được truyền tin tên là gì? (Lc 1,27)
a. Cô Gioanna.
b. Cô Maria.
c. Cô Êlisabét.
d. Cô Anna.


a3. Trinh nữ Maria cư ngụ nơi thành nào? (Lc 1,27)
a. Thành Giêrusalem.
b. Thành Nadarét.
c. Thành Caphácnaum.
d. Thành Samaria.


a4. Hôn phu của Đức Maria thuộc dòng dõi của vua nào? (Lc 1,27)
a. Vua Salem.
b. Vua Đavít.
c. Vua Hêrôđê.
d. Vua Pharaô.


a5. "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói." (Lc 1,38)
a. Cô Mácta.
b. Cô Maria.
c. Cô Êlisabét.
d. Cô Anna.


B.
b1. Thánh Danh Maria có những ý nghĩa:
a. “Biển".
b. “Bà Chúa", “Lệnh Bà”.
c. "Lộng lẫy diễm lệ","làm sáng tỏ".
d. Cả a, b và c đúng.


b2. Maria nghĩa hay nhất là "làm sáng tỏ" vì Mẹ là gì?
a. Bức gương trong, phản chiếu ánh sáng hằng hữu.
b. Trung gian ánh sáng ơn thánh,
c. Rạng đông và là mỹ nữ lồng bóng mặt trời.
d. Cả a, b và c đúng.


b3. Anh Chị hãy viết lại Bảy lời của Đức Maria nói trong cuộc đời Chúa Giêsu :
1. (Lc 1,34).
2. (Lc 1,38).
3. (Lc 1,38).
4. (Lc 1,46-55).
5. (Lc 2,48).
6. (Ga 2,3).
7. (Ga 2,5).


b4. Đức Giáo Hoàng Innocentê XI nào đã cho phổ biến Lễ kính thánh danh Maria trên khắp cùng thế giới năm 1683?
a. Đức Giáo Hoàng Innocentê XI.
b. Đức Giáo Hoàng Lêô XIII.
c. Đức Giáo Hoàng Grêgôriô X.
d. Đức Giáo Hoàng Piô V.


b5. Đức Giáo Hoàng đã cho phổ biến này trên khắp cùng thế giới năm 1683 để cảm tạ tri ân Đức Mẹ, kỷ niệm biến cố gì?
a. Vua Ba Lan John Soboeski đánh bại quân Thổ Nhĩ Kỳ vây hãm thành Viênna và đe dọa các nước Tây Phương.
b. Công Đồng Êphêsô khẳng định tước hiệu: Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa.
c. Cuộc chiến thắng quân Thổ tại vịnh Lê-pan-tô.
d. Biến cố thánh nữ He len tìm được cây thập tự mà Chúa Giêsu bị đóng đinh.

 
III. Ô CHỮ
 
danhthanhMARIA
Những gợi ý

01. Tổ tiên của Đức Giêsu thuộc dòng dõi vua nào? (Lc 1, 32)

02. Đức Maria xưng mình là gì của Chúa ? (Lc 1,38)

03. Sứ thần nói Đức Maria đẹp lòng ai ? (Lc 1,30)

04. Trinh nữ tại thành Nadarét được sứ thần truyền tin tên là gì? (Lc 1, 27)

05. Thiên Chúa sẽ ban cho Người cái gì của  vua Đavít, tổ tiên Người? (Lc 1,32)

06. Khi nghe sứ thần chào, trinh nữ Maria có thái độ thế nào? (Lc 1, 29)

07. Trinh nữ Maria sẽ sinh hạ 1 con trai, và đứa trẻ được đặt tên là gì? (Lc 1,31) (Lc 1,31).

08. Người sẽ trị vì nhà ai đến muôn đời? (Lc 1,33)

Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì?
 
V. CÂU THÁNH KINH HỌC THUỘC LÒNG
 
"Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói."
Tin Mừng thánh Luca 1,38

 
 
Lời giải đáp
VUI HỌC THÁNH KINH
DANH THÁNH ĐỨC 12 tháng 9
Tin Mừng thánh Luca 1, 26-38
Ngày 12 tháng 9
I. HÌNH TÔ MÀU
* Chủ đề :
Đức Maria

* Tin Mừng thánh Luca 1,38
"Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa,
xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói."


II. Trắc nghiệm
A.
a1. a. Sứ thần Gaprien (Lc 1, 26)
a2. b. Cô Maria (Lc 1,27)
a3. b. Thành Nadarét (Lc 1,27)
a4. b. Vua Đavít (Lc 1,27)
a5. b. Cô Maria (Lc 1,38)

B.
b1. d. Cả a, b và c đúng
b2. d. Cả a, b và c đúng
b3. Bảy lời của đức Maria nói trong cuộc đời Chúa Giêsu :
       1. Mẹ quyết tâm giữ lời khấn trọn đời đồng trinh: "Điều đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam" (Lc 1,34).
       2. Mẹ sốt sắng nhiệt thành phục vụ Chúa: "Này tôi là tôi tớ Chúa" (Lc 1,38).
       3. Mẹ trung thành vâng phục thánh ý Chúa: "Tôi xin vâng như lời thiên sứ truyền" (Lc 1,38).
      4. Mẹ hoan hỉ chúc tụng Chúa: Linh hồn ngợi khen sự cao cả của Chúa (Lc 1,46-55).
      5. Mẹ tỏ ra mẫu quyền của Mẹ với Chúa Giêsu: "Hỡi Con, sao Con làm như thế? Con thấy Cha con và Mẹ phải đau khổ tìm Con?" (Lc 2,48).
      6. Mẹ yêu thương thông cảm những nỗi khó khăn người khác: "Họ hết rượu rồi" (Ga 2,3).
      7. Mẹ vững tin quyền phép Chúa: "Người bảo sao, các anh cứ làm như vậy" (Ga 2,5).

b4. a. Đức Giáo Hoàng Innocentê XI
b5. a. vua Ba Lan John Soboeski đánh bại quân Thổ Nhĩ Kỳ vây hãm thành Viênna và đe dọa các nước Tây Phương.


III. Ô CHỮ
01. Đavít (Lc 1,32).
02. Nữ tỳ (Lc 1,38)
03. Thiên Chúa (Lc 1,30)
04. Maria (Lc 1,27).
05. Ngai vàng (Lc 1,32)
06. Bối rối (Lc 1,29).
07. Giêsu (Lc 1,31).
08. Giacóp (Lc 1,33)


Hàng dọc : Đức Maria

NGUYỄN THÁI HÙNG
 
 
 
Thánh Danh Đức Maria 12-9
LỄ THÁNH DANH ĐỨC MẸ
L.m. Phêrô, CMC

I. THÁNH DANH MARIA

Thánh Danh Maria theo tiếng Do Thái trong Cựu ước là Myriam, tiếng Aram là Maryam, tiếng Hy Lạp dịch Cựu ước là Mariam, tiếng Hy Lạp dịch Tân ước là Maria, tiếng Anh là Mary, tiếng Pháp là Marie, tiếng Latinh là Maria.

Trong Thánh kinh có tám người mang tên như Thánh Danh Đức Mẹ:

1. Chị ông Maisen thường gọi là Miriam (Xh 15:20-21; Ds 12:1-10);
2. Một phụ nữ con gái của Ezra (1 Sb 4:17);
3. Maria Mađalêna, người phụ nữ được trừ khỏi bảy quỉ (Lc 8:2);
4. Maria chị Lagiarô và em của Martha (Lc 10:38-42);
5. Maria mẹ của Thánh Giacôbê và Gioan (Mc 15:40-47);
6. Maria vợ ông Clopas (Ga 19:25) có lẽ là mẹ của Thánh Giacôbê và Gioan;
7. Maria mẹ của Thánh Marcô tác giả Phúc âm II (Cv 12:12);
8. Maria là một Kitô hữu ở Rôma mà Thánh Phaolô gửi lời chào (Rm 16:6).


II. Ý NGHĨA THÁNH DANH MARIA
Thánh Danh Maria có những ý nghĩa:

1. Theo Thánh Giêrônimô, Maria tiếng Do Thái có nghĩa là "biển". Do đó, Thánh Bênađô gọi Đức Mẹ là "Sao biển". Giáo hội có Thánh thi "Ave Maris Stella".

2. Cũng theo Thánh Giêrônimô, Maria tiếng Aram là "Marta = Bà Chúa". Tiếng Latinh là Domina, tiếng Ý là Madona, tiếng Pháp là Notre Dame, tiếng Anh là Our Lady.

3. Maria tiếng Ai Cập là "mari" nghĩa là được yêu, là "mara" nghĩa là phương phi, hợp với vẻ thẩm mỹ của Á Đông là "lộng lẫy diễm lệ".

4. Maria tiếng Ugarit là "mrym" nghĩa là cao sang, uy nghi, tuyệt vời.

5. Theo nhà Thánh Mẫu học Scheeben, Maria tiếng Do Thái là Miryam biến thành myrrha maris, stilla maris, stella maris.

6. Maria nghĩa hay nhất là "làm sáng tỏ" vì Mẹ là bức gương trong, phản chiếu ánh sáng hằng hữu, là trung gian ánh sáng ơn thánh, là rạng đông và là mỹ nữ lồng bóng mặt trời.

7. Maria có nghĩa Tân Evà đem lại ơn Cứu rỗi, tương phản với Evà đem lại ác hoạ.


III. CÁC NHÂN ĐỨC CỦA MẸ MARIA

Mẹ Maria có 12 nhân đức, đó là:
1) Ba nhân đức đối thần: Tin, Cậy, Mến.
2) Bốn nhân đức trụ: Khôn ngoan, Công bằng, Đại đảm, Tiết độ.
3) Ba nhân đức theo lời khuyên Phúc âm: Thanh khiết, Khó nghèo, Tuân phục.
4) Hai nhân đức theo gương Chúa Giêsu: Hiền từ và Khiêm nhượng.


IV. BẢY LỜI ĐỨC MẸ NÓI TRONG CUỘC ĐỜI CHÚA GIÊSU

1. Mẹ quyết tâm giữ lời khấn trọn đời đồng trinh: "Điều đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam" (Lc 1:34).
2. Mẹ sốt sắng nhiệt thành phục vụ Chúa: "Này tôi là tôi tớ Chúa" (Lc 1:38).
3. Mẹ trung thành vâng phục thánh ý Chúa: "Tôi xin vâng như lời thiên sứ truyền" (Lc 1:38).
4. Mẹ hoan hỉ chúc tụng Chúa: Linh hồn ngợi khen sự cao cả của Chúa (Lc 1:46-55).
5. Mẹ tỏ ra mẫu quyền của Mẹ với Chúa Giêsu: "Hỡi Con, sao Con làm như thế? Con thấy Cha con và Mẹ phải đau khổ tìm Con?" (Lc 2:48).
6. Mẹ yêu thương thông cảm những nỗi khó khăn người khác: "Họ hết rượu rồi" (Ga 2:3).
7. Mẹ vững tin quyền phép Chúa: "Người bảo sao, các anh cứ làm như vậy" (Ga 2:5).


V. BẢY NIỀM VUI CỦA MẸ

Thánh Tôma Canterbury có thói quen đọc bảy kinh Kính mừng kính bảy niềm vui của Mẹ Maria là:
1. Thiên sứ truyền tin cho Mẹ;
2. Mẹ đi thăm viếng Thánh Êlizabeth;
3. Mẹ hạ sinh Chúa Giêsu tại Bêlem;
4. Các đạo sĩ đến thờ lạy Ấu Chúa Giêsu;
5. Mẹ tìm thấy Chúa Giêsu trong đền thánh;
6. Mẹ biết Chúa Giêsu sống lại;
7. Ngày Mẹ hồn xác lên trời.


Nhưng một hôm, Mẹ hiện ra với Thánh Tôma Canterbury mà nói: Hỡi Tôma, lòng sùng kính của con rất đẹp lòng Mẹ, nhưng tại sao con chỉ nghĩ đến những niềm vui Mẹ đã cảm nghiệm ở dưới đất? Vậy con hãy tưởng nhớ những niềm vui của Mẹ ở trên trời nữa.
_ Nhưng làm sao mà con biết được?

_ Con cũng đọc bảy kinh Kính mừng kính nhớ bảy niềm vui của Mẹ ở trên trời:

1. Vinh quang của Mẹ vượt trên vinh quang của tất cả các Thánh;
2. Ánh sáng của Mẹ chói chang, soi sáng các tầng trời;
3. Mẹ là Nữ Vương Thiên đàng;
4. Lời cầu xin của Mẹ luôn được Chúa nhấp nhận;
5. Thiên Chúa ban thưởng những ai sùng kính Mẹ;
6. Mẹ Maria được gần nhất Chúa Ba Ngôi;
7. Niềm vui Thiên đàng của Mẹ cho đến muôn thuở muôn đời.


VI. NIÊN SỬ CUỘC ĐỜI ĐỨC MẸ

Niên sử cuộc đời Đức Mẹ hoàn toàn dựa theo niên sử cuộc đời Chúa Giêsu Con của Mẹ:
Trước Chúa giáng sinh

- Năm 23/20 Sinh nhật Đức Mẹ, ái nữ của Thánh Gioakim và Thánh Anna.
- Năm 20/17 Đức Mẹ dâng mình vào đền thờ.
- Năm 11/8 Đức Mẹ đính hôn với Thánh Giuse (Mt 1:16; Lc 1:27).
- Năm 7 Thiên sứ Gabrie truyền tin cho Đức Mẹ (Lc 1:26-38).
Đức Mẹ mang thai Chúa Giêsu (Mt 1:18-25).
Đức Mẹ đi viếng thăm bà Thánh Êlizabeth (Lc 1:39-56).

- Năm 7/6 Đức Mẹ sinh Chúa Giêsu tại Bêlem (Lc 2:1-9).
Đức Mẹ đưa Chúa Giêsu chịu phép cắt bì (Lc 2:21).
Đức Mẹ lên đền tịnh tẩy và dâng Con (Lc 2:22-24).
Cụ già Simeon nói tiên tri về Chúa Giêsu và Mẹ (Lc 2:25-35).
Cụ bà Anna nói tiên tri về Chúa Giêsu (Lc 2:36-38).

- Năm 6/4 Ba vua đến thờ lạy Ấu Chúa (Mt 2:1-11).
Đức Mẹ và Thánh Giuse đem Con trốn sang Ai Cập (Mt 2:13-14).

- Năm 4 (?) Đức Mẹ và Thánh Giuse đem Con trở về Nagiarét (Mt 2:19-23).
Sau Chúa giáng sinh

- Năm 6 Đức Mẹ và Thánh Giuse tìm thấy Chúa Giêsu trong đền thờ (Lc 2:41-50).
Đức Mẹ và Thánh Giuse sống với Chúa Giêsu tại Nagiarét (Lc 2:51).

- Năm 27/28 Mẹ với Chúa Giêsu đi dự tiệc cưới Cana (Ga 2:1-11).

- Năm 30 Mẹ Maria trong cuộc sống công khai của Chúa Giêsu (Mt 12:46-50; Mc 3:31-35; Lc 8:19-21; Ga 2:12-13).
Chúa Giêsu gián tiếp ca ngợi đức tin của Mẹ (Lc 11:27-28).

- Năm 30 Mẹ Maria dưới chân thánh giá trên đồi Canvê (Ga 19:25-27).
Mẹ Maria và các tông đồ tại nhà Tiệc ly (Cv 1:14).
Mẹ Maria lên trời với Chúa Giêsu Con của Mẹ.


VII. NHỮNG BIỂU TƯỢNG ĐỨC MẸ

1. Rượu; hương dầu thơm (Dc 1:1-3).
2. Lều trại Kedar; trướng gấm của Salem (Dc 1:5).
3. Mặt trời; vườn nho (Dc 1:6).
4. Cam tùng toả mùi thơm nức (Dc 1:12).
5. Hoa thuỷ tiên cánh đồng Saron; hoa huệ thung lũng sâu (Dc 2:1).
6. Bồ câu nơi kẽ đá (Dc 2:14).
7. Cột khói ngát trầm hương (Dc 3:6).
8. Mắt bồ câu (Dc 4:1).
9. Tháp lầu Đavid (Dc 4:4).
10. Mật ong nhỏ giọt (Dc 4:11).
11. Cột bạch ngọc (Dc 5:15).
12. Đoàn quân dàn trận (Dc 6:10).
13. Rạng đông; mặt trăng; mặt trời (Dc 6:10).
14. Môi miệng Đấng Tối Cao (Hc 24:3).
15. Cột mây (Hc 24:4).
16. Ánh sáng không mờ phai (Hc 29:6).
17. Vòm trời; vực sâu (Hc 24:8).
18. Cây trắc diệp trên núi Hermon (Hc 24:13).
19. Cây cảm lãm trong cánh đồng; cây tiêu huyền bên bờ nước (Hc 24:14).
20. Cây quế và dầu thơm ngát (Hc 24:15).
21. Xạ hương man mác (Hc 24:15).
22. Hòm bia Thiên Chúa (Xh 25: 10-16).
23. Hoa hường mầu nhiệm (Dc 2:1).
24. Vườn địa đường (St 2:8-14).
25. Tàu Noe (St 6:14-16).
26. Đền thờ Salomon (1V 6:1-37).
27. Chiếc thang Giacóp (St 28:12).


VIII. BẢY PHỤ NỮ TIỀN ẢNH ĐỨC MẸ

Theo các Giáo phụ, những phụ nữ sau đây trong Cựu ước là những tiền ảnh Đức Mẹ:

1. Bà Sara vợ của tổ phụ Abraham, son sẻ và đã cao niên mà được Chúa cho hạ sinh một con trai là Isaac, trưởng tộc một đoàn dân đông đảo (St 21:7-8). Mẹ Maria sinh hạ một cách lạ lùng Chúa Giêsu là trưởng tử một đoàn em đông đúc.


2. Bà Rakel có một sắc đẹp dịu hiền khiến cho Giacóp sẵn lòng làm rể ông Laban mười bốn năm để cưới làm vợ (St 29:17). Sắc đẹp tâm hồn Mẹ Maria khiến Thiên Chúa tuyển chọn Mẹ làm Mẹ Con của Người nhập thể Cứu thế.

3. Bà Miriam là chị ông Maisen. Bà đã cứu em khỏi bàn tay sát hại của vua Pharaon, Ai Cập, đã được đặc ân nói tiên tri, là một trong những phụ nữ đầu tiên qua biển đỏ khô chân, đã cất tiếng ca ngợi cám ơn Chúa (Xh 15:20). Mẹ Maria đã cộng tác với Con Mẹ cứu nhân loại khỏi tội lỗi và tử thần.

4. Bà Deborah, dưới thời quan án của Israel, đã hạ sát Sisơra, đứng cản địch quân Canaan (Tl 4:4). Mẹ Maria đã chiến thắng Satan địch thù của dân thánh Chúa.

5. Bà Giuđitha vừa có sắc đẹp vừa có sức mạnh tinh thần. Bà đã hạ sát Holoferne, hùng tướng của Philitinh, để cứu dân thành Bethulia. Toàn dân ca tụng bà: "Bà là vinh quang của Giuđêa, là niềm vui của Israel, là niềm hãnh diện của dân tộc chúng tôi" (Gđt 15:9). Mẹ Maria đã vinh thắng trên Satan và đạp nát đầu nó, và đem lại vinh dự cho Thiên Chúa, hân hoan cho Thiên Đàng, và niềm hãnh diện cho toàn thể dân Chúa chọn.

6. Bà Esther là hoàng hậu của vua Assuerô nước Ba tư, đã cứu dân Israel khỏi nạn diệt vong (Et 2:17). Mẹ Maria là Nữ Hoàng đã cứu dân thánh Chúa khỏi nạn đoạ trầm.

7. Tân Evà. Bà Evà đã làm cho loài người phải sa đoạ, thì Mẹ Maria là Tân Evà đã làm cho loài người được phục hồi (Thánh Giustinô).

IX. NHỮNG TƯỚC HIỆU MẸ MARIA

1. Trạng Sư cùng với Chúa Giêsu là Trạng Sư để bầu chữa cho loài người trước toà Chúa Cha. Tước hiệu này được Giáo hội dùng từ thời Trung cổ trong kinh Lạy Nữ Vương và các văn kiện của Thánh Bênađô.

2. Đấng Đồng Công. Các Đức Giáo hoàng Lêô XIII, Piô X, Piô XI, Piô XII và Công đồng Vatican II đã minh chứng Mẹ Maria đã đặc biệt đồng công cộng tác với Chúa Kitô trong công trình Cứu chuộc loài người. Riêng Đức Piô XI đã trực tiếp gọi Mẹ là Đấng Đồng Công (Coredemptrix).

3. Mẹ rất thánh. Mẹ là Mẹ toàn thể loài người vì Mẹ sinh ra Chúa Kitô là đầu, mà mọi tín hữu là chi thể của Nhiệm Thể Chúa Kitô, nên Giáo hội gọi Maria là Mẹ rất thánh của Chúa và của loài người.

4. Nữ tử Sion. Tiên tri Isaia và Mica gọi thành Giêrusalem là "con gái Sion". Tiên tri Giêrêmia gọi "con gái Sion" là dân thành Giêrusalem, ám chỉ toàn dân thánh Chúa. Trong sách Khải huyền, đoạn 12, Mẹ Maria được ám chỉ là "con gái Sion" sinh ra một dân tộc mới mà Đầu là Con Trai chiến thắng Satan.

5. Gương mẫu. Công đồng Vatican II gọi Mẹ Maria là gương mẫu tuyệt vời và hiếm có, là mẫu mực của Giáo hội về đức tin, đức ái và hiệp nhất hoàn hảo với Chúa Kitô (LG, 63).

6. Nữ tỳ của Chúa. Chính Mẹ Maria đã xưng mình là "nữ tỳ" của Chúa khi thiên sứ truyền tin cho Mẹ (x. Lc 1:38), và Mẹ đã tự phát trong Ca Ngợi khen: "Chúa đã đoái nhìn thân phận thấp hèn tôi tớ của Người" (Lc 1:48).


7. Đấng phù hộ các giáo hữu. Đức Piô V thêm vào kinh cầu Đức Bà câu: "Đức Bà phù hộ các giáo hữu" năm 1571 để cám tạ Mẹ đã giúp đạo binh Công giáo chiến thắng quân Hồi giáo ở vịnh Lepante, và để kỷ niệm Mẹ dẹp tan bè rối Albigensê nhờ kinh Mân côi hồi thế kỷ XII. Năm 1815, Đức Piô VII lập lễ Đức Mẹ phù hộ. Đức Mẹ phù hộ cũng là bổn mạng dòng Salêdiên, của Úc châu và Tân Tây Lan.

8. Đấng Vô nhiễm. Mẹ Maria đã được đặc ân đầu thai vô nhiễm nguyên tội mà Đức Piô IX đã định tín năm 1854. Và Mẹ đã hiện ra tại Lộ Đức năm 1858 với Thánh Bernađetta và xưng mình là "Đấng Vô nhiễm thai".

9. Đấng Trung gian. Tước hiệu Mẹ trung gian đã được dùng bên Đông phương thế kỷ VI và bên Tây phương thế kỷ IX. Từ thế kỷ XVII tước hiệu này được dùng khắp nơi trong Giáo hội. Mẹ trung gian vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa được đầy ơn đứng giữa Thiên Chúa và loài người; vì Mẹ cộng tác với Chúa Kitô để giao hoà loài người với Thiên Chúa, và vì Mẹ là Đấng ban phát mọi ơn lành cho con cái Mẹ.

10. Mẹ Thiên Chúa. Đầu tiên Thánh Hippolitô đã tuyên đọc Mẹ Maria là "Mẹ Thiên Chúa". Năm 431 Công đồng Êphêsô tuyên tín Mẹ là "Mẹ Thiên Chúa" để luận án bè rối Nestoriô. Mẹ Maria sinh ra Chúa Giêsu. Mà Chúa Giêsu là Thiên Chúa. Do đó, Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa.

11. Mẹ Giáo hội. Công đồng Vatican II dạy: Giáo hội Công giáo dâng lên Mẹ Maria tình con thảo như đối với người Mẹ rất dấu yêu (LG, 53). Năm 1964, Đức Phaolô VI tuyên ngôn: Mẹ Maria là "Mẹ của Giáo hội". Năm 1980, câu "Mẹ Maria là Mẹ Giáo hội" được thêm vào kinh cầu Đức Bà.

12. Mẹ thương xót. Tước hiệu Mẹ thương xót đã có từ thế kỷ III. Nhiều vị Thánh đã kêu cầu Mẹ thương xót. Thánh Đamianô, Thánh Bênađô, và Thánh Anphong kêu cầu Mẹ thương xót bằng kinh Lạy Nữ Vương. Mẹ hiện ra với Thánh Brigitta và nói: "Mẹ là Nữ Vương Thiên đàng, là Mẹ thương xót. Mẹ là niềm vui cho người công chính, là cửa cho tội nhân đến cùng Chúa. Không có người tội lỗi nào mà vô phúc ở ngoài tình thương xót của Mẹ. Không có người nào bị Chúa ruồng bỏ đến nỗi không trở về với Người và được Người thương xót nếu họ kêu xin Mẹ hộ giúp. Mọi người đều gọi Mẹ là Mẹ thương xót. Lòng thương xót của Con Mẹ đối với loài người cũng làm cho Mẹ thương xót. Mẹ cảm thương mọi người và tha thiết cứu giúp các tội nhân".

13. Nữ Vương hoà bình. Năm 1917, khi thế giới bị Đệ nhất Thế chiến tàn phá, Đức Bênêđictô XV thêm vào kinh cầu Đức Bà câu "Nữ Vương ban sự bình an". Mẹ khuyên nhủ con cái Mẹ hãy thực thi công bình và bác ái để họ được bình an trong Chúa Kitô.

14. Toà khôn ngoan. Tước hiệu Mẹ là Toà khôn ngoan có từ thời các Thánh Giáo phụ như Thánh Au-gustinô. Mẹ là ngai toà khôn ngoan, là đền thờ Đấng Khôn Ngoan, vì Mẹ hằng suy niệm trong lòng những mầu nhiệm của Chúa Giêsu Con Mẹ (Lc 2:19, 51).

15. Mẹ hằng cứu giúp. Mẹ Maria là Mẹ đầy lòng từ bi thương xót, hằng bênh vực chở che cứu giúp mọi người trong những nỗi gian nan cơ khổ. Từ thế kỷ III, người ta đã kêu cầu Mẹ cứu giúp với kinh "Chúng con chạy đến cùng Mẹ". Đức Lêô XIII đã giải thích rõ ràng. Và Dòng Chúa Cứu Thế chuyên rao giảng về Đức Mẹ hằng cứu giúp.

X. LỊCH SỬ PHỤNG VỤ

Giáo hội Tây Ban Nha đi tiên phong trong việc mừng lễ Thánh Danh Maria, và được Toà thánh phê chuẩn năm 1513. Đức Innocentê XI truyền dạy mừng lễ này khắp Giáo hội năm 1683 để cảm tạ Mẹ trợ phù Gioan Sobieski, vua Balan, chiến thắng quân Hồi Thổ Nhĩ Kỳ tại Vienna, và được mừng ngày 12 tháng 9, sau lễ Sinh nhật Đức Mẹ bốn ngày, cũng là ngày chiến thắng Vienna.

Lễ Thánh Danh Mẹ chỉ là lễ thường, nên đã bị bãi bỏ năm 1970, nhưng năm 1975 được hồi phục là một lễ Votiva (ngoại lịch).

XI. LỜI CÁC THÁNH

- Thánh Êphrem: Danh Thánh Maria là chìa khoá mở cửa Thiên đàng.

- Thánh Ambrôsiô: Lạy Maria, Thánh Danh Mẹ là một thuốc dầu quí giá toả hương ơn Thánh Chúa. Xin Mẹ cho thuốc dầu Cứu rỗi vào tận thẳm cung trong linh hồn chúng con.

- Thánh Phêrô Kim ngôn: Danh Thánh Maria biểu lộ đức Trinh khiết.

- Thánh Isiđôrô Sévilla: Maria có nghĩa là Ánh sáng, vì bởi Mẹ sinh ra Chúa Kitô là Ánh sáng thế gian.

- Thánh Germanô: Lạy Mẹ Thiên Chúa, ước chi Thánh Danh Mẹ là tiếng sau cùng phát ra từ môi miệng con.

- Như hơi thở không những là một dấu hiệu, mà còn là căn do của sự sống, Danh Thánh Maria luôn trên môi miệng những tôi tớ Thiên Chúa, chứng tỏ rằng họ thực sự sống động, đồng thời phát sinh và gìn giữ sự sống của họ và cứu giúp họ mọi lúc.

- Thánh Mêthôđiô: Lạy Mẹ Thiên Chúa, Thánh Danh Mẹ tràn đầy ơn thánh và phúc lành của Thiên Chúa.

- Thánh Antôn: Danh Thánh Maria là niềm vui trong cõi lòng, là mật ngọt trong miệng, là âm điệu vui tai của những tôi tớ Mẹ.

- Thánh Bônaventura: Lạy Mẹ Maria, Thánh Danh Mẹ huy hoàng tuyệt diệu, vì những người kêu tên Mẹ lúc chết không phải sợ mọi quyền lực của hoả ngục. Người ta không sợ đạo binh thù địch hùng mạnh như những quyền lực hoả ngục sợ Danh Thánh Mẹ và sự che chở của Mẹ.

- Như sáp tan chảy trước lửa, ma quỉ mất ngụy lực đối với những linh hồn tưởng nhớ và sốt sắng kêu cầu Thánh Danh Mẹ.

- Danh Thánh này ngọt ngào rất xứng với một Trinh Nữ thánh thiện dịu dàng, vì Maria có nghĩa là Biển đắng, là Sao biển, là Đấng sáng soi. Maria được hiểu là Bà Chúa. Maria là Biển đắng cho ma quỉ, là Sao biển cho người đời, là Đấng sáng soi cho các thiên thần, là Bà Chúa mọi thụ tạo.

- Thánh Tôma: Maria có nghĩa là Sao biển, vì như thuỷ thủ được sao biển hướng dẫn vào hải cảng, các Kitô hữu tới vinh quang nhờ sự cầu bầu Hiền Mẫu của Mẹ Maria.

- Chân phúc Henri Susô, C.P.: Khi đọc tên Mẹ Maria, tôi cảm thấy bừng lên tình mến và niềm vui đến nỗi trong nước mắt sung sướng tôi đọc tên cao đẹp này, tôi cảm thấy tim tôi như thoát ra khỏi ngực, vì tên dịu ngọt này giống như tảng mật ong tan ra trong chiều sâu thẳng của linh hồn tôi.

- Thánh Bênađinô: Lạy Đức Nữ Trinh vinh hiển, xin Mẹ cho con sức mạnh, tài năng và lợi khẩu để con loan truyền vinh quang của Thánh Danh Mẹ cho giáo dân và con cái của Mẹ.

- Thánh Antôninô: Thánh Danh Maria là niềm vui cho tim con, là mật ong cho môi miệng con, là nhạc điệu cho tai con.

- Thánh Tôma Kempi: Quỉ dữ khiếp sợ Nữ Vương thiên đàng đến độ khi nghe tên Mẹ, chúng trốn chạy như bị lửa hồng.

- Thánh Canisiô: Sau tên rất thánh và rất đáng kính của Chúa Giêsu, không có tên nào vinh hiển và quyền năng hơn tên Mẹ Maria. Khi nói đến tên này, các thiên thần vui mừng, các quỉ dữ run giùng. Kêu xin tên này, các tội nhân được ơn phúc và ơn tha thứ.

- Thánh Lêonarđô Fort Maurice: Thường tên ngọt ngào Mẹ Maria đọc trên môi, bạn phải hình dung một kỳ công của quyền năng Thiên Chúa, rất tuyệt hảo và tuyệt vời đến nỗi cánh tay Đấng Toàn năng không thể tác tạo sự gì hoàn hảo hơn trong mẫu mực một thụ tạo tinh tuyền.

http://tinmung.net/TRANG%20CUA%20ME%20MARIA/Cac-Le-Ve-Me/Thanh-Danh-Me-12-9/ThanhDanhMe_INDEX.htm