Trang

Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2026

ĐẤT NƯỚC – MỘT CÁCH GỌI, MỘT MINH TRIẾT

 

ĐẤT NƯỚC – MỘT CÁCH GỌI, MỘT MINH TRIẾT

avatarMichel Nguyễn Hạnh
WHĐ (20/02/2026) – Dưới ánh sáng Việt triết, “đất nước” có cấu trúc Từ – Tượng – Số – Chế. Nhưng nếu soi dưới ánh sáng đức tin Kitô giáo, ta còn thấy một chiều kích thần học: đất và nước không chỉ là điều kiện sinh tồn, mà còn là thụ tạo vật của Thiên Chúa và dấu chỉ của ơn cứu độ.

Khi người Việt nói “đất nước”, ta thường không để ý rằng mình đang diễn đạt cả một thế giới quan. Hai tiếng ấy giản dị đến mức tưởng như vốn dĩ phải thế. Nhưng nếu đặt cạnh những cách gọi khác như “quốc gia”, “state”, “nation” hay 國 (quốc), ta sẽ nhận ra: “đất nước” không chỉ là một thuật ngữ chính trị. Đó là một cảm thức sống.

Dưới ánh sáng Việt triết, “đất nước” có cấu trúc Từ – Tượng – Số – Chế. Nhưng nếu soi dưới ánh sáng đức tin Kitô giáo, ta còn thấy một chiều kích thần học: đất và nước không chỉ là điều kiện sinh tồn, mà còn là thụ tạo vật của Thiên Chúa và dấu chỉ của ơn cứu độ.

1. Đất – Công trình sáng tạo và phẩm giá con người

Trong Thánh Kinh, đất không chỉ là vật chất. Đất gắn với nguồn gốc của con người:

“ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.” (St 2,7)

Con người được nắn từ đất, nhưng được ban hơi thở của Thiên Chúa. Điều đó cho thấy: đất không hề thấp hèn; đất là nền tảng của phẩm giá.

Sách Sáng thế còn xác quyết:

“Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu.” (St 1,31)

Như vậy, đất – và toàn thể thế giới vật chất – không phải là thứ để khai thác vô hạn, nhưng là thụ tạo tốt lành, đáng được gìn giữ.

Sách Sáng thế cũng ghi:

“Thiên Chúa phán với họ: "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời, và mọi giống vật bò trên mặt đất.” (St 1,28)

Quyền “làm chủ” ở đây không phải là thống trị theo nghĩa áp đặt, nhưng là quản lý trong tinh thần trách nhiệm.

Vì thế, yêu “đất nước” dưới ánh sáng đức tin không chỉ là yêu quê hương, mà còn là tham dự vào sứ mạng gìn giữ công trình sáng tạo.

2. Nước – Dấu chỉ của sự sống và tái sinh

Nếu đất gợi nhớ về nguồn gốc, thì nước gợi mở sự sống mới.

Ngay từ đầu Thánh kinh đã viết:

“Đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước.” (St 1,2)

Nước ở đây là môi trường khởi đầu của công trình sáng tạo.

Sang Tân ước, nước trở thành dấu chỉ của ơn cứu độ:

“Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.” (Ga 3,5)

Nước ở đây là Bí tích Thánh tẩy – điểm khởi đầu của đời sống mới.

Giáo lý Hội thánh dạy:

“Bí tích Thánh tẩy là nền tảng của toàn bộ đời sống Kitô hữu, là cổng vào đời sống thiêng liêng và là cửa mở ra để lãnh nhận các bí tích khác.” (GLHTCG, số 1213)

Vì thế, nước mang chiều kích siêu nhiên: thanh tẩy, tái sinh và dẫn con người vào cộng đoàn cứu độ.

Nếu Việt Triết nhìn nước như yếu tố dưỡng sinh, thì Đức Tin nhìn nước như dấu chỉ của sự tái sinh.

3. Đất nước và đức ái công dân

Đức Tin Kitô giáo không tách rời đời sống trần thế. Thánh Phaolô viết:

“Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập.” (Rm 13,1)

Nhưng đồng thời, Chúa Giêsu cũng dạy:

“Của Xêda, trả về Xêda; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa.” (Mt 22,21)

Hai lời ấy cho thấy: yêu đất nước không hề mâu thuẫn với đức tin, nhưng cũng không đồng nghĩa với việc thần thánh hóa quốc gia.

Giáo lý Hội thánh dạy:

“Người công dân phải góp phần với chính quyền để mưu ích cho xã hội trong tinh thần tôn trọng chân lý, công bằng, liên đới và tự do. Lòng yêu mến và phục vụ Tổ Quốc phát xuất từ bổn phận tri ân và đòi hỏi của đức ái. Nhiệm vụ tùng phục quyền bính hợp pháp và phục vụ công ích đòi hỏi người công dân chu toàn vai trò của mình trong đời sống của cộng đồng chính trị.” (GLHTCG, số 2239)

Vì thế, yêu đất nước là một bổn phận luân lý. Tuy nhiên, tình yêu ấy phải được đặt trong trật tự của công bằng và bác ái, để không rơi vào cực đoan, cũng không đánh mất phẩm giá con người.

4. Chiều kích phổ quát: Quê hương trần thế và quê hương vĩnh cửu

Thánh Phaolô nhắc nhở:

“Còn chúng ta, quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta.” (Pl 3,20)

Đức tin Kitô giáo cho thấy mọi đất nước trần gian đều hữu hạn. Con người sống giữa đời này như người lữ hành, đang đi về một quê hương vĩnh cửu.

Nhưng chính vì thế, tình yêu đất nước càng trở nên trong sáng hơn: ta yêu như đón nhận một hồng ân được trao phó trong thời gian, chứ không tôn nó thành thần tượng tuyệt đối.

5. Gặp gỡ giữa Việt triết và đức tin

Việt triết nhìn đất và nước như nền tảng của sự sinh tồn, như một cấu trúc song hành dưỡng sinh nâng đỡ đời sống con người.

Đức tin nhìn đất và nước như những thụ tạo vật tốt lành, đồng thời là dấu chỉ của ơn cứu độ.

Hai cách nhìn ấy gặp nhau ở một điểm căn bản: con người không đứng trên đất nước như chủ nhân tuyệt đối, mà thuộc về đất nước như người quản lý có trách nhiệm.

Nếu quốc gia chỉ được hiểu như một cấu trúc quyền lực, ta dễ quên chiều kích sinh thái. Nhưng khi quốc gia được cảm nhận như “đất nước”, và được soi sáng bởi đức tin, ta còn nhớ rằng: đất là quà tặng của Thiên Chúa, nước là dấu chỉ của sự tái sinh.

Yêu đất nước, vì thế, là sống đức ái một cách cụ thể trong lịch sử.

6. Kết luận

Theo Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Paulus Huỳnh Tịnh Của (Nhà in Rey, Curiol & Cie, Sài Gòn, 1895, tome I, tr. 279), “đất nước” đồng nghĩa với “xứ sở”.

Trong Việt triết, đó là cấu trúc sinh thái song hành nâng đỡ sự sống.

Trong đức tin Kitô giáo, đó là công trình sáng tạo và cũng là dấu chỉ của ơn cứu độ.

Vì thế, khi người Kitô hữu Việt Nam nói “yêu đất nước”, họ không chỉ nói về lòng yêu quê hương. Họ đang nói về lòng biết ơn Đấng Tạo Hóa, về trách nhiệm gìn giữ công trình sáng tạo, và về hành trình tiến bước về quê hương vĩnh cửu.

“Đất nước” – trong chiều sâu ấy – vừa là nơi ta đang đứng,

vừa là nơi ta được mời gọi sống trung thành,

và cũng là nơi ta học cách hướng về Trời.

Michel Nguyễn Hạnh

Mồng Bốn tết Bính Ngọ - ngày 20/02/2026

BÀI 6 - MẦU NHIỆM GIÁO HỘI, BÍ TÍCH CỦA SỰ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA VÀ SỰ HỢP NHẤT CỦA TOÀN THỂ NHÂN LOẠI - GIÁO LÝ VỀ CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II (18/02/2026):

 

GIÁO LÝ VỀ CÔNG ĐỒNG VATICANÔ II (18/02/2026): BÀI 6 - MẦU NHIỆM GIÁO HỘI, BÍ TÍCH CỦA SỰ HIỆP NHẤT VỚI THIÊN CHÚA VÀ SỰ HỢP NHẤT CỦA TOÀN THỂ NHÂN LOẠI

avatarVatican News
Giáo lý về Công đồng Vaticanô II: Phần II. Hiến chế tín lý Lumen gentium. Bài 6. Mầu nhiệm Giáo hội, bí tích của sự hiệp nhất với Thiên Chúa và sự hợp nhất của toàn thể nhân loại

Vatican News (18/02/2026) - Trong bài giáo lý tại buổi Tiếp kiến chung sáng thứ Tư ngày 18/02/2026, Đức Thánh cha Lêô XIV bắt đầu suy tư về Hiến chế Tín lý "Lumen gentium". Văn kiện này trình bày Giáo hội vừa là dấu hiệu vừa là công cụ của kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Là dấu hiệu bởi vì cộng đồng Giáo hội làm cho sự hiệp nhất do Chúa Kitô thiết lập qua Thánh giá và sự Phục sinh của Người trở nên hữu hình cho thế giới ngày nay. Là công cụ bởi vì qua Giáo hội, Thiên Chúa hiệp nhất mọi người với Người và với nhau.

Thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Côlôxê (Cl 1,15.18.19-20):

 [Đức Kitô] là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình. [...] Người cũng là Đầu của Thân Thể, tức là Hội Thánh. [...] Vì Thiên Chúa đã muốn cho toàn thể sự viên mãn cư ngụ nơi Người, và nhờ Người, cũng như vì Người, mà làm cho muôn loài được hòa giải với mình, khi đem lại bình an nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, cho cả những gì dưới đất cũng như những gì trên trời.

Sau đây là toàn văn bài giáo lý của Đức Thánh Cha:

ĐỨC THÁNH CHA LÊÔ XIV

TIẾP KIẾN CHUNG

Quảng trường Thánh Phêrô

Thứ Tư, 18 tháng 02 năm 2026

[Đa phương tiện]

Anh chị em thân mến, chào anh chị em và chúc anh chị em một ngày tốt lành!

Công đồng Vaticanô II mà chúng ta đang dành các bài giáo lý để tìm hiểu các văn kiện, khi muốn mô tả Giáo hội thì trước hết đã quan tâm đến việc giải thích Giáo hội bắt nguồn từ đâu. Để làm điều đó, trong Hiến chế tín lý Lumen gentium, Ánh sáng muôn dân, được phê chuẩn ngày 21 tháng 11 năm 1964, Công đồng đã mượn hạn từ “mầu nhiệm” trong các Thư của Thánh Phaolô. Khi chọn từ này, Công đồng không muốn nói rằng Giáo hội là điều gì đó tối tăm hay không thể hiểu được, như người ta thường nghĩ khi nghe đến chữ “mầu nhiệm”. Sự thực hoàn toàn không phải vậy: khi Thánh Phaolô sử dụng từ này, đặc biệt trong Thư gửi tín hữu Êphêsô, ngài muốn chỉ một thực tại trước kia còn ẩn giấu nhưng nay đã được tỏ lộ.

Kế hoạch của Thiên Chúa: quy tụ muôn loài nhờ sự chết và sống lại của Đức Giêsu

Đó là kế hoạch của Thiên Chúa với một mục đích: quy tụ muôn loài nên một nhờ hành động hòa giải của Đức Giêsu Kitô, hành động được thực hiện trong cái chết của Người trên thập giá. Điều này trước hết được cảm nghiệm trong cộng đoàn tụ họp để cử hành phụng vụ: trong đó những khác biệt được đặt vào đúng vị trí tương đối, điều quan trọng là cùng nhau hiện diện vì được tình yêu của Đức Kitô thu hút, Người là Đấng đã phá đổ bức tường ngăn cách giữa các cá nhân và các nhóm xã hội (x. Ep 2,14). Đối với Thánh Phaolô, “mầu nhiệm” là sự biểu lộ điều Thiên Chúa đã muốn thực hiện cho toàn thể nhân loại; điều này được nhận biết trong những kinh nghiệm địa phương, và dần dần mở rộng để bao gồm mọi con người và thậm chí cả vũ trụ.

Giáo hội: cộng đoàn những người nhận biết mình được kêu gọi quy tụ với nhau

Nhân loại ở trong tình trạng bị phân mảnh không thể tự mình hàn gắn, dù trong lòng họ luôn có khát vọng hướng tới hiệp nhất. Chính trong hoàn cảnh đó, Đức Giêsu Kitô ra tay can thiệp: nhờ Chúa Thánh Thần, Người chiến thắng các lực lượng gây chia rẽ và chính Kẻ Chia Rẽ. Việc cùng nhau cử hành, sau khi đã tin vào lời loan báo Tin mừng, được cảm nhận như sự lôi cuốn phát xuất từ thập giá Đức Kitô, đó chính là biểu lộ tối cao của tình yêu Thiên Chúa; đó là cảm nhận mình được Thiên Chúa triệu tập lại với nhau. Vì thế người ta dùng thuật ngữ ekklesía, nghĩa là cộng đoàn những người nhận biết mình được kêu gọi quy tụ. Như vậy có một sự tương hợp nào đó giữa mầu nhiệm này và Giáo hội: Giáo hội chính là mầu nhiệm được làm cho có thể cảm nhận được.

Giáo hội là dấu chỉ và công cụ kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa

Sự triệu tập này, vì được Thiên Chúa thực hiện, không thể chỉ giới hạn trong một nhóm người, nhưng được định hướng trở thành kinh nghiệm của toàn thể nhân loại. Vì thế, ngay đầu Hiến chế Lumen gentium, Công đồng Vaticanô II đã khẳng định: “Giáo hội, trong Đức Kitô, một cách nào đó chính là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và công cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại (số 1). Khi sử dụng thuật ngữ “bí tích” và lời giải thích kèm theo, Công đồng muốn nói rằng Giáo hội trong lịch sử nhân loại là sự diễn tả điều Thiên Chúa muốn thực hiện; vì thế, khi nhìn vào Giáo hội, người ta phần nào nhận ra kế hoạch của Thiên Chúa, tức là mầu nhiệm của Chúa: theo nghĩa đó, Giáo hội là dấu chỉ. Hơn nữa, bên cạnh từ “bí tích” còn thêm từ “công cụ”, để cho thấy Giáo hội là một dấu chỉ năng động. Thật vậy, khi Thiên Chúa hoạt động trong lịch sử, Người lôi cuốn chính những con người là đối tượng hành động của mình vào hoạt động của Người. Chính nhờ Giáo hội mà Thiên Chúa đạt tới mục tiêu kết hợp con người với Người và quy tụ họ lại với nhau.

Sự hiệp nhất với Thiên Chúa được phản chiếu trong sự hiệp nhất giữa con người với nhau

Sự hiệp nhất với Thiên Chúa được phản chiếu trong sự hiệp nhất giữa con người với nhau. Đó chính là kinh nghiệm cứu độ. Không phải ngẫu nhiên mà trong Hiến chế Lumen gentium, ở chương VII nói về đặc tính cánh chung của Giáo hội lữ hành, tại số 48, một lần nữa Giáo hội được mô tả như bí tích, với sự xác định là “bí tích cứu độ”. Công đồng dạy: “Thật vậy, Đức Kitô, khi được nâng lên khỏi đất, đã kéo mọi người lên cùng Người (x. Ga 12,32); khi sống lại từ cõi chết (x. Rm 6,9), Người đã ban cho các Tông đồ Thần Khí ban sự sống của Người, và nhờ Người, đã thiết lập Thân thể của mình là Giáo hội như bí tích phổ quát của ơn cứu độ; ngự bên hữu Chúa Cha, Người không ngừng hoạt động trong thế gian để dẫn đưa loài người đến với Giáo hội và nhờ Giáo hội mà kết hợp họ mật thiết hơn với Người, và làm cho họ được thông phần vào sự sống vinh quang của Người nhờ được nuôi dưỡng bằng chính Mình và Máu Người”.

Giáo hội là sự hiện diện hòa giải giữa các dân tộc

Bản văn này giúp chúng ta hiểu mối tương quan giữa hành động hiệp nhất của mầu nhiệm Vượt qua của Đức Giêsu - mầu nhiệm Thương khó, Tử nạn và Phục sinh - và căn tính của Giáo hội. Đồng thời, bản văn cũng làm cho chúng ta biết ơn vì được thuộc về Giáo hội, Thân thể của Đức Kitô Phục sinh và là dân duy nhất của Thiên Chúa đang lữ hành trong lịch sử, sống như sự hiện diện thánh hóa giữa một nhân loại còn phân mảnh, như dấu chỉ hữu hiệu về sự hiệp nhất và hòa giải giữa các dân tộc.

Buổi Tiếp kiến kết thúc với kinh Lạy Cha và phép lành Đức Thánh Cha ban cho mọi người.

Nguồn: vaticannews.va/vi