ĐỨC MARIA, TẤM GƯƠNG CHO GIÁO HỘI (2)
CHƯƠNG 6: HỠI BÀ, NÀY LÀ CON BÀ - MARIA, MẸ CÁC TÍN HỮU
Trong chương này, chúng ta suy tư phần thứ hai đoạn Tin mừng theo thánh Gioan: “Vậy Ðức Giêsu thấy Mẹ Ngài và môn đồ Ngài yêu mến đứng bên cạnh, thì Ngài nói với Mẹ: “Hỡi Bà, này là con Bà”. Ðoạn lại nói với môn đồ: “Này là Mẹ con!”. Và từ giờ đó, môn đồ đã lãnh nhận Bà về nhà mình” (Ga 19, 26 – 27).
Trong phần suy nghĩ về Ðức Maria trong mầu nhiệm Nhập thể, chúng ta đã chiêm ngắm Ðức Maria là Mẹ Thiên Chúa ; trong suy tư về Ðức Maria trong mầu nhiệm Vượt qua, chúng ta muốn chiêm ngắm Ðức Maria là Mẹ các tín hữu và là Mẹ chúng ta.
“Mỗi người hãy sống theo ân sủng đã lãnh nhận”
Chúng ta cần xác định ngay từ đầu rằng, hai tước hiệu hay hai chân lý được bàn đến không nằm trên cùng một bình diện. “Mẹ Thiên Chúa” là một tước hiệu được định tín cách long trọng, dựa trên mẫu tính thực (maternité réelle) chứ không chỉ trên mẫu tính tinh thần (maternité spirituelle) ; tước hiệu này liên hệ cách chặt chẽ và tất yếu với chân lý trung tâm của đức tin chúng ta, chân lý đó là: Ðức Giêsu là Thiên Chúa và là người trong chỉ cùng một ngôi vị. Tước hiệu này được chấp nhận trong toàn Giáo hội. “Mẹ các tín hữu” hay “Mẹ chúng ta” liên hệ đến mẫu tính tinh thần. Mối liên hệ với chân lý trung tâm của Kinh Tin Kính ít chặt chẽ hơn. Không thể nói rằng, trong Kitô giáo, tước hiệu này đã được đón nhận “khắp nơi, mọi thời và bởi mọi người”. Nó biểu thị giáo lý và lòng đạo đức của một số, đặc biệt là Giáo hội Công Giáo, nhưng không phải chỉ Giáo hội Công Giáo mà thôi.
Thánh Augustinô giúp chúng ta phân biệt rõ những dị đồng giữa hai vai trò làm Mẹ của Ðức Maria: “Ðức Maria, về mặt thể xác, chỉ là Mẹ Ðức Kitô, trong khi về mặt tinh thần, bởi Người đã thi hành Thánh ý Thiên Chúa, nên Người là chị em và là Mẹ Ðức Giêsu, là Mẹ về mặt tinh thần, nhưng Người không đóng vai trò đó đối với Ðầu là chính Ðấng Cứu Thế, mà đúng hơn, Người là con của Ðầu xét về mặt tinh thần. Người chắc chắn là Mẹ về mặt tinh thần của các chi thể là chúng ta, bởi lẽ Mẹ đã cộng tác, bằng lòng mến, vào việc sinh ra các tín hữu trong Giáo hội, những chi thể của Ðầu.”[100]
Sự khác biệt giữa hai tước hiệu của Ðức Maria, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ các tín hữu, được nhấn mạnh như thế cho thấy rằng, đối với tước hiệu thứ hai là tước hiệu phản ánh lòng đạo đức, sùng kính hơn là tín lý, thì việc chấp nhận một sự tự do nào đó đối với tước hiệu này giữa các Giáo hội Kitô là điều có thể, thậm chí, là đúng đắn nữa. Dù vẫn dựa trên Lời Chúa, nhưng đó không phải là một hệ quả buộc mọi người phải chấp nhận với cùng một mức độ mạnh mẽ, cùng một mức độ hiển nhiên. Trong phần suy niệm ở đây, chúng ta mong muốn khám phá ra tất cả sự phong phú hàm chứa trong tước hiệu này, và xem ơn sủng nào của Ðức Kitô, được biểu lộ qua tước hiệu đó: làm như thế chúng ta không những thêm cho Ðức Maria một vinh dự nữa, mà chính chúng ta cũng được xây dựng trong đức tin và được tăng triển trong việc noi theo Ðức Kitô. Phần suy niệm còn nhằm làm cho anh em Tin lành hiểu được tước hiệu này cũng như ý nghĩa của nó theo như người Công Giáo chúng ta hiểu, vì anh em Tin lành khó có thể chấp nhận tước hiệu này cũng như một số tước hiệu khác nói lên sự tham dự tích cực của Ðức Maria vào ơn cứu chuộc và vào đời sống của Giáo hội, ngay cả trong hiện tại.
Phải chăng đây là lúc cần nhắc lại một đoạn Kinh thánh về sự phân phối các ân lộc, hay các đoàn sủng (charismes) trong Thân Mình Ðức Kitô: “Mỗi người tùy theo ân lộc đã được, hãy lợi dụng mà phục vụ nhau như những người quản lý giỏi giang về ân sủng muôn hình vạn trạng của Thiên Chúa” (1P 4, 10). Lời này không chỉ áp dụng cho những nhân vật đặc biệt trong Giáo hội, mà còn áp dụng cho những nhóm, những trào lưu khác nhau, cho các Truyền thống hình thành trong lòng . Như thế, ý nghĩa của bản văn sẽ là: mỗi Giáo hội, tùy theo ân lộc đã được, hãy lợi dụng mà phục vụ nhau như những người quản lý giỏi giang về ân sủng quá sức lớn lao và sung mãn đến nỗi không thể rút lại thành độc “dạng”.
Một số hình thức tôn sùng Ðức Trinh Nữ Maria là một đoàn sủng, một ơn đặc biệt cho Giáo hội Công Giáo được Giáo hội Chính Thống chia sẻ phần lớn. Các Giáo hội này cần phải duy trì và phát triển những hình thức đặc biệt đó để các Kitô hữu khác cũng được hưởng nhờ, nhưng không vì thế mà đòi buộc họ phải chấp nhận thực hành như thế. Các Giáo hội Cải Cách lại được ân huệ đặc biệt đào sâu Lời Kinh thánh theo một cách thức nào đó, và ngày nay các Giáo hội Công Giáo và Chính Thống đang được hưởng nhờ.
Dựa vào Lời Chúa mà chúng ta vừa nhắc đến, có hai đòi hỏi đề ra cho chúng ta: trước hết, hãy sống ơn sủng đã lãnh nhận, làm cho nó sinh hoa kết quả, và sau đó đưa ra phục vụ tha nhân. Ðây chính là điều chúng tôi đề nghị thực hiện. Với cách nhìn như thế, tước hiệu Ðức Maria “Mẹ các tín hữu” tuy không phải là điều bắt buộc mọi người phải chấp nhận, nhưng tầm quan trọng của nó đối với chúng ta không vì thế mà suy giảm đi chút nào. Theo một nghĩa nào đó, nó còn tăng thêm phần quan trọng: chúng ta cũng chịu trách nhiệm về ân sủng đó đối với các anh em khác.
“Mọi người chúng ta đều sinh ra tại đó”
Tương tự như mẫu tính thể lý, mẫu tính tinh thần thể hiện qua hai giai đoạn và hai hành vi: thụ thai và sinh hạ. Mỗi giai đoạn tự nó không đủ. Ðức Maria đã trải qua hai giai đoạn đó. Người đã thụ thai và sinh hạ chúng ta cách thiêng liêng. Người đã thụ thai chúng ta, nghĩa là đã đón nhận chúng ta trong tâm hồn của Người, khi mà có thể ngay lúc truyền tin và chắc chắn về sau, lúc Ðức Giêsu dần dần tiến tới trong sứ mạng của Ngài, Người khám phá ra rằng Con của mình không phải như những đứa con khác, nghĩa là một cá nhân riêng lẻ, nhưng là “Trưởng tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8, 29), và chung quanh Ngài, một “số sót” tập hợp lại, làm thành một cộng đoàn.
Ðể tìm một hình ảnh tương tự, tuy chưa đúng tầm mức, tâm trí chúng ta nghĩ đến những bà mẹ của các Linh mục sáng lập hoạt động từ thiện, chẳng hạn như bà mẹ của Don Bosco, thấy những nhóm “bạn nhỏ”, “tụi nhóc đáng thương” kéo đến nhà mình ngày một đông, do chính con mình cầm đầu, lặng lẽ, không cần giải thích nhiều, các bà mẹ đó bắt đầu tự thích ứng với những đòi hỏi mới và bảo đảm cơm ăn, chốn ở, phí tổn nuôi dưỡng cho những đứa trẻ mới đến đó, như thể chúng là con ruột của mình.
Trong trường hợp Ðức Maria, điều đó còn sâu xa hơn rất nhiều. Về những kẻ mới đến này, những người mà Ðức Giêsu gọi là “anh em, chị em và Mẹ Ta”. Ngài nói: “Những gì các ngươi làm (cho cơm ăn,áo mặc, thăm viếng) cho một trong anh em hèn mọn nhất của Ta là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt 25, 40). Ðức Maria, trong thời gian đó, khi nghe hoặc được biết Con mình đã nói: “Hãy đến với Ta, hết thảy những ai lao đao vác nặng.” (Mt 11, 28) hẳn Người hiểu rằng, mình không thể lánh mặt hay từ chối đón nhận làm con tất cả những kẻ được Con mình mời đến, nếu không, Người sẽ không còn là Mẹ của Ngài về mặt tinh thần nữa.
Ðó là thời gian thụ thai, thời gian nói lên tiếng “xin vâng” của tâm hồn. Dưới chân Thập giá là giờ sinh hạ, Ðức Giêsu nói với Mẹ Ngài bằng tiếng “Hỡi Bà”. Tuy không thể khẳng định chắc chắn, nhưng vì biết thánh sử Gioan thường nói theo lối ẩn dụ, biểu trưng, gợi nhắc, nên chúng ta có thể nói rằng, lời này liên quan đến điều Ðức Giêsu từng nói: “Ðàn bà sinh con thì ưu phiền vì giờ của Bà đã đến”. Lời đó còn ám chỉ đến những gì sách Khải huyền nói về người đàn bà, ở đây trước tiên là Giáo hội, cộng đoàn Giao ước mới, sinh ra con người mới và thế giới mới, thì Ðức Maria được bao gồm trong đó trước hết, như là sự khởi đầu và là người đại diện cho cộng đoàn tín hữu đó. Giáo hội đã sớm nhận ra mối quan hệ gần gũi giữa Ðức Maria và người đàn bà khi nhìn Ðức Maria như là Evà mới, “Mẹ của chúng sinh mới” (thánh Irênê đã nhận ra điều đó, mà ngài là môn đệ của Polycarpe, và vị này lại là môn đệ của Gioan).
Giờ đây chúng ta nhìn vào bản văn của Gioan, xem ngài có thể soi sáng về điểm này như thế nào. Lời của Ðức Giêsu nói với Ðức Maria “Hỡi Bà, này là con Bà”, và với Gioan “Này là Mẹ con” trước tiên có một nghĩa trực tiếp và cụ thể. Chúng ta không nên vội lướt qua ý nghĩa trực tiếp này: Ở đây ta khám phá thấy một khía cạnh quan trọng trong hành trình thiêng liêng của Mẹ Thiên Chúa. Một lần nữa, ta thấy Người như khách kiều cư lữ thứ trong thế giới này, không mái ấm, không nơi ở thực sự là của mình trên trần gian. Người để cho Thiên Chúa “đặt định” thời gian sinh Con, khi Lời Chúa đặt Người vào trong hoàn cảnh hoàn toàn cô đơn trước mọi người, Thiên Chúa yêu cầu Giuse đón nhận Ðức Maria: “Giuse, con của Ðavít, ngươi chớ sợ cưới Maria vợ ngươi về nhà” (Mt 1, 20). Tỉnh giấc, Giuse đã đem Người về nhà mình. Giờ đây, lúc Con chết, một lần nữa Người lại đơn độc trong cuộc đời. Thiên Chúa yêu cầu Gioan đem Người về nhà mình và “Gioan từ giờ ấy đã lãnh lấy Bà về nhà mình”. Maria quả là người phụ nữ lênh đênh, không bám vào đâu cả, từ đầu đến cuối, Người để cho Thiên Chúa quyết định cuộc đời mình. Ðối với chúng ta, Người như hiện thân của nghèo khó, “Ðức Bà Nghèo khó”.
Tuy nhiên, điều này chưa phải đã nói hết ý nghĩa cảnh tượng đó. Khoa chú giải hiện đại, nhờ những tiến bộ lớn lao trong hiểu biết về ngôn ngữ cũng như về những kiểu diễn tả của Tin mừng thứ tư, đã xác tín về điều đó còn hơn thời các Giáo phụ. Nếu chỉ dùng một chìa khoá duy nhất để hiểu đoạn văn này, coi đó như những lời trăn trối cuối cùng thì, như người ta nói, bản văn trở thành như “một con cá bắt ra khỏi nước”, không hòa hợp với văn mạch. Ðối với Gioan, giờ chết là Giờ tôn vinh Ðức Giêsu, Giờ hoàn tất trọn vẹn Kinh thánh, hoàn tất mọi sự. Ngay trước những lời liên quan đến Ðức Maria, Gioan nói đến tước hiệu “Vua dân Dothái” với ám chỉ rõ ràng đến nghĩa tiên tri và nghĩa viên mãn của nó. Ngài nói đến chiếc áo chùng không có đường khâu (x. Ga 19, 23), gợi lại chiếc áo chùng của Vị Thượng Tế, vì áo đó cũng được dệt liền mảnh (Xh 28, 31), và gợi lại sự hoàn tất lời tiên tri. Ngay sau những lời đó, ta đọc thấy Ðức Giêsu “phó thác Thần Khí”, nghĩa là Ngài tắt thở nhưng cũng có nghĩa là Ngài sai Thánh Thần, như lời ghi chú tiếp theo sau về máu và nước chảy ra từ cạnh sườn cho thấy rõ điều đó. Thư thứ nhất của thánh Gioan làm sáng tỏ: “Có ba nhân chứng: Thần Khí, nước và máu” (1Ga 5, 7 – 8). Cạnh sườn khai mở ám chỉ lời tiên tri Êzêkiel: nước hằng sống trào ra từ bên hông Ðền Thờ mới (x. Ez 47, 1tt). Chính Ðức Giêsu từng nói về thân mình Ngài bị phá hủy như về Ðền Thờ mới (x. Ga 2, 19tt).
Toàn văn mạch cho thấy rõ, bản văn sẽ bị giải thích cách gượng ép nếu người ta chỉ muốn thấy trong đó một nghĩa riêng tư, cá nhân, thay vì, cùng với lối chú giải Truyền thống, nhận ra rằng bản văn mang một nghĩa phổ quát, nghĩa Giáo hội rõ rệt hơn, có liên hệ với khuôn mặt người “đàn bà” trong Khởi Nguyên 3, 15 và trong Khải huyền 12. Nghĩa Giáo hội của bản văn đó là: người môn đệ ở đây không chỉ là Gioan, nhưng là người môn đệ, trong tư cách là môn đệ Ðức Giêsu, thực tế là mọi môn đệ. Ðức Giêsu trong cơn hấp hối trao họ cho Ðức Maria để họ nên con của Người, và trao Ðức Maria cho họ, để Người nên Mẹ của họ.
Lời của Ðức Giêsu có khi mô tả một thực tại đã có, Mạc khải điều đang hiện diện ; có khi ngược lại, Lời của Ngài sáng tạo, làm cho hiện hữu điều mà nó diễn tả. Những lời của Ðức Giêsu lúc hấp hối nói với Maria và với Gioan thuộc vào loại thứ hai này. Khi nói: “Này là Mình Thầy”. Ðức Giêsu biến bánh trở thành Thân Mình Ngài. Cũng thế – tuy vẫn có tất cả những khác biệt – khi nói: “Này là Mẹ con” và “Này là con Bà”, Ðức Giêsu đã làm cho Ðức Maria nên Mẹ của Gioan, và Gioan nên con của Ðức Maria. Ðức Giêsu không công bố vai trò làm Mẹ mới của Ðức Maria, nhưng đã thiết lập vai trò làm Mẹ đó. Vai trò làm Mẹ này không bởi Ðức Maria, nhưng bởi Lời Chúa, không dựa trên công phúc, nhưng là trên ân sủng.
Như thế, dưới chân Thập giá, Ðức Maria xuất hiện như là Nữ Tử Sion, sau khi chịu tang các con mình, đã được Thiên Chúa ban cho một dòng dõi mới, không theo xác thịt nhưng theo Thần Khí, một dòng dõi đông hơn dòng dõi ban đầu. Ðây là điều mà một Thánh vịnh được Phụng vụ áp dụng cho Ðức Maria nói lên: “Kìa xứ Philitinh, thành Tyr cùng miền Ethiopi, tại đó kẻ này người nọ đã sinh ra”. Nhưng về Sion, người ta có thể nói: “Người người sinh tại đó .” Chúa ghi vào sổ bộ các dân: “Kẻ này người nọ đều sinh ra tại đó” (Tv 87, 2tt). Ðúng vậy: tất cả chúng ta đều sinh ra tại đó, mọi người đã sinh ra. Về tôi, về bạn.
Phải chăng chúng ta đã không “được tái sinh nhờ Lời Hằng Sống và vĩnh cửu của Thiên Chúa” (x. 1P 1, 23)? Phải chăng chúng ta đã không sinh ra “do bởi Thiên Chúa” (Ga 1, 13)? Không tái sinh “bởi nước và Thần Khí” (Yn, 5)? Hẳn rồi! Nhưng điều đó không loại trừ việc chúng ta còn được sinh ra bởi lòng tin và nỗi đau khổ của Ðức Maria, theo một nghĩa khác, nghĩa tùng phục và nghĩa dụng cụ. Nếu Thánh Phaolô, là tôi tớ và là tông đồ của Ðức Kitô, có thể nói với các tín hữu của ngài: “Nhờ Tin mừng, chính tôi đã sinh ra anh em trong Ðức Giêsu Kitô” (1Cr 4, 15), thì Ðức Maria còn có lý gấp mấy để nói như thế, vì Người là Mẹ của họ: “Này con cái của tôi, những kẻ tôi đã phải quặn đau mà sinh ra” (Ga 4, 19)? Ai có thể nói lời đó của thánh Tông đồ đúng hơn Ðức Maria? Người sinh chúng ta “một lần nữa” dưới chân Thập giá, bởi lẽ Người đã sinh chúng ta lần đầu tiên, không phải trong quặn đau mà là trong vui mừng khi Người sinh cho đời “Lời Hằng Sống và vĩnh cửu” là Ðức Kitô, trong Ngài, chúng ta được tái sinh.
Các Lời Thiên Chúa hứa không liên hệ đến những điều trừu tượng, đến các thành phố hay các bức tường, nhưng dành cho những con người cụ thể mà các biểu tượng hay hình ảnh biểu thị. Vậy nếu liên hệ đến những con người cụ thể thì những lời đó ứng nghiệm nơi ai rõ ràng nhất nếu không phải là nơi Ðức Maria, Nữ Tử Sion khiêm hạ, khởi đầu của “số sót”, ngay cả trên bình diện niên biểu – những người mà Thánh Phaolô nói: “Các lời hứa đã được dành cho họ” (x. Rm 11, 5tt)?
Vậy, như chúng ta đã áp dụng cho Ðức Maria khúc Ai ca về Sion bị tàn phá, phải uống chén nghĩa nộ của Thiên Chúa, giờ đây, tin vào khả năng chứa đựng và sự phong phú vô cùng của Lời Chúa, vốn vượt xa các lược đồ chú giải, chúng ta áp dụng cho Ðức Maria bài ca Sion được tái thiết sau lưu đày. Tròn mắt kinh ngạc khi nhìn thấy những đứa con mới của mình, Người kêu lên: “Những người ấy ai đã dưỡng dục”? (Ys 49, 21).
Áp dụng như thế không phải là chủ quan mà là khách quan, vì không dựa trên việc Ðức Maria lúc bấy giờ có nghĩ hay không nghĩ đến những lời ấy, do sự sắp xếp của Thiên Chúa, đã được thực hiện cách khách quan nơi Ðức Maria. Nhận ra được điều này là nhờ cách đọc Kinh thánh theo Thần Khí (lecture spirituelle), thực hiện trong Giáo hội và cùng với Giáo hội. Nếu không đặt mình trong điều kiện như thế, người ta sẽ không thể khám phá ra điều đó. Mất đi Thần Khí, người ta đành thỏa mãn với văn tự. Khoa giải thích hiện đại đã đưa ra một nguyên tắc rất hay: để hiểu một bản văn, người ta không thể không kể đến những gì mà nó tạo ra cũng như những âm vang nó có được trong lịch sử (Wirkungsgeschichte). Nguyên tắc này càng có giá trị hơn đới với các bản văn Kinh thánh: người ta chỉ có thể hiểu được các bản văn đó trong nội dung toàn thể cũng như các khả năng tiềm tàng của chúng nhờ tất cả những gì chúng đã tạo ra trong lịch sử, trước hết là nơi Israel và sau đó là nơi Giáo hội, nhờ ánh sáng và sức sống mà chúng làm tỏa phát. Ðiều này rất đúng, nhất là đối với những lời Kinh thánh như chúng ta đang tìm hiểu. “Lịch sử các ứng nghiệm” (histoire des réalisations) này được Giáo hội gọi là Truyền thống.
Tổng hợp về Ðức Maria của Công đồng Vatican II
Công đồng Vatican II đã đem lại một lối diễn đạt mới cho giáo lý Công Giáo Truyền thống về Ðức Maria, Mẹ các tín hữu. Giáo huấn về Ðức Maria được lồng vào một khung cảnh rộng lớn hơn, qua đó Ðức Maria được đặt vào trong lịch sử cứu độ và trong mầu nhiệm Ðức Kitô: “Vì muôn đời, Ðức Nữ Trinh đã được tiền định làm Mẹ Thiên Chúa cùng một lúc với việc Nhập thể của Ngôi Lời Thiên Chúa. Và theo chương trình của Chúa Quan Phòng trên trần gian, Ngài đã trở nên Mẹ cao trọng của Ðấng Cứu Chuộc thần linh, và cách đặc biệt hơn mọi người khác, Ngài là cộng sự viên quảng đại và tôi tá khiêm hạ của Chúa vì đã cưu mang, sinh hạ và nuôi dưỡng Chúa Kitô, đã dâng Chúa Kitô lên Chúa Cha trong Ðền Thánh và cùng đau khổ với Con mình chết trên Thập giá. Ðức Maria đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Ðấng Cứu Thế, nhờ lòng vâng phục, nhờ đức tin, đức cậy và đức ái nồng nhiệt, để tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn. Bởi vậy trên bình diện ân sủng, Ngài thật là Mẹ chúng ta.[101] Và Công đồng lưu tâm xác định ý nghĩa vai trò làm Mẹ này của Ðức Maria: “Vai trò làm Mẹ của Ðức Maria đối với loài người không làm lu mờ hay giảm bớt vai trò trung gian duy nhất của Ðức Kitô chút nào, trái lại còn làm sáng tỏ mãnh lực của sự trung gian ấy. Vì mọi ảnh hưởng có sức cứu rỗi của Ðức Nữ Trinh trên nhân loại không phát sinh từ một sự cần thiết khách thể nào, nhưng từ ý định nhân lành của Thiên Chúa và bắt nguồn từ công nghiệp dư tràn của Chúa Kitô. Ảnh hưởng nương tựa và hoàn toàn tùy thuộc vào sự trung gian của Chúa Kitô, nguồn mạch mọi quyền lực của ảnh hưởng đó. Nhưng ảnh hưởng này không làm cản trở gì, trái lại còn giúp đỡ các tín hữu kết hiệp trực tiếp với Chúa Kitô”[102].
Bên cạnh tước hiệu Mẹ Thiên Chúa và Mẹ các tín hữu, một phạm trù căn bản khác được Công đồng sử dụng để minh họa vai trò của Ðức Maria, đó là phạm trù mẫu mực hay hình bóng: “Ðức Trinh Nữ, nhờ ân huệ và sứ mệnh làm Mẹ Thiên Chúa, nhờ đó Ngài được hiệp nhất với Con là Ðấng Cứu Chuộc, và nhờ các ơn và nhiệm vụ đặc biệt khác, Ngài còn kết hiệp mật thiết với Giáo hội, như thánh Ambrôsiô đã dạy, Mẹ Thiên Chúa là mẫu mực của Giáo hội trên bình diện đức tin, đức ái, và hiệp nhất hoàn hảo với Chúa Kitô”[103].
Nhờ những bản văn này soi sáng và qua những gì chúng ta đã nói cho đến lúc này, chúng ta có thể tóm tắt mối quan hệ kép của Ðức Maria với Ðức Giêsu và với Giáo hội. Với Ðức Giêsu, Người là “Mẹ và là môn đệ”. Với Giáo hội, Người là “Mẹ và là Thầy”, nghĩa là mẫu mực, khuôn mặt gương mẫu. Người quả thực có thể nói như thánh Phaolô, và còn hơn Phaolô nữa: “Anh em hãy theo gương tôi, cũng như tôi đối với Ðức Kitô” (1Cr 11, 1). Người quả là mẫu mực của chúng ta vì Người là môn đệ và là người noi theo Ðức Kitô cách hoàn hảo.
Ðiểm hết sức mới mẻ của giáo huấn về Ðức Maria chính là vị trí mà nó được lồng vào: Hiến chế Tín lý về Giáo hội. Làm được điều này, tuy không phải là không gặp những đau khổ, xâu xé như vẫn luôn xảy ra trong những trường hợp như vậy, Cồng Ðồng quả đã thực hiện một canh tân sâu xa về Thánh Mẫu học so với các thế kỷ trước. Khảo luận thần học về Ðức Maria không còn là một đề tài riêng lẻ, cách biệt, như thể nó chiếm một vị trí trung gian giữa Ðức Kitô và Giáo hội, nhưng được đưa trở lại vào lãnh vực Giáo hội như vào thời các Giáo phụ.[104] Thánh Augustinô từng nói đến điều đó: Ðức Maria là chi thể tuyệt hảo của Giáo hội, nhưng là một trong các chi thể của Giáo hội chứ không phải là người ở bên ngoài hay bên trên: “Ðức Maria thánh thiện, Ðức Maria đầy phúc, nhưng Giáo hội quan trọng hơn Ðức Maria. Vì sao? Vì Ðức Maria là một phần của Giáo hội, một chi thể thánh thiện, tuyệt vời, trỗi vượt trên mọi chi thể khác, thế nhưng vẫn là một chi thể của toàn thân thể. Nếu là một chi thể của toàn thân thì thân thể hiển nhiên quan trọng hơn một chi thể”[105].
Tuy vậy, Giáo hội vẫn làm nổi bật vai trò làm Mẹ Ðức Kitô như là mối quan hệ độc nhất vô nhị mà phần còn lại của Giáo hội không tham dự vào. Chương bàn về điểm này mang tựa đề: “Ðức Trinh Nữ Maria Mẹ Thiên Chúa trong mầu nhiệm Chúa Kitô và Giáo hội ”. Việc xác định rõ ràng như thế có tầm quan trọng của nó: không những trong mầu nhiệm Giáo hội, mà cả trong mầu nhiệm Ðức Kitô, Ngôi Lời Nhập thể.
Ngay sau Công đồng, Ðức Phaolô VI đã khai triển chủ đề mẫu tính của Ðức Maria, Mẹ các tín hữu. Ngài gán cho Ðức Maria tước hiệu Mẹ Giáo hội cách minh nhiên và long trọng: “Vì vinh danh Ðức Maria và vì niềm an ủi của chúng ta, chúng tôi tôn xưng Ðức Trinh Nữ Maria Rất Thánh là Mẹ Giáo hội, nghĩa là Mẹ của toàn Dân Chúa, của tín hữu cũng như của các Mục tử, những người gọi Ngài là Mẹ rất mến yêu. Và chúng tôi mong muốn từ nay, với tước hiệu rất dịu êm này. Ðức Trinh Nữ sẽ càng được toàn dân Kitô giáo tôn kính và khấn cầu hơn nữa”[106].
Ðức Maria, Mẹ các tín hữu trong viễn tượng đại kết
Giờ đây, chúng ta cố gắng tìm hiểu rõ hơn tước hiệu Mẹ các tín hữu và Mẹ Giáo hội của Ðức Maria khởi từ một số mẫu gương trong Kinh thánh, với hy vọng làm cho anh em Tin lành hiểu được niềm tin này của Giáo hội Công Giáo, không còn cảm thấy đó là điều gây vấp phạm.
Trước hết, tôi muốn làm sáng tỏ nguyên lý căn bản cho những suy tư dưới đây. Như chúng ta đã thấy, Ðức Maria được đặt vào trong Giáo hội cách căn bản, vì thế những phạm trù, những khẳng định Kinh thánh được dùng để soi sáng vấn đề là những phạm trù, khẳng định liên quan đến những con người làm thành , và được áp dụng cho Ðức Maria theo nghĩa mạnh hơn (a fortiori), hơn là những bản văn liên quan đến các ngôi vị Thiên Chúa hay Ðức Kitô được áp dụng cho Ðức Maria bằng cách “giảm trừ”. Chẳng hạn, để hiểu cách chính xác khái niệm tế nhị về sự trung gian của Ðức Maria trong công trình cứu độ, chúng ta khởi đi từ trung gian của thụ tạo, trung gian từ dưới (médiation par le bas), như trung gian của Abraham, của thánh Phaolô, của các tông đồ hơn là khởi đi từ trung gian thần nhân của Ðức Kitô (médiation humano-divine) và đó là điều hữu ích và hợp thời hơn. Khoảng cách lớn nhất không phải là khoảng cách giữa Ðức Maria với phần còn lại của Giáo hội, mà là khoảng cách giữa một bên là Ðức Maria và Giáo hội, với bên kia là Ðức Kitô và Ba Ngôi, hoặc khoảng cách giữa các thụ tạo với Ðấng Sáng Tạo. Xây dựng một Kitô học “từ dưới” (une Christologie par le bas), khởi từ con người thay vì từ Thiên Chúa là điều bất khả, thậm chí là nguy hiểm nữa, vì “không ai có thể lên trời ngoài Ðấng từ trời xuống” (x. Ga 13, 13). Không ai có thể xin cho Ðức Kitô phẩm vị Thiên Chúa, nếu ngay từ đầu Ngài không là Thiên Chúa. Người ta trở thành người chứ không trở thành Thiên Chúa được. Ngược lại, cố gắng xây dựng một Thánh Mẫu học từ dưới là điều có thể được, ngay cả là đúng đắn nữa. Ðã có một thời người ta dùng phương pháp diễn dịch để suy diễn ra tất cả các tước hiệu của Ðức Maria khởi từ một nguyên lý tín lý, chẳng hạn như “Ðầy ân sủng”, hoặc “Mẹ Thiên Chúa”. Nhưng dưới ánh sáng hiến chế của Công đồng Vatican II, chúng ta có thể đi con đường khác, dùng phương pháp qui nạp, khởi từ Lời Chúa.
Loại suy từ dưới (analogie par le bas) đầu tiên mà Kinh thánh đưa ra về Ðức Maria là loại suy từ Abraham. Chúng ta đã so sánh thoáng qua Abraham với Ðức Maria rất nhiều lần. Ðây là lúc chúng ta sử dụng so sánh đó cách thấu đáo hơn. Trong Tân ước, một điều lưu ý là Ðức Kitô không bao giờ được gọi là Abraham mới, trong khi Ngài nhận được tước hiệu Ysaac mới, Yacob mới, môsê mới, Aaron mới .v.v. Ysaac con của Abraham mới đúng là hình bóng của Ðức Kitô. Abraham không có nét tương ứng với Ðức Kitô mà là với Ðức Maria. Bởi được đặt làm Cha trong đức tin, ông là người tiêu biểu về đức tin: trong Tân ước, điều này không hề được qui cho Ðức Giêsu nhưng lại rất đúng với Ðức Maria, khi Người được tuyên bố là có phúc bởi đã tin (x. Lc 1, 45).
Sự so sánh giữa đức tin của Abraham với đức tin của Ðức Maria được phác họa trong chính trình thuật về truyền tin. Ðức Maria lưu ý thiên thần về tình trạng sống trinh khiết của mình, một tình trạng ngược lại với lời hứa. Người nhận được cùng một câu trả lời như Abraham sau khi Sara nêu cùng một nhận xét về sự già nua, son sẻ của mình. Sự đồng nhất giữa hai câu trả lời càng rõ hơn nữa trong bản LXX: “Với Thiên Chúa, nào có gì lại là không có thể”[107] (x. Lc 1, 37 ; Kn 18, 14).
Sự tương ứng còn nổi bật hơn nữa qua các sự kiện. Cuộc đời Abraham được đánh dấu bởi hai hành vi lớn của đức tin. Trước hết, bởi tin, Abraham đã tin tưởng vào Lời Thiên Chúa hứa rằng ông sẽ có một con trai, mặc dầu “ông đã nhìn đến thân xác chết cằn của mình và lòng dạ tàn cỗi của Sara” (Rm 4, 19 ; Hr 11, 11). Sau đó, “Bởi tin, Abraham đã hiến dâng Ysaac khi Thiên Chúa thử lòng, và ông tiến dâng đứa con một, ông là người đã đón nhận các lời hứa” (Hr 11, 170. Như thế, Abraham đã tin khi Thiên Chúa ban cho ông một con trai và ông đã tin khi Thiên Chúa cất đi của ông người con ấy.
Cuộc đời của Ðức Maria cũng thế, chúng ta cũng thấy có hai hành vi lớn lao của đức tin. Mặc dầu đang sống trinh khiết, Ðức Maria đã tin khi Thiên Chúa loan báo cho Người về một người con sẽ sinh ra, người con đó sẽ là kẻ thừa hưởng mọi lời hứa. Sau đó, Maria đã tin khi Thiên Chúa đòi Người tham dự vào cuộc hiến tế Người Con mà Ngài đã ban cho Mẹ. Ở đây, mọi ánh sáng đều tắt ngấm, con người thực sự đi vào trong đêm tối đức tin. Thiên Chúa dường như tiền hậu bất nhất, Người như quên đi các lời hứa của Người . Người nói: “Ngài sẽ làm lớn và được gọi là Con của Ðấng Tối Cao”, thế mà ngược lại, Ngài đã bị nghiền tán dưới đòn roi và nhục mạ. Người nói: “Ngài sẽ làm vua trên nhà Yacob cho đến đời đời”, vậy mà Ngài đã bị đóng đinh Thập giá! Ðức Maria phải hy vọng cho đến cùng, bởi Người cũng phải tiến bước trong đức tin, trong lòng cậy trông, chứ không phải trong thị kiến hy vọng Thiên Chúa sẽ can thiệp, dòng sự việc sẽ đổi thay. Mẹ đã hy vọng điều đó sau khi Chúa bị bắt, rồi trước mặt Philatô, trước khi bản án được tuyên bố, và trên đồi Canvê, trước khi mũi đinh đầu tiên đóng vào thân thể, hy vọng đến tận giây phút Chúa gục đầu, trút hơi thở cuối cùng. Thế nhưng vẫn không có gì cả!
So với Abraham, Ðức Maria bị đòi hỏi hơn rất nhiều. Với Abraham, Thiên Chúa đã can thiệp vào giây phút cuối cùng, dung mạng cho Ysaac. Với Ðức Maria, Người đã vượt qua cái ranh giới không thể quay trở lại là cái chết. Chúng ta hãy lưu ý sự khác biệt này giữa Cựu ước Và Tân ước ; “Abraham nắm lấy con dao nhưng đã được lại Ysaac. Sự việc thực ra không nghiệt ngã. Tột điểm của tấn kịch nằm trong sự thử thách nhưng sau đó là niềm vui sướng được lại mạng sống. Trong Tân ước thì hoàn toàn khác. Không phải một lưỡi gươm treo sợi tóc, lơ lững trên đầu Ðức Maria để thử xem Người có thể kiên vững trong sự vâng phục của đức tin không, lưỡi gươm đã thực sự đâm thấu, làm tan vỡ trái tim của Mẹ, nhưng cũng nhờ đó mà Mẹ có được một bảo đảm về vĩnh cửu: điều mà Abraham không có được”[108].
Có thể rút ra kết luận nào từ tất cả những điều đó? Nếu, do những việc ông làm, Abraham đã được xứng danh hiệu là “cha” (x. Lc 16, 24),: cha của chúng ta hết thảy”, trong Kinh thánh nghĩa là của mọi tín hữu (x. Rm 4, 16), thì việc gọi Ðức Maria là “Mẹ của chúng ta hết thảy”, Mẹ của mọi tín hữu, có gì lạ lùng đâu? Abraham nhận được tước hiệu đó không phải lúc sinh tiền mà là về sau, khi dân tộc ông suy tư, nghiền ngẫm lại đức tin của ông. Ðức Maria cũng vậy, Người nhận được tước hiệu này là do suy tư về sau của dân tộc Người là Giáo hội, lúc Người còn sống, Kinh thánh chỉ cho biết rằng Người đã tin các lời Chúa phán cùng Người sẽ được thực hiện. Tước hiệu của Abraham “cha các kẻ tin” được ghi trong Kinh thánh và vì thế buộc mọi người nhìn nhận, không phải bàn cãi. Một tước hiệu như vậy, khi Giáo hội gán cho Ðức Maria, hẳn cũng phải được tôn trọng, sùng kính, ít ra là cùng một mức độ như thế, và chúng ta thấy tước hiệu đó cũng dựa vào chính Kinh thánh một cách hết sức chắc chắn.
So sánh giữa Abraham và Ðức Maria giúp chúng ta hiểu sâu hơn, không chỉ dừng lại ở tước hiệu, mà còn có thể đi vào nội dung và ý nghĩa của nó. Mẹ các tín hữu phải chăng là một tước hiệu danh dự, hay còn điều gì hơn thế nữa? Khi chú giải đoạn Kinh thánh Thiên Chúa nói với Abraham: “Nơi ngươi mọi tông tộc trên trần sẽ được chúc phúc” (Kn 12,3), Calvin chú giải theo nghĩa “Abraham không phải chỉ là khuôn mẫu, là vị thầy, mà còn là nguyên nhân của sự chúc phúc.”[109] Cũng theo nghĩa này, một nhà chú giải Tin lành thời nay viết: “Người ta tự hỏi, phải chăng những lời này chỉ có ý khẳng định rằng Abraham sẽ trở nên một loại công thức chúc lành, và lời chúc lành mà ông được hưởng trở thành điển hình . Nhưng, theo quan điểm của khoa chú giải, việc giới hạn một mệnh đề được sắp xếp kỹ lưỡng và có một văn phong rất cao nhã như vậy vào một nghĩa độc nhất và yếu nhất là một việc sai lầm. Vì thế, cần phải trở lại với lối chú giải Truyền thống, hiểu lời nói của Yavê “như một lệnh truyền đối với lịch sử” (B. Jacob). Trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Abraham được dành cho vai trò làm trung gian cho sự chúc phúc đối với mọi thế hệ trên trần gian”[110].
Tất cả những điều này giúp chúng ta rất nhiều để hiểu được những điều Truyền thống nói về Ðức Maria, kể từ thánh Irênê: Người không phải chỉ là một “mẫu gương” về sự chúc phúc và ơn cứu độ, mà một cách nào đó còn là “nguyên nhân” của ơn cứu độ, tất nhiên là nguyên nhân phụ thuộc và dụng cụ hoàn toàn tùy thuộc ân sủng và ý muốn của Thiên Chúa. Vai trò làm Mẹ của Ðức Maria đối với Giáo hội không phải chỉ mang tính cách danh dự, hay chỉ là một kiểu nói. Thánh Irênê viết: “Vậy, cũng như Evà vì bất tuân đã trở thành nguyên nhân sự chết cho bà và cho tất cả nhân loại, cũng thế Ðức Maria, vì vâng phục, đã trở nên “nguyên nhân ơn cứu độ” cho Người và cho toàn thể nhân loại.”[111]
Anh em Tin lành thân mến, những lời: “Mọi đời sẽ khen tôi có phúc” (Lc 1, 48), không phải chúng tôi, những người Công Giáo, đã đưa vào Kinh thánh mà chính là Chúa Thánh Thần. Những lời đó lại không cần phải được coi như “một lệnh truyền của Thiên Chúa đối với lịch sử”, như những lời với Abraham: “Nơi ngươi, mọi dòng tộc trên trần sẽ được chúc phúc” hay sao? Nếu người ta nhìn nhận Abraham có một vai trò “trung gian”, thì tại sao lại không nhìn nhận như thế, và còn đúng lý hơn thế đối với Ðức Maria?
Ta không thể nói rằng, một trung gian thực sự như trung gian của Abraham chỉ có giá trị trong nhiệm cục Cựu ước chứ không có giá trị trong nhiệm cục Tân ước, vì từ nay chúng ta đã có Ðấng Trung Gian độc nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại, một người, là Ðức Giêsu Kitô (x. 1Tin mừng 2, 5). Không thể nói như vậy được, bởi lẽ vai trò trung gian độc nhất của Ðức Kitô cũng hoạt động, trong Giao ước mới, xuyên qua những trung gian thụ tạo và nhân loại, do chính Ngài thiết lập, chẳng hạn sự trung gian của các dấu Bí tích, hay qua con người các tông đồ.
Không nên hiểu những nhận xét này theo kiểu suy nghĩ của kẻ muốn nói với người khác: Ex ore tuo te judico, “ta cứ lời ngươi mà xét xử ngươi”. Ðúng hơn, những nhận xét này muốn cho thấy rằng anh em Tin lành, nhờ cảm thức đặc biệt về Kinh thánh, có thể mang lại một sự đóng góp không thể thay thế cho việc xây dựng đức tin chung, kể cả trong những gì liên quan đến Ðức Maria. Nói khác đi chúng nói lên một lời mời gọi, một mong muốn hiệp thông hơn là một phán đoán về sự nhất quán hay không nhất quán. Quả thực, chính trên lãnh vực Kinh thánh mà người Công Giáo và Tin lành sẽ có thể tìm được sự hiệp thông trọn vẹn, ngay cả trong những gì liên quan đến Ðức Maria, đó là điều ngày càng trở nên rõ ràng hơn.
Quả vậy, nếu theo một nghĩa Ðức Maria là thành phần của Giáo hội và Công đồng Vatican II đã đưa Người vào trong hiến chế về Giáo hội một cách hợp lý, chặt chẽ, thì theo một nghĩa khác, Người còn là một chương quan trọng của Kinh thánh, của Lời Chúa và cần phải được giải thích dựa vào hiến chế về Mạc khải, Dei Verbum. Thánh Grêgoriô Cả nói: “Thiên Chúa dạy chúng ta khi thì bằng lời, khi thì bằng các công trình”[112]. Một đoạn trong Dei Verbum giải thích công cuộc Mạc khải cũng theo chiều hướng này ; công cuộc Mạc khải được thực hiện bằng hai cách: bằng hành động và bằng lời nói (gestis verbisque).[113]
Như thế, một thực tế rõ ràng trong Kinh thánh được làm sáng tỏ, đó là: Kinh thánh không chỉ gồm những lời nói mà còn là những hành động, những hành vi mang tính biểu trưng, hoặc ngay cả những cuộc đời mà tự chúng đã mang tính tiên tri. Ðức Maria là một trong những cuộc đời mang tính tiên tri này, và xét dưới khía cạnh đó thì Ðức Maria là dụng cụ Mạc khải, không những và không phải vì những gì Người là. Ðức Maria, theo cung cách của mình, là một “lời hữu hình”, một lời “bằng hành động”, giống như thánh Augustinô định nghĩa dấu chỉ Bí tích.[114]
Sau Abraham, loại suy từ dưới thứ hai là loại suy từ các tông đồ. Thư gửi tín hữu Êphêsô nói, các tín hữu “được xây cao lên trên nền móng là các tông đồ và tiên tri, mà đỉnh góc chính là Ðức Kitô Giêsu” (Ep 2, 20). Làm sao các tông đồ và tiên tri có thể là “nền móng”, vì đã có viết rằng: “Về nền móng thì không ai có thể đặt cái khác, ngoài nền móng đã đặt rồi, tức là Ðức Giêsu Kitô” (1Cr 3, 11)? Câu trả lời thật đơn giản: việc được “xây nền” trên ai đó có thể quan niệm theo nhiều cách khác nhau. Nếu ta có thể được “xây nền” trên các tông đồ, vì các ngài là những người đầu tiên truyền lại cho chúng ta lời sự sống, thì chẳng lẽ chúng ta lại không thể nói như thế và còn hơn thế, rằng chúng ta được “xây nền” trên Ðức Maria và được “sinh” bởi Ðức Maria, vì Người đã truyền lại cho chúng ta chính tác giả của Lời và truyền lại không phải cho Giáo hội này hay Giáo hội kia như mỗi một tông đồ, mà là cho toàn thế giới.
Thiên Chúa, Ðấng đã không khinh màng việc kêu gọi các thụ tạo cả nam lẫn nữ, cộng tác với Ngài trong việc trao ban sự sống tự nhiên, thì hẳn Ngài có thể, nếu Ngài muốn, kêu gọi một thụ tạo là Ðức Maria cũng như kêu gọi mọi người, theo cách khác, cộng tác với Ngài trong việc trao ban sự sống siêu nhiên, trở thành “dụng cụ của ân sủng” Ngài. Ðược kêu gọi như thế, thụ tạo vẫn không là gì trước mắt Thiên Chúa, tất cả hoàn toàn là ân sủng và chỉ là ân sủng mà thôi. Chúng ta hãy tránh, ngay cả khi muốn bảo vệ tính siêu việt của Ngài, mang một ý tưởng “chật hẹp” tầm thường về Thiên Chúa, ý tưởng về một Thiên Chúa “ghen tương”, ghen tương không theo nghĩa Kinh thánh mà là ganh ghét theo nghĩa phàm nhân, như thần linh của người Hylạp. Sự “cả ghen” của Thiên Chúa trong Kinh thánh nhắm vào các ngẫu tượng chứ không nhằm đến các dụng cụ, các trung gian của Ngài.
Thật là khích lệ khi khám phá thấy rằng, ngay cả những nhà khai sáng phong trào Cải Cách cũng đã nhìn nhận tước hiệu và đặc quyền làm Mẹ của Ðức Maria, Mẹ theo nghĩa Mẹ của chúng ta và Mẹ của ơn cứu độ. Chúng ta hãy nghe Luther trong một bài giảng lễ Giáng sinh: “Niềm an ủi và lòng nhân hậu dư tràn của Thiên Chúa là thế này: khi tin, con người có thể tự vinh vang về niềm hạnh phúc quí giá đến nhường ấy, được Ðức Maria thực sự làm Mẹ, Ðức Kitô làm Anh và Thiên Chúa làm Cha của mình . Nếu bạn tin như thế thì bây giờ bạn thực sự được nghỉ ngơi nơi lòng Ðức Trinh Nữ Maria và bạn là con chí ái của Người”.[115]
Zwingli, trong một bài giảng vào năm 1524, đã gọi Ðức Maria là “Maria Trinh Nữ vẹn tuyền, Mẹ ơn cứu độ chúng ta”. Ông thêm rằng, ông đã không bao giờ “suy nghĩ và cũng không dạy hay khẳng định công khai điều gì báng bổ, làm ô danh, bất xứng hay xấu xa”[116] về Ðức Maria.
Nếu vậy, tại sao chúng ta lại đi đến tình trạng hiện tại trong đó anh em Tin lành cảm thấy khó chịu đối với Ðức Maria như thế? Tại sao lại đi đến mức, có một số nhóm nhỏ bên lề cho mình có trách nhiệm phải hạ thấp Ðức Maria, liên tục tấn công người Công Giáo về điểm này và quên đi tất cả những gì Kinh thánh nói về Ðức Maria? Những gì xảy ra đối với Ðức Maria phần nào giống với những gì đã xảy đến đối với giáo lý về Bí tích Thánh Thể. Ðiều lẽ ra phải là những dấu chỉ và là những tác tố mạnh mẽ nhất của sự hiệp nhất và với Bí tích Thánh Thể, là chính Bí tích của sự hiệp nhất, lại đã thành nhiều trở ngại nổi bật nhất, trở thành những nguyên nhân lớn nhất gây ra sự bất đồng.
Tôi không có tham vọng đưa ra giải đáp cho những vấn nạn đó: mong muốn duy nhất của tôi là chỉ ra con đường mà, theo tôi nghĩ, có thể giúp vượt ra khỏi tình trạng đáng buồn này về Ðức Maria. Con đường này đi qua một cử chỉ thành thực về phía chúng ta, những người Công Giáo, biết nhìn nhận rằng, thường ra nhất là trong những thế kỷ cuối này, chúng ta đã góp phần quyết định trong việc làm cho Ðức Maria trở thành không thể chấp nhận được đối với anh em Tin lành. Chúng ta tôn kính Ðức Maria đôi khi một cách quá đáng, thiếu suy nghĩ, thận trọng, nhất là không đặt sự sùng kính đó vào trong một khuôn khổ Kinh thánh rõ ràng, để làm nổi bật vai trò phụ thuộc của Ðức Maria đối với Lời Chúa, với Chúa Thánh Thần và với chính Ðức Giêsu. Thánh Mẫu học của những thế kỷ cuối cùng này đã trở thành một xưởng thường xuyên chế tạo các tước hiệu mới, các việc sùng kính mới, mà thường là để chống lại anh em Tin lành, đôi khi dùng chính Ðức Maria – người Mẹ chung – như vũ khí chống lại họ. Công đồng Vatican II đã chống lại khuynh hướng này đúng lúc. Công đồng khuyên các tín hữu “phải hết sức cẩn thận tránh xa mọi lời nói hay cử chỉ có thể làm cho các anh em ly khai hay các anh em khác có thể hiểu sai giáo lý đích thực của ”. Công đồng nhắc các tín hữu nhớ rằng “lòng sùng kính đích thực không hệ tại chút nào trong những tình cảm chóng qua và vô bổ, cũng không hệ tại ở một sự dễ tin phù phiếm.”[117]
Về phía anh em Tin lành, tôi thiết nghĩ cần phải ghi nhận rằng, trong thái độ của họ đối với Ðức Maria, không phải chỉ có cuộc luận chiến bài Công Giáo gây ra ảnh hưởng tiêu cực, mà còn có cả thuyết duy lý nữa. Ðức Maria không phải là một ý niệm mà là một con người cụ thể, một phụ nữ, và vì thế không thể dễ dàng bị “lý thuyết hóa” hay bị giản lược thành một nguyên lý trừu tượng. Người là hình tượng (icône) về sự đơn giản của Thiên Chúa. Vì thế, trong một bầu khí bị chủ thuyết duy lý cực đoan chế ngự. Ðức Maria không thể không bị loại ra khỏi chân trời thần học.
Một người phái Luther, hết sức gắn bó với đức tin của mình, sau khi đọc lại những bản văn của Luther, đã tràn đầy niềm kính phục đối với Ðức Trinh Nữ Maria, bà viết: “Khi đọc những lời này của Luther, một người mà cho đến tận cuối đời, đã tôn kính, thánh hóa các ngày lễ về Ðức Maria và mỗi ngày hát lên lời kinh Magnificat, chúng ta cảm thấy mình, nói chung, đã rời xa thái độ đúng đắn đối với Người đến như thế nào, thái độ mà Luther đã chỉ ra cho chúng ta dựa trên nền tảng Kinh thánh. Chúng ta thấy mình, những người Tin lành đã để cho chủ nghĩa duy lý nhấn chìm đến thế nào. Thuyết duy lý đã hoàn toàn không hiểu một chút gì mầu nhiệm về sự thánh thiện của Thiên Chúa . Con người duy lý muốn thấu triệt tất cả, và điều gì họ không có khả năng hiểu thì họ loại bỏ. Chủ nghĩa duy lý, vì chỉ chấp nhận điều gì có thể hiểu được bằng lý trí, nên khi thể hiện ra ngoài, nó đã loại các ngày lễ về Ðức Maria và tất cả những gì liên quan ra khỏi Giáo hội Tin lành. Nó làm mất đi ý thức về các quy chiếu Kinh thánh về Ðức Maria. Ngay cả hôm nay, chúng ta còn đang phải gánh chịu di sản đó. Nếu qua câu nói: “Sau Ðức Kitô, Mẹ là châu báu quý giá nhất trong tất cả Kitô giáo, không bao giờ ngợi ca cho đủ”, Luther muốn khắc sâu lời ca ngợi đó vào trong tâm khảm chúng ta, thì phần tôi, tôi phải thú nhận mình thuộc vào số những người, suốt bao nhiêu năm tháng cuộc đời đã không làm điều đó, đã không màng đến điều mà Kinh thánh nói: “Này từ đây, mọi thế hệ sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 1, 48). Tôi đã không đặt mình vào số những thế hệ đó.”[118]
Ðây không phải là một tiếng nói đơn độc. Sau Công đồng, nhiều nhà thần học thuộc nhiều chân trời khác nhau của Tin lành phái Luther, Cải Cách, Anh Giáo, Tin lành, Ngũ tuần đã có cùng một tiếng nói như vậy. Một người trong số họ, khi tham chiếu các bản văn Công đồng, đã viết: “Người Công Giáo phải đi dặm đường đầu tiên trong nỗ lực khôi phục lại một trình thuật thần học đúng đắn về Ðức Maria. Người Tin lành có bổn phận phải đi dặm thứ hai trong việc, cùng với anh em Công Giáo, chú tâm xem xét những gì Tân ước nói cho chúng ta về vị trí của Ðức Maria trong đức tin Kitô giáo” (R. McAfee Brown). Một thần học gia Tin lành khác viết: “Ðức Kitô là Ađam thứ hai, là Con Người mới, và chúng ta đã được tháp nhập vào Ngài để nên thành phần của nhân tính toàn thể (humanité totale) của Ngài. Nếu điều đó có nghĩa là chúng ta được nhận vào trong mối tương quan không những với Ngài mà còn với Ðấng mà từ đó Ngài đã nhận lấy xác phàm, thì như vậy, Ðức Maria không còn chỉ là Mẹ của Ngài, Người còn trở thành Mẹ của chúng ta”. “Vì lợi ích của chính mình, Giáo hội Tin lành (chrétienté évanggélique) cần có mối liên hệ với Mẹ Chúa chúng ta và với toàn thể các thánh, một mối liên hệ phải rõ ràng tích cực hơn những gì mà Giáo hội dạy cho đến nay” (J.C. de Satgé). Một vị khác nữa viết: “Có lẽ, việc xem xét lại ý nghĩa của Ðức Maria sẽ có thể là một khía cạnh trong cuộc Hoán Cải lớn lao hơn mà Giáo hội Tin lành, trong những thời gian sống mãnh liệt nhất của mình, đã luôn luôn tìm kiếm” (J.A.Ross Mackenzie).
Bầu không khí mới mẻ này về Ðức Maria đã tạo điều kiện cho “Hội Ðại Kết về Ðức Trinh Nữ Maria” (Société Oecuménique de la Bienheureuse Vierge Marie) nảy sinh và phát triển rộng, nhất là ở các nước nói tiếng Anh, trong hội này, các nhà thần học, mục sư thuộc nhiều Giáo hội Kitô khác nhau hội họp lại để cùng suy tư, đối chiếu các quan điểm về vai trò của Ðức Maria trong lịch sử cứu độ và trong Giáo hội.[119]
Những suy tư này cho phép chúng ta ấp ủ niềm hy vọng: một ngày nào đó không xa, người Công Giáo và Tin lành sẽ không còn chia rẽ, mà là được hợp nhất với nhau nhờ Ðức Maria trong cùng một niềm tôn kính đối với Người, một sự tôn kính có thể là khác trong các hình thức, trong sự diễn tả, nhưng đồng tâm nhất trí trong việc nhìn nhận Người là Mẹ Thiên Chúa, và theo một nghĩa khác, là Mẹ các tín hữu. Chúng ta đang tiến gần đến năm 2000. Mừng sinh nhật của Hài nhi mà hoàn toàn quên bẵng người Mẹ đã sinh Hài nhi đó cho thế gian thì liệu có đúng đắn không? Liệu có đúng với đạo làm Kitô hữu và thậm chí, đơn giản hơn, có đúng với đạo làm người không? Và nhất là, Ðức Kitô mà chúng ta loan báo, có thực là Lời thành xác phàm, là Vị Thiên Chúa đã đi vào trong lịch sử, muôn sự đều tương tự với chúng ta: trong sự sinh ra, cuộc sống và cái chết của Ngài nữa chăng?
Và từ giờ ấy môn đồ đã nhận lấy Người về nhà mình
Như phương pháp đã đề ra, đây là lúc chúng ta chuyển từ sự chiêm ngắm một tước hiệu, hay một giai đoạn cuộc đời Ðức Maria sang sự noi gương thực hành, xem Ðức Maria như là hình bóng và là tấm gương của Giáo hội. Trong chương này, chúng ta chiêm ngắm Ðức Maria trong vai trò là “Mẹ chúng ta”, thế nên việc áp dụng thực hành thuộc vào loại đặc biệt. Hiển nhiên nó không hệ tại ở việc noi theo Ðức Maria mà là ở việc đón nhận Người. Chúng ta hãy bắt chước Gioan, lãnh lấy Ðức Maria vào trong cuộc đời chúng ta, ngay từ hôm nay. Tất cả vấn đề là ở đó.
Câu: “Và môn đồ đã lĩnh lấy Bà về nhà mình” (els tu ídin) trong nguyên bản có thể có hai nghĩa, và tất nhiên phải bảo tồn cả hai nghĩa đó. Môn đồ đã lĩnh lấy Bà “về nhà mình” và môn đồ đã nhận Bà “vào số những gì mình quí giá nhất”.
Người ta rất ít nghĩ đến tất cả sự phong phú của câu văn thật ngắn ngủi đó. Nó chứa đựng bên trong một tin có tầm quan trọng lớn lao và được bảo đảm về mặt lịch sử, bởi nó được chính người có liên quan viết ra. Ðức Maria đã sống những năm cuối đời với Gioan. Những điều chúng ta đọc thấy trong Tin mừng thứ tư, về Ðức Maria ở Cana xứ Galilê và dưới chân Thập giá, thì đã được người sống dưới cùng một mái nhà với Ðức Maria viết ra. Quả không thể không nhìn nhận có mối liên hệ chặt chẽ, nếu không muốn nói là đồng nhất, giữa “người môn đệ Chúa Giêsu yêu” và tác giả Tin mừng thứ tư. Câu: “Và Lời đã thành xác phàm” được viết bởi người đã sống dưới cùng một mái nhà với Ðức Maria, Ðấng mà điều nhiệm lạ đó đã thành sự nơi lòng mình, hay ít ra là được viết bởi người đã quen biết, năng lui tới với Ðức Maria. Ðược Ðức Maria ở với mình, nơi nhà mình ngày đêm, ai có thể nói được điều đó có ý nghĩa như thế nào đối với người môn đệ Chúa yêu? Ðược cầu nguyện với Người, dùng bữa với Người, có Người ở trước mặt như thính giả khi người môn đồ đó nói với các tín hữu, được cùng với Người cử hành mầu nhiệm của Chúa? Ðức Maria sống kề cận người môn đệ Chúa yêu như vậy, chẳng lẽ lại không có ảnh hưởng nào đến công việc suy tư, đào sâu lâu dài, đưa đến việc biên soạn Tin mừng thứ tư hay sao? Thời xưa, dường như Origène ít ra đã trực giác được bí ẩn nằm trong vấn đề đó. Các nhà thông thái, các nhà phê bình Tin mừng thứ tư, kể cả các người tìm về các nguồn hình thành Tin mừng thứ tư, thường cũng không chú ý đến điều đó. Origène viết: “Khởi đầu của các Tin mừng là Tin mừng Gioan, không ai có thể hiểu được nghĩa thâm sâu của nó nếu người đó không tựa đầu vào ngực Chúa Giêsu và không lãnh nhận Ðức Maria làm Mẹ mình từ Ðức Giêsu, nhưng, để là một Gioan khác thì, như Gioan, phải trở nên người được Ðức Giêsu chỉ đến như là chính Ðức Giêsu. Bởi chưng nếu theo những người có ý kiến lành thánh về Ðức Maria, không ai khác là con của Ðức Maria ngoài Ðức Giêsu và nếu Ðức Giêsu đã nói với Mẹ Ngài: “Này là con Bà” chứ không nói: “Này, cả người đó nữa cũng là con Bà”, thì như thế, Ngài như thể muốn nói: “Này, người này là Giêsu mà Bà đã sinh ra”. Quả vậy, người đã đạt tới sự hoàn hảo thì không còn sống nữa mà là Ðức Kitô sống trong người đó (x. Gal 2, 20), và vì Ðức Kitô sống trong người đó nên mới có lời nói với Ðức Maria về người đó: “Này là con Bà, Ðức Kitô.”[120] Bản văn này cho thấy Origène dựa vào giáo lý về nhiệm thể và về người Kitô hữu hoàn hảo như là một Ðức Kitô khác để giải thích lời Ðức Giêsu hấp hối, là lời nói không những với Gioan mà là với mọi môn đệ.
Chúng ta đặt thêm câu hỏi: việc lãnh lấy Ðức Maria về nhà mình có ý nghĩa đối với chúng ta cụ thể như thế nào? Tôi thiết tưởng đây là lúc để nói về cốt lõi lành mạnh, giản dị của linh đạo Monfort về niềm tín thác vào Ðức Maria: “Thực hiện mọi hành động nhờ Ðức Maria, với Ðức Maria, trong Ðức Maria, ngõ hầu thực hiện chúng cách hoàn hảo hơn nhờ Ðức Giêsu, với Ðức Giêsu, trong Ðức Giêsu và vì Ðức Giêsu”. “Cần phải phó thác theo tinh thần của Ðức Maria để được thúc đẩy và dẫn dắt theo cách thức Người muốn. Phải tự đặt mình trong đôi tay trinh khiết của Người, như một dụng cụ trong tay người thợ, như chiếc đàn “luýt” (luth) trong tay người nhạc công tài tình. Phải buông mình phó thác cho Người như viên đá ném vào biển cả: điều này thực hiện cách đơn giản, trong một khoảnh khắc bằng chỉ một liếc mắt của tâm trí, một chuyển động nhỏ của ý chí hay bằng môi miệng.”[121]
Nhưng, như thế phải chăng là tiếm đoạt vị trí của Chúa Thánh Thần trong đời sống Kitô hữu, vì chính Thánh Thần mới là Ðấng chúng ta phải “để cho Ngài dẫn dắt” (x. Ga 5, 18), chính Ngài mới là Ðấng chúng ta phải để cho hoạt động và nguyện cầu trong chúng ta (Rm 8, 26), để ta được nên đồng hình đồng dạng với Ðức Kitô? Kinh thánh lại đã không viết rằng người Kitô hữu phải làm mọi sự “trong Thánh Thần” sao? Trong một số hình thức tôn sùng Ðức Maria trước Công đồng, người ta thấy có việc gán những chức năng riêng biệt của Chúa Thánh Thần cho Ðức Maria[122] (Monfort đã tránh được) và điều này không phải là không nguy hại. Sở dĩ như thế là vì thiếu một ý thức sáng suốt và tích cực về vai trò và vị trí của Chúa Thánh Thần trong Giáo hội. Ðức Maria là một trong những phương thế ưu việt mà Chúa Thánh Thần dùng để dẫn dắt các tâm hồn và dẫn đưa họ đến chỗ nên giống Ðức Kitô, bởi lẽ Ðức Maria là thành phần của Lời Chúa, chính bản thân Người là một lời bằng hành động (parole en action) của Thiên Chúa. Câu “ad Jesum per Mariam”, nhờ Ðức Maria tới Ðức Giêsu, phải được hiểu theo nghĩa Chúa Thánh Thần dùng Ðức Maria để dẫn đưa chúng ta tới Ðức Giêsu thì mới có thể chấp nhận được. Trung gian thụ tạo (médiation crée) của Ðức Maria, giữa Ðức Giêsu và chúng ta, sẽ tìm lại được tất cả hiệu lực của nó nếu được hiểu như là phương tiện của trung gian bất thụ tạo (médiation incrée) là Chúa Thánh Thần.
Chúng ta cần đến một loại suy từ dưới để hiểu điều này rõ hơn. Thánh Phaolô khuyên nhủ các tín hữu hãy xem những gì ngài làm và thấy ngài làm như thế nào thì hãy thi hành như vậy: “Các điều anh em đã thụ giáo, đã chịu lấy, đã nghe và thấy nơi tôi, anh em hãy đem thi hành” (Ph 4, 9). Và chắc chắn Phaolô không có ý đặt mình vào vị trí của Chúa Thánh Thần, ngài chỉ đơn giản nghĩ rằng noi theo ngài là trợ giúp Thần Khí Thiên Chúa (x. 1Cr 7, 40). Ðiều này càng đúng với Ðức Maria hơn và giải thích cho ý nghĩa của câu “làm tất cả với Ðức Maria và như Ðức Maria”.
Một loại suy khác có thể được, lần này là từ trên, đó là Khôn Ngoan của Thiên Chúa. Ðức Maria không đồng nhất với Khôn Ngoan của Thiên Chúa, vì Khôn Ngoan của Thiên Chúa là Lời hoặc Thần Khí thì đúng hơn. Tuy nhiên Ðức Maria được Giáo hội, Latinh cũng như Chính Thống, nhìn như là “Ngai Tòa Khôn Ngoan” (Tòa Ðấng Khôn Ngoan), như là người được Khôn Ngoan nắn đúc. Theo nghĩa phát sinh này, người Kitô hữu có thể nói về Ðức Maria những điều mà người môn đệ nói về Khôn Ngoan trong Cựu ước: “Vậy tôi đã quyết cưới lấy Khôn Ngoan để cùng chung sống, biết rằng Khôn Ngoan sẽ là cố vấn đường lành, là nguồn an ủi trong tư lự phiền sầu . Khôn Ngoan biết rõ điều đẹp ý Người, sự gì ngay chính chiếu theo các lịnh Người truyền” (Kng 8, 9 ; 9, 9).
Lãnh lấy Ðức Maria về nhà mình, theo nghĩa thiêng liêng là như thế ; lãnh nhận Người như bạn đồng hành, như người cố vấn, biết rằng Người biết rõ hơn chúng ta đâu là những mong muốn của Thiên Chúa về chúng ta. Nếu chúng ta tập hỏi ý kiến, tập lắng nghe Người trong mọi sự thì Người sẽ thực sự trở thành vị nữ tôn sư trác tuyệt của chúng ta về các đường lối của Thiên Chúa dạy dỗ chúng ta cách âm thầm lặng lẽ, thâm sâu trong tâm hồn. Sau đây là chứng từ sống thực sự kinh nghiệm đó với Ðức Maria: “Từ ít lâu nay, tâm hồn tôi nảy sinh niềm khao khát ngày càng dành nhiều chỗ hơn cho Ðức Maria trong cuộc đời tôi, và thậm chí, tôi cảm thấy thích thú được mời Người sống lại trong tôi tình yêu của Người dành cho Ðức Giêsu, cho Ba Ngôi Thiên Chúa, sống lại niềm thinh lặng và kinh nguyện của Người. Tôi tự hiến cho Người với bao niềm tin tưởng, để trở thành một không gian cụ thể, trong đó Người có thể đi xuống và lại sống trên trần gian, tôi tự hiến cho người để trở thành sự tiếp nối con người của Mẹ nơi trần thế. Chính vì vậy, tôi cảm thấy mình phải biến thành khoảng trống, hố sâu, thành niềm trông đợi Thiên Chúa, với tấm lòng và tâm trí đắm nhìn vào Ðức Maria”.
Có lẽ phải nói thêm rằng, dù hiểu như thế, đời sống với Ðức Maria không phải là con đường tất yếu và độc nhất, buộc mọi người phải chấp nhận. Nếu Chúa Thánh Thần dẫn dắt một số tâm hồn bằng phương thế tuyệt hảo đó, thì chính Ngài cũng có thể dẫn dắt một số tâm hồn khác bằng những phương thế khác, như bằng Kinh thánh, là Lời Chúa viết thành văn, và cũng phải được đọc với Chúa Thánh Thần. Chẳng hạn như trong lectio divina (đọc chiêm niệm). Vì vậy, dù mang lại lợi ích, vẫn nên không tuyệt đối hóa thực hành này (sống với Ðức Maria). Trong một vài trường hợp, nó có thể kéo dài cả cuộc đời. Thông thường hơn, nó có thể giúp nuôi dưỡng, dẫn dắt một tâm hồn trong một giai đoạn sống, giúp cho tâm hồn hoàn thành một chặng đường và sau đó nhường chỗ để Thiên Chúa dẫn dắt theo cách khác. Là vì Thiên Chúa không chỉ dùng một phương pháp để dẫn dắt mọi tâm hồn, cũng không dẫn dắt mỗi tâm hồn luôn luôn với cùng một phương pháp. Có những điều mà trong quá khứ đã là nguồn sáng lớn lao, mạch nước dồi dào cho tâm hồn mỗi lần đến kín múc, nhưng rồi đến một lúc nó tắt ngấm và cạn kiệt, đó là điều rất thường xảy ra. Lúc bấy giờ tâm hồn phải biết nhu thuận, chấp nhận thay đổi nguồn nuôi dưỡng, chứ không đòi hỏi Thiên Chúa phải thay đổi đường lối của Người.
Vì thế, nếu dựa vào lòng sùng kính của mình đối với Ðức Maria, hoặc dựa trên một số hình thức cá biệt của lòng sùng kính này để phê phán chỉ trích anh em là một thói quen rất xấu. Một Linh mục trong suốt nhiều năm hoặc ngay cả không bao giờ nói về Chúa Cha, Chúa Thánh Thần thì có thể chẳng ai lấy làm điều khó coi hoặc tức giận. Ấy thế mà một Linh mục nào đó giảng hai ba bài mà không nêu tên Ðức Maria thì có thể, và thực sự đã xảy ra, là Linh mục đó lãnh lấy những lời khiển trách và bị kết án là không yêu mến Ðức Maria.
Lịch sử linh đạo Kitô giáo cho thấy hoạt động mẫu tử của Ðức Maria, mặc dầu hướng đến mọi tín hữu, nhưng trong một số thời, một số nơi, hoạt động đó rất dè dặt, kín đáo và hầu như hoàn toàn ẩn giấu, chẳng hạn như trong linh đạo các Giáo phụ sa mạc, và nơi một số nhà thần bí, trong đó có Gioan Thánh Giá. Ở điểm này cũng vậy, chúng ta cần phải được áp dụng nguyên tắc được nhắc đến ở trong phần Ðại Kết: “Mỗi người tùy theo ân lộc đã được, hãy lợi dụng mà phục vụ nhau, như những người quản lý giỏi giang về ân sủng muôn hình vạn trạng của Thiên Chúa” (1P 4, 10).
“Sự can trường mà Người đã chứng tỏ …”
Trước khi kết thúc phần chiêm ngắm về Ðức Maria trong mầu nhiệm Vượt qua, tôi muốn trở lại đôi chút về chủ đề Ðức Maria, khuôn mẫu của đức tin và đức cậy. Có những giờ phút trong cuộc đời chúng ta cần có được một đức tin và một đức cậy nhỏ của Ðức Maria. Ðó là những giờ phút Thiên Chúa như không còn lắng nghe lời chúng ta kêu cầu, những lúc có thể nói Ngài đã quay đi và rút lời, lúc Ngài để cho chúng ta phải chịu hết thất bại này đến thất bại khác, và quanh ta quyền lực của bóng tối như chiếu thẳng trên mọi mặt, bóng tối vây phủ trên ta, như thưở ấy có tối tăm xảy đến “trên toàn cõi đất” (Mt 27, 45). Lúc mà, như lời Thánh vịnh, dường như “Thiên Chúa đã quên thương xót, vì giận hờn mà khép kín từ tâm” (Tv 77, 10). Khi những giây phút như thế xảy đến với bạn, bạn hãy nhớ lại lòng tin của Ðức Maria, và bạn hãy kêu lên như nhiều người khác đã từng làm: “Lạy Cha, con không còn hiểu nổi Cha, nhưng con tín thác nơi Cha!”
Có thể trong giờ phút đó, Thiên Chúa đòi chúng ta hiến tế “Isaac” nghĩa là hy sinh con người, hoặc sự vật, dự định, công trình thiết lập, hoặc chức vụ mà chúng ta hết sức quí báu, những điều do chính Thiên Chúa đã giao phó cho chúng ta trước kia và chúng ta cũng đã cống hiến tất cả đời sống của mình để làm việc, phục vụ cho những điều đó. Ðây là cơ hội Thiên Chúa dành cho chúng ta để chúng ta chứng tỏ cho Ngài thấy, đối với chúng ta, Thiên Chúa quí giá hơn tất cả, quí giá hơn cả những ân huệ Ngài ban, quí hơn công việc mà chúng ta làm cho Ngài. Thiên Chúa thử thách Ðức Maria trên đồi Canvê như đã thử thách dân Ngài trong sa mạc là “để thử cho biết đáy lòng của Người như thế nào” (x. Tl 8, 2), và nơi tấm lòng của Ðức Maria, Ngài lại tìm thấy tiếng “xin vâng”, tiếng “amen của ngày Truyền tin còn nguyên vẹn, thậm chí còn mạnh mẽ hơn thế nữa. Trong những giờ phút như vậy, liệu Ngài có thể gặp thấy tấm lòng chúng ta cũng sẵn sàng thưa lên với Ngài tiếng “xin vâng” và “amen” như thế không. Khi đứng “bên khổ giá Ðức Giêsu”, Ðức Maria như thể luôn thầm thì: “Này con đây! Con đang ở đây, lạy Thiên Chúa của con ; con luôn sống vì Ngài”. Nếu nói theo phương diện loài người, Ðức Maria hẳn có rất nhiều lý do để kêu lên với Thiên Chúa: “Người đã lừa dối tôi!”, hay như tiên tri Giêrêmia ngày kia đã kêu: “Người đã dụ dỗ tôi, lạy Giavê, và tôi đã để mình bị dụ!” (x. Yr 20, 7), và rất nhiều lý do để chạy trốn khỏi Núi Sọ, nhưng ngược lại, Ðức Maria đã không chạy trốn, Người vẫn “đứng đó” trong thinh lặng. Khi hành động như thế, Người đã trở nên vị tử đạo (martyre, chứng nhân) của lòng tin, trở nên chứng nhân tuyệt mức của lòng tín thác vào Thiên Chúa, theo sau Con của Người.
Thiên Chúa phán với Abraham: “Vì ngươi đã làm điều ấy, và đã không từ chối với Ta con một ngươi, thì Ta sẽ ban phúc, chúc lành cho ngươi, Ta sẽ làm cho dòng giống ngươi nên đông đúc … Ta sẽ cho ngươi trở thành cha của hằng hà sa số dân tộc” (Khôn Ngoan 17, 5 ; 22, 16tt). Giờ đây Ngài cũng nói với Ðức Maria như thế và còn hơn thế rất nhiều: “Ta sẽ cho ngươi trở thành mẹ của hằng hà sa số dân tộc, Mẹ của Giáo hội Ta! Nhờ danh ngươi mà mọi thị tộc trên trần sẽ được chúc phúc. Mọi đời sẽ khen ngươi có phúc!”.
Chính vì thế, như dân Israel trong những lúc bị thử thách nặng nề nhất đã thưa cùng Thiên Chúa: “Xin Người nhớ lại Abraham, cha chúng tôi”, thì chúng ta cũng có thể thưa: “Xin Người nhớ lại Maria, Mẹ chúng tôi!”. Và cũng như họ đã thưa với Thiên Chúa: “Xin đừng rút lại lòng nhân của Người với chúng tôi, vì Abraham kẻ Người yêu mến” (Dn 3, 35), chúng ta có thể thưa với Ngài: “Xin đừng rút lui lòng nhân của Người với chúng tôi, vì Maria, kẻ Người yêu mến!”
Như chúng ta đã thấy trong chương trước, Ðức Maria đã kết hiệp với Con của Người trong tôn thờ Thánh ý Chúa Cha, qua đó Người đã thực hiện ơn gọi là “hình bóng của Giáo hội” đến mức hoàn hảo. Bây giờ Người đang đứng đó chờ đợi chúng ta. Về Ðức Kitô, đã có lời viết rằng: “Ngài sẽ hấp hối cho đến ngày tận thế đừng ngủ mê trong thời gian đó.”[123] Nếu Ðức Kitô hấp hối trên Thập giá cho đến ngày tận thế, điều này rất đúng dù chúng ta không thấu hiểu, vậy suốt thời gian đó Ðức Maria có thể ở đâu nếu không phải là ở với Ngài “bên khổ giá”?. Đây chính là nơi Người mời gọi và hẹn gặp các tâm hồn quảng đại để họ kết hợp với Người trong sự tôn thờ Thánh ý Chúa Cha. Tôn thờ Thánh ý Chúa Cha ngay cả khi không thấu hiểu được. Ðừng để Mẹ đứng đó một mình. Ðức Maria hiểu rằng chính đó là những gì lớn lao nhất mà chúng ta có thể thực hành được trong cuộc đời chúng ta, thực hiện ít ra một lần trước khi lìa đời. Ðiều này không miễn trừ hay ngăn cản chúng ta trong việc tìm cách làm dịu bớt nỗi đau khổ cụ thể của những người sống quanh ta, những nỗi đau của toàn thế giới. Ngược lại, chính ở đó mà chúng ta trở nên ân cần, chăm chú hơn, bởi lẽ chúng ta đã nên một với tấm lòng của Thiên Chúa. Chính vì là “Mẹ khổ đau” (Mère des douleurs) mà Ðức Maria cũng là “Ðấng an ủi người đau khổ”.
Kinh thánh viết, khi bà Yudita trở về nhà sau khi đã liều mạng sống để cứu dân tộc mình, dân thành chạy ra đón, và Vị Thượng Tế lên tiếng chúc phúc cho bà: “Hỡi con, phúc cho con nơi Thiên Chúa Tối Cao, hơn mọi người nữ trên trần gian. Quả thực, lòng trông cậy của con đời đời sẽ không rời khỏi lòng những ai nhớ đến sức mạnh Thiên Chúa” (Ydt 13, 18tt). Chúng ta cũng nói lên với Ðức Maria những lời như thế: phúc cho Người giữa mọi phụ nữ! Lòng cậy trông, sự can trường và niềm tín thác mà Người đã chứng tỏ mãi mãi sẽ không bao giờ bị xoá mờ trong tâm khảm và ký ức của Giáo hội ! Chúng ta có thể thâu tóm sự tham dự của Ðức Maria vào mầu nhiệm Vượt qua bằng cách áp dụng cho Người những lời mà thánh Phaolô đã dùng để thâu tóm mầu nhiệm Vượt qua của Ðức Kitô, tuy nhiên vẫn phải giữ những khác biệt tất yếu:
“Ðức Maria, Người phận là Mẹ Thiên Chúa
Nhưng đã không nghĩ phải giằng cho được
Mối liên hệ độc nhất của mình với Thiên Chúa
Song Người đã hủy mình ra không
Lãnh lấy phận tớ nữ
Và với dáng vẻ của Người,
Người tương tự như bao phụ nữ khác
Người đã sống trong sự ẩn thân, khiêm hạ
Vâng phục Thiên Chúa cho đến cái chết của Con mình
Và là cái chết trên Thập giá.
Bởi vậy Thiên Chúa đã siêu tôn Người
Và ban cho Người một danh hiệu,
Vượt trên mọi danh hiệu
Sau danh hiệu của Ðức Giêsu
Hầu trước danh hiệu của Ðức Maria
Mọi gối đều phải bái quỳ
Chốn hoằng thiên, trên địa cầu, dưới gầm đất
Và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng
Maria là Mẹ Chúa
Mà làm vinh quang cho Thiên Chúa Cha. Amen!”
CHƯƠNG 7: CHUYÊN CẦN CẦU NGUYỆN VỚI ĐỨC MARIA, MẸ ĐỨC GIÊSU - CÙNG VỚI ÐỨC MARIA TRÔNG ÐỢI CHÚA THÁNH THẦN NƠI NHÀ TIỆC LY
Trong sách Tông đồ Công Vụ, sau khi đã kể tên 11 vị tông đồ, thánh Luca tiếp tục nói những lời hết sức quý giá đối với các Kitô hữu: “Hết thảy họ đồng tâm nhất trí chuyên cần cầu nguyện, cùng với các phụ nữ và Ðức Maria, Mẹ Ðức Giêsu và các anh em Ngài” (Cv 1, 14). Trong suy niệm này, chúng ta sẽ đi tới Núi Canvê, đến Nhà Tiệc Ly, và đi từ mầu nhiệm Vượt qua sang mầu nhiệm Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.
Biến cố Thánh Thần Hiện Xuống bất thần xảy đến vào cuối cuộc đời Ðức Giêsu, sau khi lịch sử Cứu Ðộ đã đạt tới tột đỉnh. Chúng ta hiểu điều đó, vì giữa chúng ta và Chúa Thánh Thần như có hai bức tường ngăn cách, ngăn cản mối liên hệ trao đổi: bức tường tự nhiên và bức tường tội lỗi. Bức tường tự nhiên: vì Chúa Thánh Thần là Thần Khí, còn chúng ta là xác thịt. Giữa Thánh Thần và xác thịt là một vực thẳm. Bức tường tội lỗi: vì ngoài sự phân cách do bản tính, còn có sự phân cách do tội lỗi nữa: “Chính tội ác của các ngươi đã ngăn cách giữa các ngươi và Thiên Chúa của các ngươi” (Ys 59, 2). Hai bức tường này phải được phá đổ hay nói cách khác đi, hai vực thẳm này phải được lấp đầy để Thần Khí có thể tràn xuống trên chúng ta. Ðây chính là điều mà công trình Cứu Chuộc của Ðức Kitô đã thực hiện. Nhờ mầu nhiệm Nhập thể, Ngài đã phá đổ bức tường ngăn cách tự nhiên, nối kết nơi chính mình Ngài: Thiên Chúa và con người, Thần Khí và xác thịt. Nhờ mầu nhiệm Vượt qua, Ngài đã phá đổ bức tường ngăn cách của tội lỗi. Như chúng ta đọc thấy trong Tin mừng Gioan: “Thần Khí chưa có, bởi Ðức Giêsu chưa được tôn vinh” (Ga 7, 39). Trước hết Ðức Giêsu phải chết đi để Ðấng An Ủi có thể đến (x. Ga 16, 7). Khi chết cho tội lỗi, Ðức Giêsu đã phá đổ bức tường thứ hai này. Thánh Phaolô đã nói: “Ngài đả phá hủy thân xác tội lỗi” (Rm 6, 6). Từ đó, không còn gì có thể ngăn cản Thánh Thần tuôn đổ, điều này quả thực đã xảy ra vào ngày lễ Ngũ tuần.
Tuy nhiên, nếu trong việc thực hiện hay tạo ra ơn cứu độ, Thánh Thần Hiện Xuống xảy ra ở điểm kết thúc, thì trong việc áp dụng ơn cứu độ cho chúng ta, Thánh Thần Hiện Xuống phải được đặt ở điểm khởi đầu. Nói rõ hơn: chúng ta không kết thúc với Thánh Thần mà là khởi đầu với Thánh Thần. Trong đời sống Giáo hội cũng như trong đời sống mỗi người chúng ta, Thánh Thần không đến để hoàn thành tất cả, hay như một phần thưởng cho các việc làm, cho những gian lao thử thách của chúng ta. Ngược lại mới đúng. Nếu không có Thánh Thần thì chúng ta không thể làm được gì, ngay cả nói: “Giêsu là Chúa!” một cách có hiệu quả (x. 1Cr 12, 3). Ðời sống thiêng liêng của chúng ta khởi đầu với Bí tích Rửa Tội, và đó cũng chính là ngày lệ Ngũ tuần của chúng ta.
Tất cả điều này đủ để chúng ta hiểu rằng giai đoạn thứ ba của cuộc hành trình theo bước chân Ðức Maria không giống như một thứ phụ trương, một sự thêm vào những chân lý lớn lao chiêm ngắm thấy trong mầu nhiệm Nhập thể và mầu nhiệm Vượt qua. Giai đoạn này là phương thế thiết yếu để những chân lý lớn lao đó trở nên có hiệu lực trong đời sống chúng ta. Chính nhờ Thánh Thần mà chúng ta có thể bắt chước Ðức Maria trong mầu nhiệm Nhập thể qua việc thụ thai, sinh hạ Ðức Giêsu và trở nên, cả chúng ta nữa, Mẹ của Ngài theo nghĩa thiêng liêng. Chính nhờ Thánh Thần mà chúng ta có thể bắt chước Ðức Maria trong mầu nhiệm Vượt qua, việc đứng dưới chân Thập giá như Mẹ, trong lòng tin và niềm cậy trông.
Ðức Maria trong và sau ngày lễ Ngũ tuần
Khi thấy Tân ước ít nói về Ðức Maria bao nhiêu thì người ta lại lấy làm ngạc nhiên bấy nhiêu khi gặp lại Ðức Maria đúng lúc, sau đồi Canvê là nhà Tiệc Ly, vào giây phút Thánh Thần Hiện Xuống. Như thế, Ðức Maria đã hiện diện vào ba thời điểm chủ chốt của mầu nhiệm Kitô giáo và của: Nhập thể, mầu nhiệm Vượt qua và lễ Ngũ tuần.
Ðiều quan trọng trước tiên là cần phải loại bỏ một cảm tưởng sai lầm trong vấn đề chúng ta đang đề cập. Ở nhà Tiệc Ly cũng như trên đồi Canvê, Ðức Maria được nhắc tới cùng với các phụ nữ khác. Người ta có thể nghĩ rằng Ðức Maria hiện diện ở đó chỉ như một người trong số họ. Nhưng, cả ở đây nữa, tước hiệu “Mẹ Chúa Giêsu” theo sau tên của Người đã làm thay đổi tất cả, và đặt Ðức Maria lên một bình diện không những hoàn toàn vượt trên các phụ nữ mà còn vượt trên cả các tông đồ. Sự kiện Ðức Maria hiện diện ở đó trong tư cách là Mẹ Ðức Giêsu có ý nghĩa gì? Thưa, có ý nghĩa là, Thánh Thần, Ðấng sắp ngự xuống, chính là “Thần Khí của Con Mẹ!” Giữa Ðức Maria và Chúa Thánh Thần có một mối liên kết khách quan, không thể cắt đứt: mối liên kết đó là chính Ðức Giêsu mà các ngài cùng sinh ra. Trong Kinh Tin Kính, chúng ta đọc rằng Ðức Giêsu đã Nhập thể “trong lòng Ðức Trinh Nữ Maria bởi phép Chúa Thánh Thần”. Vì vậy Ðức Maria hiện diện ở nhà Tiệc Ly không phải chỉ như một trong số các phụ nữ, mặc dù bên ngoài không có điều gì phân biệt Người với những người khác và dù Người đã không làm gì để phân biệt mình với các phụ nữ khác.
Dưới chân Thập giá, Ðức Maria xuất hiện như là Mẹ của Giáo hội, ở đây, nơi nhà Tiệc Ly, Người xuất hiện như người Mẹ đỡ đầu Giáo hội. Một người Mẹ đỡ đầu mạnh mẽ và đáng tin cậy. Ðể có thể chu toàn vai trò của mình, mẹ đỡ đầu phải là người đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Ðức Maria là một người Mẹ như thế: Người đã chịu Phép rửa bởi Thánh Thần, và giờ đây Người mang Giáo hội đến chịu Phép rửa bằng Thánh Thần. Nếu người sắp chịu Phép rửa là người đã trưởng thành thì người Mẹ đỡ đầu giúp họ trong việc chuẩn bị: đó chính là điều Ðức Maria đã làm đối với các tông đồ và là điều Người đang làm đối với chúng ta.
Trước khi chào từ biệt Mẹ Thiên Chúa vào giờ Mẹ sắp rời bỏ trần gian, chúng ta thử nhìn vào đời sống của Mẹ sau ngày lễ Ngũ tuần. Trong lãnh vực này, các nguồn tài liệu không nói gì về mặt lịch sử, chúng ta chỉ biết rằng Mẹ đã sống ở nhà Gioan. Tuy nhiên, chúng ta còn một tài liệu đặc biệt “nhờ phương pháp qui nạp”. Nguồn này phát xuất từ kinh nghiệm của các thánh và từ đó ngược lên đến kinh nghiệm của người Mẹ Toàn Thánh. Hiến chế Tín lý về Mạc khải của Thiên Chúa của Công đồng Vaticanô II nói: “Sự nhận thức các sự việc cũng như lời nói trong Kinh thánh sẽ tăng triển hoặc nhờ sự chiêm ngắm và học hỏi của các tín hữu hoặc nhờ sự thông hiểu những điều thiêng liêng họ cảm nghiệm được.”[124] Ðiều đó có nghĩa là sự nhận thức tăng triển không chỉ khởi đi từ việc chú giải Lời Chúa, mà còn từ những hoa trái và những thành tựu mà chính Lời Chúa đã làm phát sinh trong Giáo hội. Từ kinh nghiệm của các thánh, chúng ta không thể kết luận gì về cuộc đời bên ngoài của Ðức Maria, nhưng chúng ta có thể rút ra từ đó một số điều về đời sống nội tâm của Mẹ, vì trong lãnh vực của đời sống thánh thiện cũng có một số những định luật, những tính chất không đổi, giống như trong lãnh vực nghệ thuật hay khoa học. Những điều này không liên hệ gì đến sự hiểu biết phát xuất từ những Mạc khải tư về cuộc đời Ðức Trinh Nữ Maria, những Mạc khải thực sự hay phỏng đoán là như thế, có ý thuật lại những hoàn cảnh bên ngoài hoặc những biến cố nào đó xảy ra trong cuộc đời Ðức Maria trước hoặc sau lễ Vượt qua.
Trước tiên, chúng ta có thể nêu lên một sự kiện mang tính chất phủ định nhưng lại là một chỉ dẫn mang tính chất khẳng định về Ðức Maria: qua thư của các tông đồ, đặc biệt qua những lời chào cuối thư mà chúng ta biết được một số lớn nhân vật, thuộc cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, trong dó có cả những phụ nữ với tên gọi cũng như nghề nghiệp của họ. Chúng ta biết bà Lydie buôn len cánh kiến ở thành Philip, Aquilla và Priscilla làm nghề dệt lụa như thánh Phaolô. Chúng ta cũng thấy nói tới một Maria nào đó (x. Rm 16, 6) nhưng không phải là Mẹ của Ðức Giêsu. Về Maria Mẹ của Ðức Giêsu, ta không thấy nói đến. Mẹ ẩn khuất trong thinh lặng sâu thẳm nhất. Ðức Maria là vị ẩn tu đầu tiên của Giáo hội, tôi thích nghĩ như thế. Sau Lễ Ngũ tuần, Người như đã đi vào đời sống tu viện. Từ nay, cuộc sống của Người là “một cuộc sống ẩn giấu với Ðức Kitô trong Thiên Chúa” (x. Co 3, 3). Ðây là trường hợp luận chứng được rút ra từ sự “thinh lặng”, tuy khác với những gì diễn ra thông thường, nhưng lại là một luận chứng chắc chắn nhất và hùng hồn nhất. Ðức Maria đã mở đầu ơn gọi hay cái hồn thứ hai trong Giáo hội, đó là hồn ẩn giấu và cầu nguyện bên cạnh hồn tông đồ hoặc hoạt động. Sau khi lãnh nhận Thánh Thần, các tông đồ lập tức ra chốn công đường rao giảng và sau đó các ngài ra đi, thiết lập và cai quản các giáo đoàn, coi thường việc bị điệu ra tòa xét xử, và ngay cả triệu tập một công đồng. Ðức Maria thì không như thế. Nói một cách lý tưởng, Người đã ở lại cầu nguyện với các phụ nữ trong nhà Tiệc Ly, qua đó cho thấy rằng trong Giáo hội, hoạt động không phải là tất cả, ngay cả là hoạt động vì Nước Trời, hoạt động không thể thiếu những tâm hồn cầu nguyện trợ lực. Ðức Maria là nguyên mẫu của Giáo hội cầu nguyện.
Ðây chính là điều mà bức icône về Ðức Maria lúc Ðức Giêsu Lên Trời muốn trình bày: bức icône này đi kèm với những suy niệm vừa rồi. Bức tranh không chỉ diễn tả lúc Chúa Lên Trời mà còn cho ta thấy đặc sủng và chỗ đứng riêng của Ðức Maria trong thời gian Giáo hội, là thời gian bắt đầu với sự ra đi của Ðức Giêsu. Ðiều này càng đúng hơn nữa khi thánh Phaolô, tuy đã không hiện diện lúc Ðức Giêsu Lên Trời, nhưng đã được vẽ trên icône (phía bên phải, nếu nhìn vào Ðức Maria). Ðức Maria đứng thẳng đôi tay giang ra trong tư thế cầu nguyện, tách biệt với phần cảnh còn lại bởi các thiên thần vận đồ trắng, vây quanh Người như một bức tường. Mẹ ở giữa như cột buồm to lớn bảo đảm sự thăng bằng và vững vàng cho con tàu. Chung quanh Mẹ là các tông đồ, mỗi vị nhấc một chân hoặc giơ một tay lên trong tư thế chuyển động, diễn tả Giáo hội hoạt động, ra đi thi hành sứ mạng rao giảng và hoạt động. Bên dưới Ðức Giêsu, Ðức Maria đứng yên, ngay nơi điểm mà từ đó Ngài đã cất mình lên, như thể để gìn giữ ký ức và niềm trông đợi Ðức Giêsu.
Chúng ta có thể hiểu được đặc sủng này của Ðức Maria bằng cách khởi đi từ kinh nghiệm của các thánh để từ đó lên tới Ðức Maria như chúng ta đã nói. Thánh Têrêsa Hài Ðồng Giêsu đã mô tả việc khám phá ra ơn gọi của mình torng Giáo hội như thế nào. Khi nghe thánh Phaolô kể ra các đặc sủng khác nhau, Têrêsa ước ao mãnh liệt được sống tất cả các đặc sủng đó. Ngài những mong được làm tông đồ, Linh mục, trinh nữ, tử đạo. Nhưng làm thế nào đây? Những niềm khát khao đó đã thực sự trở thành mối đau khổ dằn vặt thánh nữ, cho tới ngày Têrêsa khám phá ra rằng: Thân Thể Ðức Kitô có một trái tim, và trái tim này làm cho mọi chi thể hoạt động, không có trái tim, tất cả sẽ ngừng hoạt động. Với niềm vui sướng ngập tràn, thánh nữ kêu lên: “Trong trái tim Giáo hội, Mẹ của tôi, tôi sẽ là tình yêu và như thế tôi sẽ là tất cả!.”[125] Têrêsa khám phá ra điều gì trong ngày đó? Thánh nữ đã khám phá ra ơn gọi của Ðức Maria. Làm trái tim yêu thương trong Giáo hội, trái tim mà không ai nhìn thấy.
Vậy, sau ngày Lễ Ngũ tuần, cuộc đời Ðức Maria được dệt bằng gì? Bằng cầu nguyện. Tác giả hạnh thánh Phanxicô Assisi khẳng định rằng, về cuối đời “không còn là một người cầu nguyện nữa nhưng chính cầu nguyện đã làm người.”[126] Ở đây, phải nói thế nào về Mẹ Thiên Chúa?
Chúng ta không biết đời sống cầu nguyện của Ðức Maria là như thế nào, nhưng xuất phát từ “nhận thức những điều thần thiêng” có thể rút ra từ kinh nghiệm các thánh, chúng ta có thể có được một vài trực giác về điều đó. Các nhà thần bí đã mô tả điều xảy ra trong tâm hồn mình sau khi trải qua đêm tối đức tin và được biến đổi trong Ðức Kitô. Tâm hồn họ trở nên như một ngọn lửa tình yêu. Ðời sống của họ, như định nghĩa của thánh Augustinô, biến đổi “trọn vẹn thành niềm khao khát thánh thiện.”[127] Thánh Gioan Thánh Giá có viết một bài thơ ngắn mang tựa đề: “Bài ca của linh hồn mòn mỏi khát khao được nhìn thấy Thiên Chúa”. Mỗi đoạn thơ kết thúc bằng điệp khúc: “Tôi chết vì tôi không chết.”[128] Ở đây, sự chia lìa với Thiên Chúa là điều không thể chịu nổi và đau đớn đối với linh hồn hơn là với sự chia lìa với thân xác. Chính vì thế linh hồn đã nói: “Tôi chết vì tôi không chết”. Một nhà thần bí cổ thời người Syri, khi diễn tả những cảm nghiệm giống như những cảm nghiệm của thánh Gioan Thánh Giá, đã khẳng định rõ: “Tôi mong mõi héo hon không phải vì tiệc cưới nhưng bởi niềm khao khát vị Hôn Phu.”[129] Ông muốn nói ; linh hồn khao khát trời cao không phải để được lãnh nhận phần thưởng, nhưng duy chỉ vì yêu Chúa mà thôi.
Một khi đạt tới mức độ đó, nhu cầu và ước muốn của linh hồn được kết hiệp với Thiên Chúa và chiếm hữu Ngài trọn vẹn trở nên mãnh liệt đến nỗi, theo như lời các thánh, việc tiếp tục sống nơi trần gian trở thành một cuộc tử đạo thực sự. Linh hồn không hiểu nổi tại sao Thiên Chúa để mình tiếp tục sống xa Ngài, như thể Thiên Chúa hoàn toàn lãng quên, không còn nhớ đến mình, đồng thời linh hồn biết mình không còn có thể nào sống xa cách với Ngài. Một phụ nữ Mêhicô, là mẹ một gia đình, sau đó góa chồng, và vụ án phong thánh cho bà được tiến hành, có một đời sống thần bí mà một số người đã so sánh với đời sống thần bí của thánh Têrêsa Avila. “Khoảng 20 năm cuối đời, người ta thấy nơi bà một hình thức sùng kính mới đối với Ðức Maria, đó là bắt chước “đời sống cô tịch” của Mẹ Thiên Chúa lúc cuối đời, khi mà đời sống yêu thương của Mẹ Ðức Giêsu đạt tới tột đỉnh.”[130] Sự cô tịch của Ðức Maria hay soledad, như bà đã gọi, có nghĩa vừa là sự cô đơn vừa là sự cô quạnh, một cuộc tử đạo lặng lẽ trong đức tinh tuyền và trong sự vắng mặt bề ngoài của Con mình, đang ở trên trời.
Tất cả những điều này mang đến cho chúng ta một ánh sáng mới về đời sống của Ðức Maria sau lễ Vượt qua. Cũng như mọi tín hữu khác. Ðức Maria cảm thấy gì khi đọc Thánh vịnh 42: “Linh hồn con khao khát Chúa Trời, Chúa Trời hằng sống. Bao giờ con được đến vào bệ kiến Tôn Nhan?” (Tv 42, 3). Bao giờ tôi được thấy Ngài, bao giờ? Ðức Giêsu từng nói, kho tàng chúng ta ở đâu thì lòng chúng ta ở đó (x. Mt 6, 21). Từ nay kho tàng của Ðức Maria ở đâu? Ðức Giêsu đang ở đâu? Nếu điều này đúng trên bình diện nhân loại đối với rất nhiều bà mẹ mất đi đứa con trẻ và đang phải sống cô quạnh, thì chúng ta nghĩ xem nó phải đúng với Ðức Maria đến thế nào nữa. Nếu thánh Phaolô, tất nhiên là người bạn nghĩa thiết, nhưng là bạn chứ không là mẹ của Ðức Giêsu, đã có thể nói: “Tôi ước mong được thoát khỏi thân xác để được ở cùng Ðức Kitô” (x. Ph 1, 23), thì phải nói thế nào về Ðức Maria? Và Người đã cảm thấy gì khi đọc lên những Thánh vịnh hành hương: “Tấm thân con mòn mõi đợi trông Ngài . Mảnh hồn này khát khao mòn mỏi, mong tới được khuôn viên đền vàng” (Tv 63, 2 ; 84, 3).
Sau lần xuất thần ở Ostie, nơi mà thánh Monica cùng với con là Augustinô phần nào cảm nếm được đời sống vĩnh cửu, thánh nữ đã lặp đi lặp lại: “Tôi làm gì ở đây nhỉ?” Vài ngày sau, thánh nữ qua đời.”[131] “Tôi làm gì ở đây nhỉ?” Mẹ Ðức Giêsu đôi lúc lại không thốt ra những lời như thế hay sao? Kierkegaard, triết gia và là một Kitô hữu, đã viết: “Các nhà thông thái của Giáo hội cứ việc tranh cãi về Ðức Trinh Nữ Maria được đưa lên trời, phần tôi, việc Người được đưa lên trời không phải là điều không thể hiểu được, vì lẽ Ðức Maria đã không còn thuộc về trần gian này.”[132]
Chúng ta đã nói Ðức Maria, vào ngày Lễ Ngũ tuần và thời gian sau đó, là nguyên mẫu của tâm hồn cầu nguyện. Chúng ta có thể biết gì về đời sống cầu nguyện của Ðức Maria? Thánh Augustinô giải thích, bản chất của cầu nguyện là niềm khao khát Thiên Chúa “trào dâng từ đức tin, đức cậy và đức mến. “Niềm khao khát đó là lời cầu nguyện của bạn, nếu niềm khao khát của bạn liên tục thì lời cầu nguyện của bạn cũng liên tục. Vì thế, không phải là vô ích khi thánh Tông đồ nói: “Hãy cầu nguyện không ngừng” (1Th 5, 17). Nhưng phải chăng lúc nào chúng ta cũng quì gối, cúi mình giơ cao tay, vì thánh Phaolô nói: “Hãy cầu nguyện không ngừng?” Nếu cầu nguyện là như thế thì tôi nghĩ chúng ta không thể làm điều đó mà không phải ngừng nghỉ. Có một cách cầu nguyện khác thuộc nội tâm và không gián đoạn: đó là niềm khao khát. Dù bạn có làm việc gì đi nữa, nếu bạn khát mong ngày “Sabbat” này, bạn sẽ không khi nào ngừng cầu nguyện. Chính vì thế, nếu bạn không muốn ngừng cầu nguyện thì bạn hãy khát khao không ngơi. Niềm khao khát liên tục của bạn sẽ như một tiếng kêu xin liên lỉ.”[133] Ðức Maria đã biết cầu nguyện liên lỉ vì niềm khao khát Thiên Chúa, khao khát ngày “Sabbat” vĩnh cửu và sự yên nghỉ nơi Giêrusalem Thiên quốc của Người là niềm khao khát không ngơi.
Ngay cả trong thời gian sau Lễ Ngũ tuần, đời sống Ðức Maria hẳn phải giữ được đặc tính căn bản mà chúng ta gặp thấy trong mọi kỳ công vĩ đại của Thiên Chúa: đó là vẻ hết sức đơn giản bên ngoài gắn liền với nét cao cả, huy hoàng của thực tại bên trong. Bên ngoài, Ðức Maria hẳn mang dáng vẻ của “một phụ nữ luống tuổi, nhỏ nhắn, hiền lành, mỗi lúc một nhăn nheo hơn và mỗi lúc một hiền hậu hơn”. Là Trinh Nữ và là Mẹ, Ðức Maria cũng đã là “quả phụ” và là Mẹ, vì thế Người đã thánh hóa cảnh ngộ này của rất nhiều phụ nữ bằng chính cuộc đời mình. Ðức Maria là như thế nào “trong thẳm sâu”, đó vẫn là một bí ẩn mà Thiên Chúa giữ vững cho một mình Ngài. Một tác giả tu đức thế kỷ IV đã mô tả đời sống nội tâm của những người đạt tới sự kết hiệp trọn vẹn với Thiên Chúa. Xuyên qua đời sống thiêng liêng đã đạt đến mức hoàn hảo, chúng ta có thể biết được điều gì đó xảy ra nơi tâm hồn, trong trái tim của Mẹ Thiên Chúa: “Ðôi lúc, họ như bị chìm ngập trong buồn sầu và nước mắt, vì thế họ không ngừng cầu nguyện cho con người, nước mắt trào tuôn vì tình yêu mãnh liệt dành cho nhân loại. Ðôi khi thì ngược lại, nhờ Thánh Thần, họ cháy bừng niềm vui và lòng mến đến nỗi, nếu có thể được, họ muốn mang lấy tất cả mọi người trong trái tim mình, không phân biệt người lành cũng như kẻ dữ. Có những lúc, vì khiêm hạ, họ thấy mình ở dưới mọi người . Thường thì tâm hồn họ an nghỉ trong thinh lặng thần nhiệm, trong an tĩnh và yên bình, họ đắm mình trong hoan lạc thần thiêng, trong sự hài hòa tuyệt hảo. Họ nhận được những ơn ưu việt: ơn thông hiểu, ơn khôn ngoan khôn tả, ơn hiểu biết vô tận của Thánh Thần, theo cách này, ân sủng dạy cho họ những điều mà ngôn ngữ không thể trình bày, lời nói không thể diễn tả. Ngược lại những lúc khác họ xử sự như mọi người.[134]
Ðây là những tia sáng đầu tiên của đời sống vĩnh cửu, mở đầu cho sự gặp gỡ đối diện với Thiên Chúa. Nơi Ðức Maria, những tia sáng này chắc chắn đã không yếu hơn, nhưng mãnh liệt hơn nhiều so với tất cả các thánh.
Cầu nguyện để đón nhận Thánh Thần
Giờ đây, theo thói quen, chúng ta tiến tới việc chiêm ngắm Ðức Maria như hình bóng và tấm gương của Giáo hội. Ðức Maria nói gì với chúng ta qua sự hiện diện của Người ở nhà Tiệc Ly vào ngày Lễ Ngũ tuần, và qua sự hiện diện cầu nguyện trong lòng cộng đoàn Kitô hữu sau Lễ Ngũ tuần? Với ước mong theo sát với bản văn Công Vụ Tông đồ bao nhiêu có thể, tôi nghĩ rằng chúng ta có thể tóm tắt giáo huấn về Ðức Maria trong ba điểm:
Ðiểm thứ nhất: Trước khi thực hiện bất cứ điều gì và trước khi tiến bước trên các nẻo đường trần gian, Giáo hội cần phải đón nhận Thánh Thần.
Ðiểm thứ hai: Ðể đón nhận Thánh Thần đến, Giáo hội phải chuẩn bị nhất là bằng cầu nguyện.
Ðiểm thứ ba: Việc cầu nguyện đó phải đồng tâm nhất trí và kiên trì.
Trước hết, Chúa Thánh Thần rất cần thiết cho Giáo hội. Khi các tông đồ hỏi xem bao giờ Vương Quyền Thiên Chúa sẽ đến, Ðức Giêsu trả lời: “Các ngươi sẽ nhận lấy quyền lực Thánh Thần sẽ đến trên các ngươi, các ngươi sẽ là chứng tá của Ta” (Cv 1, 6 – 8). Ðức Giêsu dặn họ đừng rời khỏi Giêrusalem, nhưng hãy chờ đợi lời hứa được thực hiện và họ “được thanh tẩy trong Thánh Thần” (Cv 1, 4 – 5). Lời dặn bảo này của Ðức Giêsu kết thúc Phúc Âm thánh Luca: “Các ngươi hãy ở lại trong thành cho đến bao giờ các ngươi được mặc lấy mãnh lực trên ban” (Lc 24, 49).[135]
Các môn đệ còn mang ý tưởng sai lầm về Nước Thiên Chúa và về việc Nước Chúa đến. Qua những lời nói đó, Ðức Giêsu uốn nắn lại quan niệm sai lầm của họ về bản chất của Nước Thiên Chúa và về việc Nước Chúa đến. Họ sẽ lãnh nhận Thánh Thần và nhờ Thánh Thần, họ sẽ làm chứng cho Ðức Giêsu, sẽ rao giảng Tin mừng của Ngài. Người ta sẽ trở lại, và đó chính là Nước Chúa đến. Ðoạn tiếp theo của trình thuật cho thấy lời hứa được thực hiện đúng thời gian. Các môn đệ chờ đợi Chúa Thánh Thần ngự đến. Họ được mặc lấy quyền lực trên ban. Họ bắt đầu rao giảng cho đám đông dân chúng cách mạnh dạn. Ba ngàn người bị đâm thấu lòng. Cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi ra đời. Tất cả những điều này được trình bày cách rõ ràng như một định luật, một mẫu mực, được đặt ra ngay từ buổi đầu của lịch sử , để nói cho Giáo hội ở mọi thời biết Nước Chúa đến như thế nào, theo định luật nào, và đâu là những đòi hỏi hay động lực phát triển của Nước Chúa. Vì thế điều này cũng có giá trị cho chúng ta hôm nay. Chúng ta không thể đi rao giảng nơi các quảng trường cách kết quả nếu không đi qua nhà Tiệc Ly, nếu trước hết không mặc lấy quyền lực trên ban. Trong Giáo hội, tất cả mang sức mạnh và ý nghĩa nhờ Thánh Thần hoặc sẽ không có sức mạnh và ý nghĩa gì. Thật chí lý khi có lời viết: “Không có Thánh Thần, Thiên Chúa sẽ vẫn ở thật xa ; Ðức Kitô vẫn ở trong quá khứ; Tin mừng là chữ chết, Giáo hội đơn thuần là một tổ chức, quyền bính chỉ là sự thống trị ; các công cuộc truyền giáo chỉ là sự tuyên truyền ; phụng tự đơn thuần là kỷ niệm ; cuộc sống của các Kitô hữu chỉ là một thứ luân lý của những kẻ nô lệ. Nhưng trong Thánh Thần, thế giới chỗi dậy và rên siết trong cơn đau sinh hạ Nước Chúa ; con người chiến đấu chống lại xác thịt ; Ðức Kitô Phục sinh hiện diện ; Tin mừng làm sự sống nẩy mầm ; Giáo hội là dấu chỉ của hiệp thông Ba Ngôi ; quyền bính phục vụ cho sự giải thoát ; các công cuộc truyền giáo là một lễ Hiện xuống, Phụng vụ là một tưởng niệm và là một sự thực hiện trước ; cuộc sống Kitô hữu là một cuộc sống được thần hóa.”[136]
Ðiểm thứ hai là việc chuẩn bị cho Lễ Ngũ tuần, cho ơn ban Thánh Thần bằng cầu nguyện. Thái độ của các tông đồ trước khi Chúa Thánh Thần Hiện Xuống thực tế là thái độ nào? Phải chăng các ngài tranh cãi về bản tính của Chúa Thánh Thần hay về điều gì đó tương tự? Không, các ngài đã cầu nguyện! Ðể cho sự kiện này được nổi rõ hơn, thiết tưởng cần phải xác định thêm một chút. Sau khi đề cập đến nhóm nhỏ chuyên cầu nguyện (Cv 1, 14), sách Công Vụ nói về việc tuyển chọn người thay thế Giuđa (Cv 1, 15 – 26), ngay sau đó là trình thuật về Lễ Ngũ tuần. Như thế, có vẻ như Chúa Thánh Thần Hiện Xuống trên các tông đồ không phải lúc họ đang cầu nguyện mà là trong lúc họ tranh luận, bàn thảo. Nhưng, qua khảo sát bản văn, người ta thấy sự việc được mô tả trong Công vụ 1, 15 – 26 là một sự việc có thể đã diễn ra vào lúc khác nhưng người ta đã đặt xen vào đó (bản văn nói đến một trăm hai mươi người tề tựu nên khó có thể nào vào phòng trên lầu mà trước đó có nói đến). Trình thuật Thánh Thần Hiện Xuống rõ ràng gắn với việc cầu nguyện sốt sắng nhiệt thành của nhóm nhỏ mà chúng ta vừa nói tới.[137]
Như vậy, điều xảy ra lúc Ðức Giêsu chịu Phép rửa đã được lặp lại ở đây: “Ðức Giêsu cũng chịu Phép rửa và đang khi Ngài cầu nguyện thì trời mở ra, Thánh Thần xuống trên Ðức Giêsu” (Lc 3, 21 – 22). Theo thánh Luca, dường như chính lời cầu nguyện của Ðức Giêsu đã xé rách bầu trời và làm cho Thánh Thần Hiện Xuống. Cũng tương tự như thế ở nhà Tiệc Ly. Trong khi Giáo hội đang cầu nguyện, “thì bỗng xảy đến từ trời một tiếng rào rào như thể do cuồng phong thổi đến Giáo hội. Hết thảy họ được đầy Thánh Thần” (Cv 2, 2 – 4).
Một ghi nhận rất đáng lưu ý đó là: trong sách Công Vụ, việc Thánh Thần ngự đến luôn được đặt trong mối liên hệ với việc cầu nguyện. Các bản văn tuy không quên vai trò quyết định của Phép rửa (x. Cv 2, 38), nhưng vẫn nhấn mạnh hơn đến vai trò của việc cầu nguyện. Saulô “đang cầu nguyện” khi Chúa sai Hananya đến để làm cho ông thấy lại và thông ban Thánh Thần cho ông (Cv 1, 9 – 11). Sau khi Phêrô và Gioan bị bắt và được giải thoát, cộng đoàn đang cầu nguyện: “Lúc cầu nguyện xong thì chỗ họ nhóm họp rung chuyển và hết thảy, họ được đầy Thánh Thần” (Cv 4, 31). Khi các tông đồ nghe tin xứ Samaria đã đón nhận Lời Thiên Chúa thì sai Phêrô và Gioan đến với họ “các ngài xuống và đã khẩn cầu để họ được chịu lấy Thánh Thần” (Cv 8, 15). Cũng dịp này, khi Simon làm nghề phù thủy, dâng tiền để được chịu lấy Thánh Thần, thì các tông đồ đã phẫn nộ chống lại (x. Cv 8, 18tt). Thánh Thần không thể mua tậu được, người ta chỉ có thể khẩn xin nhờ cầu nguyện. Ðó là khí giới duy nhất của chúng ta, và là một khí giới luôn hiệu nghiệm vì chính Ðức Giêsu bảo đảm với chúng ta điều đó.
Quả thực, Ðức Giêsu đã nối kết ơn ban Thánh Thần với cầu nguyện: “Vậy nếu các ngươi tuy là ác, còn biết lấy của lành làm quà cho con, thì huống hồ chi là Cha các ngươi, từ trời, Người sẽ ban Thánh Thần cho những ai xin Người” (Lc 11, 13). Ngài chẳng những đã nối kết ân huệ này với lời cầu nguyện, của chúng ta mà còn nối kết với lời cầu nguyện của chính Ngài. Khi nói: “Ta sẽ xin Cha và Người sẽ ban cho các ngươi một Ðấng Bầu Chữa khác” (Ga 14, 16). Lời cầu nguyện của các tông đồ khi tụ họp ở nhà Tiệc Ly với Ðức Maria là lời khẩn xin Thánh Thần (épiclèse) đầu tiên, trọng đại, mở đầu cho chiều kích khấn xin Thánh Thần (dimension epiclétique) của Giáo hội, lời nguyện “Lạy Chúa Thánh Thần, xin ngự đến” sẽ vang lên trong Giáo hội suốt mọi thời đại, và Phụng vụ sẽ hát lên lời kinh đó lúc khởi đầu các hành động Phụng vụ quan trọng nhất.
Tuy nhiên, trước tiên người ta có thể bác bẻ: nếu Thánh Thần là một “ân huệ”, ngay cả là ân huệ tuyệt hảo của Thiên Chúa, thì tại sao cầu nguyện lại cần thiết để nhận được ân huệ đó? Ân huệ lại không phải là nhưng không sao? Cả hai khía cạnh của vấn đề đều đúng: Thánh Thần là một ân huệ và Thiên Chúa thường chỉ ban ơn đó cho những ai xin Người. Thiên Chúa không áp đặt mà là đưa ra các ân huệ của Người. Cầu nguyện là biểu lộ sự đón nhận, biểu lộ niềm khát khao của con người thụ tạo chúng ta. Cầu nguyện là biểu lộ của tự do mở ra cho ân sủng.
Thứ đến, người ta có thể bác bẻ: trong Tân ước có những khẳng định dường như nói ngược lại, đó là phải lãnh nhận Thánh Thần đã rồi mới có thể cầu nguyện. Theo thánh Phaolô, Thánh Thần đến nâng đỡ sự yếu hèn của chúng ta. Ngài chuyển cầu cho ta và dạy ta biết cầu nguyện (x. Rm 8, 26). Nếu không bởi sức Thánh Thần thì ngay cả nói: Giêsu là Chúa, cũng không thể được (x. 1Cr 12, 3), mà đó mới chỉ là lời cầu nguyện đơn giản nhất. Vậy phải nói thế nào về việc Thiên Chúa ban Thánh Thần cho những ai xin Người? Ðiều gì chiếm vị trí đầu tiên: Thánh Thần hay cầu nguyện? Ở đây cũng thế, cả hai khía cạnh đều đúng. Giữa cầu nguyện và ơn Thánh Thần chúng ta thấy có cùng một mối liên hệ tương thông, tương nhập như giữa ân sủng và tự do. Chúng ta cần lãnh nhận Thánh Thần để có thể cầu nguyện, và chúng ta cần cầu nguyện để có thể lãnh nhận Thánh Thần. Khởi đầu là việc ban ân sủng, sau đó phải cầu nguyện để gìn giữ và phát triển ân huệ đó.
Không phải chỉ có một Lễ Ngũ tuần, đó là chúng ta nhận thấy khi đọc Tông đồ Công Vụ. Lúc ban đầu, Thánh Thần đã Hiện Xuống (x. Cv 2, 1tt) ngay sau việc các tông đồ cùng với Ðức Maria chuyên cần cầu nguyện (x. Cv 1, 14). Người ta có thể nghĩ rằng, từ nay Giáo hội đã có những gì cần thiết và có thể một mình theo đuổi cho tới ngày Quang Lâm. Thế nhưng, chỉ sau đó ít lâu, khi phải đối diện với những khó khăn trầm trọng, Giáo hội lại phải cầu nguyện và lĩnh ơn Thánh Thần để có thể tiếp tục hiên ngang rao giảng Lời Thiên Chúa (x. Cv 4, 23 – 31). Ra khỏi nhà Tiệc Ly, Giáo hội phải quay trở lại đi theo định kỳ để ở đó, không ngừng “được mặc lấy mãnh lực trên ban”.
Ước gì tất cả những điều này không còn là một giáo huấn trừu tượng và mơ hồ. Mỗi người phải tự cảm thấy mình bị chất vấn. Bạn có muốn lãnh nhận Thánh Thần không? Bạn có muốn thấy mình yếu đuối và ao ước được mặc lấy mãnh lực trên ban không? Bạn có cảm thấy nguội lạnh và muốn được sưởi ấm lại không? Bạn có cảm thấy mình quá khô khan và muốn được tưới gội không? Bạn có cảm thấy mình bị chai cứng và muốn được trở nên mềm mại không? Bạn có cảm thấy mình không hài lòng với cuộc sống đã qua và muốn được đổi mới không? Hãy cầu nguyện và cầu nguyện thật nhiều đi! Ước gì trên môi miệng bạn không ngớt thốt ra lời kêu nài khiêm tốn này: Veni Sancte Spiritus, Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến! “Ôi lạy Thần Khí của Thiên Chúa Hằng Sống, xin hãy đến chạm vào trái tim con, xin hãy là Thầy dạy trong con, thăm dò con, hướng dẫn con trong tình yêu của Người”. Nếu với lòng tin, một người hay một nhóm bước vào cầu nguyện, trong sự cô tịch, cương quyết không chỗi dậy bao lâu chưa được mặc lấy mãnh lực trên ban, và chưa được thanh tẩy trong Thánh Thần, thì chắc chắn người đó sẽ không chỗi dậy mà lại không được thoả nguyện vượt mọi chờ mong.
Những người kiên trì cầu nguyện
Chúng ta qua điểm thứ ba là điểm đáng chú ý hơn nữa. Phải cầu nguyện thế nào để có thể lãnh nhận Thánh Thần? Ðức Maria và các tông đồ đã cầu nguyện như thế nào? Các Ngài đã cầu nguyện “đồng tâm nhất trí và chuyên cần”. Ðồng tâm nhất trí, (homothymadon) hiểu sát nghĩa là một lòng mà thôi. Ðức Giêsu từng nói, khi dâng của lễ lên trước thiên nhan Thiên Chúa thì phải đi làm hòa với anh em trước đã (x. Mt 5, 23). Thánh Phaolô khuyên các Kitô hữu hãy tâm đầu ý hợp với nhau “ngõ hầu tôn vinh Thiên Chúa cùng một lòng” (cùng từ ngữ diễn tả như trong Cv 1, 14) và “cùng một miệng lưỡi” (Kn 15, 5 – 6).
Thánh Thần là hiệp thông ; Ngài là mối dây hiệp nhất trong Chúa Ba Ngôi và trong Giáo hội. Ai ở ngoài sự hiệp nhất thì không thể lãnh nhận Thánh Thần. Thánh Augustinô viết: “Linh hồn đối với thân xác ta thế nào thì Chúa Thánh Thần cũng như thế đối với Thân Thể của Ðức Kitô là Giáo hội.[138] Nếu một phần thân thể, như bàn tay chẳng hạn, muốn sống một mình, không liên hệ gì với các phần còn lại của thân thể, liệu linh hồn có bỏ phần còn lại của thân thể để đến với bàn tay không? Linh hồn có để cho phần còn lại chết để làm cho bàn tay sống không? Chắc chắn là không! Chính bàn tay sẽ không có linh hồn và sự sống. Nó trở nên bàn tay “khô bại” như tay của người mà Phúc Âm nói tới (x. Mt 12, 10). Trên bình diện thiêng liêng cũng như thế. Qua đó, ta thấy tầm quan trọng quyết định của sự hiệp nhất, cảm thông, hòa giải nơi những người ao ước và chuẩn bị đón nhận Thánh Thần. Thánh Phaolô còn nói: phải “duy trì sự hiệp nhất của Thánh Thần nhờ mối dây liên kết hòa thuận” (x. Ep 4, 3).
Một vài tuần lễ trước, khi hội họp với Ðức Giêsu trong nhà Tiệc Ly để cử hành lễ Vượt qua, các tông đồ tranh cãi nhau xem “ai trong họ là người lớn nhất” (x. Lc 22, 24). Giờ đây, cũng chính thánh Luca đã kể lại cho chúng ta rằng họ đồng tâm nhất trí, cùng một tấm lòng. Sự hiện diện của Mẹ Ðức Giêsu ở giữa họ chắc hẳn đã góp phần tạo nên bầu khí mới mẻ này, bầu khí hiệp nhất và hòa thuận khi cầu nguyện một lòng một dạ, không ai lại cầu nguyện chỉ cho riêng mình, nhưng mỗi người cầu nguyện cho mọi người, và lời cầu nguyện bay lên tới Chúa là bởi toàn thân thể. Và vì mỗi người cầu nguyện cho mọi người nên mọi người cầu nguyện cho mỗi người ; sức mạnh của lời cầu nguyện được tăng bội, đó là phép lạ của đức ái. Thánh Augustinô đã có lý khi kết luận bài giảng ngày lễ Hiện xuống bằng những lời sau đây: “Vậy, nếu các bạn muốn đón nhận Thánh Thần, các bạn hãy giữ đức ái, yêu mến sự thật, ao ước sự hiệp nhất.[139]
Lời cầu nguyện của Ðức Maria và của các tông đồ còn cho thấy một đặc tính khác. Chúng ta sẽ dừng lại ở điểm này lâu hơn: đó là sự kiên trì. Từ gốc Hylạp diễn tả khía cạnh này của kinh nghiệm Kitô giáo (proskarterountes) nhấn mạnh đến tính bền bỉ của hành động. Hành động cách chuyên cần và bền đỗ. Người ta dịch là “những người kiên trì”, hay “những người chuyên cần” cầu nguyện. Cũng có thể dịch là “bền bỉ bám chắc” vào cầu nguyện.
Ðây là một từ ngữ quan trọng vì nó được lặp đi lặp lại rất thường xuyên khi Tân ước nói về cầu nguyện. Trong Tông đồ công Vụ ta thấy từ ngữ này được nói tới xa hơn một chút: các tín hữu đầu tiên nói tới đức tin “đã chuyên cần với lời giáo huấn, với việc bẻ bánh và kinh nguyện” (Cv 2, 42). Thánh Phaolô khuyên “hãy kiên trì cầu nguyện” (Rm 12, 12 ; Co 4, 2). Trong một đoạn thư gửi tín hữu Êphêsô, chúng ta đọc thấy: “Hãy lấy kinh nguyện và cầu xin mà khẩn cầu mọi thời mọi buổi, nhờ sức Thần Khí và vì thế hãy tỉnh thức, một lòng bền đỗ không lơi mà cầu xin cho các thánh hết thảy” (Ep 6, 18).
Nền tảng của giáo huấn này bắt nguồn từ chính Ðức Giêsu. Dụ ngôn về bà góa quấy rầy đưa ra kết luận “phải cầu nguyện luôn, đừng chán nản” (x. Lc 18, 1). Người phụ nữ Canaan là một minh họa cho việc khẩn khoản nài xin, không chút nản lòng, và chính vì sự khẩn khoản đó mà cuối cùng bà được thỏa nguyện. Ðầu tiên, bà xin Ðức Giêsu chữa bịnh cho con gái bà: Ðức Giêsu “không đáp lại một lời”. Bà nài nỉ: Ðức Giêsu lại nói Ngài chỉ được sai đến với các chiên lạc nhà Israel thôi. Bà sụp lạy dưới chân Ngài. Ðức Giêsu đáp lại ; không nên lấy bánh của con cái mà ném cho đàn chó. Quả là chán nản quá sức! Nhưng người đàn bà Canaan vẫn thưa: “Vâng, nhưng đàn chó cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống.” Bấy giờ Ðức Giêsu vui mừng kêu lên: “Hỡi bà, lòng tin của bà mạnh thật! Bà muốn sao thì được như thế” (Mt 15, 21tt).
Cầu nguyện lâu giờ và kiên trì không có nghĩa là nói nhiều lời hay lảm nhảm như dân ngoại (x. Mt 6, 70. Kiên trì trong cầu nguyện có nghĩa là cầu xin thường xuyên, luôn hy vọng, không bao giờ ngừng. Ðiều đó có nghĩa là không cho phép mình ngơi nghỉ và cũng không để cho Thiên Chúa nghỉ yên: “Các ngươi, những kẻ khao khát tưởng niệm đến Chúa, các ngươi chớ hề ở yên! Các ngươi đừng để Người ở yên cho đến khi Người mang lại sự vững chắc cho Giêrusalem” (Ys 65, 24).
Vậy tại sao phải kiên trì cầu nguyện? Tại sao Thiên Chúa không nhận lời ngay lúc ta xin? Phải chăng, trong Kinh thánh, Thiên Chúa đã không hứa nhận lời ngay lúc ta kêu xin Người, ngay cả trước khi ta dứt lời cầu xin sao? “Trước khi chúng kêu, Ta đã đáp lại, chúng còn đang nói, Ta đã nhậm lời” (Ys 65, 24). Ðức Giêsu đã nhắc lại: “Và Thiên Chúa lại không công bằng mà xét xử cho kẻ Người chọn hằng kêu cứu với Người đêm ngày sao? Lẽ nào Người cứ khất lần với họ mãi? Ta nói cho các ngươi biết: Người sẽ cứ công bằng mà xét xử cho họ ngay tức khắc” (Lc 18, 7).
Kinh nghiệm đã chẳng hiển nhiên phủ nhận những bảo đảm tương tự như thế sao? Chắc chắn là không! Thiên Chúa đã hứa luôn đoái nghe, đoái nghe ngay lúc chúng ta kêu cầu Người. Thực sự Người đã làm như thế. Nhưng phần chúng ta thì phải biết mở mắt nhìn. Quả thật, Thiên Chúa đã giữ lời: khi trì hoãn giúp đỡ là Người đã giúp chúng ta rồi. Chính sự trì hoãn đó là một sự giúp đỡ. Như thế là sao? nếu Người đoái nghe ước muốn của kẻ kêu xin quá nhanh chóng, thì Người sẽ không thể ban cho người đó một sức khoẻ hoàn hảo. Bởi lẽ cần phải phân biệt rõ: người cầu xin có thể được đoái nhận hoặc theo lời họ cầu xin hoặc theo nhu cầu đích thực của họ, và trong trường hợp này là ơn cứu độ. Thiên Chúa luôn luôn và lập tức nhận lời khi liên quan đến ơn cứu độ của người cầu xin (và ơn cứu độ này là hoặc phải là ước muốn sâu xa của người cầu xin). Còn đối với ước muốn nhất thời, mà ước muốn đó có thể là không tốt, thì Thiên Chúa không luôn luôn đoái nhận 17. Ðôi khi chúng ta hát các Thánh vịnh: “Ôi lạy Chúa, xin hãy nghe. Hãy lắng tai, lạy Chúa”, và dường như Thiên Chúa không bao giờ nghe chúng ta. Bạn hãy coi chừng, Người đã nghe lời bạn rồi! Nếu bạn tiếp tục cầu nguyện, đó chính là vì Người đã đoái nghe bạn. Nếu không, bạn đã không còn cầu nguyện nữa.
Thiên Chúa đã hứa luôn ban “các sự lành”, ban “Thánh Thần” cho những ai kêu xin Người. Người hứa thực hiện tất cả những gì chúng ta xin “theo ý Người” (x. 1Ga 5, 14). Người không ban cho chúng ta điều không theo như ý Người cũng như những điều sẽ không phải là “sự lành” cho chúng ta, và do đó sẽ gây ra sự dữ cho chúng ta. Như thế, có phải là Người đã không lắng nghe, thấu tỏ đời sống và lời cầu nguyện của chúng ta? Nếu đứa con xin bánh, chẳng lẽ người cha lại cho nó con rắn? Không! (x. Mt 7, 7tt). Nếu con xin rắn, mà chính nó cũng không biết là rắn, liệu người cha có đưa rắn cho con dù con mình có khóc lóc dậm chân và kết tội cha không yêu nó không? Người cha sẽ thà chịu kết án cách bất công chứ không cho con mình thuốc độc hay nọc độc.
Thiên Chúa lắng nghe ngay cả khi Người không nghe lời. Sự trì hoãn của Người ngay cả việc ban những điều lành là một cách lắng nghe và đoái nhận. Thật vậy, khi trì hoãn nhận lời, Người làm cho đức tin của ta mạnh lên, Người dẫn chúng ta tới chỗ biết cầu xin những gì tốt hơn.[140] Rất thường khi chúng ta bắt đầu cầu nguyện là xin những điều nhỏ mọn chẳng là gì, những nhu cầu vụn vặt của cuộc sống hiện tại. Chúng ta không biết điều gì là thực sự quan trọng. Sự trì hoãn nhận lời khiến chúng ta dần dần nhận ra những nhu cầu đích thực, nhu cầu về Thiên Chúa, về đức tin, về lòng kiên nhẫn, về đức ái, về đức khiêm nhường hơn là những giá trị vật chất. Như thế Thiên Chúa đã làm cho tâm hồn chúng ta mở rộng để có thể đổ đầy tâm hồn chúng ta theo mức độ xứng với nó. Chúng ta hãy nhớ lại mẫu gương của người phụ nữ Canaan. Nếu Ðức Giêsu đã nghe lời bà ngay từ lời cầu xin đầu tiên thì điều gì sẽ xảy ra? Con gái bà sẽ được cứu thoát khỏi quỷ ám, nhưng mọi sự khác vẫn tiếp tục như trước, bà mẹ và người con sẽ kết thúc ngày sống của mình như bao người khác. Vì vậy, khi trì hoãn nghe lời bà xin, Ðức Giêsu làm cho đức tin và òng khiêm hạ của bà lớn lên, lớn lên hơn nữa cho tới khi Ðức Giêsu vui sướng kêu lên: “Hỡi bà, lòng tin của bà lớn thật!” (Mt 15, 28). Người đàn bà quay trở về nhà mình: bà không chỉ thấy con gái mình khỏi bệnh, mà chính bà còn được biến đổi, bà tin vào Ðức Kitô: một trong những tín hữu đầu tiên thuộc dân ngoại vì bà là người Syro-Phénici. Một giá trị như thế sẽ tồn tại muôn đời. Khi không được nhận lời ngay mà chúng ta cứ vẫn tiếp tục cầu xin thì chúng ta cũng sẽ nhận được như vậy.
Khi đối tượng của lời cầu nguyện của chúng ta là một hồng ân tuyệt hảo, hồng ân mà Chúa muốn ban cho chúng ta, là Chúa Thánh Thần, chúng ta phải tránh một ảo tưởng có thể có. Bởi lẽ chúng ta có thể làm cho Thánh Thần trở thành một hồng ân không phải là tốt mà là xấu. Ðiều này xảy ra khi chúng ta, với ít nhiều ý thức, tưởng tượng Thánh Thần như một sức trợ giúp mạnh mẽ từ trên ban, một luồng sinh khí đem lại sức sống cách dễ chịu cho lời cầu nguyện, cho lòng sốt sắng của chúng ta, làm cho tác vụ của chúng ta được hữu hiệu và vác thánh giá đỡ nặng nề. Bao năm tháng bạn đã cầu nguyện theo kiểu này để được Thánh Thần Hiện Xuống, và dường như không có lấy một hơi gió dù rất nhẹ đáp lại lời bạn cầu xin. Tất cả những gì bạn mong chờ đều không xảy đến. Nhưng, Thánh Thần không được ban để củng cố lòng ích kỷ của chúng ta. Hãy quan sát kỹ hơn chung quanh bạn. Có thể Thánh Thần mà bạn nài xin cho mình thì Chúa đã ban, nhưng là cho người khác. Có thể nhờ lời cầu xin của bạn mà đời sống cầu nguyện của những người chung quanh được bạn canh tân trong khi đời sống cầu nguyện của bạn vẫn tiếp tục khó nhọc như trước. Những người khác cảm thấy bị đâm thấu lòng, tâm hồn đầy ăn năn, hối hận trong nước mắt ; phần bạn, bạn còn phải xin cho được ơn đó. Hãy lấy làm vinh hạnh để cho Thiên Chúa tự do hành động. Ðó là cách Người đã chọn để ban Thánh Thần cho bạn và là cách tốt nhất. Biết đâu trong ngày Lễ Ngũ tuần, khi nhìn thấy đám đông đấm ngực ăn năn, bị Lời Chúa làm đảo lộn và lên tiếng hỏi các tông đồ: “Chúng tôi phải làm gì, thưa các vị?” Biết đâu lại không có một tông đồ nào đó cảm thấy thèm muốn và ngượng ngùng khi nghĩ đến việc mình chưa bao giờ khóc vì đã đóng đinh Giêsu Nazareth. Thánh Phaolô, một người mà lời rao giảng được quyền năng và sự tỏ hiện của Thần Khí kèm theo, đã ba lần xin thoát khỏi cái dằm đâm vào thân xác. Nhưng ngài đã không được nhận lời, và phải nhẫn nại sống với cái dằm đó, ngõ hầu quyền năng của Thiên Chúa được tỏ lộ hơn nữa (x. 2Cr 12, 8tt).
Ðôi khi, sự kiên trì cầu nguyện gây ra một sự đảo ngược lạ lùng, nhất là đối với người có một đời sống thiêng liêng sâu xa và nghiêm túc, chúng ta nên biết điều này để không bỏ lỡ một cơ hội quí giá. Các vai bị đảo lộn thứ tự: Thiên Chúa trở thành kẻ cầu xin và bạn trở thành kẻ được cầu xin. Bạn bắt đầu cầu nguyện để xin một điều gì với Thiên Chúa và khi đang cầu nguyện, bạn nhận thấy rằng chính Thiên Chúa đưa tay ra và xin bạn điều gì đó. Bạn đến xin Người cất đi cái dằm đang nằm trong thân xác bạn, cất đi thánh giá này, thử thách kia, cho bạn thoát khỏi chức vụ này, hoàn cảnh nọ hoặc thoát khỏi sự gần gũi của ai đó . Nhưng rồi chính Thiên Chúa lại xin bạn chấp nhận thánh giá, hoàn cảnh, chức vụ đó, chấp nhận con người đó.
Một bài thơ của thi hào Tagore có thể giúp tả hiểu điều này. Trong bài thơ, một người ăn xin kể lại kinh nghiệm của mình, đại để như sau: tôi đang ăn xin từ nhà này sang nhà nọ dọc theo đường làng, bỗng từ xa xuất hiện một cỗ xe tứ mã sơn son thếp vàng. Ðó là xe của hoàng tử. Tôi thầm nghĩ: cơ hội cuộc đời mình là đây. Tôi ngồi xuống, túi ăn xin mở thật rộng, chờ được bố thí, mà có lẽ chẳng cần phải mở miệng xin, bạc vàng cũng sẽ như mưa rơi xuống quanh mình. Nhưng, thật ngạc nhiên hết sức, khi đến sát bên tôi, chiếc xe ngừng lại, hoàng tử bước xuống giơ tay phải ra nói với tôi: “Bạn có gì cho tôi không?” Cử chỉ giơ tay mới vương giả làm sao! Ngượng ngùng, do dự, tôi thò tay vào túi ăn xin lấy một hạt gạo, chỉ một hạt thôi và là hạt bé nhất trao vào tay hoàng tử. Chiều về, thật buồn quá đỗi và khi đổ túi ăn xin ra, tôi thấy một hạt vàng rất nhỏ, nhỏ như hạt gạo mà tôi đã cho vị hoàng tử. Tôi khóc chua xót vì đã không can đảm cho vị hoàng tử tất cả.[141]
Chớ gì khi cuộc đời xế bóng, chúng ta không phải khóc vì đã không dâng cho Chúa tất cả những gì Ngài xin chúng ta dâng cho Ngài. “Cử chỉ giơ tay ra xin một người nghèo mới vương giả làm sao!” Ðúng vậy, đó là cử chỉ của Thiên Chúa, một cử chỉ thần linh: Ngài làm kẻ ăn xin để chúng ta được thuộc vào số những người có điều gì đó để cho Ngài.
Trường hợp đảo lộn các vai trò tuyệt vời nhất, đó là Ðức Giêsu. Tại Vườn Dầu, Ðức Giêsu xin Cha cất chén đắng khỏi mình. Chúa Cha đã xin Ðức Giêsu uống chén đó, vì đó là điều cần phải làm để Người có thể tìm lại được mọi người con khác. Ðức Giêsu thưa: “Nhưng đừng cho ý con mà là ý Cha được thực hiện” – và Ðức Giêsu đã dâng lên Chúa Cha lời xin vâng mà Chúa Cha mong đợi. Ngài không chỉ dâng một giọt máu mà là hết mọi giọt máu của mình. Buổi chiều thứ Sáu (Tuần Thánh), sau khi uống cạn chén đắng, Ðức Giêsu gặp Chúa Cha, Ðấng đặt Ngài làm Chúa, ngay cả trong tư cách là người, ban cho Ngài một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu và tôn vinh Ngài. Làm sao diễn tả nổi tất cả những gì Chúa Cha ban cho Ngài để đổi lấy “hạt lựu” là tiếng “xin vâng” của Ngài.
Cầu nguyện liên lỉ
Sách Công Vụ cho chúng ta biết, các Tông đồ, Ðức Maria và một số phụ nữ khác, sau khi chịu lấy Thánh Thần, vẫn “chuyên cần cầu nguyện” (Cv 2, 42). Tuy nhiên, dường như đã có một sự thay đổi nào đó về nội dung và tính chất của kinh nguyện. Từ nay, họ chỉ còn “ca rao những việc lớn lao của Thiên Chúa” (Cv 2, 11). Vì thế, ngay cả trong các bữa ăn, “họ đầy lòng hân hoan và ngợi khen Thiên Chúa” (Cv 2, 46tt). Kinh nguyện của họ trở nên kinh nguyện ngợi khen chứ không chỉ là kinh nguyện cầu xin mà thôi. Ðiều trước tiên xảy ra với Ðức Maria thì nay được lặp lại với Giáo hội. Thật vậy, sau khi chịu lấy Thánh Thần trong ngày Truyền tin, Ðức Maria đã cất tiếng tôn dương Thiên Chúa, hớn hở trong Thiên Chúa và ca rao những kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện nơi mình (x. Lc 1, 46tt). Thánh Thần Hiện Xuống không chấm dứt việc chuyên cần cầu nguyện, nhưng làm phong phú và mở rộng chân trời của việc cầu nguyện. Chúa Thánh Thần Hiện Xuống và nâng lời cầu nguyện lên tới những hình thức cao cả nhất với Thiên Chúa: ca ngợi, thờ lạy, ca rao sự cao cả và thánh thiện của Thiên Chúa. Tân ước không chỉ nói về sự kiên trì trong cầu xin, nhưng còn nói và nói nhiều hơn về sự kiên trì trong lời ca ngợi, tạ ơn và chúc tụng. Trong cùng một văn mạch của thư gửi tín hữu Êphêsô, được nhắc đến ở trên, ta đọc thấy: “Ðừng say sưa rượu chè, chỉ tổ hư thân, nhưng hãy làm sao cho được no đầy Thần Khí! Hãy đối đáp với nhau Thánh vịnh, lời ca, lời vãn của Thần Khí, xướng ca tụng niệm kính Chúa hết lòng anh em. Mọi thời, vì mọi sự, hãy nhân Danh Chúa chúng ta, Ðức Giêsu kitô, mà tạ ơn Thiên Chúa và là Cha” (Ep 5, 18 – 20). Thiết tưởng đó là mục đích khuyến khích chúng ta khẩn cầu và chờ mong Thánh Thần: để nhờ sự thúc đẩy của Thánh Thần mà tôn thờ Thiên Chúa “trong Thần Khí và Sự Thật”, chúc tụng và tôn vinh Người trước toàn thể nhân loại. Trước khi các tông đồ đi rao giảng, Chúa Thánh Thần đã dẫn đưa họ vào cầu nguyện bằng các thứ tiếng (x. Cvtd 2, 4tt). Ðiều đó cũng đã xảy ra khi Chúa Thánh Thần xuống trên Cornêliô và người nhà của ông: “Họ nghe những người ấy nói bằng các thứ tiếng và ca rao Thiên Chúa” (Cv 10, 46).
Chính khi suy nghĩ về sự cầu nguyện trong Thần Khí, dệt bởi những lời khẩn cầu, và hơn nữa, bởi lời ca ngợi, mà thánh Phaolô đã đưa ra nguyên tắc về việc cầu nguyện liên lỉ, và nguyên tắc này đã có một tiếng vọng rất lớn trong lịch sử linh đạo Kitô giáo: “Anh em hãy vui mừng luôn và đừng ngớt cầu nguyện, hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh” (1Th 5, 16 – 18). Ðiều này nhắc lại lời của Ðức Giêsu “phải cầu nguyện luôn, đừng nản chí” (x. Lc 18, 1). Nguyên tắc này giúp chúng ta vượt qua một quan niệm vụ nghi thức hay vụ luật nào đó về cầu nguyện gắn liền với những giờ, những nơi xác định. Cầu nguyện liên lỉ là một thái độ căn bản, một định hướng thường hằng, một sinh hoạt tự nhiên, gần như việc hô hấp của thân thể. Chúng ta phải tha thứ bao nhiêu lần? Ðức Giêsu trả lời: phải tha thứ luôn luôn! (x. Mt 18, 22). Chúng ta phải cầu nguyện bao nhiêu lần? Ðức Giêsu trả lời: Luôn luôn! hỏi xem ta phải cầu nguyện với Thiên Chúa bao nhiêu lần trong một ngày thì chẳng khác gì hỏi phải yêu mến Ngài bao nhiêu lần một ngày. Cầu nguyện cũng như tình yêu, không chấp nhận tính toán như thế. Người ta có thể yêu với ý thức nhiều hay ít sâu xa về tình yêu của mình, chứ không thể yêu với những khoảng cách nhiều hay ít đều đặn.
Lý tưởng cao cả của việc cầu nguyện liên lỉ này được diễn tả cách khác nhau ở Ðông phương và Tây phương. Nền linh đạo Ðông phương thực hành việc cầu nguyện liên lỉ qua điều được gọi là lời kinh Ðức Giêsu, được mô tả như sau: lời kinh Ðức Giêsu, lời kinh nội tâm và bền bỉ, là một lời cầu khấn Danh Ðức Giêsu liên lỉ, không ngơi, với cả lòng trí, trong niềm tin chắc chắn về sự hiện diện của Ngài mọi lúc, mọi nơi, ngay cả trong giấc ngủ. Lời kinh gồm những lời này: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin thương xót con!” Người quen đọc lời cầu khẩn này sẽ nhận được những niềm an ủi lớn lao và tự cảm thấy cần phải đọc lời kinh đó không ngừng. Sau một ít thời gian, người đó không thể nào sống mà không có lời kinh đó, và lời kinh cứ tự trào dâng.”[142]
Hình thức cầu nguyện này, ở mức độ cao nhất của nó, đi đến chỗ dần dần dẹp bỏ mọi suy tưởng, và chỉ để lại cho tâm trí một hoạt động duy nhất đó là cầu nguyện. Phương thế của nó là tiết độ, nghĩa là tỉnh thức và tránh xa tất cả những gì không dẫn tới Thiên Chúa ; hoa quả của nó là tấm lòng trong sạch. Lời kinh này đã giúp biết bao tâm hồn kết hiệp với Thiên Chúa ngay từ đời này, trong sự an tĩnh sâu thẳm (hesychia). Philocalie, tác phẩm căn bản của nền linh đạo Chính Thống Nga đã được soạn nhằm giúp thực hiện việc cầu nguyện liên lỉ này.
Do tính chất của nó, hình thức cầu nguyện liên lỉ này như đã được thực hành ở Ðông phương, gắn liền với một lối sống nào đó theo kiểu đan tu, mặc dù đó không phải là mối liên hệ độc nhất. Phía Tây phương, với thánh Augustinô, đã đưa ra nguyên tắc về việc cầu nguyện liên lỉ, nhưng mềm dẽo hơn và do đó vừa tầm với mọi người hơn, chứ không chỉ dành riêng cho những người chọn đời sống đan tu. Theo thánh Augustinô, bản chất của cầu nguyện là niềm khao khát. Nếu niềm khao khát Thiên Chúa liên lỉ thì cầu nguyện cũng liên lỉ. Nếu không, ta có thể kêu lên bao nhiêu tùy ý, còn đối với Chúa, ta vẫn là câm lặng. Niềm khao khát Thiên Chúa thầm kín đó bao gồm ký ức, niềm hướng vọng bền bỉ về Nước Trời và nỗi hoài mong Thiên Chúa, có thể vẫn nồng cháy khi tâm trí buộc phải chuyên chú vào điều khác: “Cầu nguyện lâu giờ không phải là điều xấu hay vô ích khi ta có thời gian thảnh thơi để làm điều đó, nghĩa là khi nó không gây cản trở cho những việc tốt lành và cần thiết khác ; dù vậy, ngay cả khi thực hiện những việc đó, ta cần phải luôn cầu nguyện bằng ước muốn. Thật vậy, cầu nguyện lâu giờ không đồng nghĩa với cầu nguyện bằng nhiều lời như một số người vẫn tưởng. Nói nhiều là một chuyện, có một ước muốn thâm sâu và liên lỉ lại là một chuyện khác . Cầu nguyện nhiều là gõ vào cánh cửa của Ðấng mà chúng ta cầu khẩn bằng hoạt động sốt mến, không ngơi của tâm hồn.”[143]
Một tác giả vô danh thời Trung Cổ cũng theo đường hướng đó: “Cũng vì thế, bạn hãy chú ý tới hoạt động đó, tới cách thức kỳ diệu và thâm sâu của nó trong tâm hồn bạn. Nếu hiểu cho thật đúng thì hoạt động đó chỉ là một chuyển động thình lình, như không ngờ nổi, lao nhanh về phía Thiên Chúa như một tia than hồng. Và thật tuyệt vời khi đếm những chuyển động có thể xảy ra trong một giờ nơi một tâm hồn đã sẵn sàng với hành động đó. Tuy nhiên, chỉ cần một trong các chuyển động đó cũng đã đủ để linh hồn bỗng chốc quên đi mọi tạo vật. Nhưng ngay sau mỗi chuyển động, do xác thịt hư hỏng, linh hồn lại rơi xuống trên một ý nghĩ hay một hành động đã thực hiện hay chưa thực hiện. Nhưng có hệ gì? Vì ngay sau đó nó lại lao lên cũng đột ngột như lần trước.”[144] Ðà vươn này không gì khác hơn là “niềm khao khát Thiên Chúa đơn thuần”. Ðơn thuần hay trần trụi vì nó chẳng xin gì khác ngoài Thiên Chúa. Khao khát hoặc đà vươn (élan), bởi đây là hành vi qua đó ý chí luôn vươn về Thiên Chúa.
Như biển cả đẩy những con sóng nhấp nhô vào bờ. Không biết chán, cũng thế, trong sự cầu nguyện liên lỉ, linh hồn hướng ý tưởng và tấm lòng vươn lên với Chúa không biết chán. Thân xác cũng tham dự vào đó bằng cách lặp đi lặp lại thật lâu một lời, chẳng hạn như “Lạy Thiên Chúa” hay “Lạy Chúa Giêsu”, hoặc một lời kêu cầu vắn tắt nào đó ; điều này chỉ nhằm giữ sự cầm trí, làm cho tâm trí được an định nhờ vào hoạt động cần thiết tối thiểu đó. Ở đây, việc nhìn thấy hay cảm thấy không phải là điều cần thiết. Tình trạng có thể nói là thường xuyên nhất của việc cầu nguyện này diễn ra giữa hai làn mây dày đặc: một làn mây của sự quên lãng nằm bên dưới bạn, giữa bạn và mọi sự vật khác, và một làn mây của sự vô tri bên trên bạn, giữa bạn và Thiên Chúa.
Việc cầu nguyện này có thể hình dung như những dòng sông chảy ở những địa hình các-tơ (karstiques), nghĩa là những dòng sông khi thì chảy trên mặt, khi thì chảy ngầm dưới đất. Khi gặp lớp đất cứng thì chúng chảy trên mặt, sau đó nếu gặp lớp đất khác, thấm nước được, thì chúng thấm sâu xuống và chảy ngầm bên dưới cho đến khi lộ ra ngoài trở lại. Việc cầu nguyện liên lỉ cũng như thế. Có những lúc, khi hoạt động ngừng lại, chúng ta được tự do thảnh thơi cầu nguyện thì nó lộ ra ngoài trở thành lời kinh ca ngợi, tôn thờ với tất cả ý thức. Những lúc khác, khi chúng ta chìm ngập trong hoạt động, nó lại chìm sâu xuống tận đáy lòng, âm thầm chảy ở đó, như một trương lực vô hình của tình yêu hướng tới Chúa, sẵn sàng chỗi dậy ngay khi có thể. Vì thế, việc cầu nguyện có thể tiếp diễn ngay trong giấc ngủ như lời vị hôn thê trong sách Diệu Ca: “Tôi ngủ nhưng lòng vẫn thức” (Dc 5, 2 x. BJ). Tôi biết có những người thợ được ơn cầu nguyện như thế suốt một thời gian dài. Vì thế, nhờ ơn Chúa, bậc sống nào cũng có thể cầu nguyện liên lỉ được. Một trong những người thợ đó thức giấc giữa đêm khuya và có cảm giác linh hồn mình đang cầu nguyện mọi lúc. Ông muốn ngủ lại bằng cách nghĩ đến những công việc sáng mai đang đợi mình, nhưng ông đã quyết định không để kinh nghiệm dịu ngọt đó bị cắt đứt. Buổi sáng thức dậy, ông thấy mình tươi tỉnh, thư thái, như thể mình đã ngon giấc trọn đêm.
Tuy nhiên, phát triển việc cầu nguyện được gọi là liên lỉ mà không dành những thời gờ nhất định và riêng biệt để cầu nguyện sẽ là một sai lầm nghiêm trọng. Ðức Giêsu trải qua những đêm cầu nguyện, nhưng chúng ta cũng biết rằng sau đó Ngài đã lên Ðền Thờ hoặc vào hội đường cầu nguyện cùng với những người khác. Và ba lần mỗi ngày ; lúc mặt trời mọc, sau trưa vào giờ hiến lễ ban chiều, và khi mặt trời lặn, Ngài hợp lòng với mọi người Dothái đạo đức quay về Ðền Thờ và đọc các kinh nguyện thường ngày. Thánh Augustinô viết: “Vì vậy, chính trong lòng tin, cậy, mến, bằng ước muốn liên lỉ mà chúng ta cầu nguyện luôn luôn, nhưng chúng ta cũng dùng lời nói mà dâng lên Thiên Chúa những lời nguyện xin vào những khoảng thời gian và hoàn cảnh ấn định. Ðiều này nhằm làm cho chúng ta, qua những dấu hiệu cụ thể, biết được, hiểu được mình đã tiến tới thế nào trong niềm khao khát Thiên Chúa và để khích lệ chúng ta làm cho ước muốn đó tăng triển hơn nữa.”[145]
Khi cầu nguyện trở nên nặng nề và chán nản
Chúng ta phải hết sức tránh giản lược hóa việc cầu nguyện, hoặc tránh nghĩ rằng một khi đã khám phá ra một cách cầu nguyện nào đó, chúng ta có thể duy trì nó cho tới chết. Cầu nguyện cũng như cuộc sống, không tránh khỏi những mùa lên cao và mùa xuống thấp. Và có một mùa sớm muộn gì cũng đến, không tránh được, đó là mùa đông. Ðừng nuôi ảo tưởng. Ðến một lúc mà việc cầu nguyện như thiên nhiên vào mùa đông, trơ trụi, như thể chết đi. Bấy giờ cầu nguyện trở nên như một cuộc chiến đấu, khổ nhọc, ngắc ngoải. Nó không còn là làn nước từ trời rơi xuống hay dòng nước chảy tự nhiên, trên mặt hay ngầm dưới đất, mà là một thứ nước, nói như thánh Têrêsa Avila, phải kín lấy từ đáy giếng với một cái xô, bằng sức mạnh của đôi tay, và một phần khá lớn lại bị rơi rớt trên đường.[146]
Có nhiều hình thức chiến đấu khác nhau trong cầu nguyện. Hình thức đầu tiên là chống lại sự chia trí. Các thánh đã có kinh nghiệm này. Chính thánh Têrêsa Avila thừa nhận: “Có những lúc, tôi không có lấy một ý tưởng chính xác hay hợp lý nào về Thiên Chúa hoặc về bất cứ sự lành nào, tôi không thể cầu nguyện được dù đang ở nơi cô tịch. Tuy nhiên tôi lại ý thức rất rõ rằng mình đã có một kiến thức tổng quát về Thiên Chúa. Ở đây, trí hiểu và trí tưởng tượng thật tai hại cho tôi, tôi hiểu điều đó. Còn về ý chí, tôi thấy ý chí tốt và hợp với mọi điều lành. Ngược lại, trí tuệ thì quá nhớn nhác, vẫn vơ, đến nỗi nó giống như một người điên dữ tợn, không ai kìm được ; vì thế tôi bất lực, không thể cầm trí trong khoảng thời gian đọc một Kinh Tin Kính.”[147]
Cầu nguyện trong tình trạng này cũng tương tự như ra khơi với chiếc thuyền nhỏ mà đáy lại bị nước vào, qua nhiều vết nứt. Trong thời gian chỉ lo tát nước khỏi thuyền, không thể làm việc gì khác, bởi lẽ, chỉ cần dừng tay một chút là con thuyền đầy nước, muốn chìm. Không thể khoanh tay nhìn ngắm bầu trời. Rồi đến lúc quay vào bờ bạn mới thấy mình đi mà không ngắm được gì, ngay cả một cái nhìn thanh thản lên khoảng trời xanh, hay nhìn ra biển rộng ; cũng không bắt được con cá nào, chỉ thấy mình làm một công việc duy nhất là tát nước khỏi thuyền. Chúng ta cầu nguyện là để hưởng nếm Chúa, chiêm ngắm những kỳ công của Người, lắng nghe Người, khám phá nơi Người, nơi chúng ta những điều mới lạ, ấy thế mà tâm trí chúng ta lại “phân tán” đầy những chia trí lo ra. Trong tình trạng như thế, cầu nguyện trở thành một cuộc chiến đấu mệt nhọc chống lại những ý tưởng phù phiếm, vô ích và cũng không có cách nào để thoát khỏi: phải chấp nhận lao đao khó nhọc.
Nếu là cuộc chiến đấu chống lại sự chia trí, thì cần phải trang bị cho mình đức kiên nhẫn, lòng can đảm, và đừng để mình rơi vào lầm tưởng, nghĩ rằng tiếp tục cầu nguyện là vô ích. Tốt hơn, hãy tìm cách thích nghi cách khiêm tốn. Hãy đọc những lời kinh ngắn hơn, ngay cả đọc thật nhanh như chạy, tất cả những điều chúng ta thấy cần để Chúa biết đến. Ðể nói những lời: “Lạy Chúa Giêsu, con yêu Chúa, con tin, con cậy nơi Ngài. Con ăn năn mọi tội con phạm, xin tha hết cho con. Cám ơn Chúa về ơn ban Thánh Thần. Cám ơn Chúa vì Chúa đang ở đây và con biết Chúa đang lắng nghe con!” Phải dùng bao nhiêu thời gian? Chỉ một vài giây, thế nhưng tôi đã nói lên điều chính yếu và Chúa đã lắng nghe. Chúng ta cần phải khám phá lại vẻ đẹp của “những lời nguyện tắt, oraisons jaculatoires“, những lời kinh ngắn gọn, phóng thẳng lên như những mũi tên (iacula). Một số người khác, trong những trường hợp tương tự, lại thấy ích lợi khi lặp đi lặp lại những kinh mà mình đặc biệt yêu thích. Thánh Têrêsa Hài Ðồng Giêsu viết ; “Ðôi lúc, khi tâm trí tôi rơi vào tình trạng khô khan đến nổi không thể nào rút ra được một ý tưởng giúp kết hiệp với Chúa, thì tôi đọc thật chậm kinh “Lạy Cha”, sau đó là kinh Truyền tin. Bấy giờ, những kinh đó làm tôi vui say, nuôi dưỡng tâm hồn tôi hơn là nếu tôi đọc những kinh đó hàng trăm lần với cách vội vàng.”[148]
Mỗi người có một cách thế, và mỗi cách thế sẽ không bao giờ hoàn hảo hay chiến thắng trong mọi trường hợp, chính vì đó là thời của thất bại, thời mà chúng ta cần phải nhận rằng, nếu có những lúc mình cầu nguyện sốt sắng thì đó hoàn toàn là bởi Chúa. Một đoạn Thánh vịnh 31 mô tả lời cầu nguyện đó rất tuyệt vời:
“Còn tôi, trong cơn hốt hoảng tôi đã kêu lên: “Tôi bị truất khỏi mắt Người”
Song Người đã nghe tiếng tôi nài van lúc tôi kêu cứu với Người” (Tv 31, 23).
Vì chúng ta không cảm thấy gì cả, dường như Thiên Chúa không nghe gì cả, Người không lắng nghe lời chúng ta xin, dường như chúng ta bị đuổi khỏi Thánh Nhan Người. Nhưng ngược lại, chính lúc đó, Người rất chăm chú lắng nghe và hài lòng hơn bao giơ hết.
Mặc dù chúng ta rút được rất ít lợi ích từ việc cầu nguyện đó, nhưng quan trọng là không tự nhận mình thất bại và không rời bỏ cầu nguyện dần dần để đắm mình vào công việc. Khi Thiên Chúa vắng mặt thì điều quan trọng là chỗ của Người vẫn phải để trống, chứ không để một ngẫu tượng nào đó chiếm lấy, ngẫu tượng công việc chẳng hạn. Ðể tránh rơi vào điều tệ hại đó, chúng ta nên thỉnh thoảng ngừng công việc để ít là nghĩ tới Chúa, hoặc ít ra hy sinh chút thời gian cho Ngài. Ðối với Thiên Chúa, đó là một bông hoa cầu nguyện, mặc dầu đối với chúng ta là “ăn miếng bánh lầm than đau khổ” (x. Tv 127, 2).
Trong hạnh các thánh Giáo phụ sa mạc, chúng ta đọc thấy một giai thoại như sau về thánh Antôn Cả, tổ phụ các vị ẩn tu: “Một hôm, khi còn sống trong sa mạc, cha thánh Antôn cảm thấy chán nản, bóng tối dày đặc phủ vây tâm trí. Và ngài thưa với Chúa: “Ôi lạy Chúa! Con muốn trốn thoát, nhưng rồi những suy nghĩ ngăn cản con. Con có thể làm gì trong cơn sầu não này?” Thế rồi, khi đi ra một quãng, ngài thấy một người cũng là ẩn sĩ như ngài, đang ngồi làm việc, rồi vị ẩn sĩ dừng công việc đứng lên cầu nguyện, rồi lại ngồi xuống dệt chiếu, sau đó lại đứng lên và cầu nguyện. Ðó là một sứ thần của Thiên Chúa được sai đến để nâng đỡ thánh Antôn và ban sức mạnh cho ngài. Và thánh nhân nghe sứ thần Chúa nói với mình: “Hãy làm như thế và con sẽ được giải thoát”. Nghe những lời đó, thánh nhân tràn đầy niềm vui và can đảm, ngài đã làm như thế và đã được giải thoát.”[149] Thánh Antôn đã hiểu rằng không thể cầu nguyện lâu giờ mà không chia trí, thỉnh thoảng nên dừng công việc lại để đọc những câu kinh vắn tắt. Có lẽ vị sứ thần Chúa đó cũng đang nói với tôi, người viết và với bạn là người đang đọc, những lời đã nói với thánh Antôn xưa kia: “Hãy làm như thế và con sẽ được giải thoát”.
Tất cả những điều đó không vô ích. Thiên Chúa phải chăng cần đến hay cảm thấy được an ủi vì lòng sốt sắng của chúng ta, hay vì những lần chúng ta xuất thần? Những cuộc xuất thần của chúng ta thêm gì cho Chúa? Ðiều Ngài cần đó là sự tùng phục của chúng ta, lòng khiêm hạ của chúng ta, sự trung tín của chúng ta, những điều chúng ta có thể đạt được nhờ cầu nguyện, khi nó trở thành một cuộc chiến đấu đầy lao nhọc.
Chúng ta gặp thấy một hình thức cầu nguyện chiến đấu khác (prière de lutte) tế nhị và khó khăn hơn nhiều, đó là cuộc chiến đấu với Thiên Chúa. Ðiều xảy ra khi Thiên Chúa đòi hỏi bạn một điều gì đó mà bản tính tự nhiên của bạn không sẵn sàng dâng cho Người và khi hành động của Thiên Chúa trở thành không thể hiểu nổi và làm cho bạn sững sờ, chưng hửng. Ông Yob đã nếm cuộc chiến đấu này. Có lẽ Ðức Maria cũng đã trải qua một lúc nào đó trong cuộc đời, như dưới chân Thập giá chẳng hạn. Ðặc biệt là Ðức Giêsu đã trải qua cuộc chiến đấu đó trong vườn Ghetsêmani: “Sa cơn hấp hối (agonia), Ngài cầu nguyện càng khẩn thiết hơn” (bản dịch của cha Thuấn: lâm chiến, Ngài cầu nguyện …). sa vào tâm trạng hấp hối, ngắc ngoải, Ðức Giêsu chẳng những không ngừng cầu nguyện mà còn cầu nguyện “càng khẩn thiết hơn”. Ngài trở nên mẫu gương tuyệt hảo cho việc kiên trì cầu nguyện.
Nhưng vì sao Ðức Giêsu lại chiến đấu? Ðây chính là một bài học lớn lao mà chúng ta cần phải học. Ngài không chiến đấu để khiến Thiên Chúa phải thuận theo ý Ngài, nhưng để ý nhân loại của Ngài tuân phục Thiên Chúa. Trong Kinh thánh chúng ta gặp thấy một trạng huống tương tự: trạng huống này cho phép đo lường sự khác biệt giữa Ðức Giêsu và những người cầu nguyện khác. Ðó là cuộc chiến đấu của Giacob với Thiên Chúa (x. Kn 32, 23 – 33). Cuộc chiến đấu này cũng diễn ra vào ban đêm, bên kia khe Yabbog, như cuộc chiến đấu của Ðức Giêsu diễn ra trong đêm tối, bên kia suối Cédron. Tại sao Giacob lại chiến đấu với thiên thần khi cầu nguyện? Ông nói: “Tôi không buông Người ra, từ khi là Người chúc lành cho tôi”, nghĩa là bao lâu Người chưa làm cho tôi điều tôi xin Người. Ông còn nói: “Xin tỏ cho tôi biết Danh Người”. Giacob tin chắc rằng nếu ông biết được danh đó thì nhờ vào uy lực của nó, ông có thể chiến thắng người anh đang săn đuổi ông. Nhưng, Thiên Chúa chỉ chúc lành chứ không tỏ cho ông biết Danh Người.
Giacob cầu nguyện để Thiên Chúa phải thuận theo ý mình, Ðức Giêsu cầu nguyện để chính mình thuận theo ý Thiên Chúa. Chúng ta giống ai khi cầu nguyện trong giờ phút xao xuyến khắc khoải? Nếu ngẫm nghĩ lại, thì phần nhiều chúng ta giống Giacob, giống con người của Cựu ước chứ không giống Ðức Giêsu. Chúng ta chiến đấu để khiến Thiên Chúa thay đổi quyết định của Người. Chúng ta chiến đấu để Ngài cất Thập giá khỏi chúng ta hơn là để có khả năng vác Thập giá với Ngài. Với Giacob, Thiên Chúa không tỏ cho biết Danh Người, Danh tượng trưng cho quyền năng Thiên Chúa. Với Ðức Giêsu, Thiên Chúa ban cho một Danh vượt trên mọi danh, và là Danh mang lại mọi quyền năng (x. Ph 2, 11).
Cầu nguyện bức bách
Trong tình trạng khô khan, phải chiến đấu này, chúng ta còn phải khám phá một hình thức cầu nguyện đặc biệt khác: cầu nguyện bức bách. Thánh Angèle de Foligno viết: “Nếu với ơn Chúa, bạn cầu nguyện cách sốt sắng, bạn tỉnh thức và chịu khó làm việc lành thì đó là điều tốt, đẹp lòng Chúa ; nhưng nếu ơn Chúa giảm đi mà bạn vẫn không giảm bớt cầu nguyện, tỉnh thức và làm việc lành, thì điều đó còn làm đẹp lòng Chúa hơn nữa. Khi không còn ân sủng, bạn cũng hãy hành động như khi bạn có ân sủng … Hỡi con, hãy làm phần của mình và Thiên Chúa sẽ làm phần của Người. Cầu nguyện trong sự ép mình, bức bách chính mình là điều rất đẹp lòng Chúa.”[150] Giờ phút cầu nguyện của Ðức Giêsu trong vườn Ghetsêmani là giờ phút cầu nguyện bức bách. Ngài sấp mặt xuống đất, đứng dậy, trở về với các môn đồ, quay trở lại, quì xuống một lần nữa, mồ hôi như máu vã ra (x. Mt 26, 36tt ; Lc 22, 44). Bản văn nói về việc Ðức Giêsu những ngày còn tại thế “đã dâng lời cầu xin khẩn nguyện với lớn tiếng kêu van cùng nước mắt” (x. Hr 5, 7) chính là dựa vào giờ phút đó.
Việc cầu nguyện này có thể thực hiện với thân xác hơn là với tinh thần. Thường ý chí truyền khiến tâm trí thì tâm trí không tuân phục, còn truyền khiến thân xác thì thân xác lại tuân phục. Một kết ước thầm kín gắn liền ý chí với thân xác, và vì thế cần phải xử dụng thân xác để làm cho tâm trí tỉnh lại. Thường thường, khi ý chí của chúng ta không thể truyền cho tâm trí phải có hoặc không được có những ý tưởng nào đó, thì nó vẫn có thể truyền khiến thân xác: truyền cho gối phải bái quì, tay khoanh lại, mở miệng ra đọc lên lời nào đó, chẳng hạn: “Vinh Danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần”.
Chúng ta đừng coi thường cách cầu nguyện bằng thân xác này, vì có những lúc, đó là điều duy nhất chúng ta có thể làm được. Nó hàm chứa một bí ẩn. Khi tâm hồn chúng ta bị thúc bách bởi tiếng kêu nổi loạn hoặc bởi những tâm tình, ý tưởng sôi sục thù hận đối với anh em, bạn hãy đến trước Nhà Tạm hay trước một ảnh Chịu Nạn, rồi cứ quì gối xuống. Bạn đã làm gì ư? Bạn đã đặt mọi kẻ thù của Ðức Kitô xuống dưới bệ chân Ngài! Hãy đứng lên đi, bạn đã chiến thắng. Isaac người Syrie có một câu nói tôi thấy thật tuyệt vời: “Khi lòng đã chết và không còn có lấy một lời kinh hay lời khẩn nguyện nào, thì chớ gì người có thể gặp thấy chúng ta đang phủ phục, sấp mặt xuống đất mãi mãi”.[151]
Cách thế duy nhất để chúng ta tiếp tục là những người chuyên cần cầu nguyện lúc bấy giờ là: lưu lại bằng thân xác của bạn, trong nhà thờ hay trong nơi bạn đã chọn để cầu nguyện, “lưu lại” trong cầu nguyện, thế thôi. Chúa biết chúng ta có thể đi làm hàng ngàn công việc khác ích lợi hơn, mà chúng ta cũng thích làm hơn, nhưng dù không làm được gì chúng ta cũng cứ ở đó cho hết thời gian như thời biểu đã ấn định hoặc do chúng ta quyết định dâng cho Ngài. Ðối với Ngài đó là “hương thơm của con mình”. Với người môn sinh than vãn không thể cầu nguyện vì những sự lo ra chia trí, một tu sĩ ngày xưa đáp: “Tư tưởng của con đi đâu mặc nó, nhưng thân xác chúng ta thì hãy cứ lưu lại trong cầu nguyện! Và nếu bạn không thể làm gì khác, bạn hãy để người anh em hèn mọn là thân xác quì xuống, rồi ngước mắt lên trời thưa với Chúa: “Lạy Chúa, thân xác con cầu nguyện với Chúa đây!” Với tất cả cố gắng xem ra vô ích đó, trên thực tế, chúng ta đón nhận được Chúa Thánh Thần.
Những trạng huống như vậy là thời gian nhắc chúng ta nhớ rằng chúng ta có một người Mẹ, một bậc thầy về cầu nguyện. Cách đây ít năm, tôi có sống một thời gian trong sự cô tịch của một tu viện nhỏ dòng Phanxicô. Một bé gái trong vùng thường đến quì bên thầy này hoặc thầy nọ mà em thấy đang cầu nguyện, em khoanh tay lại rồi nhìn vào mắt thầy đó mà nói cách hết sức vững vàng: “Nào, thầy dạy cho con cầu nguyện đi!”. chúng ta có thể bắt chước em bé đó. Hình dung mình đang ở bên cạnh Ðức Maria và nói với Người: “Mẹ dạy con cầu nguyện đi!”
Theo một nghĩa nào đó, suy niệm dài của chúng ta về cầu nguyện đã là một cách thế chuyên cần cầu nguyện trong sự chờ đợi Thánh Thần. Một cách thế thực tiễn, giản dị để luôn là những người chuyên cần cầu nguyện cùng với Ðức Maria, Mẹ Ðức Giêsu, đó là chuỗi Mân Côi. Chuỗi Mân Côi giúp chúng ta sống lại tất cả các mầu nhiệm, và biến tất cả Kinh thánh cũng như lịch sử cứu độ thành kinh nguyện. Xin Ðức Maria cũng hãy làm người Mẹ đỡ đầu đầy nghị lực và yêu thương đối với chúng ta, chuẩn bị chúng ta lãnh nhận Phép rửa bằng Thánh Thần và tham dự vào Lễ Ngũ tuần. Chớ gì, nhờ lời chuyển cầu của Mẹ, lời hứa của Ðức Giêsu cũng được thực hiện cho cả chúng ta: “Còn các ngươi, không mấy ngày nữa sẽ được Thanh Tẩy trong Thánh Thần” (Cv 1, 5).
CHƯƠNG 8: THÁNH THẦN SẼ ĐẾN TRÊN NGƯỜI - ÐỨC MARIA, CON NGƯỜI CỦA THÁNH LINH, CỦA ÐẶC SỦNG THÁNH THẦN ÐẦU TIÊN TRONG GIÁO HỘI
Thánh Thần tái hoạt động
Nếu có thể nói đến một ơn đặc biệt của Giáo hội hôm nay thì phải nói đó là ơn liên hệ đến chính Chúa Thánh Thần. Thế kỷ của chúng ta, đặt trong lịch sử , sẽ mãi là thế kỷ Thánh Thần hoạt động. Không những do việc tái khám phá chỗ đứng của Chúa Thánh Thần trong thần học và Phụng vụ Công Giáo sau Công đồng, mà hơn thế nữa, vì Giáo hội cảm nghiệm thấy Thánh Thần đang liên tục được đổ xuống “trên mọi xác phàm”, và từ đó làm nẩy nở các phong trào Thánh Linh, đặc sủng Thánh Thần khác nhau (mouvements pentecôtistes et charismatiques) trong hầu hết các Giáo hội Kitô. Ðối với rất nhiều Kitô hữu, sấm ngôn của tiên tri Yôel, không chỉ là một trưng dẫn thú vị được thánh Phêrô đưa ra trong bài giảng ngày Lễ Ngũ tuần, nhưng đã thành hiện thực sống động trước mắt họ. Họ có thể làm chứng rằng “Trong những ngày sau hết, Thiên Chúa đã đổ Thần Khí của Ngài trên mọi xác phàm! trên các con trai, con gái, người thanh niên, kẻ già lão, trên các tôi nam tớ nữ của Ngài” (x. Yô 3, 1tt; Cv 2, 17 – 18).
Bất chấp mọi khó khăn, làn gió Hiện Xuống mạnh mẽ lại thổi trong Giáo hội, và đó là hy vọng lớn lao nhất cho công cuộc hiệp nhất các Kitô hữu. Chính luồng gió này đã tạo nên sự hiệp nhất đại kết buổi ban đầu. Vào thời đó, có sự phân chia, phân rẽ sâu xa về mặt tôn giáo, chia cắt người Dothái với dân ngoại! và chúng ta cũng đã biết sự chia cắt đó gây rất nhiều đau khổ cho Giáo hội tiên khởi. Vậy Chúa Thánh Thần đã thúc đẩy Giáo hội như thế nào để Giáo hội đi đến với dân ngoại và đón nhận cả họ nữa trong cùng một niềm tin vào Ðức Kitô? Ngài đã phán bảo chính thủ lĩnh của Giáo hội là thánh Phêrô đến nhà Cornêliô, viên bách quản ngoại đạo, và trong lúc vị tông đồ còn đang phải giải thích các lý do khiến một người Dothái không thể bước vào nhà một người dân ngoại, thì Thánh Thần cho ngài tham dự vào một cuộc Hiện Xuống mới trên mọi người hiện diện, với những dấu hiệu, đặc tính y như lần Thánh Thần ngự xuống lần đầu tiên trên các tông đồ. Phêrô chỉ còn biết rút ra kết luận! “Nếu Thiên Chúa đã ban cho họ cũng đồng một ơn huệ như Người đã ban cho chúng ta … thì tôi là ai mà có thể ngăn cấm được Thiên Chúa?” (Cv 11, 17).
Ðó là điều đang tái diễn trong Giáo hội hôm nay, một Giáo hội cũng bị xâu xé bởi những phân ly, phân rẽ khác, ngay giữa những Kitô hữu với nhau. Thiên Chúa sai Thánh Thần của Ngài đến, thường là dưới những hình thức như nhau, trên các tín hữu thuộc các Giáo hội Kitô khác nhau, để khiến chúng ta rút ra cùng một kết luận như thánh Phêrô! chúng tôi là ai mà có thể từ chối các anh em này, hay coi họ như người ở ngoài Thân Mình đích thực của Ðức Kitô, nếu Thiên Chúa đã ban cho họ cùng một Thánh Thần như chúng ta? Làm sao cả họ nữa lại không thể thuộc về Thân Mình Chúa Kitô trong khi họ được Thần Khí của Ðức Kitô nuôi dưỡng thúc đẩy?
Một trong những điểm đang được Thánh Thần chữa lành các thương tích và chuẩn bị cho sự hiệp nhất, đó là điểm liên hệ đến Mẹ Thiên Chúa. Tôi mong muốn qua cuốn sách này, đóng góp phần nhỏ bé của mình theo chiều hướng đó. Trong suy tư thần học sau Công đồng, mối quan tâm mới về Chúa Thánh Thần cũng tác động đến khoa Thánh Mẫu học. Và điều này biểu hiện theo chiều ngược lại, không đi từ Ðức Maria tới Giáo hội nhưng từ Giáo hội tới Ðức Maria. Giáo hội một khi tự khám phá thấy mình là Giáo hội Thần Khí (Église pneumatique), được Thánh Thần thúc đẩy, làm cho sinh động, thì tự nhiên nhận thấy khuôn mẫu của mình là Ðức Maria, người mà nhờ tác động của Chúa Thánh Thần, đã cưu mang Ðầu và Cứu Chúa của Giáo hội.
Mối quan hệ giữa “Ðức Maria và Thánh Thần” là một khía cạnh khá mới mẻ trong suy tư của Giáo hội Latinh cũng như Giáo hội Ðông phương. Tất cả những gì người ta có thể góp nhặt được trong tư tưởng của các Giáo phụ và các tác giả Trung Cổ, kể cả thánh Bênađô, đều không vượt ra khỏi việc lặp lại một vài dữ kiện Kinh thánh hiếm hoi, tức là Ðức Maria đã chịu thai “bởi tác động của Chúa Thánh Thần” với những chú giải rời rạc, thường nhằm làm sáng tỏ ngôi vị Thánh Thần hơn là chính Ðức Maria. Trái lại, ngày nay chúng ta chứng kiến nhiều cố gắng khác nhau có tính hệ thống nhằm quan hệ giữa Ðức Maria và Chúa Thánh Thần. Ở đây cũng như những nơi khác, tôi mong muốn dừng lại ở Lời Chúa, ở các dữ kiện Kinh thánh. Ðiều đó cho phép ta nói ít hơn về mối tương quan trên, buộc phải chừng mực, nhưng bù lại, nó giúp cho ta đứng trên một cơ sở vững chắc hơn và dễ được tất cả các Kitô hữu chấp nhận. Những hệ thống thần học lớn, nhất thiết phải dành nhiều chỗ cho những giả thiết và những nguyên tắc gắn liền với hệ thống này hay hệ thống nọ, và do đó có tính đặc thù hơn.
Ngày nay, yếu tố mới soi sáng cho mối liên hệ giữa Ðức Maria và Chúa Thánh Thần chủ yếu là do sự kiện! chúng ta có được hiểu biết sâu rộng hơn so với quá khứ về sự tiến triển trong Mạc khải về Chúa Thánh Thần trong Kinh thánh, tôi muốn nói đến một hiểu biết đầy đủ hơn về khoa Thánh linh học Thần Khí (Pneumatologie biblique). Hiểu biết này chúng ta có được là nhờ những công trình nghiên cứu Kinh thánh hiện đại, nhất là nhờ một khoa học mới mẻ mà các Giáo phụ chưa biết tới, đó là khoa thần học Kinh thánh.
Khi đọc Kinh thánh, các Giáo phụ theo phương pháp phân tích thuộc thời đại các ngài, phương pháp này giải thích từng cuốn sách, hết bản văn này sang bản văn khác, và mỗi bản văn thì giải thích hết chữ này sang chữ khác. Các ngài thiếu phương pháp lịch sử, là phương pháp giúp nắm bắt sự phát triển của một chủ đề xuyên qua toàn bộ Kinh thánh, và ghi nhận không những những điểm giống nhau mà cả những điềm khác nhau giữa thời đại này với thời đại khác, giữa môi trường này với môi trường kia. Các ngài có cảm thức về tính duy nhất hơn là cảm thức về tính khác biệt trong Kinh thánh. Có thể nói rằng, mỗi lần đọc Kinh thánh là các ngài đọc “toàn thể trong từng phần”, nghĩa là nơi mỗi bản văn các ngài muốn giải thích, các ngài đều thấy đó là một phản ánh của toàn thể Kinh thánh, không hề có sự đối nghịch. Chúng ta thì ngược lại, thích đọc “từng phần trong toàn thể”, định vị một bản văn trong văn mạch của nó, soi sáng một đoạn Kinh thánh bằng văn thể, bằng môi trường nguyên thủy của nó.
Áp dụng vào chủ đề “Ðức Maria và Chúa Thánh Thần”, tôi muốn theo phương pháp thật đơn giản. Tôi sẽ thử giải thích phương pháp này. Ðể biết về mối liên hệ giữa Chúa Thánh Thần và Ðức Maria trong mầu nhiệm Nhập thể, và trong lễ Hiện xuống (Ngũ Tuần), chúng ta có Tin mừng Luca; và riêng về mầu nhiệm Nhập thể, có Tin mừng Matthêu. Vậy chúng ta xem thử đâu là quan niệm đặc biệt của thánh Luca về Chúa Thánh Thần. Tác động của Chúa Thánh Thần khi Ngài đến tìm một người hay trên Giáo hội, đối với Luca là tác động gì? Từ đó chúng ta khám phá ra điều mà, theo thánh Luca, Chúa Thánh Thần thực hiện nơi Ðức Maria. Nhờ thế, chúng ta có thể tìm cách khai thác những dữ kiện hiếm hoi liên quan đến Ðức Maria và Chúa Thánh Thần, nhưng không khởi sự bằng cách khai triển mang tính chất hệ thống và suy lý, vì điều này tất sẽ dễ đưa vào những yếu tố chủ quan, mà sẽ khởi sự bằng cách khai triển rộng bên trong Kinh thánh, và như thế sẽ có được tính thuần nhất và khách quan, vì được đặt trong cùng một não trạng và được diễn tả bằng ngôn ngữ của cùng một tác giả. Ðiều này có nghĩa là giải thích một bản văn dựa vào văn mạch của nó, như người ta phân tích một miếng vải nhỏ khi biết được tấm vải lớn từ đó nó được cắt ra. Chúng ta sẽ thấy công trình Chúa Thánh Thần thực hiện cho toàn thể Giáo hội được phản ánh, thu nhỏ nơi Ðức Maria như thế nào.
Ðức Maria và Chúa Thánh Thần trong Tin mừng Luca
Trong sách Công Vụ, thánh Luca trình bày Ðức Maria chuyên cần cầu nguyện trong sự chờ đợi Chúa Thánh Thần. Ở đầu sách Tin mừng, ngài trình bày cũng chính Ðức Maria là người đợi Thánh Thần ngự xuống trên mình. Một số yếu tố gợi cho thấy có sự song song (parallélisme) chặt chẽ giữa việc Chúa Thánh Thần xuống trên Ðức Maria vào ngày Truyền tin và việc Ngài xuống trên Giáo hội vào ngày Lễ Ngũ tuần. Sự song song này hoặc do chủ ý của thánh sử, hoặc do sự tương hợp khách quan giữa hai hoàn cảnh.
Thánh Thần được hứa ban cho Ðức Maria như là “quyền năng Ðấng Tối Cao” “sẽ đến” trên Người (x. Lc 1, 35). Thánh Thần cũng được hứa ban cho các tông đồ như là “quyền năng Trên ban” “sẽ đến” trên họ (x. Lc 24, 29; Cv 2, 8). Sau khi nhận lãnh Thánh Thần, Ðức Maria đã cất lời ngợi khen chúc tụng (megalynei) những việc lớn lao (megala) Chúa đã thực hiện nơi Người, bằng một ngôn ngữ thần hứng (Lc 1, 46 – 49). Cũng vậy, sau khi lãnh nhận Thánh Thần, các tông đồ bắt đầu dùng những ngôn ngữ khác nhau mà công bố những việc lớn lao (megaleia) của Thiên Chúa (x. Cv 2, 11). Công đồng Vaticanô II đã cho thấy có một mối liên hệ giữa hai biến cố! nơi nhà Tiệc Ly, ta thấy “Ðức Maria tha thiết cầu xin Thiên Chúa ban Thánh Thần, là Ðấng đã rợp bóng trên Người trong ngày Truyền tin.”[152]
Tất cả những điều này chỉ có tầm quan trọng tương đối so với khẳng định hết sức rõ ràng về Ðức Maria được thuật lại trong Tin mừng! “Thánh Thần sẽ đến trên Người và quyền năng Ðấng Tối Cao trên Người rợp bóng” (Lc 1, 35). Song song với khẳng định rõ ràng này, chúng ta có thể thấy trong Tin mừng Luca có một sự kiện khác cũng bộc lộ cho thấy điều đó. Sau khi được Thánh Thần ngự xuống, Ðức Maria được sai đến với ai thì người đó, đến lượt mình, cũng được Thánh Thần đụng chạm tới hoặc thúc đẩy bên trong (Lc 1, 41; 2, 27). Chắc chắn rằng chính sự hiện diện của Ðức Giêsu mới phát tỏa Thần Khí, nhưng Ðức Giêsu lại ở trong Ðức Maria và hành động nhờ Người! Người là như Hòm Bia hay Ðền Thờ Chúa Thánh Thần! đó chính là điều được gợi lên qua hình ảnh đám mây đã rợp bóng trên Người và cũng gợi nhớ đám mây tỏa sáng trong Cựu ước, dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa hay việc Người đến nơi Trướng Tao Phùng (x. Xh 13, 22; 19, 16).
Thánh Matthêu xác nhận dữ kiện căn bản đó về Ðức Maria và Chúa Thánh Thần khi ngài viết rằng, Ðức Maria “đã có thai do tự Thánh Thần” (Mt 1, 18), và thai sinh nơi Người là “do tự Thánh Thần” (Mt 1, 20).
Giáo hội đã đón nhận dữ kiện được Mạc khải này và đã nhanh chóng đặt nó vào giữa kinh Tin Kính của mình. Từ cuối thế kỷ II, người ta đã gặp thấy trong kinh Tin Kính các Tông đồ lời khẳng định! “Ðức Giêsu sinh bởi Thánh Thần và bởi Ðức Nữ Ðồng Trinh Maria”. Trong Công đồng chung Constantinople năm 381, là Công đồng định tín về thần tính của Chúa Thánh Thần, điều khoản đức tin này đã có chỗ đứng trong kinh Tin Kính Nicée-Constantinople! Ðức Kitô được trình bày là “Bởi phép Chúa Thánh Thần, người đã Nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria”.
Như thế, đây là một dữ kiện đức tin được tất cả các Kitô hữu đón nhận, Ðông phương cũng như Tây phương, người Công Giáo cũng như người Tin lành, và là một nền tảng chắc chắn, có bề dày của nó. Ðức Maria xuất hiện như là người được liên kết với Chúa Thánh Thần bằng một mối dây khách thể, cá vị và bất khả hủy! mối dây đó là chính con người Ðức Giêsu mà hai Ðấng cùng sinh ra, dù rằng phần đóng góp của mỗi bên hoàn toàn khác nhau. Nếu người ta muốn tách rời Ðức Maria khỏi Chúa Thánh Thần thì cũng phải tách rời chính Ðức Kitô nữa, vì các hoạt động khác nhau của Ðức Maria và Chúa Thánh Thần đã được cụ thể hóa và thể hiện (khách thể hóa, objectivées) nơi Ngài cách vĩnh viễn. Dù người ta có muốn hay không muốn gọi Ðức Maria là Hiền thê của Chúa Thánh Thần, như thánh Phanxicô Assisi và các vị thánh khác sau ngài đã gọi, thì vẫn phải nhận rằng! Ðức Giêsu đã nối kết Ðức Maria và Chúa Thánh Thần còn sâu xa hơn một người con nối kết cha và mẹ mình, vì nếu đứa con, chỉ nguyên sự hiện diên của nó, đã nói lên việc cha và mẹ kết hợp với nhau theo xác thịt trong giây lát, thì người con là Ðức Giêsu nói lên rằng Chúa Thánh Thần và Ðức Maria đã kết hợp “theo Thần Khí” và do đó, là sự kết hợp cách bền vững, vĩnh viễn. Ngay cả nơi Giêrusalem Thiên quốc, Ðức Giêsu Phục sinh vẫn là Ðấng đã được “sinh ra bởi Chúa Thánh Thần và bởi Ðức Trinh Nữ Maria”. Trong Bí tích Thánh Thể cũng vậy, chúng ta nhận lãnh Ðấng đã được “sinh ra bởi Chúa Thánh Thần và bởi Trinh Nữ Maria”.
Giờ đây dựa vào thánh Luca và Tin mừng Nhất Lãm nói chung, chúng ta hãy tìm hiểu Chúa Thánh Thần là Ðấng nào và Ngài đã thực hiện điều gì. Ở đây chúng ta có thể dựa vào sự tiến triển trong hiểu biết về Chúa Thánh Thần mà tôi đã nói ở trên. Luca và nhất là Matthêu, đã đi theo tới cùng một hướng phát triển của Maạc Khải về Chúa Thánh Thần, hướng phát triển này gắn liền với Cựu ước. Theo hướng tư tưởng đó, Chúa Thánh Thần được trình bày như là “sức mạnh của Thiên Chúa khiến con người có thể tuyên ngôn và thực hiện các hành động mà tự sức con người không thể nào làm được.”[153]
Ðể nắm vững khía cạnh đặc biệt của quan điểm trên, chúng ta cần nhớ lại một hướng phát triển Mạc khải về Chúa Thánh Thần quan trọng khác, hướng này đạt tới đỉnh cao của nó nơi thánh Gioan và thánh Phaolô! theo hướng tư tưởng này, Chúa Thánh Thần được xem như sức mạnh thánh hóa, chiếm hữu con người, biến đổi cõi lòng và làm nên một tạo vật mới. Trong trường hợp thứ nhất, Chúa Thánh Thần đến trên một người để làm cho người đó có khả năng thực hiện một hành vi vượt quá sức mình. Hành động của ngài không dừng lại nơi người nhận lãnh, tiên tri, thủ lãnh, người được linh hứng hay một ai khác, nhưng qua người đó, tác động đến cộng đoàn hay lịch sử. Nơi bản thân và trước mặt Thiên Chúa, người lãnh nhận Thánh Thần có thể vẫn như trước kia, rất ít hoặc không hề được biến đổi do việc Thánh Thần đi qua con người mình. Trong trường hợp thứ hai thì không như thế! tác động của Chúa Thánh Thần trực tiếp nhằm vào người lãnh nhận Ngài, dừng lại, lưu lại nơi người đó và làm nẩy sinh một tình trạng mới, một đời sống mới. Hiển nhiên đây không phải là sự mâu thuẩn nội tại trong Kinh thánh nhưng là hai cách thể hiện, cũng chân thật và có giá trị cứu độ như nhau của cùng một Thánh Thần, và độc giả Kinh thánh không được tách biệt hay đối lập (như một đôi khi người ta đã làm một cách đáng tiếc), nhưng phải liên kết chúng với nhau. Cả ở đây nữa, cũng cần phải tìm lại “cái toàn thể” (le tout) và trong trường hợp này, cái toàn thể là chính Chúa Thánh Thần trong thực tại trọn vẹn của Ngài gồm cả Ðoàn Sủng và Ðức Ái.
Quan niệm về Chúa Thánh Thần như là sức mạnh của Thiên Chúa, làm cho con người có khả năng thực hiện những hành động vượt trên sức nhân loại, lộ rõ hầu như trong mọi lần Tin mừng Nhất Lãm đề cập đến Thánh Thần. Thánh Thần đến trên Ðức Giêsu khi Ngài chịu Phép rửa và chúng ta thấy Ðức Giêsu chiến thắng Satan trong những cơn cám dỗ, xua trừ ma quỉ, loan báo Nước Trời, giảng dạy với uy quyền và thực hiện những việc lạ lùng (Mt 12, 28). Hoạt động của Chúa Thánh Thần, mỗi lần thể hiện, đều đưa tới kết quả rõ ràng, có thể sờ chạm được. Vai trò độc nhất vô nhị của Ðức Giêsu bộc lộ qua việc Ngài là Ðấng mang Thánh Thần cách trọn vẹn, tối hậu, Ngài hành động luôn luôn là trong Thần Khí và là Ðấng “đầy” Thánh Thần (x. Lc 4, 1. 14, 18), không như các tiên tri hay những người được linh hứng trong quá khứ, vì họ hành động trong Thần Khí chỉ trong một số thời điểm.
Hướng tư tưởng trên phát xuất từ Cựu ước, trong đó Thần Khí (Ruăh) thường được xem như là sức mạnh sáng tạo của Thiên Chúa, sức mạnh này xâm chiếm con người và làm cho người đó được đầy khôn ngoan hoặc có được các năng khiếu nghệ thuật (x. Xh 31, 3; 35, 31); ban cho người khác đặc sủng tiên tri (Mt 3, 8); đổ tràn trên người khác nữa và ban cho người đó có khả năng cai trị phi thường (Ys 11, 2) hay khả năng biện biệt (x. Dn 13, 45 – 46).
Hai trích dẫn của thánh Luca, một trong sách Tin mừng và một trong sách Công Vụ, làm sáng tỏ quan niệm nói trên về Thần Khí trong dòng tư tưởng của Cựu ước. Trích dẫn thứ nhất lấy trong Isaia 61, 1! “Thần Khí Chúa ngự trên tôi …” Trích dẫn này muốn nói lên rằng! sức mạnh đặc sủng của Thần Khí đã đổ xuống đầy tràn viên mãn nơi Ðức Giêsu, trong tư cách là người và là Ðấng Mêsia, khiến Ngài có thể đem Tin mừng cho người nghèo khó, cho kẻ mù được thấy và giải thoát kẻ bị áp bức. Trong trích dẫn thứ hai, lấy từ sách Yôel 3, thánh Luca cũng khẳng định hoạt động của Thần Khí, nhưng là đối với Giáo hội. Chính Thánh Thần làm cho Giáo hội sẵn sàng trước sứ vụ tiên tri bằng cách ban cho Giáo hội đủ các hình thức đặc sủng! Chiêm điềm mộng, thị kiến và nhất là Thần Khí tiên tri (x. Cv 2, 17 – 18).
Tuy nhiên, có một khía cạnh khiến cho hoạt động đặc sủng và tiên tri của Thánh Thần trong Giáo hội khác biệt hơn so với Cựu ước. Ngày xưa Thánh Thần được dành riêng cho một vài người và chỉ ban cho họ trong một số trường hợp nào đó, tùy theo sứ mạng riêng biệt của họ. Từ nay, Ngài được ban cho tất cả mọi thành phần của cộng đoàn mới và ban một cách thường xuyên. Như thế, lời ước nguyện của Môisê đã được thực hiện! “Phải chi toàn dân Giavê đều được làm tiên tri bởi được Giavê ban Thần Khí xuống trên họ” (Ds 11, 2a). vâng, mong ước đó đã trở thành hiện thực; tất cả mọi người trong toàn dân Thiên Chúa đều là tiên tri.
Ðức Maria, người được đặc sủng đầu tiên của Giáo hội
Tất cả những điều trên cho chúng ta biết gì về mối liên hệ giữa Ðức Maria và Chúa Thánh Thần? Cho biết rằng! sau Ðức Giêsu, Ðức Maria là người được đặc sủng lớn lao nhất trong lịch sử cứu độ. Nhưng không theo nghĩa là người được hưởng số lượng đặc sủng nhiều nhất. Ngược lại là khác, vì xét bên ngoài, Người dường như không thực thi được mấy đặc sủng. Ðâu là những phép lạ Người thực hiện được? Về các tông đồ, người ta bảo ngay cả bóng của các ngài cũng chữa lành được những bệnh nhân (Cv 5, 15). Còn về Ðức Maria, chúng ta không hề thấy Người làm được phép lạ, hành vi ngoạn mục hay kỳ diệu nào lúc sinh thời. Người là kẻ được đặc sủng lớn lao nhất chính là vì nơi Người, Thánh Thần đã thực hiện hành vi tuyệt vời nhất trong số các hành vi kỳ diệu của Ngài, đó là hành vi khơi dậy nơi Ðức Maria, không phải một lời khôn ngoan, không phải ơn cai trị, không phải một thị kiến, một giấc chiêm bao hay một lời tiên báo, mà là chính sự sống của Ðấng Mêsia!
Khi chúng ta đọc thấy trong Tin mừng Luca! “Thánh Thần sẽ đến trên Người và quyền năng Ðấng Tối Cao trên Người rợp bóng”, thì từ nay chúng ta hiều “Thánh Thần” đó là gì! Là “quyền năng của Ðấng Tối Cao”, là sức mạnh sáng tạo của Thiên Chúa hình thành nên sự sống của Hài nhi vô song đó. Trong đoạn văn này cũng như trong Matthêu 1, 20 “niềm tin vào sự can thiệp sáng tạo của Thần Khí Thiên Chúa đã có trong Cựu ước.”[154] Thánh Ambrosiô chú giải Lc 1, 35 rất hợp lý khi ngài viết! “Việc sinh con của Ðức Trinh Nữ Maria là công trình của Thánh Thần … vì thế Thần Khí mà chúng ta biết là tác giả việc Nhập thể của Chúa, là Thần Khí “sáng tạo”, đó là điều chúng ta không thể nghi ngờ … Ðiều đó bởi một người thì hoặc do bởi bản thể hoặc do bởi quyền năng người đó … Vậy Ðức Maria lãnh nhận trong lòng điều do bởi Thánh Thần là theo nghĩa nào? Chắc chắn không phải bởi bản thể của Ngài, vì như vậy Thánh Thần sẽ trở thành xương, thịt. Vậy nếu Ðức Trinh Nữ đã thụ thai nhờ hoạt động và quyền năng của Thánh Thần thì ai có thể phủ nhận Thánh Thần đó là Thánh Thần Sáng Tạo.[155] Thánh Ambrosiô đã đồng hóa Thánh Thần được nói đến trong Lc 1, 35 với chính Ngôi Thánh Thần, Ngôi Ba trong Ba Ngôi Thiên Chúa. Và điều này sẽ trở thành cách hiểu chung của toàn Giáo hội, dưới ánh sáng mà giáo lý về Chúa Thánh Thần, trong quá trình phát triển, đón nhận từ nơi thánh Phaolô và Gioan, dù rằng thánh Augustinô sau này cẩn thận xác định rõ! Việc gán cho Thánh Thần công trình Nhập thể cũng như việc linh hứng Thánh kinh chỉ là sự qui gán thích hợp mà thôi (par appropriation), chứ tự thân thì đó là công trình của cả Ba Ngôi.[156]
Ðể hiểu rõ đặc tính độc nhất vô nhị của mối quan hệ giữa Ðức Maria và Chúa Thánh Thần, chúng ta có thể khởi đi từ mối quan hệ mà hành vi sáng tạo của Thiên Chúa thiết lập giữa Ðức Maria và Chúa Thánh Thần, một mối quan hệ khác biệt và cao hơn, sánh với tất cả các tiên tri. Cho đến Gioan Tẩy Giả, lời Thiên Chúa “đến” trên các tiên tri (factum set verbum Domini super ,,,) (x. Lc 3, 2), theo nghĩa, Lời trở thành một “thực tại hoạt động” (réalité active) nơi họ. Còn nơi Ðức Maria, Lời không chỉ đến trong một khoảnh khắc, nhưng bởi phép Chúa Thánh Thần, Lời đã lưu ngụ nơi Người, Lời không chỉ trở thành thực tại hoạt động, mà đả trở thành xác phàm (Ga 1, 14). Hơn nữa, dù tiên tri đã “ăn” đã nhét đầy lòng cuộn sách ghi Lời Chúa (x. Yr 15, 16; Ez 3, 1tt; Kh 10, 8tt). Nhưng điều đó có nghĩa gì sánh với điều đã xảy đến nơi Ðức Maria? Lòng Người tràn đầy Lời, không phải chỉ theo nghĩa ẩn dụ mà là trên bình diện thực tại.
Các Giáo phụ đôi lúc đã gán cho Ðức Maria tước hiệu nữ tiên tri[157], nhất là khi nghĩ tới kinh Magnificat, hoặc vì áp dụng sai câu Kinh thánh Ys 8, 3.[158] Nói đúng ra, không thể xếp Ðức Maria vào hàng các tiên tri được. Tiên tri là người nói nhân danh Thiên Chúa. Ðức Maria đã không nói nhân danh Thiên Chúa, Người hầu như luôn luôn giữ thinh lặng. Nếu là tiên tri thì Người là tiên tri theo một nghĩa mới mẻ, tuyệt vời! Người đã “thốt ra” trong thinh lặng Lời độc nhất của Thiên Chúa, đã cho Lời đó chào đời.
Tác động của Thánh Thần nơi Ðức Maria không phải chỉ là một trường hợp linh hứng tiên tri thông thường; tác động đó có thể và phải được nhìn nhận như một đoàn sủng, và như là đoàn sủng lớn lao nhất chưa hề được ban cho một người nào, một đoàn sủng vượt trên cả đoàn sủng của các tác giả thánh được Thánh Thần linh hứng hay thúc đẩy để nói nhân danh Thiên Chúa (2P 1, 21). Thật vậy, đoàn sủng là gì, đâu là định nghĩa? Thánh Phaolô cho ta biết! đó là “sự tỏ hiện đặc biệt của Thánh Thần để mưu ích chung cho mọi người” (1Cr 12, 7). Vậy có sự tỏ hiện nào của Thánh Thần “mưu ích chung cho mọi người” hơn là vai trò làm Mẹ Thiên Chúa của Ðức Maria? Quả là đau lòng khi thấy giữa các Kitô hữu, có những nơi hoặc những nhóm Thánh Linh (groupes pentecôtistes) có thái độ hết sức thù địch đối với Ðức Maria. Một thái độ như thế không phải tự nhiên mà có! nó hẳn là di sản của những ngộ nhận trong quá khứ.
Thần học cũng định nghĩa đoàn sủng (đặc sủng, charisme) như một ân sủng hoàn toàn nhưng không (gratis data), khác với hình thức tác động của Thánh Thần mà tôi có nói ở trên, tức là tác động mang lại một trái tim mới, phú ban lòng mến, ân sủng này làm cho tạo vật được nghĩa trước mặt Chúa (gratum faciens).[159] Mẫu tính thần linh (vai trò làm Mẹ Thiên Chúa) thực sự là một ân sủng tuyệt đối nhưng không, hoàn toàn phát xuất từ lựa chọn tự do và tối thượng của Thiên Chúa.
Khi đặt Ðức Maria trong mối liên hệ thâm sâu với Thánh Thần như thế, trước hết trong mầu nhiệm Nhập thể, sau đó, theo một cách khác, trong ngày lễ Hiện xuống, thánh Luca, theo cách quan niệm của mình về tác động của Thánh Thần, đã trình bày Ðức Maria như một con người của Thần Khí (créature pneumatique) đến mức tuyệt hảo, một người hành động dưới ảnh hưởng của Thánh Thần và như là nơi quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa tỏ lộ. Tuy nhiên, tất cả những điều đó không vì thế mà khiến chúng ta đi đến chỗ nghĩ rằng, mối liên hệ giữa Ðức Maria và Chúa Thánh Thần chỉ mang tính chất khách thể (objective), hoạt động bên ngoài (opérative) chứ không động tới lãnh vực thâm sâu nhất của chủ vị (personne), với những tình cảm, xúc cảm của nó. Ðức Maria không chỉ là “nơi” Thiên Chúa hành động. Thiên Chúa đối xử với con người như là con người chứ không phải như nơi chốn, Ngài coi họ như những cộng sự viên, như người đối thoại. Tiên tri Amos nói với chúng ta! “Ðức Chúa là Thiên Chúa không làm gì mà không Mạc khải bí mật của Ngài cho các tôi tớ của Ngài là các tiên tri” (Am 3, 7). Vậy phải nói gì về Ðức Maria?
Luca biết rõ sự ngây ngất nhẹ nhàng mà Thánh Thần tạo nên qua tác động của Ngài. Ngài đã chứng tỏ điều đó trong cuộc đời Ðức Giêsu, Ðấng một ngày kia đã “hân hoan” dưới tác động của Chúa Thánh Thần (Lc 10, 21). Ngài ghi nhận điều đó nơi các tông đồ! sau khi lãnh nhận Thánh Thần, các vị bắt đầu nói nhiều thứ tiếng và đã ở trong tình trạng hân hoan lạ thường đến nỗi người ta đã nghĩ là các ngài say rượu (Cv 2, 13), sau cùng, ngài ghi nhận điều đó nơi Ðức Maria! sau khi Thánh Thần xuống trên Người, Người đã “đon đả” đi thăm Elizabeth và hát lên bài Magnificat, là bài ca diễn tả tất cả sự hân hoan của Người. Một nhà thần bí hiểu được những hiệu quả của tác động Thánh Thần, đã mô tả Ðức Maria trong lúc đó như sau! “Thánh Thần ngự xuống trên Người, nung đốt tâm hồn Người như một ngọn lửa thần linh và thánh hóa thân xác Người bằng sự tinh trong hoàn hảo, và “quyền năng Ðấng Tối Cao đã rợp bóng trên Người” để Người có thể chịu nổi sức rực nóng như thế. Như vậy, do tác động và sự hiện diện của Ngài, ngay lập tức một thân xác đã được hình thành, một linh hồn được tạo dựng và đồng thời cả hai được kết hợp với thần tính trong Ngôi Con, để cũng chính Ngài là Thiên Chúa và là người, cũng là một, các đặc tính riêng của mỗi một trong hai bản tính vẫn nguyên vẹn. Ôi nếu như bạn có thể hiểu được, dù chỉ là một chút, đám lửa rực cháy từ trời, sự dịu mát tỏa lan, niềm an ủi được ban tặng lúc bấy giờ như thế nào, mênh mông đến là bao! Nếu bạn hiểu Ðức Trinh Mẫu được nâng lên đến phẩm giá nào, nhân loại được tôn cao và Ðấng Chí Tôn hạ cố lạ lùng đến mấy! Nếu như bạn có thể nghe thấy những bài ca hoan lạc của Ðức Nữ Trinh, được cùng với Ðức Bà ra đi lên miền núi, được chiêm ngắm sự ôm hôn ngọt ngào của người son sẻ và kẻ đồng trinh, chiêm ngắm cách đôi bên chào nhau, trong đó người tôi tớ hèn mọn nhận ra Chúa của mình, vị tiền hô nhận ra Ðấng Thẩm Phán, tiếng nhận ra Lời! Tôi đoán chắc rằng, khi đó bạn sẽ cùng Ðức Trinh Nữ diễm phúc cất bài thánh ca! “Hồn tôi tôn dương Chúa …” bằng giọng hát ngọt ngào, và tôi tin chắc bạn sẽ hợp cùng Hài nhi tiên tri để tôn thờ sự thụ thai khiết trinh kỳ diệu trong niềm rung cảm, hân hoan.[160]
Chính Luther cũng cho rằng bài thánh ca của Ðức Trinh Nữ là do tác động phi thường của Chúa Thánh Thần. Người đã cảm thấy, cảm nghiệm Chúa Thánh Thần. Thánh Thần đã thực hiện một trong những quyền năng chính yếu của Ngài là khai mở tâm trí trước ý nghĩa của Lời, ban cho thông hiểu sâu xa các đường lối của Thiên Chúa. Ông viết: “Ðể hiểu rõ bài thánh ca ngợi khen này, cần lưu ý rằng Ðức Trinh Nữ Maria diễm phúc nói về chính kinh nghiệm của mình sau khi đã được Thánh Thần soi sáng và dạy dỗ. Bởi chưng, không ai có thể hiểu được Thiên Chúa cũng như Lời của Ngài nếu không được Thánh Thần trực tiếp ban cho. Nhưng, lãnh nhận hồng ân của Thánh Thần có nghĩa là có kinh nghiệm, cảm nghiệm như là ngôi trường riêng của Ngài, ngoài ngôi trường đó, người ta không thể học được gì ngoại trừ những ngôn từ, những chuyện ba hoa trống rỗng. Vì thế, Ðức Thánh Trinh Nữ, khi cảm nghiệm nơi bản thân, Thiên Chúa đã thực hiện nơi mình những điều cao cả, dẫu mình hèn mọn, nghèo khó, bị khinh khi, Thánh Thần đã dạy cho Người sự hiểu biết, khôn ngoan phong phú, theo đó Thiên Chúa chính là Ðấng thích nâng cao người khiêm hạ và hạ thấp kẻ muốn tự nâng cao.”[161]
Ðức Maria, hình bóng của một Giáo hội Thần Khí và đặc sủng
Ít có lãnh vực nào mà việc chuyển từ Ðức Maria sang Giáo hội lại trong sáng và tự nhiên như ở đây. Từ những gì chúng ta đã thấy về mối quan hệ giữa Ðức Maria và Chúa Thánh Thần, chúng ta sẽ làm sáng tỏ hai áp dụng có thể có được; một áp dụng thuộc bình diện Bí tích, liên quan đến Giáo hội xét trong toàn thể, như là “Bí tích phổ quát của ơn cứu độ”, một áp dụng khác có tính cách cá nhân hơn, liên hệ đến chiều kích đoàn sủng của Giáo hội và của những ai đã chịu Phép rửa.
Bản văn của Công đồng Vaticanô II cho chúng ta biết! “Bởi lòng tin và vâng phục, Ðức Maria đã sinh chính Con Chúa Cha nơi trần gian, mà không hề biết đến người nam, nhưng được Chúa Thánh Thần rợp bóng … và Giáo hội, khi chiêm ngưỡng sự thánh thiện huyền diệu của Ðức Maria, noi gương đức ái của Người và trung thành chu toàn Thánh ý Chúa Cha, Giáo hội cũng được làm Mẹ, nhờ đón nhận Lời Thiên Chúa trong lòng tin! Giáo hội sinh hạ những người con được thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần và sinh bởi Thiên Chúa để họ lãnh nhận một đời sống mới và bất diệt.”[162]
Bản văn này phản ánh một cách hiểu tín khoản! “Nhập thể bởi phép Chúa Thánh Thần và bởi Ðức Trinh Nữ Maria” theo nghĩa Giáo hội, cách hiểu này đã có từ rất xa xưa. Khi xác định việc sinh ra của Ðức Kitô là sự sinh ra “thuộc Thần Khí” (spirituelle) nghĩa là do tác động của Chúa Thánh Thần; và là sự sinh ra “trinh khiết” (virginale) nghĩa là bởi Ðức Trinh Nữ Maria , điều khoản này của kinh Tin Kính đã được các Giáo phụ xem như là nền tảng và khuôn mẫu của sự sinh ra Ðức Kitô cách Bí tích bởi Trinh Nữ-, do tác động của Thánh Thần. Một tác giả viết! giếng Rửa tội chỉ chính Giáo hội “do tác động của Chúa Thánh Thần, trở thành Mẹ của tất cả các tín hữu mà vẫn khiết trinh.”[163] Thánh Ambrosiô viết: “Thánh thiện nguyên tuyền khi mang thai, phong nhiêu trong sinh hạ, là trinh nữ do sự trinh khiết của mình, là mẹ do con cái sinh ra. Giáo hội sinh hạ chúng ta như một trinh nữ, mang thai không bởi nam nhân nhưng do Thánh Thần.”[164]
Thánh Augustinô luôn luôn đặt điều khoản kinh Tin Kính về việc Ðức Giêsu sinh ra bởi phép Chúa Thánh Thần và bởi Ðức Trinh Nữ Maria trong mối liên hệ với điều khoản về “Hội thánh”. Về điều khoản thứ nhất, ngài viết! “Sinh bởi phép Chúa Thánh Thần và bởi đức Trinh Nữ Maria! đây là con đường mà Ðấng đã đến đã dùng để đi qua và là người mà Ngài đã đến cùng! Bởi Ðức Trinh Nữ Maria, nơi Người, Chúa Thánh Thần đã hành động chứ không phải một người chồng nhân loại; Thánh Thần đã làm cho kẻ khiết trinh thụ thai mà vẫn giữ cho trinh khiết vẹn tuyền”. Tiếp đến, trong cùng một bài giảng, chuyển sang điều khoản về Hội thánh, ngài nói! “Hội thánh vừa trinh khiết vừa sinh hạ. Hội thánh noi theo Ðức Maria, Người đã sinh ra Chúa. Thánh Nữ Maria lại không phải là trinh nữ sao và dầu vậy, Người đã chẳng sinh hạ mà vẫn trinh khiết hay sao? Về Giáo hội cũng thế! Giáo hội sinh hạ và đồng thời vẫn trinh khiết. Nếu suy nghĩ bạn sẽ thấy Giáo hội thực sự sinh hạ Chúa Kitô, bởi lẽ những người được rửa tội là chi thể của Ngài. Vậy nếu Giáo hội sinh ra các chi thể của Ðức Kitô thì điều đó muốn nói rằng Giáo hội giống Ðức Maria trong mọi sự.”[165]
Mãi cho tới thời gian gần đây, trong thần học Công Giáo, giáo lý Kinh thánh về Chúa Thánh Thần, theo đó Thánh Thần được trao ban để thực hiện một số hành vi siêu nhiên, hầu như chỉ còn áp dụng trong bình diện Bí tích và trong sự thực thi Huấn quyền, nghĩa là trong những hình thức thuộc về cơ chế. Trong Bí tích Thánh Thể, Thánh Thần đến, biến đổi bánh và rượu bằng một tác động giống như tác động Ngài đã thực hiện trên Ðức Maria, khi Ngài làm nẩy sinh sự sống của Ðức Giêsu nơi Ðức Maria. Với Bí tích Truyền Chức Thánh, Thánh Thần được trao ban cho một số người để họ có quyền thực hiện những hành vi siêu nhiên như tha tội hoặc trợ giúp Huấn quyền trong việc giải thích Mạc khải cách chính thức.
Hình thức hoạt động của Thánh Thần, như chúng ta thấy thực hiện nơi Ðức Maria, vẫn là điều nằm bên ngoài khuôn khổ đó. Chính vì thế, qua tấm gương của mình, Ðức Maria có thể giúp chúng ta khôi phục lại tầm quan trọng của hoạt động tự do, bất ngờ của Thánh Thần Thiên Chúa, được thể hiện dưới hình thức những ân điển được trao ban cả bên ngoài những máng thông ơn đã được thiết định, nhưng luôn luôn nhằm thiện ích chung và nhằm mục tiêu phục vụ. Ðó là điều Công đồng Vaticanô II đã làm sáng tỏ với bản văn nổi tiếng về các đoàn sủng! “Thánh Thần không chỉ thánh hóa và hướng dẫn Dân Thiên Chúa bằng các Bí tích, các thừa tác vụ, và trang điểm họ bằng các nhân đức, nhưng Ngài còn ban phát các ân sủng đặc biệt cho mọi cấp bậc các tín hữu, phân chia ân huệ cho mỗi người theo ý Ngài ” (1Cr 12, 11), khiến người lãnh nhận các ân sủng ấy có đủ khả năng và sẵn lòng đảm nhận các công việc và nhiệm vụ khác nhau, mưu ích cho việc canh tân, xây dựng và phát triển Giáo hội như lời chép rằng! “Thánh Thần hiển hiện trong mỗi người hầu mang lại lợi ích” (1Cr 12, 7). Phải lãnh nhận những đoàn sủng này, từ các ơn chói lọi nhất đến các ơn thường mà nhiều người lãnh được, với lòng tri ân và yên ủi, vì các ơn đó mang ích lợi và phù hợp với các nhu cầu của .”[166]
Trong sự khôn ngoan vô cùng của Ngài, Thiên Chúa đã lập ra hai con đường khác biệt để thánh hóa Giáo hội, hai con đường đó giống như hai hướng thổi khác nhau của cùng một Thần Khí. Có thể nói, có Thần Khí thổi từ trên, được thông ban qua Ðức Thánh Cha, qua các giám mục, các linh mục, hoạt động trong Huấn quyền của Giáo hội, trong phẩm trật, trong quyền bính và nhất là trong các Bí tích. Thần Khí còn thổi theo một hướng khác, đối lập với hướng trên theo một nghĩa nào đó, đó là hướng thổi từ dưới, từ nền, từ mỗi tế bào làm nên Giáo hội. Chính đó là nơi mà gió muốn thổi đâu thì thổi (Ga 3, 8). Ở đây Thần Khí phân chia các đặc sủng cho mỗi người “như Ngài muốn” (x. 1Cr 12, 11), xét như một toàn thể, là một cơ thể được Thánh Thần tưới thấm, linh hoạt, vì thế Giáo hội bao gồm và là kết quả của hai hướng, hai con kênh thông chuyển ân sủng.
Các Bí tích là ơn ban cho mọi người nhằm mưu ích cho mỗi người; đặc sủng là ơn ban cho mỗi người nhằm mưu ích cho mọi người. Các Bí tích là những ơn ban cho toàn thể Giáo hội nhằm thánh hóa từng người riêng biệt. Các đặc sủng là những ơn được thông tuyền cho những người riêng biệt nhằm thánh hóa toàn thể .
Như thế, ta dẽ dàng hiểu được Giáo hội sẽ phải chịu mất mát đến như thế nào, nếu một trong hai con kênh đó! hoặc kênh Bí tích, hoặc kênh đặc sủng. Khốn thay, phải thừa nhận rằng, tình trạng đó đã diễn ra trong Giáo hội, nếu không phải trong các nguyên tắc thì ít là trên bình diện đời sống thực tiễn. Sau Công đồng Vaticanô II, mọi người đều nhìn nhận rằng, trong quá khứ, cơ cấu thánh hóa của Giáo hội một cách nào đó đã bị thu hẹp, gây phương hại đến các đặc sủng. Khi đó, tất cả chỉ còn được thông chuyển theo chiều đứng, qua những máng thông ơn được uỷ thác cho phẩm trật hoặc do phẩm trật thiết lập. Qua những máng thông ơn đó, dân Kitô giáo lãnh nhận Lời Chúa, các Bí tích và ơn tiên tri, ơn được xem như đặc sủng gắn liền với Huấn quyền của Giáo hội trong việc giảng dạy chân lý cách bất khả ngộ.
Sự quân bình cũng như dự hiện diện đồng thời của các Bí tích và các đặc sủng bảo đảm cho Giáo hội, ngoài những thiện ích khác, còn có được một sự hài hòa lành mạnh giữa nhắc lại và sáng kiến, giữa tiếp nối và sự mới mẻ. Giả thiết rằng đời sống Kitô hữu chỉ dựa trên các Bí tích và những dịch vụ thuộc phẩm trật, thì đời sống đó hẳn sẽ dễ dàng xuôi theo một lối sống lặp đi lặp lại và từ đó rơi vào thói quen máy móc. Ngược lại, đời sống Kitô giáo nếu thiếu mất những giá trị trên và chỉ còn bao gồm những canh tân, những ngẫu phát của đặc sủng thì tất sẽ đi đến chỗ hỗn loạn và tùy tiện. Sự hài hòa tốt đẹp giữa hai kênh chuyển thông ân sủng mới cho phép ta hưởng được cái “toàn thể”. Sáng kiến giữ cho việc thực hành lặp đi lặp lại gìn giữ cho sáng kiến. Nói khác đi, các đặc sủng làm sống động cơ chế, còn cơ chế lại che chở cho các đặc sủng, vì cả hai đều bởi một Thần Khí độc nhất. Theo nghĩa này, thánh lễ có thể coi như một kiểu mẫu và là một biểu tượng cho đời sống Kitô giáo! Quả vậy, trong thánh lễ ta thấy có!những phần bất động” như lễ qui, và “những phần linh động” như các bài đọc, các lời cầu nguyện, các bài giảng; có những phần lặp đi lặp lại và có những phần đổi mới.
Các đặc sủng, theo nghĩa là những an thiệp trực tiếp của Thiên Chúa nhằm phá vỡ tình trạng ngừng trệ, làm cho dân của Người lại biết lắng nghe và tiến bước, dường như được phản ánh trong lời của Isaia! “Dân này lại gần Ta chỉ bằng môi miệng … việc chúng kính thờ Ta chỉ là giới điều do phàm nhân dạy. Cho nên Ta sẽ cứ gieo thêm vô vàn điều lạ …” (Ys 29, 13 – 14). Qua các tiên tri, Thiên Chúa đã can thệip mạnh mẽ để canh tân một Truyền thống và một nền phụng tự đã ra máy móc và vụ hình thức, để làm sống lại sự khôn ngoan mà lúc đó đã bị biến thành một thứ hiểu biết phàm nhân, sách vở, được hệ thống hóa, qui tắc hóa. Ðây cũng chính là điều mà Ðấng Mêssia đã đến thực hiện trong lịch sử, việc Ngài đến là một mới mẻ lớn lao mà chính Ðức Giêsu đã sánh với sự xuất hiện của rượu mới. Ðức Maria, khi trở thành Mẹ Thiên Chúa bởi tác động của Thánh Thần, đã ở vào trung tâm cuộc canh tân lớn lao nhất của Thiên Chúa và đã là khí cụ cho công cuộc canh tân đó. Mẹ đã là “bầu da mới” đầu tiên, chứa đựng nơi mình rượu mới hảo hạng là Ðức Giêsu cho tất cả chúng ta (x. Ga 2, 10).
Người cho hãy có lòng đơn thành
Việc thực thi các đặc sủng không phải là không có những khó khăn, nhưng nguy cơ của nó không phải tự nhiên là tốt đẹp. Con người có thể biến những tài năng tự nhiên của trí tuệ, ý chí, của khả năng yêu thương thành xấu, sử dụng cách sai trái và thậm chí dùng để chống lại Thiên Chúa. Cũng vậy, con người có thể biến những tài năng siêu nhiên là các đặc sủng thành xấu và sử dụng chúng cách sai trái. Trong lãnh vực này, Ðức Maria, người đầu tiên là con người đặc sủng vĩ đại nhất sẽ trợ giúp chúng ta qua tấm gương của Người.
Hơn ai hết, thánh Phaolô, ý thức về những nguy cơ mà con người yếu đuối có thể gặp phải khi sử dụng các đặc sủng, vì thế, sau khi kể ra các đặc sủng, ngài đã xác định rõ những thái độ nội tâm thiết yếu để thực thi các ẩn điều đó! “Kẻ phân phát thì đừng tính toán so đo; kẻ chủ sự hãy gắng nhiệt thành; kẻ thương giúp hãy giúp cách vui tươi” (Rm 12, 8).
Chúng ta hãy dừng lại ở thái độ đầu tiên, thái độ căn bản mà người phải có! “không tính toán” hoặc, sát nghĩa hơn, “hết sức đơn thành”. “Người cho”, nói cách tổng quát là người chia sẻ nơi người khác điều mình sở hữu hoặc đạt được, vì thế người bố thí và chịu trách nhiệm lo cho người nghèo cũng thuộc loại này. Thánh Tông đồ nói, người đó phải hành động với sự đơn thành, không nhằm mục đích nào khác ngoài việc cho đi, không vì lý do nào khác ngoài việc mình đã lãnh nhận. Ðức Giêsu diễn tả đòi hỏi này khi Ngài nói! “Các ngươi đã nhận nhưng không thì cũng hãy cho nhưng không” (Mt 10, 8). “Nhưng không” không chỉ là không đòi bù đắp về tiền bạc mà còn là không đòi hỏi đáp lại bất cứ điều gì, không đòi lòng biết ơn, không đòi vinh quang, không tìm cách ra vẻ là kẻ làm ơn, không làm cho người ta thấy giá trị của điều mình cho. Phải hành động sao cho tay trái không biết việc tay phải làm như Ðức Giêsu cũng đã dạy (Mt 6, 3).
Những điều ấy chúng ta thấy đã được thực hiện cách tuyệt hảo nơi Ðức Maria. Ðặc sủng của Người là đặc sủng trao ban. Người đã trao ban Ðấng Mêssia là Ðức Giêsu kitô cho thế gian và Người làm điều đó với lòng đơn thành, nhưng không, không có mục đích nào khác ngoài việc trao ban mà không tìm phần thưởng. Khi chiêm ngắm Ðức Maria trong cuộc đời công khai của Ðức Giêsu và trong mầu nhiệm Vượt qua, chúng ta thấy Người để mình bị tước mất các quyền của một người Mẹ trên Ðức Giêsu như thế nào, có thể nói Người chịu mất đi những quyền đó để trao ban Ðức Giêsu cho những người khác. Ðã có lúc tất cả mọi người đều có thể đến bên Ðức Giêsu, Con của Mẹ, cách tự do dễ dàng, ngoại trừ chính Mẹ, thậm chí Mẹ phải xin những người khác can thiệp để có thể nói với Con mình.
Về thái độ nội tâm mà thánh Phaolô gọi là lòng đơn thành, chúng ta cũng hãy xem thái độ đó như thế nào nơi Ðức Maria. Qua một vài dữ kiện trong các sách Tin mừng và kinh Magnificat, chúng ta thấy Ðức Maria như là chính hiện thân của sự đơn thành. Người không hề vinh vang về ơn huệ đã lãnh nhận hay về việc mình được làm “Mẹ của Ðấng Giêsu”, điều mà mọi phụ nữ Israel đều mong ước. Chẳng những Người không đòi vinh dự hay đòi được nhìn nhận, mà ngay cả đặc ân mình được lãnh nhận Người cũng không nhắc đến. Lần duy nhất dường như Ðức Maria nhắc đến thì Người lại nói theo cách làm nổi bật hành động của Thiên Chúa hơn là của chính mình! “Ðấng toàn năng đã làm cho tôi những điều cao cả”. Các sách Tin mừng thuật lại những cuộc gặp gỡ đối thoại có mặt Ðức Maria như cuộc Thăm Viếng, Giáng sinh, Dâng Con vào Ðền Thờ, nhưng không bao giờ Ðức Maria tỏ ra một chút gì là tự thỏa mãn. Ở Cana cũng vậy, kín đáo và khiêm hạ biết bao!
Làm thế nào mà Ðức Maria đã có thể chống lại áp lực gây ra bởi ý nghĩ! “Người là Mẹ của Giêsu, Mẹ của Ðấng Mêsia?” Lucifer đã không cưỡng nổi ý nghĩ mình là tạo vật sáng láng nhất, hắn cảm thấy thỏa mãn và đã gục ngã. Ðức Maria vẫn đứng vững, hẳn là bởi ơn Chúa, nhưng nơi Người, ơn Chúa quả đã không ra “vô ích”. Sự đơn thành của Ðức Maria đã khiến Luther lên lời khen ngợi! “Một tinh thần như thế biểu lộ rất rõ con người Ðức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Giữa biết bao ân phúc, Ðức Maria không dính bén hay tìm sự thích thú nơi những điều đó, Người vẫn giữ cho tâm trí mình tinh tuyền trong lòng mến, trong lời ca ngợi lòng nhân lành của Thiên Chúa mà thôi, nếu Thiên Chúa có muốn cất đi mọi sự và chỉ để lại cho Người một tinh thần nghèo khó, trơ trọi, thiếu thốn, thì Người sẵn lòng tuân phục. Thế nhưng, giữ được thái độ mực thước trong sự giàu có, trong danh giá cao sang hay trong quyền lực thì khó hơn là trong nghèo khó, yêu đuối và ô nhục bội phần.
Vì thế tâm hồn tinh tuyền đến độ tuyệt vời của Ðức Maria càng đáng ca ngợi hơn biết bao nhiêu, vì trong khi nhận được một vinh dự lớn lao như thế, Người vẫn không để mình sa vào cám dỗ. Người như thể không nhìn thấy, vẫn đứng vững trên đường ngay chính, và chỉ một lòng tựa nương vào lòng nhân lành của Thiên Chúa dù không nhìn thấy hay nghe thấy. Những ân phúc Ðức Maria cảm nhận, Người để lại tất cả, không xây vinh quang cũng không tìm sự thích thú nơi những điều đó. Vì thế, Người đã có thể hát lên cách đúng đắn và chân thực! “Thần trí tôi vui mừng trong Thiên Chúa, Ðấng cứu độ tôi.”[167]
Mỗi khi được sai đi loan báo Lời Chúa ở một nơi nào đó, tôi lại thường nhớ đến sự đơn sơ, giản dị của Ðức Maria với nỗi bối rối, sững sờ. Những lúc thấy mình như có một lời “mạnh mẽ” của Chúa để loan báo, một lời mà tôi cảm thấy có sức soi sáng và an ủi các tâm hồn, thì tôi lại phải chiến đấu thật gay go để giữ được sự giản dị, siêu thoát ngõ hầu Lời Chúa được tự do tác động, nhưng rồi cũng thất bại biết bao lần!
Ðức Maria mang đến cho cả thế giới Lời trọn vẹn, Lời thành xác phàm, thế mà Người vẫn khiêm hạ, ẩn mình biết bao! Chính nơi điều này mà Ðức Maria quả thực là khuôn mẫu tuyệt hảo cho những người được đặc sủng trong Giáo hội. Những gì Ðức Maria dạy chúng ta qua sự thinh lặng của Người đã quá hùng hồn, không cần phải thêm gì vào đó nữa.
Sự đơn sơ khiêm hạ giúp cho người mang đặc sủng biết đặt mình trong một thái độ đúng đắn, vừa tự do nhưng cũng vừa tuân phục đối với cơ chế và phẩm trật. Ðược Ðức Kitô ở cùng, Ðức Maria vẫn không tự thấy mình được miễn chu toàn các qui định của luật Môisê. Sau Lễ Ngũ tuần, Ðức Maria cùng sống với tông đồ Gioan trong một giáo đoàn, có lẽ ở Êphêsô hay một nơi khác, nhưng Người không đóng vai trò cai quản hay đứng đầu, mà đã dành các trách nhiệm và vinh dự đó cho Tông đồ Gioan. Không hề có tài liệu nào tham chiếu các chỉ thị do Ðức Maria đưa ra, hay các gợi ý của Người, trong khi đó, có rất nhiều tài liệu nói đến quyền bính của Gioan. Khi thực thi các đặc sủng của mình là trao sự sống cho Ðức Kitô và trung thành đi theo Ngài đến tận Thập giá, Ðức Maria tan biến trong Giáo hội như muối hòa tan trong nước.
Mẫu gương của Ðức Maria còn dạy chúng ta về một khía cạnh quan trọng khác! vị trí đặc sủng trong đời sống thiêng liêng của người thực thi đặc sủng đó. Thánh Augustinô khẳng định! “Ðối với Ðức Maria, được làm môn đệ Ðức Kitô thì còn hơn là làm Mẹ Ðức Kitô”, và ngài đi đến chỗ nói rằng “mối liên hệ mẫu tử hẳn chẳng ích gì cho Ðức Maria nếu Người đã không cưu mang Ðức Kitô trong tâm hồn hơn là trong thân xác cách hạnh phúc hơn nữa”[168]; điều này cũng gần với điều mà thánh Phaolô nói về mối tương quan giữa đặc sủng và lòng mến (đức ái)! “Giả như tôi được ơn tiên tri … mà tôi lại không có lòng mến thì tôi vẫn là không” (1Cr 13, 2).
Nếu một nguyên tắc như thế có giá trị đối với đặc sủng làm Mẹ của Ðức Maria thì đối với những đặc sủng nhỏ bé của chúng ta như ơn tiên tri, ơn giảng dạy, cai quản, làm sinh động kinh nguyện, thì còn phải nói thế nào nữa? Ðức Giêsu đã loan báo cho biết! Người có thể chết trong án phạt địa ngục ngay cả sau khi đã thi hành các đặc sủng như nói tiên tri, trừ quỉ, làm các phép lạ (x. Mt 7, 21 – 23).
Về Ðức Maria, tôi nhấn mạnh đến đặc sủng làm Mẹ. Nhờ Tin mừng, chúng ta được biết nơi Ðức Maria, đặc sủng này được kết hợp cách độc nhất vô nhị với đặc sủng trinh khiết. Chúa Thánh Thần cho Ðức Maria thụ thai đồng thời vẫn bảo toàn nguyên vẹn sự trinh khiết của Người. Bởi cùng một Thánh Thần, Người đã lãnh nhận hai đặc sủng đó cùng một lúc như thể là một đặc sủng duy nhất, đến nỗi người có thể gần với các bà mẹ cũng như với các trinh nữ. Cả hai bậc sống này trong Giáo hội đều được vinh dự có Ðức Maria là nguồn gốc và là khuôn mẫu cho bậc sống của mình.
Chúng ta hãy kết thúc bằng cách chiêm ngắm Ðức Maria vừa là Trinh Nữ vừa là Mẹ, hay nói như người bạn thi sĩ của chúng ta, một thụ tạo vừa có xác thân vừa thuần khiết, hoàn toàn phục vụ cho sự sống và hoàn toàn là tinh tuyền, Người đã hiến dâng cho Thiên Chúa không những lòng dạ mà cả trái tim và lòng tin của mình.
“Nơi mọi tạo vật đều thiếu mất điều gì đó.
Nơi tạo vật mang xác thân
Thiếu mất sự tinh tuyền
Chúng ta đã biết
Nhưng nơi tạo vật thuần khiết
Lại thiếu mất xác thân.
Còn nơi Người, không thiếu điều gì cả
Vì tuy là xác thể, vẫn thật tinh trong
Và cho dù tinh trong, Người vẫn là xác thể
Và vì thế, Người không chỉ là
Một người nữ vô song giữa muôn vàn phụ nữ
Mà còn là tạo vật có một không hai giữa muôn tạo vật
Ðúng thật, Người là tạo vật hàng đầu sau Thiên Chúa
Sau Ðấng Sáng Tạo
Sát ngay sau mà thôi.”[169]
CHƯƠNG 9: VÀ GỤC ĐẦU XUỐNG, NGÀI PHÓ THÁC THẦN KHÍ - ÐỨC MARIA TRONG LỄ HIỆN XUỐNG THEO TIN MỪNG GIOAN
Tân ước trình bày không phải một mà là hai lễ Hiện xuống: lễ Hiện xuống theo Luca trong sách công Vụ và lễ Hiện xuống theo Gioan trong Ga 20, 22; trong đó tác giả thuật lại cử chỉ của Ðức Giêsu thổi hơi trên các tông đồ và nói: “Hãy chịu lấy Thánh Thần”. Lễ Hiện xuống theo Gioan cũng diễn ra tại nhà Tiệc Ly như lễ Hiện xuống theo Luca, nhưng không cùng một thời điểm, vì nó xảy đến vào ngay chiều ngày Phục sinh chứ không phải năm mươi ngày sau đó. Trên con đường theo dấu chân của Ðức Maria, ở chặng thứ chín này, chúng ta sẽ cố tìm ra chỗ đứng của Ðức Maria trong lễ Hiện xuống theo thánh Gioan cũng như giáo huấn mà ngài dành cho Giáo hội trong dịp này.
Lễ Hiện xuống của Tin mừng Gioan
Thực tế về một lễ Hiện xuống thứ hai trong Tân ước đã được các Giáo phụ nhìn nhận. Thánh Augustinô nói: “Thưa anh em, hãy cẩn thận. Một ai đó có thể hỏi tôi: “Tại sao Ðức Kitô lại ban Thánh Thần đến hai lần? Chúa đã ban cho các tông đồ Hồng Ân Thánh Thần không phải một lần nhưng là hai lần, và ban cách rõ ràng. Vừa mới Phục sinh từ trong kẻ chết Ngài đã thổi hơi trên họ và nói: “Hãy chịu lấy Thánh Thần”. Bởi Ngài đã ban Thánh Thần cho họ lúc bấy giờ rồi nên có thể sau đó Ngài đã không gửi Thánh Thần được hứa ban chăng? Hay phải chăng Thánh Thần mà Ðức Kitô thổi trên họ và Thánh Thần mà Ngài gửi đến từ trời lại không phải là cùng một Thánh Thần.”[170]
Chính thánh Augustinô cũng đã giải thích sự kiện này theo nghĩa biểu trưng, ngài nói: “Thánh Thần được ban hai lần có lẽ là để nhắc chúng ta nhớ rằng, có hai giới luật về đức ái: yêu mến Chúa và yêu thương anh em. Một số Giáo phụ đưa ra những cách giải thích khác chẳng hạn, việc ban Thánh Thần mà Gioan nói đến chỉ mới là ban một phần, ít mạnh mẽ và giới hạn hơn xét về nội dung cũng như về số người lãnh nhận so với việc ban Thánh Thần cách đầy đủ hơn, phổ quát hơn, năm mươi ngày sau đó.[171]
Một lối giải thích khác nữa nói đến hoa quả đầu mùa của Thánh Thần: Ðấng Cứu Thế, bằng hành vi thổi hơi rõ rệt, đã ban Thánh Thần cho các thánh tông đồ như là hoa quả đầu mùa của một bản tính đã được đổi mới … bởi cần phải làm cho mọi người biết rõ rằng Ngài là Ðấng ban Thánh Thần … vì thế, các ngài đã được tham dự vào ơn Thánh Thần ngay sau khi Ngài thổi hơi trên họ và nói: “Hãy chịu lấy Thánh Thần”. Ðức Kitô không thể nói “Hãy chịu lấy” mà lại không ban gì cả. Mặt khác vào ngày lễ Hiện xuống, Thiên Chúa đã diễn tả hồng ân của Người cách rõ ràng hơn, tỏ lộ Thánh Thần, Ðấng đang ngự trong lòng họ cách hiển nhiên rõ rệt hơn.”[172]
Khó khăn chính mà các Giáo phụ trên vấp phải là do câu Ga 7, 39. Làm sao Ðức Giêsu có thể ban Thánh Thần trước khi lên trời, vì đã có lời rằng Thánh Thần sẽ không đến trước khi Ðức Giêsu được “tôn vinh”. Theo các ngài, việc tôn vinh Ðức Giêsu chỉ được thực hiện qua việc Ðức Giêsu trở về cùng Chúa Cha.
Ngày nay, với tiến bộ của các nghiên cứu Kinh thánh, chúng ta có thể đưa ra một giải đáp đơn giản hơn cho vấn đề hai lễ Hiện xuống. Hai lần Hiện Xuống tương ứng với hai cách quan niệm và trình bày Hồng Ân Thánh Thần khác nhau, không loại trừ, mà đúng hơn bổ túc cho nhau, và cũng không phải tìm cách dung hòa chúng với nhau.
Dưới hai quan điểm và với hai quan tâm thần học khác nhau, Luca và Gioan mô tả cùng một biến cố căn bản của lịch sử cứu độ, đó là sự tuôn đổ Thánh Thần nhờ có hy tế Vượt Qua của Ðức Kitô. Sự tuôn đổ này được thể hiện bằng nhiều cách, ở nhiều thời điểm khác nhau. Theo cái nhìn của Luca, Thánh Thần được ban cho Giáo hội chủ yếu là vì sứ mạng của Giáo hội, vì thế ngài đã nhấn mạnh một trong những thời điểm đó, tức là năm mươi ngày sau Phục sinh; ngày mà người Do Thái cử hành Lễ Ngũ tuần: một thời điểm hẳn phải có âm vang và tầm quan trọng đặc biệt trong bước khởi đầu sứ mạng của Giáo hội. Theo cái nhìn của Gioan, Thánh Thần chủ yếu là Hồng Ân Phục sinh mà Ðức Kitô ban cho các môn đệ Ngài, vì thế Ngài làm nổi bật những biểu lộ đầu tiên của sự hiện diện mới mẻ của Thánh Thần ngay từ ngày Phục sinh. Mặt khác, thánh Luca cũng không có ý trình bày việc Thánh Thần Hiện Xuống được thuật lại trong đoạn 2 sách Công Vụ như là lần hiện xuống độc nhất, vì trong phần tiếp theo, ngài còn cho biết những lần Thánh Thần hiện xuống khác, rất giống với lần đầu tiên (Cv 4, 31; 10, 44tt).
Luca giải thích việc ban Thánh Thần vào thời sau hết như đã hứa dựa theo lời tiên tri Yôel cũng như Khởi Nguyên 11, 1 – 9: lễ Hiện xuống thực sự là sự tuôn đổ Thần Khí tiên tri, và là sự khôi phục lại sự duy nhất vốn đã bị phá hủy ở tháp Babel. Gioan lại giải thích ơn đó dựa theo Khởi Nguyên 2, 7 (Thiên Chúa thổi hơi sống cho Ađam) và Ezekiel 37, 9 (hơi thổi của Thần Khí làm hồi sinh những bộ xương khô): lễ Hiện xuống là khởi đầu một đời sống mới và như là một sáng tạo mới.
Ngay từ đầu sách Tin mừng, Gioan đã thuật lại một lời hứa: một ngày kia sẽ có phép Thanh Tẩy trong Thánh Thần (Ga 1, 33). Lời hứa này được củng cố và xác định rõ trong cuộc gặp gỡ với người phụ nữ xứ Samari về Nước hằng sống (Ga 4, 14). Sau đó, lới hứa lại được đặt trong mối liên hệ chặt chẽ với việc Ðức Giêsu được tôn vinh (Ga 7, 39) mà như chúng ta biết, việc tôn vinh đó không phải chỉ là Phục sinh mà còn là sự giương cao trên Thập giá và là Thập giá vinh quang. Thật không thể nào nghĩ rằng Gioan kết thúc Tin mừng mà lại không cho thấy lời hứa đó đã được thực hiện, hoặc nghĩ rằng ngài đưa ra việc thực hiện lời hứa đó sang một cuốn sách khác, sách Công Vụ các Tông đồ, một cuốn sách mà có lẽ ngài cũng không biết là nó có.
Bởi đó, chúng ta có một lễ Hiện xuống trong Tin mừng Gioan, một trình thuật về việc Chúa Thánh Thần ngự đến. Cũng như đối với lễ Phục sinh, lịch sử Phụng vụ Giáo hội đã xác nhận rõ ràng về điều đó. Trong những thế kỷ đầu của Giáo hội, lễ Hiện xuống được giải thích theo hai hướng chính. Theo hướng thứ nhất, lễ Hiện xuống, là lễ mừng Chúa Thánh Thần ngự đến vào “ngày thứ năm mươi” sau lễ Phục sinh, và đây là hướng về sau được xác nhận và trở thành phổ biến cho đến ngày nay. Theo hướng thứ hai, kỳ cựu hơn, lễ Hiện xuống là lễ “Năm mươi ngày” sau Phục sinh, tưởng niệm sự hiện diện thiêng liêng, hay hiện diện “theo Thần Khí” của Ðức Giêsu giữa các môn đệ, kể từ lúc Ngài Phục sinh. Sự hiện diện này được hiểu như là kết quả đầu tiên của sự sống mới và là sự thể hiện trước đời sống vĩnh cửu. Chẳng hạn đối với Tertullien, lễ Hiện xuống “là thời gian mà các môn đệ được củng cố rất nhiều lần về sự Phục sinh của Chúa, thời gian khai mạc ân sủng Thánh Thần và là thời gian biểu lộ niềm hy vọng Chúa đến.”[173] Cũng trong chiều hướng này, thánh Athanase viết: “Tiếp theo lễ Phục sinh là lễ Hiện xuống, ngày lễ mà chúng ta đang hối hả tiến tới, như thể từ lễ này sang lễ khác, để mừng Chúa Thánh Thần, Ðấng hiện đã ở bên chúng ta trong Ðức Giêsu kitô.”[174]
Theo quan điểm kỳ cựu này, lễ Hiện xuống bắt đầu lúc kết thúc canh thức Phục sinh, và tiếp diễn như một ngày lễ duy nhất, kéo dài, như một ngày Chúa Nhật duy nhất, liên tục.
Và lập tức có máu và nước chảy ra
Như vậy, ngay từ thời xa xưa, Giáo hội đã ý thức về hai lễ Hiện xuống, hai cách trình bày về việc tuôn đổ Thánh Thần thời cánh chung. Khoa chú giải hiện đại tiến thêm một bước: nhìn nhận có một lễ Hiện xuống theo Gioan, chắc chắn là như thế, nhưng khoa này đã xem lễ Hiện xuống đó đã khởi đầu trên đồi Canvê, lúc Ðức Kitô chết, vì lúc Ngài chết cũng là lúc Ngài bắt đầu được tôn vinh. Có thể nói: ngày nay, lối giải thích này đã được chấp nhận, không phải bản cãi, dù rằng các nhà chú giải chưa phải đã rút ra được tất cả các hệ quả.
Khi thánh sử Gioan nói: Ðức Giêsu “gục đầu xuống, Ngài phó thác Thần Khí” (19, 30) thì như thường thấy nơi Gioan, ngài muốn nói lên hai sự thật, một thuộc bình diện tự nhiên và lịch sử, một thuộc bình diện thần bí: Ðức Giêsu trút hơi thở và sai Thần Khí. Nước chảy từ cạnh sườn bị đâm thâu được Gioan hiểu như là sự thực hiện lời hứa về những dòng sông tuôn chảy nước hằng sống tự lòng Ngài và như dấu chỉ của Thần Khí mà các kẻ tin vào Ngài sẽ được lãnh nhận (Ga 7, 39). Ở đây, trong Phép rửa của Giáo hội, nước biểu thị điều mà chim câu biểu thị lúc Ðức Giêsu chịu Phép rửa: một biểu tượng hữu hình của thực tại vô hình là Thánh Thần. Ðiều đó còn được Gioan xác nhận cách minh nhiên khi ngài nói đến ba nhân chứng cho Ðức Giêsu: “Thánh Thần, nước và máu” (1Ga 5, 8) và điều này rõ ràng qui chiếu về đồi Canvê. Nước và máu là những phương thế Bí tích qua đó Thánh Thần hoạt động trong Giáo hội, hay nói một cách đơn giản, nước là máu là biểu tượng của việc Thánh Thần thực sự tuôn tràn trên Giáo hội. Trong bản dịch Thánh kinh Ðại Kết (TOB), chúng ta thấy đoạn Gioan 19 cũng được hiểu theo nghĩa biểu tượng: vả lại dựa vào văn mạch và giọng văn rất trang trọng của chính bản văn, đoạn văn này buộc phải hiểu theo nghĩa đó.[175]
Ðức Kitô sinh thì tuôn ban Thần Khí như Gioan đã hiểu là điều mà ngay cả các Giáo phụ đầu tiên cũng đã nhận ra. Ðề tài này được các ngài đề cập trong mối liên hệ với chủ đề thuộc hôn lễ, đó là chủ đề về Giáo hội, Evà Mới, sinh ra từ cạnh sườn Ðức Kitô, Ađam Mới chìm trong giấc ngủ sự chết, chúng ta hãy nghe một bài giảng lễ Phục sinh vào cuối thế kỷ II hoẵc đầu thế kỷ III. “Vì muốn phá hủy các việc làm của người đàn bà (Evà) và chống lại kẻ mang sự chết, tức là người nữ xuất từ cạnh sườn Ađam thuở ban đầu, thì này đây Người khai mở cạnh sườn Rất Thánh của Người để từ đó máu, nước tuôn trào như những khúc dạo đầu cho hôn lễ thiêng liêng và thần bí và như là dấu chỉ cho ơn nghĩa tử và sự tái sinh … “Quả thực, Ngài sẽ thanh tẩy anh em trong Thánh Thần và lửa” (Mt 3, 11); nước chỉ Phép rửa trong Thánh Thần, máu chỉ Phép rửa trong lửa.”[176] Tác giả còn nhận ra một ám chỉ về sự tuôn đổ Thánh Thần trong Lc 23, 46 và trình bày trong chiều kích vũ trụ của nó: “Cả vũ trụ sắp rơi trở lại vào hỗn mang, sắp biến tan bởi nỗi kinh hoàng do cuộc Khổ Nạn, nếu như Ðức Kitô đã không tuôn ban Thần Khí của Ngài khi kêu lên: “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha: (Lc 23, 46). Mọi vật rung chuyển, đảo lộn vì sợ hãi. Nhưng khi Thánh Thần Thiên Chúa lại bay lên thì vũ trụ như được hồi sinh, tác sinh, củng cố và tìm lại được sự vững chãi của mình.”[177] Thần Khí mà Ðức Giêsu tuôn ra từ trên Thập giá được đối chiếu với Thần Khí Thiên Chúa bay là là trên mặt nước thuở khai thiên (x. Kn 1, 2). Vì thế cái chết của Ðức Kitô được xem như một cuộc sáng tạo mới.
Giờ đây, chúng ta hãy chiêm ngắm bức icône đóng đinh mà trong phần nói về mầu nhiệm Vượt qua chúng ta đã học cách nhìn ngắm. Các thời điểm, giai đoạn khác nhau mà Gioan nhắc đến liên quan đến cảnh này gắn liền với nhau rất chặt chẽ. Tất cả đều nằm trong sự hoàn tất, thực hiện chung cuộc lời Kinh thánh. Sau khi đã ký thác Ðức Maria cho Gioan và Gioan cho Ðức Maria, Ðức Giêsu thấy rằng “mọi sự đã hoàn tất” (x. Ga 19, 28). Việc hoàn tất công trình của Ngài ở đây chính là việc khai sinh Giáo hội mà Ðức Maria và Gioan là đại diện. Ðức Maria trong tư cách là Mẹ, Gioan trong tư cách là tín hữu. “Có thể nói, cảnh được mô tả trong các câu 25 – 27 là cảnh Giáo hội khai sinh, nơi con người Ðức Maria và nơi người môn đệ yêu dấu … Hành vi qua đó Ðức Giêsu hoàn tất công trình của Ngài là hành vi chỉ rõ rằng Mẹ của Ngài từ nay là “Người Nữ”, là Nữ Tử Sion cánh chung mà các tiên tri đã nói tới, và cũng vì thế, Mẹ trở thành hình bóng của Giáo hội … Ðức Giêsu đã biểu lộ tình yêu tột cùng của Ngài trên Thập giá khi Ngài thiết lập Dân Mới của Thiên Chúa nơi chính Mẹ Ngài và người môn đệ yêu dấu, và thông ban cho họ Hồng ân Thánh Thần.”[178]
Ðàng sau bối cảnh đầy ý nghĩa và đầy những biểu tượng này, chúng ta cần nêu ra một sự kiện cụ thể khó có thể nghi ngờ về tính chất lịch sử của nó: Tự cạnh sườn của Ðức Giêsu bị lưỡi đòng người lính đâm thâu có một ít nước pha lẫn với máu chảy ra. Và vì đây là một chi tiết lịch sử nên thiết tưởng chúng ta có lý để nghĩ rằng dù suy diễn này không cùng giá trị với những suy diễn ở trên – chính Mẹ của Ngài hiện diện ở đó là người đã đến gần, dùng tay hay mảnh áo của mình lau đi tia nước và máu lăn chảy từ thân thể Người Con vừa tắt thở. Tôi không sao nghĩ được rằng một bà mẹ hiện diện ở đó và cuối cùng đã có thể đến bên xác con lại bỏ qua, không tự mình làm điều đó, hoặc đứng yên để người khác làm thay. Nếu sự việc diễn ra như chúng ta nghĩ thì Ðức Maria lúc bấy giờ đã lãnh nhận dấu chỉ khả giác của hoa quả đầu mùa của Thánh Thần. Chính Maria mới là người đầu tiên được “thanh tẩy trong Thánh Thần”, dưới chân Thập giá, trong tư cách là người đại diện cho cả Giáo hội.
Thánh Thần, Ðấng ban sự sống
Ở đây, điều quan trọng đối với thánh sử không phải là làm sáng tỏ điều liên quan đến những người trực tiếp lãnh nhận hồng ân là Ðức Maria, Gioan, các phụ nữ – cho bằng làm sáng tỏ điều liên quan đến tác giả của hồng ân là Ðức Giêsu, và chính hồng ân là Chúa Thánh Thần. Ðối với Gioan, đây là lúc “Hồng Ân Thiên Chúa” được ban hẳn cho thế gian, lúc lời hứa được hoàn thành, lúc chiếc bình bạch ngọc được đập vỡ và là lúc cả nhà ngát mùi thơm cam tùng (x. Ga 12, 3; Mt 26, 6). Vì thế chúng ta có thể tìm kiếm những điều mới mẻ mà các bản văn đó có thể mang lại về mối liên hệ giữa Ðức Maria và Chúa Thánh Thần, với điều kiện chúng ta nên hiểu các văn bản đó chỉ gián tiếp qui về Ðức Maria chứ không phải là trực tiếp.
Ðể tránh sự tùy tiện khi đào sâu ý nghĩa mối liên hệ giữa Ðức Maria và Chúa Thánh Thần trong lễ Hiện xuống theo Gioan, chúng ta chỉ có một con đường, đó chính là con đường chúng ta đã theo khi bàn về lễ Hiện xuống theo Luca: tìm hiểu xem Thánh Thần là ai và đã làm gì trong Tin mừng Gioan để rồi sau đó áp dụng cho Ðức Maria. Cũng như Phaolô, Gioan đưa hướng khai triển Mạc khải về Chúa Thánh Thần đến chỗ hoàn tất, và đây là một hướng khai triển khác mà tôi đã có ám chỉ đến trong chương trước: theo hướng này, Thánh Thần được xem không phải như một sức mạnh thần linh đến trên một số người, trong những trường hợp đặc biệt nào đó, để họ có khả năng thực hiện những hành động phi thường, nhưng như là “nguyên lý” hoặc “ngôi vị” thần linh, đi vào và cư ngụ trong tâm hồn con người mới. Ðó là Thánh Thần thánh hóa hơn là Thánh Thần tác giả các việc lạ lùng.
Trong Cựu ước, cái nhìn mới mẻ và sâu sắc hơn về Chúa Thánh Thần như nói trên, xuất hiện lần đầu tiên là nơi tiên tri Ézékiel, lúc mà ở Israel, người ta bắt đầu nói tới một Giao ước mới: “Trên các ngươi, Ta sẽ rảy nước trong ngần, và các ngươi sẽ trở thành trong trắng; Ta sẽ rửa các ngươi sạch mọi vết nhơ, quét sạch mọi uế thần các ngươi thờ lạy. Ta sẽ tặng các ngươi một quả tim mới, sẽ đặt Thần Khí mới vào lòng, lấy khỏi mình các ngươi quả tim chai đá, ban tặng một quả tim biết yêu thương, Thần Khí của Ta, Ta sẽ đặt vào tận đáy lòng các ngươi, giúp các ngươi bước đi vững vàng theo Thánh Chỉ, tuân giữ và thi hành những quyết định của Ta” (Ez 36, 25 – 27). Ở đây Thánh Thần cũng gắn liền với nước và xuất hiện như nguyên lý cho cuộc canh tân nội giới, làm cho con người có khả năng tuân giữ luật Chúa và như thứ nước hằng sống làm nẩy sinh sự sống mới.
Gioan lấy lại những chủ đề này khi nói về Nước hằng sống. Theo ngài, Thánh Thần chủ yếu là nguyên lý của sự “tái sinh” hoặc “sinh bởi Trên” (x. Ga 1, 12 – 13; 3, 5), nguyên lý của sự sống mới, sự sống của Thần Khí như lời Ðức Giêsu: “Thần Khí mới tác sinh” (Ga 6, 63).
Thay vì nói “tái sinh bởi Thần Khí”, thánh Phaolô lại nói đến Thần Khí làm cho ta trở thành “nghĩa tử” của Thiên Chúa (x. Rm 8, 15 – 16; Ga 4, 6). Thực ra cùng một cái nhìn. Thánh Phaolô cũng nói đến “Thần Khí ban sự sống trong Ðức Giêsu Kitô” (Rm 8, 2) và tạo nên con người mới, con người “bước đi theo Thần Khí” (x. Ga 15, 16). Như vậy, Thánh Tông đồ đã tổng hợp hai cách nhìn về Thần Khí: Thần Khí ban các đặc sủng và Thần Khí thông ban tình yêu trong tâm hồn. Cả hai đều là những tỏ hiện của cùng một Thần Khí, nhưng tỏ hiện thứ hai trỗi vượt hơn tỏ hiện thứ nhất, vì lòng mến tồn tại mãi thì cao cả hơn các đặc sủng sẽ bị tàn phai (1Cr 12 – 13).
Vậy theo Gioan, đó chính là Thần Khí mà Ðức Giêsu ban cho các môn đệ từ trên Thập giá vào buổi chiều Vượt Qua. Thần Khí là chính sự sống của Ðức Giêsu, là “Thần Khí sự thật” làm cho Ðức Giêsu được nhận biết (x. Ga 16, 13) và bảo đảm sự hiện diện liên lỉ của Ðức Giêsu trong chúng ta và chúng ta trong Ðức Giêsu (x. Ga 14, 13). Thần Khí đó sẽ lưu lại trong lòng các môn đệ (x. Ga 14, 17). Ðó là Thần Khí mà Ðức Maria đã lãnh nhận được những hoa quả đầu mùa khi đứng bên Khổ Giá Ðức Giêsu.
Ðức Maria, người bạn của Thiên Chúa
Phải chăng trước kia Ðức Maria đã không có Thánh Thần thánh hóa, Ðấng mà xét cho cùng, đồng nhất với chính ân sủng? Hẳn nhiên là có, vì Người “đầy ân sủng” do được Thiên Chúa tuyển chọn. Tuy nhiên, sự hiện diện của Ðức Maria dưới chân Thập giá xác định rõ Thần Khí và ân sủng mà nhờ đó Người đã được thánh hóa trước kia phát xuất từ đâu. Ân sủng đó phát xuất từ công trình cứu chuộc của Ðức Kitô, là chính “ân sủng của Ðức Kitô” và là “Thần Khí của Ðức Kitô”.
Thánh Augustinô viết: “Không có Chúa Thánh Thần, chúng ta không thể yêu mến Ðức Kitô hay tuân giữ các giới răn của Ngài. Càng có ít Thánh Thần bao nhiêu chúng ta càng ít có khả năng làm điều đó bấy nhiêu, trong khi đó chúng ta càng có thể yêu Ðức Kitô, tuân giữ các giới răn của Ngài khi chúng ta càng có dồi dào Thánh Thần. Vì thế không phải vô lý mà Thánh Thần được hứa ban không những cho người chưa có mà cho người đã có Thánh Thần: cho người chưa có để họ được có Thánh Thần, cho người đã có để họ có Thánh Thần cách dồi dào hơn.”[179] Như vậy, Thánh Thần có thể cư ngụ trong tâm hồn con người theo mức độ dồi dào nhiều hay ít. Nếu về Ðức Giêsu, xét là con người, mà Kinh thánh còn nói: “Ngài lớn lên về ân sủng” (x. Lc 2, 52), thì phải nói thế nào về những người khác, kể cả Ðức Maria? Người được đầy ân sủng vào lúc truyền tin, theo những khả năng và sự cần thiết lúc bấy giờ, đầy ân sủng theo nghĩa tương đối chứ không tuyệt đối.
Kinh thánh nói, Thiên Chúa ban Thánh Thần “cho những ai vâng phục Người” (Cv 5, 32). Sự vâng phục mà Ðức Maria thể hiện dưới chân Thập giá đã trương rộng tâm hồn của Người và làm cho Người có khả năng đón nhận Thánh Thần trong một mức độ dồi dào hơn nữa. Thánh Thần tuôn đổ liên tục trên cuộc đời một con người tương ứng theo nghĩa vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả, với sự trương rộng tâm hồn liên tục, làm cho tâm hồn đó cũng có khả năng đón nhận và chiếm hữu Thiên Chúa. Nơi Ðức Maria cũng vậy, sự trương rộng hay sự xé nát tâm hồn đến tột cùng dưới chân Thập giá tương ứng với một mức độ lớn lao hơn về ân sủng, về lòng tin, lòng cậy trông và nhất là lòng mến.
Một bản văn Công đồng nói, Ðức Maria “như một tạo vật mới do Chúa Thánh Thần uốn nắn và tác thành.”[180] Ðiều này không chỉ liên hệ đến lúc Ðức Maria thụ thai mà thôi, như thể mọi hoạt động của Chúa Thánh Thần trên Ðức Maria đã hoàn tất lúc đó. Cần phải trải dài hoạt động đó trong suốt cuộc đời của Người, nhất là lúc Người tham dự vào mầu nhiệm Vượt qua. Dựa vào những gì Gioan và Phaolô viết về tác động của Thánh Thần nơi các tín hữu, thì quả thực, chính trong mầu nhiệm Vượt qua mà Ðức Maria được Chúa Thánh Thần hoàn hảo nhào nặn và tác thành, trở nên như một tạo vật mới, có khả năng yêu thương hết sức mình: “Vì cùng chịu đau khổ với Con mình chết trên Thập giá, Ðức Maria đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Ðấng Cứu Thế, nhờ lòng vâng phục, nhờ đức tin, đức cậy và đức ái nồng nhiệt.”[181]
Ðã đến lúc phải nói về “đức ái nồng nhiệt” của Ðức Maria. Chúng ta đã chiêm ngắm đức tin của Ðức Maria trong mầu nhiệm Vượt qua, giờ đây chúng ta chiêm ngắm đức ái của Người trong lễ Hiện xuống. Thánh Phaolô xem tình yêu là hoa trái tuyệt hảo của việc Thánh Thần ngự đến: “Tình yêu của Thiên Chúa đã được đổ xuống lòng ta nhờ bởi Thánh Thần Người đã ban cho ta” (Rm 5, 5). Theo thánh Augustinô, tình yêu ở đây là tình yêu mà “nhờ đó Thiên Chúa làm cho chúng ta yêu mến Ngài và yêu thương anh em”, hơn là tình yêu mà Thiên Chúa dành cho chúng ta. Ðó là tình yêu mà nhờ đó Thiên Chúa làm cho chúng ta trở nên bạn hữu của Ngài (dilectores sui).
Kinh Cầu Ðức Mẹ kể ra rất nhiều, thậm chí là quá nhiều tước hiệu, khó mà đếm nổi. Nhưng chúng ta hẳn phải thêm vào một tước hiệu khác: Ðức Maria, người bạn của Thiên Chúa! Trong Cựu ước có Abraham được gọi theo lối hoán xưng là người bạn của Thiên Chúa. “Abraham, bạn của Ta”, chính Thiên Chúa gọi ông như thế (Ys 41, 8). Dân Irsael biết điều đó và họ đã dựa vào tình bạn này để được Chúa tha thứ: “Xin vì bạn thân Ngài là Abraham mà đừng rút lại lòng thương xót chúng tôi” (Dn 3, 35). Trong Tân ước, từ nay Thiên Chúa có một người bạn: Ðức Maria. Phụng vụ áp dụng những lời sách Diệu Ca cho Ðức Maria: “Bạn hiền ơi, bạn xinh đẹp biết bao, xinh đẹp biết bao” (Dc 4, 1).
Như thế, khi áp dụng tiếng kêu hài lòng đó cho Thiên Chúa, Giáo hội không hề đi ngược lại Lời Chúa. Thuở khai nguyên, chẳng phải Thiên Chúa đã tuyên bố rằng các tạo vật của Ngài “thật xinh đẹp” đó sao? (Kn 1, 31). Sau nhân tính của Ðức Kitô, chắc chắn Ðức Maria là tác phẩm tuyệt vời nhất của Thiên Chúa, là kiệt tác của ân sủng Ngài. Chúng ta có thể dựa vào tình bạn này giữa Thiên Chúa và Ðức Maria: đó chính là điều mà trải qua bao thế kỷ, dân Kitô giáo đã làm bằng vô vàn cách.[182]
Làm cho con người trở thành bạn hữu của Thiên Chúa, đó là công trình tuyệt hảo của Chúa Thánh Thần. Chính Ngài cất đi quả tim bằng đá và ban cho quả tim bằng thịt, một trái tim vì yêu Chúa tự nguyện chu toàn điều Thiên Chúa truyền ban. Có lời chép về Ðức Khôn Ngoan rằng: “Qua các thế đại, khôn ngoan chuyển đến các linh hồn lành thánh, biến họ thành bạn của Thiên Chúa và thành tiên tri” (Kng 7, 27), không chỉ thành “tiên tri” mà còn thành “bạn” của Thiên Chúa, không chỉ thành nhiều người nói nhân danh Thiên Chúa, thực hiện những dấu chỉ, những việc lạ bởi sức Thánh Thần, mà còn trở nên những người mang tâm hồn của người con chứ không phải của kẻ nô lệ, yêu mến Thiên Chúa và kêu lên với người với tất cả tự do: Abba, lạy Cha!
Thánh Irênê nói, Thánh Thần làm cho chúng ta “ăn khớp” (aptat) với Thiên Chúa.[183] Hình ảnh này khiến chúng ta liên tưởng tới bác thợ mộc bào nhẵn những tấm ván để gắn chúng lại với nhau cho thật khít khao, hoặc đến người nhạc sĩ làm cho giọng này hòa với giọng kia, hoặc làm cho mỗi giọng riêng biệt hòa vào dàn hợp xướng. Nói cách khác, Ngài làm cho tư tưởng chúng ta hòa hợp với tư tưởng của Thiên Chúa, ý chúng ta với ý Chúa, tâm tình chúng ta với tâm tình của Ðức Kitô. Ngài là chính nguyên lý sự “thông hiệp” của chúng ta với Thiên Chúa.[184]
Một nhà tiên phong quan trọng khác trong việc khám phá vai trò Chúa Thánh Thần trong Giáo hội, thánh Basile, đã có một nhận xét rất tuyệt vời. Thánh nhân kể ra các hoạt động khác nhau của Chúa Thánh Thần: công trình tạo dựng sẽ không diễn ra nếu không có Ngài, tổ chức Giáo hội tùy thuộc vào Ngài; nhờ Ngài mà có các phép lạ, việc lạ. Nhưng ở tâm điểm các hoạt động xuyên qua con người chứ không dừng lại nơi chính con người, thánh Basile nhận thấy có một hoạt động đặc biệt khác với các hoạt động khác, một hoạt động thực dụng chạm đến chính con người và mối liên hệ giữa con người với Thiên Chúa. Ngài lặp lại hai lần: Chúa Thánh Thần “tạo nên sự thân thiết với Thiên Chúa”. Vậy sự “thân thiết (okeiosis) đó là gì? Trực giác về điều này thì dễ hơn là định nghĩa nó; mặc dù đó là một cái gì rất thật, rất cụ thể. Nhưng nó không phải là một ý tưởng hay một sự vật cho bằng là một trạng thái tâm hồn, một cảm giác. Sự thân thiết làm tiêu tan nỗi sợ hãi Thiên Chúa, thay vào đó là nỗi khát mong mãnh liệt trong tâm hồn, muốn làm cho Thiên Chúa vừa lòng, đẹp ý. Lòng khao khát này giúp xa tránh tội nhiều hơn và tốt hơn là sự sợ hãi tội lỗi. Chính sự thân thiết khiến cho vợ chồng có thể sống thật sự tự do trước mặt nhau, không phải che đậy, giấu diếm điều gì.[185]
Về phần mình, Thiên Chúa “thân thiết” với chúng ta, bởi Ngài đã hứa đến ở “trong chúng ta” (intus), biến tâm hồn chúng ta thành nơi cư ngự của ngài (x. Ga 14, 17). Thậm chí, Ngài hiện diện “thâm sâu nơi tôi hơn cả chính tôi.”[186] Thánh Thần trợ giúp chúng ta để chúng ta cũng thân thiết với Thiên Chúa, nghĩa là hiện diện với Ðấng Hiện Diện, không để mình tản mạn ra bên ngoài trong lúc ngài hiện diện sâu trong chúng ta.
Thánh Basile nói, những tâm hồn mang Chúa Thánh Thần, những “pneumatophores” làm tỏa lan ân sủng ra quanh mình như “những vật thể trong suốt trở nên lấp lánh khi một tia sáng chiếu vào và chúng ta phải chiếu ánh sáng đó lên những vật thể khác.”[187] Ðức Maria đó là tâm hồn mang Thánh Thần tuyệt hảo (l’âme pneumatophore): là kẻ mang Thánh Thần. Chúng ta đưa ra ý tưởng đó không phải do diễn dịch cách tiên thiên (a priore) từ một nguyên lý trừu tượng nào đó, nhưng là đón nhận lấy cách hậu nghiệm (a posteriori) từ những gì chúng ta đã nhìn thấy, đã quan chiêm, đã sờ chạm đến trong suốt dòng lịch sử . Chính Luther từng nói về Ðức Maria: “Không một hình ảnh phụ nữ nào cho người những ý tưởng thuần khiết đến mức như Ðức nữ Trinh.”[188] Ðức Maria là sự lộ hiện trong suốt của Thiên Chúa. Nơi con người và nơi cuộc đời của Người, Thiên Chúa hiện lộ.
Ngươi hãy yêu mến Chúa, Thiên Chúa ngươi
Lần này, việc chuyển từ Ðức Maria sang Giáo hội sẽ rất ngắn, vì tất cả đã được nói rồi. Thậm chí cũng chẳng có sự phân biệt nào giữa Ðức Maria và Giáo hội, bởi lẽ theo Gioan, Mẹ đứng dưới chân Thập giá như là khởi đầu và là hình ảnh của Giáo hội để đón nhận những hoa quả đầu mùa của Thánh Thần. Ở đây, chúng ta chỉ nhắc lại một số điểm trong đó mẫu gương của Ðức Maria cũng như mối tương quan của Người với Thánh Thần thánh hóa chắc hẳn chứa đựng rất nhiều bài học cho chúng ta trong thời điểm lịch sử đó.
Trong lễ Hiện xuống theo Gioan, Ðức Maria nhắc chúng ta nhớ rằng dù đã chịu Phép rửa, đã lãnh nhận ân sủng và Thánh Thần, chúng ta vẫn có thể và phải cầu nguyện để Thần Khí một lần nữa lại được đổ xuống trên chúng ta. Rằng trong cuộc đời chúng ta ít ra cũng phải có được hai lễ Hiện xuống. Rằng, cũng như đối với Ðức Maria, một trong hai lễ Hiện xuống đó thường xảy ra lúc chúng ta đứng dưới chân Thập giá với lòng yêu mến và vâng phục. Thánh Augustinô nhắc chúng ta rằng, chỉ duy có Ðức Giêsu, Ðấng đã lãnh lấy Thánh Thần cách vô lường hạn, mới không cần phải lãnh nhận nhiều lần mà vẫn có Thánh Thần ngày càng dư dật đầy tràn. Còn mọi người khác đều phải lãnh nhận nhiều lần thì mới có Thánh Thần nhiều thêm mãi. Không phải vì Thánh Thần bị giới hạn trong việc tự trao ban mà là vì chúng ta bị giới hạn trong việc đón nhận Ngài. Vả lại, chính Ðức Giêsu, dù có Thánh Thần đầy tràn, vô lường hạn, do sự hiệp nhất với Ngôi Lời, nhưng Ngài cũng đã lãnh nhận Thánh Thần theo một cách thức mới nơi sông Giođan để có thể thực hiện sứ mạng Thiên Sai Cứu Thế của Ngài. Mỗi một sứ mạng mới Thiên Chúa giao phó cho chúng ta đều cần phải có một ân sủng tương ứng và một cuộc thăm viếng mới của Chúa Thánh Thần. Vì thế mà Ðức Maria, dù được đầy ân sủng từ lúc thụ thai, vẫn lãnh nhận Thánh Thần nhiều lần: lúc Truyền tin, dưới chân Thập giá và nơi nhà Tiệc Ly.
Tôi còn muốn đưa ra ánh sáng một bài học khác, bài học rút từ sự chiêm ngắm Ðức Maria trong lễ Hiện xuống theo Gioan. Ðức Maria nhắc nhở chúng ta đâu là giới luật đầu tiên và quan trọng nhất: “Ngươi hãy yêu mến Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi; và đồng loại ngươi như chính mình” (Lc 10, 27). Người nhắc chúng ta nhớ rằng chỉ có lòng mến là “không hề tàn tạ” (1Cr 13, 8). Mọi sự sẽ chấm dứt: các nhân đức, các đặc sủng, đức tin, đức cậy … chỉ có tình yêu là không bao giờ qua đi. Rằng giá trị con người tùy theo mức độ người đó yêu mến Thiên Chúa và anh em đồng loại, không còn gì khác nữa.
Như đã nói ngay từ đầu, Ðức Maria là hình bóng và là khuôn mẫu của Giáo hội, nhưng không theo kiểu làm mẫu của con người, đứng bất động để người ta họa lại chân dung, càng bất động bao nhiêu thì càng được đánh giá cao bấy nhiêu. Ðức Maria là khuôn mẫu hoạt động, giúp chúng ta noi theo Người. Giống như người hướng dẫn leo núi: sau một đoạn đường khó khăn, ông ta chờ những người theo mình vượt qua được đoạn đường đó, nếu thấy họ không vượt nổi, ông quay trở lại, nắm tay giúp họ đi lên. Ðó là điều Ðức Maria làm cho chúng ta. Người giúp chúng ta nhất là trong đoạn đường “Vượt Qua” quyết định, đưa chúng ta ra khỏi lòng yêu bản thân để đi vào lòng mến đối với Thiên Chúa. Người dạy chúng ta nghệ thuật cao cả, nghệ thuật yêu Chúa. Trong Giáo hội, Ðức Maria được kêu cầu là “Mẹ của tình yêu cao đẹp”, một lời rút ra từ trong Kinh thánh (Hc 24, 18) không phải là không hợp lý.
Kinh thánh mời gọi chúng ta yêu mến Thiên Chúa bằng hai mối tình khác nhau, dù chúng phát xuất từ cùng một Thần Khí: tình hiền tử (amour filial) và tình Hiền thê (amour sponsal). Tình hiền tử là tình yêu được diễn tả bằng sự vâng phục. Nó hệ tại ở việc tuân giữ các lệnh truyền của Thiên Chúa như Ðức Giêsu yêu mến Cha và đã giữ lệnh truyền của Cha (x. Ga 15, 10). Bạn muốn yêu Chúa nhưng không biết phải làm thế nào ư? Bạn bất lực không cảm thấy niềm hướng vọng hay cảm mến nào đối với Thiên Chúa ư? Rất đơn giản: bạn hãy bắt đầu tuân giữ các lệnh truyền của Ngài, nhất là lệnh truyền mà lúc này Lời Ngài ban cho bạn, rồi bạn sẽ biết một cách chắc chắn là mình đang yêu mến Ngài! Như lời tiên tri Ézékiel, Thần Khí được ban cho chúng ta là để chúng ta có thể đem ra thực hành mọi luật điều của Thiên Chúa (x. Ez 11, 20).
“Tình Hiền thê” là mối tình bao hàm sự chọn lựa. Người ta không chọn lựa cha mình nhưng chồng hay vợ thì lựa chọn nhau. Yêu Thiên Chúa bằng tình Hiền thê nghĩa là chọn Chúa, mỗi lần đều lựa chọn lại cách ý thức, chọn Ngài là Thiên Chúa của mình, là tất cả cho mình, bằng cách từ bỏ ngay cả bản thân nếu cần, để có thể chiếm hữu Ngài. “Quả vậy, yêu Chúa có nghĩa là vì Chúa mà trút bỏ tất cả những gì không phải là Chúa.”[189]
Như thế, con đường chúng ta theo bước Ðức Maria đã đạt tới điều “sẽ không bao giờ cùng” là đức mến; đạt tới điểm mà ở đó đời sống hiện tại mở ra với đời sống vĩnh cửu. Chúng ta dừng lại nơi đây. Người mà cho đến bây giờ vẫn đi trước chúng ta như là “con đường” để đến với Chúa, thì giờ đây đứng trước chúng ta như “cánh cửa” để bước vào Trời: Janua coeli, cửa Trời (cửa Thiên Ðàng), như lòng đạo đức Kitô hữu đã gọi Người.
Khi chuyển từ các đặc sủng sang đức mến, thánh Phaolô viết: “Tôi sẽ chỉ cho anh em một con đường siêu vời” (1Cr 12, 31). Những lời trên có thể áp dụng cho Ðức Maria một cách rất chính xác: Tôi sẽ chỉ cho anh em một con đường trổi vượt: Maria! Chúng ta biết rõ chỉ mình Ðức Giêsu là đường đích thực. Ðức Maria chỉ là “con đường tốt nhất” để đến với Ðức Kitô, hay đúng hơn, là con đường qua đó Chúa Thánh Thần dẫn chúng ta đến với Chúa Kitô. Con đường tốt nhất theo nghĩa là con đường dễ đến gần nhất, gần gũi với thân phận hiện tại của chúng ta nhất, vì cũng như chúng ta, Ðức Maria đã tiến bước trong đức tin, đức cậy và đức mến. Maria là thành phần của con đường lớn là Lời Chúa, Người là một lời hành động, hay đúng hơn, một lời bằng xương bằng thịt.
Chính vì Ðức Maria là thành phần của Lời Chúa mà chúng ta có thể áp dụng cho Người điều ta đọc thấy trong sách tiên tri Isaia, như thể chính Thiên Chúa đề ngị với chúng ta về Ðức Maria: “Ðường kia kìa, hãy đi theo đó” (Ys 30, 21). Thánh Bênađô nói rằng, Ðức Maria là “con đường hoàng vương” qua đó Thiên Chúa đã đến với chúng ta, và giờ đây chúng ta có thể đi đến với Ngài qua con đường đó.[190] Ngày xưa, con đường hoàng vương là con đường được gìn giữ cách đặc biệt kỹ lưỡng, thẳng và rộng, để đức vua hay hoàng đế đi qua lúc viếng thăm một thành.
Một nghệ sĩ có thể đào tạo các môn đệ của mình bằng cách đề nghị họ đọc những tác phẩm do ông viết để biết được những tư tưởng của ông về nghệ thuật, chẳng hạn về hội họa. Ông cũng có thể mời họ xem những bức tranh ông vẽ, và nhất là bức tranh mà ông coi là kiệt tác của mình. Chính theo cách thứ hai này mà Chúa Thánh Thần dùng Ðức Maria để dạy chúng ta bước theo Ðức Kitô. Có người nghệ sĩ nào lại tự cho mình bị xúc phạm khi thấy các học trò ngồi quanh kiệt tác của mình, ngây ngất và chiêm ngắm lâu dài để cố gắng bắt chước, thay vì chỉ giới hạn ở việc đọc các tác phẩm ông viết về nghệ thuật? Vậy thì tại sao lại nghĩ rằng việc chiêm ngắm Ðức Maria sẽ làm mất đi điều gì đó của Ðức Kitô hoặc của Chúa Thánh Thần? Hẳn nhiên, để việc chiêm ngắm và tôn kính Ðức Maria được đúng đắn thì chúng ta cần phải thực hiện trong tinh thần và ý thức hết sức mãnh liệt mà Ðức Maria luôn mang trong tâm hồn: Người chỉ là khí cụ trong bàn tay Thiên Chúa. Nhưng, chúng ta phải thành thực nhìn nhận rằng: trong quá khứ không phải lúc nào người ta cũng giữ được điều đó.
PHẦN KẾT: THẦN KHÍ TÔI VUI MỪNG TRONG CHÚA - ÐỨC MARIA TRONG VINH QUANG, BẢO CHỨNG CỦA NIỀM HY VỌNG CHẮC CHẮN CHO GIÁO HỘI
“Lại đây, Ta sẽ chỉ cho ngươi Tân Nương, Hiền thê của Chiên Con” (Kh 21, 9): đó là những lời mà một trong số các thiên thần đã nói với Gioan trong sách Khải Huyền, và thiên thần đem ngài đi trong khi ngài ngất trí, để chỉ cho thấy “Thành Thánh Giêrusalem từ trời xuống, từ nơi Thiên Chúa, chói lọi vinh quang Thiên Chúa”. Nếu Thành Thánh được xây dựng không phải chỉ bằng tường, tháp mà là bằng những con người, những kẻ được cứu, và nếu Thành Thánh không phải là điều trừu tượng mà là một thực tại, thì Ðức Maria là thành phần của Thành đó. Trong Tin mừng, Gioan cho chúng ta thấy Ðức Maria như là “Người Nữ” hiện thân của Nữ Tử Sion. Dưới chân Thập giá, Người là biểu tượng và như là hiện thân của Giáo hội lữ hành. Giờ đây trên Thiên quốc, Người lại là hoa quả đầu mùa của Giáo hội vinh quang, là viên đá quí giá nhất của Thành Thánh. Thánh Augustinô nói Thành Thánh Giêrusalem Thiên quốc thì lớn lao hơn, quan trong hơn Ðức Maria, vì Thành Thánh là toàn thể, còn Ðức Maria chỉ là một thành phần, cho dẫu là thành phần cao quí nhất của Thành.[191]
Vào cuối cuộc hành trình đi theo vết chân trần thế của Ðức Maria, tôi cũng mạo muội nói với bạn là Người đã cùng tôi chung bước, tôi muốn lập lại cho bạn những lời của thiên thần: “Lại đây, tôi sẽ chỉ cho bạn Tân Nương, Hiền thê của Chiên Con!” Làm sao tôi có thể chỉ Người cho bạn ư? Phải chăng tôi đã hoặc có thể lên tận trời cao? Không đâu! Tôi sẽ chỉ cho bạn thấy Người như Người được tỏ bày cho tôi và cho tất cả chúng ta trong đức tin: qua những lời Kinh thánh, và thêm vào đó là một số chứng từ như những lời chú giải đáng tin nhất chứng từ của những người noi theo thánh Phaolô, được nhắc lên tầng trời thứ ba và được nghe những lời không được phép nói lại. Thế là chúng ta đã đến bên bờ đại dương, nơi thời gian kết thúc và vĩnh cửu bắt đầu. Người ta tiến tới chỉ bằng cách đi trên nước mà thôi. Những chiếc giày cũ kỹ của tri thức, của kinh nghiệm nhân linh không còn hữu dụng, phải để chúng lại trên bờ. Chỉ có đức tin mới cho phép đi trên nước.
Sau khi chiêm ngắm Ðức Maria nơi trần thế như là dấu chỉ của những gì mà Giáo hội hiện tại “phải trở nên“, giờ đây chúng ta chiêm ngắm Người như dấu chỉ của Giáo hội “sẽ hoàn thành” mai sau. Trong Hiến chế Lumen gentium, chúng ta đọc thấy: “Ngày nay Mẹ Chúa Giêsu đã được vinh hiển hồn xác lên trời, là hình ảnh và là khởi thủy của Giáo hội sẽ hoàn thành đời sau; cũng thế, dưới đất này, cho tới ngày Chúa đến, Người chiếu sáng như dấu chỉ lòng cậy trông vững vàng và niềm an ủi cho Dân Chúa đang lữ hành.”[192] Theo giáo lý của Giáo hội Công Giáo, dựa trên một Truyền thống mà cả Giáo hội Chính Thống cũng chấp nhận tuy không định tín, thì Ðức Maria đi vào trong vinh quang không phải chỉ bằng thần trí của người mà là một cách trọn vẹn với tất cả con người, như hoa quả đầu mùa sự Phục sinh mai hậu, theo sau Ðức Kitô. Thi sĩ Dante đã đặt vào môi miệng thánh Bênađô trên trời những lời thơ dâng lên Ðức Maria: “Nơi đây, Người là ngọn đuốc hết sức rực rỡ cho chúng con về lòng mến, và nơi trần thế, Người là mạch suối trào tuôn niềm hy vọng giữa chúng nhân.”[193]
Maria là ví dụ sáng tỏ nhất minh chứng sự thật của lời Kinh thánh: “Nếu chúng ta cùng chịu đau khổ với Ngài, ta sẽ được thông phần vinh hiển với Ngài” (x. Rm 8, 17). Không ai đã cùng chịu đau khổ với Ðức Giêsu đến mức như Ðức Maria, cũng không ai được tôn vinh bên Ðức Giêsu bằng Ðức Maria.
Vậy vinh quang của Ðức Maria là những gì? Chúng ta có thể nhìn thấy được phần nào vinh quang của Ðức Maria nơi trần gian: có người nào được yêu mến, được kêu cầu trong mừng vui, trong đau khổ, trong nước mắt hơn Ðức Maria? Có tên ai được nhân loại nhắc đến thường xuyên đến như thế? Sau Ðức Kitô, có tạo vật nào được con người dâng những lời kinh, những khúc thánh thi, những ngôi thánh đường nhiều hơn chăng? Có khuôn mặt nào được con người cố họa lại trong các nghệ phẩm như khuôn mặt Mẹ? “Mọi đời sẽ khen tôi có phúc”, Ðức Maria đã thốt lên như thế về mình; hay đúng hơn, Thánh Thần đã loan báo điều đó về Ðức Maria. Hai mươi thế kỷ đang đứng đó để chứng tỏ rằng đó quả thực là một lời tiên tri. Một cô bé vô danh không thể nào thốt ra lời như thế, những người khác cũng không thể nói như vậy về cô mà không do Thiên Chúa tác động. Hoặc đó là lời của kẻ cuồng, điên, hoặc là lời của người được Ðấng biết rõ tương lai linh hứng.
Ðiều này đưa chúng ta tới suy nghĩ: vội vã coi kinh Magnificat là một Thánh vịnh đã có trước được người ta gán cho Ðức Maria, làm như thế có đúng lắm không? Ngoài Ðức Maria, ai có thể thốt ra một lời như thế? Nếu có ai khác đã nói lời đó thì rõ ràng lời đó cũng chỉ ứng nghiệm nơi Ðức Maria chứ không phải nơi chính người đó. Vì thế kinh Magnificat thực sự là của Ðức Maria, cho dù không phải do Người viết ra. Tác giả, dù có là ai đi nữa, thì cũng viết lời kinh đó “cho Ðức Maria”. Chính Mẹ mới là người mà Chúa Thánh Thần muốn nói đến. Ðiều người ta nói về các bài ca Người Tôi Tớ Giavê thì cũng có giá trị đối với bài ca Người Tớ Nữ của Thiên Chúa: người viết không nói “về chính mình nhưng là về ai khác” (x. Cv 8, 34). Chúng ta có quyền dùng kinh Magnificat để hiểu tâm hồn Ðức Maria cũng như chúng ta dùng Isaia 53 để hiểu cuộc khổ nạn của Ðức Kitô. Mà còn hơn thế nữa, vì việc gán kinh Magnificat cho Ðức Maria phát xuất trực tiếp từ chính Kinh thánh.
Ôi Mẹ Thiên Chúa, mọi thế hệ sẽ khen Người diễm phúc. Thế hệ của chúng con cũng thế, muốn ca ngợi Mẹ diễm phúc vì tuân theo lệnh truyền của Thiên Chúa cho lịch sử, về Mẹ, qua những lời trên. Cuốn sách này là một dấu hiệu nhỏ, qua đó, thế hệ chúng con muốn công bố rằng Mẹ diễm phúc. Này hỡi Maria, chỉ khi nào Ðức Giêsu thôi không còn là “hoa quả lòng Người” thì Người mới thôi không còn “là người diễm phúc trong nữ giới”.
Một ngày kia, Thiên Chúa hứa với chị Angèli de Foligno, người bạn và là người dẫn đường của chúng ta: “Ta muốn con cứu giúp và ban ơn huệ cho bất cứ ai nghĩ đến con hay chỉ nghe đến tên con.”[194] Sau tám thế kỷ, tôi có thể làm chứng rằng, Thiên Chúa đã trung thành giữ lời Ngài hứa. Ðó cũng chính là điều mà Ngài đã làm từ xa trước và làm hơn thế nhiều đối với Ðức Maria: Ngài chúc phúc ngay cả cho người chỉ nghe đến tên Mẹ.
Vinh quang của Ðức Maria trên trần gian quả là lớn lao. Nhưng phải chăng đó là tất cả vinh quang, tất cả phần thưởng, dành cho Người vì đã cùng chịu đau khổ với Ðức Kitô? Chúng ta là những người đang bị cầm hãm trong quan niệm về vinh quang, một quan niệm phát xuất từ não trạng ngoại giáo cổ thời mà cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn thoát ra được. Theo quan niệm này, vinh quang (dóxa) chủ yếu liên hệ đến lãnh vực của hiểu biết, của tiếng tăm hoặc của dư luận. Vinh quang là “được biết đến minh nhiên, gắn liền với lời ca ngợi”. Thế nhưng Ðức Maria ở trong “vinh quang của Thiên Chúa”, chứ không ở trong vinh quang của con người. Vinh quang của con người trên trần gian và trong Giáo hội chỉ là tia phản chiếu mờ nhạt của vinh quang Thiên Chúa. Vậy vinh quang của Thiên Chúa (kabôd) mà Kinh thánh nói đến là gì? Nó không chỉ liên hệ đến lãnh vực tri thức mà cả lãnh vực hữu thể nữa. Vinh quang của Thiên Chúa là chính Thiên Chúa, theo nghĩa hữu thể của Ngài là ánh sáng, là vẻ đẹp, là sự huy hoàng và trước hết là tình yêu. Vinh quang là cái gì thực đến nỗi nó lấp đầy nơi ở, đi qua trước mặt Môisê (Xh 33, 22; 40, 34), có thể thấy được và chiêm ngắm được trên khuôn mặt Ðức Kitô (Ga 1, 14; 2C 4, 6). Vinh quang là nét huy hoàng đầy sức mạnh, từ bản thể Thiên Chúa thoát ra như khí thiêng (Hr 1, 3; Kng 7, 25tt). Vinh quang đích thực của Ðức Maria là ở sự tham dự vào vinh quang của Thiên Chúa, Người được bao bọc, được chìm ngập trong đó. Từ nay, Người được “tràn đầy tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa” (x. Ep 3, 19). Về điều này, chúng ta không được phép biết thêm hay nói thêm điều gì nữa.
Ðức Maria làm gì trong vinh quang đó? Người thực hiện ơn gọi mà vì đó mọi con người cũng như cả Giáo hội đã được tạo dựng. Trên Thiên quốc, Ðức Maria hoàn toàn trở nên “Lời ca ngợi vinh quang” (x. Ep 1, 14). Maria ca ngợi, tôn vinh Thiên Chúa. “Sion hỡi hãy ca tụng Thiên Chúa”, một lời trong Thánh vịnh (147, 12): từ nay Ðức Maria là Sion tôn vinh Thiên Chúa. Lời “ca ngợi vinh quang” là ý thức chiêm ngưỡng khâm phục của tạo vật trước Thiên Chúa, Ðấng hiện hữu và tràn đầy vinh quang. Chính Ðức Maria là vinh quang của Thiên Chúa theo nghĩa Mẹ lấy làm vinh dự về Thiên Chúa, Ðấng tạo dựng nên mình và theo nghĩa Thiên Chúa lấy làm hãnh diện về Ðức Maria, tạo vật của Ngài. Trong Cựu ước, ta thấy Thiên Chúa lấy làm hãnh diện về ông Yob và nói với kẻ đối địch (Satan): “Ngươi có lưu ý đến Yob, tôi tớ của Ta chăn? Chẳng có ai như nó …” (Yb 1, 8). Người sẽ nói thế nào về Ðức Maria?
Chúng ta chiêm ngắm Ðức Maria trong vinh quang, vì Mẹ là hình ảnh và là bảo chứng cho điều mà một ngày kia tất cả Giáo hội sẽ đạt tới. Ðức Maria ca ngợi Thiên Chúa, vui sướng ca ngợi Ngài, Mẹ vui hưởng và hân hoan. Giờ đây, quả thực thần trí Người “mừng vui trong Chúa”. Ðiều chúng ta cố gắng nói về niềm vui của Ðức Maria chẳng là gì vì có lời viết: “Ðiều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, và đã không hề nảy lên nơi lòng một người phàm, đó là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người” (1Cr 2, 9). Ðức Maria đã đi vào trong niềm vui của Chúa mình (Mt 25, 21) và niềm vui của Chúa đã đi vào trong con người Mẹ.
Như đã nói, Ðức Maria ngợi khen Thiên Chúa và ngợi khen trong vui mừng hân hoan, Người cũng nói: “Tôi ngợi khen Thiên Chúa và vui mừng hân hoan ca ngợi Ngài, tôi vui hưởng lời ca khen Ngài. Việc mến uêu và ca ngợi phải là nhưng không? Ðó là mến yêu và ca ngợi đơn thuần, chứ không vì điều gì khác.”[195] Những lời tiên tri mà Ðức Maria làm vọng lại trong lời kinh Magnificat nay đã ứng nghiệm hoàn toàn:
“Tôi hân hoan vui sướng trong Ðức Giavê
mạng tôi nhảy mừng trong Thiên Chúa tôi thờ
vì Người đã mặc cho tôi áo cứu độ
chiến bào công chính Người phủ lên tôi
như Tân Lang chỉnh tề đai mão
và Tân Nương điểm trang phục sức” (Ys 61, 10).
Không một tạo vật nào có thể chịu đựng nổi ngần ấy vinh quang và hạnh phúc trừ phi được sức mạnh của Thiên Chúa nâng lên và ban cho khả năng đó. Trên trần gian, những vị thánh cảm nghiệm được một chút hạnh phúc đã kêu thét lên: “Ðủ rồi, lạy Chúa, đã đủ niềm vui: trái tim con không thể chứa đựng thêm nữa!”. Ðó là niềm vui do tình yêu giữa Thiên Chúa và tạo vật đến mức thành toàn. Chỉ có kinh nghiệm của các thánh mới có thể giúp chúng ta nắm lấy một tia sáng mờ nhạt hầu soi sáng những thực tại vượt quá kinh nghiệm của chúng ta. Một ngày kia, vào dịp lễ Dâng Ðức Giêsu vào Ðền Thờ, chân phước Angèle được một thị kiến: ngài nhìn thấy những gì xảy ra khi chúng ta, chỉ là thân tạo vật, bước qua ngưỡng cửa vĩnh cửu, được “trình diện” trước Thiên Chúa, và khi mọi bức màn đều rơi xuống, Thiên Chúa tự vén mở cách huyền diệu cho tạo vật của Ngài, và tạo vật vén mở với Thiên Chúa và với chính mình: “Khi đó tâm hồn tôi tỏ bày trước Chúa trong niềm vui sướng quá đỗi lớn lao, chưa bao giờ tâm hồn tôi được biết đến, với niềm hỷ hoan thật cao vời, mới mẻ, và do một phép lạ hết sức khác thường, đến nỗi tôi chưa bao giờ được trải qua một kinh nghiệm tương tự. Bấy giờ tôi được gặp gỡ với Thiên Chúa và cùng lúc tôi hiểu và cảm nghiệm nơi bản thân mình thế nào là tỏ lộ và trình bày tâm hồn trước Chúa. Chính niềm hoan lạc phát sinh từ đó cũng khác với những niềm hoan lạc trước kia. Tôi được nghe những lời hết sức cao siêu mà tôi không muốn ngài ghi lại.”[196] Trong một kinh nghiệm tương tự, thánh Phaolô nói ngài cũng được nghe những lời bí nhiệm mà người phàm không được phép nhắc lại (2C 12, 4). Dựa vào những Mạc khải tương tự chúng ta đọc thấy nơi các thánh mà suy xét thì phải nói rằng, những lời cao siêu, bí nhiệm đó là những lời Thiên Chúa bày tỏ sự hài lòng của Ngài đối với tạo vật của mình, và tỏ cho người đó biết, dưới mắt Ngài, người đó quí giá và đẹp đẽ biết bao: những lời như thế có thể khiến kẻ không hiểu biết, phàm tục, đi đến chỗ nghĩ rằng, không phải tâm hồn đã được Chúa xuống thăm mà là tên Cám Dỗ.
Tâm tưởng Ðức Maria còn hướng đến chúng ta hay không? Phải chăng trong vinh quang, Người đã quên chúng ta? Như Esther khi đã được đưa vào hoàng cung, người không quên dân mình đang bị đe dọa, vì dân, người kêu cầu cho đến khi nào kẻ thù bị loại trừ, kẻ đang tìm cách tiêu diệt dân tộc của người. Có lẽ không ai có thể áp dụng những lời sau đây của thánh Têrêsa Hài đồng đúng hơn Ðức Maria: “Tôi cảm thấy sứ mạng của tôi cho các tâm hồn. Nếu Thiên Chúa đoái nhận những ước vọng của tôi, thì tôi sẽ sống phúc Thiên Ðàng trên trần gian cho đến tận thế. Vâng, tôi muốn sống phúc Thiên Ðàng để thi ân trên trần gian.”[197] Têrêsa đã tái khám phá và nhận ơn gọi của Ðức Maria làm của mình mà không hay. Người đã sống phúc Thiên Ðàng để thi ân trên trần gian, và tất cả chúng ta đều là chứng nhân cho điều đó.
Ðức Maria đang chuyển cầu. Về Ðức Giêsu, Kinh thánh nói rằng Ngài đã sống lại và “đang chuyển cầu cho chúng ta” (x. Rm 8, 34). Ngài đang chuyển cầu cho ta bên Chúa Cha, Ðức Maria chuyển cầu cho ta bên Chúa Con. Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô xác định: “Sự trung gian của Ðức Maria mang đặc tính chuyển cầu.[198] Mẹ là người trung gian theo nghĩa Mẹ chuyển cầu. Tước hiệu này của Ðức Maria, vốn gây nhiều dè dặt, sẽ có thể hiểu được đối với anh em Tin lành nếu chúng ta dùng đến những hình ảnh loại suy từ dưới có trong Kinh thánh. Trong sách Macabê II (15, 14) chúng ta thấy Yêrêmia, một người đã chết từ nhiều thế kỷ trước, đang cầu khấn cho dân mình. Cuốn sách này dù không được mọi Kitô hữu xem là sách được linh hứng, nhưng ít ra cũng làm chứng về một niềm tin tưởng đã có trong Kinh thánh ngay từ thời Cựu ước. Chính Yêrêmia cũng đã trình bày Môisê và Samuel như những vị chuyển cầu đầy thế giá (Yr 15, 1). Dân nài xin Thiên Chúa nhớ đến Abraham, Ðavít và những thử thách các vị đã trải qua mà cứu giúp họ trong giây phút hiện tại (x. Dn 3, 35; Tv 132, 1). Vì thế, việc Giáo hội gán cho Mẹ Thiên Chúa khả năng chuyển cầu thì có gì lạ đâu? Trong Cựu ước, chúng ta nghe Giavê Thiên Chúa than không tìm thấy trên mặt đất “những kẻ bầu chữa” (chuyển cầu) bên Ngài để Ngài đừng xuống tay đánh dân (Ys 59, 16; Ez 22, 30). Lẽ nào Ngài lại phải thốt lên tiếng than đó giữa các thánh trên trời sao?
Niềm tin vào khả năng chuyển cầu vô song của Mẹ Thiên Chúa xây dựng trên chân lý về các thánh thông công (hiệp thông các thánh, communion des saints) vốn là một điều khoản trong kinh Tin Kính chung. Và chắc chắn rằng sự hiệp thông này không loại trừ các thánh, những người mà từ nay đang ở bên Thiên Chúa.
Khả năng chuyển cầu của Ðức Maria trên trời khác với khả năng người thể hiện ở Cana, khi Người nói: “Họ không có rượu nữa!” (Ga 2, 3). Việc biến đổi đã xảy ra, điều hết sức quan trọng đối với chúng ta là hiểu được sự kiện này. Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa trong cuộc đời trần thế của Ngài, nhưng Ngài sống theo phận làm Con đó “theo xác phàm”, nghĩa là một cách ẩn giấu, trong thân phận khiêm hạ, chịu đau khổ, chịu chết. Qua sự Phục sinh, Ngài trở thành “Con Thiên Chúa với quyền năng” (Fils de Dieu avec puissance) (Rm 1, 3 – 4). Một điều gì đó tương tự cũng đã xảy ra với Ðức Maria. Người đã là Mẹ Thiên Chúa từ trần gian này, nhưng Người sống chức vụ làm Mẹ đó cách ẩn giấu, trong sự từ bỏ chính mình. Khi đã được thông dự vào vinh quang của Con mình, Người trở thành “Mẹ Thiên Chúa với quyền năng”. Giờ đây Thiên Chúa có thể bày tỏ ra trọn vẹn điều Ngài đã thực hiện nơi Mẹ. Quyền năng của Mẹ Thiên Chúa không phải là một quyền năng độc lập riêng biệt, song song với quyền năng của Thiên Chúa hay của Ðức Kitô mà là một quyền năng cầu bầu.
Ðức Maria có thể “ra lệnh” cho Thiên Chúa, như tâm tình đạo đức của các tín hữu một đôi khi nói đến hay không? Ðó không phải là lời lộng ngôn phạm thương sao? Thánh nữ Catherine de Gênes, một vị thánh mà ngay cả anh em Tin lành cũng quí mến và hân hoan chấp nhận vì ý thức của ngài về tính siêu việt của Thiên Chúa và vì sự từ khước của ngài không cậy vào các ân xá hay những điều tương tự cách dễ dãi, đã nói rằng, đôi lúc, ngài cầu nguyện với ý định xin Chúa điều gì đó, thế nhưng trong nội tâm, ngài lại nghe thấy tiếng của Tình Yêu nói với mình: “Hãy ra lệnh, vì Tình Yêu có thể làm như vậy.”[199] Vì thế, ta có thể nói rằng khi cầu khẩn, Ðức Maria “ra lệnh” cho Thiên Chúa, điều này đúng và có thể chấp nhận được, miễn là đừng làm sai lệch ý nghĩa của nó. Quyền năng cầu bầu của Ðức Maria dựa trên tình yêu của Người đối với Thiên Chúa. Thiên Chúa hứa ban tất cả những gì chúng ta xin “theo ý Ngài” (1Ga 5, 14). Những điều Ðức Maria xin, Ngài lại càng nhận lời hơn nữa vì Người chỉ xin những gì đúng theo Thánh ý Thiên Chúa. Khi một thụ tạo mong muốn tấ cả những điều Thiên Chúa thực hiện thì Thiên Chúa thực hiện tất cả những gì thụ tạo đó mong muốn.
Ở đây, chúng ta không chế tác ra những suy diễn trừu tượng. Quyền năng cầu bầu của Ðức Maria được chứng tỏ qua lịch sử, nghĩa là “cách hậu nghiệm” (a posteriori) chứ không phải “cách tiên thiên” (a priori) khởi từ một nguyên lý nào đó không biết. Từ thực tế xảy ra (d’être) ta được phép đi ngược lên đến cái khả năng làm cho thực tế đó có thể xảy ra (pouvoir d’être). Việc Ðức Maria xin được các ân sủng và sự trợ giúp cho Giáo hội lữ hành là thật vì đó là việc đã xảy ra và ta có thể nhận thấy được. Có những người xin được rất nhiều ơn lành và qua những dấu hiệu rõ rệt, họ ý thức rằng mình được những ơn đó là nhờ Ðức Maria! Nếu từ ngữ “Ðấng trung gian” gây ra khó khăn nào đó thì cứ việc dùng những từ khác hoặc không dùng từ nào cả nếu muốn. Nhưng xin hãy tin vào thực tại, tin vào “đám mây nhân chứng lớn lao” (Hr 12, 1), để đừng xúc phạm đến Ðấng đã muốn sự thể như vậy.
Vai trò của Ðức Maria đối với đoàn dân lữ hành của Thiên Chúa có thể so sánh với vai trò của “vầng mây sáng” trong sa mạc, vầng mây là sự trợ lực ban ngày và là ánh sáng ban đêm cho đoàn dân đang tiến về Ðất Hứa. Ðến nỗi họ có thể đi vào cả ban đêm (Xh 13, 21tt; Tl 9, 16).
Theo nghĩa này, vai trò của Ðức Maria cũng có thể lấy hình ảnh mặt trăng để minh họa. Vầng trăng không chiếu tỏa bằng ánh sáng riêng mình nhưng bằng ánh sáng mặt trời nó đã nhận và phản chiếu trên địa cầu. Cũng vậy, Ðức Maria không chiếu soi bằng ánh sáng riêng của Người nhưng bằng ánh sáng của Ðức Kitô. Vầng trăng soi sáng ban đêm khi mặt trời đã lặn và trước khi mặt trời mọc lại. Ðức Maria thường soi sáng những người đi qua đêm tối tội lỗi, nếu họ ngõ lời kêu cầu Người. Vào lúc ban mai khi mặt trời mọc, vầng trăng tự xóa mình đi, không dám có ý cạnh tranh với mặt trời: cũng vậy khi Ðức Kitô đến trong tâm hồn và thăm viếng tâm hồn bằng sự hiện diện của Ngài, thì Ðức Maria tự xóa mình và nói như Gioan Tẩy Giả: “Ðó là niềm vui của tôi, niềm vui đã tràn đầy. Ngài phải lớn lên còn tôi phải nhỏ lại” (Ga 2, 19tt).
Các Giáo phụ thích áp dụng hình ảnh biểu tượng mặt trời mặt trăng này cho mối tương quan giữa Ðức Kitô và Giáo hội như vậy chúng ta thấy Ðức Maria và Giáo hội là những thực tại gợi nhớ tên nhau biết bao nhiêu, như thể là hình bóng của nhau.[200]
Ðức Maria là như thế đối với chúng ta và đã làm như thế cho chúng ta. Ðể đáp lại chúng ta phải làm gì? Lời tiên tri Isaia dường như trả lời cho câu hỏi này: chỉ cần thay thế tên Giêrusalem bằng tên của Ðức Maria, thiếu nữ Sion, và khi đó sẽ có một lời mời gọi tuyệt vời gửi đến tất cả chúng ta:
“Hãy chia vui với Maria
Hãy nhảy mừng vì Người, những ai yêu mến Người
Với Người, hãy hân hoan vui sướng
Tất cả những ai đã mang tang Người!
Ngõ hầu các ngươi được bú no nê sữa ủi an
phát nguồn nơi Người
Ngõ hầu các ngươi được hút uống thoả thuê
sữa vinh quang từ Người ứa ra
Vì đây là lời của Giavê:
Này Ta sẽ hướng bình an tới Người như dòng sông cả
nguồn phú vinh các nước như thác lũ
và các ngươi sẽ được bú mớm,
được bế bên sườn và được nâng niu trên đầu gối” (Ys 66, 10 – 12).
Chúng ta có thể làm nhiều hơn là vui mừng với Ðức Maria và nhảy mừng hân hoan về Người. Chúng ta có thể giúp Người tạ ơn Thiên Chúa Ba Ngôi vì điều Thiên Chúa đã thực hiện nơi Người. Một vịnh gia đã nói: “Hãy tôn dương Giavê làm một với tôi, cùng nhau ta hãy tán tụng Danh Người!” (Tv 34, 4). Ðức Maria cũng mời gọi chúng ta như vậy. Có lẽ chúng ta không thể dâng lên Người niềm vui nào lớn hơn là việc làm cho trái đất vang lên bài thánh ca của Người, để ca tụng và tạ ơn Thiên Chúa về những việc lớn lao Người đã thực hiện nơi Người.
Và tiếp đến là bắt chước noi gương. Nếu chúng ta yêu mến, chúng ta hãy noi theo là kết quả tốt nhất của tình yêu. Việc cùng đi với Ðức Maria của chúng ta chỉ mong là một cách noi theo Người, thật sự nhận Mẹ làm Người Hướng Dẫn thành thạo am tường trên con đường tiến tới sự biến đổi trọn vẹn trong Ðức Kitô và tiến tới sự thánh thiện. Khi đã đến cuối đường và khi chiêm ngắm Người lên trời “cả hồn lẫn xác”, chúng ta hãy nhớ đến một cuộc lên trời khác, tuy rất khác với cuộc lên trời của Người, đó là cuộc lên trời của Elia. Trước khi thấy người thầy và là người cha của mình biến đi trên chiếc xe bằng lửa, Elysa, người môn đệ trẻ, đã xin thầy: “Xin cho con được gấp đôi về Thần Khí của Ngài” (2V 2, 9). Với Ðức Maria, người Mẹ và là người thầy của chúng ta, chúng ta cũng dám xin điều tương tự: Ôi lạy Mẹ, xin cho Thần Khí của Mẹ trở thành Thần Khí của chúng con; xin cho lòng tin, lòng cậy trông, lòng mến của Mẹ trở thành của chúng con; xin cho lòng khiêm hạ và đơn sơ của Mẹ trở thành của chúng con. Xin cho tình yêu của Mẹ đối với Thiên Chúa trở thành của chúng con! “Ước chi tâm hồn của Ðức Maria ở trong mỗi người chúng ta, để người tôn dương Thiên Chúa; ước chi Thần Khí của Ðức Maria ở trong mỗi người chúng ta, để Thần Khí Người nhảy mừng trong Thiên Chúa.”[201]
Trong cuốn sách này, chúng ta nói về Ðức Maria, và đã được “soi gương” nơi Ðức Maria, nhưng luôn luôn quy tất cả về Thiên Chúa, và Ðức Maria chỉ được xem như một dụng cụ, chúng ta đã tôn vinh Thiên Chúa chứ không phải tôn vinh Ðức Maria. Tuy nhiên, nếu trước khi chia tay, mà chúng ta không nói với Người, dụng cụ khiêm nhường và là “tấm gương không tỳ vết”, một lời cám ơn từ thẳm sâu tâm hồn thì quả là vô ơn, tệ bạc. Chúng ta nghĩ con đường của Mẹ gian khổ và chông gai biết bao, và Mẹ đã yêu thương chúng ta ngần nào. Chúng ta cám ơn Mẹ bằng cách mượn lại ngôn từ của một trong rất nhiều người đã trở về với Chúa nhờ Ðức Maria:
“Bởi vì Người ở đó mãi mãi,
Chỉ vì Người là Maria,
Chỉ vì Người hiện hữu,
Ôi Mẹ Ðức Giêsu kitô,
Xin được tạ ơn Người![202]
Tác giả: Đức Hồng y Raniro Cantalamessa
Giảng thuyết viên Phủ Giáo hoàng
Nguồn: giaophandalat.com
[1] Vatican II, Dei Verbum 2.
[2] Saint Grégoire le Grand, Homélies sur les Évangiles, XVII, 1.
[3] Cf. K. Barth, Dogmatique, Ecclésiastique I, 2.
[4] Luther, Kirchenpostille (éd. Weimar, 10, 1, p. 140).
[5] S. Kierkegaard, Journal IIA 10.
[6] Saint Augustin, La prédestination des saints 15, 30 (Pl 44, 981) ; Sermons 185, 3 (Pl 38, 999).
[7] Ch. Péguy, Le porche du mystère de la deuxième vertu, dans (Euvres poétiques complètes, Paris, Gallimard, 1975, p. 573).
[8] Ch. Péguy, Le mystère des Saints Innocents, dans (Euvres poétiques, op. Cit, p. 804.
[9] Denzinger Schonmetzer, Enchiridion Symbolorum, Herder, 1967. N. 2803.
[10] Dante Alighireri, Paradis, XXXIII, 1.
[11] Saint Irénée, Contre les hérésies IV, 34, 1 (Sch 100, p. 846).
[12] P. Pascal, Pensées, n. 793. Brunschvicg.
[13] Cf. Anonyme, Le nuage de l’inconnaissance, Paris, Seuil, 1977, p. 40.
[14] St Jérôme, Lettre 107, 7(Pl 22, 874) ; St Augustin, Sur les Psaumes 44, 29 (CC 38, p. 515).
[15] St Thomas d’Aquin, Somme théologique II – IIae, p. 24, a. 2.
[16] St Cyrille d’ Alexandrie, Commentaire sur la deuxième lettre aux Corinthiens 5, 5 (PG 74, 942).
[17] St Basile le Grand, Homélirs 20, 3 (PG 31. 531).
[18] N. Cabasilas, La vie dans le Christ I, 1 – 2 (PG 150, 496).
[19] Bse Élisabeth de la Trinité, Lettre 107.
[20] P. Claudel, Le Père humilié, acte I, SC. 3, dans Théâtre, II, Paris, Gallimard, 1956, p. 506.
[21] St Augustin, Sermon 52, 6, 16 (PL 38, 360).
[22] Tertullien, Sur le baptême, 2, 1s. (CC 1, p. 277).
[23] II. Schurmann, Das Lukasevangelium, Fribourg-en-Br, 1982.
[24] Origène, Commentaire sur l’E1vanggile de Luc, Frag. 18 (GCS 49, p. 227).
[25] St. Justin, Dialogue avec Tryphon 100 (PG 6, 709 s).
[26] St. Irénée, Contre les hérésies III, 22, 4 (SCh 211, p. 442).
[27] St. Augustinô, Sermons 215, 4 (PL 38, 1074).
[28] C. Carretto, Beata te che hai creduto, Ed. Paoline, 1986, p. 9ss.
[29] S. Kierkegaard, L’école du Christianisme I.
[30] Sainte Thérèse de l’ Enfant-Jésus, Manuscrits autobiographipues, f. 35 (éd. Carmel de Lisieux, 1957, p. 83).
[31] St Augustino, La prédestination des saints 15, 30 (PL 44, 981).
[32] G. von Rad, Theologie des Alten Testaments I, Munich, 1962.
[33] Vatican II, Lumen gentium 58.
[34] Luther, Préface à l’Épitre aux Romains (éd. Weimar, Deutsche Bibel 7, p. 11) ; Des bonnes oeuvres (éd. Weimar 6, p. 206).
[35] St Augustino, Sermon 215, 4 (PL 38, 1074).
[36] S. Weil, Intuitions préchrétiennes, Paris, La Colombe, 1951, p. 11s.
[37] M. Heidegger, Sein und Zeit, Tubingen, 1927.
[38] Ancien répons de Noel.
[39] Tertullien, Contre les Valentiniens 27, 1 (CC 2, p. 772).
[40] Tertullien, Sur la chair de Christ 21, 4 (CC 2, p. 911).
[41] Saint Cyrille d’Alexandrie, Anathène I contre Nestorius, dans Enchiridion Symbolorum, cité, n. 252.
[42] Saint Cyrille d’Alexandrie, Sur l’Évangile de Jean XII, 19, 25 – 27 (PG 74, 661 ss).
[43] Saint Augustino, Sermon 72A (= Denis 25), 7 (Miscellanea Agostiniana I, p. 162).
[44] Saint Augustino, Nature et grâce 36, 42 (CSEL 60, p. 263).
[45] S. Kierkegaard, Journal IIA 110.
[46] Tertullien, Sur la chair du Christ 5, 6 (CC 2, p. 881).
[47] Ch. Péguy, Le mystère des Saints Innocents, dans Oeuvres poétiques, op. Cit, p. 692.
[48] Tertullien, Sur la chair du Christ 4, 3 (CC2, p. 878).
[49]Saint Basile, Homélie sur la sainte génération du Christ 3 (PG 31, 1464) ; Proclus de Constantinople, Homélie sur la Mère de Dieu I (PG 65, 681).
[50] Saint Cyrille d’Alexandrie, Lettre II à Nestorius (PG 77, 448).
[51] Cf. Tertullien, Sur la chair du Christ 5, 4 (CC2, p. 881).
[52] Saint Irénée, Contre les hérésies V, 2, 3 (Sch 153, p. 34s).
[53] Saint Ignace d’Antioche, Lettre aux Ephésiens 7, 2.
[54] Dante Alighieri, Paradis XXXIII, 1.
[55] Luther, Commentaire sur le Magnificat (éd. Weimar 7, p. 572s).
[56] Saint Francois d’Assise, Office de la Passion du Seigneur. (Saint Francois d’Assise, Documents, Paris, 1968, p. 158).
[57] Luther, Des conciles de l’Église (éd. Weimar 50, p. 591s).
[58] Formule d’entente de l’année 1577, art. 8, 7.
[59] H. Zwingli, Expositio fidei, dans Zwingli, Hauptschriften der Theologe III, Zurich, 1948, p. 329 ; Idem, Fidei ratio 6.
[60] Calvin, Institution de la religion chrétienne II, 14, 4.
[61] Saint Grégoire de Nazianze, Discours 12, 6 (PG 77, 1472).
[62] Acace de Mélitène, Discours Augustino concile d’Éphèse (PG 77, 1472).
[63] Cf. Origène, Commentaire sur l’Évangile de Luc 22, 3 (Sch 87, p. 302).
[64] Saint Augustino, Sermon 72A (= denis 25), 8 (misc. Agost, I, p. 164).
[65] Lumen gentium, 64.
[66] Saint Ambroise, Sur l’Évangile selon Luc II, 26 (CSEL 32, 4, p. 55).
[67] Saint Maxime le Cofesseur, Commentaires sur le “Notre Père” (PG 90, 889).
[68] Isaac de l’Étoile, Discours 51 (PL 194, 1863).
[69] S. Kierkegaard, Journal XI 2A. 301.
[70] Saint Francois d’Assise, Lettre aux fidèles I (Documents, cité, p. 106).
[71] Saint Bonaventure, Les cinq fêtes de l’Enfant Jésus (éd. Quaracchi, 1949, p. 207ss).
[72] Saint Augustino, Confessions VIII, 8, 19.
[73] Saint Augustino, Sermons 189, 3 (PL 38, 1006).
[74] Ibid.
[75] Jean Paul II, Encyclique Redemptoris Mater, 18 (AAS 79, 1987, p. 382 s).
[76] Ibid, 17.
[77] Lumen Gentium 58.
[78] Saint Jean de la Croix, La montée du Carmel III, 2, 10.
[79] H. de Lubac, Le mystère du surnaturel, Paris, 1965, p. 52.
[80] Saint Augustine, Sermon 72A (= Denis 25), 7 (Misc, Agost, 1, p. 162) ; La sainte virginité 5 – 6 (PL 40, 399).
[81] H. Zwingli, Von Klarheit und Gewissheit des Wortes Gottes, dans Zwingli, Hauptschriften, I, Zurich, 1940, p. 104.
[82] Le livre de la Bienheureuse Angèle de Foligno, Instruction III (éd, Quaracchi, Grottaferrata, 1985, p. 468).
[83] Dorothée de Gaza, Oeuvres spirituelles I, 20 (Sch 92, p. 177).
[84] Lumen gentium 58.
[85] Meliton de Sardes, Sur la Pâque 7, 71 (SCh 123, p. 64. 98).
[86] Romanos le Mélode, Hymne XXXV, 1 (SCh 128, p. 160).
[87] Lumen gentium 58.
[88] S. Kierkegaard, Journal XIII A 45.
[89] Jean Paul II, Salvifici doloris 23 (AAS 76, 1984, p. 231).
[90] Ancienne homélie pascale 51 (SCh 27, p. 177).
[91] Saint Bonaventure, Itinéraire de l’âme vers Dieu VII, 1 – 2 (éd. Quaracchi, 1938, p. 344s).
[92] Ancienne homélie pascale 51 (SCh 27, p. 177).
[93] W. von Lowenich, Luthers Theologia crucis, Munich, 1954, p. 2.
[94] H. Schlier, Der Romerbrief, Fribourg-en-Br., 1979, ad loc.
[95] Lumen gentium 61.
[96] Saint Augustin, Lettre 55, 2, 3 ; 14, 24 (CSEL 34, 2, p. 171 – 195).
[97] Sainte Catherine de Gênes, Vie, ch. 19 (Turin, 1962, p. 207).
[98] Ch. Péguy, Le porche ., dans Oeuvres poétiques, op. Cit., p. 655.
[99] S. Kierkegaard, L’Évangile de la souffrance IV.
[100] Saint Augustine, La sainte virginité 5 – 6 (PL 40, 399).
[101] Lumen gentium 61.
[102] Ibid 60.
[103] Ibid.
[104] Ibid 63.
[105] Saint Augustine, Sermons 72A (= Denis 25), 7 (Misc. Agost. 1, p. 163).
[106] Paul VI. Discours de clôture de la troisième période du concile (AAS 56, 1964, p. 1016).
[107] Cf. M. Thurian, Marie, mère du Seigneur, figure de lÉglise, Taizé, 1963, p. 98s.
[108] S. Kierkegaard, Journal X 4 A 572.
[109] Calvin, Le livre de la Genèse, Genève 1961, p. 195.
[110] G. Von Rad, Das erste bush Moses, Genesis, Ch. II, 18, Gottingen 1972.
[111] Saint Iréné, Contre les hérésies III, 22, 44 (SCh 211.p. 442).
[112] Saint Grégoire le Grand, Homélies sur les Evangile XVII, 1 (PL 76, 1139).
[113] Dei Verbum 2.
[114] Saint Augustine, Sur L’Évangile de Jean 80, 3 (CC 36, p. 529).
[115] Luther, Kinchenpostille (éd. Weimar, 10, 1. P. 73).
[116] Zwingli, Predigt von der Gottgebarerin Maria, Dans Zwingli Hauptschripten, der prediger I Zurich, 1940, p. 159.
[117] Lumen gentium 67.
[118] Basilea Schlink, Maria, der Weg der Mutter des herrn, Darmstadt, 1982, p. 149 – 152.
[119] Cf. E. R. Carroll, Understanding the Mother of Jésus, Dublin, 1979.
[120] Origène, Commentaire sur l’Évangile de Jean 1, 6, 23 (SCh 120 p. 70 – 72).
[121] Saint L Grignion de Montfort, Traité de la vraie dévotion à Marie, n. 257 – 259 (Oeuvres complètes, Paris, 1966, p. 660s).
[122] Cf. H. Muhlen, Una mystica persona ( 11, 92), Paderborn, 1967.
[123] B. Pascal, Le mystère de Jésus (Pensées, 553, Brunschvicg).
[124] Dei verbum 8.
[125] Manuscrits autobiographiques B, f. 3 (éd. Carmel de Lisieux 1957, p. 229).
[126] Thomas de Celano. Deuxième vie de Saint Francois d’Assise 95 (Documents, cité, p. 405).
[127] Saint Augustine, Sur la première lettre de Jean 4, 6 (PL 35, 2008).
[128] Saint Jean de la Croix, Poèmes, dans Oeuvres complètes, Bruges-Paris, Desclée de Brouwer, 1967.
[129] Saint Grégoire de Narek, Prières 12 (SCh 78, p. 103).
[130] M. M. Philipon, Conchita, Journal spirituel d’une mère de famille, Paris, Desclée de Brouwer 1974,p. 183s.
[131] Saint Augustine, Confessions IX, 10s.
[132] S. Kiergaard, Le journal du séducteur, Paris, Gallimard, 1943, p. 60.
[133] Saint Augustine, Sur les Psaumes 37, 14 (CC 38, p. 392).
[134] Homélie spirituelle attribuée à saint Macaire l’Égyptien 18, 7ss (PG 34, 649).
[135] Le livre de la Bienheureuse Angèle de Fologno, cité p. 388 – 390.
[136] Ignace de Latakia, Dossier d’Uppsala 1968, Genève, WCC 1969, p. 298.
[137] Cf. C. Schneider, Die Apostelgeschichte, I, Fribourg-en-Br., 1980, ad loc.
[138] Saint Augustine, Sermon 267, 4 (PL 38, 1232).
[139] Ibid.
[140] Saint Augustine, Sur la première lettre de Jean 6, 6 – 8 (PL 35, 2023).
[141] Tagore, Gitanjali 50.
[142] Anonyme, Récits d’un pélerin Russe I.
[143] Saint Augustine, Lettres 130, 10, 19 – 20 (CSEL 44, p. 62s).
[144] Anonyme, La nuée de l’inconnaissance 4, Paris, Seuil, 1977 p. 29s.
[145] Saint Augustine, Lettres 130, 9, 18 (CSEL 44, p. 60s).
[146] Sainte Thérèse d’Avila, Vie XI, 9.
[147] Ibid. XXX, 16.
[148] Sainte Thérèse de l’Enfant Jésus, Manuscrits autobiographiques C, f. 25 (éd. Citée, p. 291).
[149] Apophtegmes des Pères, Antoine I (PG 65, 76).
[150] Le livre de la Bienheureuse Angèle de Foligno, cité, p. 576 ss.
[151] Apophtegmes des Pères du manuscrit Coislin, n. 205 (éd. Nau. Revue de l’Orient chrétien 13, 1908, p. 279).
[152] Lumen Gentium 59.
[153] E. Schweizer, Pneuma, dans Th. W. N. T. VI, p. 401.
[154] Ibid. p. 400.
[155] Saint Ambroise, Sur L’Esprit Saint II, 38 – 42 (CSEL 79, p. 101).
[156] Saint Augustin, Sermons 213, 7 (PL 38, 1063).
[157] Saint Irénée, Contre les hérésies III, 10, 2 (Sch 211, p. 118).
[158] Cf. Eusèbe de Césarée, Extraits prophétiques 4, 5 (PG 22, 1205).
[159] Cf. Saint Thomas d’Aquin, Somme théo logique I – Iiae,q. III, a. 1ss.
[160] Saint Bonaventure, l’arbre de vie, I, 3 (éd Quarachi 1949, p. 164).
[161] Luther, commentaire sur le Magnificat, introduction (éd. Weimar 7, p. 546).
[162] Lumen Gentium 63 – 64.
[163] Dydime de Alexandrie, sur la Trinité II, 13 (PG 39, 692).
[164] Saint Ambroise, sur l’Évangile selon luc II, 7 (CSEL 32, 4, p. 45).
[165] Saint Augustin, Sermon 213, 3. 7 (PL 38, 1061 – 1064).
[166] Lumen Gentium 12.
[167] Luther, commentaire sur le Magnificat (éd. Weimar 7, p. 558).
[168] Saint Augustin, Sermon 72A (= Denis 25), 7 (Mise, Agost I, p. 162); la sainte virgirité 3 (PL 40, 398).
[169] Ch. Péguy, Le porche … dans Oeuvres poctiques, op. Cit, p. 175ss.
[170] Saint Augustin, Sermon 265, 8, 9 (PL 38, 1222); Sur l’Évangile de Jean 74, 2 (CC 36, p. 513).
[171] Cf. Saint Cyrille de Jérusalem, Catéchèse XVII, 12 – 14 (PG 33, 984s).
[172] Saint Cyrille d’Alexandrie, Sur l’Évangile de Jean XII, 1 (PG 74, 716ss).
[173] Cf Tertullien, Sur le baptême 19, 2 (CC 1, p. 293).
[174] Saint Athnase, Lettres festales 14, 6 (PG 26, 1422).
[175] Cf. Traduction Oecuménique de la Bible, Paris, 1985, ad. Loc.
[176] Ancienne homélie pascale 53 (SCh 27, p. 181).
[177] Ibid. 55 (SCh 27, p. 183).
[178] I. De la Potterie, “Le symbolisme du sang et de l’eau en Jean 19, 34“, dans Didaskalia 14, 1984, p. 217s.
[179] Saint Augustin, Sur l’Évangile de Jean 74, 2 (CC 36, p. 514).
[180] Lumen Gentium 56.
[181] Ibid. 61.
[182] Saint Augustin, L’Ésprit et la lettre 32, 56 (PL 44, 237).
[183] Saint Irénée, Contre les hérésies III, 17, 2 (Scl 211, p. 332).
[184] Saint Irénée, Contre les hérésies V, 1, 1 (SCh 153, p. 20).
[185] Saint Basile, Sur l’Éprit Saint 19, 49 (PG 32, 157).
[186] Saint Augustin,, Confessions III, 6.
[187] Saint Basile, Sur l’Éprit Saint, 9, 23 (PG 32, 109).
[188] Luther, Kirchenpostille (é’d. Weimar, 10, 1, p. 168).
[189] Saint de la Croix, La Montée du Carmel II, 5, 7.
[190] Cf Saint Bernard, Homélie I pour l’Avent (éd. Cister. IV, Rome, 1966).
[191] Saint Augustin, Sermons 72A (= Denis 25), 7 (Miscell. Agost I, p. 163).
[192] Lumen gentium 68.
[193] Dante Alighieri, Paradis XXXIII, 10 – 12.
[194] Le livre de la Bienheureuse Angèle de Foligno, op. citp. 256.
[195] Saint Augustin, Sur les Psaumes 53, 10 (CC 38, p. 653s).
[196] Le livre de la Bienheureuse Angèle de Foligno, op. citp. 394.
[197] Sainte Thérèse de l’Enfant Jésus, Novissima Verba, 17 Juillet.
[198] Jean Paul II, Encyclique Redemptoris Mater 21 (AAS 79, 4987, p. 389).
[199] Sainte Catherine de Gênes, Vie 32 (Turin, 1962, p. 262).
[200] Cf. H. Rahner, Symbole der Hirche, Salisbourg, 1964.
[201] Saint Ambroise, Sur l’Évangile selon Luc II, 26 (CSEL 32, 4, p. 55).
[202] P. Claudel, La vierge à midi, dans Oeuvres poétiques, Paris, Gallimard 1967, p. 541.