Tập 5: Regula Pastoralis – Những người đứng trước cửa mục tử(Series viết về Grêgôriô Cả · Tiến sĩ Hội Thánh thứ 1)
Ở tập trước, ta mới chỉ đứng ngoài cánh cửa. Ta gặp một Grêgôriô Cả từng muốn trốn khỏi gánh nặng mục tử, và chính nỗi sợ ấy đã sinh ra Sách Luật Mục Tử. Ta cũng thấy cuốn sách này không đi vào trách nhiệm thiêng liêng bằng giọng hào hứng hay chinh phục, nhưng bằng một thứ run rẩy rất tỉnh: trước khi nói đến việc sống thế nào, dạy thế nào, hay giữ mình khiêm nhường ra sao, Grêgôriô muốn chặn người đọc lại ngay từ ngưỡng cửa và hỏi: ai nên bước vào chỗ này, và ai thì không?
Bây giờ, ta bắt đầu đi vào phần đầu tiên ấy.
Đây là phần có thể gọi là phần “gác cổng” của cả cuốn sách. Ở đây, Grêgôriô chưa vội xây chân dung mục tử lý tưởng. Ngài làm một việc khác trước: đưa ra hàng loạt khuôn mặt đứng trước cửa trách nhiệm thiêng liêng, rồi lần lượt soi ánh sáng vào từng người. Có người chưa học mà đã muốn làm thầy. Có người nói đúng nhưng sống sai. Có người có ơn mà cứ trốn. Có người lấy ngôn ngữ đạo đức để che cơn đói được nhìn nhận. Cũng có người thật sự nên được kéo lên, nhưng chính họ lại là người run nhất.
Đọc kỹ, ta sẽ thấy Grêgôriô không viết phần này như một bảng nội quy. Ngài viết như thể đang nhìn từng con người thật. Vì thế, có lẽ cách tốt nhất để bước vào phần 1 của Sách Luật Mục Tử cũng không phải là đọc nó như một danh sách tiêu chuẩn, mà như một hành lang có nhiều người đang đứng chờ. Mỗi người mang một câu chuyện. Mỗi người mang một cơn cám dỗ. Và với từng người, Grêgôriô đều hỏi cùng một điều: anh là ai trước khi anh chạm vào linh hồn người khác?
Đầu tiên là hình ảnh 1 chàng huynh trưởng Thiếu Nhi Thánh Thể.
Không phải kiểu người ồn ào hay thích gây chú ý quá lộ. Cậu siêng. Có mặt đều. Biết tập hát, biết sinh hoạt, biết nói với các em nhỏ bằng thứ giọng vừa nghiêm vừa gần. Khi thiếu người điều phối một buổi họp, người ta gọi cậu. Khi cần ai chia sẻ cuối giờ cầu nguyện, người ta nghĩ tới cậu. Khi đơn vị chuẩn bị trại hay sa mạc huấn luyện, cậu gần như luôn có trong danh sách những người “gánh được việc”.
Ban đầu, mọi thứ rất tự nhiên. Cậu chỉ muốn phục vụ. Nhưng rồi, như vẫn thường xảy ra, một cảm giác khác bắt đầu chen vào giữa những thiện ý ấy. Cậu bắt đầu thích cảm giác mình được trông đợi. Thích khi đàn em nhìn mình như một người dẫn đường. Thích lúc đứng trước hàng thiếu nhi, cầm micro, mọi ánh mắt cùng hướng về mình. Cậu không nghĩ mình xấu. Cậu chỉ thấy mình có khả năng. Và thật lòng, cậu cũng nghĩ mình có thể giúp các em nhiều hơn vài người khác.
Chính ở đây Grêgôriô lên tiếng, rất sớm và rất mạnh. Không ai dám dạy một nghề khi chưa học kỹ nghề đó; vậy mà nhiều người lại dám bước vào việc chăm sóc linh hồn người khác khi còn chưa được luyện đủ. Ngài gọi việc cai quản các linh hồn là “nghệ thuật của mọi nghệ thuật”. Không phải vì nó cao sang, mà vì vết thương của tư tưởng kín hơn vết thương của thân xác; chữa thân xác sai đã nguy, chữa linh hồn sai còn âm thầm và lâu dài hơn.
Bởi thế, Grêgôriô so sánh rất gắt: người không biết thuốc còn xấu hổ nếu tự xưng là bác sĩ thân xác, trong khi nhiều người không biết đường thiêng liêng lại sẵn sàng làm “thầy thuốc của trái tim”. Câu ấy, nếu đặt vào đời sống Công giáo hôm nay, có sức chạm rất thật. Một huynh trưởng biết nói, một giáo lý viên có lửa, một bạn trẻ có khả năng thu hút, tất cả đều có thể được đẩy rất nhanh vào chỗ mà lời nói của mình bắt đầu định hình đức tin của người khác. Nhưng khả năng nói chưa phải là trưởng thành thiêng liêng. Được quý chưa phải là đã được luyện. Có sức ảnh hưởng chưa có nghĩa là có ánh sáng.
Vì thế, Grêgôriô nhắc tới những người thích xuất hiện như thầy dạy, ham được hơn người khác, thích những lời chào đầu tiên và những chỗ ngồi nổi bật. Nếu nói theo ngôn ngữ hôm nay, đó là người thích được cầm micro, thích được đưa lên làm mẫu, thích được hỏi ý kiến, thích cái cảm giác tên mình gắn với một vai trò có ảnh hưởng. Những điều ấy không nhất thiết xấu. Nhưng Grêgôriô không dừng ở hành vi. Ngài hỏi vào nơi kín hơn: trong cái muốn phục vụ này, có bao nhiêu phần là yêu người, và bao nhiêu phần là yêu chính cảm giác mình có ích, có trọng lượng, có tên tuổi?
Rồi ngài trích một câu từ ngôn sứ Hôsê, đủ làm người muốn bước lên phải chững lại:
“Họ đã lên làm vua, nhưng không bởi Ta; họ đã lập các thủ lãnh, mà Ta chẳng hề hay biết.” (Ho 8,4)”
Có những người không được nâng lên bởi nhân đức và tiếng gọi, nhưng bị đẩy lên bởi cơn đói của chính mình; họ không thật sự được gọi, họ chỉ giỏi tự hợp thức hóa việc bước lên. Với một huynh trưởng Thiếu Nhi Thánh Thể, điều này có thể không hiện ra dưới dạng “ham chức” thô thiển. Nó có thể hiện ra nhẹ hơn nhiều: thích được xem là trụ cột, thích được tin cậy, thích được nhận ra là người có lửa và có khả năng dẫn dắt. Nhưng nếu không đủ thành thật, những điều ấy sẽ âm thầm biến việc phục vụ thành một chiếc gương soi cái tôi.
Và như thể để chốt lại cảnh báo đầu tiên ấy, Grêgôriô nhắc lời Chúa: nếu người mù dẫn người mù, cả hai sẽ cùng rơi xuống hố. Người làm “mắt” cho người khác mà mình không thấy đường thì hậu quả không chỉ dừng ở mình. Những người phía sau còn phải mang cái mù ấy trên lưng họ.
Rồi Grêgôriô đưa ta sang một kiểu người khác.
Đó là hình ảnh một sơ trẻ, được quý mến, được tin cậy, có khả năng đồng hành với các em nội trú hay với những người trẻ đang đi qua khủng hoảng. Sơ nói nhỏ nhẹ, biết lắng nghe, biết giữ khoảng cách đúng mực, biết dùng ngôn ngữ khiến người khác thấy mình được hiểu. Khi ai đó cần một lời giải thích dịu dàng, một cái nhìn có lòng, một sự hiện diện không kết án, họ thường tìm đến sơ.
Nhưng dần dần, một khoảng cách nhỏ mở ra, ban đầu rất khó thấy, vì bên ngoài mọi thứ vẫn rất ổn.
Sơ vẫn nói về cầu nguyện, nhưng chính sơ cầu nguyện ít đi. Sơ vẫn khuyên người khác giữ lòng trong sạch, nhưng ban đêm sơ lướt điện thoại đến kiệt sức, để mặc tâm trí ngụp lặn trong những hình ảnh, câu chuyện, tương tác mà mình biết là không lành. Sơ vẫn nhắc người khác giữ giờ chầu, nhưng chính sơ bắt đầu viện đủ lý do để bỏ dần những khung giờ riêng với Chúa. Sơ vẫn kể rất hay về tin tưởng và phó thác, nhưng khi một chuyện nhỏ không vừa ý, sơ phản ứng gắt, cay, mệt mỏi, gắt gỏng với chị em. Sơ vẫn biết gọi tên những vết thương của người khác, nhưng chính những vết thương chưa được chạm của mình thì sơ để đó, không dám nhìn.
Grêgôriô mô tả kiểu người này bằng một hình ảnh rất đau. Có những người hiểu rất đúng các điều thiêng liêng, nhưng rồi lại giẫm nát điều họ hiểu bằng chính đời sống mình. Vì thế, ngài nói: người mục tử uống nước tinh tuyền, rồi làm đục phần nước còn lại bằng chân mình; đàn chiên, trong cơn khát, phải uống chính thứ nước bị khuấy bùn ấy.
Đây là một trong những hình ảnh đẹp mà ám ảnh nhất của cả phần đầu. Nó cho thấy người ta có thể vẫn trao cho người khác chân lý, mà đồng thời cũng trao cho họ một thứ bùn khác. Người ta có thể vẫn nói điều đúng, nhưng bầu khí của đời sống mình lại làm đục điều mình nói. Người nghe không chỉ uống lời giảng. Họ uống cả cách người giảng sống: cách sơ cư xử với người yếu thế, cách sơ nói về người vắng mặt, cách sơ dùng tiền, cách sơ đối diện với cám dỗ và mệt mỏi... v.v..
Bởi thế Grêgôriô nói một câu rất nặng mà rất thật: không ai gây hại cho Hội Thánh hơn người có tên và địa vị thánh thiện mà lại sống lệch lạc. Không phải vì người ấy ác hơn mọi người, mà vì tội của họ lan theo uy tín. Người khác tôn kính họ, nên cũng dễ bắt chước họ. Không ai dám sửa họ dễ dàng; ai cũng ngần ngại nhắc, “sơ mà, cha mà”,.... Và thế là điều đục trong họ bắt đầu chảy lặng lẽ vào linh hồn người khác.
Trong thời của reel, podcast, chia sẻ online, điều này còn gần hơn nữa. Một nội dung rất đúng không đủ chứng minh rằng đời sống đứng sau nó là trong. Một người nói hay về chữa lành không có nghĩa là người ấy đang sống lành. Một lời chứng mạnh không có nghĩa là tâm hồn người kể đang sáng. Và đôi khi, chính cái đúng của nội dung khiến người ta bớt cảnh giác hơn với độ đục của người đang nói, như người khát uống một ly nước trong mà không nhìn kỹ bùn đang lắng dưới đáy.
Cha mới được giao nhiều việc hơn, nhiều người hơn, nhiều sự tin tưởng hơn. Có thể là phó xứ nhưng gánh gần hết mục vụ giới trẻ. Có thể là được mời đồng hành với rất nhiều bạn trẻ đang khủng hoảng. Có thể là được quý tới mức ở đâu người ta cũng muốn cha hiện diện. Ban đầu, mọi thứ rất sáng. Những sáng kiến mới có kết quả. Giáo dân quý. Người trẻ gần. Chương trình chạy. Những cuộc gặp có sức sống.
Nhưng chính lúc ấy, điều nguy hiểm nhất bắt đầu.
Grêgôriô dành riêng một chương để nói về trọng lượng của quyền bính. Ngài không nói về nó như một chiếc áo đẹp, mà như một sức nặng có thể đè bẹp người không đủ tầm. Thánh Giacôbê nói:“Thưa anh em, đừng có nhiều người trong anh em ham làm thầy thiên hạ, vì anh em biết rằng chúng ta sẽ bị xét xử nghiêm khắc hơn.” (Gc 3,1), và Grêgôriô nhắc lại tinh thần ấy như một lời ghìm người đọc lại trước cơn ham bước lên.
Ngài đặt trước mắt họ hình ảnh Chúa Giêsu: khi người ta muốn ép Ngài làm vua, Ngài tránh đi; nhưng Ngài lại tự nguyện bước lên thập giá. Đó gần như là nguyên tắc gốc của mọi quyền bính Kitô giáo: chạy khỏi thứ vinh quang dễ chịu, nhận lấy thứ đau đớn cứu người khác. Nếu một người yêu cái thứ nhất mà né cái thứ hai, người ấy chưa hiểu điều mình đang xin.
Rồi Grêgôriô kể về Saul và Đavít. Saul lúc đầu còn trốn vì thấy mình không xứng, nhưng khi đã nắm quyền thì dần thích được dân kính nể hơn là ở lại trong vâng phục. Đavít từng đẹp lòng Chúa trong nhiều việc, nhưng khi bớt bị đè ép bởi nghịch cảnh lại ngã nặng. Từ những câu chuyện ấy, Grêgôriô đọc ra một quy luật rất thật: nghịch cảnh thường giữ người ta tỉnh, còn thịnh vượng dễ làm lòng người phồng lên.
Nói cách khác, điều nguy hiểm nhất cho một cha trẻ không hẳn là khi cha bị chống đối nhiều nhất, mà có khi là lúc mọi sự đang quá ... suôn sẻ.
Nhưng câu chuyện chưa dừng ở đó.
Sau một thời gian, cha trẻ ấy biết đủ chuyện của mọi người. Biết nhóm nào đang khủng hoảng. Biết ai sắp bỏ lễ. Biết người trẻ nào đang rơi vào một mối quan hệ rối. Biết ngân sách còn bao nhiêu. Biết phải trả lời tin nhắn nào trước. Biết cần hiện diện ở đâu để không ai cảm thấy bị bỏ rơi.
Chỉ có một điều cha biết ít dần: lòng mình đang ở đâu.
Grêgôriô mô tả tình trạng ấy bằng một câu gần như bước thẳng vào hiện tại: khi lao vào việc cai quản, tâm trí bị kéo ra nhiều hướng; nó bận lo những gì bên ngoài, biết nghĩ tới nhiều chuyện, nhưng chính mình thì nó không biết. Đó là một chẩn đoán chính xác lạ thường. Người mục tử có thể biết đủ mọi vấn đề của cộng đoàn, nhưng lại không còn nhận ra những mất mát đang diễn ra trong linh hồn mình.
Ngài còn nói: người như thế giống như đang trên đường mà mải bận chuyện bên lề đến mức quên mất mình đang đi đâu. Đó không chỉ là mệt. Không chỉ là quá tải. Đó là tình trạng người ta đánh mất khả năng tự xét mình. Mất độ vững nội tâm. Mất cái sợ lành mạnh giúp mình nhớ rằng mình cũng đang phải trả lời trước mặt Chúa.
Grêgôriô kể chuyện Êdêkia khoe kho tàng với khách lạ, tưởng không sao, mà lại bị xét xử. Rồi ngài nhắc vua Babylon, người từng biết đến Chúa nhưng sau thành công lại phồng lên trong lòng và nói: “Babylon lớn lao này há chẳng phải do ta xây nên sao?” Điều đáng sợ là Thiên Chúa đã thấy kiêu ngạo ấy trước khi nó thành lời. Bên ngoài, người ta vẫn có thể đang làm điều đúng. Nhưng bên trong, một lối nghĩ mới đã thành hình: xem điều tốt như tài sản riêng, xem thành công như bằng chứng cho cái tôi.
Không phải ai đứng trước cửa trách nhiệm cũng là kẻ ham quyền. Có những người ngược lại: họ có ơn thật, có độ chín thật, có khả năng làm ích cho người khác, nhưng cứ luôn lùi lại.
Đó có thể là một sơ trẻ hơn một chút, sống nội tâm, ít nói, nhưng lời nói có sức nặng. Chị không cần tạo hiệu ứng. Chỉ cần hiện diện thôi cũng đủ làm người khác dịu lại. Ai cũng thấy chị hợp để đào tạo các em trẻ, để dẫn một cộng đoàn nhỏ, để đứng ở chỗ mà người khác sẽ được nâng lên nhờ đời sống của chị. Nhưng chị cứ nói: “Em không hợp đâu”, “Em chỉ thích lặng lẽ thôi”, “Ai khác làm sẽ tốt hơn”.
Grêgôriô không dễ dãi với kiểu trốn này. Ngài nói có những người đầy ơn và có thể đem lại lợi ích lớn cho người khác bằng gương sáng, nhưng lại trốn vai trò lãnh đạo vì quá yêu sự yên ổn riêng. Nếu họ cứ làm vậy mãi, họ không chỉ từ chối một chức vụ; họ đang giữ lại cho mình những ơn được ban không phải chỉ cho riêng mình.
Vì thế, Grêgôriô dùng những hình ảnh rất rõ: thành phố xây trên núi thì không thể bị che giấu; ngọn đèn không được đặt dưới cái thùng; và với Phêrô, tình yêu dành cho Đức Kitô phải được chứng minh bằng việc chăn dắt chiên của Ngài. Ý của ngài rất đơn sơ mà rất sắc: có những lúc từ chối không còn là khiêm nhường nữa, mà là một dạng khác của việc muốn giữ mình an toàn.
Nhưng Grêgôriô còn tinh tế hơn thế. Có người trốn không phải vì ích kỷ, mà vì thật sự thấy mình yếu. Họ sợ mình làm hại người khác. Họ không tin mình đủ sức. Nỗi sợ ấy sạch và đẹp.
Ngài bảo: nếu nỗi sợ ấy đi cùng các nhân đức khác, thì đó là một dấu tốt. Nhưng nếu người ấy đã nhận ra ý Chúa khá rõ, đã thấy Hội Thánh thật sự cần mình, đã được trao những ơn có thể giúp người khác, mà vẫn cố chấp từ chối, thì điều đó không còn là khiêm nhường nữa. Khiêm nhường thật, trong cái nhìn của Grêgôriô, không phải là đứng ngoài mãi. Nó là run sợ thật sự, nhưng rồi vẫn vâng.
Vì thế, ngài nhắc tới Isaia và Giêrêmia. Isaia xin đi ngay: “Này con đây, xin hãy sai con.” Giêrêmia thì co lại: “Con còn trẻ, con không biết nói.” Một người nghiêng về đức ái năng động, một người nghiêng về đức ái chiêm niệm; cả hai đều có thể đúng, miễn là người xin đi đã được thanh luyện, và người muốn trốn không cố chấp trốn mãi. Mẫu đẹp nhất là Môsê: không lao vào với tự tin dễ dãi, nhưng cũng không dám nói không với Thiên Chúa khi đã được sai.
Ở đây, Phần1 của Sách Luật Mục Tử trở nên rất đẹp. Grêgôriô không ưa kiểu người non mà hăng. Nhưng ngài cũng không thần tượng kiểu người ẩn mình cho an toàn. Ngài muốn một con người biết sợ, biết mình yếu, nhưng cũng biết vâng.
Rồi còn một kiểu người nữa.
Đó là người không giành quyền bính một cách thô thiển, nhưng biết phủ cơn đói của mình bằng một lớp ngôn ngữ rất đúng, hay dùng ngôn từ ngày nay là: đạo đức giả. Người ấy hay nói về sứ mạng, về nhu cầu của Giáo Hội, về việc “nếu không ai đứng lên thì ai sẽ làm?”. Người ấy thậm chí còn có thể viện luôn lời thánh Phaolô: “Ai ước muốn chức giám mục là ước muốn một công việc tốt.”
Grêgôriô biết rõ kiểu này. Ngài nói có những người ham địa vị đã chộp lấy chính câu nói ấy của Phaolô để phục vụ lòng tham của mình. Nhưng Phaolô không dừng ở nửa câu đầu. Ngay sau đó là cả một chuỗi đòi hỏi về đời sống: không chê trách được, được thử luyện, có nhân đức phù hợp. Khen chức vụ không đồng nghĩa với hợp thức hóa tham vọng.
Rồi Grêgôriô đi tới điều sâu hơn nữa: tâm trí con người rất giỏi nói dối chính mình về chính mình. Nó tưởng tượng ra bao việc tốt mình sẽ làm nếu được trao quyền, và nhờ những viễn ảnh đẹp ấy, nó che bớt đi cơn đói vinh dự nằm ở đáy lòng. Nó thích được khen, thích được vâng phục, thích được đứng trên; nhưng để khỏi phải gọi tên điều đó, nó kể cho mình nghe một câu chuyện rất đẹp về trách nhiệm, phục vụ và ích chung.
Có lẽ đây là chỗ phần 1 chạm vào người đọc đau nhất. Vì Grêgôriô không chỉ tố cáo tham vọng. Ngài cho thấy con người có thể đạo đức hóa tham vọng của mình đến mức chính mình cũng tin vào câu chuyện đó.
Đọc tới đây, các bạn sẽ bối rối và tự hỏi: rồi rốt cuộc, ai mới nên được đưa lên thay vì phải hạ mình xuống?
Đó không phải là người hoàn hảo. Nhưng là người đã ít nhiều chết cho dục vọng, không bị thế gian trói chặt, không vì nghịch cảnh mà gãy, không vì thành công mà say. Đó là người biết thương xót mà không đánh mất công bình; biết đau vì tội của người khác như đau vì tội của chính mình; biết vui trước điều tốt nơi người khác như vui cho chính mình, thay vì ngấm ngầm thấy bị đe dọa.
Đó cũng là người có thể làm gương mà không phải che giấu đời mình; người có thể tưới vào những trái tim khô cằn bằng giáo huấn, không chỉ vì đã học, mà vì đã sống. Và nhất là, đó là người đã học được trong cầu nguyện rằng mình có thể xin và được Chúa nghe. Nếu một người còn ngại đứng ra xin với một vị quyền thế cho ai đó vì biết mình chẳng có tương quan gì với vị ấy, thì làm sao người đó dám đứng trước Thiên Chúa để cầu thay cho dân, khi chính mình cũng chẳng thân với Chúa?
Tới đây, người mục tử trong mắt Grêgôriô không còn là một nhà quản trị giỏi nữa. Đó là một con người có đời sống đủ thật để có thể mang người khác vào trước mặt Thiên Chúa.
Và rồi ngài khép phần này bằng việc kéo người ấy trở lại với Lời Chúa. Không ai giữ được mình trong vai trò này nếu không để đời mình mỗi ngày được sửa, được sưởi, được kéo thẳng lại bởi Thánh Kinh. Quyền bính làm tâm trí phân tán. Thành công làm lòng người phồng lên. Công việc làm người ta quên mình. Nếu không cắm rễ trong Lời Chúa, người mục tử sẽ sớm mất thước đo cuối cùng để biết mình đang lệch ở đâu.
Nếu nhìn lướt, phần 1 của Sách Luật Mục Tử có vẻ chỉ là một chuỗi điều kiện: ai không nên bước vào, ai sống sai, ai trốn trách nhiệm, ai nên được đưa lên. Nhưng đọc kỹ hơn, ta sẽ thấy đây là một câu chuyện liền mạch về những con người đứng trước cửa quyền bính thiêng liêng.
Người này bước vào quá sớm.
Người kia bước vào với động lực lệch.
Người khác bước vào rồi bị chính việc tốt làm cho hỏng.
Người nữa đáng lẽ nên nhận thì lại trốn.
Người thật sự xứng hợp lại là người run nhất.
Và người nên được kéo lên là người đã được đời sống bí mật với Chúa kéo lên từ trước.
Đó là lý do phần này không hề cũ.
Ngày nay, đứng trước cánh cửa ấy không chỉ có giám mục. Đó có thể là một huynh trưởng Thiếu Nhi Thánh Thể đang được các em nhìn như khuôn mẫu.
Một sơ trẻ được trao cộng đoàn.
Một cha trẻ được người trẻ yêu mến.
Một giáo lý viên hay một người làm nội dung Công giáo có sức ảnh hưởng ngày một lớn.
Tất cả họ đều đang đứng đúng nơi Grêgôriô muốn chặn lại để hỏi: trước khi anh chị chạm vào linh hồn người khác, anh chị đã thành thật với linh hồn mình chưa?
Và sau khi đã thành thật với chính mình, chúng ta sẽ bước qua phần 2 của ngài trong sách ở tập tiếp theo nhé...
Chúc mọi người chủ nhật an lành.