ĐẤNG PHỤC SINH CÓ MẶT TRONG ĐỜI TÔI KHÔNG?
1. Để cho Chúa sống trong thế giới nội tâm của mình 2. Chúa có hiện diện trong cách thức tôi cư xử với người khác không? 3. Sống kết hiệp với Chúa Kitô chứ không chỉ hô hào bên ngoài |
Dẫn nhập
Biến cố Phục sinh không phải là một sự kiện lịch sử đã khép lại, nhưng là ánh sáng tình thương vĩnh cửu xuyên thấu màn đêm tội lỗi mọi thời đại. Như Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II khẳng định, “Chúa Kitô Phục Sinh là biểu lộ cuối cùng của lòng thương xót, là dấu hiệu sống động của lòng thương xót đó trong lịch sử cứu độ và trong thời sau cùng. Cũng trong tinh thần đó, phụng vụ mùa Phục sinh đặt trên môi chúng ta những lời của Thánh vịnh: Misericordias Domini in aeternum cantabo - Tôi sẽ mãi mãi ca ngợi lòng thương xót của Chúa” (Thông điệp Dives in Misericordia, số 8). Ngài bước ra khỏi nấm mồ không chỉ để biểu dương quyền năng, mà để mở ra cho nhân loại lối vào sự sống mới.
Tuy nhiên, giữa ánh sáng ấy, con người chúng ta cần tự vấn: nấm mồ đá chôn cất Chúa Giêsu đã mở ra, nhưng nấm mồ tâm hồn chúng ta đã thực sự mở ra chưa? Chúng ta đang giam cầm Chúa trong đống lý thuyết suông, hay để Ngài thực sự sống, thở và hoạt động trong đời mình? Liệu ánh sáng của Chúa Giêsu có đang chiếu rọi vào những ngõ ngách u tối của sợ hãi, tự mãn hay ích kỷ của chúng ta không?
1. Để cho Chúa sống trong thế giới nội tâm của mình
Đời sống tâm linh không bắt đầu từ những hoạt động bên ngoài, mà bắt đầu từ những chuyển động thầm lặng nhất trong tâm hồn, trong từng suy nghĩ, từng mong muốn và dự định. Thánh Phaolô đã khuyên nhủ: “Anh em hãy có những tâm tình như chính Chúa Kitô Giêsu” (Pl 2:5). Thế nhưng, khi nhìn sâu vào tâm trí và cõi lòng, chúng ta thấy mình thường nuôi dưỡng những gì? Có những lúc suy nghĩ của chúng ta là một chiến trường ganh ghét đố kị, toan tính thiệt hơn. Chúng ta dễ dàng phê phán nhiều người chung quanh, và nảy ra trong đầu những so sánh tự đắc.
Nếu Chúa Kitô thực sự sống trong suy nghĩ của chúng ta, thì suy nghĩ đó phải thấm đẫm lòng trắc ẩn. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu từng nói: “Lòng bác ái đích thực thể hiện ở việc bao dung với mọi khuyết điểm của người lân cận, không ngạc nhiên trước những sai lầm của họ, và được khích lệ bởi những đức tính nhỏ bé nhất của họ…Một lời nói, một nụ cười hiền hậu, thường đủ để xoa dịu một trái tim tổn thương và đau buồn. Nếu có sự hiện diện của ân sủng thiêng liêng và lòng bác ái chân chính thì sẽ không còn sự ganh tị hay hẹp hòi trong lòng, cũng không còn thói tự ái. Vì lòng bác ái thiêng liêng vượt qua mọi sự, và mở rộng mọi khả năng của tâm hồn.”[1] Một suy nghĩ thuộc về Chúa là một suy nghĩ biết tìm thấy điểm tốt nơi người khác, biết bao dung những yếu đuối của người khác, chứ không phải sẵn sàng coi những khuyết điểm của chính mình là chuyện nhỏ nhưng lại nôn nóng coi những thiếu sót nho nhỏ của người khác là nghiêm trọng, phức tạp, là “có chuyện lớn rồi”.
Chúa Giêsu đã dạy: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Ngài” (Mt 6: 33). Kế hoạch tương lai của chúng ta hướng về đâu: tôn vinh Thiên Chúa hay xây đắp cái tôi cá nhân? Nếu Chúa Kitô là nguồn sống, thì mọi dự định của chúng ta phải là sự cộng tác với ý muốn của Ngài. Sự sống ấy không cho phép ta sống vụ lợi, nhưng mời gọi biến mỗi công việc của ta thành khí cụ của tình yêu Thiên Chúa.
2. Chúa có hiện diện trong cách thức tôi cư xử với người khác không?
Thánh Giacôbê đã cảnh báo, trước hết, về sức mạnh của lời nói. Lời nói có thể là liều thuốc chữa lành nhưng cũng có thể là lưỡi gươm giết chết anh chị em: “Cái lưỡi là một bộ phận nhỏ bé của thân thể, mà lại huênh hoang làm được những chuyện to lớn…Cái lưỡi là cả một thế giới của sự ác. Cái lưỡi làm cho toàn thân bị ô nhiễm, đốt cháy bánh xe cuộc đời, vì chính nó bị lửa hoả ngục đốt cháy…Từ cùng một cái miệng, phát xuất lời chúc tụng và lời nguyền rủa. Thưa anh em, như vậy thì không được” (Gc 3: 3-10).
Lời nói của người có Chúa Kitô trong tâm hồn phải là lời nói mang lại sự sống. Đó là lời an ủi người sầu khổ, khích lệ người ngã lòng, và chân thật trong mọi hoàn cảnh. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh: “Lời đồn thổi giết người nhiều hơn cả vũ khí… Kẻ đạo đức giả, những người sống bằng cách phán xét người lân cận, nói xấu người lân cận là những kẻ đạo đức giả vì họ không có sức mạnh, không có can đảm để nhìn vào khuyết điểm của chính mình” (Bài giảng tại Nhà nguyện Thánh Mácta, thứ Sáu, ngày 13 tháng 9 năm 2013). Khi chúng ta thốt ra một lời chỉ trích cay độc, một câu nói mỉa mai, hay một lời nói dối ác ý, lúc đó Chúa Kitô, Đấng là Sự Thật, bị đuổi ra khỏi cõi lòng chúng ta.
Tình yêu thương xót không phải là một cảm xúc trừu tượng; nó phải được cụ thể hóa. Chúng ta thường tử tế với những người tử tế với mình, hoặc với những người có thể đem lại lợi ích cho chúng ta. Đó là một thứ tình yêu có ẩn ý vụ lợi, một thứ tình yêu của thế gian. Chúa Giêsu đòi hỏi nhiều hơn thế: “Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em” (Lc 6: 27).
Ngày 13/5/1981, Mehmet Ali Ağca đã bắn trọng thương Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II tại Quảng trường Thánh Phêrô. Sau khi bình phục, vào năm 1983, Đức Giáo hoàng đã đến tận nhà tù Rebibbia để gặp kẻ đã định lấy mạng mình. Ngài không chỉ nắm tay và trò chuyện thân tình với Ağca mà còn tuyên bố công khai: “Tôi nói chuyện với anh ấy như thể đang nói chuyện với một người anh em mà tôi đã tha thứ và là người có được sự tin tưởng của tôi.”[2]
Trong những giây phút ấy, Chúa Kitô không chỉ sống lại trong lịch sử, nhưng Ngài đang sống lại rạng ngời trong hành động yêu thương tha thứ của Thánh Gioan Phaolô II. Đó chính là sự tử tế không ẩn ý tư lợi, là sự sống của Đấng Phục Sinh tuôn trào qua huyết quản của một con người bằng xương bằng thịt.
3. Sống kết hiệp với Chúa Kitô chứ không chỉ hô hào bên ngoài
Nhiều khi, chúng ta biến đời sống đạo chỉ còn một danh sách những việc phải làm: đi lễ, đọc kinh, làm từ thiện... mà lại thiếuở lại trong Chúa, không như Chúa mong muốn: “Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy” (Ga 15: 8). Nếu không có sự kết hiệp mật thiết với Chúa qua cầu nguyện và các bí tích, những việc đạo đức đó chỉ là những bông hoa nhựa, trông đẹp nhưng không có sức sống, không có hương thơm, lâu ngày chỉ còn đáng bị quăng ra ngoài: “Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi” (Ga 15: 5-6).
Đời sống cầu nguyện chính là “nhựa sống” giúp Kitô hữu vượt qua mọi sóng gió. Một đời sống thiếu cầu nguyện sẽ dần khô héo; khi đó, mọi việc tốt ta làm chỉ còn là lớp vỏ rỗng tuếch, khoa trương, vì thiếu vắng Thần Khí Chúa Kitô.
Trong thời đại “nghe nhìn dòm ngó”, áp lực xã hội khiến ta mải nhìn sang người khác để cân đo hạnh phúc của mình và so sánh với hạnh phúc của họ, nhưng thực ra lại đang dần đánh mất chính mình. Ta sống là để làm vui tai, vừa lòng người đời hay là để tuân theo chuẩn mực của Chúa Kitô? Việc lấy người khác làm thước đo bắt nguồn từ việc thiếu điểm tựa nội tâm vào tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa. Khi thiếu sự xác tín này, ta dễ rơi vào kiêu ngạo nếu ta thành đạt, hoặc trở thành mặc cảm, oán trách nếu ta thua kém. Cả hai thái cực ấy đều kéo ta xa rời sự thật về bản thân.
Thánh Phaolô tuyên bố: “Chính để chúng ta được tự do mà Chúa Kitô đã giải thoát chúng ta” (Gl 5: 1). Tự do đích thực không phải là làm điều mình thích, mà là thoát khỏi cái nhìn của người đời để là chính mình, trong Chúa, là “Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14: 6). Ngài yêu chúng ta vì Ngài là Cha của chúng ta chứ không phải vì những công nghiệp mà chúng ta nghĩ mình đã làm được. Vì vậy, ta không cần gồng mình lên để giống bất cứ ai, nhưng: “nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5: 48). Dẫu sao, không nên chán nản trước những thiếu sót, vì Chúa không đòi hỏi sự hoàn hảo ngay tức khắc. Ngài chỉ cần mỗi người mở rộng tâm hồn để lòng thương xót của Ngài lấp đầy những thiếu sót của chúng ta. Khi ấy, ta sẽ bắt đầu sống bằng sức sống mới của Đấng Phục Sinh.
Carlo Acutis, vị thánh trẻ tuổi của thời đại kỹ thuật số, nhận xét rằng: “Tất cả mọi người sinh ra đều là những bản chính, nhưng nhiều người chết đi như những bản sao.”[3] Carlo không chạy theo xu hướng để được người khác công nhận, nhưng dành thời gian cho Thánh Thể và người nghèo. Đó là sống tự do và sống đúng phẩm giá trong Chúa. Khi ngừng so sánh hơn thua, chúng ta sẽ bắt đầu nhìn người khác bằng lòng yêu thương, trong Chúa, vì Chúa và nhờ Chúa. Thánh Gioan Thánh Giá căn dặn: “Đừng quá để tâm đến việc ai ủng hộ hay chống đối bạn, và hãy luôn cố gắng phó thác mọi sự cho Chúa. Hãy cầu xin Ngài cho ý muốn của Ngài được thực hiện trong cuộc đời bạn. Hãy yêu mến Ngài hết lòng, vì Ngài xứng đáng được yêu mến.”[4]
Sự Phục Sinh của Chúa Kitô không phải là sự kiện để chúng ta chiêm ngưỡng từ xa nhưng là thực tại cần được “nhập thể” vào đời sống, làm cho sự hiện diện của chúng ta giữa cuộc sống còn nhiều ganh ghét hơn thua, đầy đố kỵ tranh giành, trở nên chân thành, ấm áp, dịu dàng, như sự hiện diện của Đấng Phục Sinh (Ga 21:1-14).
Giữa sự lôi kéo của thói đời, Chúa Kitô Phục Sinh dạy chúng ta biết dừng lại để tìm ý Ngài, giải thoát chúng ta khỏi nỗi ám ảnh muốn sống theo dư luận, nhưng biết nhìn lên Chúa để có sức mạnh yêu thương mọi người. Với lòng trắc ẩn thấu cảm ấy, tâm trí chúng ta sẽ được Thánh Thần của Đấng Phục Sinh giúp loại bỏ đi những “tảng đá đóng kín” và mở lòng ra đón nhận nguồn Tình Yêu là chính Thiên Chúa Ba Ngôi. Như thế, Đấng Phục Sinh luôn sống lại trong từng giây phút của cuộc đời chúng ta.
Phêrô Phạm Văn Trung