Trang

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2026

BÀI GIẢNG ĐTC – CN 26 TN A

 

BÀI GIẢNG ĐỨC THÁNH CHA – CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN NĂM A

Đây là những bài giảng và huấn dụ của Đức Thánh Cha trong các thánh lễ và các buổi đọc kinh truyền tin với các tín hữu vào Chúa nhật 26 Thường niên năm A.

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 26 Thường niên năm A (01/10/2023) – Thiên Chúa yêu chúng ta vô điều kiện

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 26 Thường niên năm A (27/9/2020 ) – Vâng lời không phải bằng lời nói mà bằng hành động

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng Chúa nhật 26 Thường niên năm A (25/9/2011) – Đừng giữ đạo theo thói quen

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 26 Thường niên năm A (28/9/2008) – Cần biết khiêm tốn đón nhận hồng ân cứu chuộc

 

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 26 Thường niên năm A (01/10/2023) – Thiên Chúa yêu chúng ta vô điều kiện

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Tin Mừng Phụng vụ hôm nay trình bày cho chúng ta một dụ ngôn đáng ngạc nhiên: người chủ vườn nho đi ra từ sáng sớm đến chiều muộn để gọi một số người đi làm công cho ông, nhưng cuối cùng, ông trả lương cho mọi người như nhau, kể cả những người mới chỉ làm việc được một giờ (x. Mt 20.1-16). Có vẻ như một sự bất công, nhưng không nên đọc câu chuyện dụ ngôn qua tiêu chí tiền lương; đúng hơn, Chúa muốn chúng ta nhìn thấy những tiêu chuẩn của Thiên Chúa, Đấng không tính toán công trạng của chúng ta, nhưng yêu thương chúng ta như những người con.

Hãy nhìn vào hai hành động của Thiên Chúa trong câu chuyện. Đầu tiên, Thiên Chúa luôn đến để kêu gọi chúng ta; thứ hai, Người trả cho tất cả mọi người với cùng một “quan tiền”.

Trước hết, Thiên Chúa là Đấng luôn đến để kêu gọi chúng ta. Dụ ngôn kể rằng người chủ “vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm việc trong vườn nho của mình” (câu 1), nhưng sau đó tiếp tục đi ra vào nhiều giờ khác nhau trong ngày cho đến khi mặt trời lặn để tìm những người chưa có ai thuê làm việc. Do đó, chúng ta hiểu rằng trong dụ ngôn, những người làm công không chỉ là con người, mà trước hết là Thiên Chúa, Đấng luôn đi ra suốt ngày không mệt mỏi. Thiên Chúa là như vậy: Người không chờ đợi những cố gắng của chúng ta để đến với chúng ta, Người không làm cuộc khảo sát để đánh giá công trạng của chúng ta trước khi tìm kiếm chúng ta, Người không bỏ cuộc nếu chúng ta chậm đáp lại; thay vào đó, chính Người đã chủ động và trong Chúa Giêsu, Người “đi ra” hướng về phía chúng ta, để biểu lộ cho chúng ta thấy tình yêu của Người. Và như Thánh Grêgôriô Cả nói, Người tìm chúng ta vào mọi thời điểm trong ngày, vào các giai đoạn và mùa khác nhau của cuộc đời chúng ta cho đến tuổi già (x. Bài giảng Tin Mừng, 19). Đối với tình yêu của Người thì không bao giờ là quá muộn, Người tìm kiếm chúng ta và luôn chờ đợi chúng ta. Đừng quên điều này: Chúa tìm kiếm chúng ta và Người luôn đợi chúng ta, luôn luôn!

Chính vì tình yêu lớn như thế mà Chúa – với hành động thứ hai – trả cho tất cả mọi người với cùng một “quan tiền”, đó là tình yêu của Người. Đây là ý nghĩa sâu xa nhất của dụ ngôn: những người làm công vào giờ chót được trả lương như những người đầu tiên, vì trên thực tế, sự công bằng của Thiên Chúa thì cao hơn, xa hơn. Sự công bằng của con người nói rằng “hãy trả cho mỗi người những gì họ xứng đáng”, trong khi công bằng của Thiên Chúa không đo lường tình yêu dựa trên bậc thang hiệu quả của chúng ta, thành tích hay thất bại của chúng ta: Thiên Chúa yêu chúng ta và chỉ có thế, Người yêu chúng ta vì chúng ta là những người con, và Người làm điều đó với tình yêu vô điều kiện và vô vị lợi.

Anh chị em thân mến, đôi khi chúng ta có nguy cơ tương quan với Thiên Chúa kiểu “mua bán”, chú ý đến sự tài giỏi của chúng ta hơn là vào lòng quảng đại của ân sủng Người. Đôi khi, ngay cả với tư cách là Giáo hội, thay vì đi ra vào mọi giờ trong ngày và mở rộng vòng tay với mọi người, chúng ta có thể thấy mình đứng đầu lớp, xét đoán những người ở xa, mà không nghĩ rằng Thiên Chúa cũng yêu thương họ bằng tình yêu như Người yêu chúng ta. Và ngay cả trong các mối tương quan, vốn có trong các cơ cấu xã hội, công bằng mà chúng ta thực hành đôi khi không thể thoát ra khỏi cái lồng tính toán và chúng ta giới hạn việc cho đi theo những gì chúng ta nhận được, không dám đi xa hơn, không dám đặt cược hiệu quả dựa trên sự tốt lành vô vị lợi và tình yêu được trao ban với tấm lòng rộng mở. Anh chị em thân mến, chúng ta hãy tự hỏi: với tư cách là một Kitô hữu, tôi có biết cách đến với người khác không? Tôi có quảng đại với mọi người không, tôi có biết cách cho đi “nhiều hơn” về sự hiểu biết và tha thứ, như Chúa Giêsu làm cho tôi và làm tất cả mọi ngày cho tôi không?

Xin Đức Mẹ giúp chúng ta hoán cải theo thước đo của Thiên Chúa, bằng một tình yêu không thước đo.

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Đức Phanxicô, Huấn dụ Chúa nhật 26 Thường niên năm A (27/9/2020 ) – Vâng lời không phải bằng lời nói mà bằng hành động

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Với lời rao giảng về Nước Thiên Chúa, Chúa Giê-su phản đối một thứ tôn giáo không liên quan đến đời sống con người, không thách đố lương tâm và trách nhiệm của mình trước điều tốt và điều xấu. Ngài cũng cho thấy điều này qua dụ ngôn về hai người con trong Tin Mừng thánh Matthêu hôm nay (x. 21, 28-32). Theo lời mời của cha đi làm vườn nho, người con thứ nhất đã hấp tấp trả lời “không, con không đi”, nhưng sau đó ăn năn và đi; ngược lại, người thứ hai ngay lập tức trả lời “dạ, con đi”, nhưng thực tế lại không. Vâng lời không phải là lời nói “có” hoặc “không”, mà luôn luôn là hành động, làm trong vườn nho, trong việc nhận biết Nước Thiên Chúa. Với ví dụ đơn giản này, Chúa Giê-su muốn vượt lên một thứ tôn giáo chỉ tập trung vào thực hành bề ngoài và theo thói quen, không liên quan đến cuộc sống và thái độ của con người, một thứ tôn giáo bề nổi, chỉ “nghi lễ” theo nghĩa xấu của từ.

Những đại biểu cho tôn giáo “bề ngoài” này vào thời đó, mà Chúa Giê-su không tán thành, đó là “các thượng tế và kỳ mục trong dân” (c. 23), những người mà, theo lời khuyến cáo của Chúa, trong Nước Trời họ sẽ bị những người thu thuế và các cô gái điếm vượt mặt (xem c. 31). Chúa Giêsu nói với họ: “Những người thu thuế, nghĩa là những người tội lỗi, và các cô gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông”. Lời khẳng định này không được khiến chúng ta nghĩ rằng những người không tuân theo các điều răn của Thiên Chúa, và không theo luân lý đạo đức, là tốt, và nói rằng: “những người đi nhà thờ còn tệ hơn chúng tôi”. Không, đây không phải là lời dạy của Chúa Giêsu. Chúa Giê-su không có ý nói những người thu thuế và những cô gái điếm là mẫu mực, nhưng là “những người được đặc ân nhờ Ân Sủng”. Bởi vì sự hoán cải là một ân sủng. Một ân sủng mà Chúa ban cho những ai mở lòng ra và hoán cải trở về với Ngài. Thật vậy, những người này, khi nghe lời rao giảng, đã ăn năn và hoán cải đời sống. Hãy nghĩ đến thánh Matthêu chẳng hạn, một người thu thuế, kẻ phản bội dân tộc đã hoán cải.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, người để lại hình ảnh tốt nhất là người thứ nhất, không phải vì anh nói “không” với bố, nhưng vì sau khi nói “không” anh đã chuyển thành “có”, anh đã hối hận. Thiên Chúa kiên nhẫn với mỗi chúng ta: Ngài không mệt mỏi, không từ bỏ sau lời nói “không” của chúng ta; Ngài để chúng ta tự do, ngay cả quay lưng lại với Ngài và phạm sai lầm. Hãy nghĩ đến sự kiên nhẫn của Thiên Chúa tuyệt vời biết mấy! Chúa đã luôn chờ đợi chúng ta thế nào; luôn ở bên cạnh để giúp đỡ chúng ta; nhưng vẫn tôn trọng tự do của chúng ta. Và Ngài mong mỏi chờ đợi câu trả lời “có” của chúng ta, để chào đón chúng ta một lần nữa trong vòng tay phụ tử và lấp đầy chúng ta bằng lòng thương xót vô hạn của Ngài. Đức tin vào Thiên Chúa đòi hỏi phải đổi mới sự lựa chọn mỗi ngày của điều thiện trên điều ác, của sự thật trên sự dối trá, của tình yêu tha nhân trên sự ích kỷ. Ai hoán cải theo sự lựa chọn này, sau khi đã trải qua kinh nghiệm tội lỗi, sẽ tìm được những vị trí đầu tiên trong Nước Trời, nơi vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn hơn vì chín mươi chín người công chính (x. Lc 15,7).

Nhưng sự hoán cải, thay đổi con tim, là một quá trình, một quá trình thanh lọc chúng ta khỏi những vỏ bọc đạo đức. Và đôi khi, đó là một quá trình đau đớn, bởi vì không có con đường nào dẫn đến sự thánh thiện nếu không có một số từ bỏ và không có sự chiến đấu thiêng liêng. Chiến đấu cho điều thiện, chiến đấu để không rơi vào cám dỗ, làm những gì về phần mình chúng ta có thể, để sống trong bình an và niềm vui của các Mối Phúc. Bài Tin Mừng hôm nay đặt vấn đề về lối sống của người Kitô hữu, không phải được tạo nên từ những ước mơ và khát vọng cao đẹp, nhưng bằng những dấn thân cụ thể, để luôn mở lòng đón nhận thánh ý Chúa và yêu thương anh em mình. Nhưng điều này, ngay cả một dấn thân cụ thể nhỏ nhất, cũng không thể thực hiện được nếu không có ân sủng. Sự hoán cải là một ân sủng mà chúng ta phải luôn cầu xin: “Lạy Chúa, xin ban cho con ân sủng để con nên tốt hơn. Xin ban cho con ơn trở thành một Kitô hữu tốt”.

Xin Mẹ Maria Rất Thánh giúp chúng con ngoan nguỳ trước tác động của Chúa Thánh Thần. Ngài là Đấng làm tan chảy sự chai cứng của trái tim, để ăn năn, để có được sự sống và ơn cứu độ mà Chúa Giê-su đã hứa.

Nguồn: vaticannews.va/vi

 

Đức Bênêđictô XVI, Bài giảng Chúa nhật 26 Thường niên năm A (25/9/2011) – Đừng giữ đạo theo thói quen

(Tông du nước Đức)

Anh chị em thân mến,

Đối với tôi, thật là cảm động khi cử hành tại đây Thánh Lễ tạ ơn, với bao nhiêu người đến từ các miền của nước Đức và các nước láng giềng. Chúng ta hãy dâng lời cảm tạ trước tiên lên Thiên Chúa, trong Ngài chúng ta sống và cử động. Nhưng tôi cũng muốn cám ơn tất cả anh chị em vì đã cầu nguyện cho người kế vị thánh Phêrô để người có thể tiếp tục thi hành sứ vụ trong vui tươi và tín tưởng hy vọng, cũng như củng cố anh chị em trong đức tin.

“Thiên Chúa biểu lộ quyền năng nhất là qua lòng từ bi và tha thứ..”, đó là lời chúng ta tuyên xưng trong lời kinh tổng nguyện đầu lễ hôm nay. Trong bài đọc Một, chúng ta đã nghe Thiên Chúa biểu lộ quyền năng của lòng thương xót như thế nào trong lịch sử dân Israel. Trải nghiệm cuộc lưu đày Babylon đã khiến người dân rơi vào tình trạng khủng hoảng đức tin sâu sắc: Tại sao tai họa này lại xảy ra? Có lẽ Chúa không thực sự mạnh mẽ chút nào?

Có những nhà thần học, đứng trước bao nhiêu điều kinh khủng xảy ra trong thế giới ngày nay, họ nói rằng Thiên Chúa không thể là toàn năng. Phần chúng ta, đứng trước điều đó, chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng, Đấng Sáng tạo trời đất. Chúng ta vui mừng và biết ơn vì Chúa toàn năng. Nhưng đồng thời chúng ta cũng ý thức rằng Chúa thực thi quyền năng của ngài theo thể thức khác với cách thức con người thường làm. Chính Chúa đặt giới hạn cho quyền năng của ngài khi nhìn nhận tự do của các thụ tạo mà ngài dựng nên. Chúng ta vui mừng vì hồng ân tự do, nhưng khi chúng ta thấy những điều kinh khủng vì tự do của con người, chúng ta kinh hãi. Chúng ta hãy tín thác nơi Thiên Chúa, quyền năng của Chúa được biểu lộ nhất là qua lòng từ bi và tha thứ. Anh chị em tín hữu thân mến, chúng ta hãy tin chắc rằng: Thiên Chúa muốn cứu thoát dân ngài. Ngài muốn cứu độ chúng ta. Luôn luôn và nhất là trong thời kỳ nguy hiểm, có những thay đổi toàn diện, Chúa gần gũi chúng ta, con tim của Chúa cảm động vì chúng ta, ngài cúi mình trên chúng ta. Chúng ta cần mở lòng ra với Ngài để sức mạnh lòng thương xót của Ngài có thể chạm đến trái tim chúng ta. Chúng ta phải sẵn sàng tự do từ bỏ sự ác, đứng dậy khỏi sự thờ ơ và tạo không gian cho lời của Ngài. Thiên Chúa tôn trọng sự tự do của chúng ta. Ngài không ràng buộc chúng ta. Ngài đang đợi chúng ta nói “có”, Ngài đang như thể cầu xin chúng ta nói “có”.

Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đề cập đến chủ đề cơ bản này qua lời rao giảng mang tính tiên tri. Ngài kể lại dụ ngôn hai người con được người cha mời đi làm việc trong vườn nho. Người con thứ đáp: “‘Tôi sẽ không đi’, nhưng sau đó hối hận và đi”. Người con thứ hai nói với người cha: “Thưa cha, con đi, nhưng lại không đi”. Khi Chúa Giêsu hỏi ai trong hai người con đã làm theo ý Cha, những người nghe đã trả lời đúng: “người con đầu tiên” (Mt 21:29-31). Sứ điệp của dụ ngôn thật là rõ: lời nói chẳng đáng kể gì, nhưng chỉ hành động, sự hoán cải và tin tưởng mới đáng kể. Chúa Giêsu gửi sứ điệp này cho các thượng tế và các kỳ mục trong dân, nghĩa là những chuyên gia về tôn giáo trong dân Israel. Thoạt đầu họ thưa xin vâng thánh ý Chúa. Nhưng rồi lòng đạo đức của họ trở thành thói quen, và họ chẳng còn quan tâm đến Thiên Chúa nữa. Vì thế, họ coi sứ điệp của Gioan Tẩy Giả và sứ điệp của Chúa Giêsu là điều làm cho họ khó chịu. Và Chúa kết luận dụ ngôn với những lời quyết liệt: “Những người thu thuế và mại dâm sẽ vào nước Chúa trước các ngươi..”. Nói theo ngôn ngữ thời nay, câu đó hơn kém có nghĩa là ”những người không biết Chúa, nhưng họ vẫn thao thức băn khoăn tìm Chúa; những người đau khổ vì tội lỗi chúng ta và ước muốn một con tim thanh sạch, họ gần nước Thiên Chúa hơn những tín hữu theo thói quen, những người từ nay chỉ nhìn thấy trong Giáo hội như một guồng máy, mà con tim của họ không được đức tin đánh động.

Lời Chúa Giêsu phải làm cho chúng ta suy nghĩ, đánh động chúng ta. Nhưng điều này không có nghĩa là tất cả những người sống trong Giáo hội và làm việc cho Giáo Hội bị coi là xa lạ với Chúa Giêsu và Nước Chúa. Không, tuyệt đối là không. Đúng hơn, đây là lúc phải chân thành nồng nhiệt cám ơn bao nhiêu nhân viên cộng tác và những người thiện nguyện, nếu không có họ thì đời sống trong các giáo xứ và trong toàn thể Giáo Hội không thể tiến hành được. Giáo Hội Công Giáo tại Đức có nhiều tổ chức xã hội và bác ái trong đó tình bác ái đối với tha nhân được thực thi theo thể thức hữu hiệu về mặt xã hội, cho đến tận bờ cõi trái đất. Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn và quí chuộng đối với tất cả những người dấn thân trong tổ chức Caritas Đức, hoặc trong các tổ chức khác, hoặc quảng đại dành thời giờ, sức lực để thi hành các công tác thiện nguyện trong xã hội. Việc phục vụ này trước tiên đòi phải có khả năng khách quan và chuyên nghiệp. Nhưng trong tinh thần giáo huấn của Chúa Giêsu, cần có cái gì hơn nữa: cần có con tim mở rộng, để cho tình yêu Chúa Kitô đánh động, và qua đó mang lại cho tha nhân đang cần chúng ta, không phải một sự phục vụ chuyên môn mà thôi, nhưng cả tình yêu trong đó Thiên Chúa Đấng yêu thương, Chúa Kitô trở nên hữu hình đối với tha nhân. Vì thế, chúng ta hãy tự hỏi: đâu là quan hệ bản thân của tôi với Thiên Chúa, trong kinh nguyện, trong việc tham dự thánh lễ Chúa nhật, trong việc đào sâu đức tin nhờ suy niệm Kinh Thánh và học Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo? Các bạn thân mến, xét cho cùng, việc canh tân Giáo Hội chỉ có thể thực hiện được qua sự sẵn sàng hoán cải và nhờ một niềm tin được đổi mới.

Tin Mừng Chúa Nhật tuần này, như chúng ta đã thấy, nói về hai người con, nhưng đằng sau họ, một cách huyền nhiệm, là người con thứ ba. Người con cả nói “không” nhưng sau đó thì làm theo ý người cha. Người con thứ hai nói “có” nhưng sau đó thì không làm theo yêu cầu của cha. Người con thứ ba là người nói “có” và làm theo những gì được cha yêu cầu. Người con thứ ba này là Con Một của Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã quy tụ tất cả chúng ta ở đây. Chúa Giêsu, khi bước vào thế gian, đã nói: “Lạy Thiên Chúa, con đến để làm theo ý Chúa” (Dt 10:7). Ngài không chỉ nói “có”, mà còn hành động theo tiếng “có” đó, và Ngài đã chịu đựng điều đó, thậm chí cho đến chết trên Thập Giá. Như bài thánh ca Kitô học trong bài đọc thứ hai nói: “Người [Chúa Giêsu] tuy là thân phận Thiên Chúa, đã không nghĩ phải dành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người huỷ bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người với cách thức bề ngoài như một người phàm. Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá.” (Pl 2: 6-8). Trong sự khiêm tốn và vâng phục, Chúa Giêsu đã chu toàn thánh ý Chúa Cha, đã chịu chết trên thập giá vì anh chị em mình và đã cứu chuộc chúng ta khỏi sự kiêu hãnh và ngoan cố. Chúng ta hãy cảm tạ Người vì sự hy sinh và uốn gối trước danh Chúa và cùng với các môn đệ thế hệ đầu tiên của Chúa tuyên xưng rằng: ”Đức Giêsu Kitô là Chúa - xin tôn vinh Thiên Chúa Cha” (Pl 2,11).

Đời sống Kitô hữu phải liên tục được đo lường bởi Chúa Kitô: “Anh em hãy cảm nghĩ trong anh em điều đã có trong Ðức Giêsu Kitô.” (Pl 2:5), như Thánh Phaolô nói trong phần mở đầu bài thánh ca Kitô học. Và một vài câu trước đó, ngài khuyến khích chúng ta: “Nếu có sự an ủi nào trong Ðức Kitô, nếu có sự khích lệ nào trong đức mến, nếu có sự hiệp nhất nào trong Thánh Thần, nếu có lòng thương xót nào, thì anh em hãy làm cho tôi được trọn niềm hân hoan, để anh em hưởng cùng một niềm vui, được cùng chung một lòng mến, được đồng tâm nhất trí với nhau” (Pl 2:1-2). Như Chúa Kitô đã hoàn toàn hiệp nhất với Chúa Cha và vâng phục Ngài thế nào, các môn đệ cũng phải vâng phục Thiên Chúa và đồng lòng với nhau như vậy. Anh chị em thân mến, cùng với thánh Phaolô, tôi dám nhắn nhủ anh chị em rằng: anh chị em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn bằng cách kiên vững đoàn kết trong Chúa Kitô! Giáo hội tại Đức sẽ vượt thắng những thách đố lớn của hiện tại và tương lai, và sẽ tiếp tục là men trong xã hội nếu các LM, những người thánh hiến và tín hữu giáo dân của Chúa Kitô cộng tác trong sự đoàn kết, trong niềm trung thành với ơn gọi của mình; nếu các giáo xứ, các cộng đoàn và các phong trào nâng đỡ và làm cho nhau được phong phú; nếu các tín hữu đã chịu phép rửa và phép thêm sức, hiệp nhất với Đức Giám mục, giơ cao ngọn đuốc đức tin không bị biến thái và để cho kiến thức phong phú và khả năng của mình được soi sáng. Giáo hội tại Đức sẽ tiếp tục là một phúc lành cho cộng đoàn Công giáo thế giới, nếu tiếp tục trung thành hiệp nhất với các Đấng Kế Vị Thánh Phêrô và các Tông Đồ, nếu quan tâm cộng tác bằng nhiều cách với các nước thuộc miền truyền giáo và để cho mình được lây niềm vui đức tin của các Giáo Hội trẻ.

Ngoài lời kêu gọi hiệp nhất, Thánh Phaolô còn thêm lời kêu gọi khiêm nhường: “Chớ làm điều gì bởi ý cạnh tranh hay bởi tìm hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi kẻ khác vượt trổi hơn mình, mỗi người đừng chỉ nghĩ đến những sự thuộc về mình, nhưng hãy nghĩ đến những sự thuộc về kẻ khác.” (Pl 2,3-4). Đời sống Kitô hữu là cuộc sống vì người khác: hiện hữu vì người khác, khiêm tốn phục vụ người lân cận và công ích. Anh chị em thân mến, khiêm tốn là một nhân đức ngày nay không được người ta quí trọng lắm. Nhưng các môn đệ của Chúa biết rằng nhân đức này có thể nói là dầu làm tiến trình đối thoại được phong phú, làm cho sự cộng tác được dễ dàng và sự hiệp nhất có tính chất thành tâm. Trong tiếng la tinh, khiêm nhường là Humilitas, có liên hệ tới humus, nghĩa làm gắn liền với đất, với thực tại. Những người khiêm tốn đứng bằng cả hai chân trên mặt đất. Nhưng nhất là họ lắng nghe Chúa Kitô là Lời của Thiên Chúa, Lời này không ngừng canh tân Giáo Hội và mọi phần tử của Giáo Hội.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa ơn can đảm và khiêm tốn tiến bước trên con đường đức tin, kín múc nơi lòng từ bi phong phú của Chúa và luôn hướng nhìn về Chúa Kitô là Lời đổi mới mọi sự, là “Đường, là Sự Thật và là sự Sống” cho chúng ta (Ga 14,6), là tương lai của chúng ta. Amen.

Nguồn: archivioradiovaticana.va

 

Đức Bênêđictô XVI, Huấn dụ Chúa nhật 26 Thường niên năm A (28/9/2008) – Cần biết khiêm tốn đón nhận hồng ân cứu chuộc

Anh chị em thân mến

Hôm nay phụng vụ trình bày cho chúng ta dụ ngôn về hai người con được cha mời vào làm việc trong vườn nho của mình. Một anh lập tức trả lời “dạ vâng” nhưng rồi không đi; anh kia thì lúc đầu từ chối, nhưng sau đó nghĩ lại và làm theo ý muốn của cha. Với dụ ngôn này, Chúa Giêsu muốn bày tỏ lòng quý mến đối với những tội nhân biết hoán cải, và Chúa dạy chúng ta hãy biết khiêm tốn đón nhận hồng ân cứu rỗi. Thánh Phaolô trong đoạn văn trích từ lá thư gửi các tín hữu Philippê mà chúng ta nghe hôm nay, cũng khuyên chúng ta hãy khiêm tốn. Người viết: “Anh em đừng làm điều gì vì cạnh tranh hoặc ham hố danh giá, nhưng với tâm tình khiêm tốn mỗi người hãy coi người khác hơn mình” Pl 2,3). Đó là những tâm tình của Chúa Kitô, vì chúng ta mà Người đã từ bỏ vinh quang thần linh, trở nên người phàm và hạ mình cho đến chết trên khổ giá (xc Pl 2,5-8). Động từ được sử dụng trong nguyên bản Hy-lạp ekenôsen theo nghĩa đen là khoét rỗng chính mình, và làm sáng tỏ sự khiêm tốn sâu xa và tình thương vô hạn của Chúa Giêsu, người tôi tớ khiêm tốn hơn ai hết.

Khi suy nghĩ nhưng bản văn của Kinh thánh, tôi liền nghĩ đến đức giáo hoàng Gioan Phaolô I, hôm nay giỗ 30 năm ngày băng hà. Khi được chọn làm giám mục, Người đã chọn khẩu hiệu giống như thánh Carlô Borromeo Humilitas (Khiêm tốn), một lời tóm tắt cốt yếu của đời sống Kitô hữu và chỉ dẫn nhân đức tất yếu của những kẻ trong Giáo hội được kêu vào việc phục vụ của quyền bính. Trong một trong số bốn bài tiếp kiến chung, Người đã nói thế này: “Tôi chỉ xin giới thiệu một nhân đức, nhân đức rất được Chúa Giêsu ưa thích, bởi vì Chúa nói: các con hãy học tôi là kẻ hiền lành và khiêm tốn … Nếu anh em có làm được việc gì vĩ đại, thì hãy nói: chúng tôi chỉ là những tôi tớ vô dụng”. Và Người nhận xét: “Khuynh hướng thường tình nơi tất cả chúng ta thì ngược lại: cứ thích khoe cho mọi người biết đến”. Nhân đức khiêm tốn có thể coi như là di chúc tinh thần của Người.

Nhờ nhân đức khiêm tốn này mà chỉ cần 33 ngày để đức thánh cha Gioan Phaolô II đi vào con tim của quần chúng. Trong các bài diễn từ, Người dụng những thí dụ rút ra từ cuộc sống thưòng ngày, từ những kỷ niệm gia đình và từ túi khôn bình dân. Tính đơn giản đã vận chuyển một giáo huấn vững chắc và phong phú, cộng thêm trí nhớ đặc biệt và học thức quảng bác, Người đã trích dẫn rất nhiều văn hào đạo cũng như đời. Ngưòi đã trở thành một giảng viên giáo lý tuyệt vời, theo gót thánh Piô X, ngưòi đồng hương và tiền nhiệm trong chức vụ thượng phụ Venezia và kế vị thánh Phêrô. Trong bài huấn từ vừa trưng dẫn, Người nói tiếp: “Chúng ta hãy tự nhận mình bé nhỏ trước mặt Thiên Chúa. Tôi không ngại cảm thấy mình như đứa bé ở trước mặt mẹ của mình: em tin tưởng vào mẹ, tôi tin tưởng vào Thiên Chúa, tin vào điều Chúa đã mặc khải”. Những lời này đã nói lên tất cả bề sâu của lòng tin của Người. Chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa vì đã ban tặng Người cho Giáo hội và thế giới, đồng thời chúng ta hãy duy trì tấm gương của Người, quyết tâm vun trồng nhân đức khiêm tốn, đã giúp cho Người có khả năng gặp gỡ hết mọi người, đặc biệt là các em bé và những kẻ được coi như xa lạ. Chúng ta hãy cầu xin Đức Maria, nữ tì khiêm tốn của Thiên Chúa, cầu cho chúng ta được ơn đó.

Nguồn: archivioradiovaticana.va

GIÁO LÝ CHO BÀI GIẢNG CN 26 TN A

 

GIÁO LÝ CHO BÀI GIẢNG CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN NĂM A

WHĐ (29/9/2023) - Để hỗ trợ các nhà giảng thuyết thuận tiện hơn trong việc thêm giáo lý vào bài giảng, Ban Biên tập xin được trích dẫn những điểm giáo lý phù hợp với các bài đọc Kinh thánh của Chúa nhật 26 Thường niên năm A theo hướng dẫn của Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích trong Tập sách Hướng dẫn giảng thuyết được công bố qua Sắc lệnh ký ngày 29.06.2014.

Số 1807: Người công chính được nhận biết qua việc cư xử ngay thẳng thường xuyên đối với người khác

Số 2842: Chỉ có Chúa Thánh Thần mới có thể ban cho chúng ta những tâm tình như Đức Kitô Giêsu đã có

Số 1928-1930, 2425-2426: Bổn phận công bằng xã hội

Số 446-461: Quyền chủ tể của Đức Kitô

Số 2822-2827: "Ý Cha thể hiện"

Bài Ðọc I: Ed 18, 25-28

Bài Ðọc II: Pl 2, 1-5 {hoặc 1-11}

Phúc Âm: Mt 21, 28-32

 

Số 1807: Người công chính được nhận biết qua việc cư xử ngay thẳng thường xuyên đối với người khác

1807. Công bằng là nhân đức luân lý cốt tại một ý chí liên lỉ và vững chắc, quyết tâm trả lại những gì mình mắc nợ với Thiên Chúa và với người lân cận. Công bằng đối với Thiên Chúa được gọi là “nhân đức thờ phượng”. Đối với người ta, công bằng là tôn trọng quyền lợi của mỗi người và thiết lập sự hài hòa trong các tương quan nhân loại, sự hài hòa này đưa tới việc không thiên vị đối với các nhân vị và đối với công ích. Người công bằng, thường được nhắc đến trong Thánh Kinh, có nét đặc biệt là sự ngay thẳng thường xuyên trong các ý nghĩ của mình và ngay thẳng trong cách hành động đối với người lân cận. “Ngươi không được thiên vị người yếu thế, cũng không được nể mặt người quyền quý, nhưng hãy xét xử công minh cho người đồng bào” (Lv 19,15). “Người làm chủ hãy đối xử công bằng và đồng đều với các nô lệ, vì biết rằng cả anh em nữa cũng có một Chủ ở trên trời” (Cl 4,1).

 

Số 2842: Chỉ có Chúa Thánh Thần mới có thể ban cho chúng ta những tâm tình như Đức Kitô Giêsu đã có

2842. Từ “như” ở đây không phải là trường hợp duy nhất trong giáo huấn của Chúa Giêsu: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5,48); “Anh em hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ” (Lc 6,36); “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Chúng ta không thể tuân giữ điều răn của Chúa, nếu chỉ bắt chước mẫu gương của Chúa theo dáng vẻ bên ngoài. Vấn đề ở đây là phải tham dự một cách sống động và “tận đáy lòng” vào sự thánh thiện, vào lòng thương xót, vào tình yêu của Thiên Chúa chúng ta. Chỉ có Thần Khí, “nhờ Ngài mà chúng ta sống” (Gl 5,25), mới có thể làm cho chúng ta có được những tâm tình như Đức Kitô Giêsu đã có [1] . Lúc đó hai việc tha thứ có thể trở nên một, nghĩa là, “biết tha thứ cho nhau như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Ep 4,32).

 

Số 1928-1930, 2425-2426: Bổn phận công bằng xã hội

1928. Xã hội bảo đảm công bằng xã hội, khi tạo điều kiện để các đoàn thể và mỗi cá nhân có được những gì họ có quyền hưởng theo bản tính và ơn gọi của họ. Công bằng xã hội được liên kết với công ích và với việc thực thi quyền bính.

TÔN TRỌNG NHÂN VỊ

1929. Không thể có công bằng xã hội, nếu không có sự tôn trọng phẩm giá siêu việt của con người. Nhân vị là mục đích tối hậu của xã hội, vì xã hội được quy hướng về nhân vị:

“Việc bảo vệ và thăng tiến phẩm giá của nhân vị được Đấng Tạo Hóa uỷ thác cho chúng ta, và bất cứ ở thời đại nào trong lịch sử, các người nam và người nữ đều mắc nợ về điều đó, vì nhiệm vụ đã lãnh nhận” [2] .

1930. Sự tôn trọng nhân vị bao hàm việc tôn trọng các quyền phát xuất từ phẩm giá của nhân vị, xét như một thụ tạo. Các quyền đó có trước xã hội và được ấn định cho xã hội. Các quyền đó đặt nền cho tính hợp pháp về mặt luân lý của mọi quyền bính: khi khinh miệt hay phủ nhận các quyền đó trong luật thiết định của mình, là xã hội phá huỷ tính hợp pháp về mặt luân lý của chính mình [3] . Không có sự tôn trọng như vậy, quyền bính chỉ có thể dựa trên sức mạnh hay bạo lực, để bắt buộc những người dưới quyền mình phải tuân phục. Hội Thánh có bổn phận nhắc nhở những người thiện chí về những quyền này và phân biệt chúng với những yêu sách thái quá hoặc sai lầm.

2425. Hội Thánh chấp nhận các ý thức hệ chuyên chế và vô thần, trong thời đại ngày nay, được nối kết với mọi hình thái chuyên chế độc tài. Đàng khác, Hội Thánh cũng phi bác chủ nghĩa cá nhân trong việc thực hành của “Chủ nghĩa tư bản” và việc cho luật thị trường là tối thượng trên lao động của con người [4] . Việc điều hành kinh tế chỉ dựa trên kế hoạch tập trung làm băng hoại tận nền tảng các mối dây liên kết xã hội; việc điều hành kinh tế chỉ theo luật thị trường xúc phạm đến sự công bằng xã hội, “bởi vì có những đòi hỏi của con người không thể thoả mãn được nhờ thị trường” [5] . Phải ủng hộ sự điều hành hợp lý đối với thị trường và các sáng kiến kinh tế, theo một bậc thang giá trị đúng đắn và nhằm vào công ích.

HOẠT ĐỘNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

2426. Việc phát triển các hoạt động kinh tế và sự gia tăng sản xuất nhằm phục vụ các nhu cầu của con người. Đời sống kinh tế không chỉ nhằm để làm ra nhiều sản phẩm, gia tăng lợi nhuận hoặc quyền lực; nhưng trước tiên nó nhắm tới việc phục vụ các nhân vị, con người toàn diện và toàn thể cộng đồng nhân loại. Hoạt động kinh tế phải được hướng dẫn theo những phương pháp và luật lệ riêng, phải được thực thi trong các giới hạn của trật tự luân lý, theo sự công bằng xã hội, để phù hợp với kế hoạch của Thiên Chúa về con người [6] .

 

Số 446-461: Quyền chủ tể của Đức Kitô

446. Trong bản dịch các sách Cựu ước ra tiếng Hy lạp, YHWH, danh không thể xưng mà Thiên Chúa dùng để tự mạc khải cho ông Môisen [7] , được dịch là Kyrios (“Chúa”). Từ đó, tước hiệu “Chúa” trở thành danh xưng thông dụng nhất để nói lên chính thần tính của Thiên Chúa Israel. Tân Ước dùng tước hiệu “Chúa”, theo nghĩa mạnh như trên, cho Chúa Cha, và đồng thời, và đây là điều mới mẻ, cũng dùng cho Chúa Giêsu, qua đó nhìn nhận Người chính là Thiên Chúa [8] .

447. Chính Chúa Giêsu nhận tước hiệu ấy cho mình một cách mặc nhiên khi tranh luận với các người Pharisêu về ý nghĩa thánh vịnh 110 [9] , nhưng khi nói chuyện với các Tông Đồ thì Người nhận một cách minh nhiên [10] . Trong suốt cuộc đời công khai của Người, những cử chỉ thống trị của Chúa Giêsu trên thiên nhiên, trên bệnh tật, trên ma quỷ, trên sự chết và tội lỗi, chứng tỏ Người có quyền tối thượng của Thiên Chúa.

448. Trong các sách Tin Mừng, khi thưa chuyện với Chúa Giêsu, người ta rất thường gọi Người là “Chúa”. Tước hiệu này cho thấy lòng tôn kính và tin tưởng của những người đến với Chúa Giêsu và mong đợi Người cứu giúp và chữa lành [11] . Dưới tác động của Chúa Thánh Thần, khi thưa như vậy, người ta nhìn nhận mầu nhiệm thần linh của Chúa Giêsu [12] . Khi gặp gỡ Chúa Giêsu Phục sinh, việc gọi tước hiệu ấy trở thành việc thờ lạy: “Lạy Chúa của con! lạy Thiên Chúa của con!” (Ga 20,28). Lúc đó, việc gọi Người như vậy còn mang ý nghĩa kính yêu và thân ái, là điểm riêng của truyền thống Kitô giáo: “Chúa đó!” (Ga 21,7).

449. Khi dành cho Chúa Giêsu tước hiệu thần linh là “Chúa”, những lời tuyên xưng đức tin tiên khởi của Hội Thánh xác quyết ngay từ đầu [13] rằng quyền năng, danh dự và vinh quang thuộc về Chúa Cha cũng thuộc về Chúa Giêsu [14] , bởi vì Người “vốn dĩ là Thiên Chúa” (Pl 2,6), và bởi vì Chúa Cha đã làm tỏ hiện quyền chủ tể này của Chúa Giêsu khi cho Người sống lại từ cõi chết và tôn dương Người trong vinh quang của Ngài [15] .

450. Ngay từ đầu lịch sử Kitô giáo, việc xác quyết quyền chủ tể của Chúa Giêsu trên trần gian và trên lịch sử [16] cũng có nghĩa là nhìn nhận rằng, con người không được để cho tự do cá nhân của mình suy phục một cách tuyệt đối bất cứ quyền bính trần thế nào, nhưng chỉ suy phục một mình Thiên Chúa là Cha và Chúa Giêsu Kitô: Hoàng đế Cêsar không phải là “Chúa” [17] . Hội Thánh “tin rằng mình gặp được chìa khóa, trung tâm và cứu cánh của toàn thể lịch sử nhân loại nơi Chúa và Thầy của mình” [18] .

451. Kinh nguyện Kitô giáo được ghi dấu bằng tước hiệu “Chúa”, dù là lời mời gọi cầu nguyện “Chúa ở cùng anh chị em”, dù là câu kết thúc lời nguyện: “Nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng con”, hay cả trong tiếng kêu đầy tin tưởng và hy vọng “Maran atha” (“Chúa đến!”) hoặc “Marana tha” (“Lạy Chúa, xin ngự đến!”) (l Cr l6,22). “Amen. Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22,20).

452. Thánh Danh Giêsu có nghĩa là “Thiên Chúa Cứu Độ”. Hài nhi sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria được gọi là “Giêsu”: “Vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). “Dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12).

453. Danh hiệu “Kitô” có nghĩa là “Đấng được xức dầu”, “Đấng Messia”. Chúa Giêsu là Đấng Kitô bởi vì “Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người” (Cv 10,38). Người là “Đấng phải đến” (Lc 7,19), là đối tượng của niềm hy vọng của Israel [19] .

454. Danh hiệu “Con Thiên Chúa” nói lên mối tương quan duy nhất và vĩnh cửu của Chúa Giêsu Kitô với Thiên Chúa, Cha của Người. Người là Con Một của Chúa Cha [20] và là chính Thiên Chúa [21] . Ai muốn trở thành Kitô hữu, người ấy nhất thiết phải tin rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa [22] .

455. Danh hiệu “Chúa” nói lên quyền tối thượng của Thiên Chúa. Tuyên xưng hay kêu cầu Chúa Giêsu là Chúa, là tin vào thần tính của Người. “Không ai có thể nói rằng: ‘Đức Giêsu là Chúa’, nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1 Cr 12,3).

TẠI SAO NGÔI LỜI LÀM NGƯỜI?

456. Cùng với Tín biểu Nicêa-Constantinôpôli, chúng ta tuyên xưng: “Vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta, Người đã từ trời xuống thế. Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria và đã làm người” [23] .

457. Ngôi Lời đã làm người để cứu độ chúng ta, bằng cách giao hòa chúng ta với Thiên Chúa: Thiên Chúa “đã yêu thương chúng ta và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1 Ga 4,10). “Chúa Cha đã sai Con của Ngài đến làm Đấng cứu độ thế gian” (1 Ga 4,14). “Chúa Giêsu đã xuất hiện để xoá bỏ tội lỗi” (1 Ga 3,5):

“Bản tính chúng ta vì bệnh tật nên cần được chữa lành, vì sa ngã nên cần được nâng dậy, vì đã chết nên cần được phục sinh. Chúng ta đã đánh mất việc thông phần vào sự thiện, nên cần được dẫn trở về sự thiện. Chúng ta bị vây hãm trong bóng tối, nên cần đến ánh sáng. Chúng ta bị tù đầy nên mong người cứu chuộc; bị thua trận, nen cần người trợ giúp, bị áp bức dưới ách nô lệ nên chờ người giải phóng. Đó lại là những lý do nhỏ bé và không xứng đáng để làm cho Thiên Chúa động lòng hay sao? Những lý do ấy không đủ để Thiên Chúa xuống viếng thăm bản tính nhân loại, trong lúc nhân loại đang ở trong tình trạng khốn cùng và bất hạnh hay sao?” [24]

458. Ngôi Lời đã làm người để chúng ta nhận biết tình yêu của Thiên Chúa: “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Ngài mà chúng ta được sống” (l Ga 4,9). “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).

459. Ngôi Lời đã làm người để trở thành gương mẫu thánh thiện cho chúng ta. “Anh em hãy mang lấy ách của tôi và hãy học với tôi…” (Mt 11,29). “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga l4,6). Và trên núi Hiển Dung, Chúa Cha đã truyền: “Hãy vâng nghe lời Người” (Mc 9,7) [25] . Người đúng là gương mẫu của các mối phúc thật và là chuẩn mực của Luật mới: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Tình yêu này đòi hỏi người ta thật sự hiến thân để đi theo Người [26] .

460. Ngôi Lời đã làm người để làm cho chúng ta được “thông phần bản tính Thiên Chúa” (2 Pr l,4). “Chính vì điều này mà Ngôi Lời của Thiên Chúa làm người, Đấng là Con Thiên Chúa trở nên Con Người, đó là để cho loài người, khi kết hợp với Ngôi Lời của Thiên Chúa và nhận quyền làm nghĩa tử, thì được trở nên con cái Thiên Chúa” [27] . “Chính Người đã làm người, để chúng ta được trở thành những vị thần” [28] . “Con Một Thiên Chúa, bởi muốn cho chúng ta được tham dự vào thần tính của Người, nên đã mang lấy bản tính của chúng ta, để Đấng đã làm người, làm cho người ta trở thành những vị thần” [29] .

 

Số 2822-2827: "Ý Cha thể hiện"

2822. Ý muốn của Cha chúng ta là “mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý” (1 Tm 2,3-4). Ngài “kiên nhẫn… vì Ngài không muốn cho ai phải diệt vong” (2 Pr 3,9) [30] . Mệnh lệnh của Ngài, gồm tóm mọi mệnh lệnh khác, và diễn tả tất cả ý muốn của Ngài, là chúng ta hãy yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương chúng ta [31] .

2823. Thiên Chúa “cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu: thiên ý này là kế hoạch yêu thương Ngài đã định từ trước … là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô. Cũng trong Đức Kitô, Thiên Chúa là Đấng làm nên mọi sự theo quyết định và ý muốn của Ngài, đã tiền định cho chúng ta đây làm cơ nghiệp riêng theo kế hoạch của Ngài” (Ep 1,9-11). Vì thế chúng ta tha thiết cầu xin để kế hoạch lân tuất này được thực hiện trọn vẹn dưới đất, như đã được thực hiện trên trời.

2824. Ý Cha được thực hiện một cách tuyệt hảo và một lần cho mãi mãi, trong Đức Kitô, và qua ý chí nhân loại của Người. Khi vào trần gian, Chúa Giêsu đã nói: “Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10,7) [32] . Chỉ mình Chúa Giêsu mới có thể nói: “Tôi hằng làm những điều đẹp ý Ngài” (Ga 8,29). Khi cầu nguyện trong cơn hấp hối, Người hoàn toàn vâng phục ý Cha: “Xin đừng cho ý con thể hiện, mà là ý Cha” (Lc 22,42) [33] . Vì vậy, Chúa Giêsu “đã tự hiến vì tội lỗi chúng ta, theo ý muốn của Thiên Chúa” (Gl 1,4). “Theo ý đó, chúng ta được thánh hóa nhờ Chúa Giêsu Kitô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế” (Dt 10,10).

2825. Chúa Giêsu, “dầu là Con Thiên Chúa, đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5,8), phương chi chúng ta, là những thụ tạo và là tội nhân, đã được nhận làm nghĩa tử trong Người. Chúng ta cầu xin Chúa Cha cho ý muốn của chúng ta được kết hợp với ý muốn của Con Ngài, để chu toàn thánh ý của Cha, là kế hoạch cứu độ hầu cho trần gian được sống. Trong công việc này, chúng ta hoàn toàn bất lực, nhưng nhờ kết hợp với Chúa Giêsu và nhờ quyền năng Thánh Thần của Ngài, chúng ta có thể phó dâng cho Chúa Cha ý muốn của chúng ta và quyết định chọn điều Con Ngài luôn luôn chọn: đó là làm điều đẹp lòng Cha [34] .

“Khi gắn bó với Đức Kitô, chúng ta có thể nên một lòng trí với Người, và nhờ đó thực thi ý muốn của Người để, ý Chúa đã nên trọn trên trời thế nào, thì cũng được thể hiện dưới đất như vậy” [35] .

“Hãy xem Chúa Giêsu Kitô dạy chúng ta sống khiêm tốn như thế nào, khi Người cho chúng ta thấy rằng nhân đức của chúng ta không chỉ tùy thuộc công sức của mình nhưng còn nhờ ân sủng từ trên cao. Ngoài ra, Người ra lệnh cho mỗi người chúng ta khi cầu nguyện, phải quan tâm đến toàn thế giới. Vì Người không dạy: ‘Xin cho ý Cha thể hiện’ nơi tôi hay nơi anh em, nhưng nói chung là ở mọi nơi ‘dưới đất’, để sai lầm bị loại bỏ và chân lý được gieo trồng, để thói xấu bị hủy diệt, nhân đức được nảy nở, và như vậy ‘dưới đất’ không còn gì khác với ‘trên trời’ nữa” [36] .

2826. Nhờ cầu nguyện, chúng ta có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa [37] , và kiên nhẫn để thi hành ý Ngài [38] . Chúa Giêsu dạy chúng ta vào Nước Trời, không phải bằng lời lẽ, nhưng bằng việc thi hành “ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời” (Mt 7,21).

2827. “Ai làm theo ý Thiên Chúa, thì Ngài nhậm lời kẻ ấy” (Ga 9,31) [39] . Lời cầu nguyện của Hội Thánh đạt được quyền năng như thế là vì được thực hiện trong Danh Thánh của Chúa Giêsu, nhất là trong Thánh Lễ, và nhờ lời chuyển cầu hiệp thông với Mẹ Thiên Chúa [40] , và với toàn thể các Thánh, là những vị “làm đẹp lòng” Chúa, bởi vì các vị đó đã không muốn điều gì khác ngoài thánh ý Ngài:

“‘Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời’, chúng ta có thể diễn tả mà không sợ sai như sau: Ý Cha thể hiện trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con thế nào, thì trong Hội Thánh cũng như vậy; như trong Phu Quân đã chu toàn thánh ý của Cha thế nào, thì trong Hiền Thê đã kết ước với Người cũng như vậy” [41] .

 

Bài Ðọc I: Ed 18, 25-28

"Nếu kẻ gian ác bỏ đàng gian ác nó đã đi, nó sẽ được sống".

Trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Ðây Chúa phán: "Các ngươi đã nói rằng: "Ðường lối của Chúa không chính trực". Vậy hỡi nhà Israel, hãy nghe đây: Có phải đường lối của Ta không chính trực ư? Hay trái lại đường lối của các ngươi không chính trực? Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính và phạm tội ác, nó phải chết, chính vì tội ác nó phạm mà nó phải chết. Nếu kẻ gian ác bỏ đàng gian ác nó đã đi, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ được sống. Nếu nó suy nghĩ và từ bỏ mọi tội ác nó đã phạm, nó sẽ sống chớ không phải chết".

Ðó là lời Chúa.

 

Ðáp Ca: Tv 24, 4bc-5. 6-7. 8-9

Ðáp: Lạy Chúa, xin hãy nhớ lòng thương xót của Chúa (c. 6a).

Xướng: 1) Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường đi của Chúa; xin dạy bảo con về lối bước của Ngài. Xin hướng dẫn con trong chân lý và dạy bảo con, vì Chúa là Thiên Chúa cứu độ con, và con luôn luôn cậy trông vào Chúa.

Ðáp: Lạy Chúa, xin hãy nhớ lòng thương xót của Chúa (c. 6a).

2) Lạy Chúa, xin hãy nhớ lòng thương xót của Ngài, lòng thương xót tự muôn đời vẫn có. Xin đừng nhớ lỗi lầm khi con còn trẻ và tội ác, nhưng hãy nhớ con theo lòng thương xót của Ngài, vì lòng nhân hậu của Ngài, thân lạy Chúa.

Ðáp: Lạy Chúa, xin hãy nhớ lòng thương xót của Chúa (c. 6a).

3) Chúa nhân hậu và công minh, vì thế Ngài sẽ dạy cho con nhận biết đường lối. Ngài hướng dẫn kẻ khiêm cung trong đức công minh, dạy bảo người khiêm cung đường lối của Ngài.

Ðáp: Lạy Chúa, xin hãy nhớ lòng thương xót của Chúa (c. 6a).

 

Bài Ðọc II: Pl 2, 1-5 {hoặc 1-11}

"Anh em hãy cảm nghĩ trong anh em điều đã có trong Ðức Giêsu Kitô".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.

Anh em thân mến, nếu có sự an ủi nào trong Ðức Kitô, nếu có sự khích lệ nào trong đức mến, nếu có sự hiệp nhất nào trong Thánh Thần, nếu có lòng thương xót nào, thì anh em hãy làm cho tôi được trọn niềm hân hoan, để anh em hưởng cùng một niềm vui, được cùng chung một lòng mến, được đồng tâm nhất trí với nhau, chớ làm điều gì bởi ý cạnh tranh hay bởi tìm hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi kẻ khác vượt trổi hơn mình, mỗi người đừng chỉ nghĩ đến những sự thuộc về mình, nhưng hãy nghĩ đến những sự thuộc về kẻ khác. Anh em hãy cảm nghĩ trong anh em điều đã có trong Ðức Giêsu Kitô.

{Người tuy là thân phận Thiên Chúa, đã không nghĩ phải dành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người huỷ bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người với cách thức bề ngoài như một người phàm. Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, để khi nghe tên Giêsu, mọi loài trên trời dưới đất và trong hoả ngục phải quỳ gối xuống, và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng Ðức Giêsu Kitô là Chúa, để Thiên Chúa Cha được vinh quang.}

Ðó là lời Chúa.

 

Alleluia: Ga 14, 23

Alleluia, alleluia! - Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. - Alleluia.

 

Phúc Âm: Mt 21, 28-32

"Nó hối hận và đi làm. Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: "Các ông nghĩ sao? Người kia có hai người con. Ông đến với đứa con thứ nhất và bảo: "Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho cho cha!" Nó thưa lại rằng: "Con không đi". Nhưng sau nó hối hận và đi làm. Ông đến gặp đứa con thứ hai và cũng nói như vậy. Nó thưa lại rằng: "Thưa cha, vâng, con đi". Nhưng nó lại không đi. Ai trong hai người con đã làm theo ý cha mình?" Họ đáp: "Người con thứ nhất". Chúa Giêsu bảo họ: "Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào nước Thiên Chúa trước các ông. Vì Gioan đã đến với các ông trong đường công chính, và các ông không tin ngài; nhưng những người thu thuế và gái điếm đã tin ngài. Còn các ông, sau khi xem thấy điều đó, các ông cũng không hối hận mà tin ngài".

Ðó là lời Chúa.


[1] X. Pl 2,1.5.

[2] ĐGH Gioan Phaolô II, Thông điệp Sollicitudo rei socialis, 47: AAS 80 (1988) 581.

[3] X. ĐGH Gioan XXIII, Thông điệp Pacem in terris, 61: AAS 55 (1963) 274.

[4] X. ĐGH Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus annus, 10: AAS 83 (1991) 804-806; Ibid., 13: AAS 83 (1991) 809-810; Ibid., 44: AAS 83 (1991) 848-849.

[5] ĐGH Gioan Phaolô II, Thông điệp Centesimus annus, 34: AAS 83 (1991) 836.

[6] X. CĐ Vaticanô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et spes, 64: AAS 58 (1966) 1086.

[7] X. Xh 3,14.

[8] X. 1 Cr 2,8.

[9] X. Mt 22,41-46; Cv 2,34-36; Dt 1,13.

[10] X. Ga 13,13.

[11] X. Mt 8,2; 14,30; 15,22.

[12] X. Lc 1,43; 2,11.

[13] X. Cv 2,34-36.

[14] X. Rm 9,5; Tt 2,13; Kh 5,13.

[15] X. Rm 10,9; 1 Cr 12,3; Pl 2,9-11.

[16] X. Kh 11,15.

[17] X. Mc 12,17; Cv 5,29.

[18] X. CĐ Vaticanô II, Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, 10: AAS 58 (1966) 1033; x. Ibid., 45: AAS 58 (1966) 1066.

[19] X. Cv 28,20.

[20] X. Ga 1,14.18; 3,16.18.

[21] X. Ga 1,1.

[22] X. Cv 8,37; 1 Ga 2,23.

[23] DS 150.

[24] Thánh Grêgôriô Nyssenô, Oratio catechetica 15,3: TD 7,78 (PG 45, 48).

[25] X. Đnl 6,4-5.

[26] X. Mc 8,34.

[27] Thánh Irênê, Adversus haereses, 3, 19, 1: SC 211, 374 (PG 7, 939).

[28] Thánh Athanasiô Alexandrinô, De Incarnatione, 54, 3: SC 199, 458 (PG 25, 192).

[29] Thánh Tôma Aquinô, Officium de festo corporis Christi, Ad Matutinas, In primo Nocturno, Lectio 1: Opera omnia, v.29 (Parisiis 1876) 336.

[30] X. Mt 18,14.

[31] X. Ga 13,34; 1 Ga 3; 4; Lc 10, 25-37.

[32] X. Tv 40,8-9.

[33] X. Ga 4,34; 5,30; 6,38.

[34] X. Ga 8,29.

[35] Ôrigiênê, De oratione, 26, 3: GCS 3, 361 (PG 11, 501).

[36] Thánh Gioan Kim Khẩu, In Matthaeum homilia 19, 5: PG 57, 280.

[37] X. Rm 12,2; Ep 5,17.

[38] X. Dt 10,36.

[39] X. 1 Ga 5,14.

[40] X. Lc 1,38.49.

[41] Thánh Augustinô, De sermone Domini in monte, 2, 6, 24: CCL 35, 113 (PL 34, 1279).