Trang

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2026

VHTK Thánh Augustinô Ngày 28.8

 



 
VHTK Thánh Augustinô Ngày 28.8
VUI HỌC THÁNH KINH
THÁNH AUGUSTINÔ
Ngày 28 tháng 8

Tin Mừng thánh Mátthêu 5,13-16

 
Tin Mừng

Muối cho đời và ánh sáng cho trần gian (Mc 9:50; Lc 14:34-35)
13 "Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối nó cho mặn lại? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.
14 "Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được.15 Cũng chẳng có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà.16 Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.

13  "You are the salt of the earth. But if salt loses its taste, with what can it be seasoned? It is no longer good for anything but to be thrown out and trampled underfoot.
14 You are the light of the world. A city set on a mountain cannot be hidden.
15 Nor do they light a lamp and then put it under a bushel basket; it is set on a lampstand, where it gives light to all in the house.
16 Just so, your light must shine before others, that they may see your good deeds and glorify your heavenly Father.
 
I. HÌNH TÔ MÀU

 
augustino12
 
* Chủ đề của hình này là gì?
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

* Bạn hãy viết câu Tin Mừng thánh Mátthêu  5,14a
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .


II. TRẮC NGHIỆM

a1. Đức Giêsu nói anh em là gì cho đời? (Mt 5,13)
a. Men.
b. Muối.
c. Ánh sáng.
d. Sự an ủi.


a2. Nếu muối trở thành vô dụng, thì làm gì? (Mt 5,13)
a. Làm đường đi.
b. Để xây tường.
c. Làm phân bón cho cây.
d. Quăng ra ngoài cho người ta chà đạp.


a3. Đức Giêsu nói anh em là ánh sáng cho ai? (Mt 5,14)
a. Trần gian.
b. Con người.
c. Mọi người.
d. Những người tin Chúa.


a4. Người ta thắp đèn rồi đặt ở đâu để đèn soi chiếu cho mọi người trong nhà? (Mt 5,15)
a. Trên đế.
b. Sau bức vách.
c. Dưới đáy thùng.
d. Trong phòng kín.


a5. Khi nhìn thấy những việc tốt đẹp của anh em làm, người ta tôn vinh ai? (Mt 5,16)
a. Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.
b. Thiên Chúa của anh em.
c. Anh em là người công chính.
d. Đấng giải thoát anh em.


B. Thánh Augustinô

b1. Thánh Âu-Tinh sinh năm 354 tại Thagaste, một làng nhỏ ở đâu?
a. Phi Châu.
b. Trung Đông.
c. Châu Âu.
d. Châu Á.


b2. Thời tuổi trẻ thánh Augustinô sống một cuộc đời xa Chúa, nhưng ngài gặp được ai và đã trở lại với Chúa và Hội Thánh?
a. Thánh Albertô.
b. Thánh Irênê.
c. Thánh Ambrôsiô.
d. Thánh Tôma Aquinô.


b3. Thánh Augustinô được đề cử làm Giám Mục  thành nào?
a. Thành Hyppone.
b. Thành Êphêxô.
c. Thành Carthage.
d. Thành Giêrusalem.


b4. Tác phẩm được biết nhiều nhất của thánh Augustinô là gì?
a.  Luân lý Kitô giáo.
b. Tự Thuật.
c. Lịch sử Kitô giáo.
d. Bản dịch Thánh Kinh.


b5. trong cuộc đời của thánh Augustinô, ngài luôn dấn thân vào việc bênh vực Giáo Hội chống lại các người theo lạc giáo như những người theo phái nào?
a. Phái Manichêô.
b. Phái Dônatô.
c. Phái Pêlagiô.
d. Cả a, b và c đúng.

  
III. Ô CHỮ

 
oc AUGUSTINO
Những gợi ý

01. Đức Giêsu nói: “Anh em là ánh sáng cho ai? (Mt 5,14)

02. Ánh sáng của anh em phải chiếu giải trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà làm gì cha của anh em, Đấng ngự trên trời? (Mt 5,16)

03. Đức Giêsu nói anh em là gì cho trần gian? (Mt 5,14)

04. "Chính anh em là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì làm cho nó cho mặn lại? (Mt 5,13)

05. Anh em là gì cho đời? (Mt 5,13)

06. Muối mà nhạt đi thì trở thành gì? (Mt 5,13)

07. Đèn được thắp đặt trên đế là đèn để làm gì cho mọi người trong nhà? (Mt 5,15)

Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì?

IV. CÂU THÁNH KINH HỌC THUỘC LÒNG

"Chính anh em là ánh sáng cho trần gian”.
Tin Mừng thánh Mátthêu 5,14a

 

Lời giải đáp
VUI HỌC THÁNH KINH
THÁNH AUGUSTINÔ
Ngày 28 tháng 8
Tin Mừng thánh Mátthêu 5,13-16
I. HÌNH TÔ MÀU
* Chủ đề :
Thánh Augustino và Mẹ Monica

* Tin Mừng thánh Mátthêu  5,14a  :
"Chính anh em là ánh sáng cho trần gian”.

II. TRẮC NGHIỆM
A.
a1. b. Muối (Mt 5,13)
a2. d. Quăng ra ngoài cho người ta chà đạp (Mt 5,13)
a3. a. Trần gian (Mt 5,14)
a4. a. Trên đế (Mt 5,15)
a5. a. Cha của anh em, Đấng ngự trên trời (Mt 5,16)


B. Thánh Augustinô

b1. a. Phi Châu.
b2. c. Thánh Ambrôsiô.
b3. a. Thành Hyppone.
b4. b. Tự Thuật.
b5. d. Cả a, b và c đúng.


III. Ô CHỮ
01. Trần gian (Mt 5,14)
02. Tôn vinh (Mt 5,16)
03. Ánh sáng (Mt 5,14)
04. Muối (Mt 5,13)
05. Muối (Mt 5,13)
06. Vô dụng (Mt 5,13)
07. Soi chiếu (Mt 5,15)


Hàng dọc : Giám mục

NGUYỄN THÁI HÙNG
 
 
THÁNH ÂU-TINH, (St. Augustine)
GIÁM MỤC, TIẾN SĨ HỘI THÁNH
 
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Mỗi vị thánh đều có phong cách, lối sống đặc thù, riêng biệt.Thánh vì được Chúa dọi chiếu xuyên suốt toàn con người, được Chúa biến đổi không ngừng con người ấy trở nên giống hệt như Chúa qua những nhân đức Người đã sống,đã truyền dậy. Nói như Thánh Phaolô tông đồ : “Hãy mặc lấy Đức Kitô”. Thánh Augustinô đã cởi bỏ con người cũ, đã mặc lấy chính Đức Kitô. Cuộc đời của Ngài đã hoàn toàn thay đổi .

THÁNH ÂU-TINH LÀ AI ?

Đọc lại tiểu sử của thánh nhân. Mọi người đều không khỏi ngạc nhiên, bỡ ngỡ. Ngạc nhiên vì một con người xem ra đã hư hỏng. Bỡ ngỡ vì không ngờ Âu-Tinh đã biến đổi mau lẹ, không ai có thể biết trước được.

Âu-Tinh sinh năm 354 tại Thagaste, một làng nhỏ bên Phi Châu. Cha của Ngài là người ngoại giáo, thuộc dòng quí phái, danh giá. Mẹ của Ngài là thánh nữ Monica. Âu-Tinh là một đứa bé thông minh, tài trí, nên cha mẹ của Ngài rất kỳ vọng vào Ngài. Ông bà quyết chí cho con theo học tới cùng. Nhưng tại kinh thành Carthage, Âu-Tinh bị lôi cuốn vào đường sa đoạ, trụy lạc, chạy theo những tư tưởng lạc giáo, chạy theo bè rối Manikê chống lại Giáo Hội. Thánh nữ Monica, mẹ Ngài rất đau buồn, bà khóc lóc, van lơn, cầu nguyện cho người con đầu lòng yêu dấu của bà. Chúa đã nhậm lời bà cầu xin vì sau khi đắm chìm vào những lạc thú, Âu-Tinh rơi vào trạng thái cô đơn, mẫn cảm tột độ. Chính giây phút chán nản, tuyệt vọng ấy của Âu-Tinh,  Chúa đã nhậm lời thánh nữ Monica cầu xin cho con bà. Chúa can thiệp và đánh động lòng Âu-Tinh bằng một câu Thánh Kinh: “Đừng sống theo xác thịt, dục vọng nữa mà hãy mặc lấy Đức Kitô”. Chính câu Thánh Kinh đó đã làm đảo lộn đời Âu-Tinh. Ngài đã tìm tòi, học hỏi giáo lý theo sự chỉ dẫn của Đức Cha Ambrosiô. Âu-Tinh đã lãnh nhận Bí Tích rửa tội trong đêm phục sinh năm 387 do chính tay Đức Cha Ambrosiô, lúc đó thánh nhân đã 33 tuổi.

Thánh Âu-Tinh đã trở lại Phi Châu sau khi người mẹ của Ngài đã chứng kiến con bà lãnh nhận phép rửa tội làm con Chúa và làm con Giáo Hội. Thánh Âu-Tinh đã sống nhiệm nhặt, ăn năn, sám hối trong một dòng tu. Thánh nhân được đề cử làm Giám Mục thành Hyppone. Lòng nhiệt thành, sự khôn ngoan, sáng suốt và sự thánh thiện của thánh nhân đã làm cho Giáo Hội Phi Châu tiến triển rất nhiều. Thánh nhân đã viết rất nhiều và để lại các pho sách về Thần Học, Minh Giáo và Chú Giải Thánh Kinh rất có giá trị và nổi tiếng. Suốt cuộc đời làm Giám Mục của Ngài, thánh Âu-Tinh đã sống khiêm tốn, hiền lành và thực thi đức ái huynh đệ rất chân tình đối với các linh mục dưới quyền của Ngài.

MỘT CUỘC ĐỜI , MỘT CON NGƯỜI

Thánh Âu-Tinh đã được Chúa biến đổi hoàn toàn.Từ một chàng thanh niên hư hỏng, trụy lạc, coi như là đã bị loại ra khỏi xã hội. Thánh nhân đã mặc lất tâm tình của Chúa Kitô. Thánh nhân đã làm một cuộc trở lại tận căn,  sám hối, ăn năn như Phêrô đã chối Chúa 3 lần,Chúa nhìn Phêrô, Phêrô nhìn Chúa, Chúa đã thứ tha cho Phêrô tội tầy đình ông đã phạm. Còn Âu-Tinh là người ngoại, đã được ơn hoán cải do lời cầu nguyện tha thiết và do những giọt lệ của bà thánh Monica, Âu-Tinh đã gặp Chúa, đã thay đổi nếp sống của mình, đã lột bỏ con người cũ và mặc lấy Đức Kitô. Âu-tinh đã trở nên con người mới hoàn toàn. Âu-tinh đã làm lại con người của mình ngay từ đầu. Giờ phút Đức Cha Ambrosiô ban phép rửa tội, thêm sức cho Ngài đã trở nên giờ cứu độ cho Ngài. Giờ ấy là giờ Đức Kitô được tôn vinh qua cái chết và sống lại của Chúa.

Âu-Tinh về với Chúa năm 430, hưởng thọ 76 tuổi. Thánh nhân đã được Chúa rước về trời để mãi mãi cùng với các thánh và các Thiên Thần diện kiến và ca tụng Chúa không ngơi.

Lạy Thánh Âu-Tinh xin cầu bầu cho chúng con để chúng con luôn biết trở về với Chúa.
Xin cho chúng con ơn bình an và ơn cứu độ để chúng con luôn làm chứng cho Chúa phục sinh.
Xin cho chúng con ơn khôn ngoan như thánh nhân để chúng con chỉ làm tôi Chúa và tin tưởng cậy trông vào Chúa.


http://tinmung.net/CACTHANH/_CacThanh/_Thang08/Augustino/SuyNiem/T

 

CHÌA KHOÁ TRÊN VAI - SUY NIỆM CN 21 TN A CỦA CHA ROBERTO PASOLINI

 

CHÌA KHOÁ TRÊN VAI - SUY NIỆM CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN NĂM A CỦA CHA ROBERTO PASOLINI

WHĐ (20/8/2026) – Sau đây là bài suy niệm Lời Chúa cho Chúa nhật 21 Thường niên năm A của Cha Roberto Pasolini, Giảng thuyết Phủ Giáo hoàng.

Is 22,19-23

Rm 11,33-36

Mt 16,13-20

Trong Chúa nhật này, chúng ta lại thấy Chúa Giêsu đi đến những vùng ngoại vi, xa những nơi mà danh xưng và sự hiện diện của Thiên Chúa Israel được khẳng định một cách hiển nhiên và không thể phủ nhận. “Địa hạt thành Xêsarêa Philipphê” (Mt 16,13) là một vùng đất rất phức tạp, các đền thờ và những hình thức thờ tự của dân ngoại rải rác khắp nơi. Chính tại nơi đây, giữa vô số hình ảnh thần linh xuất hiện trước mắt người qua kẻ lại, Thầy Giêsu đã quyết định hỏi “các môn đệ” về căn tính của Người: “Người ta bảo Con Người là ai?” (Mt 16, 13). Vượt lên trên những điều nghe được và những ý kiến chung chung, Chúa Giêsu muốn tìm một câu trả lời mang tính cá vị: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?” (Mt 16, 15)

Có một vẻ đẹp ẩn giấu trong cách hành xử này. Nơi đó, chúng ta nhận ra một Chúa Kitô vững tin vào chính mình, vào căn tính và sứ mạng của mình, nhưng đồng thời cũng hết sức tôn trọng tâm hồn cũng như nhịp bước của người khác, đến độ Người cảm thấy cần phải kiểm chứng xem điều gì nơi chính mình thực sự đã được tỏ lộ trước mắt họ.Tất cả chúng ta đều ước mong có thể đáp lại với cùng một niềm xác tín và sự mau mắn như Thánh Phêrô, nhất là trong những hoàn cảnh cụ thể của cuộc sống, khi điều được đòi hỏi không chỉ là tuyên xưng Tin mừng bằng lời nói, mà còn là sống Tin mừng: “Thầy là Ðức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16).

Thế nhưng, chúng ta sẽ phải lưu ý rằng Chúa Giêsu không chú trọng nhiều đến câu trả lời chính xác cho bằng thực tế là “chẳng phải xác thịt hay máu huyết” có thể đạt tới mặc khải này, mà chỉ có “Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 16,17), như chính Chúa Giêsu đã nhắc cho Phêrô. Trong một khoảnh khắc, Phêrô đã biết lắng nghe tiếng nói của Thánh Thần chứ không phải tiếng nói nhân tính nơi mình. Nhờ đó, ông đã lãnh nhận một mặc khải không chỉ về mầu nhiệm Thiên Chúa, mà còn về chính mầu nhiệm con người của ông. Vì thế, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến tình phụ tử nhân loại của Phêrô ngay trong khoảnh khắc mà một tình phụ tử khác, chân thật và sâu sắc hơn, bắt đầu tỏ lộ: “Hỡi Simon con ông Giona, con có phúc” (Mt 16,17). Chúng ta có thể đón nhận lời nói và sự ngỡ ngàng của vị Tông đồ trước mầu nhiệm nhận làm làm nghĩa tử của Thiên Chúa, được trao truyền cho chúng ta qua đức tin tông truyền: “Ôi thẳm sâu thay sự giàu có, thượng trí và thông biết của Thiên Chúa: sự phán quyết của Người làm sao hiểu được, và đường lối của Người làm sao dò được!” (Rm 11, 33).

Chìa khóa Nước Trời, được trao cho Phêrô như một ân huệ và trách nhiệm cần chia sẻ với muôn dân, đã được báo trước trong sứ điệp mà ngôn sứ Isaia được kêu gọi công bố cho Sobna, một kẻ ngoại bang đầy tham vọng, đã trở thành “quan cai đền” (Is 22,15) nhưng lại chẳng hề quan tâm đến cuộc sống và vận mệnh dân của đức vua. Thay vào vị trí của Sobna - như ngôn sứ Isaia loan báo - Đức Chúa sẽ đặt một tôi tớ đích thực là Êliaqim: “Nó sẽ nên như cha các người cư ngụ ở Giêrusalem và nhà Giuđa. Ta sẽ để chìa khoá nhà Ðavít trên vai nó: nó sẽ mở cửa và không ai đóng lại được; nó đóng cửa lại và không ai mở ra được” (Is 22, 21-22)

Khi loan báo hình ảnh một người sẽ như một người cha, mạnh mẽ và tỉnh thức, có khả năng gìn giữ và và làm cho đời sống của con cái được lớn lên, chắc chắn chúng ta có thể nhận ra hình ảnh báo trước về những gì Tông đồ Phêrô sẽ đảm nhận trong Hội thánh sơ khai. Chính từ quyền tối thượng mà ngày hôm ấy, Chúa Giêsu đã công khai nhìn nhận nơi ông trước mặt các Tông đồ khác.

Thế nhưng, việc chạm đến mầu nhiệm Thiên Chúa không phải là một đặc quyền dành riêng một số người và khước từ những người khác, bởi lẽ chìa khóa của mầu nhiệm ấy không được mang trong túi, cũng chẳng được cất vào két sắt. Như ngôn sứ đã nói, cần để cho những chiếc chìa khóa ấy được đặt trên vai, nơi con người cảm nhận trọn sức nặng của cuộc đời. Chính vì thế, Chúa Giêsu muốn giữ kín một chút về biến cố Người được nhìn nhận này, thay vì để mình bị cuốn theo một sự hào hứng nhất thời: Bấy giờ, Người truyền cho các môn đệ đừng nói với ai rằng Người là Ðức Kitô” (Mt 16, 20)

Chắc chắn không phải để dập tắt một niềm vui lễ hội đã kéo dài suốt hai ngàn năm nay, đại lễ của những người con Thiên Chúa đã khám phá ra tình yêu trung thành của Chúa Cha. Nhưng là để giúp chúng ta đảm nhận trách nhiệm sử dụng đúng đắn quyền bính đã được đặt vào tay mình, đó là trở thành những người gìn giữ và diễn giải đích thực mạc khải của Thiên Chúa, “Vì mọi sự đều do Người, nhờ Người và trong Người” (Rm 11,36).

Lm. Roberto Pasolini, OFM Cap. (nellaparola.it)

NHỮNG CÂU HỎI VỀ PHỤNG VỤ: NƯỚC THƯỜNG ĐƯỢC THÊM VÀO NƯỚC PHÉP THÌ NƯỚC ẤY CÒN LÀ NƯỚC PHÉP KHÔNG?

 

NHỮNG CÂU HỎI VỀ PHỤNG VỤ: NƯỚC THƯỜNG ĐƯỢC THÊM VÀO NƯỚC PHÉP THÌ NƯỚC ẤY CÒN LÀ NƯỚC PHÉP KHÔNG?

WHĐ (21/8/2026) - Cha Edward McNamara, Dòng Binh đoàn Chúa Kitô, giáo sư phụng vụ và thần học Bí tích tại Đại học Giáo hoàng Regina Apostolorum, giải đáp câu hỏi của độc giả.

Hỏi: Thưa cha, câu hỏi của tôi liên quan đến những phép lành như làm phép lửa, nến, nước và dầu. Trong một số nghi thức, chẳng hạn Thánh lễ Truyền dầu, đêm Vọng Phục sinh và lễ Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu vào Đền thánh (ngày 02 tháng 02), những vật này được làm phép trong Thánh lễ. Những vật ấy có nhận được phép lành theo cách thức là chúng có thể truyền phép lành cho những vật tương tự khác khi được đặt tiếp xúc với nhau hay không? Nói cách khác, để khỏi bị hết, có được phép thêm nước thường vào nước phép không? Để khỏi cạn dầu, có được phép thêm dầu chưa được làm phép vào các loại Dầu thánh và Dầu thánh Chrisma được Đức Giám mục làm phép trong Thánh lễ Truyền dầu không? Và để ánh sáng từ ngọn lửa được làm phép trong đêm Vọng Phục sinh được tiếp tục duy trì, có thể truyền ngọn lửa ấy sang một cây nến khác không? – J.P.G., Zipaquirá, Côlômbia

Đáp: Để trả lời câu hỏi này, cần có một sự phân biệt. Các phép lành thường được chia thành phép lành khẩn cầu và phép lành cung hiến.

Phép lành khẩn cầu là phép lành trong đó chúng ta khẩn xin Thiên Chúa ban ân huệ cho người hoặc vật được chúc lành, nhưng không làm thay đổi bản chất của người hoặc vật ấy, cũng không dành riêng họ hoặc vật ấy cho một chức năng thánh thiêng. Phần lớn các phép lành thuộc loại này, chẳng hạn khi các tín hữu xin chúc lành cho bản thân và gia đình, cho nhà cửa, xe cộ và những vật dụng khác trong đời sống thường ngày.

Phép lành cung hiến là phép lành qua đó một người hoặc một vật được tách khỏi việc sử dụng thông thường và được dành riêng cho mục đích thánh thiêng. Những phép lành này được dành cho thừa tác viên có chức thánh: đối với một số trường hợp là Giám mục (chẳng hạn chúc lành cho viện phụ, cung hiến nhà thờ, thánh hiến Dầu thánh Chrisma), hoặc linh mục (chẳng hạn làm phép chén thánh).

Việc làm phép các vật phẩm dùng cho việc đạo đức như tràng hạt, ảnh huy hiệu, thánh giá nhỏ, nến và những vật tương tự có thể được thực hiện bởi linh mục hoặc phó tế. Việc làm phép các nến dùng cho việc đạo đức vào ngày 02 tháng 02 thuộc loại phép lành đạo đức này.

Mặc dù phép lành cung hiến tách một vật khỏi việc sử dụng đời thường, nhưng không phải mọi phép lành đều có cùng một hiệu quả. Việc cung hiến một nhà thờ và một bàn thờ hoàn toàn tách tòa nhà ấy khỏi việc sử dụng phàm tục và dành riêng nơi đó làm nhà của Thiên Chúa. Việc làm phép các loại Dầu thánh khiến chúng trở thành một phần, và trong một số trường hợp là chất thể thiết yếu, của các bí tích.

Còn tràng hạt, nến và những vật tương tự được dành riêng cho việc đạo đức của các tín hữu, nhưng tự bản chất chúng không có một bản tính khác đi. Chúng cũng không truyền phép lành của mình cho những vật tương tự chỉ nhờ vào việc tiếp xúc.

Đôi khi Giáo hội ban những ân sủng đặc biệt và những ân xá cho việc sử dụng các tràng hạt đã được làm phép và những vật dung tương tự. Tuy nhiên, đây là một hình thức sư phạm thiêng liêng, nhằm khuyến khích các tín hữu sử dụng những vật ấy trong việc cầu nguyện, chứ không phải là ban cho chúng một bản tính đặc biệt nào đó.

Việc bản tính của một vật đã được làm phép không bị thay đổi một cách căn bản còn có thể thấy qua quy định của giáo luật: bất kỳ vật nào đã được làm phép, kể cả những vật thuộc loại phép lành cung hiến như chén thánh và các vật khác được sử dụng trong phụng vụ, sẽ mất phép lành ngay khi người ta tìm cách bán chúng.

Vì thế, tôi nghĩ rằng chúng ta có thể trả lời câu hỏi rộng hơn của độc giả rằng: không, các vật đã được làm phép không thể truyền phép lành cho những vật chưa được làm phép chỉ nhờ tiếp xúc với những vật cùng loại. Do đó, một cây nến đã được làm phép không thể truyền phép lành của mình cho những cây nến khác.

Tương tự, hoàn toàn có thể tiếp tục truyền ánh sáng của ngọn lửa Phục sinh bằng cách dùng ngọn lửa ấy thắp một cây nến hoặc một ngọn đèn khác; nhưng bản thân phép lành thì không được truyền sang vật mới. Hơn nữa, xét về mặt phụng vụ, việc duy trì ánh sáng này cũng không thực sự có ý nghĩa, bởi vì chính Giáo hội ngừng sử dụng nến Phục sinh trong đời sống phụng vụ hằng ngày sau khi kết thúc mùa Phục sinh.

Một vấn đề khác là khả năng pha loãng nước phép hoặc các loại Dầu thánh trong trường hợp khan hiếm nghiêm trọng.

Đối với nước phép, có một tập tục, nhưng không phải là một quy định được thiết lập thành luật, theo đó có thể thêm nước thường vào nước phép, với điều kiện lượng nước được thêm vào ít hơn một nửa lượng nước phép ban đầu.

Ý tưởng này được Thánh Tôma Aquinô đề cập. Ngài dường như chấp nhận nguyên tắc chung rằng: “nước được thêm vào nước phép thì trở thành nước phép” (Summa Theologiae, III, q. 77, a. 8, obj. 3; x. q. 66, a. 4, đáp.). Tuy nhiên, theo một cách lập luận hợp lý, ngài nói rằng nguyên tắc này không áp dụng trong trường hợp thêm một chất lỏng khác vào Máu Châu báu của Đức Kitô: “Nếu chất lỏng thuộc bất cứ loại nào được thêm vào có số lượng đủ để thấm vào toàn bộ rượu đã được truyền phép và hòa lẫn với rượu ấy ở khắp nơi, thì kết quả sẽ là một thực tại khác về mặt số lượng, và Máu Đức Kitô sẽ không còn hiện diện ở đó nữa.” Ngược lại: “Nếu lượng chất lỏng được thêm vào quá ít, không đủ để thấm vào toàn bộ”, thì Máu Đức Kitô vẫn còn hiện diện. (Summa Theologiae, III, q. 77, a. 8, đáp.)

Theo lập luận này, và áp dụng vào trường hợp nước phép, qua nhiều thế kỷ các nhà thần học đã đi đến quan điểm chung rằng: một lượng nhỏ nước phép được thêm vào một bình lớn nước chưa được làm phép thì không biến toàn bộ nước ấy thành nước phép; trong khi một lượng nhỏ nước thường được thêm vào nước phép thì không làm mất phép lành của nước phép.

Hầu hết các tác giả bàn về vấn đề này thường nói đến nước đã được làm phép dùng trong Bí tích Rửa tội, hơn là nước phép nói chung. Lý do thực tiễn của điều này có thể là vì nghi thức làm phép nước Rửa tội trước đây khá dài và phức tạp. Vì thế, trong một tình huống khẩn cấp khi lượng nước Rửa tội không đủ, việc thêm một ít nước thường được xem như một giải pháp hợp lệ.

Trong phụng vụ ngày nay, việc làm phép nước, dù dài hơn một chút so với hầu hết các phép lành khác, cũng không phải là một gánh nặng lớn đối với các linh mục và phó tế. Do đó, các ngài có thể bảo đảm có đủ nguồn nước mới được làm phép, khiến cho nhu cầu phải thêm nước chưa được làm phép trở nên không cần thiết.

Đối với việc thêm dầu mới vào các loại Dầu thánh đã được Đức Giám mục làm phép, cách riêng là đối với Dầu bệnh nhân, chúng tôi đã trả lời một câu hỏi tương tự vào các năm 2007 và 2012. Dưới đây là phiên bản được cập nhật từ những câu trả lời trước đây.

Chất thể thích hợp của Bí tích Xức dầu bệnh nhân là dầu ôliu; nếu không có dầu ôliu, có thể sử dụng một loại dầu khác được làm từ thực vật.

Quy định chung là phải sử dụng các Dầu thánh đã được Đức Giám mục làm phép. Dầu này được làm phép cho cả năm trong Thánh lễ Truyền dầu.

Nghi thức Rôma về Xức dầu bệnh nhân (số 22) khuyến khích thừa tác viên cử hành bí tích: “phải bảo đảm dầu luôn thích hợp để sử dụng và phải bổ sung dầu tùy thời, hoặc hằng năm khi Đức Giám mục làm phép dầu vào Thứ Năm Tuần thánh, hoặc thường xuyên hơn nếu cần thiết.”

Điều 847 của Bộ Giáo luật cũng quy định các linh mục phải nhận các Dầu thánh mới được thánh hiến hoặc làm phép từ chính Đức Giám mục của mình và không được sử dụng dầu cũ, trừ trường hợp cần thiết.

Nếu một giáo xứ sắp hết dầu, linh mục có thể hỏi tại nhà thờ chính tòa, vì nhiều giáo phận vẫn dự trữ một lượng dầu nhất định để sử dụng trong năm. Cũng có thể hỏi một giáo xứ khác, đặc biệt là những giáo xứ không có bệnh viện, xem họ có thể chia sẻ một phần dầu hay không.

Nếu một linh mục không có Dầu thánh và xảy ra một trường hợp nghiêm trọng cần cử hành Bí tích Xức dầu bệnh nhân, Giáo luật điều 999 cung cấp một giải pháp để không ai bị tước mất ân sủng của Bí tích này. Điều khoản này quy định rằng bất kỳ linh mục nào cũng có thể làm phép dầu trong trường hợp cần thiết, nhưng chỉ trong chính lúc cử hành Bí tích.

Mặc dù điều luật giới hạn quyền của linh mục làm phép dầu vào những trường hợp cần thiết, nhưng không xác định mức độ cần thiết đến đâu. Vì vậy, linh mục có thể phán đoán điều này trong từng trường hợp cụ thể.

Nếu thực hiện như vậy, nghi thức quy định rằng bất kỳ lượng dầu nào đã được linh mục làm phép còn lại sau khi cử hành Bí tích phải được thấm vào bông vải hoặc bông gòn rồi đốt đi.

Do linh mục có quyền làm phép Dầu bệnh nhân trong trường hợp cần thiết, nên vấn đề sử dụng hoặc pha trộn dầu chưa được làm phép trong trường hợp này không còn phải đặt ra nữa.

Trước đây, quan điểm chung cho rằng việc sử dụng dầu chưa được làm phép hoặc dầu được một linh mục không có thẩm quyền làm phép là đáng nghi ngờ về tính thành sự. Tòa thánh đã trả lời theo hướng phủ định đối với những đề nghị ủng hộ các quan điểm này, nhưng cách diễn đạt trong những câu trả lời ấy chưa hoàn toàn giải quyết vấn đề từ phương diện tín lý.

Cuộc tranh luận giữa các nhà thần học vẫn tiếp tục liên quan đến khả năng sử dụng một loại Dầu thánh khác được Đức Giám mục làm phép – chẳng hạn Dầu thánh Chrisma hoặc Dầu dự tòng – cho Bí tích Xức dầu bệnh nhân. Cũng chưa có sự giải quyết dứt khoát về câu hỏi liệu việc pha trộn dầu đã được làm phép với dầu chưa được làm phép có làm cho chất thể của Bí tích trở nên vô hiệu hay không.

Nhiều nhà thần học chấp nhận quan điểm thứ nhất, tức là có thể sử dụng những loại Dầu thánh khác nhau. Tuy nhiên, ít nhà thần học hơn đề xuất khả năng pha trộn dầu đã được làm phép với dầu chưa được làm phép. Bộ Giáo luật năm 1917, như chúng ta sẽ thấy dưới đây, lại để ngỏ khả năng này.

Các vấn đề này chưa bao giờ được giải quyết một cách dứt khoát và, như đã nói, nay đã được thay thế bởi kỷ luật mới cho phép linh mục làm phép dầu.

Dù các quan điểm thần học có thể khác nhau thế nào, tất cả đều đồng ý rằng các linh mục cử hành Bí tích này phải tuân thủ chính xác các quy định phụng vụ của Giáo hội, và không được mạo hiểm gây ra bất kỳ nguy cơ nào làm cho Bí tích trở nên vô hiệu. Lời khuyên này vẫn còn nguyên giá trị ngày nay.

Một vấn đề khác là Dầu dự tòng, được sử dụng trong các nghi thức diễn nghĩa, không thiết yếu, của Bí tích Rửa tội.

Mặc dù rõ ràng tốt hơn cả là sử dụng dầu được Đức Giám mục làm phép trong Thánh lễ Truyền dầu, Nghi thức Khai tâm Kitô giáo cho Người lớn (RCIA) lại cho phép một ngoại lệ: số 101 trong bản tiếng Anh của Hoa Kỳ, hoặc số 129 trong bản Latinh, quy định: “Dầu được sử dụng cho nghi thức này phải là dầu do Đức Giám mục làm phép trong Thánh lễ Truyền dầu; tuy nhiên, vì những lý do mục vụ, linh mục chủ tế có thể làm phép dầu cho nghi thức ngay trước khi xức dầu.”

Một lần nữa, quy định này khiến cho mọi cuộc tranh luận về việc thêm dầu chưa được làm phép vào Dầu dự tòng trở nên không còn cần thiết.

Cuối cùng là Dầu thánh Chrisma, một hỗn hợp gồm dầu ôliu và dầu thơm balsam. Đây là chất thể thiết yếu của Bí tích Thêm sức, đồng thời cũng được sử dụng trong các nghi thức diễn nghĩa của Bí tích Rửa tội, Bí tích Truyền chức thánh và một số nghi thức khác, chẳng hạn nghi thức cung hiến nhà thờ hoặc bàn thờ.

Khác với trường hợp các loại dầu khác, Giáo luật điều 880 §2 quy định: “Dầu thánh Chrisma được sử dụng trong Bí tích Thêm sức phải do một Giám mục thánh hiến, ngay cả khi một linh mục cử hành bí tích.”

Không có quy định nào cho phép linh mục tự làm Dầu thánh Chrisma và làm phép dầu ấy. Nếu xảy ra tình trạng thiếu Dầu thánh Chrisma ở cấp giáo phận, Đức Giám mục giáo phận hoàn toàn có thể làm phép thêm Dầu thánh Chrisma ngoài Thánh lễ Truyền dầu.

Như đã đề cập ở trên, liên quan đến khả năng thêm dầu chưa được làm phép vào các loại Dầu thánh, Bộ Giáo luật năm 1917 cho phép khả năng này, phù hợp với quan điểm thần học phổ biến vào thời đó. Cụ thể:

Điều 734 §1. Các loại Dầu thánh được sử dụng trong việc cử hành một số bí tích phải được Đức Giám mục làm phép ngay trước đó vào [Thứ Năm Tuần thánh]; không được sử dụng dầu cũ, trừ khi có nhu cầu cấp thiết.

§2. Trong trường hợp lượng dầu đã được làm phép không đủ, có thể thêm dầu ôliu chưa được làm phép, và có thể thêm lần nữa, nhưng với lượng ít hơn lượng dầu ban đầu.

Bộ Giáo luật hiện hành, phù hợp với thực hành hiện nay và theo quan điểm của một số nhà giáo luật, đã bãi bỏ bằng cách không còn nhắc đến quy định tại Điều 734 §2.

Bộ Giáo luật hiện hành quy định:

Điều 847 §1. Khi cử hành các bí tích trong đó phải sử dụng Dầu thánh, thừa tác viên phải dùng dầu ép từ ôliu hoặc từ những loại thực vật khác và, miễn là không phương hại đến quy định của điều 999, số 2, phải dùng dầu mới được một Giám mục thánh hiến hoặc làm phép; không được dùng dầu cũ, trừ khi có nhu cầu.

§2. Cha sở phải nhận các loại Dầu thánh từ Đức Giám mục của mình và phải cẩn thận bảo quản các dầu ấy cách thích đáng.

Như chúng ta thấy, khả năng pha loãng Dầu thánh không còn được đề cập nữa. Điều này dường như loại bỏ thực hành trước đây, bởi lẽ việc pha loãng chỉ cần thiết trong trường hợp thiếu Dầu thánh Chrisma, mà đây lại là một hoàn cảnh ngoại lệ.

Vì lý do này, một số giáo phận đã minh nhiên loại trừ việc pha trộn các loại dầu.

Chẳng hạn, năm 2021, Tổng Giáo phận Boston đã nhắc nhở hàng giáo sĩ và các tín hữu:

“Giáo Hội đòi hỏi phải sử dụng đúng các loại dầu trong việc cử hành các bí tích. Trong trường hợp Bí tích Thêm sức, việc sử dụng đúng loại dầu, tức Dầu thánh Chrisma, liên quan đến tính thành sự của Bí tích. Chỉ được sử dụng các loại dầu ép từ ôliu hoặc từ những loại thực vật khác, mới được Đức Giám mục thánh hiến hoặc làm phép, trong việc cử hành các Bí tích (Giáo luật điều 847 §1). Chỉ được sử dụng dầu cũ khi có nhu cầu thực sự (Giáo luật điều 847 §1). Các loại Dầu thánh không bao giờ được pha loãng trong bất cứ hoàn cảnh nào bằng dầu thêm vào, kể cả nhằm mục đích đổ đầy bình đựng dầu để trưng bày các loại Dầu thánh trong tủ đựng Dầu thánh hoặc nơi lưu giữ. Không bao giờ được thêm nước hoa hoặc các chất khác vào các loại Dầu thánh đã được thánh hiến và làm phép. Các loại Dầu thánh cũng không bao giờ được sử dụng cho những mục đích ngoài việc cử hành các bí tích.”

Tuy nhiên, vẫn có một số tác giả cho rằng, mặc dù vấn đề này không còn được đề cập trong giáo luật, lập luận thần học nền tảng vẫn còn giá trị và có thể được áp dụng trong một trường hợp thực sự khẩn cấp.

Theo quan điểm của tôi, xét những gì chúng ta đã thấy về Dầu bệnh nhân và Dầu dự tòng, quyền được ban cho các linh mục để làm phép dầu mới khiến cho nhu cầu pha loãng các dầu cũ trên thực tế hầu như không còn tồn tại.

Người ta có thể hình dung một trường hợp khẩn cấp liên quan đến Dầu thánh Chrisma, mặc dù điều này rất khó xảy ra. Điều đó chỉ có thể được biện minh trong những hoàn cảnh hết sức nghiêm trọng, chẳng hạn một linh mục phải ban Bí tích Thêm sức cho một người đang ở trong tình trạng nguy tử. Nhưng ngay cả trong trường hợp ấy, lượng Dầu thánh Chrisma cần thiết cũng rất ít, đến mức thật khó hình dung một tình huống buộc phải pha loãng dầu.

Tác giả: Lm. Edward McNamara – Giáo sư Phụng vụ và Thần học Bí tích (zenit.org)