Trang

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2026

Thiên Chúa tạo nên con ngườigiống hình ảnh Thiên Chúa

 

Thiên Chúa tạo nên con ngườigiống hình ảnh Thiên Chúa

Nguyễn Công Đoan, S.J.

  Bước vào Mùa Chay Hội Thánh mời chúng ta “hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”, “hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro”. Đặc biệt năm nay nhà giảng thuyết đặc biệt là CÔ VY tí hon, chẳng ai thấy hay biết mặt mũi ra sao, không mời mà tới, đi thì thầm vào tai mọi người, nhắc lời Hội Thánh công bố hôm đầu Mùa Chay. Từ kẻ quyền thế hét ra lửa khinh dể mọi người, tới người vô gia cư bên hè phố, từ kẻ mọi người bái phục đến người chẳng ai biết là đang có mặt trên cõi đời này. Người ta đã đón nhận lời rao giảng ấy như thế nào? Chúng ta, những người tin Thiên Chúa, tin vào ơn cứu độ của Thiên  Chúa trong Đức Giê-su Ki-tô, chúng ta đón nhận như thế nào? Nhiều người tự hỏi hoặc hỏi chúng ta: “Thiên Chúa ở đâu lúc này?” “Bạn còn tin Thiên Chúa được không?” Bước vào Tuần Thánh là tột đỉnh của Mùa Chay, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm Thiên Chúa hiện diện nơi Đức Giê-su Con Thiên Chúa làm người đang hấp hối trên thập giá, trần truồng, ngộp thở, bất lực, cô đơn đến nỗi phải thốt lên lời cầu nguyện bi thảm nhất trong sách Thánh Vịnh, là trường dạy tín hữu cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Tv 21/22, 1). Những kẻ sát nhân đắc thắng đứng nhìn, nghe thế còn chế nhạo. Thiên Chúa như vẫn thinh lặng. Với chút hơi và sức lực còn lại, Đức Giê-su thét lên một tiếng rồi tắt thở (X. Mt 27, 45-50; Mc, 15,33-37). Tiếng gào, tiếng thét Con Thiên Chúa thốt lên trên thập giá phát ra từ nét chạm cuối cùng của Thiên Chúa để nặn thành “con người giống hình ảnh Thiên Chúa” (St 1,27; 2,7). Đó cũng là tiếng Thiên Chúa quát nạt những kẻ chống lại Đấng Người đã xức tấn phong (Tv 2,5); đó là tiếng thét của Sam-son khi xô đổ tòa nhà để tiêu diệt quân thù bằng chính cái chết của mình (Tl 16,30). Đó là tiếng thét xung trận của Con Thiên Chúa để tiêu diệt chính cái chết đã ầm ĩ thét gào khiêu khích, trong khi Thiên Chúa im lặng và Con Thiên Chúa thì “như con chiên bị đem đi giết không hề mở miệng” (53, 7): “Hỡi tử thần, Ta là cái chết của ngươi đây!” (Điệp ca 1, Kinh chiều thứ Bảy Tuần Thánh; x. Is 25, 8; Hs 13, 14; 1Cr 15,55). Thiên Chúa lên tiếng ngay sau đó: “bóng tối bao phủ… đất rung chuyển, đá vỡ tung” (Mt 27, 45-51) như khi Thiên Chúa hiển linh trên núi Xi-nai (Xh 19,16-18), núi Kho-rép (1V 19,11-12). Và chiến thắng theo ngay: “mồ mả bật tung và nhiều người thánh đã qua đời trỗi dậy”; viên sĩ quan chỉ huy cuộc hành quyết kêu lên: “Quả thật người này là Con thiên Chúa”. “Đám đông đã tụ họp để xem cảnh tượng này thì đấm ngực ra về”. Hai người môn đệ thế giá trong bóng tối bỗng ra ánh sáng: ông Giu-se người A-ri-ma-thê đi gặp Phi-la-tô để xin lãnh xác Đức Giê-su; ông Ni-cô-đê-mô mang một trăm cân mộc dược đến tẩm liệm. (x. Mt 27,45-54; Mc 15, 39-45; Lc 23,44-52; Ga 19,38-40). Tiếng thét cuối cùng ấy cũng là tiếng chào đời của một con người mới vừa được sinh ra từ nỗi đau sinh con (x. Ga 16,21-22). Maria Ma-đa-le-na đứng khóc trước cửa ngôi mộ đã mở toang, hai thiên thần ngồi bên trong, ở nơi đã đặt xác Đức Giê-su, mỗi vị một đầu, như để đánh dấu rõ ràng là “xác Người không còn ở đây”, lên tiếng hỏi bà : “Này người đàn bà, sao bà khóc?” Chúa Giê-su đến sau lưng, bà chưa nhận ra thì Chúa hỏi: “Hỡi người đàn bà, sao bà khóc? Bà tìm ai?” (Ga 20, 12-15). Con người mới đã có đó rồi, nỗi đau sinh con đã qua rồi, sao bà còn khóc? Tiếng thét ấy cũng là tiếng reo của Thiên Chúa vừa hoàn thành công trình tạo nên con người thật sự giống hình ảnh Thiên Chúa, để từ nay mọi người thuộc dòng dõi A-dong có thể “lột bỏ con người cũ”,“mặc lấy Con Người Mới đã được tạo thành theo hình ảnh Thiên Chúa, trong sự công chính và thánh thiện đích thật” (Ep 4,22-24; Cl 3, 9-10; x. Rm 6, 1-11). Tại sao công trình tạo dựng con người bắt đầu từ chương đầu sách Sáng Thế mà bây giờ mới hoàn tất trên thập giá? Công trình đã bị xáo trộn từ “cây biết lành biết dữ”, do “bàn tay sần sùi” của Xa-tan đã xúi con người nghi ngờ tình yêu Thiên Chúa và muốn nên như Thiên Chúa bằng cách đoạt lấy quyền tự mình định đoạt cái gì là tốt cái gì là xấu. Từ đó Thiên Chúa phải uốn nắn lại con người cho nên giống hình ảnh Thiên Chúa: Trên thập giá khi buông Con Một trong tay loài người và để mặc cho loài người đối xử tùy ý, thì Thiên Chúa đã tự định nghĩa rõ ràng: Thiên Chúa là Tình Yêu (Ga 3,16) Và Con Thiên Chúa đã đứng về phía loài người mà đáp lại bằng sự tin tưởng hoàn toàn vào Tình Yêu của Thiên Chúa và dám chấp nhận cả cái chết để bày tỏ tình yêu đối với Thiên Chúa (Ga 14,31). Khi tôn vinh Người Con đã hạ mình vâng phục cho đến nỗi bằng lòng chết và chết trên thập giá, Thiên Chúa đã xác nhận: Tình Yêu mạnh hơn cái chết, vì Thiên Chúa Tình Yêu là Thiên Chúa hằng sống và tự mạc khải bằng sự sống chứ không phải bằng cái chết. (Ed.33,11). Suốt Mùa Chay và đặc biệt trong “Canh Thức Vọng Phục Sinh”, Hội Thánh mời chúng ta ôn lại lịch sử cứu độ để nhận biết mình cần được cứu khỏi quyền lực của tội lỗi  và sự chết, và Thiên Chúa đã ban ơn cứu độ, ơn giải thoát khỏi tội lỗi và sự chết, trong Con Một yêu dấu của Thiên Chúa, Đấng đã sinh xuống làm người anh em của chúng ta trong thân phận con người; đã chết để xóa bỏ tội lỗi và sống lại để ban sự sống vĩnh cửu làm cho chúng ta nên anh em của Ngài trong vinh quang của Thiên Chúa: “Cha của Thầy cũng là Cha của anh em” (Ga 20, 17). Vào Mùa Phục Sinh, chúng ta nhìn lại vài giai đoạn trong lịch sử cứu độ để nhận ra sư phạm của Thiên Chúa trong hành trình uốn nắn con người cho nên giống hình ảnh Thiên Chúa, để từ nay sống đời sống mới do Chúa Ki-tô Phục Sinh đem cho chúng ta:  
  • Áp-ra-ham, người bạn của Thiên Chúa (Is 41,8; Đn 3, 35)
  • I-xa-ác, món quà trao đổi giữa hai người bạn
  • Gia-cóp – Ít-ra-en: người vật lộn với Thiên Chúa
  • Dòng dõi Ít-ra-en, cục đất sét cứng trong tay thợ gốm
  • Mô-sê, người trung gian bị vạ lây
  • Giê-rê-mi-a, người mẫu « chân dung người tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa”
  • Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa, hình ảnh toàn hảo của Thiên Chúa, trưởng tử giữa toàn thể thọ tạo, “con người mới” đúng hình ảnh của Thiên Chúa.
 
  • Áp-ra-ham, người bạn của Thiên Chúa
  Sau khi con người đã được tạo thành giống hình ảnh Thiên Chúa làm hỏng công trình vì không tin vào Tình Yêu của Thiên Chúa, khiến cho thế giới loài người đầy bất công, hận thù, máu và nước mắt (St 3-6). Cuộc tái lập sau nạn Hồng Thủy, khởi từ gia đình của một người công chính là No-ê, cũng thất bại (St 9-11), Thiên Chúa đã đến tìm giữa loài người một người bạn dám tin vào Tình Yêu của Thiên Chúa và đáp lại vô điều kiện. 1ĐỨC CHÚA phán với ông Áp-ram : “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. 2Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lừng lẫy, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. 3Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi ; Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.” 4Ông Áp-ram ra đi, như ĐỨC CHÚA đã phán với ông. Ông Áp-ram được bảy mươi lăm tuổi khi ông rời Kha-ran. (St 12,1-4). Thiên Chúa đề nghị ông rời bỏ mọi an toàn hiện tại và mọi bảo đảm cho tương mà ông có tại xứ sở, họ hàng và nhà cha để ra đi, hướng về một miền đất và một tương lai mà ông không nắm được bảo đảm nào trong tay ngoài lời Thiên Chúa hứa. Miền đất Chúa bảo ông đi tới thì ông cũng chưa biết tên, chưa biết ở phương nào, Thiên Chúa bảo “sẽ chỉ cho” Thiên Chúa hứa cho ông thành một dân lớn khi mà ông đã già và người vợ yêu quí duy nhất của ông cũng chẳng còn sinh con được nữa.  Ông ra đi trắng tay, cả hiện tại lẫn tương lai đều không ở trong tay ông. Ông chỉ có lời hứa của Thiên Chúa là tất cả. Ông có đem một người cháu theo, nhưng ít lâu sau người cháu cũng chia tay với ông để ông thật sự ra khỏi cả họ hàng. Ông tin vào lời của Thiên Chúa mà ra đi. “Ông ra đi mà không biết mình đi đâu” (Hr 11,8). Nhiều năm sau, một đêm dưới mài lều tăm tối, Thiên Chúa lai đến nói với ông. Bảo ông “đừng sợ!” vì ông đang trằn trọc băn khoăn tới tột cùng vì thấy mình sắp ra khỏi cuộc đời trên miền đất lạ, chỉ có lời hứa để ôm theo, chẳng để lại dòng dõi nào; cơ nghiệp gầy dựng bấy lâu chẳng còn ai trong họ hàng để hưởng, phải trao cho một người lão bộc trung thành. Ông đơn sơ bộc lộ nỗi lòng cho Thiên Chúa. Thiên Chúa nhắc lại lời hứa, bảo đảm bằng một lời thề độc theo phong tục thời đó: nếu không giữ lời hứa thì sẽ bị phân thây xé xác. Ông Áp-ra-ham cũng nhắc lại lòng tin: “Ông tin vào Thiên Chúa” (St 15,6). Rồi ông tiếp tục bước đi trong ánh sáng và sức mạnh của lòng tin. Thử thách và phiền muộn lại đến từ phía khác. Ông vẫn chung thủy với bà vợ già Sarah và yêu bà nhất trên đời; bà cũng yêu ông và khong muốn ông phải thất vọng vì  sự son sẻ của mình. Bà đề nghị giải pháp đơn giản thời đó là nhờ Ha-ga, cô nô lệ của bà mang thai hầu bà. Ông cũng chiều ý bà. Kết cuc giải pháp của bà chỉ gây sầu muộn cho bà, ưu phiền cho ông và khổ cho cô nô lệ, khổ cho cả cái bào thai cô mang hầu bà trong bụng mình. Khi ấy Ông đã 86, bà thua ông mười tuổi (St 16, 16). Mười bốn năm Thiên Chúa thinh lặng như thể đã bằng lòng với giải pháp giản đơn của bà Xa-ra, rồi một hôm Người  lại đến gặp ông Áp-ra-ham: “Năm tới Xa-ra vợ ngươi sẽ sinh cho ngươi một đứa con trai…” Tin này đã làm ông “cười bò xuống” đất. Thiên Chúa bảo đảm bằng cách đổi tên cho cả ông lẫn bà, và đặt tên sẵn cho đứa con : “ngươi sẽ đặt tên cho nó là I-xa-ác” [Ông Cười] (X. St 17, 1-22). Ít lâu sau Thiên Chúa lại đến gặp ông ngay tại cửa lều, nhận bữa ăn thịnh soạn mà ông kêu bà cùng hối hả dọn mời, dưới bóng cây cổ thụ rợp bóng che lều cho ông. Sau đó, Người nhắn khéo cho bà ngồi nghe ở trong lều, sau lưng ông đang đứng hầu bên ngoài, rồi Người nhắc lại tin mừng đã nói với ông. Bà cười lăn trong lều. (St 18, 1-15) Rồi ngày vui nhất đời đã tới, khi “Ông Cười” do chính bà mang thai, sinh ra để đem tiếng cười cho mọi người. Ông đã tròn 100, bà đã chín chục. Ba năm sau, ngày cai sữa cho I-xa-ác, bà dứt khoát xóa bỏ kế hoạch đã lỗi thời của bà, để chỉ có một “Ông Cười” ở trong nhà: bà không nhận đứa con do người nô lệ mang thai giùm là con của bà nữa. Bà thẳng tay ra lệnh cho ông đuổi “đứa nô lệ và con của nó đi”. Ông chần chừ nhưng Thiên Chúa lại bắt ông phải theo lệnh bà. Ông đành nhìn người nô lệ nước mắt đầm đìa cõng đứa con ngơ ngác ra khỏi nhà (St 21, 1-21). Những vết hằn của đau thương oán hận gieo vào từ trong bụng mẹ sẽ khiến nó lớn lên “đúng là một con lừa hoang, nó giơ tay chống lạ mọi người, mọi người chống lại nó…” (St 16,12). Ngày ấy tiếng cười của ông như một bản nhạc từ cung trưởng đã bị đổi qua cung thứ, như để chuẩn bị đón giờ Chúa sẽ đòi lại chính tiếng cười Ngài đã cho ông. Giờ ấy đến khi Thiên Chúa lại đến gọi tên ông hai lần, chỉ để nói với ông:   Người gọi ông : “Áp-ra-ham !” Ông thưa : “Dạ, con đây !” 2Người phán : “Hãy đem con của ngươi, đứa con một yêu dấu của ngươi là I-xa-ác, hãy đi đến xứ Mô-ri-gia mà dâng nó làm lễ toàn thiêu  ở đấy, trên một ngọn núi Ta sẽ chỉ cho.” (St 22,1-2) Lời Thiên Chúa hôm nay như đưa ông về điểm khởi đầu: lại trắng tay. Đứa con do người nô lệ sinh cho ông đã bị vợ ông bắt phải đuổi đi. Đứa con do vợ yêu của ông sinh cho ông thì Thiên Chúa đòi lại. Lời “trên một ngọn núi Ta sẽ chỉ cho” âm vang lời đã nghe mấy chục năm trước “đi tới miền đất ta sẽ chỉ cho”. Lần này ông không có gì để nói với Thiên Chúa. Ông không cười cũng không khóc, chỉ lặng lặng dậy sớm và chuẩn bị mọi thứ, rồi dẫn con đi. Lần trước ông đi ba năm mới tới miền đất Thiên Chúa chỉ cho ông[1], lần này thì ông đi bà ngày mới tới ngọn núi Thiên Chúa chỉ. Ông chất củi từ trên lưng lừa sang vai con, ông thì một tay cầm dao một tay cầm lửa. Hai cha con cùng đi lên núi. Sự thinh lặng chỉ bị ngắt quãng vì mẩu đối thoại giữa hai cha con. Mẩu đối thoại nghe mà đứt ruột vì đây là lần đầu và lần cuối ta được nghe I-xa-ác ngây thơ tin tưởng gọi “cha ơi”, trong khi người cha biết mình đang dẫn con đi đâu, nên âu yếm “cha đây, con của cha ơi!” và một lần nữa “con của cha ơi!” Rồi hai người tiếp tục đi cùng nhau. Lên tới nơi Thiên Chúa chỉ, ông tự tay lập bàn thờ, xếp củi lên, rồi tự tay trói con lại, đặt lên bàn thờ. Hai cha con vẫn im lặng. Ông đưa tay ra cầm lấy con dao thì Sứ Thần Thiên Chúa đột ngột phá tan sự thinh lặng, gọi tên ông hai lần đồn dập. Ông thưa: “Này con đây!” Lệnh mới của Thiên Chúa: “Đừng đưa tay hại đứa trẻ!...” Lưỡi dao nằm yên đó, nhưng đã mở trái tim ông cho Thiên Chúa xem: “Ta thấy lòng ngươi rồi…” Ông đã chứng tỏ rằng ông “yêu mến Thiên Chúa bằng tất cả trái tim, bằng tất cả mạng sống và bằng tất cả những gì ông có”. “Đứa con của ông, đứa con một của ông, đứa con yêu dấu của ông, ông cũng không từ chối Thiên Chúa”, nó nằm trên bàn thờ chứ không nằm trong tim của ông. Thiên Chúa mới là phần gia nghiệp của ông, là tất cả của ông và lấp đầy trái tim ông. Ông thật sự là “người bạn của Thiên Chúa”. Thiên Chúa còn gọi lần nữa để nhắc lại lời hứa ông đã nghe dưới ánh sao năm xưa. Ông lại thinh lặng ôm theo lời hứa đi xuống núi, rồi cùng với hai người tôi tớ. Lần này ông biết mình phải đi đâu và ở đâu: “Ông lên đường đi về phía Bơ-e Se-va. Ông cư ngụ tại đó”. Thiên Chúa sẽ truyền cho dòng dõi ông yêu mến Thiên Chúa như ông đã yêu mến (Đnl 6, 5). Nhưng họ có giống ông được không thì lại là truyện dài nhiều tập trong lịch sử.  
  1. I-xa-ác, món quà của tình bạn giữa Thiên Chúa và Áp-ra-ham
Trình thuật “hiến tế I-xa-ác” vừa đọc kết thúc với hình ảnh Áp-ra-ham quay lưng xuống núi một mình, không thấy kể Áp-ra-ham cởi trói, đem con xuống khỏi bàn thờ… rồi đi về phía Bơ-e-Sê-va và dịnh cư ở đó. Không thấy nhắc đến bà Xa-ra, cũng không nhắc đến I-xa-ác nữa. Nhiều năm sau, khi bà Xa-ra chết với tuổi thọ một trăm hai mươi bảy, ta mới được nghe tiếp câu chuyện lời hứa về một miền đất: nó cũng vẫn còn trong cõi đợi chờ. Ông phải đi mua một phần đất để chôn bà. Cả trong đám tang này cũng không thấy I-xa-ác xuất hiện. Khi ông Áp-ra-ham đã lớn tuổi lắm ta mới lại nghe kể ông Áp-ra-ham sai người lão bộc về quê cũ của ông để tìm vợ cho I-xa-ác. Khi người lão bộc dẫn cô Rê-béc-ca về thì lại chỉ thấy I-xa-ác đón từ giữa cánh đồng và đưa vào lều của bà mẹ Xa-ra quá cố, ở đó cậu cưới nàng làm vợ, cậu yêu nàng và cậu được an ủi về nỗi buồn mất mẹ (St 24, 63-67). Điều trùng hợp lý thú là I-xa-ác và It-ma-en, đứa con do nàng Ha-ga sinh cho Áp-ra-ham, đã bị bà Xa-ra đuổi đi lại cùng nhau lo mai táng ông Áp-ra-ham bên cạnh bà Xa-ra. Sau đó thì I-xa-ác định cư ở gần cái giếng La-khai Rô-i, nơi thiên sứ đạ đón gặp Ha-ga, khi nàng chạy trốn bà chủ Xa-ra, để bảo nàng quay về tùng phục bà, cho đứa con trong bụng nàng được sinh ra trong nhà ông Áp-ra-ham. Nghệ thuật kể chuyện đạt tới đỉnh cao để truyền đạt sứ điệp. Ta đừng thắc mắc thêm kẻo thành “vẽ rắn thêm chân” làm hỏng bức tranh. Rê-béc-ca cũng chịu thân phận hiếm muộn giống bà Xa-ra. I-xa-ác tha thiết khẩn nài Thiên Chúa, và Thiên Chúa cho bà một cặp song sinh, Ê-sau và Gia-cóp. Nhưng ông thì cưng Ê-sau là đứa ra trước, thích lang thang săn bắn. Bà thì cưng Gia-cóp, đứa ra sau, tối ngày bám váy mẹ ở nhà. Từ trong bụng mẹ, Gia-cóp đã mưu đoạt vị trí trưởng nam. Khi I-xa-ác đã lòa, thì bà vợ yêu dấu từng làm ông khuây nỗi buồn mất mẹ, nay sắp đăt để giành quyền trưởng nam cho cục cưng của bà. Rồi sợ Ê-sau trả thù đứa em, bà lại tỉ tê xúi ông I-xa-ác sai Gia-cóp về quê ngoại. Trong câu chuyện của gia đình Ap-ra-ham, I-xa-ác như một cái bóng mờ, hết được mẹ ấp[2] thì lại có vợ ủ cho tới chết. I-xa-ác chỉ thật sự có mặt trong truyện hiến tế, cưới vợ, khấn xin cho vợ có con và cuối cùng là việc thừa kế do bà vợ dàn xếp. Ông chỉ như cái gạch nối giữa Áp-ra-ham và Gia-cóp trong gia đình. Trong tương quan giữa Áp-ra-ham với Thiên Chúa thì ông là món quà “bọc điều” trao tay giữa Thiên Chúa và Áp-ra-ham để nối kết tình bạn. Nhưng chính ở điểm này thì ông lại trở thành hình bóng của Con Một Thiên Chúa, người con nối lại tương quan giữa loài người với Thiên Chúa. Sách Tin Mừng Mát-thêu vận dụng một cách nhẹ nhàng kín đáo mà phải tinh mắt mới nhận ra. Tin Mừng này mở đầu với nguồn gốc của Đức Giê-su Ki-tô. Bản gia phả nói lên nguồn gốc về phía loài người, trong đó Áp-ra-ham và Đa-vít được đặt làm cột mốc, vì hai ông tổ này đã nhận được hai lời hứa của Thiên Chúa: lời hứa cho Áp-ra-ham một dòng dõi đông như sao trời cát biển, và cho Đa-vít có dòng dõi mãi mãi làm vua. Lời sứ thần báo cho ông Giu-se con vua Đa-vít (Mt 1, 20-25) giaỉ thích nguồn gốc Đức Giê-su về phía Thiên Chúa. Ông Giu-se con vua Đa-vít lại là con ông Gia-cóp, giống ông Giu-se trong Cựu ước. Lời hứa cho Áp-ra-ham được thực hiện mở đầu với người con một yêu dấu I-xa-ác, sau khi hiến tế thì Thiên Chúa bảo đảm lại lần nữa là dòng dõi đông như sao trời cát biển mà Thiên Chúa đã hứa xuất phát từ người con duy nhất này. Lời hứa cho Đa-vít có vẻ như bế tắc từ cuộc lưu đầy Ba-by-lon, vì từ đó chẳng có ai trong dòng dõi Đa-vít lên làm vua nữa. Chúa Giê-su phục sinh sai “bà Maria Ma-đa-lê-na và một bà khác cũng tên là Maria: “đi báo cho anh em của Thầy rằng họ phải đi về Ga-li-lê, ở đó họ sẽ gặp Thầy”. Ngay sau đó thì chúng ta được biết “anh em của Chúa Giê-su” chính là Mười Một Tông Đồ còn lại: 16Mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến. 17Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi c. 18Đức Giê-su đến gần, nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. 19Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, 20dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến ở xứ Ga-li-lê vọng lại “ngọn núi Thiên Chúa đã chỉ cho ông Áp-ra-ham” ở xứ Mô-ri-gia để hiến tế người con một yêu dấu, ở đó Thiên Chúa đã khẳng định lại lời hứa cho ông “làm cha vô số dân tộc(St 17,6) và “dòng dõi đông như sao trời cát biển” (St 22,1-18). Trên ngọn núi Chúa Giê-su truyền cho nhóm mười một đi đến ở xứ Ga-li-lê, Chúa Phục Sinh tuyên bố lời Thiên Chúa hứa cho Đa-vít đã thành tựu nơi Ngài, là Con Vua Đa-vít. Lời hứa cho Áp-ra-ham dòng dõi đông như sao trời cát biển cũng được thực hiện nơi Ngài. Các môn đệ đã thành anh em của Ngài phải ra đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ tức là thành anh em của Chúa. “Đức Giê-su con ông Giu-se” đã tìm được anh em của mình, đến phiên họ phải “đi tìm anh em của mình” như ông Giu-se con ông Gia-cóp trong Cựu Ước (St 37.39-45). Trong Sách Tin Mừng thứ tư thì “cái bóng mờ” I-xa-ác lại sáng như trăng rằm. “Cái bóng I-xa-ác” có mặt xuyên suốt như “hình in chìm” phía sau hình nổi của Đức Giê-su Ki-tô, Con Một của Thiên Chúa. Khởi từ danh hiệu đầu tiên ông Gio-an Tiền Hô giới thiệu Đức Giê-su với đám đông dân chúng: “Đây là Con Chiên của Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” cho tới cảnh “Đức Giê-su tự vác lấy thập giá của mình, đi tới Gôn-gô-tha”. Đây là Con Chiên của Thiên Chúa vang lên như loan báo sự thực hiện lời Áp-ra-ham nói với I-xa-ác con một yêu dấu của ông trong mẩu đối thoại ngắn ngủi mà đứt ruột khi hai cha con cùng đi lên núi: “Thiên Chúa sẽ tự lo liệu cho mình một con chiên để làm của lễ toàn thiêu” (St 22, 8). Con chiên Thiên Chúa tự lo liệu cho mình chính là Con Một của Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một…” (Ga 3, 16). Niềm vui khiến ông Áp-ra-ham cười bò, bà Xa-ra cười lăn cũng vang lên ở chương thứ tám trong cuộc tranh luận về ai là con của Áp-ra-ham, ai con của Thiên Chúa: “Ông Áp-ra-ham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi. Ông đã thấy và đã mừng rỡ.” (8, 56). Cả cuộc đối thoại giữa Áp-ra-ham và con một yêu dấu lại vang lên đàng sau cuộc đối thoại của Đức Giê-su, Con Một của Thiên Chúa với Cha, khi giờ đã đến: 27“Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. 28Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha.” Bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống: “Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa!” (12,27-28). Cuối cùng, cảnh I-xa-ác vác củi, hai cha con cùng đi lên núi, hiện lên như cái bóng khi “Chính Đức Giê-su vác lấy thập giá của mình đi ra, đến nơi gọi là Núi Sọ” (19,17) với lời giải thích trước của Đức Giê-su: “anh em sẽ bị phân tán, để Thầy cô độc một mình. Nhưng Thầy không cô độc đâu, vì Chúa Cha ở với Thầy” (16,32).  
  • Gia-cóp / “Ít-ra-en, kẻ đấu với Thiên Chúa và với người ta”
I-xa-ác mờ như một gói quà “bọc điều” trao tay qua lại giữa Thiên Chúa và Áp-ra-ham, còn Gia-cóp nổi lên hoạt náo như một con người vật lộn với mọi người và với cả Thiên Chúa để dành phần phúc cho mình ngay từ trong bụng mẹ. Cặp song sinh này từ trong bụng mẹ đã đụng nhau. Khi sinh, thì “đứa ra trước đỏ hoe, toàn thân như một cái áo choàng bằng lông, nên gọi tên là Ê-sau; đứa ra sau nắm gót chân đứa ra trước, như muốn kéo lại để dành ra trước, vì thế gọi là Gia-cóp [kẻ níu gót]. (còn tiếp)   [1] Tính toán dựa trên lời: “mười năm sau, kể từ khi ông định cư ở đất Ca-na-an” (St 16,3); khi Ha-ga sinh cho ông đứa con trai thì ông 86 tuổi (16,16); khi ông rời nhà cha mẹ lên đường thì ông bảy mươi lăm tuổi (12,4). [2] Các sách giải nghĩa Sách Thánh và Lề Luật của Do Thái (Tan-mút), giải thích rằng sau khi Áp-ra-ham lén đem con đi tế lễ hụt rồi về, bà Xa-ra biết giận lắm và từ đó giữ I-xa-ác thật kỹ trong lều cho tới khi bà chết.
Thiên Chúa tạo nên con ngườigiống hình ảnh Thiên Chúa

JK

Đọc lại sách Xuất Hành - Vụ con bê bằng vàng

 

Đọc lại sách Xuất Hành - Vụ con bê bằng vàng

 

Tội tổ tông thứ nhất xảy ra trong vườn Địa Đàng, con người nghe Xa-tan xúi giục, nghi ngờ tình yêu thương của Thiên Chúa. Đã nghi ngờ tình yêu thì mọi thứ bị đảo lộn. Những gì là quà tặng của tình yêu mất hết giá trị, và người ta đi tìm cái khác bù lại. Cái gì cũng tin, trừ tình yêu mình đã từ chối. Tin rằng một thứ trái cây lại có sức đem cho người ta hơn cả những gì đã mất: cho mình trở nên như những vị thần. Đó là cái ảo tưởng dai dẳng trong lòng con người từ đó tới nay. Lịch sử cứu độ từ Vườn Địa Đàng tới nay vẫn là sự vật lộn giữa thật và giả, giữa Thiên Chúa thật và ngẫu tượng. Xưa thì ngẫu tượng là những vật vô tri tay người ta làm ra, rồi đến của cải, quyền lực. Người ta có thể “sát tế” cả đến con cái mình, dân tộc mình, ngày nay thì có thể sát tế cả nhân loại cho thần quyền lực, thần tiền tài. Ngẫu tượng ngày nay còn có cả những con người bằng xương bằng thịt, có sức cuốn hút cả một thế hệ, người ta dùng chính cái tên “thần tượng” để gọi và người ta thèm nên giống thần tượng của mình, từ mái tóc, từ cách đi đứng. Thần tượng kiểu nào cũng làm con người vong thân. Điều nghịch lý là Thiên Chúa giải phóng, còn ngẫu tượng bắt người ta làm nô lệ, nhưng người ta lạ cứ thích làm nô lệ hơn.

Đoàn dân nô lệ được Thiên Chúa sai Mô-sê đưa ra khỏi Ai cập chỉ tin vào Thiên Chúa khi đã thấy xác của đoàn quân đuổi theo mình phơi trên bờ biển, nhưng vừa thiếu bánh thiếu nước, thèm con cá, miếng thịt, quả dưa quả bí, củ hành củ tỏi là đã muốn đánh đổi tự do lấy bụng no! Đoàn dân nô lệ vừa được ngóc đâu lên muốn có “tất cả và ngay lập tức”. Thiên Chúa cũng kiên nhẫn săn sóc họ như một đứa trẻ (x. Xh 16-17).

Đến núi Xi-nai, Thiên Chúa muốn nâng phẩm giá cho họ bằng một Giao Ước, nhận họ làm dân của Ngài (x. Xh 19-24), vì Ngài trung thành với lời đã hứa cho Áp-ra-ham, người “bạn của Thiên Chúa”. Bấy lâu nay họ chỉ biết các ngẫu tượng của Ai-cập, chưa biết Thiên Chúa của tổ tiên họ. Thiên Chúa cho họ thấy sự uy nghi siêu việt của Thiên Chúa bằng cuộc hiển linh trên núi Xi-nai để phán dạy họ. Họ sợ hãi, xin Mô-sê làm trung gian nói với họ bằng tiếng nói của loài người. Thiên Chúa cũng chiều ý họ. Sau khi ông Mô-sê đã rao cho họ nghe Luật của Giao Ước thì họ nghe và chấp nhận. Ông Mô-sê cử hành nghi lễ kết ước. Thiên Chúa gọi ông Mô-sê lên núi để lãnh “hai tấm bia chứng ước; những bia ấy viết cả hai mặt. Những bia ấy là do Thiên Chúa làm ra, chữ là chữ của Thiên Chúa, khắc trên các bia.”

Ông Mô-sê ở lại trên núi bốn mươi ngày đêm, biệt vô âm tín. Dân sốt ruột. Trước khi lên núi, ông Mô-sê đã giao cho A-ha-ron, người anh đã giúp ông từ đầu cuộc vận động giải phóng ở Ai-cập tới nay, làm đại diện ở với dân. Ngồi chờ cả tháng trời họ mất kiên nhẫn. Họ đến gặp ông đại diện lâm thời đang ngồi đó và yêu cầu: Xin ông đứng lên, làm cho chúng tôi một vị thần để dẫn đầu chúng tôi, vì chúng tôi không biết chuyện gì đã xảy ra cho cái ông Mô-sê này, là người đã đưa chúng tôi lên từ đất Ai-cập.” Họ muốn có một vị thần dân đầu mà họ điều khiển được, thay vì Thiên Chúa uy nghi trên núi khiến họ sợ hãi và không thể điều khiển.

Ông A-ha-ron không hề thắc mắc hay phản kháng. Ông có ngay sáng kiến để thỏa mãn yêu cầu của dân khi nhìn họ đeo những đồ trang sức bằng vàng dân đã đoạt của người Ai-cập. “Ông A-ha-ron nói với họ: “Hãy gỡ các khuyên vàng mà vợ và con trai con gái anh em đeo ở tai, rồi đem đến cho tôi.” 3Toàn dân gỡ các khuyên vàng đeo tai và đem đến cho ông A-ha-ron. 4Ông lấy vàng từ tay họ trao cho, đem đúc và dùng dao mà gọt đẽo thành một con bê[1]. Có vẻ ông A-ha-ron thạo nghề kim hoàn!

Ông khỏi cần nói gì thêm. Thấy con bê bằng vàng ông vừa hoàn thành, dân bộc phát tung hô: “Đây là thần của ngươi đã đưa ngươi ra khỏi Ai-cập.” Vuốt râu đắc ý, ông dựng bà thờ trước tượng con bê, rồi tuyên bố: “Mai có lễ kính Đức Chúa”. Dân nhiệt liệt hưởng ứng: “Ngay hôm sau, họ dậy sớm, dâng tiến những của lễ toàn thiêu và những lễ vật kỳ an. Dân ngồi xuống ăn uống, rồi đứng lên bày trò vui chơi.”

Ông Mô-sê bị thả trôi sông, được công chúa cứu, lớn lên trong hoàng cung. Sau đó trốn sang đất Ma-đi-an. A-ha-ron sinh trước cái lệnh tàn ác kia, nên thanh thản lớn lên trong gia đình. Ông mang theo ký ức về các ngẫu tượng, các buổi lễ hội của Ai-cập. Những ký ức kia và tay nghề giúp ông thỏa mãn yêu cầu của dân thật dễ dàng.

Sách Xuất Hành không nói gì đến đời sống tôn giáo của đám dân nô-lệ này suốt mấy trăm năm lưu lạc bên Ai-cập. Nhưng sách Ê-dê-ki-en cho thấy :

« Hỡi con người, xưa có hai người đàn bà là con cùng một mẹ. 3Chúng đã đàng điếm ở Ai-cập ; ngay từ thời thơ ấu, chúng đã đàng điếm. Ở đó, chúng đã bị bóp vú, bị nắn ngực còn trinh. 4Tên của chúng : chị là O-ho-la, em là O-ho-li-va. Chúng đã thuộc về Ta và sinh được một bầy con trai con gái. Đây là tên của chúng : O-ho-la là Sa-ma-ri và O-ho-li-va là Giê-ru-sa-lem. » (23,2-4).

Vậy thì tượng con bê bằng vàng và lễ hội không phải là sáng kiến của ông A-ha-ron, nhưng chỉ là bắt chước dân Ai-cập thôi. Điều mỉa mai là vàng đoạt của dân Ai cập lại thành ông thần đưa dân nô lệ ra khỏi Ai-cập. Nếu nhớ lại câu chuyện của bà tổ Ra-khen khi theo chồng trốn về bên nội thì ta thấy cái mỉa mai còn sâu sắc hơn nữa (x. St 31). Bà Ra-khen lấy trộm các tượng thần của cha mang theo. Khi cha đuổi theo và hỏi tội Gia-cóp : « Sao con lại lấy trộm các thần của cha ». Gia-cóp chẳng biết gì về việc vợ đã làm, nên khẳng khái trả lời : « Nếu cha tìm thấy các thần của cha nơi người nào, thì người ấy không được sống nữa. » Trong khi ông La-ban lục lọi trong lều thì bà Ra-khen cho các thần trú ẩn dưới yên lạc đà rồi thản nhiên ngồi lên trên. Cha tới thì bà viện cớ « ngày phụ nữ của con » để xin miễn đứng lên. Ông La-ban chịu thua. Bà tổ thì cho thần của tổ tiên núp ở nơi hiểm hóc nhất, con cháu bốn trăm năm mươi năm sau thì lấy vàng của Ai-cập đúc tượng thần Ai-cập mà đặt lên bàn thờ[2] !

Ông Mô-sê còn ngây ngất ở trên núi thì Thiên Chúa báo cho ông biết và bảo ông xuống ngay. Thiên Chúa cho ông biết kế hoạch mới : xóa sổ dân phản loạn này và cho ông thay thế. Ông liền van xin, và đưa ra hai lý do : một là thể diện của Thiên Chúa trước mặt dân Ai-cập, hai là sự trung thành của Thiên Chúa với lời đã hứa cho Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp. Lập tức « ĐỨC CHÚA đã thương, không giáng phạt dân Người như Người đã đe. »

Ông Mô-sê ôm hai tấm bia đi xuống núi. Vậy khi đến gần trại, ông thấy con bê và những bọn người đang nhảy múa. Ông Mô-sê nổi cơn thịnh nộÔng ném các tấm bia đang cầm trong tay và đập vỡdưới chân núi. 20Ông lấy con bê họ đã làm, đốt đi, tán nhuyễn ra, rắc lên mặt nước, rồi bắt con cái Ít-ra-en uống.

Rồi ông chất vấn ông đại diện A-ha-ron, được một câu trả lời « ngây thơ cụ » :

Ông Mô-sê bảo ông A-ha-ron : “Dân này đã làm gì ông mà ông đưa họ tới chỗ phạm một tội lớn như thế ?” 22Ông A-ha-ron nói : “Xin ngài chớ bừng bừng nổi giận ; chính ngài biết : dân này có khuynh hướng xấu. 23Họ nói với tôi : Xin ông làm cho chúng tôi một vị thần để dẫn đầu chúng tôi, vì chúng tôi không biết chuyện gì đã xảy ra cho cái ông Mô-sê này, là người đã đưa chúng tôi lên từ đất Ai-cập. 24Tôi nói với họ : Ai có vàng ?Họ đã gỡ đồ vàng đeo tai và đưa cho tôi ; tôi ném vào lửa, và đã ra con bê này.”

Đỉnh cao của phản ứng : Mô-sê kêu gọi thánh chiến. Đám con cháu Lê-vi nhiệt thành theo ông. Tắm máu. Sau đó ông tuyên dương cộng trạng và tấn phong đám người nhiệt thành :

Ông Mô-sê nói : “Hôm nay, anh em được phong chức để phục vụ ĐỨC CHÚA, vì kẻ thì đã hy sinh con mình, kẻ thì đã hy sinh anh em mình, khiến Người chúc phúc cho anh em hôm nay.”

Nghe mà nổi da gà ! Họ được phong chức vì đã hy sinh con mình, anh em mình chứ không phải chính mình. Bình tĩnh suy nghĩ thì chúng ta thấy phản ứng sắt máu này hoàn toàn là sáng kiến của ông Mô-sê chứ không phải lệnh của Thiên Chúa. Ông năn nỉ cho dân, Thiên Chúa nhận lời ngay và tuyên bố tha rồi.

Ông Mô-sê tự ý đập vỡ bia chứng ước tức là tự tiện tuyên bố « giao ước đã vỡ ». Chưa hết, ông còn tự ý tuyên bố thánh chiến, gây ra cuộc tắm máu. Ông phải dạy cho dân biết đường lối của Thiên Chúa, thế mà chính ông lại chẳng làm theo. Thiên Chúa tha, nhưng Mô-sê không tha !

Qua một đêm lắng xuống, hôm sau :

Ông Mô-sê trở lại với ĐỨC CHÚA và thưa : “Than ôi, dân này đã phạm một tội lớn ! Họ đã làm cho mình một tượng thần bằng vàng ! 32Nhưng giờ đây, ước gì Ngài miễn chấp tội họ ! Bằng không, thì xin Ngài xoá tên con khỏi cuốn sách Ngài đã viết.” 33ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê : “Kẻ nào phạm tội làm mất lòng Ta, Ta sẽ xoá tên nó khỏi cuốn sách của Ta. 34Bây giờ, ngươi hãy đi, đưa dân tới nơi Ta đã chỉ cho ngươi. Này thiên sứ của Ta sẽ đi trước mặt ngươi ; nhưng đến ngày Ta trừng phạt, Ta sẽ trừng phạt chúng vì tội đã phạm.” (32,31-34)

Hôm qua Thiên Chúa đã tuyên bố tha rồi mà, sao ông còn năn nỉ nữa, lại còn xin được thế mạng cho dân. Có vẻ như vì ông đã không tha nên ông tưởng Thiên Chúa cũng không tha. Thiên Chúa chẳng cần lấy mạng ông như ông đã lấy mạng ba ngàn người hôm qua. Cái mạng của ông cứ để đó, còn xài được. Thiên Chúa ra lệnh cho ông tiếp tục việc của ông là đưa dân đi tới Đất Hứa, và để bảo đảm cho ông đừng tự hành động theo cơn nóng giận thì « thiên sứ của Ta sẽ đi trước mặt ngươi ». Việc trừng phạt là của Thiên Chúa chứ không phải của ông, và Thiên Chúa không nóng vội như ông. « Đến ngày trừng phạt Ta sẽ trừng phạt ». Thế là rõ ràng. Đường lối của Mô-sê không phải là đường lối của Thiên Chúa. Mô-sê còn phải học cho biết đường lối của Thiên Chúa.

Mô-sê đã vỡ mộng với ông anh « ngây thơ cụ », hở ra một chút là làm hỏng việc, nên khi nghe Thiên Chúa ra lệnh đi tiếp, thì xin Thiên Chúa cho người đồng hành.

Ông Mô-sê thưa với ĐỨC CHÚA : “Xin Ngài coi, chính Ngài đã phán với con : ‘Hãy đưa dân ấy lên, vậy mà Ngài lại không cho con biết Ngài sẽ cử ai đi với con. Tuy nhiên chính Ngài đã phán : Ta biết đích danh ngươi, và hơn nữa ngươi đã được nghĩa với Ta.’ 13Vậy bây giờ, nếu quả thật con đã được nghĩa với Ngài,

xin khấng tỏ cho con biết đường lối của Ngài, để con biết Ngài, và được nghĩa với Ngài

Xin cũng coi dân tộc này là dân của Ngài.” 14

ĐỨC CHÚA phán : “Đích thân Ta sẽ đi, và Ta sẽ cho ngươi được nghỉ ngơi.” 

Đến đây ta hiểu rõ điều ông Mô-sê cầu xin. Ông anh « ngây thơ cụ » vẫn cùng đi với ông bấy lâu nay đã tỏ ra không biết đường lối của Thiên Chúa, mà bản thân ông cũng vừa ngộ ra là mình cũng chẳng biết gì hơn. Điều ông xin là được biết đường lối của Thiên Chúa để biết Thiên Chúa. Hôm Thiên Chúa gọi ông từ trong đám lửa, ông đã chẳng biết Người, nên ông xin biết tên của Người để có thể trả lời cho dân khi họ hỏi. Thiên Chúa đã cho ông cái tên dễ hiểu để nói với dân : « Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp », nhưng các cụ tổ đã chết từ mấy trăm năm trước, nên nghe vậy thì biết vậy thôi, đâu có đánh thức được các cụ dậy mà hỏi.

Câu chuyện vừa rồi đã cho ông thấy rằng đường lối của Thiên Chúa mình còn chẳng biết, nói chi là biết chính Thiên Chúa. Qua vụ con bê vàng này ông được « phá ngu » : ngộ ra rằng mình chưa biết Thiên Chúa. Thiên Chúa biết dích danh ông, nhưng ông chưa biết Thiên Chúa. Nhưng ông năn nỉ lần thứ ba : « xin cũng coi dân tộc này là dân của Ngài » cho thấy là ông vẫn còn nghi ngờ về ơn tha thứ của Thiên Chúa. Thiên Chúa có tha thì mới sai ông tiếp tục dẫn nhọ đi chứ. Một lần nữa ông tỏ ra chưa biết Thiên Chúa và cũng chưa biết đường lối của Thiên Chúa.

Ông muốn xin đi đường tắt để biết Thiên Chúa :

 Xin Ngài thương cho con được thấy vinh quang của Ngài.” 19Người phán : “Ta sẽ cho tất cả vẻ đẹp của Ta đi qua trước mặt ngươi, và sẽ xưng danh Ta là ĐỨC CHÚA trước mặt ngươi. Ta thương ai thì thương, xót ai thì xót.” 20Người phán : “Ngươi không thể xem thấy tôn nhan Ta, vì con người không thể thấy Ta mà vẫn sống.” 21ĐỨC CHÚA còn phán : “Đây là chỗ gần Ta ; ngươi sẽ đứng trên tảng đá. 22Khi vinh quang của Ta đi qua, Ta sẽ đặt ngươi vào trong hốc đá, và lấy bàn tay che ngươi cho đến khi Ta đã đi qua. 23Rồi Ta sẽ rút tay lại, và ngươi sẽ xem thấy lưng Tacòn tôn nhan Ta thì không được thấy.”

Thiên Chúa trả lời thẳng cho ông rằng điều ông vừa xin thì không thể được, nhưng điều ông đã xin trước là đúng : « biết đường lối của Thiên Chúa để biết Thiên Chúa. » Muốn biết đường lối của Thiên Chúa thì hãy chờ Ngài đi qua rồi nhìn lưng Ngài, nghĩa là đi đàng sau Thiên Chúa. Với cụ tổ Áp-ra-ham thì Thiên Chúa truyền : « Ngươi hãy bước đi trước mặt Ta và hãy sống hoàn hảo ». Cụ Tổ luôn tin lời Thiên Chúa và làm theo, nên có thể bước đi trước mặt Thiên Chúa, đã nên hoàn hảo và được gọi là « bạn của Thiên Chúa ». Mô-sê được trao nhiệm vụ dẫn dòng dõi Áp-ra-ham về Đất Hứa thì phải nhìn sau lưng Thiên Chúa để biết đường lối. Thiên Chúa đã hứa : « Này thiên sứ của Ta sẽ đi trước mặt ngươi » (32,34).

Ông Mô-sê đã tự tiện đập vỡ hai bia đá Thiên Chúa ban và bằng cử chỉ này tự ý tuyên bố là Giao Ước đã vỡ. Thiên Chúa truyền cho ông : « Ngươi hãy đẽo hai bia đá giống như hai bia trước. Và Ta sẽ ghi lại trên đó những lời đã ghi trên các bia trước mà ngươi đã đập vỡ. Ngươi hãy chuẩn bị sẵn sàng cho sáng ngày mai.

Ngay từ sáng, ngươi hãy lên núi Xi-nai và đứng chờ Ta ở đó, trên đỉnh núi. 3Không ai được lên với ngươi ; cũng không ai được xuất hiện trên khắp vùng núi ; ngay cả bò bê hay dê cừu cũng không được ăn cỏ trên sườn núi đó.4Vậy ông Mô-sê đẽo hai bia đá giống như những bia trước ; rồi sáng sớm ông thức dậy và lên núi Xi-nai theo lệnh của ĐỨC CHÚA, tay mang hai bia đá.

5 ĐỨC CHÚA ngự xuống trong đám mây và đứng đó với ông. Người xưng danh Người là ĐỨC CHÚA. 6ĐỨC CHÚA đi qua trước mặt ông và xướng : “ĐỨC CHÚA ! ĐỨC CHÚA ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, 7giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi, nhưng không bỏ qua điều gì, và trừng phạt con cháu đến ba bốn đời vì lỗi lầm của cha ông.” 8Ông Mô-sê vội vàng phục xuống đất thờ lạy 9và thưa : “Lạy Chúa, nếu quả thật con được nghĩa với Chúa, thì xin Chúa cùng đi với chúng con. Dân này là một dân cứng đầu cứng cổ, nhưng xin Ngài tha thứ những lỗi lầm và tội lỗi của chúng con, và nhận chúng con làm cơ nghiệp của Ngài.”

10ĐỨC CHÚA phán : “Này Ta sắp lập một giao ước. Trước mặt toàn dân của ngươi, Ta sẽ làm những việc lạ lùng chưa hề được thực hiện trong một nước hay một dân nào. Toàn dân ở chung quanh ngươi sẽ thấy việc ĐỨC CHÚA làm, vì điều Ta sắp dùng ngươi mà làm thì thật đáng sợ. 11Hãy giữ kỹ điều Ta truyền cho ngươi hôm nay.

Mấy điều cần chú ý khi đọc lại toàn chương 34 này.

1/ Lần trước Thiên Chúa truyền tụ họp toàn dân dưới chân núi. Lần này thì hoàn toàn chỉ có một mình ông Mô-sê : không ai được cùng lên núi với ông và cũng không ai được xuất hiện trên khắp vùng.

2/ Đức Chúa đến, tự xưng danh là Đức Chúa, rồi đi qua trước mặt ông và xướng… Lần trước Ngài chỉ nói « Ta thương ai thì thương, xót ai thì xót ». Lần này dài hơn : 6ĐỨC CHÚA đi qua trước mặt ông và xướng : “ĐỨC CHÚA ! ĐỨC CHÚA ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, 7giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi, nhưng không bỏ qua điều gì, và trừng phạt con cháu đến ba bốn đời vì lỗi lầm của cha ông.Thiên Chúa như đang nói cho ông nghe nhiều hơn về đường lối của Thiên Chúa. Một đàng thì Thiên Chúa nhân nghĩa… với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng… một đàng thì khi phạt là phạt ba bốn đời. Muốn thấy Thiên Chúa phạt thì chịu khó chờ qua muôn ngàn thế hệ ! Rõ ràng là cách hành xử theo cơn nóng giận của ông chẳng giống Thiên Chúa một tí nào. Sau này sách ngôn sứ I-sai-a sẽ nói : « Trời cao hơn đất chừng nào thì đường lối của Ta cũng cao hơn đường lối của các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng của các ngươi chừng ấy !» (Is 55,9)

3/ Thiên Chúa nhắc lại cho ông luật Giao Ước, rồi truyền cho ông chép :

Hãy ghi chép những lời này, vì dựa trên chính những lời này mà Ta đã lập giao ước với ngươi và với Ít-ra-en.”

28Ông ở đó với ĐỨC CHÚA bốn mươi ngày bốn mươi đêm, không ăn không uống, và ông viết trên những tấm bia các điều khoản của giao ước, tức là Thập Điều.

4/ Ông Mô-sê từ trên núi Xi-nai xuống, tay cầm hai tấm bia Chứng Ước, khi xuống núi, ông Mô-sê không biết rằng da mặt ông sáng chói bởi đã đàm đạo với Thiên Chúa. 30Khi ông A-ha-ron và toàn thể con cái con Ít-ra-en thấy ông Mô-sê, thì này đây da mặt ông sáng chói, nên họ sợ không dám lại gần ông. 31Ông Mô-sê gọi họ : ông A-ha-ron và các đầu mục của cộng đồng trở lại với ông, và ông nói chuyện với họ. 32Sau đó, toàn thể con cái Ít-ra-en lại gần ông, và ông truyền cho họ tất cả những điều ĐỨC CHÚA đã phán với ông trên núi Xi-nai. 33Nói với họ xong, ông lấy khăn che mặt đi.

Lần này ông đã được ơn soi sáng bên trong và ánh sáng của Thiên Chúa tỏa ra trên khuôn mặt ông. Trong ánh sáng ấy, ông truyền lại cho dân tất cả những điều Đức Chúa đã phán với ông trên núi. Nói xong, ông lấy khăn che mặt đi, như để làm dấu rằng từ nay ông không nói, không hành động theo con người cũ của ông nữa.

5/ Từ đó ông thay đổi nhịp sống để làm người trung gian trung thành, mở khăn che mặt ra để nghe Thiên Chúa truyền, ra nói lại cho dân, rồi lại che mặt : « Khi vào trước nhan ĐỨC CHÚA để đàm đạo với Người, thì ông bỏ khăn cho đến lúc trở ra ; ông trở ra và nói lại với con cái Ít-ra-en những mệnh lệnh ông đã nhận được. 35Con cái Ít-ra-en nhìn mặt ông Mô-sê thấy da mặt ông sáng chói ; ông Mô-sê lại lấy khăn che mặt, cho đến khi vào đàm đạo với Thiên Chúa. »[3]

Một ngôn sứ giống như Mô-sê

Hơn bốn trăm năm sau ta lại gặp một « ngôn sứ giống như Mô-sê », đó là ông Ê-li-a. Ông được sai đến trong bối cảnh mà chính ông kể với Thiên Chúa khi quay lại ngọn núi nơi Thiên Chúa đã đến nói với Mô-sê :

 Ông vào một cái hang và nghỉ đêm tại đó. Có lời ĐỨC CHÚA phán với ông : “Ê-li-a, ngươi làm gì ở đây ?” 10Ông thưa : “Lòng nhiệt thành đối với ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa các đạo binh, nung nấu con, vì con cái Ít-ra-en đã bỏ giao ước với Ngài, phá huỷ bàn thờ, dùng gươm sát hại các ngôn sứ của Ngài. Chỉ còn sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt để lấy mạng sống con.11Người nói với ông : “Hãy ra ngoài và đứng trên núi trước mặt ĐỨC CHÚA. Kìa ĐỨC CHÚA đang đi qua.” Gió to bão lớn xẻ núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan ĐỨC CHÚA, nhưng ĐỨC CHÚA không ở trong cơn gió bão. Sau đó là động đất, nhưng ĐỨC CHÚA không ở trong trận động đất. 12Sau động đất là lửa, nhưng ĐỨC CHÚA cũng không ở trong lửa. Sau lửa có tiếng gió hiu hiu. 13Vừa nghe tiếng đó, ông Ê-li-a lấy áo choàng che mặt, rồi ra ngoài đứng ở cửa hang. Bấy giờ có tiếng hỏi ông : “Ê-li-a, ngươi làm gì ở đây ?” 14Ông thưa : “Lòng nhiệt thành đối với ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa các đạo binh, nung nấu con, vì con cái Ít-ra-en đã bỏ giao ước với Ngài, phá huỷ bàn thờ, dùng gươm sát hại các ngôn sứ của Ngài. Chỉ sót lại một mình con mà họ đang lùng bắt để lấy mạng con.”

Ông « quên » nói là ông cũng đã dùng gươm chém 450 ngôn sứ của thần Ba-an !

Thiên Chúa nhẹ nhàng dạy dỗ ông : Ngài không ở trong gió bão lớn, động đát, lửa… Ngài đến trong tiếng gío hiu hiu như xưa trong vườn Địa Đàng, cả sau khi con người phạm tội đầu tiên (St 3,8).

Tuy vậy sau đó ông còn khiến lửa từ trời xuống đốt hai toán lính vua sai đến tìm ông nhưng lại hỗn xược với ông (2V 1,9-15). Sau này không thấy ngôn sứ nào hành xử như vậy nữa, phải chờ đến các môn đệ của Chúa Giê-su mới lại có hai người muốn làm môn đệ của ông, toan khiến lửa từ trời xuống đốt cả một làng ở Sa-ma-ri chỉ vì họ không chịu tiếp đón Chúa. Chúa quay lại quở trách hai ông (Lc 9, 53-56)[4].

Mấy chương sách Xuất Hành xoay quanh vụ « Con bê bằng vàng » cho thấy rằng ông Mô-sê, người được Thiên Chúa sai đến giải phóng dân nô lệ và thiết lập Giao Ước Xi-nai cũng chưa biết đường lối của Thiên Chúa, lại càng không biết dung nhan của Thiên Chúa. Qua kinh nghiệm sắt máu, rồi đối diện với lòng nhân hậu thương xót của Thiên Chúa ông mới biết phải xin cho được « biết đường lối của Thiên Chúa để biết Thiên Chúa ». Muốn biết đường lối của Thiên Chúa thì đừng che mặt, hãy mở khăn che mặt ra để cho ánh sáng của Thiên Chúa chiếu soi và nhìn theo cách Thiên Chúa hành xử.

Lạy Chúa, xin dò xét để biết rõ lòng con,

xin thử con cho biết những điều con cảm nghĩ.

24Xin Ngài xem con có lạc vào đường gian ác

thì dẫn con theo chính lộ ngàn đời. (Tv 138/139,23-24)

Nhớ bài thánh ca “Xin chỉ cho con đường đi của Chúa,

xin dạy bảo con nước bước của Người…”

Giê-ru-sa-lem, ngày lễ thánh Giu-se Lao Động 2020

L.m. Giu-se Nguyễn công Đoan S.J.

[1] Trong sa mạc Xi-nai hiện nay, trên núi Sê-ra-bít En Kha-đem, vẫn còn dấu vết hoang tàn của ngôi đền thờ thần Ha-do của người Ai-cập từ hơn hai ngàn năm trước CGS. Trên đầu kèo đầu cột còn thấy khắc hình con bò. Thung lũng dẫn tới đền thờ này đây những hình vẽ, chữ viết lưu niệm hành hương  của nhiều dân khác nhau, nên gọl là Oa-đi Mu-kha-táp.  Sách Khôn Ngoan dành bốn chương (12-15) nói về việc thờ ngẫu tượng ở Ca-na-an và Ai-cập.

[2] Coi những châm biếm khác trong sách Khôn ngoan 12-15; Is 46,1-2; Tv 115/113B,4-7

[3] Sau này khi Chúa Giê-su hiển dung trên núi thì ông Mô-sê sẽ cùng với ông Ê-li-a, “hai vị hiện ra, rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giê-ru-sa-lem” (Lc 9,30-31; x. Mt 17,3; Mc 9,4). Thánh Phao-lô sẽ nhắc chi tiết này để so sánh: “Đấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ Giao Ước Mới, không phải Giao Ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí. Vì chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới ban sự sống. 7Nếu việc phục vụ Lề Luật –thứ Lề Luật chỉ đưa đến sự chết và được khắc ghi từng chữ trên những bia đá– mà được vinh quang đến nỗi dân Ít-ra-en không thể nhìn mặt ông Mô-sê được, vì mặt ông chói lọi vinh quang –dù đó chỉ là vinh quang chóng qua–, 8thì việc phục vụ Thần Khí lại không được vinh quang hơn sao? 9Vì việc phục vụ án chết mà còn được vinh quang như thế, thì việc phục vụ đức công chính lại chẳng vinh quang hơn lắm sao? 10So với vinh quang tuyệt vời này, thì vinh quang xưa kia chẳng vinh quang gì. 11Thật vậy, nếu cái chóng qua mà còn được vinh quang, thì cái còn mãi lại chẳng vinh quang hơn sao? 12Vì có một niềm hy vọng như thế mà chúng ta thật vững dạ an lòng. 13Chúng ta không làm như ông Mô-sê lấy màn che để dân Ít-ra-en khỏi thấy khi nào cái chóng qua kia chấm dứt” (2Cr 3,6-13).

[4] Đến thời « Tòa Án Giáo Hội » thì không cần chờ lửa từ trời, nhưng lấy lửa ngay trong bếp để đốt « quân rối đạo ». Tạ ơn Chúa vì Giáo Hội không còn có thể thi hành thứ quyền ghê gớm đó nữa. Nhưng cái não trạng thì vẫn còn đó dai dẳng, cả sau Công Đồng Va-ti-ca-nô II !

Sự khác biệt giữa Kinh Thánh Công Giáo và Tin Lành [1]

 

Sự khác biệt giữa Kinh Thánh Công Giáo và Tin Lành [1]


Sự khác biệt giữa Kinh Thánh Công Giáo và Tin Lành[1]


Quy điển là tên gọi của danh sách các sách chính thức có trong Kinh Thánh. Quy điển có nghĩa là quy tắc của niềm tin. Đối với Giáo Hội Công Giáo và Tin Lành, danh sách các sách Tân Ước đều như nhau. Vấn đề chỉ phát sinh ra đối với Kinh Thánh Cựu Ước. Quy điển Kinh Thánh Giáo Hội Công Giáo dài hơn Kinh Thánh Tin Lành vì có bảy sách mà Kinh Thánh Tin Lành không có. Bảy sách đó là: Tô-bi-a, Giu-đi- tha, Khôn ngoan, Huấn ca, Ba-rúc, 1,2 Ma-ca-bê. Ngoài ra, một số phần trong các sách Ét-te, Đa-ni-en cũng không có trong Kinh Thánh Tin Lành. Những người Tin Lành gọi bảy quyển sách này là Ngụy Thư, nghĩa là bị che dấu. Giáo Hội Công Giáo có nhiều lúc gọi các sách này là Bán Quy Điển hoặc Thứ Quy Điển (Deuterocanonical) vì các sách này được chấp nhận là Kinh Thánh sau giai đoạn các sách Chính Quy Điển (Protocanonical books).


Lý do có sự khác biệt này là Kinh Thánh Công Giáo đặt nền tảng trên các sách Cựu Ước vốn được viết bằng cả tiếng Hy Lạp lẫn Do Thái (bản bảy mươi). Bản bảy mươi này có 46 quyển sách Cựu ước và đây cũng là Kinh Thánh được những Ki-tô hữu tiên khởi sử dụng. Do đó, những sách này đã tạo nên nền tảng vững chắc trong truyền thống Ki-tô giáo. Kinh Thánh Tin Lành được xác lập vào thế kỷ XVI bởi Martin Luther, chỉ bao gồm 39 quyển sách được viết bằng tiếng Do Thái. Do đó, Martin Luther đã loại 7 sách Cựu ước đã kể trên.


Nhìn chung, không có quá nhiều khác biệt giữa Kinh Thánh Tin Lành và Công Giáo. Tin Lành nhận biết tầm quan trọng của những sách mà Công Giáo thêm vào nhưng họ không xem những sách thêm vào là sách chính thức của Kinh Thánh. Giáo hội Công Giáo sử dụng những quyển sách thêm vào này cho mục đích giáo huấn chỉ trong một vài khía cạnh. Chẳng hạn, giáo huấn của Giáo Hội về Luyện Ngục thường đề cập đến những lời kinh cho người chết như đã tìm thấy trong 2 Ma-ca-bê (đây là lời kinh thánh thiện và tốt lành dành để cầu nguyện cho người đã khuất). Sách Khôn Ngoan và Ma-ca-bê là những sách có niềm tin mạnh mẽ vào đời sau mà ta không thể tìm thấy hoặc chỉ tìm thấy  không rõ ràng trong những sách Cựu Ước khác.


Điều cần ghi nhớ rằng những người Công Giáo và Tin Lành đồng ý với nhau trên 90 % về Kinh Thánh và hầu như hoàn toàn đồng ý về tất cả những sách trong Tân Ước. Chúng ta có nhiều điểm chung trong Lời Chúa và đây cũng là nguồn hy vọng lớn lao cho việc hợp nhất đại kết, cho việc hợp nhất giữa những người Ki-tô hữu thuộc những nhóm khác nhau.


(Công Tùng S.J. dịch)



[1] Trích trong “Handbook for Lay Readers” của Peter Schineller, S.J.