Trang

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

HUẤN DỤ CN 4 PS A (26/4/2026) - CHÚA BIẾT CHÚNG TA, GỌI ĐÍCH DANH CHÚNG TA

 

HUẤN DỤ CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH NĂM A (26/4/2026) - CHÚA BIẾT CHÚNG TA, GỌI ĐÍCH DANH CHÚNG TA

avatarVatican News
Vatican News (26/4/2026) - Trưa Chúa nhật 26/4, sau khi dâng thánh lễ tại đền thờ Thánh Phêrô, Đức Thánh cha Lêô XIV đã lên Dinh Tông toà để từ cửa sổ cùng đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng với các tín hữu. Sau đây là toàn văn bài huấn dụ của Đức Thánh Cha:

ĐỨC GIÁO HOÀNG LÊÔ XIV

HUẤN DỤ KINH LẠY NỮ VƯƠNG THIÊN ĐÀNG

Quảng trường Thánh Phêrô

Chúa nhật, ngày 12 tháng 4 năm 2026

[Đa phương tiện]

Anh chị em thân mến, chào anh chị em và chúc Chúa nhật tốt lành!

Trong khi chúng ta tiếp tục hành trình trong mùa Phục sinh, Tin mừng hôm nay thuật lại lời Đức Giêsu ví mình như người mục tử, rồi như cánh cửa của chuồng chiên (x. Ga 10,1-10).

Đức Giêsu đặt người mục tử đối lập với kẻ trộm. Thật vậy, Người nói: “Ai không qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp” (c.1). Và sau đó, Người nói rõ hơn nữa: “Kẻ trộm chỉ đến để trộm cắp, giết hại và phá hủy; còn tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (c.10).

Sự khác biệt thật rõ ràng: người mục tử có một mối liên kết đặc biệt với đoàn chiên của mình, nên có thể đi qua cửa mà vào chuồng; còn ai phải trèo rào thì chắc chắn là kẻ trộm, muốn chiếm đoạt đàn chiên.

Đức Giêsu cho chúng ta biết Người gắn bó với chúng ta bằng một mối tương quan thân tình: Người biết chúng ta, gọi chúng ta đích danh, dẫn dắt chúng ta, và như người mục tử đối với đoàn chiên, Người đi tìm chúng ta khi chúng ta lạc lối và băng bó vết thương khi chúng ta đau yếu (x. Ed 34,16).

Đức Giêsu không đến như kẻ trộm để cướp đi sự sống và tự do của chúng ta, nhưng để dẫn chúng ta đi trên những nẻo đường chính trực. Người không đến để khống chế hay lừa dối lương tâm, nhưng để soi sáng lương tâm bằng ánh sáng khôn ngoan của Người. Người cũng không đến để làm vẩn đục những niềm vui trần thế, nhưng mở ra cho chúng ta một niềm hạnh phúc trọn vẹn và bền vững hơn. Ai tín thác vào Người thì không có gì phải sợ: Người không làm giảm giá trị sự sống của chúng ta, nhưng đến để ban cho chúng ta sự sống dồi dào (x. c.10).

Anh chị em thân mến, chúng ta được mời gọi suy tư và nhất là canh giữ “ràn chiên” của con tim và đời sống mình, bởi vì những gì bước vào đó có thể làm gia tăng niềm vui hoặc, như kẻ trộm, có thể đánh cắp niềm vui ấy.

Những “kẻ trộm” có thể mang nhiều khuôn mặt: đó là những người, dù bề ngoài thế nào, lại bóp nghẹt tự do của chúng ta hoặc không tôn trọng phẩm giá của chúng ta; đó là những xác tín và thành kiến khiến chúng ta không thể nhìn người khác và cuộc sống với ánh mắt bình an; đó là những ý tưởng sai lầm dẫn chúng ta đến những lựa chọn tiêu cực; đó là những lối sống hời hợt hoặc chạy theo chủ nghĩa tiêu thụ, làm chúng ta trống rỗng nội tâm và khiến chúng ta luôn sống ở bên ngoài chính mình.

Và cũng đừng quên những “kẻ trộm” khác, khi tàn phá tài nguyên trái đất, gây ra những cuộc chiến đẫm máu hoặc nuôi dưỡng sự dữ dưới bất kỳ hình thức nào, thực chất là đang cướp đi của tất cả chúng ta khả năng có một tương lai bình an và thanh thản.

Chúng ta có thể tự hỏi: chúng ta muốn để ai dẫn dắt đời mình? Những “kẻ trộm” nào đã tìm cách bước vào “ràn chiên” của chúng ta? Chúng đã thành công chưa, hay chúng ta đã biết cách khước từ chúng?

Tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta tín thác vào Chúa: Người không đến để lấy đi điều gì của chúng ta; trái lại, Người là Mục tử nhân lành, Đấng làm cho sự sống được tăng trưởng và ban cho chúng ta sự sống dồi dào.

Xin Đức Trinh Nữ Maria luôn đồng hành với chúng ta trên hành trình đời mình, và chuyển cầu cho chúng ta cũng như cho toàn thế giới.

Nguồn: vaticannews.va/vi

VINH QUANG CỦA ANTIÔKIA, CÁI NÔI CỦA KITÔ GIÁO

 

VINH QUANG CỦA ANTIÔKIA, CÁI NÔI CỦA KITÔ GIÁO

avatarĐan sĩ Élisée
WGPVL (27/4/2026) - Mặc dù sự tồn tại về mặt vật chất của nó đang bị đe dọa ngày nay, nhưng chính tại Giáo hội Antiôkia (Antioch) mà đức tin Kitô giáo đã tìm thấy sự chính xác và sức mạnh của mình. Tác giả của cuốn “Vinh quang của Antiôkia” (xuất bản bởi Éditions du Cerf), Đan sĩ Élisée kể lại cách thành phố của Thánh Gioan Kim Khẩu - ngày nay là Antakya, ở miền nam Thổ Nhĩ Kỳ - đã tự khẳng định mình là một trong những cái nôi quan trọng của Kitô giáo.

Kitô giáo ở Antiôkia trong sáu thế kỷ đầu còn có thể mang lại cho chúng ta điều gì? Những điều cốt yếu, và hơn thế nữa, một số bài học vô cùng quan trọng. Chính từ vòng ảnh hưởng của Antiôkia mà chúng ta tìm thấy những chứng từ quan trọng nhất, từ thời kỳ sơ khai, liên quan đến đời sống sôi động của các cộng đoàn Kitô giáo đầu tiên, cấu trúc của Giáo hội được hình dung như một sự hiệp thông tập trung vào cộng đoàn Thánh Thể, tổ chức hệ thống phẩm trật mục vụ như một nguyên tắc thống nhất, và sự tương tác giữa các thừa tác viên và cộng đoàn tín hữu. Là một trung tâm truyền giáo kể từ thời Thánh Phaolô, Antiôkia cũng rất sớm quan tâm đến việc truyền bá Tin mừng và thế giới quan Kitô giáo trong một nền văn hóa, “chủ nghĩa Hy Lạp,” xa lạ với truyền thống Kinh thánh: một ví dụ điển hình về sự hội nhập văn hóa mà trong đó sự lan rộng mang tính toàn cầu của Kitô giáo trở nên đặc biệt có giá trị trong thời đại hôm nay.

Những nền tảng của giáo lý Kitô giáo

Về mặt thể hiện đức tin của Giáo hội, Antiôkia được đặc trưng bởi sự phát triển mạnh mẽ về thần học, mặc dù không phải lúc nào cũng tránh khỏi những lạc giáo - tức là những quan điểm đi chệch khỏi cốt lõi của mặc khải Kinh thánh - nhưng điều này cũng giải thích những tranh cãi gay gắt đôi khi nảy sinh từ nỗ lực này. Theo nghĩa này, nó rất tiêu biểu cho bối cảnh và sự hình thành đầy gian khổ của nền tảng giáo lý Kitô giáo, đặc biệt là thông qua công việc của các công đồng đại kết đầu tiên, vốn không hề khuất phục trước bất kỳ khuynh hướng suy đoán nào, nhưng đã nỗ lực nhận thức về ơn cứu độ và kế hoạch của Thiên Chúa một cách dễ hiểu nhất có thể, đồng thời bảo tồn bản chất không thể diễn tả của mầu nhiệm Thiên Chúa. Trong thần học Ba Ngôi, nền tảng đã được đặt ra cho sự hiểu biết về bản chất của Thiên Chúa duy nhất và Ba Ngôi, hoàn toàn duy nhất về bản thể nhưng được thể hiện qua những tính chất độc nhất không thể giản lược của các Ngôi Vị Thiên Chúa, mỗi Ngôi Vị là một cách thức biểu đạt riêng biệt của bản thể chung. Chúng ta thấy hiện tượng tương tự trong thần học về Chúa Kitô, điều cuối cùng đã cho thấy sự cần thiết cấp bách của Ngôi Lời nhập thể, Đấng không chỉ đồng bản thể với Thiên Chúa mà còn đồng bản tính với nhân loại của chúng ta, để bảo đảm ơn cứu độ được nên hữu hiệu cho toàn thể vũ trụ.

Một trường phái chú giải nổi tiếng

Là nơi tọa lạc của một trường phái chú giải Kinh thánh nổi tiếng, chú trọng phân tích tính mạch lạc của lịch sử thánh hơn là đưa ra cách hiểu Kinh thánh theo hướng thiêng liêng, Antiôkia đã sản sinh ra những học giả lỗi lạc, những người đã phát triển một tầm nhìn đầy sức lôi cuốn về kế hoạch của Thiên Chúa, một kế hoạch được xem như một công trình sư phạm rộng lớn mang tầm vóc vũ trụ. Về sau, một nhà thần học lỗi lạc địa phương khác đã đưa ra một cách giải thích tinh tế và thuyết phục về vấn đề tội nguyên tổ, một cách giải thích tránh được những bế tắc mà sau này một số người theo chủ nghĩa Augustinô cực đoan ở phương Tây đã gặp phải.

Một sự nở rộ đáng kinh ngạc của đời sống đan tu

Không thể nhắc đến Antiôkia mà không nhắc đến Thánh Gioan Kim Khẩu, người con ưu tú nhất của thành phố này. Những bài giảng của ngài, đôi khi được trình bày trong những hoàn cảnh đầy kịch tính, phản ánh nỗ lực to lớn của các vị mục tử thời đó nhằm nâng cao trình độ vốn khá bình dân của đại đa số tín hữu mới gia nhập Giáo hội. Trong mắt họ, điều đó không gì khác hơn là việc biến đổi những “người Kitô hữu nửa vời,” vẫn còn chìm đắm trong tín ngưỡng ngoại giáo, thành những môn đệ sốt sắng của Chúa Kitô, theo đức tin mà Kitô giáo đã tuyên xưng trong ba thế kỷ đầu tiên. Chúng ta thấy nỗ lực tương tự của Giáo hội trong việc Kitô hóa các tín ngưỡng chữa bệnh và các thực hành mê tín dị đoan khác bằng cách dâng kính các thánh địa ngoại giáo cổ xưa cho các vị tử đạo, những người được chọn làm công cụ hòa giải với Thiên Chúa. Sự phát triển của các cuộc hành hương cũng đi theo con đường tương tự, bắt nguồn từ tính chất thiêng liêng của những nơi được thánh hóa bởi biến cố Nhập thể của Ngôi Lời Thiên Chúa.

Trung tâm Giáo hội Antiôkia nổi bật với sự hưng thịnh đáng kể của đời sống đan tu, đặc trưng bởi sự ưu việt của chủ nghĩa khổ hạnh, tầm quan trọng của lối sống ẩn dật, và một quan niệm nghiêm khắc về sự phó thác hoàn toàn cho sự quan phòng của Thiên Chúa như được rao giảng trong Tin mừng. Do đó, một hình thức thánh thiện mới, đó là sự thánh thiện của “những kẻ khờ dại vì Chúa Kitô,” đã minh chứng cho giáo lý xuất chúng của Thánh Phaolô về sự điên rồ nhưng mang đến ơn cứu độ của thập giá (x. 1Cr 1,17-25). Điều này không chỉ bao gồm việc bắt chước cách triệt để sự tự khiêm tự hạ của Ngôi Lời trong sự Nhập thể và cuộc Khổ nạn của Người, mà còn, dưới vỏ bọc của sự thiếu lý trí, thực hiện sứ mệnh ngôn sứ và thể hiện lòng thương xót tích cực, đặc biệt là đối với những người khiêm nhường và tội nhân.

Sự phong phú của các nghi lễ Đông phương

Sự sáng tạo đáng kinh ngạc của Kitô giáo Antiôkia đặc biệt thể hiện rõ trong lĩnh vực phụng vụ. Những bài học sâu sắc từ khảo cổ học Kitô giáo vẽ nên bức tranh về một nghi lễ phụng vụ sống động, trong đó sự tham gia của dân chúng vào việc cử hành được đặc biệt nhấn mạnh. Antiôkia là cái nôi của hầu hết các nghi lễ phụng vụ Đông phương, từ đó chúng ta có thể nhận thấy, trong số những điều khác, hai đặc điểm chính: một mặt là sự ca ngợi vũ trụ phản ánh nghi lễ phụng vụ thiên đàng vĩnh cửu và vinh quang của các thiên thần, và mặt khác là tầm quan trọng của lời cầu nguyện khẩn nài (epiclesis) và, rộng hơn, vai trò của Chúa Thánh Thần như là Đấng thúc đẩy đời sống của Giáo hội.

Tóm lại, Kitô giáo mang ơn sâu sắc đối với Kitô giáo ở Antiôkia, một nơi hiện đang bị đe dọa về mặt vật chất, nhưng không phải đối với sự trường tồn về mặt tinh thần.

Tác giả: Đan sĩ Élisée – Nguồn: 

Chuyển ngữ: Lm. Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên

Chuyển ngữ từ: Aleteia (26/4/2026)

Nguồn: giaophanvinhlong.net

GÁNH NẶNG LỚN LAO CỦA MỤC TỬ NHÂN LÀNH: BIỂU TƯỢNG KITÔ GIÁO THỜI SƠ KHAI

 

GÁNH NẶNG LỚN LAO CỦA MỤC TỬ NHÂN LÀNH: BIỂU TƯỢNG KITÔ GIÁO THỜI SƠ KHAI

avatarDaniel Esparza
WGPVL (26/4/2026) - Hình ảnh Mục tử Nhân lành chắc chắn là một trong những mô típ sớm nhất và trường tồn nhất trong nghệ thuật Kitô giáo - một chàng trai trẻ nhẹ nhàng cõng một con chiên trên vai. Nhưng hình ảnh này không chỉ đơn thuần là một cảnh đồng quê. Nó thể hiện cốt lõi của đức tin Kitô giáo: sự hy sinh, ơn cứu chuộc và tình yêu bất diệt của mục tử dành cho đàn chiên của mình.

Hình ảnh Mục tử nhân lành chắc chắn là một trong những mô típ sớm nhất và trường tồn nhất trong nghệ thuật Kitô giáo - một chàng trai trẻ nhẹ nhàng cõng một con chiên trên vai. Nhưng hình ảnh này không chỉ đơn thuần là một cảnh đồng quê. Nó thể hiện cốt lõi của đức tin Kitô giáo: sự hy sinh, ơn cứu chuộc và tình yêu bất diệt của mục tử dành cho đàn chiên của mình.

Quan sát kỹ hơn sẽ thấy một chi tiết thú vị thường bị bỏ qua: Con chiên, dù dường như là biểu tượng của sự ngây thơ và dễ bị tổn thương, lại không phải là một gánh nhẹ nhàng. Trên thực tế, một con chiên có thể nặng hơn 45 kg, bộ lông mềm mại che giấu một thân hình khá đồ sộ. Các nghệ nhân Kitô giáo thời kỳ đầu nhận thức rõ điều này, do đó đã truyền tải vào hình ảnh này một ý nghĩa thần học sâu sắc.

Việc mang vác một con chiên lạc từ xa về, như Mục tử nhân lành đã làm, được miêu tả là một công việc gian khổ. Tư thế khom lưng của người chăn chiên thể hiện sự gắng sức cần thiết về thể chất. Sự miêu tả có chủ ý này phản ánh sức nặng từ sự hy sinh của Chúa Kitô trên thập giá - không chỉ là sức nặng thực tế của thanh gỗ, mà còn là gánh nặng vô cùng lớn mà Người đã gánh chịu để cứu độ của nhân loại.

Hơn nữa, những con chiên lạc đàn thường bị tê liệt vì sợ hãi và kiệt sức. Chúng không thể tự tìm đường trở về. Vì vậy, người chăn cừu không chỉ phải gánh vác trọng lượng thể chất của con chiên mà còn cả “sự yếu đuối về mặt cảm xúc” của nó. Hành động dịu dàng này trở thành một hình ảnh ẩn dụ cho lòng thương xót của Chúa Kitô dành cho những người lạc lối và dễ bị tổn thương, mang vác gánh nặng của họ và dẫn dắt họ trở về nơi an toàn.

Việc nhấn mạnh kích thước của con chiên trong các miêu tả Kitô giáo thời kỳ đầu càng làm nổi bật ý nghĩa biểu tượng này. Trong nhiều bức bích họa và tác phẩm điêu khắc, con chiên xuất hiện với kích thước không cân xứng so với người chăn chiên, sức nặng của nó gần như đè bẹp người chăn chiên. Lựa chọn mang tính nghệ thuật này khuếch đại một cách trực quan sự căng thẳng về thể chất và tinh thần mà Mục tử nhân lành phải chịu đựng, khiến cho sự hy sinh càng thêm ý nghĩa.

Trước thời kỳ Kitô giáo

Nguồn gốc của hình ảnh đầy sức mạnh này có từ trước cả thời kỳ Kitô giáo. Trong nghệ thuật Hy Lạp cổ đại, hình ảnh moskophoros (người đàn ông vác cừu đực trên vai) là một mô típ phổ biến gắn liền với Hermes, vị thần của những người lữ hành và người chăn cừu. Những người Kitô hữu thời sơ khai đã tiếp nhận hình ảnh quen thuộc này, tái định nghĩa nó để thể hiện niềm tin của riêng mình. Con cừu, một con vật tế lễ trong truyền thống Hy Lạp, đã được thay thế bằng con chiên (cừu non), tượng trưng cho sự hy sinh tối cao của Chúa Kitô.

Do đó, hình ảnh Mục tử nhân lành vẫn là biểu tượng vượt thời gian về tình yêu thương và lòng vị tha bất diệt của Chúa Kitô. Qua lối diễn tả về gánh nặng và sự chăm sóc dịu dàng của mình, hình ảnh này nhắc nhở chúng ta rằng đức tin tự nó không phải là không có trọng lượng. Nó đòi hỏi sự hy sinh, lòng thương xót và quyết tâm gánh vác lẫn nhau, giống như Mục tử nhân lành vác con chiên lạc trở về đàn an toàn.

Vậy nên lần tới khi bạn bắt gặp hình ảnh cổ xưa này, hãy nhớ đến sức nặng thầm lặng mà nó chuyển tải. Hãy nhìn không chỉ là một người chăn chiên hiền lành và một chú cừu non đáng yêu, mà còn là một minh chứng sâu sắc cho gánh nặng của tình yêu, sức mạnh bền bỉ của niềm tin và sự hy sinh cao cả gắn kết họ lại với nhau.

Tượng "Mục tử nhân lành" có niên đại từ khoảng năm 300–350 AD
và được phát hiện vào thế kỷ XVIII tại Hầm mộ Thánh Callixtus, Rome.
Ảnh: 
By Dnalor 01 - Own work, CC BY-SA 3.0 via Wikimedia Commons

Tác giả: Daniel Esparza

Chuyển ngữ: Lm. Phil. M. Nguyễn Hoàng Nguyên

Chuyển ngữ từ: Aleteia (09/01/2024)

Nguồn: giaophanvinhlong.net