Trang

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026

TIẾP XÚC - SUY NIỆM CN 3 PS A CỦA CHA ROBERTO PASOLINI

 

TIẾP XÚC - SUY NIỆM CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH NĂM A CỦA CHA ROBERTO PASOLINI

avatarVatican News
Vatican News (18/4/2026) – Say đây là bài suy niệm Chúa nhật 3 Phục sinh năm A của Cha Roberto Pasolini, nhà giảng thuyết của Phủ Giáo hoàng.

“Lạy Chúa, xin chỉ cho chúng con con đường sự sống.” Bài suy niệm của cha Roberto Pasolini, giảng thuyết viên của Phủ Giáo Hoàng.

Sau biến cố Vượt Qua của Người, khi đã được giải thoát “khỏi những đau khổ của cái chết” (Cv 2,24), Chúa Phục Sinh tìm cách thiết lập một sự tiếp xúc với nhân loại chúng ta, bằng cách đặt những bước chân của Người bên cạnh bước chân của chúng ta, điều chỉnh nhịp vui của Người cho phù hợp với sự chậm chạp của những gương mặt buồn bã và cam chịu của chúng ta.

Trang Tin Mừng mà thánh Luca thuật lại về cuộc gặp gỡ muôn đời giữa sự thất vọng của chúng ta và sức mạnh biến đổi của Phục Sinh bắt đầu với việc Đức Giêsu tiến lại gần hai môn đệ đang trên đường và “cùng đi với họ” (Lc 24,15). Hai người lữ hành không nhận ra Người, “mắt họ bị ngăn cản không nhận ra Người” (Lc 24,16), có lẽ vì tâm hồn họ vẫn còn “bối rối” (Lc 24,22) bởi sợ hãi và đau khổ.

Không xét đoán, không trách móc, Chúa dường như tìm kiếm sự đón nhận trong chính những nẻo đường đứt gãy của chúng ta. Người không ra lệnh, không đòi hỏi; Người cùng đồng hành với chúng ta và quan tâm đến những câu hỏi chúng ta mang trong lòng:
“Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” (Lc 24,17).

Một trong hai người, Cơ-lê-ô-pát, can đảm bày tỏ sự tức giận và thất vọng:
“Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” (Lc 24,18).

Biết bao lần, khi khép kín trong đau khổ của mình, chúng ta cố chấp đọc lịch sử theo cách cảm nhận riêng, bị chi phối bởi những gì đã chịu đựng, mà không còn nhớ đến những điều tốt đẹp mà chính trong những lúc bi thương nhất, chúng ta vẫn có thể trao ban. Chúng ta thích khép mình trong nỗi buồn, quên rằng mầu nhiệm đau khổ là điều mọi người đều trải qua. Nhất là chính Thiên Chúa, Đấng đón nhận thực tại sâu xa hơn nhiều so với điều chúng ta sẵn sàng chấp nhận.

Chỉ mới bốn mươi tám giờ kể từ cuộc Thương Khó khủng khiếp, nhưng dường như Đức Giêsu không hề giữ lại ký ức nào về bạo lực Người đã chịu mà không đáp trả:
“Chuyện gì vậy?” (Lc 24,19).
Quả thật, Thiên Chúa “không nhớ đến điều xấu đã chịu”, không “ghi nhớ điều ác” (1 Cr 13,5), vì Người là tình yêu và tha thứ.

Trước thái độ ấy, hai môn đệ cảm thấy tự do để nói ra, kể lại các sự kiện một cách hoàn hảo nhưng không có hy vọng:
“Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng...” (Lc 24,21).

Bao nhiêu lời nói của chúng ta cũng giống như vậy: những lời nhằm giải thích thực tại, nhưng là một câu chuyện không có Tin Mừng, một thứ tin xấu và sai lệch, giống như những gì thường đầy dẫy trên báo chí và truyền thông. Đức Giêsu lắng nghe với kiên nhẫn và tình yêu, vì Người biết rằng đau khổ không biến mất cho đến khi có ai đó gánh lấy nó. Nhưng Người không để các môn đệ bám chặt vào đó, và đã nghiêm khắc khiển trách:
““Các anh chẳng hiểu gì cả ! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ ! Nào Đấng Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ?” (Lc 24,26).

Thật khó để nhổ tận gốc đau khổ và chữa lành những vết thương nội tâm. Đôi khi điều đó dường như bất khả thi, như cố nhổ một cái cây chỉ bằng hai bàn tay. Những lựa chọn sai lầm, những tổn thương đã chịu, những tai nạn xảy ra, những cơ hội bị bỏ lỡ: bằng vô vàn cách, sự thất vọng đi vào lòng người và làm cạn kiệt hy vọng.

Nhưng Đức Giêsu có một thẩm quyền đặc biệt trong lãnh vực này, bởi trước hận thù và bạo lực, Người đã không chọn trốn chạy nhưng chọn con đường tha thứ. Sau cái chết và sự phục sinh, tiếng nói của Người trở nên tự do để giải thích lời của thập giá, loan báo rằng yêu thương đến mức hiến mình không phải là giới hạn cuối cùng khiến cuộc sống bị mắc kẹt, nhưng là cơ hội quyết định để gặp được một ân sủng “quý hơn cả sự sống” (Tv 62,4).

Chúa cầm lấy Kinh Thánh và giải thích rằng ngay từ đầu, tất cả đều quy chiếu về Người (x. Lc 24,27), rằng “phải như thế” (Lc 24,26): điều đó là cần thiết cho chúng ta và cho chính Người. Cần thiết vì sự dữ có thật và gây đau khổ, nhất là cho người phải chịu đựng nó. Nhưng cũng cần thiết vì điều thiện cũng hiện hữu, và mạnh hơn sự dữ, có thể chiến thắng nó.

Do đó, cần thiết để chúng ta biết Thiên Chúa sẵn sàng đi xa đến đâu vì chúng ta: Người không trao ban cho chúng ta “ những của chóng hư nát như vàng hay bạc” (1 Pr 1,18), nhưng là “nhờ bửu huyết của Con Chiên vẹn toàn, vô tỳ tích” (1 Pr 1,19), Con Một yêu dấu của Người.

Chúng ta cũng vậy, như hai môn đệ Emmau, có thể thôi chạy trốn và học “biết con đường về cõi sống” (Cv 2,28). Chính nơi tưởng như không còn niềm vui hay tương lai, chúng ta lại có thể hiện diện cách trọn vẹn, và nhờ hiệp thông với Chúa Phục Sinh, trở nên bánh của tình bằng hữu và rượu của tình huynh đệ cho mọi người anh em chúng ta gặp trên hành trình cuộc sống.

Nguồn: vaticannews.va/v

TRIẾT GIA JAMES K. A. SMITH VỀ THÁNH AUGUSTINÔ, CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ TÌNH YÊU

 

TRIẾT GIA JAMES K. A. SMITH VỀ THÁNH AUGUSTINÔ, CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ TÌNH YÊU

avatarJoseph Tulloch
WHĐ (17/4/2026) - Triết gia và học giả về Thánh Augustinô, James K. A. Smith, trao đổi với Vatican News về “cảm thức sâu xa về nội tâm và tính chủ thể” của Thánh Augustinô, cũng như về cách các tác phẩm chính trị của ngài đang được sử dụng, và thậm chí bị lạm dụng trong bối cảnh hiện nay.

Vào thứ Hai, Đức Lêô lên đường đến Algeria, quê hương của Thánh Augustinô.

Nhà thần học châu Phi thế kỷ IV này là một nguồn cảm hứng lớn đối với Đức Giáo hoàng, vốn là một thành viên của Dòng Thánh Augustinô. Trong chuyến viếng thăm, ngài sẽ đến các địa điểm tại Hippo – tức Annaba ngày nay – một nơi gắn liền với cuộc đời của vị thánh.

Trước chuyến đi, Vatican News đã phỏng vấn triết gia James K. A. Smith, tác giả cuốn On the Road with Saint Augustine, về “cảm thức thực sự về chọn lựa hiện sinh và sự dấn thân” nơi Thánh Augustinô, về “linh đạo của người tị nạn” của ngài, cũng như lý do tại sao tư tưởng của ngài vẫn mang tính thời sự cho đến hôm nay.

Vatican News: Ông được biết đến với việc nhấn mạnh đến chiều kích hiện sinh trong tư tưởng của Thánh Augustinô. Vậy theo ông, Thánh nhân nói gì với đời sống chúng ta hôm nay?

Smith: Tôi đến với Thánh Augustinô qua triết học Pháp thế kỷ XX. Thật thú vị khi thấy Thánh Augustinô dường như vang vọng xuyên suốt truyền thống triết học. Ngài là một nhân vật cổ đại đầy hấp dẫn, nhưng lại mang nhiều nét rất hiện đại; chính vì thế, chúng ta có cảm giác ngài rất gần gũi.

Tôi nghĩ một trong những lý do khiến Thánh Augustinô trở nên thời sự đối với chúng ta - và thật khó để nhận ra điều này độc đáo thế nào trong bối cảnh của ngài - là vì ngài viết như một người có cảm thức sâu sắc về nội tâm và tính chủ thể. Nơi ngài có một ý thức rất rõ về chọn lựa hiện sinh và sự dấn thân, về những quyết định phải được thực hiện. Chính vì thế, ta hiểu được tại sao những triết gia như Heidegger hay Camus trong thế kỷ XX lại thấy nơi ngài một nhân vật truyền cảm hứng.

Một điều khác nơi Thánh Augustinô khiến tôi đặc biệt chú ý là câu mở đầu trong tác phẩm Tự thú, có lẽ là một trong những câu nổi tiếng nhất của văn chương phương Tây. Toàn bộ tác phẩm Tự thú là một cuốn tự truyện được viết dưới hình thức một lời cầu nguyện, và ngài thưa với Thiên Chúa: “Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, nên tâm hồn chúng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa.”

Trước hết, đây là một nhận thức sâu xa rằng điều làm nên con người chính là những khát vọng, những cơn đói khát, những ước ao và những khao khát của chúng ta. Nhưng đồng thời, anh có thấy không, ngài cũng rất nhạy bén với nỗi lo âu hiện sinh. Tôi nghĩ Augustinô là người cảm nhận rất rõ sức nặng của sự lo âu ấy - nỗi lo trong việc tìm kiếm điều mình yêu, điều mình khao khát, và cách mà chính điều đó định hình con người chúng ta. Theo tôi, ở điểm này, ngài thật sự có một cái nhìn vượt thời đại. 

Triết gia James K. A. Smith

Vatican NewsGiáo hội Công giáo vừa bầu chọn vị Giáo hoàng đầu tiên đến từ Hoa Kỳ, và ngài thuộc Dòng Thánh Augustinô. Bản thân ông cũng mang hai quốc tịch Mỹ - Canada. Ông có suy nghĩ gì về cách Thánh Augustinô nói với bối cảnh nước Mỹ hôm nay?

Smith: Có nhiều điều mà câu hỏi này gợi lên trong suy nghĩ của tôi. Trước hết, như có người đã nhận xét, Hoa Kỳ đang vận hành trong một nền văn hóa mang đậm dấu ấn Freud, dù không trực tiếp gọi tên hay ý thức điều đó. Nói cách khác, đời sống văn hóa Mỹ đề cao chủ nghĩa cá nhân, nhấn mạnh đến đời sống nội tâm, cảm xúc, khát vọng và những xung đột bên trong con người – những yếu tố rất gần với cách Freud hiểu về con người. Tôi nghĩ điều này xuất phát từ chính chủ nghĩa cá nhân trong văn hóa và tinh thần Mỹ, vốn tạo nên một cảm thức rất mạnh về tính chủ thể và đời sống nội tâm. Và chính ở điểm này, tư tưởng của Thánh Augustinô thực sự tạo được sự cộng hưởng.

Tôi cũng quan tâm đến cách Thánh Augustinô suy tư về đời sống cộng đồng và chính trị, và điều mà ngài gọi là “tôn thờ ngẫu tượng” trong văn hóa chính trị Mỹ. Trong một tác phẩm sau này của mình, Thành Đô Thiên Chúa, Thánh Augustinô phân biệt giữa thành đô trên trời và thành đô trần thế, hay thành của Thiên Chúa và thành của con người.

Đó không phải là sự phân biệt giữa một thiên đàng mơ hồ nào đó và một thực tại trần thế cụ thể, đầy phức tạp. Thực ra, đó là hai cách hình dung về đời sống xã hội. Sự khác biệt giữa thành của Thiên Chúa và thành của con người nằm ở hai lối tưởng tượng chính trị hoàn toàn khác nhau về ý nghĩa của cộng đoàn. Thành đô trần thế được xác định bởi khát vọng quyền lực và thống trị - libido dominandi - trong khi thành của Thiên Chúa là một cộng đoàn của những công dân được hình thành bởi sự khiêm nhường và hy sinh.

Tôi nghĩ rằng Đức Lêô, với tư cách là một tu sĩ Augustinô, nhìn và nhận định các thực tại chính trị - xã hội qua lăng kính Augustinô như thế.

Vatican News: Ông đã viết về điều ông gọi là “linh đạo của người lữ hành/tị nạn” nơi Thánh Augustinô. Ông có thể giải thích điều đó không?

Smith: Tôi nghĩ một trong những chìa khóa để hiểu tư tưởng của Thánh Augustinô là dụ ngôn người con hoang đàng trong Tin mừng. Trong câu chuyện đó, người con rời bỏ quê hương, đi đến một phương xa và phung phí tất cả những gì mình có. Anh bị mất nhân tính, bị hạ xuống như loài vật, rồi trải qua một khoảnh khắc tỉnh ngộ, nhớ lại mình là ai. Sau đó, anh lên đường trở về, nơi người cha chạy ra ôm lấy anh.

Cấu trúc “ra đi và trở về” này cũng là một phần trong cuộc đời của Thánh Augustinô. Khi Thánh Augustinô rời Bắc Phi với bao ước mơ chinh phục, theo một nghĩa nào đó, ngài chính là người con hoang đàng. Chính vì thế, cái nhìn của Thánh Augustinô về đời sống Kitô hữu được định hình sâu xa bởi cảm thức về hành trình, về chuyển động, về con đường. Ở một mức độ nào đó, ngôn ngữ ở đây chính là ngôn ngữ của người di dân, của người tị nạn, của người lên đường đến một miền đất khác với hy vọng rằng đó sẽ là quê hương. Điều này hiện diện khắp nơi trong các bài giảng của Thánh Augustinô và trong cách ngài đọc Kinh thánh.

Smith: Thật thú vị khi điều này cũng được thể hiện trong cách ngài thi hành sứ vụ giám mục. Thánh Augustinô là một người cổ võ mạnh mẽ nguyên tắc nơi trú ẩn cho những ai đang chạy trốn các hoàn cảnh bất công. Thực vậy, có những đoạn ngài nói rằng Giáo hội phải mở cửa đón nhận người tị nạn, những người đang trốn chạy những hoàn cảnh tồi tệ. Ngài tự hỏi liệu điều đó có nghĩa là chúng ta chấp nhận nguy cơ đón nhận cả những người xấu không, và ngài trả lời là có, đó là một rủi ro. Nhưng ngài khẳng định rằng thà chấp nhận rủi ro ấy còn hơn là dựng tường ngăn cách và loại trừ những người di dân dễ bị tổn thương. Vì thế, “linh đạo người tị nạn” nơi Thánh Augustinô đã trở thành một chính sách mục vụ cụ thể.

Anh biết đấy, Augustinô không chỉ là một nhà thần học vĩ đại hay một triết gia trong truyền thống Tây phương. Ngài sống mỗi ngày như một mục tử, và là mục tử của các mục tử. Nếu muốn nghe tiếng nói rất con người của Thánh Augustinô, ta phải đọc các bài giảng của ngài. Chính ở đó ta thấy ngài ở giữa đoàn chiên của mình. Ngài không ngừng nhắc họ rằng đây là một hành trình dài, một con đường khó khăn, nhưng là con đường chúng ta cùng nhau bước đi. Chúng ta giống như một trại tị nạn. Thành của Thiên Chúa là một trại tị nạn, và chúng ta là những người lữ hành trong đoàn lữ hành ấy, đang tiến về quê hương đích thực là chính Thiên Chúa.

Vatican NewsDĩ nhiên, thần học của Thánh Augustinô cũng từng được dùng để biện minh cho một cách tiếp cận ngược lại: trước hết hãy lo cho những người gần mình, còn những người khác thì sau. Đó có phải là một cách hiểu sai về Thánh Augustinô không?

Smith: Tôi nghĩ là đúng, đó là một cách hiểu sai về Thánh Augustinô, cũng như về Thánh Tôma Aquinô. Thánh Augustinô luôn mời gọi con người yêu thương tha nhân, và điều đó đòi hỏi phải chấp nhận rủi ro và sự mong manh. Dĩ nhiên, trước tác của Thánh Augustinô rất đồ sộ - ngài là một trong những tác giả mà nếu muốn, ta luôn có thể tìm được một đoạn để khiến ngài nói theo ý mình, nếu ta muốn biến ngài thành công cụ phục vụ quan điểm riêng. Nhưng theo tôi, đó là một sự hiểu sai căn bản về trái tim của thần học Thánh Augustinô.

Điều đó không có nghĩa là trong tư tưởng và di sản của Thánh Augustinô không có những mặt tối. Có những thời điểm đáng tiếc và phần nào thiếu nhất quán khi ngài sẵn sàng viện đến quyền lực đế quốc để đối phó với một số đối thủ bị coi là lạc giáo. Tuy nhiên, khi đọc lại Thánh Augustinô, ta dễ dàng thấy rằng điều đó không thực sự phù hợp với chính tinh thần của Thánh Augustinô.

Chúng ta có một bức thư rất đẹp, trong đó ngài viết cho một vị tướng Rôma tên là Boniface, một Kitô hữu đang thi hành chức vụ như một thống đốc tại Bắc Phi. Boniface trở nên nóng vội, gần như nghĩ rằng mình biết Nước Thiên Chúa phải như thế nào, và muốn áp đặt nó, muốn thực hiện Nước Thiên Chúa bằng sức riêng. Thánh Augustinô viết cho ông và nói: “Chúng ta không nên ảo tưởng muốn sống ngay từ bây giờ trong một thế giới chỉ có những người thánh thiện và công chính.”

Điều này cho thấy Thánh Augustinô có một nhãn quan cánh chung rõ ràng. Ngài ý thức rằng có một ý nghĩa quan trọng trong việc chúng ta đang chờ đợi Nước Thiên Chúa đến. Chúng ta không làm cho Nước ấy đến. Chúng ta là những sứ giả của Nước ấy. Chúng ta cố gắng làm cho Nước ấy được nếm trước, nhưng cuối cùng, chúng ta không thể dùng quyền lực để thiết lập một vương quốc của tình yêu. Điều đó hoàn toàn vô lý.

Vatican NewsÔng đã lấy bằng tiến sĩ triết học tại Villanova, nơi Đức Lêô XIV cũng từng học. Tôi được biết giáo sư hướng dẫn của ông cũng đã giảng dạy cho vị Giáo hoàng tương lai. Ông có thể chia sẻ điều gì về môi trường triết học tại Villanova lúc bấy giờ và cách nó có thể đã ảnh hưởng đến Đức Lêô?

Smith: Khoa triết học của Villanova từ lâu đã gắn liền với truyền thống Công giáo, đồng thời mở ra một sự quan tâm rộng lớn đến tư tưởng châu Âu thế kỷ XX, đặc biệt là triết học Pháp và Đức. Tôi đến đó học tiến sĩ vì muốn nghiên cứu những nhân vật như Martin Heidegger, Jacques Derrida và Michel Foucault.

Chính bối cảnh triết học Đức - Pháp này đã liên tục quay trở lại với tư tưởng của Thánh Augustinô trong thế kỷ XX. Điều này thật thú vị. Những nhân vật như Heidegger, Camus, Derrida, Jean-François Lyotard - mà ba người sau đều có liên hệ với Algeria - sinh ra tại Algeria hoặc làm việc tại đó khi trưởng thành, rồi trở thành những tên tuổi lớn của trí thức Pháp vào giữa thế kỷ XX, và tất cả họ đều có dịp trở lại với tư tưởng của Thánh Augustinô. Đó chính là môi trường triết học đã góp phần hình thành nên nền tảng đào tạo của Đức Lêô.

Hoài Ân

Chuyển ngữ từ: vaticannews.va

BỪNG SÁNG EMMAUS

 

BỪNG SÁNG EMMAUS

avatarPhêrô Nguyễn Quốc Bảo, OFMConv.
WHĐ (16/4/2026) - Khi chiêm ngắm câu chuyện Emmaus, chúng ta không chỉ nhìn lại một biến cố đã xảy ra trong quá khứ, nhưng còn khám phá một hành trình đức tin đang tiếp diễn nơi chính cuộc đời mình.

Chuyện về hai người môn đệ trên đường Emmaus đã trở nên thân thuộc trong mùa Phục sinh. Bối cảnh, diễn biến và các nhân vật của câu chuyện dường như đã in đậm trong tâm trí của những ai từng lắng nghe và suy niệm về trình thuật này. Có lẽ chính vì sự quen thuộc ấy mà đôi khi chúng ta dễ dàng định hình rằng: đó chỉ là hành trình của hai môn đệ buồn bã và thất vọng. Thế nhưng, câu chuyện Emmaus không chỉ là câu chuyện của hai người môn đệ ủ dột rời bỏ Giêrusalem. Đó còn là câu chuyện của ba người, bởi trên suốt chặng đường ấy, chính Đức Kitô Phục sinh đã âm thầm bước đi cùng họ. Không những thế, chính Đức Giêsu còn mở ra một “đường đối thoại”, khi Ngài kiên nhẫn bước vào câu chuyện của họ, lắng nghe với tất cả sự cảm thông và tôn trọng[1].

Hơn thế nữa, khi đọc lại trình thuật này, chúng ta nhận ra rằng câu chuyện Emmaus không chỉ thuộc về hai môn đệ năm xưa. Một cách nào đó, đây cũng là câu chuyện của chính mỗi người chúng ta, khi trong hành trình đời mình, chúng ta cũng phải đối diện với những biến cố hiện sinh, những thất vọng và những bước đường mịt mờ, giống như hai môn đệ ngày ấy.

Vì thế, khi chiêm ngắm câu chuyện Emmaus, chúng ta không chỉ nhìn lại một biến cố đã xảy ra trong quá khứ, nhưng còn khám phá một hành trình đức tin đang tiếp diễn nơi chính cuộc đời mình.

Tiếp cận bản văn

Chúng ta bắt gặp câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmaus trong Phúc âm Máccô (Mc 16,12-13). Trong Tin mừng này, trình thuật được kể lại khá ngắn gọn và chỉ cho chúng ta biết rằng hai môn đệ đang trên đường trở về quê cũ. Tuy nhiên, câu chuyện tương tự khi được trình bày trong Phúc âm Luca (Lc 24,13-33) lại mở ra nhiều chi tiết và sắc thái phong phú hơn, giúp người đọc có cơ hội suy tư sâu hơn về hành trình của hai môn đệ.

Thánh Luca cho biết rằng sau khi Đức Giêsu chịu đau khổ và chịu chết, hai môn đệ thất vọng trở về Emmaus, một làng nằm về phía Tây của Giêrusalem. Hướng Tây vốn là hướng của mặt trời lặn, gợi lên hình ảnh của bóng tối và sự tàn lụi. Như thế, thất vọng, hướng Tây và ánh chiều tàn vì thế trở thành những chi tiết giúp chúng ta cảm thấu rõ hơn về tâm trạng của hai người môn đệ. Họ rời bỏ Giêrusalem hoa lệ, rời xa cộng đoàn các môn đệ với một tâm hồn nặng trĩu, bởi niềm hy vọng đặt nơi Đức Giêsu và tương lai tươi sáng mà họ từng mong đợi dường như đã tan biến. Chính trong khung cảnh thê lương ấy, Đức Giêsu Phục sinh đã đến gần, cùng bước đi, lắng nghe, trao đổi, và làm bừng sáng tâm hồn họ[2].

Giờ đây, chúng ta hãy thử một lần “lê bước” cùng hai môn đệ xưa, trở lại khung cảnh cũ và hòa mình vào tâm trạng của họ. Và biết đâu, trong hành trình ngổn ngang ấy, chúng ta cũng thấy được câu chuyện cuộc đời mình.

Đường về Emmaus: thất vọng giữa ánh sáng ngập tràn

Tin mừng Luca cho chúng ta thấy rằng những câu chuyện của hai môn đệ trên đường Emmaus chứa đầy thông tin về các biến cố vừa xảy ra tại Giêrusalem. Ngay cả khi Đức Kitô Phục sinh đến gần và hỏi chuyện, những gì họ thuật lại vẫn rất hợp lý và phản ánh đúng những gì đã xảy ra trong những ngày trước đó. Thế nhưng, ngang qua những lời trao đổi ấy, chúng ta cảm nhận được một nỗi thất vọng sâu xa đang bao trùm tâm hồn họ. Họ thổ lộ với “người khách lạ”: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ítraen” (Lc 24,21). Đó là tiếng thở dài của những con người vừa đánh mất niềm hy vọng mà họ từng đặt trọn nơi Thầy mình.

Ánh sáng của ngày thứ nhất trong tuần đang tràn ngập, nhưng tâm hồn họ lại chìm trong bóng tối của thiểu não. Và trên con đường ấy, tuy có đến ba người cùng bước đi, dường như vẫn tồn tại một khoảng cách vô hình. Đức Kitô Phục sinh đang ở đó, cùng đồng hành và giải thích Kinh thánh cho họ, nhưng đôi mắt nội tâm của họ vẫn còn bị che khuất. Hai môn đệ không thiếu ký ức về Đức Giêsu, cũng không thiếu thông tin về những biến cố vừa xảy ra. Thế nhưng, tất cả vẫn chưa đủ để họ nhận ra sự hiện diện của Đức Kitô Phục sinh. Việc gặp gỡ Thiên Chúa không chỉ đến từ sự hiểu biết của trí tuệ, nhưng còn đòi hỏi một sự mở ra sâu xa hơn nơi tâm hồn. Khi cùng ngồi vào bàn ăn, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho họ. Chính trong cử chỉ quen thuộc ấy, đôi mắt họ bỗng mở ra và họ nhận ra Người (x. Lc 24, 30-31). Như nhận định của Thánh Augustinô: “Họ nhận ra Chúa khi Người bẻ bánh” ( Sermo 235,3).

Từ khoảnh khắc ấy, mọi sự dường như đổi khác.

Thế nhưng, thực ra con đường vẫn là con đường cũ, buổi chiều vẫn đang ngả về đêm và ngôi làng Emmaus vẫn ở đó. Điều thay đổi không phải là không gian chung quanh họ, nhưng là cái nhìn của họ về chính thực tại ấy. Biến cố Đức Kitô Phục sinh không làm thay đổi không gian chung hay riêng của mỗi người, nhưng biến cố ấy giúp con người thay đổi cách nhìn nhận vấn đề của mình trong chính không gian ấy.

Đường về Giêrusalem: hân hoan giữa bóng chiều tà

Thật không quá khi nói rằng hành trình trở lại Giêrusalem của hai môn đệ mang một sắc thái tương phản rõ rệt với hành trình đi về Emmaus. Nếu trước đó là một con đường phủ đầy ánh sáng của ngày thứ nhất trong tuần nhưng lại chất chứa nỗi thất vọng, thì giờ đây con đường trở lại Giêrusalem lại diễn ra giữa bóng chiều tà, nhưng lòng họ lại tràn đầy niềm vui. Trước đó, họ có Đức Kitô Phục sinh cùng đồng hành nhưng không nhận ra Người; còn giờ đây, dù Người đã biến mất khỏi tầm mắt, họ lại cảm nghiệm sự hiện diện của Người cách sâu xa hơn bao giờ hết.

Sự tương phản ấy còn thể hiện nơi tâm trạng của hai môn đệ. Nếu trước đó họ lê bước trong nỗi buồn và tìm cách trốn chạy thực tại, thì giờ đây họ đứng dậy và lập tức quay trở lại Giêrusalem (x. Lc 24,33). Từ tâm trạng ủ rũ và thất vọng, họ được biến đổi thành những con người đầy hân hoan và nhiệt thành, sẵn sàng trở về với cộng đoàn các môn đệ.

Có lẽ một điểm tương phản khác cũng rất đáng chú ý. Hành trình đi về Emmaus dường như khá “ồn ào”: hai môn đệ không ngừng kể lại những biến cố đã xảy ra, trao đổi với nhau và với người khách lạ về tất cả những gì họ biết. Nhưng hành trình trở lại Giêrusalem lại mang một bầu khí khác hẳn. Đó là sự tĩnh lặng phát xuất từ một kinh nghiệm sâu xa: lửa đã bừng cháy trong tâm hồn họ.

Chính các ông đã thổ lộ với nhau: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (Lc 24,32). Khi trái tim đã bừng cháy bởi lời Chúa và dấu chỉ bẻ bánh, con đường dường như cũng trở nên ngắn lại. Đoạn đường về Emmaus từng nặng nề bao nhiêu thì hành trình trở lại Giêrusalem giờ đây lại trở nên nhẹ nhàng bấy nhiêu.

Câu chuyện trên đường Emmaus được Thánh Luca thuật lại khá chi tiết và dài nhưng hành trình trở lại Giêrusalem lại được kể rất ngắn gọn. Có lẽ điều đó muốn nhắn nhủ với chúng ta rằng: khi con người gặp được Đức Kitô Phục sinh, họ không còn dừng lại nơi những lời giải thích dài dòng nữa. Niềm vui Phục sinh thôi thúc họ đứng dậy mau lẹ và lên đường thật nhanh, để trở về với cộng đoàn và làm chứng cho điều họ vừa được thấy và được sống. Bởi lẽ, khi trái tim đã bừng cháy lên vì Đức Kitô, tức là gặp được tình yêu của Thiên Chúa, các ông đã được giải phóng khỏi sự khép kín nơi bản thân mà mở ra với mọi người[3].

Phêrô Nguyễn Quốc Bảo, OFMConv.

[1] X. Đức Giáo hoàng Phanxicô, Evangelii Gaudium, số 171.

[2] X. Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Viên, “Giới trẻ tham gia đời sống Giáo hội,” https://Hdgmvietnam.Com/Chi-Tiet/Gioi-Tre-Tham-Gia-Doi-Song-Giao-Hoi

[3] X. Đức Giáo hoàng Phanxicô, Evangelii Gaudium, số 8.