Trang

Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2026

CÁC GIA ĐÌNH NGÀY NAY: THỰC TẠI, VẺ ĐẸP VÀ NHỮNG THÁCH ĐỐ - BÀI CHIA SẺ CỦA ĐỨC HỒNG Y FILIPE NERI FERRÃO

CÁC GIA ĐÌNH NGÀY NAY: THỰC TẠI, VẺ ĐẸP VÀ NHỮNG THÁCH ĐỐ - BÀI CHIA SẺ CỦA ĐỨC HỒNG Y FILIPE NERI FERRÃO

WHĐ (10/10/2026) – Trong cuộc gặp gỡ của Đức Thánh cha Lêô XIV với các vị đứng đầu các Giáo hội Đông phương và các Chủ tịch Hội đồng Giám mục (07-14/10/2026) nhân dịp “Mười năm sau Amoris laetitia: loan báo Tin mừng với các gia đình hôm nay”, ngày 08/10/2026, Đức Hồng y Filipe Neri Ferrão đã trình bày bài chia sẻ về thực tại, vẻ đẹp và những thách đố của các gia đình ở châu Á, đặc biệt là Ấn Độ. Xin giới thiệu toàn văn bài chia sẻ.

CÁC GIA ĐÌNH NGÀY NAY: THỰC TẠI, VẺ ĐẸP VÀ NHỮNG THÁCH ĐỐ

Phân định các dấu chỉ thời đại qua kinh nghiệm của các gia đình và sự dấn thân mục vụ của Giáo hội hôm nay.

Thứ Năm, ngày 08 tháng 10 năm 2026

Trọng kính Đức Thánh cha,

Kính thưa quý Đức Hồng y, quý Đức Cha, và anh chị em thân mến,

Tôi được đề nghị chia sẻ với quý vị về thực tế đời sống, vẻ đẹp và những thách đố của các gia đình tại Á châu, đặc biệt tại Ấn Độ.

Bài trình bày của tôi chủ yếu dựa trên kinh nghiệm cá nhân trong tư cách mục tử của Giáo hội địa phương tôi. Dù bức tranh Giáo hội trên lục địa rộng lớn của chúng ta rất đa dạng, Giáo hội địa phương ấy vẫn có nhiều thực tại và thách đố chung với các Giáo hội địa phương khác ở Ấn Độ và khắp châu Á.

Trong các Giáo hội địa phương của chúng tôi, chúng tôi nhìn nhận gia đình là nơi đặc biệt Thiên Chúa tỏ mình: chính nơi đó, sự sống được đón nhận, các tương quan được hình thành, những giá trị Tin mừng được trao truyền, và đức tin được sống qua những câu chuyện riêng biệt của mỗi người.

Khi lấy việc lắng nghe làm thái độ mục vụ, chúng tôi khám phá rằng thực tại, vẻ đẹp và những thách đố của các gia đình cùng góp phần bày tỏ sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa một cách hết sức nhiệm mầu.

Thực tế đời sống của các gia đình chúng ta: Tại Ấn Độ và rộng hơn, trên khắp Á châu, gia đình vẫn là nền tảng của xã hội và là tế bào cơ bản của Giáo hội tại gia. Tuy nhiên, những gia đình mà chúng tôi đồng hành cũng cho thấy đời sống gia đình đang trải qua những chuyển biến sâu sắc và căn bản. Có ba chuyển biến lớn đặc biệt đáng chú ý.

Thứ nhất, sự thay đổi về bản sắc, bản chất và cơ cấu gia đình: Ở Ấn Độ, và rộng hơn là ở châu Á: (i) các gia đình truyền thống gồm nhiều thế hệ sống chung đang dần nhường chỗ cho những gia đình nhỏ hơn; (ii) các hình thức chung sống mới đang xuất hiện, giữa những thay đổi trong cách hiểu về giới và các mối quan hệ tại đô thị; và (iii) thực tế ngày càng nhiều các cuộc hôn nhân khác tôn giáo trong những xã hội đa tôn giáo của chúng tôi đặt ra những câu hỏi mới về việc thực hành và trao truyền đức tin trong gia đình.

Thứ hai, sự chuyển dịch từ cuộc sống gắn bó với một nơi sang cuộc sống thường xuyên di chuyển: Quá trình đô thị hóa nhanh chóng, tăng trưởng kinh tế, các mô hình phát triển mới và cơ hội tiếp cận giáo dục rộng mở hơn đang thúc đẩy ngày càng nhiều người di chuyển, cả trong nước lẫn ra nước ngoài, để tìm kiếm những cơ hội tốt hơn. Vì thế, nhiều gia đình được trao phó cho chúng tôi chăm sóc mục vụ không còn gắn bó với một giáo xứ duy nhất.

Thứ ba, sự thay đổi trong điều kiện sống của các gia đình: Ấn Độ và Á châu cùng đối diện với một nghịch lý: tăng trưởng nhanh nhưng không đồng đều; cơ hội ngày càng nhiều nhưng việc tiếp cận những cơ hội ấy vẫn còn mang tính phân biệt đối xử. Không phải mọi người đều được hưởng như nhau sự tôn trọng phẩm giá của sự sống, giá trị của lao động và việc bảo vệ các quyền. Tình trạng kinh tế bấp bênh, nghèo đói, thất nghiệp và tương lai bất định đè nặng trên nhiều gia đình. Các gia đình Kitô hữu tại nhiều nơi ở Ấn Độ và Á châu còn phải sống giữa tình trạng phân cực và thù nghịch về tôn giáo ngày càng gia tăng, khiến việc thể hiện đức tin cách công khai và truyền đạt đức tin trở nên khó khăn hơn.

Mặt khác, chúng ta có vẻ đẹp của các gia đình: Những chuyển biến về căn tính, việc di chuyển và điều kiện sống vừa đề cập cũng cho thấy vẻ đẹp của ân sủng đang hoạt động trong đời thường.

Các gia đình chúng ta mang đến cho Giáo hội hoàn vũ những vẻ đẹp nào?

a) Vẻ đẹp của mối tương quan. Điều này được thể hiện cách đặc biệt qua việc chăm sóc trẻ em, người cao tuổi, người đau yếu và những người dễ bị tổn thương. Qua những hành động dịu dàng ấy, các gia đình làm cho tình yêu Thiên Chúa trở nên hữu hình: tình yêu tỏa sáng qua sự hy sinh quên mình, được nâng đỡ bằng lòng kiên nhẫn và được đóng ấn bằng sự trung tín.

b) Vẻ đẹp của sức bền và niềm hy vọng. Ngay giữa cảnh nghèo đói, di cư và bất định, các gia đình vẫn tiếp tục tạo nên những không gian tích cực cho niềm vui và hy vọng.

c) Vẻ đẹp của đối thoại. Giữa sự đa dạng phong phú về tôn giáo và văn hóa tại Á châu, các gia đình không ngừng gặp gỡ những con đường mới, những chân trời mới và kinh nghiệm đối thoại mới.

Những điều các Giáo hội địa phương của chúng tôi đã thực hiện: Khi đón nhận Tông huấn Amoris Laetitia, các Giáo hội tại Ấn Độ và khắp Á châu trước hết đã lắng nghe các gia đình. Việc lắng nghe ấy định hình cách chúng tôi bước đi cùng họ. Giờ đây, chúng tôi nhìn nhận việc chuẩn bị hôn nhân là khởi đầu của một hành trình suốt đời; tạo cơ hội canh tân đời sống thiêng liêng và tư vấn cho các đôi vợ chồng cùng con cái; đồng thời duy trì việc đào tạo các gia đình và những người giáo dân đảm nhận vai trò lãnh đạo.

Những điều chúng tôi đã học được: Công việc mục vụ tự nó là một nơi để phân định. Chúng tôi không đến với những câu trả lời có sẵn. Chúng tôi cùng phân định với các gia đình và, qua đó, nhận ra chính Giáo hội đang được mời gọi thay đổi như thế nào.

Thứ nhất, chúng ta phải biết đi ngược những trào lưu văn hóa mà vẫn gắn bó với thực tế đời sống. Giáo hội được mời gọi đưa ra một lựa chọn thay thế cho tất cả những gì làm phi nhân hóa, loại trừ hoặc gây chia rẽ. Giáo hội cần đáp lại cách sáng tạo lời mời gọi của Thông điệp Magnificat Humanitas để phân định giữa “hội chứng Babel” làm phi nhân hóa và “con đường của Nơkhemia” đề cao sự cộng tác (MH 10); giữa sự đồng nhất hóa và sự hiệp thông (MH 7); giữa sự loại trừ và sự tham gia (MH 85).

Thứ hai, chúng ta phải chuyển từ sứ mạng hướng đến các gia đình sang sứ mạng được thực thi giữa các gia đình. Chúng ta không thể hướng dẫn người khác bằng cách đứng từ xa và chỉ tay về đích đến. Chúng ta cần vừa là ngọn hải đăng, vừa là ngọn đèn đường: một bên chỉ cho thấy chân trời, bên kia soi sáng bước đi kế tiếp và đồng hành bên họ. Các gia đình không chỉ là những người được chăm sóc. Họ là những người cộng tác với Giáo hội trong sứ mạng.

Thứ ba, sự mong manh không có nghĩa là thiếu vắng ân sủng. Nếu chăm chú lắng nghe, chúng ta sẽ nghe thấy sự khôn ngoan và lòng trung tín ngay giữa những đau khổ. Vì thế, điều chúng ta tự hỏi không phải là các gia đình còn thiếu những gì, nhưng là Thiên Chúa đang thực hiện điều gì giữa họ.

Xin cho phép tôi chia sẻ một kinh nghiệm cụ thể đã làm thay đổi cách một linh mục hiểu về mục vụ gia đình.

Một lần, ngài đến thăm một đôi vợ chồng trẻ có hai người con, những giáo dân ngài biết qua các thánh lễ Chúa nhật. Ngài nghĩ đây sẽ là một cuộc thăm viếng bình thường. Nhưng trong lúc trò chuyện, người vợ đã mở lòng chia sẻ. Chồng chị làm việc nhiều giờ và trở về nhà trong tình trạng mệt mỏi, còn chị phải xoay xở giữa việc chăm sóc con cái và việc nhà. Hai vợ chồng hiếm khi ngồi lại trò chuyện, và những hiểu lầm nhỏ đang âm thầm tạo ra khoảng cách. Những đứa trẻ dán mắt vào điện thoại, trong khi cha mẹ không còn bao nhiêu sức lực để dành thời gian cho các con.

Vị linh mục không đưa ra những giải pháp có sẵn. Ngài lắng nghe, khuyến khích họ chia sẻ cởi mở và lắng nghe nhau. Họ nhận ra rằng mình cần làm điều gì đó để thay đổi cách sống gia đình. Ban đầu, họ chọn một vài bước nhỏ: mỗi tuần dành một buổi tối gia đình không dùng điện thoại, mỗi ngày có một bữa ăn chung, và dành vài phút cầu nguyện cùng các con.

Vài tuần sau, ngài nhận thấy một thay đổi tuy nhỏ nhưng có thật. Những khó khăn của họ vẫn còn, nhưng họ đang cùng nhau đối diện với chúng.

Ngài bắt đầu tự hỏi còn bao nhiêu gia đình khác đang âm thầm vật lộn trong những hoàn cảnh tương tự. Ban Mục vụ gia đình của giáo xứ được thành lập, ưu tiên việc thăm viếng các gia đình và mời những đôi vợ chồng có kinh nghiệm đồng hành với các gia đình trẻ hơn.

Như thế, công việc mục vụ gia đình đích thực của vị linh mục đã bắt đầu từ một cuộc thăm viếng, một cuộc trò chuyện và sự sẵn lòng lắng nghe, chứ không phải từ một chương trình.

Kết luận

Mười năm sau khi Amoris Laetitia được ban hành, kinh nghiệm của Thượng Hội đồng vẫn tiếp tục chất vấn chúng ta: không có một khuôn mẫu duy nhất về gia đình lý tưởng, nhưng đúng hơn là một bức tranh đầy thách đố của những thực tại đa dạng, mang dấu ấn của những niềm vui, hy vọng, những cuộc đấu tranh và thương tích. Gia đình không chỉ là nơi Giáo hội mang Tin mừng đến. Gia đình còn là nơi Tin mừng trở nên sống động và lan tỏa: từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ gia đình này sang gia đình khác, và từ các gia đình đến xã hội.

Trong bối cảnh ấy, có lẽ câu hỏi chúng ta có thể mang vào việc phân định hiệp hành là: Chúa Thánh Thần đang đòi hỏi Giáo hội thay đổi điều gì — không chỉ trong những gì chúng ta làm cho các gia đình, mà còn trong cách chúng ta hiểu, đồng hành và giúp họ phát huy vai trò chủ thể trong việc loan báo Tin mừng, cũng như trở thành những nơi Thiên Chúa tiếp tục tỏ mình?

Xin cảm ơn.

Tác giả: Đức Hồng y Filipe Neri Ferrão (amorislaetitia.va)

-------------------------------

Tài liệu tham khảo

1. Hội đồng Giám mục Công giáo Ấn Độ (CCBI), Journeying Towards a Synodal Church: Mission 2033: National Pastoral Plan [Cùng bước đi hướng tới một Giáo hội hiệp hành: Sứ mạng 2033 — Kế hoạch mục vụ quốc gia], công bố ngày 11/9/2024.

2. Hội đồng Giám mục Công giáo Ấn Độ (CCBI), XXXVI Pilgrims of Hope: Discerning the Synodal Path, for we walk by faith, not by sight (2 Cor 5:7) [XXXVI — Những người hành hương của hy vọng: Phân định con đường hiệp hành, vì chúng ta tiến bước nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được thấy (2 Cr 5,7)] (Văn kiện Bhubaneswar), Văn kiện Chung kết Đại hội toàn thể, tháng 3/2025.

3. Shaji George Kochuthara, CMI, “Reception of Amoris Laetitia in India” [“Việc đón nhận Amoris Laetitia tại Ấn Độ”], Marriage, Families & Spirituality 28 (2022): 102–118, đặc biệt các trang 102, 116–117.

4. Đức Giáo hoàng Phanxicô, Amoris Laetitia: Post-Synodal Apostolic Exhortation on Love in the Family [Amoris Laetitia: Tông huấn hậu Thượng Hội đồng về tình yêu trong gia đình], ngày 19/3/2016, số 57.

5. Đức Giáo hoàng Lêô, Magnifica Humanitas: On Safeguarding the Human Person in the Time of Artificial Intelligence [Magnifica Humanitas: Về việc bảo vệ con người trong thời đại trí tuệ nhân tạo], ngày 15/5/2026, các số 10, 7 và 85.

6. Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC), FABC Papers 151: The Catholic Family in Asia: Domestic Church of the Poor on a Mission of Mercy [Gia đình Công giáo tại Á châu: Hội thánh tại gia của người nghèo trong sứ mạng thương xót], Đại hội toàn thể FABC lần thứ XI, Colombo, Sri Lanka, Ban Thư ký Trung ương FABC, tháng 3/2017.

7. “Evangelized Evangelizers: The Asian Family through the Eyes of the FABC in its Documents from 1970–2013” [“Những người loan báo Tin mừng đã được Tin mừng hóa: Gia đình Á châu dưới cái nhìn của FABC qua các văn kiện từ năm 1970 đến năm 2013”], Asian Horizons 9, số 4 (2015): 785–788.

8. Liên Hội đồng Giám mục Á châu (FABC), Đại hội toàn thể FABC lần thứ XII: “You Will See Greater Things…” (Jn 1:50): The Call to Synodal Conversion and the Mission to be Bridges and Bridge-builders in Asia [“Anh sẽ còn được thấy những điều lớn lao hơn…” (Ga 1,50): Lời mời gọi hoán cải hiệp hành và sứ mạng trở thành những nhịp cầu, những người xây dựng cầu nối tại Á châu], Jakarta, Indonesia, ngày 20–26/7/2026.

LOAN BÁO TIN MỪNG VỀ GIA ĐÌNH: VẺ ĐẸP VÀ ÂN SỦNG GIỮA NHỮNG MONG MANH - BÀI CHIA SẺ CỦA SƠ HELEN ALFORD

 

LOAN BÁO TIN MỪNG VỀ GIA ĐÌNH: VẺ ĐẸP VÀ ÂN SỦNG GIỮA NHỮNG MONG MANH - BÀI CHIA SẺ CỦA SƠ HELEN ALFORD

WHĐ (09/10/2026) – Theo Sơ Helen Alford, OP, các gia đình không cần phải hoàn hảo mới có thể loan báo Tin mừng, các gia đình có thể loan báo Tin mừng ngay giữa những yếu đuối, khó khăn và đổ vỡ.

Người phụ nữ Samari đến giếng nước với một câu chuyện đời đầy những đổ vỡ. Nhưng Chúa Giêsu không nhìn bà chỉ qua những bất toàn ấy. Người bắt đầu bằng một lời xin nước, mở ra cuộc đối thoại, giúp bà đối diện với sự thật về cuộc đời mình và khám phá tình yêu của Thiên Chúa. Điều đáng chú ý là chính người phụ nữ với hoàn cảnh sống mong manh ấy đã trở thành người loan báo Tin mừng, khiến nhiều người Samari tin vào Đức Giêsu (x. Ga 4,39).

Khởi đi từ cuộc gặp gỡ này, Sơ Helen Alford, OP, Chủ tịch Hàn lâm viện Tòa thánh về Khoa học Xã hội, mời gọi chúng ta khám phá một chân lý quan trọng trong mục vụ gia đình: vẻ đẹp của ơn gọi hôn nhân không chỉ hiện diện khi mọi sự tốt đẹp, nhưng còn có thể được nhận ra ngay giữa những yếu đuối, khó khăn và đổ vỡ. Như Đức Thánh cha Lêô XIV nhấn mạnh, cần “khơi lên vẻ đẹp của ơn gọi hôn nhân ngay trong việc nhìn nhận sự mong manh”, để giúp các gia đình tìm lại niềm tín thác vào ân sủng Thiên Chúa và khát vọng nên thánh. Bởi thế, đồng hành với các gia đình không có nghĩa là bỏ qua những đòi hỏi của Tin mừng, nhưng là biết gặp gỡ, lắng nghe, giúp họ đối diện với sự thật và từng bước khám phá con đường mà ân sủng Thiên Chúa đang mở ra.

Và cũng như người phụ nữ Samari, các gia đình không chỉ cần được đón nhận Tin mừng, nhưng còn có thể trở thành những chứng nhân loan báo Tin mừng ngay từ chính kinh nghiệm sống của mình.

Sau đây là toàn văn bản dịch Việt ngữ bài chia sẻ “Loan báo Tin mừng về gia đình: Vẻ đẹp và ân sủng giữa những mong manh” của Sơ Helen Alford, Dòng Đaminh, Chủ tịch Hàn lâm viện Tòa thánh về Khoa học Xã hội, trong cuộc gặp gỡ “Mười năm sau Amoris laetitia” diễn ra tại Vatican từ ngày 07-14/10/2026.


Dẫn nhập

Nội dung

Loan báo Tin mừng về gia đình và cho gia đình

Chúa Giêsu gặp người phụ nữ Samari

Familiaris Consortio và Amoris Laetitia

Kết luận


Dẫn nhập

Trong trọng tâm Sứ điệp ngày 19 tháng Ba, văn kiện đã quy tụ chúng ta hôm nay, Đức Giáo hoàng Lêô mời gọi chúng ta “phục vụ sứ mạng loan báo Tin mừng về gia đình cho các thế hệ trẻ”. Vì thế, tôi muốn bắt đầu những suy tư này bằng một câu chuyện nhỏ có thật, được một cha xứ ở Rôma kể lại cho tôi, có thể phần nào minh họa cho ý nghĩa của “Tin mừng về gia đình”.

Một buổi tối, đôi vợ chồng cùng con nhỏ đi dạo bên bờ hồ Trasimeno, không xa Assisi, quê hương của vị thánh nghèo khó Poverello mà chúng ta đang vui mừng kỷ niệm 800 năm ngày ngài qua đời trong những ngày này.

Hai cha mẹ nghĩ rằng đã đến lúc bắt đầu nói với cậu con trai nhỏ về Thiên Chúa. Vì thế, khi ngước nhìn bầu trời buổi tối, họ bắt đầu trò chuyện với em.

Họ hỏi: “Con nghĩ ai đang ở trên trời?” Em suy nghĩ một lát rồi đáp: “Chim chóc.” Họ nói: “Đúng, đúng, nhưng còn ai nữa?” Em nghĩ thêm một chút rồi lần lượt trả lời: “Mặt trời”, “mặt trăng” và “các vì sao”, trong khi cha mẹ tiếp tục gợi ý để em nói thêm.

Cuối cùng, họ hỏi em: “Nhưng con không nghĩ Thiên Chúa cũng ở trên trời sao?” Em đáp lại rất dứt khoát: “Ồ không, không đâu - Thiên Chúa ở đây, với chúng ta.”

Có lẽ qua đây, chúng ta có thể nhận ra một ví dụ về việc các thế hệ trẻ loan báo Tin mừng về gia đình cho chính chúng ta!


Nội dung

Loan báo Tin mừng về gia đình và cho gia đình

Ở phần sau của chính Sứ điệp vừa được trích dẫn, Đức Giáo hoàng Lêô mời gọi chúng ta “cùng nhau lắng nghe và phân định theo tinh thần hiệp hành về những bước cần thực hiện nhằm loan báo Tin mừng cho các gia đình ngày nay”. Vì thế, trong cuộc gặp gỡ này, chúng ta được mời gọi loan báo Tin mừng vừa về gia đình vừa cho các gia đình.

Chúng ta hãy dừng lại một chút ở điểm này.

Điều đó hàm ý rằng gia đình là thành phần thiết yếu của việc loan báo Tin mừng. Gia đình vừa chủ động loan báo Tin mừng, vừa cần được đón nhận lời loan báo Tin mừng.

Có bao nhiêu người trong chúng ta hôm nay đã lần đầu tiên đón nhận Tin mừng của Đức Kitô qua gia đình mình? Tôi biết bản thân tôi đã được như thế. Đức Giáo hoàng Phanxicô mô tả sức lan tỏa mạnh mẽ về tinh thần và xã hội mà đời sống gia đình có thể đem đến cho thế giới chung quanh, qua đó thực sự loan báo Tin mừng: “Khi một gia đình biết đón tiếp và đến với người khác, nhất là người nghèo và người bị bỏ rơi, gia đình ấy là ‘biểu tượng, chứng nhân và người tham dự vào thiên chức làm mẹ của Giáo hội.’”

Tình yêu xã hội, như sự phản chiếu của Chúa Ba Ngôi, chính là yếu tố thực sự hợp nhất ý nghĩa thiêng liêng của gia đình và sứ mạng của gia đình đối với tha nhân, bởi lẽ nó làm hiện diện sứ điệp Tin mừng (kerygma) cùng với tất cả những đòi hỏi mang tính cộng đoàn của sứ điệp ấy. “Gia đình sống linh đạo của mình bằng việc vừa là Hội thánh tại gia, vừa là tế bào sống động để biến đổi thế giới” (AL 324).

Đồng thời, nhiều gia đình đang đau khổ và thiếu thốn có thể nhận được sự trợ giúp lớn lao để đối diện với thử thách khi nghe Tin mừng được loan báo cho họ, đón nhận cái nhìn mới mà Tin mừng đem lại về cuộc sống và, nhờ đó, lãnh nhận ân sủng của các bí tích. Chính những áp lực, căng thẳng và đổ vỡ trong đời sống gia đình có thể được chịu đựng với lòng kiên cường hơn và với niềm hy vọng rằng chúng có thể được vượt qua khi được kết hợp với những đau khổ của Đức Kitô. Như Đức Giáo hoàng Phanxicô nói: “Trong những giờ phút đen tối nhất của đời sống gia đình, sự kết hợp với Chúa Giêsu trong cảnh bị bỏ rơi có thể giúp tránh được một cuộc đổ vỡ” (AL 317).

Đức Giáo hoàng Lêô còn giúp chúng ta suy tư sâu hơn về Tin mừng của gia đình và cho gia đình khi ngài nói trong Sứ điệp: “Chúng ta phải học cách khơi lên vẻ đẹp của ơn gọi hôn nhân ngay trong việc nhìn nhận sự mong manh, để khơi dậy lại ‘niềm tín thác vào ân sủng của Thiên Chúa’ (AL 36) và khát vọng nên thánh của người Kitô hữu”. Vẻ đẹp của ơn gọi hôn nhân được tìm thấy xuyên qua, cùng với và ngay trong sự mong manh của nó, nhất là vì sự yếu đuối có thể khơi dậy lại lòng tín thác vào Thiên Chúa, và lòng tín thác ấy đánh thức khát vọng nên thánh.

Nói cách ngắn gọn, đó chính là Tin mừng của gia đình và cho gia đình mà chúng ta đang nói đến.

Chúa Giêsu gặp người phụ nữ Samari

Như thế, vẻ đẹp và sự mong manh cùng hiện diện trong Tin mừng về gia đình mà chúng ta được mời gọi loan báo cho các thế hệ trẻ, cũng như trong Tin mừng Gioan, nơi Chúa Giêsu gặp người phụ nữ Samari.

Trong cuộc gặp gỡ lạ thường này, vào lúc nóng nhất trong ngày, Chúa Giêsu xin một người phụ nữ đến giếng cho Người uống nước. Nếu bà không ở trong một hoàn cảnh gia đình mong manh và bất thường, như được xác nhận sau đó, bà đã không có mặt ở đó và cuộc gặp gỡ này sẽ chẳng bao giờ xảy ra. Hẳn là bà có thể đã đến vào lúc mát hơn trong ngày, cùng với những phụ nữ khác. Tương tự, là một người đàn ông và một người Do Thái, Chúa Giêsu lẽ ra không nên nói chuyện với bà. Xét theo bối cảnh địa lý và xã hội, bất cứ người đàn ông Do Thái bình thường nào cũng biết bà là người Samari và gần như chắc chắn là một phụ nữ mang tiếng xấu.

Thế nhưng Chúa Giêsu lại xin bà cho Người uống nước, mở đầu một chuỗi sự kiện kỳ diệu, trong đó lần đầu tiên trong Tin mừng Gioan, Người công khai tuyên bố mình là Đấng Mêsia. Câu chuyện kết thúc khi người phụ nữ không được nêu tên ấy trở thành không chỉ là người đầu tiên công khai loan báo Tin mừng, mà còn là một người loan báo hết sức hữu hiệu, bất chấp tiếng xấu của bà. Thật khó hình dung một câu chuyện nào gắn kết hơn với việc loan báo Tin mừng cho và qua một người đang sống trong hoàn cảnh gia đình mong manh, cùng với tất cả vẻ đẹp mà câu chuyện này hàm chứa.

Một người anh em Đa Minh của tôi xem câu chuyện này như mô hình hay khuôn mẫu căn bản cho công cuộc loan báo Tin mừng của Giáo hội.[1] Ngài nhận ra trong đó bốn giai đoạn và cho rằng tất cả đều quan trọng, đồng thời thứ tự của chúng cũng quan trọng không kém.

Theo một cách diễn đạt có phần gây chú ý (nhưng tôi nghĩ đó là một sự gợi mở hữu ích), ngài gọi giai đoạn đầu là “tán tỉnh” (flirting) - một cuộc trò chuyện giữa một người phụ nữ và một người đàn ông khi cả hai đều ở một mình. Chúa Giêsu dẫn dắt cuộc đối thoại và, qua những câu hỏi của Người, dần biến nó thành một cuộc suy niệm về hạnh phúc và sự viên mãn của con người. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, sự mơ hồ vẫn còn đó - người ta có cảm tưởng rằng cùng những lời ấy lại mang ý nghĩa khác nhau đối với Chúa Giêsu và người phụ nữ Samari. Chỉ khi người phụ nữ Samari dường như đã được Chúa Giêsu “chinh phục”, nghĩa là khi bà thưa với Người: “Thưa ông, xin ông cho tôi thứ nước ấy, để tôi hết khát và khỏi phải đến đây lấy nước nữa” (Ga 4,15), Chúa Giêsu mới bắt đầu giai đoạn hai, được Paluch gọi là “cuộc đối diện của người phụ nữ Samari với sự thật”. Chúa Giêsu nói: “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây”; bà thành thật đáp: “Tôi không có chồng”; Người nói với bà: “Chị nói: ‘Tôi không có chồng’ là phải, vì chị đã có năm đời chồng, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị” (Ga 4,16-18). Về giai đoạn thứ hai này, Paluch nhận xét: “qua cuộc giải phẫu đau đớn ấy, người phụ nữ Samari dần dần hiểu rằng người đàn ông bà gặp hoàn toàn không giống những người khác; lần này, trái với điều có thể đã xuất hiện lúc ban đầu, người đàn ông này không chỉ đang tán tỉnh”, bởi giờ đây bà thưa với Người: “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ” (Ga 4,19). Từ đó dẫn đến giai đoạn ba - một bài giáo lý ngắn - cuộc trò chuyện về việc thờ phượng đích thực, đưa Chúa Giêsu đến chỗ mặc khải căn tính của Người. Bà nói: “Tôi biết Đấng Mêsia, gọi là Đức Kitô, sẽ đến”; Người đáp: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây” (Ga 4,25-26). Toàn bộ câu chuyện được hoàn tất ở giai đoạn bốn - người phụ nữ trở về làng của mình, cảm thấy thôi thúc phải chia sẻ với những người khác điều đã xảy ra cho bà; và chúng ta được nghe kể rằng: “Có nhiều người Samari trong thành đó đã tin vào Đức Giêsu, vì lời người phụ nữ làm chứng” (Ga 4,39).

Chúng ta đã nói rằng các giai đoạn và thứ tự của chúng đều quan trọng. Trước hết là cuộc gặp gỡ. Chúa Giêsu xin bà giúp đỡ; nhưng khi câu hỏi của Người khiến bà bối rối và muốn nêu những thắc mắc của mình, Người sẵn lòng trả lời, nhờ đó khơi dậy nơi bà ước muốn được biết nhiều hơn. Như vậy, giai đoạn đầu của việc loan báo Tin mừng theo mô hình này là đánh thức khát vọng nơi những người lắng nghe chúng ta. Tiếp đến là giai đoạn chúng ta muốn tránh: đối diện với sự đổ vỡ và yếu đuối của người đang đối thoại với mình, bởi chính chúng ta cũng biết mình cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa biết bao. Tuy nhiên, theo mô hình này, điều đó là cần thiết, không phải để kết án, nhưng để cuộc gặp gỡ trở nên chân thực hơn và ước muốn được trợ giúp trở nên khẩn thiết hơn. Chỉ sau đó, trong mô hình này, chúng ta mới được mời gọi chia sẻ điều mình có trách nhiệm giảng dạy. Và cuối cùng, người đã được loan báo Tin mừng phải ra đi để chia sẻ với người khác điều mình đã lãnh nhận. Mô hình loan báo Tin mừng này chỉ kết thúc ở giai đoạn ấy, chứ không dừng lại ở việc dạy giáo lý.

Chúng ta có thể nhận được nhiều ánh sáng hơn nữa từ bản văn Tin mừng này nếu nhìn theo một hướng khác, qua “cái nhìn” của Chúa Giêsu. Đây là một ý tưởng được Đức Giáo hoàng Phanxicô đặc biệt yêu thích và sử dụng ở nhiều nơi, kể cả phần cuối chương bàn về thần học sáng tạo trong Laudato si’. Thứ nhất, cái nhìn của Chúa Giêsu đặt chúng ta trong tương quan với Thiên Chúa Cha, Đấng xem chúng ta là vô cùng quý giá, như lời trích từ Tin mừng Matthêu chứng thực: “Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao?” (Mt 6,26-27). Qua câu hỏi đầu tiên dành cho bà, Chúa Giêsu biến người phụ nữ Samari cô độc - người đến giếng vào giờ ấy để tránh mọi người - thành một người đáng để trò chuyện và đáng được tín nhiệm, khi Người xin bà giúp đỡ. Bằng cách giúp bà tìm lại ý thức về giá trị của chính mình, Người mở lòng bà trước khả năng bà thực sự được Thiên Chúa là Cha yêu thương. Thứ hai, cái nhìn của Chúa Giêsu trân trọng thế giới đời thường quanh chúng ta, nhận ra vẻ đẹp và sự kỳ diệu của nó. Khi lắng nghe bà, trả lời các câu hỏi và dần dẫn bà đến một nhận thức mới, Chúa Giêsu cho thấy cuộc gặp gỡ bình thường hằng ngày này với một người phụ nữ bình thường và mong manh lại có thể tràn đầy vẻ đẹp và điều kỳ diệu. Thứ ba, trong cái nhìn của Người, Chúa Giêsu ôm lấy thế giới như công trình tạo dựng của mình; nhưng qua mầu nhiệm Nhập thể, Người cũng ôm lấy thế giới với tư cách Đấng Cứu Chuộc. Trong cuộc gặp gỡ với người phụ nữ này, Chúa Giêsu nhìn bà trong toàn bộ thực tại thụ tạo của bà, với mọi khiếm khuyết, đồng thời trao ban cho bà Tin mừng và lời hứa về sự sống mới mà Tin mừng đem lại. Sau cùng, trong cái nhìn của mình, Chúa Giêsu thấy một thế giới mà Người sẽ trao lại cho Chúa Cha vào thời sau hết, “để Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài” (1 Cr 15,28). Khi nhìn người phụ nữ này, Người mời gọi bà mong đợi với niềm khát khao sự tỏ hiện viên mãn của Nước Thiên Chúa.

Nếu suy nghĩ về bốn chiều kích trong cái nhìn của Chúa Giêsu, chúng ta có thể nhận thấy tất cả đều đưa chúng ta vào những tương quan mới hoặc có chiều sâu hơn: tương quan mới hoặc có chiều sâu hơn với Thiên Chúa Cha, với thế giới đời thường, với công trình tạo dựng và cứu chuộc, cũng như với trời mới đất mới sẽ đến một ngày kia.

“Cái nhìn tương quan” này của Chúa Giêsu có ý nghĩa hết sức quan trọng, bởi vì muốn “thấy” các mối tương quan, chúng ta phải chủ động tìm kiếm chúng. Chúng ta không tự mình “thấy” các tương quan như nhìn thấy những vật thể hữu hình, dù chúng thực sự hiện hữu. Chúng giống như không khí chúng ta hít thở - không khí thực sự hiện hữu nhưng ta không nhìn thấy. Chúng cũng giống như một loại vi-rút thực sự hiện hữu nhưng ta chỉ có thể nhìn thấy nhờ một thiết bị chuyên dụng cao như kính hiển vi điện tử. Những thực tại ấy vô hình đối với chúng ta nhưng vẫn có thật. “Cái nhìn tương quan” giúp chúng ta thấy được những mối tương quan vốn bị che khuất; điều này có tầm quan trọng nền tảng đối với gia đình, bởi thực tại xã hội của con người, trước hết là gia đình, được cấu thành bởi các mối tương quan. Trong thế giới đầy bất ổn mà chúng ta đang sống hôm nay, nếu chúng ta muốn giúp người trẻ có can đảm bước vào đời sống hôn nhân và có khả năng đương đầu với những áp lực họ sẽ gặp, họ cần “thấy” các mối tương quan của mình và suy nghĩ về đời sống hôn nhân, gia đình theo chiều kích tương quan. Ở đây, điều này không làm chúng ta ngạc nhiên, xét đến tầm quan trọng lớn lao của tương quan trong thần học Ba Ngôi và lời sách Sáng thế cho biết chúng ta được dựng nên theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa.

Familiaris Consortio và Amoris Laetitia

Đức Giáo hoàng Phanxicô nhắc đến người phụ nữ Samari bốn lần trong Amoris Laetitia. Trong Tông huấn Familiaris Consortio (Đời sống gia đình), một Tông huấn hậu Công đồng quan trọng khác về gia đình, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II không trực tiếp nhắc đến bà, nhưng có dẫn lại một phần cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và bà (FC 39). Điều đáng chú ý là, trong Sứ điệp vừa được đề cập, Đức Giáo hoàng Lêô XIV đã khẳng định rằng cả hai Tông huấn này đều “củng cố sự dấn thân của Giáo hội trên bình diện giáo lý và mục vụ nhằm phục vụ người trẻ, các đôi vợ chồng và các gia đình”.

Một trong những ý tưởng nối kết hai văn kiện là “luật tiệm tiến”, được Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đề nghị trong Familiaris consortio và được Đức Giáo hoàng Phanxicô trình bày lại trong Amoris Laetitia: Thánh Gioan Phaolô II đề nghị điều gọi là “luật tiệm tiến”, với nhận thức rằng con người “hiểu biết, yêu mến và thực thi sự thiện luân lí theo những giai đoạn phát triển khác nhau” (FC 34). Đó không phải là một “sự tiệm tiến của luật”, nhưng là một sự tiệm tiến trong việc thực hiện cách khôn ngoan những hành động tự do nơi những chủ thể không ở trong điều kiện hiểu biết, đánh giá hoặc thực hành cách đầy đủ các đòi hỏi khách quan của luật. Bởi vì ngay cả luật cũng là quà tặng của Thiên Chúa nhằm để chỉ đường, một quà tặng cho tất cả mọi người không trừ một ai để người ta có thể sống với sự trợ giúp của ân sủng (AL 295). Như thế, trong cả hai văn kiện, hai vị Giáo hoàng đều quan tâm duy trì lý tưởng – “luật là quà tặng của Thiên Chúa nhằm để chỉ đường”, đồng thời nhìn nhận rằng nhiều người chưa thể hoàn toàn “hiểu biết, đánh giá hoặc […] thực hiện những đòi hỏi khách quan của luật”. Ba mươi lăm năm ngăn cách hai văn kiện, trong thời gian ấy hoàn cảnh sống của các gia đình Kitô hữu đã trải qua nhiều biến chuyển mới. Cũng như trong những trường hợp khác, chẳng hạn trong giáo huấn xã hội của Giáo hội, khi hoàn cảnh xã hội hỗn loạn và biến đổi nhanh chóng, có thể cần tìm những cách thức mới để kết hợp cả “những đòi hỏi khách quan của luật” (AL 295) lẫn “luật tiệm tiến” (FC 34) mà nhiều người trải nghiệm khi cố gắng bước vào con đường ấy. Cả Familiaris consortio và Amoris Laetitia đều tìm cách thực hiện điều này trong những bối cảnh lịch sử khác nhau của mỗi văn kiện.

Chúng ta đừng quên rằng thánh Tôma Aquinô và toàn bộ truyền thống bắt nguồn từ ngài sẽ khẳng định rằng Luật của Thiên Chúa đạt đến sự diễn tả cao nhất trong Luật Mới, Luật của Tin mừng: ân sủng của Chúa Giêsu. Theo nghĩa này, chương cuối của Amoris Laetitia, tập trung vào linh đạo hôn nhân, “một linh đạo hiệp thông siêu nhiên”, có ý nghĩa đặc biệt, bởi chương này đặt hôn nhân trong lời mời gọi nên thánh, là mục tiêu của mọi đời sống Kitô hữu.


Kết luận

Chúng ta có thể kết thúc tại nơi mình đã bắt đầu, với lời mời gọi của Đức Giáo hoàng Lêô là tìm những cách thức để “phục vụ sứ mạng loan báo Tin mừng về gia đình cho các thế hệ trẻ”.

Chúng ta hãy tìm những cách thức khích lệ người trẻ đón nhận thách đố lớn lao của đời sống hôn nhân và gia đình, với ý thức đầy đủ rằng trong tiến trình làm cho vẻ đẹp ấy thành hiện thực, họ sẽ trải nghiệm nhiều mong manh; và chính trong sự mong manh đó, họ sẽ khám phá những nguồn ân sủng mới mẻ, bất ngờ của Thiên Chúa và cảm nghiệm một khát vọng nên thánh thực sự thuộc về chính họ.

Chúng ta hãy cùng với Chúa Giêsu mời gọi họ đón nhận thách đố loan báo Tin mừng cho người khác, như Người đã mời gọi người phụ nữ Samari, ngay trong việc nhìn nhận sự mong manh của họ, để rồi mời gọi những người khác cùng tín thác vào ân sủng của Thiên Chúa và cảm nghiệm khát vọng nên thánh của người Kitô hữu.

Và chúng ta hãy lắng nghe lời mời gọi của em nhỏ mà chúng ta đã nghe ngay từ đầu, nhắc chúng ta đừng tìm kiếm Thiên Chúa ở đâu xa, nhưng hãy nhận ra sự hiện diện của Người ngay trong đời sống gia đình thường ngày, với tất cả những điều bình dị và quen thuộc.

Chúng ta hãy kết thúc bằng một số câu hỏi có thể giúp mình bước vào những suy tư chung trong các ngày sắp tới:

Ở đâu và bằng cách nào chúng ta có thể nhận ra Thiên Chúa đang hoạt động trong đời sống các gia đình? Chúng ta có thể học được gì từ các gia đình, trong vẻ đẹp và sự mong manh của họ?

“Làm thế nào chúng ta có thể loan báo Tin mừng không chỉ cho các gia đình mà còn cùng với họ, khích lệ họ tích cực loan báo Tin mừng về gia đình?”

Sơ Helen Alford (amorislaetitia.va)

[1] Phần trình bày dưới đây về đoạn văn này trong Tin mừng theo thánh Gioan được dựa trên các trang 208–211 của ấn phẩm sau: H. Alford và M. Paluch (2026), “Journeying to the Source. A Global Vision of Evangelization” (Hành trình trở về nguồn cội. Một tầm nhìn toàn cầu về công cuộc loan báo Tin mừng), trong P. Ackerman và các cộng sự (chủ biên), Religion, Society and Secularization (Tôn giáo, xã hội và quá trình thế tục hóa), Kỷ yếu Hội nghị Quốc tế lần thứ XV của Viện Verbiest, Đại học KU Leuven, Viện Ferdinand Verbiest nghiên cứu Trung Quốc và Mông Cổ, KU Leuven, tr. 201–215.