Trang

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2026

CN5MCA - 5 phút Lời Chúa với Thiếu Nhi

 

CN5MCA - 5 phút Lời Chúa với Thiếu Nhi

Chúa Giêsu gọi La-da-rô bước ra khỏi mồ. Hôm nay, Ngài cũng gọi chúng ta hãy bước ra khỏi bóng tối của tội qua việc đến với Bí tích Xưng Tội.
CN 5 MC A 5p
CN 5 MC A 5p


CN5MCA - 5 phút Lời Chúa với Thiếu Nhi
Tin Mừng thánh Ga 11, 1-45

Chào các em,
Hôm nay, Chúa Nhật 5 Mùa Chay, năm A. Tin mừng theo thánh Gio-an.
Bài Tin mừng hôm nay thánh Gio-an thuật lại việc Chúa Giê-su làm cho La-da-rô chết 4 ngày sống lại. Đây là đoạn Tin Mừng sâu sắc nhất của Mùa Chay, chuẩn bị cho chúng ta bước vào mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh của Chúa Giê-su.

“Có một người bị đau nặng, tên là La-da-rô, quê ở Bê-ta-ni-a, làng của hai chị em cô Mác-ta và Ma-ri-a.[…]. Anh La-da-rô, người bị đau nặng, là em của cô. Hai cô cho người đến nói với Đức Giê-su: “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng.”[…] Người còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở.[…] Rồi sau đó, […]Người bảo họ: “La-da-rô, bạn của chúng ta, đang yên giấc; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây”(x. Ga 11,1-11). Tin mừng Gio-an không ngần ngại mô tả sự bi thương của kiếp người. La-da-rô đã chết bốn ngày. Mác-ta và Ma-ri-a rất đau khổ. Dẫu Mác-ta và Ma-ri-a yêu thương em mình đến đâu, hay hàng xóm có an ủi thế nào, họ cũng chỉ đứng ngoài mồ mà khóc. Con số ‘bốn ngày’ trong quan niệm của người Do thái thời đó nghĩa là hy vọng đã tắt ngúm, thân xác đã thối rửa, linh hồn đã hoàn toàn rời khỏi thân xác. Cái chết của La-da-rô đại diện cho sự bất lực tuyệt đối của con người. Tất cả đã nặng mùi.

Sự chậm trễ của Chúa Giê-su khi Ngài nán thêm 2  ngày nữa làm lý trí chúng ta khó chịu. Tại sao? Ngài yêu mến La-da-rô cơ mà! Nhiều lúc chúng ta tự hỏi: Tại sao Thiên Chúa lại im lặng trước những đau khổ của con? Tại sao Chúa không nghe lời con cầu nguyện?

“Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết”(Ga 11,21). Mác-ta vừa như trách, vừa như tin Chúa. Chúng ta nhiều lúc cũng thốt lên như vậy. Chúng ta tin Chúa, nhưng đôi khi đức tin của chúng ta bị che phủ bởi khổ đau.

“Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống”(Ga 11,25). “Thầy là sự sống lại và là sự sống” gợi lại danh xưng Thiên Chúa trong Cựu ước khi Ngài mạc khải cho Mô-sê: “Ta là Đấng Hiện Hữu” (Xh 3,14). Chúa Giêsu không chỉ ban sự sống lại nhưng chính Ngài là nguồn sự sống. Ai tin vào Chúa Giêsu không chỉ hy vọng sống lại trong tương lai nhưng đã bước vào sự sống mới ngay từ bây giờ. Đó là sự sống của ân sủng, sự sống của tình yêu và sự sống của Thiên Chúa  trong linh hồn.

“Khi đến gần Đức Giê-su, cô Ma-ri-a vừa thấy Người, liền phủ phục dưới chân và nói: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết."[…] Người hỏi: “Các người để xác anh ấy ở đâu?” Họ trả lời: “Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem.” Đức Giê-su liền khóc. (x. Ga 11,32-35).

“Đức Giêsu liền khóc”. Đây là câu ngắn nhất trong toàn bộ Thánh Kinh, nhưng cũng là câu rất sâu sắc: Thiên Chúa của chúng ta không phải là một Thiên Chúa xa cách, đứng ngoài nỗi đau của con người, song là một Đấng cảm thông với nỗi đau và những mất mát của con người, như khởi đầu Tin mừng Gio-an đã viết: “Ngài đã trở nên người phàm và cự ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14).

“Đức Giê-su nói: “Đem phiến đá này đi.” Cô Mác-ta là chị người chết liền nói: “Thưa Thầy, nặng mùi rồi, vì em con ở trong mồ đã được bốn ngày” (Ga 11,39). Theo phong tục Do thái thời đó, mồ thường là hang đá và cửa mồ được đậy bằng một tảng đá lớn. Chúa Giêsu có thể làm cho tảng đá biến đi nhưng Ngài lại yêu cầu con người làm. Tảng đá đó là gì? Đó là sự thất vọng! Đó là tội lỗi! Đó là sự cứng lòng, là những điều ngăn cản con người gặp Chúa. Thiên Chúa làm phép lạ, nhưng con người phải cộng tác. Con người phải mở lòng, phải hoán cải, phải bước đến với Chúa.

“Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ!” (Ga 11,43). Đây là lời quyền năng của Chúa Giê-su. Chỉ cần một lời thôi và người chết đã sống lại. Lời này cũng nói với mỗi người chúng ta hôm nay: Hãy ra khỏi bóng tối tội lỗi. Hãy ra khỏi đời sống cũ. Hãy ra khỏi sự lười biếng thiêng liêng của tâm hồn.

“Người chết liền ra, chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn. Đức Giê-su bảo: “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi” (Ga 11,44). Theo phong tục của người Do thái,  người chết được quấn vải liệm và buộc nhiều lớp khăn. Khi La-da-rô bước ra khỏi mồ anh vẫn bị trói bởi những băng vải đó. Con người có thể được Chúa làm cho sống lại nhưng vẫn cần cộng đoàn giúp tháo gỡ những ràng buộc. Khi một người mới hoán cải mới trở lại với đức tin rất cần sự nâng đỡ của cộng đoàn bằng lời cầu nguyện và sự cảm thông.

Các em thân mến,
Chúa Nhật thứ 5 Mùa Chay năm A tường thuật cho chúng ta dấu lạ cuối cùng của Chúa Giê-su trước cuộc thương khó của Ngài. Phép lạ này mạc khải cho chúng ta biết Chúa Giê-su là Chúa của sự sống. Ngài có quyền trên bệnh tật, trên cái chết và báo trước sự phục sinh của Ngài.

Các em thân mến,
Chúa Giêsu gọi La-da-rô bước ra khỏi mồ. Hôm nay, Ngài cũng gọi chúng ta hãy bước ra khỏi bóng tối của tội qua việc đến với Bí tích Xưng Tội. Mùa Chay này, chúng ta đã đi xưng tội chưa? Hãy mau đến với Bí tích Xưng Tội để nhận lãnh ơn tha thứ và bước vào sự sống mới với Chúa Giê-su Phục sinh.

Có như thế, chúng ta mới trở nên những tông đồ đích thực của Chúa Giê-su.

Hãy trở nên những học trò ngoan của Thầy Giê-su các em nhé.
Mến chào tất cả các em.
Gb. Nguyễn Thái Hùng

TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG KIM ĐỊNH - VIỆT TRIẾT NHẬP MÔN

 

TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG KIM ĐỊNH - VIỆT TRIẾT NHẬP MÔN

avatarMichel Nguyễn Hạnh
WHĐ (17/3/2026) – Quyển sách “Tìm hiểu tư tưởng Kim Định – Việt triết nhập môn” không chỉ dành cho những người quan tâm đến tư tưởng Kim Định hay triết học Việt, mà còn dành cho độc giả đại chúng – những ai đang tìm kiếm một nền tảng tinh thần để định vị mình trong thế giới hiện đại. Bởi lẽ, như Kim Định từng viết: “Cái còn lại sau cùng của một dân tộc là minh triết sống.” Chính minh triết ấy – nếu được khai sáng, tái diễn giải và thực hành – sẽ là ánh đuốc dẫn đường để người Việt hôm nay vừa có thể hội nhập toàn cầu, vừa vẫn giữ được căn cước bản thể của mình.

LỜI TỰA

Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, khi bản sắc văn hóa đang đứng trước nguy cơ bị hòa tan vào trào lưu đồng hóa đại chúng, việc trở về với căn tính dân tộc không còn là hoài niệm, mà là một yêu cầu khẩn thiết để gìn giữ nền tảng tinh thần và định vị bản thân giữa thế giới đa cực. Triết lý – đúng nghĩa của nó – không chỉ là hệ thống tư tưởng, mà còn là nếp sống, là sự chiêm nghiệm sâu sắc về con người, xã hội và vũ trụ. Trong tinh thần ấy, triết lý Việt qua công trình của Kim Định trở thành một nguồn suối khai minh quý báu, vừa cắm rễ vào truyền thống Việt tộc, vừa đối thoại cởi mở với các dòng tư tưởng Đông – Tây.

Tác phẩm Việt Triết Nhập Môn là một trong những cột mốc khai mở của triết học Việt do Kim Định đề xướng. Sách gồm hai phần: Phần I là nội dung triết lý chủ đạo, trải dài từ chương 1 đến chương 10; Phần II là phần phụ trương, tập hợp các văn bản phụ lục, thư trao đổi, và các bài trình bày nhằm làm sáng tỏ thêm những chủ đề liên hệ. Trong đó, Phần I – đặc biệt từ chương 1 đến chương 8 – chính là phần cốt lõi, nơi Kim Định trình bày hệ thống tư tưởng Việt Nho: từ các nguyên lý như Từ – Tượng – Số – Chế, cho đến các biểu tượng nền tảng như Trống Đồng, Đại Ngã, Nhân thoại, Sống, Hồn Nước...

Quyển sách Tìm Hiểu Tư Tưởng Kim Định – Việt Triết Nhập Môn ra đời nhằm giải minh và tái hiện những nội dung chính yếu của Phần I từ chương 1 đến chương 8. Chúng tôi lựa chọn dừng lại ở chương 8 vì chương 9 và 10, cùng với phần phụ trương, tuy có giá trị tư liệu, nhưng không hoàn toàn thuần triết học – do đan xencác quan điểm xã hội và chính trị đặc thù của thời cuộc, vốn không phải là đối tượng trung tâm của cuộc khai triển triết lý trong phạm vi sách này.

Công trình này không chỉ dành cho những người quan tâm đến tư tưởng Kim Định hay triết học Việt, mà còn dành cho độc giả đại chúng – những ai đang tìm kiếm một nền tảng tinh thần để định vị mình trong thế giới hiện đại. Bởi lẽ, như Kim Định từng viết: “Cái còn lại sau cùng của một dân tộc là minh triết sống.” Chính minh triết ấy – nếu được khai sáng, tái diễn giải và thực hành – sẽ là ánh đuốc dẫn đường để người Việt hôm nay vừa có thể hội nhập toàn cầu, vừa vẫn giữ được căn cước bản thể của mình.

Trong sách này, thay vì ghi đầy đủ chức danh, chúng tôi chỉ gọi ngắn gọn là Kim Định, với lòng thành kính và sự tôn trọng đối với vị linh mục – học giả triết học lớn của Việt Nam.

An Phú Đông, thứ Năm ngày 24 tháng 7 năm 2025

Michel Nguyễn Hạnh

 

VỀ TÁC GIẢ KIM ĐỊNH

1. Tiểu sử

Linh mục Đa Minh Lương Kim Định sinh năm 1915 tại tỉnh Ninh Bình, trong một gia đình Công giáo truyền thống. Ngay từ nhỏ, ngài đã theo học tại các chủng viện để chuẩn bị cho đời sống linh mục. Sau khi được gửi du học tại Pháp, Kim Định theo học thần học, triết học và tốt nghiệp xuất sắc. Ngài được thụ phong linh mục, gia nhập Dòng Đa Minh, và trở về Việt Nam với sứ vụ giảng dạy.

Kim Định từng đảm nhận vai trò giáo sư triết học tại nhiều chủng viện, trường đại học Công giáo và viện đào tạo triết học ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Song song với công việc đào tạo linh mục và sinh viên, ngài dành trọn đời nghiên cứu triết học Đông – Tây, đặc biệt là tư tưởng cổ truyền Việt Nam.

2. Học giả tiên phong trong Việt Nho và Việt Triết

Kim Định là người khởi xướng Việt Nho và Việt Triết, nhấn mạnh rằng nền minh triết Đông phương có cội rễ sâu xa từ văn hóa Việt cổ. Ngài nỗ lực chứng minh Việt Nam không chỉ tiếp thu văn hóa Hán mà còn là trung tâm phát nguyên nhiều giá trị nhân bản đã lan tỏa sang Trung Hoa và các nền văn minh lân cận

Bằng một phương pháp vừa mang tính triết học vừa mang tính khảo cổ – ngữ học – sử học, Kim Định đã xây dựng một hệ thống tư tưởng sâu sắc, nối kết giữa thần thoại, Kinh Dịch, trống đồng Đông Sơn và nền minh triết An Việt (Âu Lạc).

3. Các tác phẩm chính và nội dung sơ lược

Kim Định để lại hơn 30 tác phẩm, nhiều cuốn có giá trị học thuật cao, trong đó đáng chú ý:

a. Việt Lý Tố Nguyên (1967)

Tác phẩm chủ lực về nguồn gốc và nền tảng triết lý Việt. Kim Định phân tích các huyền thoại Lạc Long Quân – Âu Cơ, Hồng Bàng thị, Kinh Dịch, trống đồng Đông Sơn để tìm ra hệ thống tư tưởng nguyên thủy của dân tộc.

b. Việt Nho (1970)

Cuốn sách giải thích và bảo vệ khái niệm Việt Nho – tức nền Nho giáo nguyên thủy của người Việt – phân biệt với Hán Nho về sau. Kim Định nhấn mạnh triết lý Việt Nho mang tính nhân bản, cộng đồng và hài hòa với thiên nhiên.

c. Triết Lý An Vi (1972)

Đây là triết lý chủ đạo của Kim Định, đề cao An Vi – trạng thái sống an hòa, thanh thản, xây dựng trên nền tảng nhân bản và cộng đồng. Ngài phân tích các yếu tố triết học Đông – Tây để đối chiếu và đề xuất hướng đi cho văn hóa Việt.

d. Vấn Đề Nhân Chủ (1972)

Sách bàn về vị trí con người trong vũ trụ theo truyền thống triết học Việt và Đông phương, đồng thời đối thoại với triết học Tây phương. Kim Định cho rằng người Việt cổ đã có một nền nhân chủ (con người làm trung tâm) trước cả khi phương Tây hình thành chủ nghĩa nhân văn.

e. Việt Triết Nhập Môn (1974)

Cuốn sách giới thiệu hệ thống triết học Việt một cách khái quát, dễ tiếp cận cho độc giả. Kim Định sử dụng các khái niệm Từ – Tượng – Số – Chế để giải thích cách người Việt tư duy về thế giới, đồng thời nêu ra những giá trị phổ quát.

f. Nguồn Gốc Văn Hóa Việt Nam (1971)

Sách tập trung khảo cứu các di chỉ khảo cổ, ngôn ngữ, phong tục để chứng minh chiều sâu lịch sử – văn hóa Việt Nam và vai trò trung tâm của văn minh Đông Sơn.

g. Các tác phẩm khác:

Cửa Khổng (1963): Giới thiệu Nho giáo dưới cái nhìn Việt.

Tâm Tư Thời Đại (1970): Đối thoại giữa Đông – Tây về khủng hoảng tinh thần.

Tinh Hoa Ngũ Điển (1972): Giải thích Kinh Dịch, Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu trong mạch Việt Nho.

Hùng Việt Sử Ca (1972): Hình thức thơ ca để ca ngợi lịch sử dân tộc.

4. Đóng góp và di sản

Kim Định là một trong những nhà tư tưởng lớn của Việt Nam thế kỷ 20. Tư tưởng của ngài đã góp phần:

1) Khơi dậy tự hào dân tộc qua việc chứng minh nền minh triết Việt cổ.

2) Đưa ra hệ thống triết học Việt có khả năng đối thoại với triết học Đông – Tây.

3) Xây dựng triết lý An Vi như một hướng đi nhân bản cho xã hội hiện đại.

Ngày nay, nhiều công trình nghiên cứu tiếp tục khai thác và đối thoại với tư tưởng Kim Định, đặc biệt trong lĩnh vực Việt Nho, nhân thoại và cơ cấu ngũ hành.

 

Tài file về tại đây!


MÙA CHAY NHƯ THẾ NÀO TRONG GIÁO HỘI SƠ KHAI?

 

MÙA CHAY NHƯ THẾ NÀO TRONG GIÁO HỘI SƠ KHAI?

avatarPhilip Kosloski
Xuân Bích Việt Nam (16/3/2026) - Mùa Chay có phải luôn kéo dài 40 ngày không? Có phải các Tông đồ là người thiết lập mùa Chay? Nếu không phải các ngài, thì ai đã thiết lập?

Lịch sử mùa Chay rất phức tạp, vì phải mất nhiều thế kỷ để nó phát triển trước khi trở thành như ngày nay.

Mùa Chay có phải luôn kéo dài 40 ngày không? Có phải các Tông đồ là người thiết lập mùa Chay? Nếu không phải các ngài, thì ai đã thiết lập?

Trong vài thế kỷ đầu của Giáo hội, các Kitô hữu thường bị bách hại và các Giám mục của Giáo hội gặp khó khăn trong việc tạo ra một lịch phụng vụ hoàn thiện. Nói chung, các Giám mục được giao phó trách nhiệm quản lý một giáo hội địa phương và các ngài có nhiệm vụ hướng dẫn dân Kitô hữu trong việc thờ phượng Thiên Chúa. Điều này dẫn đến sự khác biệt ban đầu trong cách các Kitô hữu cử hành mùa Chay, mỗi người tự quyết định cách thức tuân giữ mùa sám hối.

Thánh Irênê, vào thế kỷ thứ II, đã viết một bức thư cho Đức Giáo hoàng lúc bấy giờ về sự đa dạng của các ngày ăn chay trước lễ Phục sinh:

"Vì cuộc tranh luận không chỉ liên quan đến ngày [lễ Phục sinh], mà còn liên quan đến chính cách thức ăn chay. Vì một số người nghĩ rằng họ nên ăn chay một ngày, những người khác nghĩ hai ngày, những người khác nữa thì nghĩ nhiều hơn; hơn nữa, một số người lại tính một ngày của họ gồm bốn mươi giờ cả ngày lẫn đêm.

Và sự đa dạng trong việc tuân giữ việc ăn chay này không chỉ xuất hiện trong thời đại chúng ta, mà đã có từ rất lâu trước đó, trong thời đại của tổ tiên chúng ta. Có lẽ họ không tuân thủ nghiêm ngặt các quy định, và do đó đã hình thành nên một phong tục cho hậu thế theo sự giản dị và lối sống riêng của họ. Tuy nhiên, tất cả họ đều sống trong hòa bình, và chúng ta cũng sống hòa bình với nhau; và sự bất đồng về việc ăn chay càng xác nhận sự đồng thuận trong đức tin".

Các Kitô hữu sơ khai đều nhất trí rằng nên có một kỳ ăn chay trước lễ Phục sinh, nhưng thời gian 40 ngày chỉ được quy định chắc chắn mãi về sau.

Nguồn gốc của mùa Chay 40 ngày

Đồng thời, các học giả đã phát hiện ra rằng một số Kitô hữu ở sa mạc Ai Cập đã giữ chay tịnh 40 ngày sau lễ Hiển linh. Lễ Hiển linh kỷ niệm phép rửa của Chúa Giêsu và theo truyền thống được tổ chức vào ngày 06 tháng Giêng. Do đó, các Kitô hữu này đã bắt đầu ăn chay vào ngày sau lễ Hiển linh để noi gương Chúa Giêsu, chính Người đã vào hoang mạc để ăn chay 40 ngày ngay sau khi chịu phép rửa.

Việc ăn chay này không kết thúc vào lễ Phục sinh, nhưng nó kết thúc bằng một nghi lễ rửa tội, chính thức kết nạp các thành viên mới vào đức tin Kitô giáo.

Một số học giả tin rằng truyền thống ăn chay sau lễ Hiển linh sau này đã được kết hợp với các truyền thống khác để tạo ra mùa Chay như chúng ta biết ngày nay. Mãi đến sau Công đồng Nixêa năm 325, mùa Chay mới được thiết lập rộng rãi như một kỳ ăn chay 40 ngày. Việc hợp pháp hóa Kitô giáo cho phép việc ăn chay được cử hành công khai hơn và các Giám mục cuối cùng đã có thể bắt đầu quá trình hiệp nhất dưới quyền Đức Giám mục Rôma trong mọi việc, bao gồm cả các kỷ luật phụng vụ.

Trong khi mùa Chay đã thay đổi kể từ khi Giáo hội được thành lập, thì nguồn gốc của mùa Chay lại rất sâu xa và việc ăn chay trong 40 ngày trên diện rộng có nguồn gốc từ thời cổ đại.

Tác giả: Philip Kosloski

Tý Linh chuyển ngữ từ Aleteia

Nguồn: xuanbichvietnam.ne