Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn THÁNH KINH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn THÁNH KINH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 31 tháng 8, 2026

BẢN HỌC HỎI KINH THÁNH MỚI CỦA MỘT LM CÔNG GIÁO KẾT NỐI ĐỨC TIN VÀ KHOA HỌC CHO MỘT THẾ HỆ ĐANG HOÀI NGHI

 

BẢN HỌC HỎI KINH THÁNH MỚI CỦA MỘT LINH MỤC CÔNG GIÁO KẾT NỐI ĐỨC TIN VÀ KHOA HỌC CHO MỘT THẾ HỆ ĐANG HOÀI NGHI

WHĐ (31/8/2026) - Khi linh mục Dòng Tên Robert Spitzer nhận thấy một số người trẻ Công giáo đang từ bỏ đức tin nhân danh khoa học, ngài quyết định làm một điều gì đó để giải quyết vấn đề: biên soạn một cuốn học hỏi Kinh thánh mới.

Cha Spitzer, tác giả cuốn “Science, Reason, and Faith: Catholic Study Bible” (Khoa học, Lý trí và Đức tin: Học hỏi Kinh thánh Công giáo), do Our Sunday Visitor (công ty chủ quản của OSV News) xuất bản vào mùa hè năm nay, cho biết: “Có rất nhiều người trẻ đang rời bỏ Giáo hội chúng ta một cách không cần thiết, Họ nghĩ rằng đức tin và khoa học mâu thuẫn với nhau.”

Cha Spitzer là đồng sáng lập và chủ tịch của Magis Center, cũng là đồng sáng lập và phó chủ tịch The Napa Institute, đồng thời là người dẫn chương trình truyền hình hằng tuần “Father Spitzer’s Universe” trên EWTN. Gần đây, ngài đã trao đổi với OSV News về cuốn học hỏi Kinh thánh mới của mình. Ngài cho biết cuốn sách khảo sát mối tương quan giữa khoa học và đức tin, đồng thời nhằm giúp các học sinh, giáo viên và người Công giáo nói chung củng cố đức tin của mình, cũng như sử dụng cuốn sách như một công cụ loan báo Tin mừng.

Cuốn sách đồ sộ này có hơn 2.000 trang, nhưng nội dung được trình bày có hệ thống và dễ tiếp cận. Học hỏi Kinh thánh bao gồm toàn bộ bản văn Kinh thánh theo Bản Revised Standard Version – Catholic Edition (RSV-CE), cùng với những nội dung do cha Spitzer biên soạn. Các phần bổ sung của cha Spitzer gồm phần bình luận trước sách Cựu ước và Tân ước, phần dẫn nhập trước mỗi sách trong Kinh thánh, cùng những ghi chú bên lề về các đoạn Kinh thánh gây tranh luận hoặc khó hiểu.

Phần dẫn nhập viết: “Như sẽ được trình bày, các nghiên cứu khoa học, sử học và chú giải Kinh thánh không đi ngược lại sự hiện hữu của Thiên Chúa, của linh hồn và của Kinh thánh; trái lại, chúng cung cấp những bằng chứng có sức thuyết phục để nâng đỡ những thực tại ấy, qua đó cho phép lý trí và đức tin – mỗi bên theo cách thức riêng – bổ túc và soi sáng cho nhau. Khoa học và lý trí có thể cho chúng ta biết nhiều điều về cách thức thế giới khả giác vận hành, nhưng chỉ có mặc khải (được nhìn dưới ánh sáng đức tin) mới có thể cho chúng ta biết tại sao chúng ta và thế giới hiện hữu.”

Giải đáp những câu hỏi lớn

Đặc biệt, phần bình luận của cha Spitzer trước sách Cựu ước và Tân ước được trình bày theo hình thức hỏi – đáp, giúp độc giả tìm thấy câu trả lời cho những vấn đề liên quan đến Kinh thánh cũng như mối tương quan giữa Kinh thánh với khoa học, lịch sử và việc giải thích Thánh kinh. Trước phần Cựu ước, độc giả có thể tìm đến những câu hỏi như: “Cựu ước có mang tính lịch sử không?” hoặc “Có thể chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa không?” Trong những trang mở đầu Tân ước, người đọc có thể tìm hiểu những câu hỏi như: “Có những bằng chứng ngoài các bản văn Tân ước nào về Chúa Giêsu lịch sử?” và “Chúa Giêsu có thực sự muốn ban cho chúng ta Mình và Máu Người trong Bí tích Thánh Thể hay không?”

Sách học hỏi Kinh thánh này còn đề cập đến nhiều chủ đề khác, bao gồm vai trò của Giáo hội trong sự phát triển của khoa học; quan điểm Công giáo về thuyết tiến hóa; những bằng chứng về sự hiện hữu của linh hồn vượt trên thế giới vật chất; các bằng chứng lịch sử về cuộc khổ nạn, cái chết trên thập giá và sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô; những thị chứng nhân của các truyền thống Tin mừng; các phép lạ của Chúa Giêsu; các phép lạ Thánh Thể; và nguồn gốc của Giáo hội Công giáo.

Cha Spitzer khuyên độc giả bắt đầu với cuốn học hỏi Kinh thánh bằng cách chọn ra bốn hoặc năm câu hỏi mà họ quan tâm nhất. Sau khi đọc các câu trả lời, ngài đề nghị họ thử đọc lại ba chương đầu của sách Sáng thế.

Ngài nói “Tôi dám chắc rằng bạn sẽ rút ra được nhiều điều từ những chương ấy hơn bao giờ hết. Điều đó thực sự sẽ làm cho Kinh thánh trở nên sống động.”

Linh mục Dòng Tên Robert J. Spitzer, cựu chủ tịch Đại học Gonzaga ở Spokane, bang Washington, hiện là chủ tịch Magis Center of Reason and Faith và Spitzer Center ở Garden Grove, California. (Ảnh OSV News/Cha Spitzer cung cấp)

Đối với những ai muốn đào sâu hơn nữa sau khi đọc cuốn học hỏi Kinh thánh học hỏi, cha Spitzer giới thiệu một cuốn sách khác của ngài, “Science, Reason, and Faith: Discovering the Bible” (Khoa học, Lý trí và Đức tin: Khám phá Kinh thánh), được OSV xuất bản năm 2023.

Một nguồn tài liệu dành cho người trẻ Công giáo

Cuốn học hỏi Kinh thánh này cũng xuất hiện trong bối cảnh một cuộc khảo sát năm 2025 do Pew Research Center công bố. Khảo sát cho thấy lý do hàng đầu khiến những người từng là Công giáo tại Hoa Kỳ nói rằng họ không còn nhận mình là người Công giáo nữa là vì họ đã không còn tin vào những giáo huấn của tôn giáo này.

Một công trình khác được công bố năm 2018, mang tựa đề “Going, Going, Gone: The Dynamics of Disaffiliation in Young Catholics” (Ra đi, đang ra đi, đã ra đi: Những động lực dẫn đến việc người trẻ Công giáo rời bỏ Giáo hội), do Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng về Tông đồ (Center for Applied Research in the Apostolate) thuộc Đại học Georgetown và St. Mary’s Press thực hiện, nhận thấy rằng những người trẻ không còn nhận mình là Công giáo đã nêu sự xung đột với các xác tín khoa học như một lý do khiến họ rời bỏ Giáo hội.

Cha Spitzer nói: “Giáo hội chúng ta luôn ở tại giao điểm giữa đức tin và khoa học, thế nhưng chính con em chúng ta lại đang rời bỏ Giáo hội.”

Cha Spitzer, người từng giảng dạy học sinh trung học và sinh viên đại học, cho biết cuốn học hỏi Kinh thánh mới của ngài hướng đến những người trẻ Công giáo từ học sinh lớp bảy cho đến các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ. Ngài đặc biệt nêu lên hai lĩnh vực mà người trẻ gặp khó khăn: họ cho rằng Cựu ước mâu thuẫn với cách khoa học giải thích về tự nhiên và thuyết tiến hóa; và rằng Chúa Giêsu không phải là một nhân vật lịch sử.

Ngài cho biết: “Tôi cố gắng đặt câu hỏi: Được rồi, đâu là những câu hỏi lớn? Và tôi biết rằng một học sinh lớp bảy sẽ không có cùng khả năng đọc hiểu cuốn sách này, nhưng tôi hy vọng các giáo viên lớp bảy sẽ có khả năng ấy.”

Một nguồn tài liệu dành cho giáo lý viên và giáo viên Công giáo

Ngoài các học sinh, cha Spitzer cũng khuyến khích các giáo viên và giáo lý viên đọc cuốn học hỏi Kinh thánh của ngài.

“Tại sao chúng ta không cung cấp cho (các học sinh) những câu trả lời này, để các em không cảm thấy mình phải rời bỏ Giáo hội chỉ vì nghĩ rằng đức tin là ngây ngô?” cha Spitzer nói. “Giáo hội Công giáo đã đi tiên phong trong việc kết hợp đức tin và khoa học.”

Ngài đề cập đến mối tương quan giữa Giáo hội Công giáo và khoa học, một chủ đề cũng được ngài nhấn mạnh trong cuốn học hỏi Kinh thánh. Trong phần bình luận trước sách Cựu ước, cha Spitzer nhấn mạnh đến Hàn lâm viện Khoa học Tòa thánh, nơi quy tụ nhiều nhà khoa học từng đoạt giải Nobel; không dưới 286 giáo sĩ và tu sĩ Công giáo đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của khoa học kể từ thời nhà thiên văn học Nicolaus Copernicus; các khoa khoa học tự nhiên được Giáo hội hỗ trợ tại 1.800 trường đại học; cùng nhiều đóng góp khác.

Một cái nhìn đầy đủ hơn về Thiên Chúa

Cha Spitzer hy vọng độc giả nhận ra rằng khoa học và lý trí, xét trong tương quan với đức tin, mang tính bổ túc và củng cố lẫn nhau, chứ không mâu thuẫn với nhau.

Ngài nói: “Chúng đem lại hai cách nhìn khác nhau, qua đó làm nổi bật sự viên mãn trong trí tuệ của Thiên Chúa, trái tim của Thiên Chúa, cảm thức thẩm mỹ tuyệt đẹp của Thiên Chúa, cũng như luân lý và lương tâm của Thiên Chúa. Đặt cả hai lại với nhau, bạn sẽ có được một cái nhìn thật đáng kinh ngạc về trí tuệ và trái tim của Thiên Chúa.”

“Hãy nghĩ đến sự bổ túc và củng cố lẫn nhau,” ngài nói thêm. “Nếu bạn chỉ có một thông điệp ấy, nhưng muốn có một cái nhìn lớn hơn và rộng hơn về trí tuệ và trái tim của Thiên Chúa, và muốn có tất cả những bằng chứng có thể tìm được về Thiên Chúa, Chúa Giêsu, sự sống sau cái chết, linh hồn vượt trên thế giới vật chất… về Đức Maria, Bí tích Thánh Thể, thì tôi có thể nói rằng đây chính là cuốn Kinh thánh dành cho bạn.”

Tác giả: Katie Yoder

Nguồn: www.osvnews

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2026

Tầm quan trọng của Sách Sáng Thế trong Kinh Thánh

 

Tầm quan trọng của Sách Sáng Thế trong Kinh Thánh

            Sách Sáng Thế đứng đầu trong các sách trong Quy Điển (canon)[1]. Sách có nội dung hấp dẫn xoay quanh nhiều chủ đề, từ việc hình thành vũ trụ cho đến việc gia đình, từ thế giới có trật tự đến tình anh em được hòa giải, từ bảy ngày tạo dựng thế giới đến bảy mươi người trong dòng dõi của Gia-cóp tiến vào vùng đất tạm cư Ai Cập... Vì thế, sách Sáng Thế luôn là một thách thức lớn lao đối với các nhà chú giải.             Vị trí của Sáng Thế trong các Sách Quy Điển rất quan trọng vì nhiều lý do. Sách Sáng Thế nói về những khởi đầu, từ khởi đầu của vũ trụ và những trật tự khác nhau của loài người đến những khởi đầu của dân tộc Israel. Sách Sáng Thế cũng làm chứng cho những hoạt động khởi đầu của Thiên Chúa trong thế giới. Nhưng công trình tạo dựng thì không chỉ dừng lại ở trật tự thời gian trước sau. Sách Sáng Thế đứng đầu bởi vì tạo dựng là một phạm trù thần học căn bản của toàn bộ Sách Quy Điển. Sự chúc lành và công trình sắp đặt của Thiên Chúa luôn mang tính chất tạo dựng. Hơn thế nữa, chỉ trong liên hệ với công trình sáng tạo mà ta mới có thể hiểu đúng đắn hành động của Thiên Chúa nơi dân Israel. Vị trí của công trình tạo dựng chứng minh rằng những ý định của Thiên Chúa dành cho dân Israel là phổ quát. Hành động của Thiên Chúa trong công trình cứu chuộc hoàn tất công trình sáng tạo vì chính công trình cứu chuộc đã phục hồi công trình sáng tạo vốn đã bị ảnh hưởng nặng nề do hậu quả tội lỗi. Hơn thế nữa, vị trí của Sách Quy Điển chứng tỏ rằng công trình cứu độ của Thiên Chúa không xảy ra trong hư không. Công trình cứu chuộc ấy xảy ra trong một bối cảnh đã được hình thành trong những cách thức nhất định ngang qua việc trao ban sự sống- công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Công trình cứu chuộc không thể được hiểu như là xảy ra từ hư không (ex nihilo) nếu không trân trọng những món quà Thiên Chúa trao tặng trong việc tạo dựng thế giới.

(Công Tùng dịch)


 Bài viết trích trong  "Dẫn Nhập Sách Sáng Thế" của tác giả Terence E. Fretheim.
[1] Sách Luật (canon) được hiểu Torah theo người Do Thái nói tiếng Hip-pri, hoặc Ngũ Thư theo người Do Thái nói tiếng Hy Lạp.

Tầm quan trọng của Kinh Thánh Cựu Ước

 

Tầm quan trọng của Kinh Thánh Cựu Ước

Kinh Thánh được phân chia thành 2 phần, gồm 46 quyển Cựu ước và 27 quyển Tân ước. Đã có những lúc người ta coi trọng Tân ước và dường như xem nhẹ Cựu ước. Tuy nhiên, chúng ta thật khó có thể hiểu Tân ước nếu không biết Cựu ước. Vậy, Vậy, Cựu ước có tầm quan trọng như thế nào?? Chúng ta cần đọc Cựu ước vì đọc Cựu ước sẽ giúp hiểu Tân ước hơn. Tân  ước là mục lục của Cựu Ước Ta gặp trong Tân ước nhiều từ ngữ không có giải thích vì chúng là thành phần văn hóa thời đó như: Con Người, Con Vua Đa-vít, Mê-si-a, Người tôi trung đau khổ, Thần Khí…Những từ ngữ đó có cả một lịch sử dài viết về những nội dung phong phú trong nhiều thế kỷ của dân Israel. Cựu ước là thế giới của biểu tượng Trong văn chương có kiểu nói “nghĩa đen” và “nghĩa bóng”, cả hai đều được sử dụng trong Kinh Thánh. Nói với một em bé: “ông ấy dữ lắm!”, em bé có thể hiểu theo nghĩa thông thường, nghĩa đen. Còn khi nói: “ông ấy dữ như sư tử!” thì phải cho em bé đi sở thú ….” để em có thể hiểu “ông ấy dữ như sư tử!” nghĩa là gì. Cựu ước là thế giới các biểu tượng. Xin đan cử một ví dụ. Đối với tín hữu ngày nay, danh hiệu Con Thiên Chúa có một ý nghĩa rõ rệt, rất mạnh, còn danh hiệu Con Người là rất yếu. Nhưng đối với Israel, Con Thiên Chúa đồng nghĩa với Con Vua Đa-vít, là tước hiệu lớn nhưng đôi lúc lại mang nghĩa trần tục (Mt 26, 63; Mc 14, 61). Còn  danh hiệu Con Người trích trong sách Đa-ni-el, vẽ lên hình ảnh một nhân vật từ trời đến mà Thiên Chúa sẽ trao quyền xét xử muôn dân. Theo người Do Thái, danh hiệu này huyền nhiệm, cao quý  hơn danh hiệu Con Thiên Chúa. Cựu ước là gương soi cho loài người Có thể nói Thiên Chúa đã bắt dân Người sống những hy vọng và những kinh nghiệm của loài người. Đọc Cựu Ước, chính là suy nghĩ về chiều sâu thân phận người của chúng ta. Chúa Giêsu đã làm như thế, thánh Phaolô cũng làm như vậy. Đọc Cựu ước cũng là đọc lại cuộc sống chúng ta trong những gì là căn bản. Có lẽ ta dễ nhạy cảm với ông Gióp vô tội đang đau khổ và tự hỏi vì sao, ta cũng dễ nhạy cảm với sách Diễm Ca đang ca tụng tình yêu mát rượi của đôi trẻ. Tất cả những cái đó phản chiếu một phần cuộc sống của chúng ta …Đọc sách Xuất Hành, ta cũng muốn được giải thoát, được tự do. Những tiếng kêu của các ngôn sứ đòi công lý và kính trọng người nghèo cũng gặp được những tranh đấu tương tự nơi xã hội ngày nay. Những phản ứng bạo động trước cuộc bách hại của vua An-ti-ô-kô, diễn tả những chọn lựa hàm hồ của chúng ta hôm nay. Bất cứ ai đọc Kinh Thánh, tin hay không tin đều có thể có những cảm nghiệm trên. Kinh Thánh thuộc về loại tác phẩm lớn của nhân loại: Đặc tính của các tác phẩm ấy là diễn tả chủ yếu về cuộc sống con người. Kinh Thánh  làm theo kiểu riêng mình, cũng như các anh hùng ca của Hy Lạp hay các thần thoại Babylon. Thánh Luca và Phaolô báo cho chúng ta biết cái đó còn đúng hơn, thật hơn với người tín hữu. Sư phạm của Đức Giêsu theo Thánh Luca: Chiều Lễ Vượt Qua, hai môn đệ chán nản về quê làng Emmau.  “Chúng tôi vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ giải thoát Israel…” Lời tâm sự đó mang nhiều tham vọng và ảo tưởng nhưng đã thất vọng. Đức Giêsu đã không trách họ. Người đọc lại Kinh Thánh với họ, giải thích cho họ nghe và lòng họ thấy rạo rực lên khiến họ nhận ra Người lúc Người bẻ bánh. Chúng ta cũng vậy, cần được Người đến để thắp lên hy vọng nơi chúng ta. Lịch sử Israel như “mô hình”. Thánh Phaolô diễn tả điều đó bằng những danh từ thần học. Người nói: “Những việc xảy ra cho Israel là để làm bài học, răn dạy chúng ta (1Cr 10, 6-11). Tiếng mẫu mực chưa bằng tiếng mô hình. Mẫu mực là để bắt chước, giống được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Còn mô hình là rập khuôn, theo đúng kích thước. Thực hiện công trình mới là quan trọng. Trường hợp Israel thì đặc biệt. Các biến cố lịch sử vẫn có giá trị của nó. Nhưng đối với các tín hữu, nó còn là cái báo trước, đi trước cuộc sống của mình. Một cách nào đó, Thiên Chúa đã nghĩ đến chúng ta, đang khi Người đối thoại với Israel. Điều này cần thiết để tránh thói quen dạy luân lý. Sau đây là một ví dụ: Những cám dỗ của Đức Giêsu trong sa mạc. Ta nói: Chúa bị cám dỗ và Người đã chống lại. Vì thế ta phải bắc chước Người. Thế nhưng, Người là Thiên Chúa, Người đã thắng, còn tôi yếu hèn, làm gì được như Người! Mẫu mực thật đẹp nhưng liệu có dành cho tôi? Thánh Mat-thêu và Luca cho ta thấy Satan bắt Đức Giêsu sống lại những cám dỗ mà dân Israel đã chịu trong sa mạc. Đức Giêsu đã lặp lại lịch sử Israel và làm cho lịch sử ấy đến chỗ thành công. Vì Người đã sống và thắng cơn cám dỗ như đáng lẽ họ phải sống và chiến thắng. Những cám dỗ của Chúa là mô hình cho những cám dỗ của chúng ta hôm nay vậy. Đức Giêsu đã sống chính những cám dỗ của chúng ta. Như thế, Đức Giêsu không là cái mẫu để ta chép lại nhưng là Đấng mà trong Người đời ta đã thành công, nhờ Người ta có thể và phải sống như thế.

 Cựu ước vẫn còn tiếp diễn? Cựu ước phần lớn là lời hứa. Chúng ta nhớ đến những sấm ngôn, những Thánh Vịnh về những lời tiên báo: Ngày nào đó, Thiên Chúa sẽ đến thiết lập vương quốc của Người. Khi ấy, người nghèo sẽ hạnh phúc, đau khổ sẽ bị tiêu diệt; sự dữ, bất công, đau khổ không còn nữa… Tuy nhiên, xung quanh ta, đau khổ, sự dữ, bất công, tội lỗi vẫn còn. Người Do Thái mong chờ Đấng Mê-si-a đến.

Người Ki-tô hữu công nhận Đức Giêsu là Mê-si-a đã đến, nhưng Người chỉ mới khai mở Nước Trời. Người trao cho các môn đệ, nhờ Thánh Thần hướng dẫn, phải tiếp tục công trình của Người. Như thế, lời hứa trong Cựu ước vẫn còn là những chương trình cho chúng ta tiếp tục thi hành những việc Chúa Giêsu đã làm. (Theo Etienne Charpentier)

Thứ Hai, 10 tháng 8, 2026

CAPHÁCNAUM: THÀNH CỦA CHÚA GIÊSU BÊN BỜ HỒ GALILÊ



 

CAPHÁCNAUM: THÀNH CỦA CHÚA GIÊSU BÊN BỜ HỒ GALILÊ

Vatican News (08/8/2026) - Trong bài suy tư thuộc loạt bài “Theo dấu chân Chúa Giêsu”, Cha Francesco Patton, Dòng Phanxicô (OFM), giới thiệu Caphácnaum, thành bên bờ hồ Tibêria, nơi Chúa Giêsu đã sống phần lớn ba năm thi hành sứ vụ công khai tại Galilê. Chính tại đây, Người kêu gọi các môn đệ đầu tiên, giảng dạy trong hội đường, chữa lành người bệnh và thực hiện nhiều dấu lạ mặc khải căn tính của Người là Đấng Mêsia và Con Thiên Chúa.

Theo Tin mừng Mátthêu, sau khi rời Nadarét, Chúa Giêsu đến cư ngụ tại Caphácnaum, “một thành ven biển hồ Galilê”. Việc chọn nơi này không phải ngẫu nhiên. Khác với Nadarét nằm tách biệt khỏi các tuyến giao thông chính, Caphácnaum tọa lạc trên con đường chiến lược dẫn đến Đamát, đồng thời đủ xa các trung tâm quyền lực lớn. Nhờ đó, Chúa Giêsu có thể loan báo sứ điệp Mêsia rộng rãi hơn mà chưa lập tức gây phản ứng từ giới lãnh đạo chính trị và tôn giáo.

Vào thời Chúa Giêsu, Caphácnaum là một thành biên giới có trạm thu thuế và đơn vị binh lính Roma. Dân cư gồm ngư dân, nông dân, thợ thủ công, thương nhân và người thu thuế. Chính từ cộng đồng đa dạng ấy, Chúa Giêsu đã gọi các môn đệ đầu tiên: Phêrô, Anrê, Giacôbê, Gioan và Mátthêu.

Một trong những khám phá khảo cổ quan trọng nhất tại Caphácnaum là khu vực được gọi là insula sacra, nơi có ngôi nhà được truyền thống xác định là nhà Thánh Phêrô. Các cuộc khai quật từ năm 1968 cho thấy ngôi nhà có nguồn gốc từ thế kỷ I trước Công nguyên. Từ cuối thế kỷ I sau Công nguyên, một phần ngôi nhà được biến thành domus-ecclesia, nơi các Kitô hữu quy tụ cầu nguyện. Đến thế kỷ V, một nhà thờ hình bát giác được xây dựng ngay phía trên địa điểm này.

Các hình khắc có tên Chúa Giêsu, những công thức phụng vụ như Amen, Kyrie Eleison và các ký hiệu liên quan đến Thánh Thể cho thấy nơi đây không chỉ được cộng đồng địa phương sử dụng, nhưng còn là điểm hành hương từ rất sớm. Đền tưởng niệm hiện nay, được xây phía trên nhà Thánh Phêrô, được thánh hiến ngày 29/6/1990.

Một công trình nổi bật khác là hội đường “màu trắng”, được xây bằng những khối đá vôi sáng màu. Các nghiên cứu xác định công trình hiện thấy có niên đại cuối thế kỷ IV. Tuy nhiên, bên dưới hội đường này, các nhà khảo cổ phát hiện nền đá bazan của một công trình công cộng từ thế kỷ I. Theo các nhà khảo cổ dòng Phanxicô Virgilio Corbo và Stanislao Loffreda, đây có thể là dấu tích của hội đường do viên đại đội trưởng Roma xây dựng và là nơi Chúa Giêsu từng giảng dạy. Chính tại hội đường này, Người đã giảng trong ngày Sabát, trừ quỷ và công bố diễn từ về Bánh Hằng Sống.

Các phát hiện khảo cổ cũng cho thấy trong thời Byzantine, một cộng đồng Kitô hữu chiếm đa số và một cộng đồng Do Thái thiểu số đã sống bên cạnh nhau tại Caphácnaum. Đây là trường hợp đặc biệt trong khu vực, nơi các cộng đồng tôn giáo thường sống tách biệt.

Lịch sử khảo cổ Caphácnaum bắt đầu từ thế kỷ XIX. Năm 1894, Dòng Phanxicô Quản thủ Thánh Địa mua lại khu phế tích. Từ năm 1968, các cha Virgilio Corbo và Stanislao Loffreda tiến hành những cuộc khai quật quy mô, giúp tái dựng lịch sử địa điểm từ thời đại đồ đồng cho đến thời Ả Rập, đồng thời xác định nhà Thánh Phêrô và dấu tích hội đường thời Chúa Giêsu.

Ngày nay, các tu sĩ Phanxicô vẫn hiện diện tại Caphácnaum, đón tiếp người hành hương đến tìm lại “thành của Chúa Giêsu”. Hội đường trắng, những ngôi nhà bằng đá bazan, nhà Thánh Phêrô và sự tĩnh lặng của mặt hồ đều gợi lên một sự hiện diện mà đức tin nhận ra vẫn sống động.

Đứng trước những di tích ấy, người hành hương có thể cùng Thánh Phêrô thưa với Chúa: “Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6,68).

Nguồn: vaticannews.va

Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2026

Thiên Chúa tạo nên con ngườigiống hình ảnh Thiên Chúa

 

Thiên Chúa tạo nên con ngườigiống hình ảnh Thiên Chúa

Nguyễn Công Đoan, S.J.

  Bước vào Mùa Chay Hội Thánh mời chúng ta “hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”, “hãy nhớ mình là tro bụi và sẽ trở về bụi tro”. Đặc biệt năm nay nhà giảng thuyết đặc biệt là CÔ VY tí hon, chẳng ai thấy hay biết mặt mũi ra sao, không mời mà tới, đi thì thầm vào tai mọi người, nhắc lời Hội Thánh công bố hôm đầu Mùa Chay. Từ kẻ quyền thế hét ra lửa khinh dể mọi người, tới người vô gia cư bên hè phố, từ kẻ mọi người bái phục đến người chẳng ai biết là đang có mặt trên cõi đời này. Người ta đã đón nhận lời rao giảng ấy như thế nào? Chúng ta, những người tin Thiên Chúa, tin vào ơn cứu độ của Thiên  Chúa trong Đức Giê-su Ki-tô, chúng ta đón nhận như thế nào? Nhiều người tự hỏi hoặc hỏi chúng ta: “Thiên Chúa ở đâu lúc này?” “Bạn còn tin Thiên Chúa được không?” Bước vào Tuần Thánh là tột đỉnh của Mùa Chay, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm Thiên Chúa hiện diện nơi Đức Giê-su Con Thiên Chúa làm người đang hấp hối trên thập giá, trần truồng, ngộp thở, bất lực, cô đơn đến nỗi phải thốt lên lời cầu nguyện bi thảm nhất trong sách Thánh Vịnh, là trường dạy tín hữu cầu nguyện: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Tv 21/22, 1). Những kẻ sát nhân đắc thắng đứng nhìn, nghe thế còn chế nhạo. Thiên Chúa như vẫn thinh lặng. Với chút hơi và sức lực còn lại, Đức Giê-su thét lên một tiếng rồi tắt thở (X. Mt 27, 45-50; Mc, 15,33-37). Tiếng gào, tiếng thét Con Thiên Chúa thốt lên trên thập giá phát ra từ nét chạm cuối cùng của Thiên Chúa để nặn thành “con người giống hình ảnh Thiên Chúa” (St 1,27; 2,7). Đó cũng là tiếng Thiên Chúa quát nạt những kẻ chống lại Đấng Người đã xức tấn phong (Tv 2,5); đó là tiếng thét của Sam-son khi xô đổ tòa nhà để tiêu diệt quân thù bằng chính cái chết của mình (Tl 16,30). Đó là tiếng thét xung trận của Con Thiên Chúa để tiêu diệt chính cái chết đã ầm ĩ thét gào khiêu khích, trong khi Thiên Chúa im lặng và Con Thiên Chúa thì “như con chiên bị đem đi giết không hề mở miệng” (53, 7): “Hỡi tử thần, Ta là cái chết của ngươi đây!” (Điệp ca 1, Kinh chiều thứ Bảy Tuần Thánh; x. Is 25, 8; Hs 13, 14; 1Cr 15,55). Thiên Chúa lên tiếng ngay sau đó: “bóng tối bao phủ… đất rung chuyển, đá vỡ tung” (Mt 27, 45-51) như khi Thiên Chúa hiển linh trên núi Xi-nai (Xh 19,16-18), núi Kho-rép (1V 19,11-12). Và chiến thắng theo ngay: “mồ mả bật tung và nhiều người thánh đã qua đời trỗi dậy”; viên sĩ quan chỉ huy cuộc hành quyết kêu lên: “Quả thật người này là Con thiên Chúa”. “Đám đông đã tụ họp để xem cảnh tượng này thì đấm ngực ra về”. Hai người môn đệ thế giá trong bóng tối bỗng ra ánh sáng: ông Giu-se người A-ri-ma-thê đi gặp Phi-la-tô để xin lãnh xác Đức Giê-su; ông Ni-cô-đê-mô mang một trăm cân mộc dược đến tẩm liệm. (x. Mt 27,45-54; Mc 15, 39-45; Lc 23,44-52; Ga 19,38-40). Tiếng thét cuối cùng ấy cũng là tiếng chào đời của một con người mới vừa được sinh ra từ nỗi đau sinh con (x. Ga 16,21-22). Maria Ma-đa-le-na đứng khóc trước cửa ngôi mộ đã mở toang, hai thiên thần ngồi bên trong, ở nơi đã đặt xác Đức Giê-su, mỗi vị một đầu, như để đánh dấu rõ ràng là “xác Người không còn ở đây”, lên tiếng hỏi bà : “Này người đàn bà, sao bà khóc?” Chúa Giê-su đến sau lưng, bà chưa nhận ra thì Chúa hỏi: “Hỡi người đàn bà, sao bà khóc? Bà tìm ai?” (Ga 20, 12-15). Con người mới đã có đó rồi, nỗi đau sinh con đã qua rồi, sao bà còn khóc? Tiếng thét ấy cũng là tiếng reo của Thiên Chúa vừa hoàn thành công trình tạo nên con người thật sự giống hình ảnh Thiên Chúa, để từ nay mọi người thuộc dòng dõi A-dong có thể “lột bỏ con người cũ”,“mặc lấy Con Người Mới đã được tạo thành theo hình ảnh Thiên Chúa, trong sự công chính và thánh thiện đích thật” (Ep 4,22-24; Cl 3, 9-10; x. Rm 6, 1-11). Tại sao công trình tạo dựng con người bắt đầu từ chương đầu sách Sáng Thế mà bây giờ mới hoàn tất trên thập giá? Công trình đã bị xáo trộn từ “cây biết lành biết dữ”, do “bàn tay sần sùi” của Xa-tan đã xúi con người nghi ngờ tình yêu Thiên Chúa và muốn nên như Thiên Chúa bằng cách đoạt lấy quyền tự mình định đoạt cái gì là tốt cái gì là xấu. Từ đó Thiên Chúa phải uốn nắn lại con người cho nên giống hình ảnh Thiên Chúa: Trên thập giá khi buông Con Một trong tay loài người và để mặc cho loài người đối xử tùy ý, thì Thiên Chúa đã tự định nghĩa rõ ràng: Thiên Chúa là Tình Yêu (Ga 3,16) Và Con Thiên Chúa đã đứng về phía loài người mà đáp lại bằng sự tin tưởng hoàn toàn vào Tình Yêu của Thiên Chúa và dám chấp nhận cả cái chết để bày tỏ tình yêu đối với Thiên Chúa (Ga 14,31). Khi tôn vinh Người Con đã hạ mình vâng phục cho đến nỗi bằng lòng chết và chết trên thập giá, Thiên Chúa đã xác nhận: Tình Yêu mạnh hơn cái chết, vì Thiên Chúa Tình Yêu là Thiên Chúa hằng sống và tự mạc khải bằng sự sống chứ không phải bằng cái chết. (Ed.33,11). Suốt Mùa Chay và đặc biệt trong “Canh Thức Vọng Phục Sinh”, Hội Thánh mời chúng ta ôn lại lịch sử cứu độ để nhận biết mình cần được cứu khỏi quyền lực của tội lỗi  và sự chết, và Thiên Chúa đã ban ơn cứu độ, ơn giải thoát khỏi tội lỗi và sự chết, trong Con Một yêu dấu của Thiên Chúa, Đấng đã sinh xuống làm người anh em của chúng ta trong thân phận con người; đã chết để xóa bỏ tội lỗi và sống lại để ban sự sống vĩnh cửu làm cho chúng ta nên anh em của Ngài trong vinh quang của Thiên Chúa: “Cha của Thầy cũng là Cha của anh em” (Ga 20, 17). Vào Mùa Phục Sinh, chúng ta nhìn lại vài giai đoạn trong lịch sử cứu độ để nhận ra sư phạm của Thiên Chúa trong hành trình uốn nắn con người cho nên giống hình ảnh Thiên Chúa, để từ nay sống đời sống mới do Chúa Ki-tô Phục Sinh đem cho chúng ta:  
  • Áp-ra-ham, người bạn của Thiên Chúa (Is 41,8; Đn 3, 35)
  • I-xa-ác, món quà trao đổi giữa hai người bạn
  • Gia-cóp – Ít-ra-en: người vật lộn với Thiên Chúa
  • Dòng dõi Ít-ra-en, cục đất sét cứng trong tay thợ gốm
  • Mô-sê, người trung gian bị vạ lây
  • Giê-rê-mi-a, người mẫu « chân dung người tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa”
  • Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa, hình ảnh toàn hảo của Thiên Chúa, trưởng tử giữa toàn thể thọ tạo, “con người mới” đúng hình ảnh của Thiên Chúa.
 
  • Áp-ra-ham, người bạn của Thiên Chúa
  Sau khi con người đã được tạo thành giống hình ảnh Thiên Chúa làm hỏng công trình vì không tin vào Tình Yêu của Thiên Chúa, khiến cho thế giới loài người đầy bất công, hận thù, máu và nước mắt (St 3-6). Cuộc tái lập sau nạn Hồng Thủy, khởi từ gia đình của một người công chính là No-ê, cũng thất bại (St 9-11), Thiên Chúa đã đến tìm giữa loài người một người bạn dám tin vào Tình Yêu của Thiên Chúa và đáp lại vô điều kiện. 1ĐỨC CHÚA phán với ông Áp-ram : “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi. 2Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi. Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lừng lẫy, và ngươi sẽ là một mối phúc lành. 3Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi ; Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa. Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.” 4Ông Áp-ram ra đi, như ĐỨC CHÚA đã phán với ông. Ông Áp-ram được bảy mươi lăm tuổi khi ông rời Kha-ran. (St 12,1-4). Thiên Chúa đề nghị ông rời bỏ mọi an toàn hiện tại và mọi bảo đảm cho tương mà ông có tại xứ sở, họ hàng và nhà cha để ra đi, hướng về một miền đất và một tương lai mà ông không nắm được bảo đảm nào trong tay ngoài lời Thiên Chúa hứa. Miền đất Chúa bảo ông đi tới thì ông cũng chưa biết tên, chưa biết ở phương nào, Thiên Chúa bảo “sẽ chỉ cho” Thiên Chúa hứa cho ông thành một dân lớn khi mà ông đã già và người vợ yêu quí duy nhất của ông cũng chẳng còn sinh con được nữa.  Ông ra đi trắng tay, cả hiện tại lẫn tương lai đều không ở trong tay ông. Ông chỉ có lời hứa của Thiên Chúa là tất cả. Ông có đem một người cháu theo, nhưng ít lâu sau người cháu cũng chia tay với ông để ông thật sự ra khỏi cả họ hàng. Ông tin vào lời của Thiên Chúa mà ra đi. “Ông ra đi mà không biết mình đi đâu” (Hr 11,8). Nhiều năm sau, một đêm dưới mài lều tăm tối, Thiên Chúa lai đến nói với ông. Bảo ông “đừng sợ!” vì ông đang trằn trọc băn khoăn tới tột cùng vì thấy mình sắp ra khỏi cuộc đời trên miền đất lạ, chỉ có lời hứa để ôm theo, chẳng để lại dòng dõi nào; cơ nghiệp gầy dựng bấy lâu chẳng còn ai trong họ hàng để hưởng, phải trao cho một người lão bộc trung thành. Ông đơn sơ bộc lộ nỗi lòng cho Thiên Chúa. Thiên Chúa nhắc lại lời hứa, bảo đảm bằng một lời thề độc theo phong tục thời đó: nếu không giữ lời hứa thì sẽ bị phân thây xé xác. Ông Áp-ra-ham cũng nhắc lại lòng tin: “Ông tin vào Thiên Chúa” (St 15,6). Rồi ông tiếp tục bước đi trong ánh sáng và sức mạnh của lòng tin. Thử thách và phiền muộn lại đến từ phía khác. Ông vẫn chung thủy với bà vợ già Sarah và yêu bà nhất trên đời; bà cũng yêu ông và khong muốn ông phải thất vọng vì  sự son sẻ của mình. Bà đề nghị giải pháp đơn giản thời đó là nhờ Ha-ga, cô nô lệ của bà mang thai hầu bà. Ông cũng chiều ý bà. Kết cuc giải pháp của bà chỉ gây sầu muộn cho bà, ưu phiền cho ông và khổ cho cô nô lệ, khổ cho cả cái bào thai cô mang hầu bà trong bụng mình. Khi ấy Ông đã 86, bà thua ông mười tuổi (St 16, 16). Mười bốn năm Thiên Chúa thinh lặng như thể đã bằng lòng với giải pháp giản đơn của bà Xa-ra, rồi một hôm Người  lại đến gặp ông Áp-ra-ham: “Năm tới Xa-ra vợ ngươi sẽ sinh cho ngươi một đứa con trai…” Tin này đã làm ông “cười bò xuống” đất. Thiên Chúa bảo đảm bằng cách đổi tên cho cả ông lẫn bà, và đặt tên sẵn cho đứa con : “ngươi sẽ đặt tên cho nó là I-xa-ác” [Ông Cười] (X. St 17, 1-22). Ít lâu sau Thiên Chúa lại đến gặp ông ngay tại cửa lều, nhận bữa ăn thịnh soạn mà ông kêu bà cùng hối hả dọn mời, dưới bóng cây cổ thụ rợp bóng che lều cho ông. Sau đó, Người nhắn khéo cho bà ngồi nghe ở trong lều, sau lưng ông đang đứng hầu bên ngoài, rồi Người nhắc lại tin mừng đã nói với ông. Bà cười lăn trong lều. (St 18, 1-15) Rồi ngày vui nhất đời đã tới, khi “Ông Cười” do chính bà mang thai, sinh ra để đem tiếng cười cho mọi người. Ông đã tròn 100, bà đã chín chục. Ba năm sau, ngày cai sữa cho I-xa-ác, bà dứt khoát xóa bỏ kế hoạch đã lỗi thời của bà, để chỉ có một “Ông Cười” ở trong nhà: bà không nhận đứa con do người nô lệ mang thai giùm là con của bà nữa. Bà thẳng tay ra lệnh cho ông đuổi “đứa nô lệ và con của nó đi”. Ông chần chừ nhưng Thiên Chúa lại bắt ông phải theo lệnh bà. Ông đành nhìn người nô lệ nước mắt đầm đìa cõng đứa con ngơ ngác ra khỏi nhà (St 21, 1-21). Những vết hằn của đau thương oán hận gieo vào từ trong bụng mẹ sẽ khiến nó lớn lên “đúng là một con lừa hoang, nó giơ tay chống lạ mọi người, mọi người chống lại nó…” (St 16,12). Ngày ấy tiếng cười của ông như một bản nhạc từ cung trưởng đã bị đổi qua cung thứ, như để chuẩn bị đón giờ Chúa sẽ đòi lại chính tiếng cười Ngài đã cho ông. Giờ ấy đến khi Thiên Chúa lại đến gọi tên ông hai lần, chỉ để nói với ông:   Người gọi ông : “Áp-ra-ham !” Ông thưa : “Dạ, con đây !” 2Người phán : “Hãy đem con của ngươi, đứa con một yêu dấu của ngươi là I-xa-ác, hãy đi đến xứ Mô-ri-gia mà dâng nó làm lễ toàn thiêu  ở đấy, trên một ngọn núi Ta sẽ chỉ cho.” (St 22,1-2) Lời Thiên Chúa hôm nay như đưa ông về điểm khởi đầu: lại trắng tay. Đứa con do người nô lệ sinh cho ông đã bị vợ ông bắt phải đuổi đi. Đứa con do vợ yêu của ông sinh cho ông thì Thiên Chúa đòi lại. Lời “trên một ngọn núi Ta sẽ chỉ cho” âm vang lời đã nghe mấy chục năm trước “đi tới miền đất ta sẽ chỉ cho”. Lần này ông không có gì để nói với Thiên Chúa. Ông không cười cũng không khóc, chỉ lặng lặng dậy sớm và chuẩn bị mọi thứ, rồi dẫn con đi. Lần trước ông đi ba năm mới tới miền đất Thiên Chúa chỉ cho ông[1], lần này thì ông đi bà ngày mới tới ngọn núi Thiên Chúa chỉ. Ông chất củi từ trên lưng lừa sang vai con, ông thì một tay cầm dao một tay cầm lửa. Hai cha con cùng đi lên núi. Sự thinh lặng chỉ bị ngắt quãng vì mẩu đối thoại giữa hai cha con. Mẩu đối thoại nghe mà đứt ruột vì đây là lần đầu và lần cuối ta được nghe I-xa-ác ngây thơ tin tưởng gọi “cha ơi”, trong khi người cha biết mình đang dẫn con đi đâu, nên âu yếm “cha đây, con của cha ơi!” và một lần nữa “con của cha ơi!” Rồi hai người tiếp tục đi cùng nhau. Lên tới nơi Thiên Chúa chỉ, ông tự tay lập bàn thờ, xếp củi lên, rồi tự tay trói con lại, đặt lên bàn thờ. Hai cha con vẫn im lặng. Ông đưa tay ra cầm lấy con dao thì Sứ Thần Thiên Chúa đột ngột phá tan sự thinh lặng, gọi tên ông hai lần đồn dập. Ông thưa: “Này con đây!” Lệnh mới của Thiên Chúa: “Đừng đưa tay hại đứa trẻ!...” Lưỡi dao nằm yên đó, nhưng đã mở trái tim ông cho Thiên Chúa xem: “Ta thấy lòng ngươi rồi…” Ông đã chứng tỏ rằng ông “yêu mến Thiên Chúa bằng tất cả trái tim, bằng tất cả mạng sống và bằng tất cả những gì ông có”. “Đứa con của ông, đứa con một của ông, đứa con yêu dấu của ông, ông cũng không từ chối Thiên Chúa”, nó nằm trên bàn thờ chứ không nằm trong tim của ông. Thiên Chúa mới là phần gia nghiệp của ông, là tất cả của ông và lấp đầy trái tim ông. Ông thật sự là “người bạn của Thiên Chúa”. Thiên Chúa còn gọi lần nữa để nhắc lại lời hứa ông đã nghe dưới ánh sao năm xưa. Ông lại thinh lặng ôm theo lời hứa đi xuống núi, rồi cùng với hai người tôi tớ. Lần này ông biết mình phải đi đâu và ở đâu: “Ông lên đường đi về phía Bơ-e Se-va. Ông cư ngụ tại đó”. Thiên Chúa sẽ truyền cho dòng dõi ông yêu mến Thiên Chúa như ông đã yêu mến (Đnl 6, 5). Nhưng họ có giống ông được không thì lại là truyện dài nhiều tập trong lịch sử.  
  1. I-xa-ác, món quà của tình bạn giữa Thiên Chúa và Áp-ra-ham
Trình thuật “hiến tế I-xa-ác” vừa đọc kết thúc với hình ảnh Áp-ra-ham quay lưng xuống núi một mình, không thấy kể Áp-ra-ham cởi trói, đem con xuống khỏi bàn thờ… rồi đi về phía Bơ-e-Sê-va và dịnh cư ở đó. Không thấy nhắc đến bà Xa-ra, cũng không nhắc đến I-xa-ác nữa. Nhiều năm sau, khi bà Xa-ra chết với tuổi thọ một trăm hai mươi bảy, ta mới được nghe tiếp câu chuyện lời hứa về một miền đất: nó cũng vẫn còn trong cõi đợi chờ. Ông phải đi mua một phần đất để chôn bà. Cả trong đám tang này cũng không thấy I-xa-ác xuất hiện. Khi ông Áp-ra-ham đã lớn tuổi lắm ta mới lại nghe kể ông Áp-ra-ham sai người lão bộc về quê cũ của ông để tìm vợ cho I-xa-ác. Khi người lão bộc dẫn cô Rê-béc-ca về thì lại chỉ thấy I-xa-ác đón từ giữa cánh đồng và đưa vào lều của bà mẹ Xa-ra quá cố, ở đó cậu cưới nàng làm vợ, cậu yêu nàng và cậu được an ủi về nỗi buồn mất mẹ (St 24, 63-67). Điều trùng hợp lý thú là I-xa-ác và It-ma-en, đứa con do nàng Ha-ga sinh cho Áp-ra-ham, đã bị bà Xa-ra đuổi đi lại cùng nhau lo mai táng ông Áp-ra-ham bên cạnh bà Xa-ra. Sau đó thì I-xa-ác định cư ở gần cái giếng La-khai Rô-i, nơi thiên sứ đạ đón gặp Ha-ga, khi nàng chạy trốn bà chủ Xa-ra, để bảo nàng quay về tùng phục bà, cho đứa con trong bụng nàng được sinh ra trong nhà ông Áp-ra-ham. Nghệ thuật kể chuyện đạt tới đỉnh cao để truyền đạt sứ điệp. Ta đừng thắc mắc thêm kẻo thành “vẽ rắn thêm chân” làm hỏng bức tranh. Rê-béc-ca cũng chịu thân phận hiếm muộn giống bà Xa-ra. I-xa-ác tha thiết khẩn nài Thiên Chúa, và Thiên Chúa cho bà một cặp song sinh, Ê-sau và Gia-cóp. Nhưng ông thì cưng Ê-sau là đứa ra trước, thích lang thang săn bắn. Bà thì cưng Gia-cóp, đứa ra sau, tối ngày bám váy mẹ ở nhà. Từ trong bụng mẹ, Gia-cóp đã mưu đoạt vị trí trưởng nam. Khi I-xa-ác đã lòa, thì bà vợ yêu dấu từng làm ông khuây nỗi buồn mất mẹ, nay sắp đăt để giành quyền trưởng nam cho cục cưng của bà. Rồi sợ Ê-sau trả thù đứa em, bà lại tỉ tê xúi ông I-xa-ác sai Gia-cóp về quê ngoại. Trong câu chuyện của gia đình Ap-ra-ham, I-xa-ác như một cái bóng mờ, hết được mẹ ấp[2] thì lại có vợ ủ cho tới chết. I-xa-ác chỉ thật sự có mặt trong truyện hiến tế, cưới vợ, khấn xin cho vợ có con và cuối cùng là việc thừa kế do bà vợ dàn xếp. Ông chỉ như cái gạch nối giữa Áp-ra-ham và Gia-cóp trong gia đình. Trong tương quan giữa Áp-ra-ham với Thiên Chúa thì ông là món quà “bọc điều” trao tay giữa Thiên Chúa và Áp-ra-ham để nối kết tình bạn. Nhưng chính ở điểm này thì ông lại trở thành hình bóng của Con Một Thiên Chúa, người con nối lại tương quan giữa loài người với Thiên Chúa. Sách Tin Mừng Mát-thêu vận dụng một cách nhẹ nhàng kín đáo mà phải tinh mắt mới nhận ra. Tin Mừng này mở đầu với nguồn gốc của Đức Giê-su Ki-tô. Bản gia phả nói lên nguồn gốc về phía loài người, trong đó Áp-ra-ham và Đa-vít được đặt làm cột mốc, vì hai ông tổ này đã nhận được hai lời hứa của Thiên Chúa: lời hứa cho Áp-ra-ham một dòng dõi đông như sao trời cát biển, và cho Đa-vít có dòng dõi mãi mãi làm vua. Lời sứ thần báo cho ông Giu-se con vua Đa-vít (Mt 1, 20-25) giaỉ thích nguồn gốc Đức Giê-su về phía Thiên Chúa. Ông Giu-se con vua Đa-vít lại là con ông Gia-cóp, giống ông Giu-se trong Cựu ước. Lời hứa cho Áp-ra-ham được thực hiện mở đầu với người con một yêu dấu I-xa-ác, sau khi hiến tế thì Thiên Chúa bảo đảm lại lần nữa là dòng dõi đông như sao trời cát biển mà Thiên Chúa đã hứa xuất phát từ người con duy nhất này. Lời hứa cho Đa-vít có vẻ như bế tắc từ cuộc lưu đầy Ba-by-lon, vì từ đó chẳng có ai trong dòng dõi Đa-vít lên làm vua nữa. Chúa Giê-su phục sinh sai “bà Maria Ma-đa-lê-na và một bà khác cũng tên là Maria: “đi báo cho anh em của Thầy rằng họ phải đi về Ga-li-lê, ở đó họ sẽ gặp Thầy”. Ngay sau đó thì chúng ta được biết “anh em của Chúa Giê-su” chính là Mười Một Tông Đồ còn lại: 16Mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến. 17Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi c. 18Đức Giê-su đến gần, nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. 19Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, 20dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” Ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến ở xứ Ga-li-lê vọng lại “ngọn núi Thiên Chúa đã chỉ cho ông Áp-ra-ham” ở xứ Mô-ri-gia để hiến tế người con một yêu dấu, ở đó Thiên Chúa đã khẳng định lại lời hứa cho ông “làm cha vô số dân tộc(St 17,6) và “dòng dõi đông như sao trời cát biển” (St 22,1-18). Trên ngọn núi Chúa Giê-su truyền cho nhóm mười một đi đến ở xứ Ga-li-lê, Chúa Phục Sinh tuyên bố lời Thiên Chúa hứa cho Đa-vít đã thành tựu nơi Ngài, là Con Vua Đa-vít. Lời hứa cho Áp-ra-ham dòng dõi đông như sao trời cát biển cũng được thực hiện nơi Ngài. Các môn đệ đã thành anh em của Ngài phải ra đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ tức là thành anh em của Chúa. “Đức Giê-su con ông Giu-se” đã tìm được anh em của mình, đến phiên họ phải “đi tìm anh em của mình” như ông Giu-se con ông Gia-cóp trong Cựu Ước (St 37.39-45). Trong Sách Tin Mừng thứ tư thì “cái bóng mờ” I-xa-ác lại sáng như trăng rằm. “Cái bóng I-xa-ác” có mặt xuyên suốt như “hình in chìm” phía sau hình nổi của Đức Giê-su Ki-tô, Con Một của Thiên Chúa. Khởi từ danh hiệu đầu tiên ông Gio-an Tiền Hô giới thiệu Đức Giê-su với đám đông dân chúng: “Đây là Con Chiên của Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” cho tới cảnh “Đức Giê-su tự vác lấy thập giá của mình, đi tới Gôn-gô-tha”. Đây là Con Chiên của Thiên Chúa vang lên như loan báo sự thực hiện lời Áp-ra-ham nói với I-xa-ác con một yêu dấu của ông trong mẩu đối thoại ngắn ngủi mà đứt ruột khi hai cha con cùng đi lên núi: “Thiên Chúa sẽ tự lo liệu cho mình một con chiên để làm của lễ toàn thiêu” (St 22, 8). Con chiên Thiên Chúa tự lo liệu cho mình chính là Con Một của Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một…” (Ga 3, 16). Niềm vui khiến ông Áp-ra-ham cười bò, bà Xa-ra cười lăn cũng vang lên ở chương thứ tám trong cuộc tranh luận về ai là con của Áp-ra-ham, ai con của Thiên Chúa: “Ông Áp-ra-ham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi. Ông đã thấy và đã mừng rỡ.” (8, 56). Cả cuộc đối thoại giữa Áp-ra-ham và con một yêu dấu lại vang lên đàng sau cuộc đối thoại của Đức Giê-su, Con Một của Thiên Chúa với Cha, khi giờ đã đến: 27“Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến! Thầy biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này, nhưng chính vì giờ này mà con đã đến. 28Lạy Cha, xin tôn vinh Danh Cha.” Bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống: “Ta đã tôn vinh Danh Ta, Ta sẽ còn tôn vinh nữa!” (12,27-28). Cuối cùng, cảnh I-xa-ác vác củi, hai cha con cùng đi lên núi, hiện lên như cái bóng khi “Chính Đức Giê-su vác lấy thập giá của mình đi ra, đến nơi gọi là Núi Sọ” (19,17) với lời giải thích trước của Đức Giê-su: “anh em sẽ bị phân tán, để Thầy cô độc một mình. Nhưng Thầy không cô độc đâu, vì Chúa Cha ở với Thầy” (16,32).  
  • Gia-cóp / “Ít-ra-en, kẻ đấu với Thiên Chúa và với người ta”
I-xa-ác mờ như một gói quà “bọc điều” trao tay qua lại giữa Thiên Chúa và Áp-ra-ham, còn Gia-cóp nổi lên hoạt náo như một con người vật lộn với mọi người và với cả Thiên Chúa để dành phần phúc cho mình ngay từ trong bụng mẹ. Cặp song sinh này từ trong bụng mẹ đã đụng nhau. Khi sinh, thì “đứa ra trước đỏ hoe, toàn thân như một cái áo choàng bằng lông, nên gọi tên là Ê-sau; đứa ra sau nắm gót chân đứa ra trước, như muốn kéo lại để dành ra trước, vì thế gọi là Gia-cóp [kẻ níu gót]. (còn tiếp)   [1] Tính toán dựa trên lời: “mười năm sau, kể từ khi ông định cư ở đất Ca-na-an” (St 16,3); khi Ha-ga sinh cho ông đứa con trai thì ông 86 tuổi (16,16); khi ông rời nhà cha mẹ lên đường thì ông bảy mươi lăm tuổi (12,4). [2] Các sách giải nghĩa Sách Thánh và Lề Luật của Do Thái (Tan-mút), giải thích rằng sau khi Áp-ra-ham lén đem con đi tế lễ hụt rồi về, bà Xa-ra biết giận lắm và từ đó giữ I-xa-ác thật kỹ trong lều cho tới khi bà chết.
Thiên Chúa tạo nên con ngườigiống hình ảnh Thiên Chúa

JK