Trang

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

Suy niệm Chúa nhật VI thường niên – Năm A

 Suy niệm Chúa nhật VI thường niên – Năm A

Mát thêu 5, 17-37

Sau khi đã mở đầu bài diễn từ trên núi bằng 8 mối phúc. Đến phần thân bài Đức Giêsu tuyên bố: “Ngài đến không để bãi bỏ, nhưng để kiện toàn lề luật”. Kiện toàn thế nào? Phải chăng một nét chấm, một nét phẩy trong sách luật không bỏ qua? Phải chăng giữ luật từng chi tiết, từng điều luật nhỏ nhất? Đức Giêsu không kiện toàn luật theo kiểu đó, bởi Ngài đã chẳng tuân giữ luật ngày hưu lễ, chẳng quan tâm đến luật tinh sạch (Mt 15,3; 19,17; 22,36). Đàng khác, những luật được Ngài trưng ra trong đoạn Tin mừng hôm nay, đã được Ngài sửa đổi. Sửa đổi bằng cách đưa về thời nguyên sơ của nó, nghĩa là vào thời kỳ Thiên Chúa đã ban nó cho Maisen. Sửa đổi bằng cách thay đổi não trạng nệ luật của con người, giữ luật vì luật, bám sát từng chữ của luật và tuân thủ một cách nô lệ từng chữ ấy, biến luật thành chủ, con người là nô lệ, quên tinh thần của luật, là để phục vụ con người. Một khi luật đã được Đức Giêsu sửa đổi, giải thích, gạn lọc, vứt bỏ những thêm thắt của con người, kiện toàn đúng tinh thần, phù hợp với chủ ý của Thiên Chúa, sẽ có một uy quyền tuyệt đối một nét phẩy, nét chấm không bỏ qua, một sự trường tồn, trời đất sẽ qua đi, nhưng thánh ý Thiên Chúa (lề luật) sẽ không bao giờ qua. Một thứ luật như thế, một điều răn nhỏ nhất cũng quan trọng, ai thực thi sẽ là người công chính hơn những Kinh sư và Pharisiêu. Để cụ thể, Đức Giêsu đã trích dẫn sáu điều luật và đưa ra các yêu sách mới của Người. Tin mừng Chúa nhật hôm nay đề cập bốn điều:

1. Giết người

Luật dậy người xưa: “Chớ giết người. Ai giết người thì đáng bị đưa ra toà”. Đức Giêsu bảo: “Giận anh em cũng đã bị kết án”. Đây là kiểu nói của người Dothái, Đức Giêsu đã dùng để nói lên tầm quan trọng của vấn đề. Giận anh em, đâu bị đưa ra toà, mắng anh em là ngốc, đâu bị đưa ra trước Hội đồng, chửi anh em là quân phản đạo, đâu đến nỗi phải xuống hoả ngục. Đàng khác, xét về mặt tâm lý, giận là một trong “thất tình”: hỷ (mừng), nộ (giận), ai (thương xót), cụ (sợ), ái (yêu), ố (ghét), dục (ham muốn), nghĩa là một trong bẩy thứ tình cảm tự nhiên mà người lành mạnh nào cũng có. Nếu ta biết yêu mình và tự trọng ta, ai đó đối xử bất công với ta tự nhiên ta nổi giận. Tuy nhiên, không nên giữ cơn giận mãi trong lòng. Khoa tâm bệnh học cho biết: cứ đè nén cơn giận mãi có thể hại cho tâm thần, không lợi cho sức khoẻ dễ bị ung thư. Thánh Phaolô nói: Đừng để cơn giận qua lúc mặt trời lặn. Tự nó, giận không có gì là xấu. Chính Đức Giêsu cũng từng nổi giận, khi thấy người ta buôn bán trong Đền thờ. Chỉ xấu khi nổi giận với anh em mình, không còn coi người anh em mình như anh em nữa, trái lại coi họ là người dưng, thậm chí là kẻ thù. Giận như thế đồng nghĩa với giết, không phải giết chết một mạng sống, mà giết chết một mối tình. Anh em không còn là anh em, mà là kẻ thù. Giận như thế bị kết án.

2. Ngoại tình

Quả thực ngoại tình là một lỗi nặng, nó phá vỡ tổ ấm của người anh em, nó bị mọi nền văn minh lên án cách nghiêm khắc. Một xã hội coi thường lâu dài vấn đề này chắc chắn sẽ tự tiêu diệt. Luật Dothái dậy ném đá những người phạm tội ngoại tình. Đức Giêsu chẳng những cấm ngoại tình bằng hành động, bằng hành vi bên ngoài. Người còn cấm ngoại tình từ trong lòng. Người nói: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi”. Để nói lên tầm quan trọng của vấn đề, Đức Giêsu bảo: “Nếu mắt hoặc tay anh em làm cớ cho anh em vấp phạm, thì hãy móc mắt hoặc chặt tay đó đi, vì thà rằng mất phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hoả ngục”. Đây là kiểu nói mạnh của người Dothái, Đức Giêsu đã dùng. Bởi lẽ cho dù có móc một mắt, chặt tay, cũng không làm cho người ta khỏi sa ngã. Tội bởi trong lòng mà ra, mắt, chân tay chỉ là khí cụ. Vả lại, Đức Giêsu kết án tội ngoại tình, nhưng Đức Giêsu không ném đá người phụ nữ phạm tội.

3. Ly dị

Luật Maisen cho phép người Dothái ly dị và dạy rằng: “Ai rẫy vợ, thì phải cho vợ chứng thư ly dị”. Đức Giêsu bảo: “Ai rẫy vợ mình, trừ phi nố dâm bôn, và cưới vợ khác tức là phạm tội ngoại tình”. Chỉ có Matthêu ghi lại nố trừ này. Trong Tin mừng Maccô và Luca không có, và chỉ ghi rằng: Đức Giêsu cấm tuyệt đối không được ly dị. Làm sao hai tác giả đó có thể quên một điều quan trọng như thế? Có lẽ đúng là một trong các người cuối cùng soạn bản Tin mừng của Matthêu đã thêm điều khoản ấy vào, để trả lời vấn đề các tôn sư tranh luận với nhau (những lý do cho phép rẫy vợ) và cũng là vấn đề có thể làm bận tâm những tín hữu gốc Dothái. Nếu thế thì ở đây có lẽ là một quyết định của Hội thánh có giá trị địa phương và tạm thời, như sắc lệnh của Công đồng Giêrusalem về vấn đề kiêng thịt cúng, vật chết ngạt và tránh gian dâm cho giáo đoàn Antiôkia (Cv 15,23-29).

Tuy nhiên, Giáo hội chính thống và Tin lành cho rằng, “dâm bôn” có nghĩa là ngoại tình, đây chính là lời của Đức Giêsu, bởi thế các giáo hội đó chấp nhận cho ly hôn, khi một trong hai người phối ngẫu phạm tội ngoại tình.

Nhưng có những người khác lại cho rằng từ “dâm bôn” chỉ một hôn nhân bất hợp pháp, trái với luật Thiên Chúa, như thứ hôn nhân loạn luân ngăn trở họ máu. Luật cấm lấy nhau (Lv 18,6-18; Cv 15,28-29). Những thứ hôn nhân ấy dù là hợp pháp giữa người ngoại giáo với nhau, hay được người Dothái làm thinh nơi các người theo Dothái giáo, hẳn là đã gây rắc rối, khi những người ấy theo Kitô giáo trong những môi trường thượng luật, như môi trường Matthêu. Vì thế có chỉ thị nên huỷ những hôn nhân bất hợp pháp ấy, vì đó chỉ là hôn nhân giả tạo.

Một ý kiến khác nữa cho rằng nố trừ “dâm bôn” mà Đức Giêsu cho phép rẫy vợ đây, không phải là ly dị, nhưng là ly thân. Chính Phaolô đã hiểu theo nghĩa đó, ông đã đề cập đến trong thư thứ 1 gửi giáo hữu Côrintô (1 Cr 7-11). Giáo hội Công giáo từ xưa đến nay đã hiểu như vậy, không cho ly hôn mà chỉ ly thân khi người ta phạm tội ngoại tình.

4. Thề thốt

Luật dạy người xưa rằng : “Chớ bội thề, nhưng hãy giữ trọn lời thề với Chúa”. Đức Giêsu bảo: “Đừng thề chi cả, có thì nói có, không thì phải nói không, thêm thắt điều gì là do ma quỷ”.

Nhiều giáo phụ cho rằng, đây là lệnh truyền nghiêm cấm tuyệt đối của Chúa, không được thề thốt chi cả, nhiều giáo phái Tin lành cũng đồng quan điểm đó. Họ từ chối không tuyên thệ bất cứ điều gì. Thực ra Đức Giêsu không nghiêm cấm cách tuyệt đối như thế. Thánh Phaolô đã thề với giáo hữu Rôma, Côrintô, Galata, (Rm 1,9; 2 Cr 1,23; 11,3; Gal 1,20). Giáo hội không những cho phép thề trước các toà án mà còn buộc phải thề trong một vài trường hợp nữa (thề chống Duy Tân chủ nghĩa). Theo thánh Augustin, lời thề tự nó không phải là điều tốt chỉ khi gặp trường hợp đáng tiếc và nghiêm trọng mới nên thề. Trong mọi trường hợp “Có phải nói có, không phải nói không. Thêm thắt điều gì là do ma quỷ”.

Lạy Chúa toàn năng, Chúa đã ban lề luật cho chúng con, và đã cho Con Chúa sửa đổi lại theo ý Chúa. Xin cho chúng con được bước đi dưới ánh sáng của lề luật để chúng con được sống muôn đời. Chúng con cầu xin./.

Suy niệm II

Luật của tự do và tình yêu

Mát thêu 5,27-37

Ngày nay, rất nhiều người hiểu được ý nghĩa sâu xa của câu nói luật của tự do và tình yêu. Con người trưởng thành luôn khát vọng được tự do, được tự mình làm nên đời mình và rất giận khi có ai can thiệp vào đời sống riêng tư của mình.

Chính Thiên Chúa vẫn luôn tôn trọng tự do của con người, sau khi ban tặng cho họ tự do như một ân huệ quý giá. Ngài đã không ngăn cản Ađam Evà hái trái cấm, và chấp nhận phải làm rất nhiều việc để sửa chữa tội lỗi đó chỉ vì muốn tôn trọng tự do của họ. Bài đọc I hôm nay cho ta hiểu con người hoàn toàn tự do lựa chọn điều tốt hay xấu để tạo nên “sinh tử” cho mình khi nói: “việc trung thành tuân giữ các giới răn là tuỳ ở con người”.

Vậy thì luật lệ của Chúa, của dân tộc Israel mà Đức Giêsu nói đến trong bài Tin mừng có ngăn cản hay xúc phạm đến tự do của con người hay không? Chúng ta tuân giữ các luật lệ với tinh thần nào để phát triển trọn vẹn tự do của mình? đó là vấn đề chúng ta suy niệm tuần này.

1. Tự do là gì?

a/ Tự do là khả năng của ý chí để nhờ đó con người quyết định về chính mình, tự hành động mà không bị bên trong thúc bách hay bên ngoài ép buộc. Nói cách khác, đó là khả năng của một hữu thể có lý trí, có thể làm hay không làm, làm cách này hay cách khác.Những hữu thể đó là con người, là thiên thần và Thiên Chúa. Còn các loài vật khác không có tinh thần thì không có tự do vì bị thúc đẩy do bản năng hay do đối tượng bên ngoài. Tự do của con người là thứ tự do tương đối vì được Thiên Chúa ban tặng, khác với tự do tuyệt đối của Thiên Chúa. Tự do con người cũng còn bị giới hạn bởi vật chất, không gian và thời gian.

Hơn nữa, điều kiện kiên quyết để thực hiện tự do là có thể lựa chọn và biết lựa chọn theo ý muốn của mình. Thí dụ giữa bao nhiêu người bạn gái, người con trai có thể chọn một người để làm vợ và khi chọn như thế, người đó hiểu mình tại sao chọn cô này mà không lấy cô khác.

Tuy nhiên, sự lựa chọn của con người luôn mang một tính cách liều lĩnh vì con người không thể hiểu rõ đối tượng mình chọn lựa và không bao giờ có thể thấy rõ được tương lai: vì nếu biết chắc chắn người con gái kia sẽ phản bội mình hoặc sau này bị tai nạn què chân, cụt tay, thì người con trai đã chọn người khác.

b/ Khi tự do lựa chọn con người. Thiên Chúa cũng đánh liều như vậy. Ngài sáng tạo nên con người, chia sẻ tự do của mình cho con người nên ngài chấp nhận cả việc con người phản bội tình yêu của mình. Ngài đã không thu lại ân sủng tự do, Ngài cũng chẳng giơ tay ngăn cản Ađam và mọi người chúng ta phạm tội. Ngài để cho con người làm chủ vận mệnh của mình. Ngài chỉ nhắc nhở con người phải khôn ngoan khi lựa chọn bằng lương tâm ngay chính của họ. Bài sách Huấn ca nói cho chúng ta hay rằng: “Trước mặt con người là sự sống và sự chết, sự lành và sự dữ họ thích thứ nào thì được thứ ấy. Thiên Chúa luôn luôn nhìn thấy mọi loài và thấu suốt mọi hành động của con người ” (Hc15, 16-21).

Con người càng lắng nghe tiếng Chúa và hành động theo ý Ngài diễn tả qua các luật lệ đúng đắn, qua tiếng lương tâm trung thực thì càng thấy mình được tự do. Đó là thứ tự do đặc biệt của người tín hữu vì các giới luật và lương tâm chỉ có mục đích là làm cho con người sống gắn bó với Thiên Chúa, là Đấng tự do tuyệt đối, Nhưng khi con người chiều theo dục vọng bất chính của mình hay của người khác là con người đã đánh mất tự do cao quý của người con cái Chúa. Con người tưởng mình hoàn toàn tự do để ăn chơi, hưởng thụ hay hành động theo ý của mình , nhưng sự thực lúc đó con người lại đang làm nô lệ cho tiền bạc, sắc đẹp, danh lợi và ma quỷ hơn cả, rồi từ đó làm nô lệ cho tội lỗi, chết chóc, vong thân.

Tuy nhiên, chính khi tuân giữ luật lệ của Chúa, con người lại cảm thấy mình mất tự do nếu không biết dùng lý trí để hiểu tại sao mình phải lựa chọn hành động này mà không lựa chọn hành động khác. Lúc đó người ta chỉ giữ luật vì sợ bị phạt hơn là hiểu rõ tinh thần của luật. Giống như một vài người chạy xe ngừng lại khi đèn đỏ vì sợ người cảnh sát giao thông thổi phạt, chứ không phải tôn trọng luật lệ giao thông để bảo vệ sinh mạng của mình và của người khác. Đó là kiểu giữ luật của nhiều kinh sư và biệt phái trong đạo Dothái, Họ tuân giữ tỉ mỉ 673 điều khoản trong Cựu Ước nhưng lại không hiểu tinh thần luật Chúa nằm ở lòng yêu thương chân thành đối với Chúa và tha nhân. Nên Đức Giêsu nói hôm nay: “Nếu anh em không ăn ở công chính hơn các kinh sư và người Pharisiêu thì sẽ chẳng được vào nước Trời”.

2. Tinh thần tự do của những con cái Chúa

a/ Đức Giêsu đến để đem lại cho con người sự tự do hoàn toàn của những người con Thiên Chúa. Ngài là một “người tự do vượt bậc” đối với tội lỗi đối với cái chết, đối với ma quỷ và đối với lề luật. Tự do đối với tội lỗi là vì Ngài đã yêu thương trọn vẹn, chân thành và quảng đại, trong khi tội lỗi là sự từ khước yêu thương. Đối với cái chết vì Ngài sẵn sàng đón nhận nó để rồi sống lại hiển vinh thay vì né tránh, trốn chạy nó. Ngài đã tiêu diệt tên địch thù cuối cùng là tử thần (x. 1Cr 15,26) để hứa ban sự sống vĩnh hằng cho những ai tin vào ngài. Tự do đối với ma quỷ. Vì Ngài đã chữa trị bao nhiêu người bị quỷ ám, giải phóng họ khỏi những điều áp bức, bệnh tật mà ma quỷ gây nên cho con người.Tự do đối với lề luật vì Ngài đã đi sâu vào tinh thần yêu thương của mọi lề luật để dạy chúng ta tuân giữ. Luật tôn trọng sự sống chẳng hạn: không phải chỉ giết người mới phạm luật, nhưng những thái độ hờ hững lạnh nhạt, những lời nói đay nghiến, chỉ trích cũng đều đáng lên án vì gây tác hại đến sự sống của người khác.

Do đó, ngài mới quả quyết rằng: “Ai giận anh em mình thì cũng đáng bị đưa ra toà rồi”. Luật pháp “cấm ngoại tình” nhưng tinh thần của lề luật ấy là muốn bảo vệ sự thanh khiết toàn vẹn của con người. Vì vậy Ngài mới dạy: “Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi”. Rất nhiều khi chúng ta an tâm khi giữ đúng điều răn thứ 6 và thứ 9: không làm điều dâm dục, không muốn vợ chồng người. Nhưng chúng ta lại vẫn thích thú với sách báo, phim ảnh, câu chuyện tục tĩu, dâm ô. Chúng ta có lẽ đã quên tinh thần của các điều răn ấy.

b/ Giữ luật với tinh thần tự do và tình yêu. Do đó, để phát huy tự do của mình một cách trọn vẹn, chúng ta cần phải gắn bó mật thiết với Đức Giêsu, hay nói đúng hơn và cụ thể hơn là ta hãy chọn Đức Giêsu và hành động theo lời dạy của Ngài. Đó là lẽ “khôn ngoan nhiệm mầu” của Thiên Chúa được thánh Phaolô nói đến trong bài đọc thứ hai ngày hôm nay.

Quả thật, qua bí tích rửa tội, chúng ta đã chọn Ngài, đã thành một chi thể trong thân thể mầu nhiệm của Người. Điều còn thiếu là chúng ta chưa hoàn toàn hành động theo lời dạy của Ngài: tất cả giới luật và dạy dỗ của Ngài chỉ quy về một điều duy nhất là: “Anh em hãy yêu thương như Thầy đã yêu thương anh em”. Chính tình yêu sẽ giúp chúng ta vượt qua nô lệ vào luật pháp để đạt tới tinh thần tự do của những con cái Thiên Chúa. Vì thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta: “Ai yêu thương thì đã chu toàn lề luật” (Rm 13, 8) và thánh Augutinô nhắc nhở: “Bạn hãy yêu thương đi rồi làm theo ý bạn muốn.”

c/ “Mầu nhiệm của tự do”. Ngày nay con người thường hiểu lầm về tự do, không phân biệt tự do tương đối với tự do tuyệt đối, nên đã lạm dụng tự do của mình. Con người đã muốn tách rời tự do ra khỏi tương quan cốt yếu và cơ bản của nó với sự thật và chuẩn mực luân lý. Do đó, đã gây nên bao tai họa khủng khiếp cho cá nhân và xã hội. Thí dụ: cụ thể là việc tự do muốn uống bao nhiêu rượu thì uống, dẫn đến tai nạn khi lái xe trong cơn say, cho đến những cuộc bạo động, chém giết, đập phá, cướp bóc nhân danh tự do đang xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới.

Khi đi từ mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô, Đấng đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá (Pl 2, 7-8), chúng ta hiểu rằng: vâng phục và tự do không mâu thuẫn với nhau đời sống của Đức Giêsu minh chứng rằng mầu nhiệm về tự do của con người là con đường vâng phục ý muốn của Chúa Cha bằng tình yêu của người con hiếu thảo: càng yêu thì càng muốn vâng phục, và càng vâng phục thì con người càng được tự do trong quyền năng của Thiên Chúa (x. Ga 10, 30;14, 11).

Kết luận :

Chúa Giêsu phục sinh là biểu tượng của sự tự do viên mãn, mà con người mơ ước vì Ngài cho chúng ta hiểu rằng, mình không còn bị giới hạn bởi vật chất, không gian, thời gian và được sống như con cái Thiên Chúa. Tuy nhiên để đạt được điều đó chúng ta cần phải trải qua khổ nạn và thập giá của sự vâng phục Chúa Cha như Đức Giêsu. Sự vâng phục đầy tình yêu như Ngài sẽ làm cho các luật lệ trở thành nhẹ nhàng và đem lại ơn cứu độ./.

Linh mục Giuse Nguyễn An Khang

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét