Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn Đức Maria. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đức Maria. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 20 tháng 2, 2026

ĐỨC MARIA, HIỆN THÂN CỦA MỘT NỀN THẦN HỌC GIẢI PHÓNG ĐÍCH THỰC

 

ĐỨC MARIA, HIỆN THÂN CỦA MỘT NỀN THẦN HỌC GIẢI PHÓNG ĐÍCH THỰC

avatarLm. Hans Urs von Balthasar
Mẹ Maria là hiện thân của thần học giải phóng thực sự khi Mẹ hớn hở vui mừng dẫn đưa cách nhìn sáng suốt của Giao Ước Cũ đến chỗ trọn hảo, một cách nhìn đã trở nên sâu sắc hơn nơi Mẹ.

(Hình ảnh minh họa: Sierning, Áo. Nhà thờ giáo xứ Thánh Têphanô - Cửa sổ kính màu (1906): dòng chữ Latinh "MAGNIFICAT ANIMA MEA DOMINUM" (Linh hồn tôi ngợi khen Chúa); Nguồn: Wikimedia Commons, ảnh của Wolfgang Sauber, CC BY-SA 4.0.)

Magnificat

Chúng ta không biết gì về hoàn cảnh tài chính của Mẹ Maria và hoàn cảnh đó cũng không đóng vai trò gì trong bài ca mừng vui của Mẹ. Và đó chính là bản chất thực sự của bài ca Magnificat: khi thấy Thiên Chúa “đã quan tâm đến phận hèn của nữ tì của Ngài” Mẹ không ngạc nhiên nhưng Mẹ chỉ hớn hở vui mừng trước sự việc này, vì qua cử chỉ này Mẹ nhận ra Thiên Chúa của Israel là Đấng luôn hành động như vậy.

Bài ca mà Luca đặt vào môi miệng Mẹ chủ yếu được mô phỏng theo bài ca của bà Anna (1 Sm 2: 1-10), thực tế không nói gì khác hơn là sự đảo ngược hoàn cảnh trần thế trong đó người ta nhận ra hành động biểu lộ đặc điểm của Thiên Chúa. Mẹ Maria hát: “Ngài hạ bệ những kẻ quyền thế và nâng cao những kẻ hèn mọn; Ngài đã cho kẻ đói no của tốt, kẻ giàu thì đuổi về tay không” (Lc 1:52–53), Anna hát: “Người no phải làm mướn kiếm ăn, còn kẻ đói được an nhàn thư thái. Người hiếm hoi thì sinh năm đẻ bảy, mẹ nhiều con lại ủ rũ héo tàn… Kẻ mọn hèn, Chúa kéo ra khỏi nơi cát bụi, ai nghèo túng, Người cất nhắc từ đống phân tro, đặt ngồi chung với hàng quyền quý, tặng ngai vinh hiển làm sản nghiệp riêng” (1 Sm 2:5, 8). Trong những khẳng định của mình, được vang vọng trong nhiều đoạn Cựu Ước khác, Anna còn đi xa hơn khi nói: “Đức Chúa là Đấng cầm quyền sinh tử, đẩy xuống âm phủ rồi lại kéo lên. Đức Chúa bắt phải nghèo và cho giàu có, Ngài hạ xuống thấp, Ngài cũng nhắc lên cao” (6-7). Điều này cũng có thể có ý nghĩa trong bối cảnh của Tân Ước nếu người ta cho rằng Thiên Chúa yêu thương người nghèo khổ và thấp hèn, trong khi “đứa ngạo mạn ngông nghênh, từ xa Ngài đã biết” (Tv 138:6), và rằng Ngài đã để Con của Ngài đi xuống cõi chết để từ đó tôn vinh Người Con ấy trên muôn loài.

Rõ ràng đó không phải là công lý nhưng là lòng thương xót của Thiên Chúa mà Mẹ Maria ca ngợi trong tất cả những đảo lộn và nghịch thường mà Thiên Chúa đã thực hiện: “Lòng thương xót của Ngài dành cho những ai kính sợ Ngài từ thế hệ này sang thế hệ khác,” và trong suốt lịch sử của nó, Ngài đã nhận “Israel làm tôi tớ của Ngài, như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Ngài nhớ lại lòng thương xót” (Lc 1:50, 54). Nếu do bị tách biệt ra mà tôi tớ của Chúa lại tự cao vì trở thành một trong những kẻ quyền năng, thì lòng thương xót của Thiên Chúa đã không thể hiện được trong trạng huống đó. Chỉ vì “người nữ tỳ hèn mọn” mà “Đấng Toàn Năng đã làm biết bao điều cao cả”... ”và danh Ngài là thánh” (48–49). Người nghèo nằm trong bụi tro không có phẩm chất đặc biệt nào có thể khiến Thiên Chúa nâng người đó lên: lòng thương xót tỏ ra với người đó chỉ đặt nền móng nơi chính Thiên Chúa, và ân sủng nhưng không của Ngài được đón nhận trong sự rỗng không của cảnh nghèo hèn, trong khi ân sủng đó dường như không cần thiết trong không gian quá đông đúc của những người giàu có, cao sang và quyền lực.

Trong trường hợp của Anna - và trong toàn bộ Cựu Ước - điểm khởi đầu cho tác động nâng cao và giải phóng của ân sủng Thiên Chúa trước hết là sự nghèo đói về vật chất, xã hội (và ở đây, người giàu có và người quyền lực cũng bị coi là những kẻ áp bức và “kẻ thù” của Thiên Chúa, điều này không xảy ra trong bài ca của Mẹ Maria) để nhấn mạnh hơn nữa sự tùy thuộc tuyệt đối vào Thiên Chúa, một sự tùy thuộc vốn phát sinh từ sự bất lực của những kẻ nghèo hèn: trong trường hợp của Mẹ Maria, điều này chiếm vị trí trung tâm.

“Phận nữ tỳ hèn mọn” mà Thiên Chúa “đoái thương nhìn tới” là nơi được chọn để Thiên Chúa thực hiện tất cả những đảo ngược trên thế giới, đó là cốt lõi của cuộc cách mạng đầy tình yêu của Thiên Chúa và việc giải phóng hàng ngày của cuộc cách mạng đó. Mẹ Maria là hiện thân của thần học giải phóng thực sự khi Mẹ hớn hở vui mừng dẫn đưa cách nhìn sáng suốt của Giao Ước Cũ đến chỗ trọn hảo, một cách nhìn đã trở nên sâu sắc hơn nơi Mẹ.

“Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”

Mẹ Maria đóng một vai trò huyền nhiệm tại tiệc cưới Cana. Cặp vợ chồng tổ chức đám cưới rõ ràng là bạn bè của gia đình Nadarét: người mẹ được mời (chồng bà có lẽ đã không còn sống) cũng như con trai bà cùng với bạn bè của người con trai ấy, những người có lẽ được coi là những người đầu tiên đi theo người con ấy. Mẹ Maria là một trong số rất nhiều khách mời. Nhưng Mẹ là người đầu tiên nhận thấy tình cảnh bối rối mà những người có lẽ không khá giả này đang gặp phải, và nếu Mẹ muốn con trai mình chú ý vào tình cảnh đó thì chắc chắn không phải vì Mẹ mong đợi con mình sẽ làm phép lạ (cho đến bấy giờ người con chưa làm phép lạ nào cả, “Đức Giêsu đã làm dấu lạ đầu tiên này tại Cana miền Galilê - Ga 2:11) nhưng với hy vọng con mình tìm ra được một cách giải quyết. Điều cần lưu ý ở đây là ý thức của Mẹ Maria về nhu cầu của người nghèo và cảm nhận tự nhiên của Mẹ rằng con Mẹ phải được thông báo về tình cảnh đó và người con sẽ có thể giúp đỡ bằng cách nào đó.

Và rồi dường như toàn bộ khung cảnh đã chuyển lên một tầm cao hơn. Chúa Giêsu đã bắt đầu sứ vụ của mình: Ngài không còn là con của con người này nữa. Và trong sứ vụ của mình, Ngài không còn coi Mẹ Maria là mẹ của riêng mình nữa mà là “người phụ nữ”, người kia, “người trợ tá”, tuy nhiên, Ngài sẽ chỉ đảm nhận vai trò riêng của mình khi cuối cùng trở thành “Adam mới” trên Thập giá. Mẹ đã đau khổ trước đó rồi: “một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2:35). Mặt khác, Chúa Giêsu hiện chỉ đang tiến về “giờ” của mình, vì “Giờ của tôi chưa đến” (Ga 2:4). Sau đó, trong hoàn cảnh nghèo khó và bị lấy mất mọi thứ, bị lấy mất ngay cả Thiên Chúa, Ngài sẽ biến rượu thành máu của mình: đó là sự đáp ứng dạt dào trước mọi lời nài xin mạnh dạn nhất. Tuy nhiên, “người phụ nữ” mà Ngài cố từ chối - “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi?” (Ga 2:4)  - đã có mặt ngay từ khi Giáo hội khởi đầu, và như vậy, Mẹ có quyền nài xin thực hiện “yêu cầu” của mình (thực ra, Mẹ chỉ nói ra nhu cầu của mọi người). Nhưng Mẹ làm việc đó một cách tuyệt vời nhất, thể hiện mọi thứ cùng một lúc: Mẹ hoàn toàn buông bỏ tất cả và phó thác cho ý muốn của Chúa Giêsu, nhưng cũng là niềm hy vọng tin tưởng của Mẹ; và chính bằng cách không thúc ép, bằng cách bỏ đi ý riêng, mà Mẹ đã thuyết phục được Chúa Giêsu và giờ của Thập Giá được dự báo trước: rượu chưa biến thành máu, nhưng nước đã biến thành rượu: “Ngài bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2:5). Có lẽ không nơi nào mà toàn bộ tâm tình của Đức Maria được thể hiện rõ ràng hơn qua câu nói này.

“Mẹ và anh em Chúa Giêsu đến”

Ở Cana chúng ta thấy Đức Maria ở với những người nghèo khó về vật chất. Ở đây (Mc 3:31) chúng ta thấy Mẹ ở với những người nghèo khó về mặt tinh thần: “Mẹ và anh em Đức Giêsu đến, đứng ở ngoài, cho gọi Ngài ra. Lúc ấy, đám đông đang ngồi chung quanh Ngài” (Mc 3:31). Những “người anh em thân tộc” này – anh em họ hàng và những người thân khác, thậm chí ngày nay người Ả Rập còn gọi là “những người anh em” - khó chịu trước hành vi quá đáng của Chúa Giêsu và “họ nói rằng Ngài đã mất trí” (Mc 3:21). Khi Ngài xuất hiện ở Nadarét, họ cảm thấy khó chịu khi Ngài làm cho mình có vẻ quan trọng hơn những người thân của mình: “Chị em của ông không phải là bà con lối xóm với chúng ta sao?” (Mc 6:3). Chúng ta đã thấy rằng những người không tin vào Ngài đã thúc giục Ngài đi Giêrusalem để thực hiện hành động của mình: “Vì không ai muốn nổi danh mà lại hoạt động âm thầm cả. Nếu ông làm những việc ấy, thì hãy tỏ mình ra cho thiên hạ biết” (Ga 7,4).

Chúng ta cần phải hình dung ra Mẹ Maria đang ở giữa những người này. Mẹ không nghĩ đến việc cãi lại họ hoặc tách mình ra khỏi họ như một người hiểu mọi thứ rõ ràng hơn họ. Mẹ nghe những câu chuyện kiểu này hàng ngày, có thể Mẹ cũng nghe những lời trách móc rằng lẽ ra Mẹ nên nuôi dạy người con ấy tốt hơn và lẽ ra không nên gieo vào người con ấy những ý tưởng như vậy. Mẹ thuộc về dòng tộc. Đấng vô nhiễm thuộc về dòng tộc tội nhân, ngai tòa Đấng khôn ngoan thuộc về sự ngu muội không dò thấu của loài người. Người ta phải lắng nghe đám người thân này đang thảo luận với nhau về cách họ có thể chấm dứt điều vô lý này. Cuối cùng, họ quyết định cử đi một đoàn thăm dò để có thể tận mắt chứng kiến ​​mọi thứ, và Mẹ của Chúa Giêsu cũng bị kéo theo. Nhưng họ đã phải cuốn gói, ngay cả khi Chúa Giêsu được thông báo là Mẹ Ngài đang ở đó. Gia đình không còn đáng kể gì nữa. Bây giờ đã có một gia đình hoàn toàn khác, và điều này mới là quan trọng: đó là gia đình gồm những người tin và làm theo ý muốn của Thiên Chúa.

Người ta có thể tưởng tượng đám người thân này đã nói gì với nhau trên đường về nhà. Mặc dù Máccô nói đến sự kiện này sớm hơn (3:21), nhưng có lẽ vào thời điểm này gia đình đã đi đến quyết định rằng Ngài nên dừng lại vì lợi ích của mình. Và đó không chỉ là vấn đề lời nói - lời nói đã biến thành hành động: “Thân nhân của Ngài hay tin ấy, liền đi bắt Ngài” (Mc 3:21). Mẹ Maria đang sống giữa họ. Chúng ta không biết Giacôbê, một trong những anh em họ hàng của Chúa Giêsu, đã tin vào Ngài vào thời điểm nào: ông trở thành người thay mặt Phêrô ở Giêrusalem khi Phêrô phải chạy trốn khỏi thành phố sau khi được trả tự do khỏi nhà tù.

Mẹ Maria không nổi bật trên những người trong nhóm. Mẹ vẫn kín đáo đến nỗi các Tin Mừng Nhất Lãm thậm chí không nhắc đến Mẹ trong số những người phụ nữ đạo hạnh đứng dưới chân Thập Giá. Một vài người trong những người phụ nữ đó đã được nêu tên, nhưng Mẹ thì không: “Trong số đó, có bà Maria Mácđala, bà Maria mẹ các ông Giacôbê và Giôxếp, và bà mẹ các con ông Dêbêđê” (Mt 27:56; Mc 15:40; Lc 23:49). Có lẽ Mẹ đứng đó, cùng với Gioan, lặng lẽ một mình, xa khỏi những người khác, mất hút trong đám đông binh lính La Mã, trong những kẻ đang kéo đến to mồm chế nhạo và trong đám đông lũ lượt ra vào thành phố đi ngang qua những cây thánh giá vào ngày trước đại lễ: một người phụ nữ nghèo khó đáng thương.

Phêrô Phạm Văn Trung

Chuyển ngữ từ: churchlifejournal.nd.edu

WHĐ (09.05.2024)

Chủ Nhật, 7 tháng 9, 2025

NGÀY 08 THÁNG 9: LỄ SINH NHẬT ĐỨC MẸ

 

NGÀY 08 THÁNG 9: LỄ SINH NHẬT ĐỨC MẸ

avatarChuyển ngữ: Tâm Bùi
 WHĐ (07/9/2025) - Đây là một trong những lễ kính Đức Maria cổ xưa nhất. Người ta cho rằng lễ này khởi nguồn gắn liền với lễ cung hiến một ngôi thánh đường kính Đức Maria, nay là nhà thờ Thánh Anna tại Giêrusalem, vào thế kỷ VI.

NHỮNG NGÀY LỄ PHỤNG VỤ

08 tháng 9

LỄ SINH NHẬT ĐỨC MẸ

Đây là một trong những lễ kính Đức Maria cổ xưa nhất. Người ta cho rằng lễ này khởi nguồn gắn liền với lễ cung hiến một ngôi thánh đường kính Đức Maria, nay là nhà thờ Thánh Anna tại Giêrusalem, vào thế kỷ VI. Truyền thống cho rằng nơi đó chính là ngôi nhà của song thân Đức Maria là Thánh Gioakim và Thánh Anna, và cũng là nơi Mẹ Maria chào đời. Lễ này bắt đầu được cử hành tại Rôma từ thế kỷ VIII dưới thời Đức Giáo hoàng Sergius I (+ ngày 08 tháng 9 năm 701). Đây là lễ sinh nhật thứ ba trong lịch phụng vụ Rôma: Sinh nhật của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa (Lễ Giáng sinh); Sinh nhật Thánh Gioan Tẩy Giả (24 tháng 6); và Sinh nhật Đức Trinh Nữ Maria (08 tháng 9). Không có đoạn nào trong các sách Tin mừng xác nhận lễ này. Các Tin mừng thậm chí cũng không nhắc đến tên của song thân Đức Maria; các ngài chỉ được biết đến nhờ truyền thống bắt nguồn từ Tiền Tin mừng theo Thánh Giacôbê (một Tin mừng ngụy thư) vào thế kỷ II. Biến cố chính trong cuộc đời Đức Maria luôn là biến cố Truyền tin. Hội thánh nhìn nhận Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, nhưng còn hơn thế nữa, Mẹ là người môn đệ có thể nêu gương mẫu tuyệt hảo cho đời sống Kitô hữu. Trong đức tin, trong sự vâng phục Con của mình, trong cách Mẹ trở nên người thân cận với bà Êlisabét cũng như với đôi tân hôn tại tiệc cưới Cana, Đức Maria là người phụ nữ để chúng ta noi theo, đặc biệt trong sự tín thác mà Mẹ biểu lộ giữa những giây phút đen tối nhất trong cuộc đời Đức Giêsu, Con của Mẹ. Chính nơi đây, và trong nhiều khoảnh khắc khác, Mẹ cho thấy lý do vì sao Dân Thiên Chúa xác tín rằng họ có thể tìm thấy nơi Mẹ sự chở che, niềm an ủi, sự trợ giúp và bảo vệ.

Tại Milan, chứng tích về việc cử hành lễ này có từ thế kỷ X. Một ngôi thánh đường kính “Đức Maria Hài Đồng” được Thánh Carlo Borromeo cung hiến ngày 20 tháng 10 năm 1572. Tại đó, trên đường Santa Sofia, một đền thánh được xây dựng để tôn kính bức tượng Đức Maria Hài Đồng, được trao cho các nữ tu Bác ái Thánh Bartolomea và Thánh Vincenza. Với lòng sùng kính cá nhân, một nữ tu Dòng Phanxicô tại Todi, Sơ Chiara Isabella Fornari, đã làm nhiều tượng sáp Đức Maria Hài Đồng được quấn trong tã, từ năm 1720 đến 1730. Một trong những bức tượng này được tặng cho các nữ tu Dòng Phanxicô Capuchin Đức Maria các Thiên thần tại Milan vào năm 1739. Các nữ tu này đã phổ biến lòng sùng kính ấy, vốn tìm được mảnh đất màu mỡ đặc biệt trong truyền thống Ambrosian. Tu hội này, cùng với nhiều hội dòng nữ khác, bị giải thể từ năm 1782 đến 1842 theo sắc lệnh trước tiên của hoàng đế Joseph II và sau đó là của Napoléon. Bức tượng Đức Maria Hài Đồng đã được một số nữ tu Capuchin đem về tu viện Thánh Augustinô, rồi chuyển đến các nữ tu Kinh sĩ Lateran. Sau đó, bức tượng được trao cho Cha sở Luigi Bosisio để ngài trao lại cho một tu hội có thể gìn giữ và duy trì lòng sùng kính ấy. Cuối cùng, bức tượng đã được đặt tại Nhà Mẹ của các Nữ tu Bác ái Lovere, một hội dòng được Thánh Bartolomea Capitanio sáng lập năm 1832. Bức tượng Đức Maria Hài Đồng trở nên nổi tiếng đến nỗi cho đến ngày nay, các nữ tu của hội dòng này vẫn được biết đến rộng rãi với tên gọi là “các Nữ tu Đức Maria Hài Đồng”.

Một câu chuyện được ghi lại trong biên niên sử năm 1884 như sau: “Vào lúc 7 giờ sáng ngày 09 tháng 9 năm 1884… Mẹ bề trên đến thăm các bệnh nhân tại phòng y tế và mang bức tượng thánh đi đến từng giường để các nữ tu đau bệnh có thể hôn kính. Khi đến với tập sinh Giulia Macario, người đã lâm bệnh nặng vài ngày, chị cố gắng tiến lại gần Hài Nhi Thiên Quốc và với lời nguyện tha thiết, xin được chữa lành. Ngay lập tức, chị cảm thấy một cơn run lạ thường lan khắp thân thể. ‘Con đã được chữa lành!’ – chị kêu lên. Rồi chị đứng dậy và bắt đầu đi lại.” Kể từ đó, hằng năm vào ngày 09 tháng 9, lễ kính được gọi là “ngày phép lạ” được cử hành. Lòng sùng kính bình dân này tiếp tục lan rộng nhờ muôn vàn ơn lành mà các tín hữu nhận được.

_______

Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.” Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuen, nghĩa là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.” (Mt 1,18-23).

Tâm Bùi chuyển ngữ
từ Vatican News

Thứ Bảy, 19 tháng 7, 2025

12 “CHÌA KHOÁ” ĐỂ SỬ DỤNG ÁO ĐỨC BÀ NÚI CAMÊLÔ

 

12 “CHÌA KHOÁ” ĐỂ SỬ DỤNG ÁO ĐỨC BÀ NÚI CAMÊLÔ

avatarBan Biên tập ACI Prensa
WHĐ (19/7/2025) - Khi nói về áo Đức Bà, Đức Giáo hoàng Piô XII đã từng nói: “Lòng sùng kính đối với áo Đức Bà Camêlô đã mang đến cho thế giới một cơn mưa hồng ân dạt dào cả về thiêng liêng lẫn trần thế.”

Vào ngày lễ kính Đức Mẹ núi Camêlô, ngày 16 tháng 7, đây là 12 chìa khoá để giải thích về áo Đức Bà và việc sử dụng nó:

1. Đó không phải là bùa hộ mệnh

Áo Đức Bà không phải là bùa hộ mệnh hay một sự đảm bảo ơn cứu độ một cách tự động, cũng không phải là sự miễn trừ khỏi việc sống theo những đòi hỏi của đời sống Kitô hữu. Thánh Claude de la Colombière đã từng nói: “Bạn hỏi rằng: Nếu tôi muốn chết trong tội của mình thì sao? Tôi trả lời bạn rằng: Thì bạn sẽ chết trong tội của bạn, nhưng bạn sẽ không chết như vậy cùng với áo Đức Bà".

2. Đó từng là một loại trang phục

Từ “scapular” bắt nguồn từ tiếng Latinh “scapulae, nghĩa là “đôi vai”, và ban đầu thì đó là một loại trang phục khoác chồng lên vai, được các đan sĩ mặc khi làm việc. Dòng Camêlô đã tiếp nhận nó như một dấu chỉ của sự tận hiến đặc biệt đối với Đức Mẹ, với ước muốn noi gương sự tận hiến của Mẹ đối với Đức Kitô và tha nhân.

3. Đó là một quà tặng từ Đức Trinh Nữ Maria

Theo truyền thống, chiếc áo Đức Bà như ta biết ngày nay đã được chính Đức Trinh Nữ Maria trao cho Thánh Simon Stock vào ngày 16 tháng 7 năm 1251. Đức Maria nói với thánh nhân rằng: “Nó phải là một dấu chỉ và là đặc ân cho con và cho tất cả các đan sĩ dòng Camêlô: Ai chết khi đang mang áo Đức Bà sẽ không phải chịu đau khổ bởi lửa đời đời”. Sau này, Giáo hội đã mở rộng việc sử dụng áo Đức Bà cho cả giáo dân.

4. Nó là một tu phục nhỏ

Áo Đức Bà giống như một bộ tu phục thu nhỏ của dòng Camêlô mà mọi người sùng đạo có thể mặc như dấu chỉ của việc tận hiến cho Đức Trinh Nữ Maria. Nó bao gồm một sợi dây đeo quanh cổ với hai mảnh vải nhỏ màu nâu được gắn vào. Một mảnh đặt phía trước ngực và mảnh còn lại được đặt phía sau lưng - thường được mặc bên trong áo.

5. Đó là “đồng phục phục vụ”

Thánh Alphongsô Liguori, tiến sĩ Hội Thánh nói rằng: “Cũng như người ta tự hào khi thấy kẻ khác mặc đồng phục của họ, thì Đức Bà, Mẹ Maria, cũng hài lòng khi các tôi tớ của Mẹ mang áo Đức Bà như một bằng chứng họ rằng họ đã tận hiến đời mình để phụng sự Mẹ, và họ là những thành viên của gia đình Mẹ Thiên Chúa.”

6. Áo Đức Bà có ba ý nghĩa

Áo Đức Bà tượng trưng cho tình yêu mẫu tử và sự che chở của Mẹ Maria, cho sự thuộc về Mẹ, và cho ách nhẹ nhàng của Đức Kitô mà Mẹ giúp ta mang lấy.

7. Đó là một á bí tích

Áo Đức Bà được Giáo hội công nhận là một á bí tích - nghĩa là một dấu chỉ giúp chúng ta sống một đời sống thánh thiện và gia tăng lòng đạo đức của chúng ta. Áo Đức Bà không ban ân sủng như các bí tích, nhưng giúp người đeo nó hướng lòng về tình yêu Chúa và sám hối nếu nó được đón nhận với lòng sùng kính.

8. Áo Đức Bà có thể được trao cho người không Công giáo

Một người đàn ông đang hấp hối được báo cáo là được đưa đến Bệnh viện Thánh Simon Stock ở thành phố New York. Một y tá thấy anh ấy mang áo Đức Bà nên đã gọi một linh mục. Khi những lời cầu nguyện đang được đọc, anh ta đã hồi tỉnh và nói rằng anh ta không phải là người Công giáo, nhưng đã đeo áo Đức Bà như một lời hứa với những người bạn của anh ấy. Vị linh mục hỏi anh ấy có muốn trở thành người Công giáo không, và trước khi qua đời, anh ấy đã được lãnh nhận bí tích Rửa Tội và Xức dầu bệnh nhân.

9. Áo Đức Bà đã được nhìn thấy một lần trong những lần Đức Mẹ hiện ra tại Fátima

Chị Lucia, thị nhân của Đức Mẹ tại Fátima, đã kể rằng trong lần hiện ra cuối cùng vào tháng 10 năm 1917, Đức Mẹ Maria đã xuất hiện với tu phục dòng Camêlô, tay cầm áo Đức Bà và nói rằng những người con đích thực của Mẹ thì mang áo ấy với lòng tôn kính. Mẹ Maria cũng yêu cầu những ai tận hiến cho Mẹ hãy mang áo này như dấu chỉ của sự tận hiến ấy.

10. Áo Đức Bà đã được phát hiện không bị hư hại sau khi chôn cất

Chân phước Giáo hoàng Grêgôriô X đã được chôn cất cùng với áo Đức Bà, và 600 năm sau, khi phần mộ của ngài được khai mở, thì vật ấy vẫn còn nguyên vẹn. Một điều tương tự cũng đã xảy ra với thánh Alphongsô Liguori. Thánh Gioan Bosco và Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng đã mang áo Đức Bà, và thánh Phêrô Claver đã mặc áo Đức Bà cho những người ngài hoán cải.

11. Có một cách được ưu tiên để nhận áo Đức Bà

Việc trao áo Đức Bà nên được thực hiện trong cộng đoàn, và trong nghi thức cần phải được diễn tả rõ ràng ý nghĩa thiêng liêng và sự cam kết dành đối với Đức Trinh Nữ. Chiếc áo Đức Bà đầu tiên phải được vị linh mục làm phép và trao cho người sùng kính trong khi đọc lời cầu nguyện sau đây: “Con hãy lãnh nhận áo Đức Bà đã được làm phép này, và khẩn cầu Đức Trinh Nữ Rất Thánh Maria, nhờ công phúc của Mẹ, để con có thể mang nó mà không vướng mắc bất cứ vết nhơ nào của tội lỗi, và được Mẹ bảo vệ con khỏi mọi hiểm nguy, và dẫn đưa con vào sự sống đời đời.”

12. Chỉ chiếc áo Đức Bà đầu tiên bạn nhận lãnh mới cần được làm phép

Khi chiếc áo Đức Bà đầu tiên đã được làm phép, người sùng kính không cần xin làm phép các áo Đức Bà thay thế sau này. Những chiếc áo Đức Bà đã cũ rách, nếu chúng đã được làm phép, không nên vứt đi, nhưng nên được đốt hoặc chôn, theo cách phù hợp với các á bí tích.

Chuyển ngữ: Nữ tu Têrêsa Thuỳ Dung

Nguồn: catholicnewsagency.com