Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin mừng Luca. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tin mừng Luca. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 27 tháng 6, 2022

21 Học hỏi Tin mừng Luca 9:1-6: Đức Giêsu sai mười hai Tông Đồ đi giảng

 Học hỏi Tin mừng Luca 21

Vũ Văn An
 

Bài Tin Mừng Luca 9:1-6: Đức Giêsu sai mười hai Tông Đồ đi giảng

1Đức Giêsu tập họp Nhóm Mười Hai lại, ban cho các ông năng lực và quyền phép để trừ mọi thứ quỷ và chữa các bệnh tật. 2Người sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân. 3Người nói: “Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo. 4Khi anh em vào bất cứ nhà nào, thì ở lại đó và cũng từ đó mà ra đi. 5Hễ người ta không đón tiếp anh em, thì khi ra khỏi thành, anh em hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ.” 6Các ông ra đi, rảo qua các làng mạc loan báo Tin Mừng và chữa bệnh khắp nơi.

Trích trực tuyến Tin Mừng Luca của Nhóm Phiên dịch Các Giờ kinh Phụng vụ



Chú thích

Tập họp Nhóm Mười Hai. Tức các môn đệ đã để riêng ra ở 6:13 khác với nhóm Bẩy Mươi (Hai) ở 10:1.

Ban cho các ông năng lực và quyền phép. Cha Fitzmyer dịch là “quyền năng và thẩm quyền” (power and authority). Chữ Hylạp dynamis và exousia đã được Luca dùng để mô tả tư cách của Chúa Giêsu, quyền năng của Người (4:14, 36; 5:17; 6:19; 8:46), thẩm quyền của Người (4:32, 36; 5:24). Chỉ có điều sau đã được Máccô nói tới ở 6:7. Như thế, Chúa Giêsu cho các tông đồ chia sẻ quyền thống trị mà Người vốn được Chúa Cha ban cho như sứ giả đặc biệt của Thiên Chúa. Trong Luca, quyền năng và thẩm quyền được ban trước khi sai đi, ngược với Máccô.

Trừ mọi thứ quỷ. Giống như ở 8:26-39, Luca lại dùng chữ “qủy” thay vì “thần ô uế” như Máccô.

Người sai các ông. Luca dùng động từ apesteilen theo Máccô 6:7. Ở đây nó nhắc lại tên “apostles” (Tông đồ) mà Luca 6:13 cho rằng chính Chúa Giêsu đã gọi Nhóm Mười Hai. Luca bỏ cụm từ “từng hai người một”.

Rao giảng Nước Thiên Chúa. Luca thêm điều này. Vì trong Tin Mừng của ngài, Chúa Giêsu là giảng thuyết viên tuyệt vời về Nước Trời, nên việc ủy nhiệm của Người nay liên kết mật thiết Nhóm Mười Hai với vai trò chính của Người.

Và chữa lành bệnh nhân. Cũng là cụm từ được Luca thêm vào. Như thế, 3 quan tâm được đặt ra trước Nhóm Mười Hai: họ phải rao giảng Nước Thiên Chúa, giải thoát người ta khỏi ma qủy và chữa họ lành bệnh.

Đừng mang gì đi đường. Lệnh cấm này giống lệnh cấm của phái Essenes như được Josephus diễn tả trong Jewish War 2.8, 4 §125. Các món cấm có thể so sánh với các đồ dùng của các triết gia ăn mày đi khắp đó đây của phái khuyển nho (cynics).

Đừng mang gậy. Máccô cho phép đem gậy (6:8), Luca thì không. Điều này phù hợp với quan điểm của Luca về việc không nên dính bén với việc sở hữu của cải trần gian.

Tiền bạc. Luca nhấn mạnh đến “tiền bạc [silver]” khác với Máccô nói tới “tiền đồng để giắt lưng” (6:8). Ngài thay thế tiền đồng của Hy Lạp, bằng tiền bạc của Rôma. Vì tiền này được xử dụng tại Palestine vào thời ấy.

Khi anh em vào bất cứ nhà nào. Ở đây, ý Chúa Giêsu muốn nói tới sự ổn định (stability) khi được mời vào bất cứ nhà nào, nên ở ngay đó, đừng tìm chỗ tốt hơn chẳng hạn.

Khi ra khỏi thành, anh em hãy giũ bụi chân. Nghĩa là bỏ mọi sự thuộc thành này mà rất có thể trở thành dính bén đối với các ngài, một hành vi biểu tượng cho việc xa lánh tuyệt đối tất cả những gì thuộc thành này, xem 10:11. Luca mô tả Thánh Phaolô và Banaba đã làm y hệt điều này tại Antiôkia thuộc Pisidia (Cv 13:50).

Để tỏ ý phản đối họ. Từng chữ có nghĩa là “như một chứng từ chống lại họ” nghĩa là như một hành vi dùng để làm bằng chứng cho việc họ bác bỏ lời giảng dậy của Nhóm Mười Hai.

Các ông ra đi. Cũng như Mc 6:12-13, Luca kết thúc tình tiết với một nhận định ngắn tóm tắt sứ mệnh. Trong khi Máccô biến các tông đồ thành những nhà rao giảng hoán cải, trừ qủy, xức dâu ôliu, và chữa bệnh, Luca chỉ mô tả các ngài như những người rao giảng và chữa bệnh. Một cách có ý nghĩa, ngài tránh dùng cụm từ “ăn năn hối cải” của Máccô, mà dùng thuật ngữ “rao giảng Tin Mừng” thay thế.

Nhận định

Cha Fitzmyer cho hay các câu truyện về phép lạ đã kết thúc với câu 8:56 và tiếp liền theo là tình tiết sai nhóm Mười Hai đi rao giảng. Cha coi việc đặt tình tiết này liền sau các tình tiết phép lạ hành động như một loại kết luận cho các tình tiết phép lạ ấy. Các chứng nhân từ Galilê mà Chúa Giêsu đang trong diễn trình huấn luyện nay sai họ đi tham dự vào sứ mệnh của Người.

Ý nghĩa của tình tiết này rất rõ: các tông đồ được tham dự sứ mệnh của Chúa Giêsu là rao giảng Nước Thiên Chúa. Người đã nói cho các ông hay các ông được ban ơn biết các bí mật của Nước Trời (8:10) và điều gì bí mật cũng sẽ được biết đến (8:17). Bây giờ, Người ban cho họ “quyền lực và thẩm quyền” (“năng lực và quyền phép”), tuy nhiên không chỉ giới hạn trong việc rao giảng, mà còn bao gồm việc chăm sóc sức khỏe thể lý và tinh thần của con người nữa. Trong đoạn này, Luca cẩn thận hơn Máccô đã phân biệt việc chữa bệnh với việc trừ qủy, nhưng cả hai đều nằm trong năng quyền của các ngài.

Các điều kiện bên ngoài trong sứ mệnh của các ngài đã được Chúa Giêsu nêu bật trong nhiều mệnh lệnh. Các ngài lên đường không vướng vít đồ đoàn để khỏi phân tâm khỏi mục tiêu của sứ mệnh. Có thể đây là một hình thức sống nghèo, nhưng quan trọng hơn phải trông cậy phó thác vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Các ngài phải chấp nhận lòng hiếu khách của những ai tiếp đón các ngài và bằng lòng với sự hiếu khách ấy. Nhưng các ngài cũng phải tự chuẩn bị để bị từ khước và phản ứng của các ngài phải là phản ứng hoàn toàn tách biệt khỏi những người đã từ khước các ngài. Một số mệnh lệnh này sẽ được sửa đổi sau này (xem 22:35-38).
 

Vietcatholic News

Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2022

20 Học hỏi Tin mừng Luca 8:49-56: Cho con gái Giaia sống lại

 Học hỏi Tin mừng Luca 20

Vũ Văn An
 
Bài đọc Tin Mừng Luca 8:49-56: Cho con gái Giaia sống lại

49Đức Giêsu còn đang nói, thì có người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo ông: “Con gái ông chết rồi, đừng làm phiền Thầy nữa!” 50Nghe vậy, Đức Giêsu bảo ông trưởng hội đường: “Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi, là con gái ông sẽ được cứu.” 51Khi đến nhà, Người không cho ai vào với mình, trừ ông Phêrô, ông Gioan, ông Giacôbê và cha mẹ của đứa bé. 52Mọi người đều đấm ngực khóc thương nó. Đức Giêsu nói: “Đừng khóc! Con bé có chết đâu, nó ngủ đấy!” 53Họ chế nhạo Người, vì biết nó đã chết. 54Nhưng Người cầm lấy tay nó, lên tiếng gọi: “Này bé, trỗi dậy đi!” 55Hồn đứa bé trở lại, và nó đứng dậy ngay. Đức Giêsu bảo người ta cho nó ăn. 56Cha mẹ nó kinh ngạc. Nhưng Người ra lệnh cho họ không được nói với ai về việc đã xảy ra.

Trích trực tuyến Tin Mừng Luca của Nhóm Phiên dịch Các Giờ kinh Phụng vụ



Chú thích

Có người đến. Khác với song hành Máccô dùng cụm từ có mấy người đến.

Đừng làm phiền Thầy nữa. Câu hỏi trong Máccô (làm phiền thầy chi nữa?) trở thành câu mệnh lệnh tiêu cực.

Đừng sợ. Đây là kiểu trấn an theo Cựu Ước do các sứ giả của Chúa nói như ở St 15:1; Đn 10: 12, 19; xem thêm Lc 1:30; 2:10.

Chỉ cần tin thôi. Luca giả thiết người đọc hiểu đối tượng của niềm tin này, nên không giải thích thêm.

Trừ ông Phêrô, ông Gioan, ông Giacôbê. Đây là lần đầu tiên trong Tin Mừng này, ba môn đệ này được kể riêng ra. Các ngài được giới thiệu như các nhân chứng ưu tuyển cho quyền năng của Chúa Giêsu và trở nên những người “các bí mật nước trời” được biểu lộ cách đặc biệt.

Con bé có chết đâu, nó ngủ đấy! Lời này không có ý nói cô bé dường như đã chết nhưng đúng hơn cái chết của cô, giống giấc ngủ, có giới hạn về thời gian. Lời của Người gợi lên một vấn đề lớn hơn: với việc xuất hiện của Người, chết được coi như một giấc ngủ, không phải là một tình trạng vĩnh viễn, mà chỉ chuyển tiếp thôi. Việc gợi ý phục sinh không còn xa.

Họ chế nhạo Người. Phản ứng này diễn ra vì họ biết chắc cô bé đã chết; nhưng họ không biết gì về quyền năng của Chúa Giêsu.

Này bé, trỗi dậy đi! Chúa Giêsu nói với cô bé như thể cô thức dậy từ một giấc ngủ bình thường. Cụm từ talitha koum trong Máccô (5:41) đã không được Luca sử dụng vì ngài viết cho các Kitô hữu gốc dân ngoại là những người giả thiết không quen thuộc ngôn ngữ này.

Hồn đứa bé trở lại. Cha Fitzmyer dịch là “hơi thở”, một dấu hiệu sự sống mới đã được ban cho. Câu này được Luca thêm vào để nhấn mạnh việc ý niệm trở lại sự sống trần gian trước đó.

Người ra lệnh cho họ không được nói với ai về việc đã xảy ra. Luca lấy lại câu của Máccô ở 5:43a, nơi nó có nghĩa hơn (Đức Giêsu nghiêm cấm họ không được để một ai biết việc ấy), thích hợp với khuôn mẫu bí mật xức dầu (messianic secret) của Tin Mừng này. Luca duy trì nó vì mặc dù không sử dụng khuôn mẫu này, nhưng vì ngài cũng mô tả Chúa Giêsu từng nhìn nhận rằng có những bí mật về nước trời chưa được phanh phui trọn vẹn.

Nhận định

Trong bài giảng 46 của ngài về tình tiết này (8:49-56), Thánh Cyril thành Alexandria nhấn mạnh đến chi tiết khi Chúa Giêsu nói “con bé có chết đâu, nó ngủ đấy” người ta chế nhạo Người,” vì “biết nó đã chết”. Thánh nhân coi đây là một nét tài tình. Vì điều này cho thấy những người này quả quyết đứa nhỏ đã chết thật, mà với họ, nó chết thật, thì khi Chúa Giêsu làm nó sống lại, họ mới tin vào quyền năng của Người, chứ nếu họ cũng nghĩ như Chúa Giêsu rằng đứa nhỏ chỉ ngủ thôi hay chỉ hôn mê thôi, thì hành vi làm nó tỉnh dậy của Chúa Giêsu đâu có chi là lạ lùng, thầy thuốc trần gian nào mà chả có khả năng làm vậy. Thành thử họ càng chế nhạo Người vì nói một điều ngược hẳn với “chứng cớ hiển nhiên” của họ, họ càng bái phục Người hơn và tin vào Người sau khi Người làm cô bé sống lại.

Nhân nói đến việc Chúa Giêsu nắm lấy tay cô bé và làm cô sống lại, Thánh Cyril đề cập tới đức tin trong bối cảnh hội đường khi viết rằng “Ôi cái nắm tay làm phát sinh sự sống, một cái nắm tay diệt trừ sự chết, và thối nát! Đó là hoa trái đức tin mà vì nó luật lệ cũng đã được ban cho người thời xưa qua tay Môsê”.

Do đâu thánh Cyril dám quả quyết lề luật đã được ban cho vì đức tin? Ngài trả lời: Ápraham được công chính hóa nhờ vâng lời và đức tin, như Kinh thánh đã nói “Ápraham tin vào Thiên Chúa; và ông được gọi là bạn hữu Thiên Chúa, và nhờ đức tin ông được kể là người công chính” (Rm 4:9). Thánh Phaolô quả quyết đi quả quyết lại rằng Ápraham được công chính hóa nhờ đức tin trước khi được cắt bì, nghĩa là đức tin có trước lề luật. Mãi sau này, lề luật mới tới qua tay Môsê. Lề luật có phá bỏ việc công chính hóa nhờ đức tin không? Dĩ nhiên không (xem Gl 3:21). Trái lại, ở một chỗ khác, Thánh Phaolô quả quyết: “Lề Luật đã thành người quản giáo dẫn chúng ta tới Đức Kitô, để chúng ta được nên công chính nhờ đức tin” (Gl 3: 24). Nhưng ngay sau đó, ngài viết thêm “Nhưng khi đức tin đến, thì chúng ta không còn ở dưới quyền giám hộ nữa” (câu 25). Vì lề luật cho thấy chúng ta tất cả đều là những kẻ tội lỗi và vì không ai giải thoát con người khỏi tội lỗi, nên chúng ta chỉ còn biết trông chờ vào Chúa Kitô. Khi Người đến, lề luật không còn giá trị nữa, đức tin vào Người mới mang đến ơn cứu rỗi, như trường hợp ông trưởng hội đường, đại biểu của lề luật nay mới thực sự là con cái Ápraham trong đức tin.

Một tác giả khác, Steven J. Cole (https://bible.org/seriespage/lesson-39-fear-faith-luke-849-56), tập chú vào khía cạnh nỗi sợ hãi dẫn đến đức tin: “trong các hoàn cảnh sợ hãi, chúng ta phải thắng vượt mọi trở ngại dẫn tới đức tin và đặt niềm tín thác của chúng ta nơi Chúa Giêsu”. Ông cho rằng có ba ơn ích cho chúng ta trong các hoàn cảnh sợ hãi. Ơn ích đầu tiên là nhờ những hoàn cảnh này chúng ta hiểu rõ đâu mới là ưu tiên của chúng ta. Giaia hẳn là người có tiền và địa vị. Giáp mặt với viễn ảnh mất đứa con gái yêu qúi độc nhất, ông mới thấy đâu là ưu tiên thực sự của ông: thành công trần thế không tách biệt ông khỏi thảm kịch và sự chết. Khi thảm kịch trừng trừng nhìn thẳng vào mặt ta, chỉ có tình yêu Thiên Chúa và người lân cận mới là điều đáng sống cho.

Ơn ích thứ hai: hoàn cảnh sợ hãi tước bỏ tính kiêu ngạo của ta và để Chúa tỏ quyền năng vì ta. Chính hoàn cảnh sợ hãi mất con khiến Giaia sụp dưới chân Chúa Giêsu van nài Người cứu giúp ông. Ơn ích thứ ba: hoàn cảnh sợ hãi nhắc ta nhớ thân phận tử sinh của mình và tin tưởng vào Chúa. Giáp mặt với sự chết, người ta mới thấy đời sống như gío thoáng qua và ta nên trông cậy nơi Chúa.

Cole nhận định thêm: trong các hoàn cảnh gây sợ hãi ta phải thắng vượt các trở ngại dẫn tới đức tin: trong trường hợp Giaia, trở ngại chắc chắn là công luận vì những người lui tới hội đường của ông hẳn không bao giờ ủng hộ việc ông chạy đến với Chúa Giêsu; rồi bị gián đoạn, kỳ đà cản mũi (interruptions) như người đàn bà băng huyết chẳng hạn, trời đất “con tôi chết đến nơi, vui lòng để ngày mai đi bà nội!” Sau đó, là những người khóc mướn, nhạc công... May mắn, chính Chúa Giêsu dẹp mấy người đó cho ông sau khi họ chế nhạo Chúa. Nhưng sự chế nhạo của họ há không tạo trở ngại cho con đường đức tin của ông sao khi họ quả quyết là con ông đã chết?

Cole cho rằng trong các hoàn cảnh sợ hãi, việc tin vào Chúa Giêsu không dễ dàng. Cho nên Chúa Giêsu khuyến khích Giaia tin. Từ ý niệm này, Cole cho rằng việc Chúa Giêsu sẵn lòng chấp nhận con người thật của ta khuyến khích ta tín thác nơi Người. Giaia có đức tin, nhưng là một đức tin yếu ớt, không như đức tin của viên bách quản Caphácnaum, người tin rằng Chúa Giêsu có thể chữa lành đầy tớ của ông bằng lời nói không cần đến nhà ông. Chúa Giêsu vẫn chấp nhận đức tin yếu ớt này và đi theo ông tới nhà để chữa lành cho con gái ông và tăng cường lòng tin của chính ông.

Một tác giả khác (https://www.biblecomments.org/c/29/preachers-complete-homiletical-commentary/luke/8/49-56) lưu ý tới các lời trực tiếp của Chúa Giêsu tại các câu 50, 52 và 54:

I.“Ông đừng sợ, chỉ cần tin thôi. Con gái ông sẽ được cứu”. Người mời gọi và khích lệ đức tin ngay trong lúc mọi sự dường như vô vọng: Sự thiếu kiên nhẫn của Giaia được biện minh bởi tin tức về cái chết của đứa con. Đức tin của ông, ở trạng thái lúc đó, đã sẵn sàng sụp đổ. Ông có thể tin rằng Chúa Giêsu có thể chữa lành, nhưng làm sống lại thì quả là điều quá sức mong đợi. Hiển nhiên đối với ông, nó không thể có được. Làm thế nào mà có được? Và vào ngay lúc đó, khi tia sáng yếu ớt cuối cùng trong trái tim u tối của người cha tắt ngúm, thì lần đầu tiên trong câu chuyện, Chúa Giêsu Kitô đã cất tiếng nói. Những lời của Người nghe có vẻ lạ và gần như vô nghĩa, "Đừng sợ." Cần gì thêm nữa để mà sợ? Điều cuối cùng và tồi tệ nhất đã đến cả rồi. "Chỉ cần tin thôi." bây giờ, còn gì nữa để mà tin? "con gái ông sẽ được cứu." Trong câu nói này, ẩn giấu một lời khuyến khích đủ để đức tin đứng vững, mặc dù nó có thể không được diễn đạt bằng ngôn ngữ đơn giản. Người cho Giaia đủ để cổ vũ ông và thắp lên lại ngọn lửa hy vọng. Người không bao giờ bảo chúng ta đừng sợ hãi mà không bảo chúng ta tin vào Người, và cho đức tin một điều gì đó để bám vào. Một đức tin chân chính sẽ chấp nhận những lời bảo đảm của Người ngay cả khi chúng dường như ám chỉ những điều bất khả.

II. “Đừng khóc! Con bé có chết đâu, nó ngủ đấy!” Người công bố rằng điều bất phản hồi không bất phản hồi đối với Người, vì Người đến đánh thức người ngủ: Lời này đã được nói trong nhà, ở cửa buồng. Những người chơi sáo, những người khóc mướn, và những người hàng xóm tò mò, và tất cả những đám đông đến để vo ve quanh nỗi buồn, đều ở đó; và phía bên kia của bức tường chừng một thước, cô bé tội nghiệp đang nằm câm lặng, không nghe thấy gì. Thật là vô lý khi tưởng tượng câu nói của Chúa Kitô phải được hiểu theo nghĩa đen, nghĩa là cô bé chỉ trong cơn ngất xỉu hoặc hôn mê. Giọng cười vô cảm của những người ngoài cuộc đủ bằng chứng cho thấy điều mà người ta gọi là cái chết đã diễn ra một cách không thể nhầm lẫn được. Họ đã nhìn thấy những giây phút cuối cùng, và biết rằng cô bé đã chết. Như vậy câu nói có nghĩa gì? Chúa Giêsu không dùng những mỹ danh tình cảm để gọi sự kinh dị không thể thay đổi được, như chúng ta đôi khi vẫn làm; nhưng việc Người đổi tên theo sau một sự thay đổi bản chất. Người đã xóa bỏ sự chết, và, trong khi thực tại vật lý vẫn còn đó, thì toàn bộ đặc tính của nó đã thay đổi. Ngủ không phải là bất tỉnh. Nó đình chỉ sức mạnh ảnh hưởng, hoặc bị ảnh hưởng, tới thế giới khả giác, nhưng không làm được hơn thế. Chúng ta sống và suy nghĩ và vui mừng trong giấc ngủ. Nó có lời hứa sẽ thức dậy. Nó mang lại sự nghỉ ngơi. Vì vậy, Chúa của chúng ta lấy phép ẩn dụ cũ mà mọi dân tộc đều đã sử dụng để che giấu sự xấu xa của cái chết, và thổi vào đó niềm hy vọng mới.

III. “Này bé, trỗi dậy đi!” Lời nói cuối cùng của Người là lời ban sự sống trong buồng tử thần. — Im lặng và giữ bí mật thích hợp với nó. Người giữ đám đông ồn ào ở đàng xa, và cùng với cha mẹ và ba môn đệ chính bước vào sự hiện diện thánh thiêng của người chết. Tại sao số nhân chứng lại ít như vậy? Có thể vì cô bé, những năm tháng còn thơ dại có thể bị quấy rầy bởi nhiều cặp mắt tò mò; nhưng rõ ràng, vì những lý do mà chúng ta không biết, Người muốn ít người biết đến phép lạ. Hành động kỳ diệu được thực hiện một cách đơn giản và dễ dàng xiết bao! Một cái chạm tay của Người, hai từ ngữ, chính âm tiết mà Thánh Máccô dành cho, và “Hồn đứa bé đã trở lại”. Người là Chúa của cả kẻ chết lẫn người sống, và lời của Người chạy rất nhanh qua hố phân cách giữa thế giới này và thế giới người chết. Họ ngủ nhẹ nhàng, và dễ được đánh thức bởi cái nắm tay của Người. Giấc ngủ của họ, trong khi kéo dài, thật ngọt ngào, thư thái, tỉnh táo, nếu họ ngủ trong Chúa Giêsu. Đối với cơ thể mệt mỏi, nó thiu thiu; và đối với tinh thần, cũng có thể được cho là ngủ, nếu qua đó chúng ta hiểu là sự chấm dứt của lao nhọc, sự kết thúc của việc nối kết với thế giới bên ngoài, sự yên tĩnh của việc nghỉ ngơi sâu sắc; nhưng, theo một khía cạnh khác, giấc ngủ của các thánh là việc họ đi vào một cuộc sống đầy đủ và sống động hơn, và họ “được thoả mãn”, khi họ nhắm mắt trên cõi trần thế, để mở chúng ra cho thiên đàng, và ngủ để “tỉnh thức trong việc giống như Người.”
 
Vietcatholic News

Thứ Năm, 16 tháng 6, 2022

19 Học hỏi Tin mừng Luca 8:40-48: Đức Giêsu chữa người đàn bà bị rong huyết và cho con gái ông Giaia sống lại

 Học hỏi Tin mừng Luca 19

Vũ Văn An
 

Bài Tin Mừng Luca 8:40-48: Đức Giêsu chữa người đàn bà bị rong huyết và cho con gái ông Giaia sống lại

40Khi Đức Giêsu trở về thì đám đông tiếp đón, vì ai ai cũng đợi chờ Người. 41Bỗng có một người tên là Giaia đi tới; ông là trưởng hội đường. Ông sụp xuống dưới chân Đức Giêsu, nài xin Người vào nhà ông, 42vì ông có một đứa con gái duy nhất độ mười hai tuổi, mà nó lại sắp chết. Trong khi Người đi, đám đông dân chúng chen lấn làm Người nghẹt thở.

43Có một bà kia bị rong huyết đã mười hai năm, không ai có thể chữa được. 44Bà tiến đến phía sau Người và sờ vào tua áo của Người. Tức khắc, máu ngừng chảy. 45Đức Giêsu hỏi: “Ai là người đã sờ vào tôi?” Mọi người đều chối, nên ông Phêrô nói: “Thưa Thầy, đám đông xô đẩy, chen lấn Thầy đấy!” 46Nhưng Đức Giêsu nói: “Có người đã đụng vào Thầy, vì Thầy biết có một năng lực tự nơi Thầy phát ra.” 47Người đàn bà thấy mình không giữ kín được nữa, thì run rẩy đến phủ phục trước mặt Người, và loan báo trước mặt toàn dân lý do tại sao bà đã đụng vào Đức Giêsu, và bà đã được khỏi bệnh tức khắc như thế nào. 48Đức Giêsu nói với bà: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy đi bình an.”


Trích trực tuyến từ Tin Mừng Luca của Nhóm Phiên dịch Các Giờ kinh Phụng vụ



Chú thích

Khi Đức Giêsu trở về. Người dùng thuyền trở lại bờ phía tây của Hồ Galilê nơi Người đã rời bỏ.

Đám đông tiếp đón. Nhắc đến đám đông ở 8:4, 19.

Trưởng hội đường. Có lẽ vì là trưởng hội đường nên viên chức này đến với Chúa Giêsu có vẻ dạn dĩ không như viên bách quản ở 7:6. Tuy nhiên, sự dạn dĩ này cũng sẽ tìm thấy nơi người đàn bà băng huyết của câu truyện tiếp theo.

Đứa con gái duy nhất độ mười hai tuổi. Lo âu của Giaia rõ ràng là vì ông chỉ có một đứa con duy nhất, giống bà góa Naim cũng chỉ có một đứa con duy nhất. Tuổi 12 của con gái được nhắc, cho thấy em sắp đến tuổi kết hôn, càng làm nặng thêm nỗi lo lắng của người Cha. Trong đồng văn Luca, 12 năm còn được dùng để nối kết hai câu truyện, vì người đàn bà bị băng huyết “12 năm”.

Bị rong huyết. Nhóm Phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ dịch là “rong huyết” thay vì băng huyết có lẽ vì trong nguyên bản nói là “bị chẩy máu” (flow of blood). Dù sao, theo Lv 15:25-31, bệnh này làm người đàn bà ra “ô uế” và phải cách ly khỏi Israel. Việc bà chạy đến với Chúa Giêsu chứng tỏ bà đã đến đường cùng. Vì đã “12 năm” và “không ai có thể chữa được”. Ở đây ta thấy Luca lược bớt nhiều chi tiết của Máccô. Mc 5:26 viết: “bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác”. Việc lược bỏ này, kể cả việc phê phán các thầy thuốc là một nét đặc trưng của Luca, vốn là một thầy thuốc, không muốn “nói xấu” các đồng nghiệp của mình.

Sờ vào tua áo của Người. Người đàn bà đến gần Chúa Giêsu và rờ vào tua áo ngoài của Người, tin rằng chỉ cần làm thế bà cũng được cứu giúp. Luca lược bỏ ý nghĩ thầm kín của bà như trong Mc 5:28: “Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.”

Ai là người đã sờ vào tôi? Làm gì Chúa Giêsu lại không biết ai sờ vào áo của Người. Nên Cha Fitzmyer cho rằng câu hỏi này phát sinh từ các quan niệm Kitô học sau này về Người.

Ông Phêrô. Nhiều bản chép tay thêm “Ông Phêrô và các người khác với ông” với mục đích làm các môn đệ khác chia sẻ câu nói. Tuy nhiên, theo Cha Fitzmyer, bản văn tốt nhất cho thấy Phêrô là phát ngôn viên cho mọi người ở đây. Luca giản lược câu nói vì Mc 5:31 viết “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi : ‘Ai đã sờ vào tôi?’”. Thành thử có bản chép tay thêm câu “thế mà Thầy còn hỏi : ‘Ai đã sờ vào tôi?’”.

Một năng lực tự nơi Thầy phát ra. Điều là nhận định của Tin mừng gia trong Mc 5:30 đã trở thành nhận định của Chúa Giêsu ở đây để trả lời câu nói của Phêrô.

Loan báo trước mặt toàn dân. Luca thay đổi hình thức của Máccô về việc thừa nhận của người đàn bà (và nói hết sự thật với Người [Mc 5:33]). Luca biến nó thành lời tuyên xưng trước mặt mọi người. Chờ bị Chúa Giêsu quở mắng, bà chỉ nghe lời tha tội.

Này con. Một chữ đầy âu yếm để bảo đảm với bà rằng nay bà được nhìn nhận là thành phần của Israel.

Lòng tin của con đã cứu chữa con. Luca lại nối kết “lòng tin” và “cứu chữa” (xem 8:12 và 8:50). Chúa Giêsu gán việc bà khỏi bệnh cho đức tin và do đó, mọi hơi hướm ma thuật được lấy khỏi nội dung câu truyện.

Con hãy đi bình an. Chúa Giêsu ở đây sử dụng công thức sai đi của Cựu Ước, nó hơi khác với song hành Máccô (5:34: Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh).

Nhận định

Việc từ từ bày tỏ quyền năng của Chúa Giêsu tiếp tục với một phép lạ khác, chữa người đàn bà băng huyết (8:40-48). Thực ra, với hai phép lạ liên hệ với nhau một cách chặt chẽ, vì phép lạ chữa con gái ông Giaia tiếp theo (8:49-56) đã bắt đầu trong diễn tiến của câu truyện này rồi.

Theo cha Fitzmyer, có tác giả cho rằng hai câu truyện được hòa lẫn với nhau vì thực sự chúng diễn ra như thế. Tuy nhiên phần lớn các nhà bình luận không cho là như thế mà là hai câu truyện độc lập với nhau, và được các nguồn của cả Máccô lẫn Luca kết hợp làm một vì vấn đề chủ đề (topical arrangement). Vả lại, việc liên kết này có hiệu quả văn chương về khoảng thời gian trong đó, đứa bé gái hấp hối thực sự qua đời và phép lạ chuyển từ chữa lành qua việc làm sống lại.

Cả hai câu truyện cho ta hình ảnh Chúa Giêsu như chúa tể đối với bệnh tật và sự chết. Đến sau hai câu truyện phép lạ trước, trong đó, lời đầy quyền năng của Người được sử dụng đối với các biến động của thiên nhiên và hiện tượng qủy ám, quyền chúa tể toàn diện của Người, với hai phép lạ này, được từ từ biểu lộ. Câu truyện chữa người đàn bà băng huyết được thuật lại như việc Chúa Giêsu thực thi dynamis, quyền lực (câu 46), được hiểu như “quyến lực Chúa Thánh Thần” đã nói ở 4:14 hay “quyền lực của Chúa... để chữa lành” (5:17). Trong câu truyện chữa con gái Giaia, tuy không minh nhiên nói đến quyền lực, nhưng một cử chỉ Cựu Ước (cầm lấy tay) và lời ra lệnh của Người nói lên quyền năng của Người với những ai hiện diện. Người là Chúa không những đối với bệnh tật mà còn đối với sự sống và sự chết. Hai câu truyện phép lạ được “sandwiched” [ghép chung] với nhau giúp độc giả hiểu rằng quyền năng nói ở 8:46 cũng sẽ hành động trong việc làm cho con gái Giaia sống lại.

Tưởng cũng nên lưu ý tới việc Người cho con trai bà Góa thành Naim sống lại ở 7:11-17. Ở đấy là con trai và mẹ cậu. Ở đây là con gái và cha cô. Tính cách song hành vốn được Luca năng sử dụng, tuy tương phản ở đây. Ngoài ra, Cha Fitzmyer cũng lưu ý một điểm ở cả hai trường hợp, Luca đều muốn nhắc độc giả nhớ đến chính sự phục sinh của Chúa Giêsu khi dùng động từ egerthē (24:6), trỗi dậy, trong cả ba trường hợp.

Cuối cùng, cả hai câu truyện ở đây đều nhắc đến mối liên hệ của đức tin với ơn cứu rỗi (8:48, 50). Đức tin ở đây dĩ nhiên là lòng tin của các cá nhân vào quyền năng của Chúa Giêsu. Cả hai phép lạ sẽ không diễn ra nếu không có niềm tin này.

Trong bài nhận định thứ 45 của ngài về tình tiết này, Thánh Cyril thành Alexandra lưu ý tới thái độ của Ông Giaia: “một người cai trị và thầy dậy của hội đường Do Thái...đã qùy dưới chân Chúa Kitô Chúa Cứu thế chung của chúng ta, cầu xin cho việc thoát chết và tiễu trừ hư nát”. Ngài muốn hỏi Ông Giaia làm thế dưới ánh sáng nào? Vì nếu chỉ coi Chúa Giêsu như một con người, thì ông vô lý quá vì đã cầu xin nơi con người quyền năng chỉ có Thiên Chúa mới có. Còn nếu chạy đến với Người như Thiên Chúa Quyền năng, thì phải nói sao khi ông ném đá Đấng Kitô Cứu Thế, bách hại Người?

Thành thử, theo thánh Cyril, Giaia đến với Chúa Giêsu không hẳn do ý chí tự do, mà là vì việc sợ chết đã khiến ông hành động như thế chống lại ý chí tự do, vì thần chết đã tấn công con gái ông, đứa con duy nhất. Nên “ông đã hoàn toàn đặt danh tiếng nhất quán trong lời nói và việc làm xấu xa của ông ở số không. Vì ông, kẻ nhiều lần mưu toan ám hại Đấng Kitô vì đã làm người chết (Ladarô) sống lại, đã yêu cầu Người giải thoát khỏi sự chết. Do đó, để nhân cách ông bị coi là thô bỉ và đáng nguyền rủa... Chúa Kitô đã cùng đi với ông, và chiều theo lời yêu cầu của Ông”.

Quả là một nhận định mà thời nay, ít ai chấp thuận. Bởi trong số các biệt phái, vẫn đã có những người trở thành môn đệ của Chúa Giêsu. Ít nhất ta cũng có Nicôđêmô và Giuse Arimathê.

Nhưng Thánh Cyril hết lời ca ngợi người đàn bà băng huyết, người “sau khi từ bỏ mọi hy vọng nơi con người... đã thai nghén một kế hoạch khôn ngoan” là “chạy đến với Thầy Thuốc, Đấng vốn từ trên cao, từ trời, như Đấng có khả năng sẵn sàng và không cần cố gắng thực hiện những điều vượt quá quyền lực của chúng ta, Đấng mà các sắc lệnh ban ra, không ai có thể kháng cự, bất chấp điều Người muốn thực hiện là điều gì”.

Theo thánh nhân, đức tin của bà được củng cố khi thấy Giaia dẫn Chúa Giêsu đến nhà ông ta để Người tự chứng tỏ có quyền năng hơn sự chết. Vì bà thầm nghĩ rằng nếu Người mạnh hơn sự chết, thì bệnh của bà ăn nhằm gì với Người.

Thánh Cyril cũng lưu ý đến câu Chúa Giêsu hỏi “Ai là người đã sờ vào tôi?”. Như phần chú thích đã nói, làm gì Chúa Giêsu không biết ai đã chạm vào áo của Người. Nhưng hỏi như thế, Người muốn mọi người biết việc gì đã xẩy ra. Và việc biết này “sinh ích rất nhiều cho họ, nhất là ông chủ hội đường”.

Cũng chính vì thế mà chuyện làm con gái Giaia sống lại và việc chữa người đàn bà băng huyết được nối kết với nhau. Thánh Cyril cũng ca ngợi việc tuyên xưng của người đàn bà khỏi bệnh trước mặt mọi người hiện diện. Việc này “cũng sinh ích cho Giaia, dù là một bài học khó nhá. Vì ông học được là cả việc thờ phượng theo luật, lẫn việc đổ máu, giết dê giết bò, cũng như cắt bì, và mọi chuyện khác thuộc ngày sabát... cũng không thể cứu rỗi cư dân trần gian; chỉ có đức tin vào Chúa Kitô làm được điều đó”.
 
Vietcatholic News

Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2022

Học hỏi Tin mừng Luca 8:40-48: Đức Giêsu chữa người đàn bà bị rong huyết và cho con gái ông Giaia sống lại

 Học hỏi Tin mừng Luca 19

Vũ Văn An
 

Bài Tin Mừng Luca 8:40-48: Đức Giêsu chữa người đàn bà bị rong huyết và cho con gái ông Giaia sống lại

40Khi Đức Giêsu trở về thì đám đông tiếp đón, vì ai ai cũng đợi chờ Người. 41Bỗng có một người tên là Giaia đi tới; ông là trưởng hội đường. Ông sụp xuống dưới chân Đức Giêsu, nài xin Người vào nhà ông, 42vì ông có một đứa con gái duy nhất độ mười hai tuổi, mà nó lại sắp chết. Trong khi Người đi, đám đông dân chúng chen lấn làm Người nghẹt thở.

43Có một bà kia bị rong huyết đã mười hai năm, không ai có thể chữa được. 44Bà tiến đến phía sau Người và sờ vào tua áo của Người. Tức khắc, máu ngừng chảy. 45Đức Giêsu hỏi: “Ai là người đã sờ vào tôi?” Mọi người đều chối, nên ông Phêrô nói: “Thưa Thầy, đám đông xô đẩy, chen lấn Thầy đấy!” 46Nhưng Đức Giêsu nói: “Có người đã đụng vào Thầy, vì Thầy biết có một năng lực tự nơi Thầy phát ra.” 47Người đàn bà thấy mình không giữ kín được nữa, thì run rẩy đến phủ phục trước mặt Người, và loan báo trước mặt toàn dân lý do tại sao bà đã đụng vào Đức Giêsu, và bà đã được khỏi bệnh tức khắc như thế nào. 48Đức Giêsu nói với bà: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy đi bình an.”


Trích trực tuyến từ Tin Mừng Luca của Nhóm Phiên dịch Các Giờ kinh Phụng vụ



Chú thích

Khi Đức Giêsu trở về. Người dùng thuyền trở lại bờ phía tây của Hồ Galilê nơi Người đã rời bỏ.

Đám đông tiếp đón. Nhắc đến đám đông ở 8:4, 19.

Trưởng hội đường. Có lẽ vì là trưởng hội đường nên viên chức này đến với Chúa Giêsu có vẻ dạn dĩ không như viên bách quản ở 7:6. Tuy nhiên, sự dạn dĩ này cũng sẽ tìm thấy nơi người đàn bà băng huyết của câu truyện tiếp theo.

Đứa con gái duy nhất độ mười hai tuổi. Lo âu của Giaia rõ ràng là vì ông chỉ có một đứa con duy nhất, giống bà góa Naim cũng chỉ có một đứa con duy nhất. Tuổi 12 của con gái được nhắc, cho thấy em sắp đến tuổi kết hôn, càng làm nặng thêm nỗi lo lắng của người Cha. Trong đồng văn Luca, 12 năm còn được dùng để nối kết hai câu truyện, vì người đàn bà bị băng huyết “12 năm”.

Bị rong huyết. Nhóm Phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ dịch là “rong huyết” thay vì băng huyết có lẽ vì trong nguyên bản nói là “bị chẩy máu” (flow of blood). Dù sao, theo Lv 15:25-31, bệnh này làm người đàn bà ra “ô uế” và phải cách ly khỏi Israel. Việc bà chạy đến với Chúa Giêsu chứng tỏ bà đã đến đường cùng. Vì đã “12 năm” và “không ai có thể chữa được”. Ở đây ta thấy Luca lược bớt nhiều chi tiết của Máccô. Mc 5:26 viết: “bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều đến tán gia bại sản, mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác”. Việc lược bỏ này, kể cả việc phê phán các thầy thuốc là một nét đặc trưng của Luca, vốn là một thầy thuốc, không muốn “nói xấu” các đồng nghiệp của mình.

Sờ vào tua áo của Người. Người đàn bà đến gần Chúa Giêsu và rờ vào tua áo ngoài của Người, tin rằng chỉ cần làm thế bà cũng được cứu giúp. Luca lược bỏ ý nghĩ thầm kín của bà như trong Mc 5:28: “Tôi mà sờ được vào áo Người thôi, là sẽ được cứu.”

Ai là người đã sờ vào tôi? Làm gì Chúa Giêsu lại không biết ai sờ vào áo của Người. Nên Cha Fitzmyer cho rằng câu hỏi này phát sinh từ các quan niệm Kitô học sau này về Người.

Ông Phêrô. Nhiều bản chép tay thêm “Ông Phêrô và các người khác với ông” với mục đích làm các môn đệ khác chia sẻ câu nói. Tuy nhiên, theo Cha Fitzmyer, bản văn tốt nhất cho thấy Phêrô là phát ngôn viên cho mọi người ở đây. Luca giản lược câu nói vì Mc 5:31 viết “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi : ‘Ai đã sờ vào tôi?’”. Thành thử có bản chép tay thêm câu “thế mà Thầy còn hỏi : ‘Ai đã sờ vào tôi?’”.

Một năng lực tự nơi Thầy phát ra. Điều là nhận định của Tin mừng gia trong Mc 5:30 đã trở thành nhận định của Chúa Giêsu ở đây để trả lời câu nói của Phêrô.

Loan báo trước mặt toàn dân. Luca thay đổi hình thức của Máccô về việc thừa nhận của người đàn bà (và nói hết sự thật với Người [Mc 5:33]). Luca biến nó thành lời tuyên xưng trước mặt mọi người. Chờ bị Chúa Giêsu quở mắng, bà chỉ nghe lời tha tội.

Này con. Một chữ đầy âu yếm để bảo đảm với bà rằng nay bà được nhìn nhận là thành phần của Israel.

Lòng tin của con đã cứu chữa con. Luca lại nối kết “lòng tin” và “cứu chữa” (xem 8:12 và 8:50). Chúa Giêsu gán việc bà khỏi bệnh cho đức tin và do đó, mọi hơi hướm ma thuật được lấy khỏi nội dung câu truyện.

Con hãy đi bình an. Chúa Giêsu ở đây sử dụng công thức sai đi của Cựu Ước, nó hơi khác với song hành Máccô (5:34: Con hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh).

Nhận định

Việc từ từ bày tỏ quyền năng của Chúa Giêsu tiếp tục với một phép lạ khác, chữa người đàn bà băng huyết (8:40-48). Thực ra, với hai phép lạ liên hệ với nhau một cách chặt chẽ, vì phép lạ chữa con gái ông Giaia tiếp theo (8:49-56) đã bắt đầu trong diễn tiến của câu truyện này rồi.

Theo cha Fitzmyer, có tác giả cho rằng hai câu truyện được hòa lẫn với nhau vì thực sự chúng diễn ra như thế. Tuy nhiên phần lớn các nhà bình luận không cho là như thế mà là hai câu truyện độc lập với nhau, và được các nguồn của cả Máccô lẫn Luca kết hợp làm một vì vấn đề chủ đề (topical arrangement). Vả lại, việc liên kết này có hiệu quả văn chương về khoảng thời gian trong đó, đứa bé gái hấp hối thực sự qua đời và phép lạ chuyển từ chữa lành qua việc làm sống lại.

Cả hai câu truyện cho ta hình ảnh Chúa Giêsu như chúa tể đối với bệnh tật và sự chết. Đến sau hai câu truyện phép lạ trước, trong đó, lời đầy quyền năng của Người được sử dụng đối với các biến động của thiên nhiên và hiện tượng qủy ám, quyền chúa tể toàn diện của Người, với hai phép lạ này, được từ từ biểu lộ. Câu truyện chữa người đàn bà băng huyết được thuật lại như việc Chúa Giêsu thực thi dynamis, quyền lực (câu 46), được hiểu như “quyến lực Chúa Thánh Thần” đã nói ở 4:14 hay “quyền lực của Chúa... để chữa lành” (5:17). Trong câu truyện chữa con gái Giaia, tuy không minh nhiên nói đến quyền lực, nhưng một cử chỉ Cựu Ước (cầm lấy tay) và lời ra lệnh của Người nói lên quyền năng của Người với những ai hiện diện. Người là Chúa không những đối với bệnh tật mà còn đối với sự sống và sự chết. Hai câu truyện phép lạ được “sandwiched” [ghép chung] với nhau giúp độc giả hiểu rằng quyền năng nói ở 8:46 cũng sẽ hành động trong việc làm cho con gái Giaia sống lại.

Tưởng cũng nên lưu ý tới việc Người cho con trai bà Góa thành Naim sống lại ở 7:11-17. Ở đấy là con trai và mẹ cậu. Ở đây là con gái và cha cô. Tính cách song hành vốn được Luca năng sử dụng, tuy tương phản ở đây. Ngoài ra, Cha Fitzmyer cũng lưu ý một điểm ở cả hai trường hợp, Luca đều muốn nhắc độc giả nhớ đến chính sự phục sinh của Chúa Giêsu khi dùng động từ egerthē (24:6), trỗi dậy, trong cả ba trường hợp.

Cuối cùng, cả hai câu truyện ở đây đều nhắc đến mối liên hệ của đức tin với ơn cứu rỗi (8:48, 50). Đức tin ở đây dĩ nhiên là lòng tin của các cá nhân vào quyền năng của Chúa Giêsu. Cả hai phép lạ sẽ không diễn ra nếu không có niềm tin này.

Trong bài nhận định thứ 45 của ngài về tình tiết này, Thánh Cyril thành Alexandra lưu ý tới thái độ của Ông Giaia: “một người cai trị và thầy dậy của hội đường Do Thái...đã qùy dưới chân Chúa Kitô Chúa Cứu thế chung của chúng ta, cầu xin cho việc thoát chết và tiễu trừ hư nát”. Ngài muốn hỏi Ông Giaia làm thế dưới ánh sáng nào? Vì nếu chỉ coi Chúa Giêsu như một con người, thì ông vô lý quá vì đã cầu xin nơi con người quyền năng chỉ có Thiên Chúa mới có. Còn nếu chạy đến với Người như Thiên Chúa Quyền năng, thì phải nói sao khi ông ném đá Đấng Kitô Cứu Thế, bách hại Người?

Thành thử, theo thánh Cyril, Giaia đến với Chúa Giêsu không hẳn do ý chí tự do, mà là vì việc sợ chết đã khiến ông hành động như thế chống lại ý chí tự do, vì thần chết đã tấn công con gái ông, đứa con duy nhất. Nên “ông đã hoàn toàn đặt danh tiếng nhất quán trong lời nói và việc làm xấu xa của ông ở số không. Vì ông, kẻ nhiều lần mưu toan ám hại Đấng Kitô vì đã làm người chết (Ladarô) sống lại, đã yêu cầu Người giải thoát khỏi sự chết. Do đó, để nhân cách ông bị coi là thô bỉ và đáng nguyền rủa... Chúa Kitô đã cùng đi với ông, và chiều theo lời yêu cầu của Ông”.

Quả là một nhận định mà thời nay, ít ai chấp thuận. Bởi trong số các biệt phái, vẫn đã có những người trở thành môn đệ của Chúa Giêsu. Ít nhất ta cũng có Nicôđêmô và Giuse Arimathê.

Nhưng Thánh Cyril hết lời ca ngợi người đàn bà băng huyết, người “sau khi từ bỏ mọi hy vọng nơi con người... đã thai nghén một kế hoạch khôn ngoan” là “chạy đến với Thầy Thuốc, Đấng vốn từ trên cao, từ trời, như Đấng có khả năng sẵn sàng và không cần cố gắng thực hiện những điều vượt quá quyền lực của chúng ta, Đấng mà các sắc lệnh ban ra, không ai có thể kháng cự, bất chấp điều Người muốn thực hiện là điều gì”.

Theo thánh nhân, đức tin của bà được củng cố khi thấy Giaia dẫn Chúa Giêsu đến nhà ông ta để Người tự chứng tỏ có quyền năng hơn sự chết. Vì bà thầm nghĩ rằng nếu Người mạnh hơn sự chết, thì bệnh của bà ăn nhằm gì với Người.

Thánh Cyril cũng lưu ý đến câu Chúa Giêsu hỏi “Ai là người đã sờ vào tôi?”. Như phần chú thích đã nói, làm gì Chúa Giêsu không biết ai đã chạm vào áo của Người. Nhưng hỏi như thế, Người muốn mọi người biết việc gì đã xẩy ra. Và việc biết này “sinh ích rất nhiều cho họ, nhất là ông chủ hội đường”.

Cũng chính vì thế mà chuyện làm con gái Giaia sống lại và việc chữa người đàn bà băng huyết được nối kết với nhau. Thánh Cyril cũng ca ngợi việc tuyên xưng của người đàn bà khỏi bệnh trước mặt mọi người hiện diện. Việc này “cũng sinh ích cho Giaia, dù là một bài học khó nhá. Vì ông học được là cả việc thờ phượng theo luật, lẫn việc đổ máu, giết dê giết bò, cũng như cắt bì, và mọi chuyện khác thuộc ngày sabát... cũng không thể cứu rỗi cư dân trần gian; chỉ có đức tin vào Chúa Kitô làm được điều đó”.
 
Vietcatholic News

Thứ Năm, 9 tháng 6, 2022

18 Học hỏi Tin mừng Luca 8:26-39: Chúa Giêsu chữa người bị quỷ ám tại Ghêrasa

 Học hỏi Tin mừng Luca 18

Vũ Văn An
 

Bài Tin Mừng Luca 8:26-39: Chúa Giêsu chữa người bị quỷ ám tại Ghêrasa

26Thầy trò ghé thuyền vào vùng đất của người Ghêrasa, đối diện với miền Galilê. 27Người vừa ra khỏi thuyền và đặt chân lên đất, thì có một người dân trong thành bị quỷ ám ra đón Người. Từ lâu, anh ta không mặc quần áo, không ở trong nhà, nhưng ở trong đám mồ mả.

28Thấy Đức Giêsu, anh la lên, sấp mình dưới chân Người, và lớn tiếng nói rằng: “Lạy ông Giêsu, Con Thiên Chúa Tối Cao, chuyện tôi can gì đến ông? Tôi xin ông đừng hành hạ tôi!” 29Ấy là vì Đức Giêsu đã truyền cho thần ô uế xuất khỏi người ấy. Thật vậy, đã nhiều lần quỷ bắt lấy anh ta, người ta dùng xiềng xích gông cùm mà trói và giữ anh; nhưng anh bứt tung dây trói và bị quỷ đưa vào những nơi hoang vắng. 30Đức Giêsu hỏi anh: “Tên anh là gì?” Anh thưa: “Đạo Binh”, vì rất nhiều quỷ nhập vào anh. 31Lũ quỷ nài xin Người đừng truyền cho chúng rút xuống vực thẳm.

32Ở đó có một bầy heo khá đông đang ăn trên núi. Lũ quỷ nài xin Người cho phép chúng nhập vào bầy heo kia, và Người cho phép. 33Lũ quỷ xuất khỏi người đó, nhập vào bầy heo. Cả bầy heo từ trên sườn núi lao xuống hồ và chết ngộp hết.

34Thấy sự việc xảy ra, các người chăn heo bỏ chạy, loan tin trong thành và thôn xóm. 35Thiên hạ ra xem sự việc đã xảy ra. Họ đến cùng Đức Giêsu và thấy kẻ đã được trừ quỷ đang ngồi dưới chân Đức Giêsu, ăn mặc hẳn hoi và trí khôn tỉnh táo. Họ phát sợ. 36Những người chứng kiến đã kể lại cho họ nghe người bị quỷ ám được cứu chữa thế nào. 37Bấy giờ đông đảo dân chúng vùng Ghêrasa xin Người rời họ, vì họ sợ quá. Thế nên Người xuống thuyền trở về.

38Kẻ đã được trừ quỷ xin được ở với Người. Nhưng Người bảo anh ta về và nói: 39“Anh cứ về nhà và kể lại mọi điều Thiên Chúa đã làm cho anh.” Anh ta ra đi, rao truyền cho cả thành biết mọi điều Đức Giêsu đã làm cho anh.


Trích trực tuyến Tin Mừng Luca của Nhóm Phiên dịch Các Giờ kinh Phụng vụ



Chú thích

Vùng đất Ghêrasa. Cha Fitzmyer cho rằng địa danh này không thống nhất giữa 3 Tin Mừng và ngay các thủ bản Tin Mừng Luca cũng có đến 3 cách gọi vùng này: a) Gerasa (nay là Jerash) thuộc vùng Bên kia Sông Gióocđan, cách đông nam Hồ Galilê khoảng 33 dặm, một thành phố thuộc Thập Thành (Decapolis). Bầy heo vượt một quãng đường xa như thế để lao xuống hồ, theo cha Fitzmyer, phải kể là có sức mạnh dữ! Hay đây không phải là hồ Galilê. Origen từng thấy khó mà đọc kiểu này. b) Gadara (nay là Umn Qeis) là một thành khác cũng của Thập Thành, khoảng 6 dặm cách đông nam Hồ Galilê, do đó, gần với Hồ này hơn. c) Gergesa được Origen nhận diện như “một thành phố nằm cạnh Hồ nay gọi là Tiberias, “thuận tiện” hơn để bầy heo lao mình xuống hồ tự sát. Tên hiện nay là Kersa (hay Kursi) nằm ở phía đông của hồ. Tuy nhiên, Cha Fitzmyer vẫn thích lối đọc Ghêrasa, dù khó hiểu hơn (lectio difficilior).

Đối diện với miền Galilê. Việc thêm cụm từ này, dù đang nói đến thừa tác vụ của Chúa Giêsu ở Galilê, cho thấy quan tâm của Luca đối với việc truyền giáo cho Dân ngoại.

Bị quỷ ám. Thực ra, theo Cha Fitzmyer, ở đây Luca sử dụng danh từ số nhiều (demons) tương ứng với “đạo binh” ở câu 30. Nhiều qủy nhập vào một người cũng đã diễn ra ở Lc 11:26. Mc 5:2 viết là “thần ô uế”, được cho là thích đáng hơn với bối cảnh ở đây: người bị ám không mặc quần áo, lại ở chỗ mồ mả vốn bị người Do Thái coi là ô uế. Có lẽ vì thế mà ở câu 29, Luca cũng đã sử dụng cụm từ “thần ô uế” để chỉ bọn qủy này.

Ở trong đám mồ mả. Có thể có nghĩa là người này bị xa lánh nhưng cũng có nghĩa là muốn liên hệ người bị qủy ám với lãnh vực người chết.

Con Thiên Chúa Tối Cao. Qủy dùng tước hiệu đã có trong trình thuật tuổi thơ (1:32) để chỉ Chúa Giêsu.

Tên anh là gì? Qủy muốn khống chế Chúa Giêsu bằng cách cho biết chúng biết tên và tước hiệu của Người. Giờ đây, Chúa Giêsu hỏi tên chúng. Đàng sau cuộc đối thoại này là niềm tin bình dân cho rằng muốn thống trị qủy cần biết tên nó. Chúa Giêsu muốn biết tên qủy, nhưng hắn tránh né bằng cách không nói rõ tên nhưng chỉ tiết lộ con số.

Đạo binh. Tiếng Latinh “legio” dịch sang tiếng Hy lạp là “legion”. Thời Augustus, một “legio” La Mã có tới 6,000 binh sĩ.

Vực thẳm. Hạn từ abyssos trong tiếng Hy lạp thường chỉ nơi ở của người chết (xem Tv 107:26; Rm 10:7) hay nơi giam cuối cùng của Xatan và các qủy (Kh 20:3). Nó thường được Bản Bẩy Mươi dùng để dịch chữ Hípri tĕhōm chỉ “nơi sâu có nước” hay biển dưới lòng đất, biểu tượng của hỗn mang và mất trật tự. Không muốn về cái nơi cùng đích ấy, bọn qủy xin được nhập vào bầy heo vốn bị coi là loài động vật ô uế.

Đang ngồi dưới chân Đức Giêsu. Nghĩa là trong tư thế của môn đệ ngồi dưới chân thầy. Luca chuẩn bị như thế cho lời yêu cầu của người được trừ khỏi qủy ám ở câu 38 “xin được ở với Người”.

Vì họ sợ quá. Có thể vì các mất mát khác trong tương lai, nhưng trước hết do quyền năng huyền bí hàm ngụ trong việc trừ qủy. Phản ứng của Dân ngoại này đối với “Đấng Cứu rỗi” không khác bao nhiêu so với chính thị trấn quê hương Người (4:28-29), những kẻ còn muốn xô Người xuống vực thẳm.

Người bảo anh ta về. Một kiểu nói có nghĩa Chúa Giêsu sai anh ta đi truyền giáo nhưng chưa phải là việc truyền giáo theo nghĩa Kitô giáo vì thời của các môn đệ ngoại giáo chưa xuất hiện trong trình thuật Luca. Cũng nên lưu ý hai câu cuối cùng: Chúa Giêsu bảo anh ta về nhà và giảng giải cho người ta biết “mọi điều Thiên Chúa đã làm cho anh” nhưng thực tế, anh ta đã “rao truyền cho cả thành biết mọi điều Đức Giêsu đã làm cho anh”. Điều này cho thấy Luca muốn đồng nhất hóa Chúa Giêsu với Thiên Chúa.

Nhận định

Đây là câu truyện nữa về phép lạ hay trừ qủy. Theo Kertelge (Die Wunder Jesu, 107), câu truyện trừ qủy thường có hàm ý truyền giáo. Ở đây hàm ý ấy thấy nơi hai câu 38-39.

Một số người cho rằng đây là một câu truyện hơi lạ. Nó từng bị nghi vấn về các yếu tố kỳ quái và thô thiển: há ở đây Chúa Giêsu đã không quá tàn nhẫn với thú vật hay sao? Tại sao Người lại gây cho chủ bầy heo một thiệt hại lớn lao về tài chánh như thế? Làm thế nào bầy heo có thể chạy cả hàng chục dặm để lao xuống hồ? Tuy nhiên, theo cha Fitzmyer, thắc mắc như thế là quên bản chất của những câu truyện trong Tin Mừng, luôn có tính biểu tượng và tôn giáo. Các chi tiết cường điệu và thô thiển của câu truyện này cho thấy xu hướng bắt đầu được liên kết với các câu truyện trong truyền thống Tin Mừng, một xu hướng lên cao điểm nơi các truyền thống ngoại thư (apocryphal) trong đó Chúa Giêsu thiếu niên vi phạm ngày Sabát bằng cách chế tạo 12 con chim sẻ bằng đất sét, rồi vỗ tay và chúng vừa bay đi vừa kêu chim chíp…

Bultmann (History of the Synoptic Tradition, [Oxford, Blackwell, 1968] 201) thì cho rằng đây là câu truyện sử dụng chủ đề quán xuyến “thằng qủy bị lừa”. Nó tìm cách khống chế Chúa Giêsu bằng cách nêu tên Người; khi Người hỏi tên nó, nó đánh trống lảng, chỉ khai số lượng. Khi bị Chúa Giêsu ra lệnh phải ra khỏi người đàn ông (apopompē) hắn ranh mãnh xin nhập vào bầy heo (epipompē) thay vị xuống vực thẳm, không ngờ bị Người cho vào bầy heo, nhưng bầy heo lao xuống hồ chết hết cả lũ. Người “lừa” bầy qủy và “cứu” người đàn ông.

Một tác giả khác, A.H. M’Neil (The Gospel according to St Matthew [London, McMillan, 1915] 114), thì cho rằng sở dĩ Chúa Giêsu để bầy heo lao xuống hồ chết là để người đàn ông hoàn toàn an tâm vì điều làm ông khốn khổ, nay hoàn toàn không còn nữa.

Vả lại theo Cha Fitzmyer, cuối câu truyện, hai câu biến nó trở thành câu truyện truyền giáo cũng cho thấy truyền thống này được lưu truyền dưới hình thức câu truyện nhân gian. Việc một câu truyện nhân gian tìm được đường đi vào qui điển là điều hơi lạ; nhưng ai có thể nói linh hứng Kinh Thánh, hiểu cho đúng, lại không thể thích ứng với một truyền thống có những chi tiết cường điệu và thô thiển?

Cốt yếu là ở chỗ mô tả Chúa Giêsu sử dụng quyền năng của Người để chữa lành một con người bất hạnh bị mất trí, một người bị xã hội ruồng bỏ, do đó, đã phục hồi ông ta trở lại trạng thái trí khôn tỉnh táo, ăn mặc hẳn hoi. Hơn nữa, quan tâm cứu vớt này được tỏ rõ cho cả một người ngoại giáo.

Thánh Cyril thành Alexandria, trong bài nhận định số 44 của ngài về tình tiết này nhận định tính tàn ác của ma quỉ đối với người đàn ông khốn cùng: trong người đàn ông này “cư ngụ nhiều thần ô uế, và ông ta không còn tâm trí và hiểu biết, và không còn mặt nào khác với những người chết đã nằm yên trong lòng đất, hay đúng hơn, có lẽ, thậm chí còn khốn khổ hơn thế nữa. Vì người chết, bó gọn cẩn thận trong khăn liệm, được đặt vào lòng đất, như trong lòng mẹ: còn ông ta, trong nỗi khốn cùng to lớn và trần truồng, lang thang hết mồ mả này sang mồ mả khác, quả là hoàn toàn khốn khổ, sống một cuộc sống nhục nhã và đê hèn: đó quả là bằng chứng cho sự tàn ác của ma qủi, và chứng cớ hiển nhiên cho tính ô uế của chúng.

Điểm thứ hai là tại sao ma quỉ lại có thể ám người ta? Thánh Cyril trả lời: lý do rất sâu xa. Nhưng tựu chung, “Thiên Chúa cố tình cho phép một số người rơi vào quyền lực của chúng, không phải để họ phải đau khổ, mà là để họ học biết ma quỉ xử tệ với chúng ta ra sao và nhờ thế tránh ý muốn làm tôi chúng. Vì sự đau khổ của một người, nhiều người được xây dựng”.

Điểm thứ ba là tính cao ngạo của ma quỉ, khi dám nói với Chúa Giêsu “chuyện tôi can gì đến ông?”. Trời đất, thừa nhận Người là Con Thiên Chúa, nghĩa là mọi sự đều là của Người, thuộc về Người, thế mà sau khi chiếm đoạt điều không phải của ngươi, hay đúng hơn điều vốn thuộc của Người, ngươi lại quả quyết Người không có gì dính dáng đến ngươi sao?

Điểm thứ tư được Thánh Cyril lưu ý là ma qủi xin nhập vào bầy heo. Tại sao chúng phải xin như thế? Vì chúng không có quyền lực tự chúng nhập vào đâu cả. Điều này giúp chúng ta an lòng. Vì “những kẻ không có quyền lực trên sự vật, như thế là vặt vãnh, vô giá trị, làm sao chúng có thể gây tổn hại cho bất cứ ai được Chúa Kitô cân đo, và đặt hy vọng nơi Người”.
 
Vietcatholic News 

Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2022

17 Học hỏi Tin mừng Luca 8:22-25: Đức Giêsu dẹp yên biển động

 Học hỏi Tin mừng Luca 17

Vũ Văn An
 

Bài Tin Mừng Luca 8:22-25: Đức Giêsu dẹp yên biển động

22Một ngày nọ, Đức Giêsu xuống thuyền với các môn đệ. Người nói: “Chúng ta sang bên kia hồ đi!” Rồi thầy trò ra khơi. 23Đang khi các ngài đi thuyền, thì Đức Giêsu thiếp ngủ. Một trận cuồng phong ập xuống hồ; các ngài bị ngập nước và lâm nguy. 24Các môn đệ lại gần đánh thức Người dậy và nói: “Thầy ơi, Thầy! Chúng ta chết mất!” Người thức dậy, ngăm đe sóng gió, sóng gió liền ngừng và biển lặng ngay. 25Người bảo các ông: “Đức tin anh em ở đâu?” Các ông hoảng sợ, kinh ngạc và nói với nhau: “Vậy người này là ai mà ra lệnh cho cả sóng gió, và sóng gió phải tuân lệnh?”

Trích trực tuyến Tin Mừng Luca của Nhóm Phiên dịch Các Giờ kinh Phụng vụ



Chú thích

Một ngày nọ, Đức Giêsu xuống thuyền. Khi kể cùng chi tiết, Máccô 4:35 thêm “khi chiều đến”; Ở đây, Luca không nhắc đến chi tiết ấy, dành cho câu truyện một khung cảnh mơ hồ về thời gian.

Sang bên kia hồ. Trái lại, Luca định vị cho câu truyện rõ hơn bằng cách thêm chữ “hồ”, không như Máccô 4: 35 chỉ nhắc đến “bờ bên kia” trống không. H. Colemann (Theology, 49) cho rằng việc nhắc đến hồ và việc bỏ chi tiết “có những thuyền khác cùng theo Người” của Máccô 4:36 đã đặt phép lạ Chúa sắp làm vào một khung cảnh thanh tĩnh; hồ vốn đem lại cho việc tỏ quyền lực của Chúa Giêsu một khung cảnh mầu nhiệm.

Đức Giêsu thiếp ngủ. Cha Fitzmyer cho rằng Luca có ý thức kể truyện hay hơn khi mô tả Chúa Giêsu thiếp ngủ trước khi cơn bão xẩy đến, làm nổi bật sự trái ngược của việc thiếp ngủ này với quyền lực Người sắp sửa thực hiện; Người cũng có điểm yếu của con người.

Một trận cuồng phong ập xuống hồ. Trong bản dịch tiếng Anh của Cha Fitzmyer có chữ “đột nhiên”; bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các Giờ kinh Phụng vụ không có cụm từ này, nhưng trong chú thích thì nói rõ “Hồ Ghennêxarét hay bị sóng gió bão táp bất ngờ, khi bị ép giữa những luồng gió từ Địa Trung Hải và những luồng khác từ sa mạc Xyria cùng thổi tới một lúc”. Cha Fitzmyer cũng giải thích tương tự: “Hồ Ghennêxarét ở bắc Galilê được bao quanh bởi đồi núi với những hẻm núi đem nước chẩy vào hồ; trong khi bầu khí ở đây thường yên tĩnh, những cơn gío lạnh mạnh mẽ từ phía tây thường ập vào các hẻm núi và tạo nên những trận bão cho hồ”.

Các ngài bị ngập nước. Trong khi Máccô 4:37 nói đến thuyền bị ngập nước, thì ở đây, Luca nói đến người bị ngập nước.

Thầy ơi, Thầy! Luca thay thế chữ didascale (thầy) trong Máccô 4: 38 bằng chữ epistata (tiếng Anh: Master [thầy]) và lặp lại chữ này 1 lần; hơn nữa, Luca còn bỏ lời trách móc Thầy của Mc 4: 38 (Thầy chẳng lo gì sao?).

Ngăm đe sóng gió. Cha Fitzmyer hiểu câu này có nghĩa Chúa Giêsu ngăm đe các tinh thần xấu gây ra sóng gió thay vì để Luca mô tả chúng như các tác nhân có bản vị.

Sóng gió liền ngừng. Vì lời Chúa Giêsu. Xem Tv 104: 6-7 và Nk 1:4 trong đó Lời Giavê đã làm yên sóng nước.

Đức tin anh em ở đâu? Câu này nhẹ hơn câu trong Máccô 4:40: “Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?”. Đối với Luca, các môn đệ đã có đức tin rồi, nếu không tại sao các ông chạy đến với Người trong lúc gian nguy, tuy nhiên, đức tin này chưa đạt đến độ hậu phục sinh. Đức tin này còn cần phải được khơi dậy khi chứng kiến quyền lực của Chúa Giêsu.

Các ông hoảng sợ, kinh ngạc. Máccô 4:41 chỉ nói đến “hoảng sợ” trái lại Luca đề cập đến “hoảng sợ” và “kinh ngạc”, đây là lần đầu tiên, Luca phối hợp “hoảng sợ” với “kinh ngạc”.

Nhận định

Cha Fitzmyer cho rằng với tình tiết này, Thánh Luca khai mở một tiết mới nói tới việc Chúa Giêsu tỏ quyền lực của ngài bằng nhiều phép lạ (8:22-25, 8:26-39; 8:40-48; 8:49-56) và kết thúc với việc sai nhóm Mười Hai “đi rao giảng nước Thiên Chúa và chữa bệnh” (9:2). Câu mở đầu (8:22) rõ ràng cắt đứt với điều xẩy ra ngay trước đó. Điều rõ ràng trong tiết này là Luca theo Máccô 4:35-5:43 khá chặt chẽ tuy có sửa đổi phần nào.

Tình tiết này mô tả Chúa Giêsu trong quyền năng cao cả của Người, như đấng làm phép lạ điều khiển được sóng gió. Nhấn mạnh lúc này không nhằm vào việc rao giảng lời nữa mà vào lời đầy quyền lực của Chúa Giêsu. Thừa tác vụ của Người khởi đầu “với quyền lực của Thần Khí” hay “của Lời” (4:14; xem 4:36; 5:17). Nay nó được mô tả bằng hành động, được sử dụng để đem giải thoát và an toàn lại cho các môn đệ. Đó là lời đầy quyền năng giải thoát họ khỏi tai ương tự nhiên. Nhưng câu kết của tình tiết liên hệ “đức tin” của môn đệ với chính phép lạ. Môn đệ của Người, khi gặp nguy hiểm cùng cực, phải hiểu rõ mối liên hệ căn bản của họ với Thiên Chúa và Chúa Giêsu thực sự nằm ở chỗ nào.

Về ý nghĩa của tình tiết, có tác giả (https://www.biblecomments.org/c/29/preachers-complete-homiletical-commentary/luke/8/22-25) cho rằng trong tình tiết này Chúa Giêsu “ngăm đe” cả sóng gió lẫn các môn đệ. Thực thế, các môn đệ không hẳn không có đức tin, nhưng đức tin ấy nhỏ nhoi, hạn hẹp, không đủ tín thác. Họ cần tín thác nơi Người để tin chắc rằng ngủ hay thức không có gì khác đối với Người, con thuyền chở Người và họ sẽ không chìm.

Một khía cạnh khác được tác giả trên lưu ý là: vì ngủ say, Chúa Giêsu không nghe tiếng thét gào của cơn bão nhưng Người nghe tiếng kêu cứu của môn đệ! Người không bao giờ “thiếp ngủ” đối với những kẻ kêu cầu Người! Người nghe thấy những lời cầu nguyện thầm thĩ nhất giữa sóng gío dữ dằn nhất của cuộc đời. Người không bao giờ mệt mỏi lắng nghe tiếng than van khốn cùng của con người.

Một tác giả khác (https://bible.org/seriespage/lesson-36-what-do-when-life-gets-stormy-luke-822-25#google_vignette) cho rằng sóng bão đánh cả người tin. Mc 4:36 nói rằng cùng đi với thuyền của Chúa Giêsu và các môn đệ còn có nhiều thuyền khác. Nếu là truyện thần tiên, thì ta sẽ đọc thấy là các thuyền khác bị sóng gió đánh gần đắm, còn thuyền của các môn đệ thì không hề hấn gì. Nhưng sự thực là thuyền của các môn đệ vẫn bị sóng bão đánh gần đắm như thường! Kitô hữu không hề được miễn nhiễm gian nguy!

Cả những Kitô hữu vâng theo Chúa Giêsu. Thực vậy, các môn đệ là người vâng theo lệnh của Chúa Giêsu: “Chúng ta sang bên kia hồ đi!” và thuyền của họ đã bị sóng bão đánh gần đắm!

Bình giải về tình tiết này, Thánh Cyril thành Alexandria cũng cho rằng các môn đệ có đức tin nơi Chúa Giêsu nhưng là một đức tin non nớt. Đức tin này vì thế cũng nổi trôi theo sóng nước. Cùng với việc làm im mặt biển, Chúa Giêsu cũng đã đem an lòng lại cho các tâm hồn biến loạn của các môn đệ.

Điều trên, theo Thánh Cyril, dạy ta rằng như vàng được thử trong lửa thế nào, đức tin của ta cũng được thử trong các cơn cám dỗ như thế. Tâm trí con người luôn yếu đuối, cần sức mạnh và giúp đỡ bên trên, để đức tin ấy vững vàng trong họ và họ duy trì được bước tiến, đủ mạnh để đương đầu với bất cứ điều gì xẩy đến. Chúa Giêsu từng dạy: “không có Thầy, các con không làm được gì”. Thánh Phaolô cũng nói: “tôi có thể làm được mọi sự nhờ Chúa Kitô, Đấng củng cố tôi”.

Thánh Cyril cũng nhận định rằng nếu tạo vật (ở đây là sóng gío) vâng nghe bất cứ điều gì Chúa Giêsu ra lệnh cho chúng, thì không có lý do gì chúng ta lại không tùng phục Người như thế. Bổn phận của chúng ta vì thế là hiểu rằng mọi sự được Thiên Chúa dựng nên đều tuân theo ý muốn của Người, chúng ta cũng vậy cần trở nên giống như mọi tạo vật khác, tránh bất tuân như một điều dẫn ta tới sa lạc. Như thế, đúng hơn, ta hãy tùng phục Người, Đấng kêu gọi ta tới ơn cứu rỗi và ước muốn sống công chính và hợp lề luật, nghĩa là sống theo Tin Mừng.
 
Vietcatholic News

Thứ Hai, 23 tháng 5, 2022

Học hỏi Tin mừng Luca 8:19-21: Những ai thật sự thuộc gia đình của Chúa Giêsu

 Học hỏi Tin mừng Luca 16

Vũ Văn An
 

Bài Tin Mừng Luca 8:19-21: Những ai thật sự thuộc gia đình của Chúa Giêsu

19Mẹ và anh em Chúa Giêsu đến gặp Người, mà không làm sao lại gần được, vì dân chúng quá đông. 20Người ta báo cho Người biết: “Thưa Thầy, có mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia, muốn gặp Thầy.” 21Người đáp lại: “Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành.”

Trích trực tuyến Tin Mừng Luca của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ



Chú thích

Mẹ...Chúa Giêsu đến gặp Người. Trong Tin mừng Luca, Đức Maria chỉ được nêu tên ở trình thuật tuổi thơ. Còn ở phần này, truyền thống không nêu tên ngài, cả Tin Mừng Gioan cũng không. Lý do đến thăm của Mẹ và anh em Người không được nhắc đến.

Và anh em Chúa Giêsu. Luca lấy cụm từ này từ Máccô 3:31, chỉ bỏ chữ “chị em” trong câu 3:32. Việc nhắc đến anh em Chúa Giêsu, thoạt đọc, tưởng là chỉ anh chị em ruột: vì chữ adelphos chỉ anh em ruột thật. Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản như thế vì chữ “adelphos” cũng dùng để chỉ các mối liên hệ khác như “hàng xóm” (Mt 5:22-24 [*]), "đồng đạo" (Rm 9:3 [*]), “anh em kế” (Mc 6:17-18 [*], “thân nhân” hay “họ hàng” (như có khi với Bản Bẩy Mươi: St 13:8; 14:14; 24:27; 29:12). Kiểu dùng của Bản Bẩy Mươi có thể phản ảnh nghĩa rộng hơn của chữ Hípri ʼāḥ hay chữ Aram ʼăḥā “anh em, họ hàng”. Trong mảnh Qumran 1QapGen 2:9, Bit-enosh thưa với Lamesh chồng mình rằng “ôi anh trai tôi và là chúa tôi”. Trong Máccô, chữ adelphos khá phức tạp không phải vì những đoạn này mà vì các câu 15:40,47; 16:1. Ở đấy Máccô, ngoài những người khác đứng gần thập giá, liệt kê “bà Maria mẹ các ông Giacôbê Thứ và Giôxết”. Nhưng ít có xác suất là Máccô muốn chỉ bà này là mẹ của Đấng chịu đóng đinh. Thành thử không thể kết luận “Giacôbê Thứ” là anh em ruột của Chúa Giêsu được.

Theo cha Fitzmyer, nghĩa của chữ adelphoi trong Luca vì thế thực sự không thể xác định được. Có thể là anh em ruột hoặc anh em họ. Vả lại, Luca từng sử dụng lỏng lẻo danh xưng “con Ông Giuse” để chỉ Chúa Giêsu (4:22), thì đâu có lạ gì khi ngài cũng dùng lỏng lẻo danh xưng “anh em” ở đây. Cũng có thể ngài chỉ nhắc lại một danh xưng người ta quen dùng gọi thánh Giacôbê thứ như trong thư Galát 1:19.

Đang đứng ngoài kia. Luca nói rõ lý do vì dân chúng quá đông, nên mẹ và anh em Người phải đứng ở bên ngoài, chứ các ngài không phải là kẻ ngoại cuộc, như một số tác giả giải thích: họ bị loại khỏi bất cứ vai trò có ý nghĩa nào trong cuộc đời Chúa Giêsu và do đó trong Giáo Hội. Với Tin Mừng nào thì không biết, chứ với Tin Mừng Luca và Tông đồ Công vụ thì không hề có chuyện đó.

Những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành. Câu này, Luca sửa đổi câu trong Máccô 3:35: Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, bằng cách thêm cụm từ “nghe lời” để phù hợp hơn với phần này của Tin Mừng ngài, nhất là câu 8:11b, 15 (nghe lời Thiên Chúa và sinh hoa trái). Nhiều người cho rằng có sự bất hòa giữa Chúa Giêsu và thân nhân của Người, nhưng Cha Fitzmyer thì cho rằng ở đây, Chúa Giêsu muốn biến những người cùng huyết thống thành mẫu mực cho những người lắng nghe lời Chúa và đem ra thực hành.

Nhận định

Theo cha Fitzmyer, để kết luận phần nói tới Lời Chúa trong Tin Mừng của ngài, Luca đã đưa cảnh này (8:19-21) vào đây, cảnh mà ngài từng bỏ trước đó khỏi nguồn Máccô khi ngài lấy phần sau của nó ở câu 8:4. Lý do, ngài đưa nó vào chỗ này, là ngài nhìn nó dưới một ánh sáng khác với Máccô. Ngài quả có lấy Mc 3:31-35, nhưng đã thay đổi triệt để ý nghĩa của nó.

Việc soạn tác tình tiết này của Luca thấy rõ không những ở câu tuyên bố 21, mà đặc biệt ở chỗ ngài bỏ các câu Mc 3:20-21 là các câu nói rằng “Thân nhân của Người hay tin ấy, liền đi bắt Người, vì họ nói rằng Người đã mất trí”. Trong tình tiết Mc 3:20-21 này, thân nhân Chúa Giêsu không được mô tả như các môn đệ của Chúa Giêsu vì không những họ coi Người như mất trí, mà còn “đứng ở ngoài, cho gọi Người ra”. Vả lại khi được thông báo là mẹ và anh em Người muốn gặp người “ở ngoài” kia, Máccô nhấn mạnh: “Người rảo mắt nhìn những kẻ ngồi chung quanh và nói : ‘Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi’”. Thành thử có thể nói, trong Máccô, Chúa Giêsu thay thế gia đình tự nhiên của Người bằng các môn đệ của Người.

Luca đã bỏ các chi tiết trên. Ngài trình bầy mẹ Chúa Giêsu và anh em Người như các môn đệ điển hình. Họ là những tấm gương đệ nhất đẳng cho những ai nghe lời Thiên Chúa “với tấm lòng cao thượng và quảng đại” (8:15) (xem thêm Lc 11: 27-28; Cv 1:14).Trong cách trình bày này, câu trả lời của Chúa Giêsu không hề hàm nghĩa Người bác bỏ các liên hệ gia đình hay phê phán họ hàng của Người, trái lại còn coi họ như mẫu mực của việc làm môn đệ.

Thánh Cyril thành Alexandria trong bài giảng thứ 42 về tình tiết Lc 8:19-21 này cũng cho rằng đừng có ai tưởng tượng rằng Chúa Kitô làm mất danh dự của mẹ Người hay khinh bỉ thân nhân Người vì chính Người đã nói qua giới điều của Môsê: “hãy thảo kính cha mẹ ngươi”. Làm sao Người có thể làm ngược lại giới điều ấy. Vả lại, Người còn truyền ta phải yêu thương cả kẻ thù nữa! Vậy, Người muốn dạy ta điều gì ở đây?

Thánh Cyril trả lời rằng đối tượng của Chúa là đề cao những người sẵn sàng nghe theo các giới răn của Người. Người đề cao cách nào? Là dành cho họ vinh dự cao nhất, tình âu yếm trọn vẹn nhất mà chúng ta vẫn dành cho cha mẹ, anh em của mình bằng cách gọi họ là mẹ và là anh em của Người. Có vinh dự nào lớn hơn vinh dự Người dành cho những người vâng theo giới điều của Người? Và ngược lại, Người bác bỏ kẻ bất tuân. Thánh nhân nhắc nhở việc nguyên tổ, vì bất tuân, bị đuổi khỏi vườn địa đàng. Và vì thế tất cả chúng ta phải án tử và dù khởi thủy con người vốn được dựng nên không hư nát, nhưng vì bất tuân, đã bị nguyều rủa và mang ách tội khiên. Và để cứu ta khỏi tình trạng tồi tệ này, Con Một Thiên Chúa đã phải nhập thể, vâng lời Chúa Cha cho đến chết, như thánh Phaolô từng nhắc nhở: “vì sự bất tuân của một người, nhiều người đã thành tội nhân thế nào, thì nhờ sự vâng lời của Một Người, nhiều người trở nên công chính như vậy”.

Và nay, để dạy chúng ta biết vâng nghe lời Người, Người dành cho ta vinh dự Người vốn dành cho mẹ và thân nhân Người. Dĩ nhiên, không chỉ có nghe mà còn đem ra thực hành nữa. Thánh nhân trích dẫn “một trong các Thánh Tông Đồ” nói rằng “Nhưng hãy trở nên những người thực hành giới luật, chứ không phải chỉ nghe mà thôi. Nếu ai đó chỉ nghe, chứ không làm, thì cũng giống như người nhìn mặt tự nhiên của mình trong gương, nhìn rồi bỏ đi, quên ngay tư cách con người của mình. Còn ai nhìn vào luật tự do hoàn hảo và thực hiện, sẽ không quên mà là người tích cực thực hành, họ sẽ được chúc phúc trong việc làm của họ”.
________________________________________________
[*] Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ dịch chung là “anh em”
 
Vietcatholic News

Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2022

15 Học hỏi Tin mừng Luca 8:16-18: dụ ngôn cây đèn

 Học hỏi Tin mừng Luca 15

Vũ Văn An
 

Bài Tin Mừng Luca 8:16-18: dụ ngôn cây đèn

16“Chẳng có ai đốt đèn, rồi lấy hũ che đi hoặc đặt dưới gầm giường, nhưng đặt trên đế, để những ai đi vào thì nhìn thấy ánh sáng. 17Vì chẳng có gì bí ẩn mà lại không trở nên hiển hiện, chẳng có gì che giấu mà người ta lại không biết và không bị đưa ra ánh sáng. 18Vậy hãy để ý tới cách thức anh em nghe. Vì ai đã có, thì được cho thêm; còn ai không có, thì ngay cái họ tưởng là có, cũng sẽ bị lấy mất.”

Trích trực tuyến Tin Mừng Luca của Nhóm Phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ



Chú thích

Chẳng có ai đốt đèn. Luca bỏ cụm từ dẫn nhập trong Máccô “Người nói với các ông” và thay đổi lối trình bầy thiếu trang nhã của Máccô, bỏ đặt câu nói thành câu hỏi (Mc 4:21: Chẳng lẽ mang đèn tới để đặt dưới cái thùng hay dưới gầm giường?).

Rồi lấy hũ che đi. Luca cũng dùng chữ “hũ” (skeuos) thay vì “thùng hay đấu” (modion) như trong Mc 4:21 có lẽ hay hơn vì theo Cha Fitzmyer, “skeuos” nghĩa rộng hơn “modion”, nó có thể chỉ bất cứ dụng cụ nào, hoặc hũ hoặc lọ; đặt nó vào “skeuos” có lẽ là cách dễ dập tắt nó.

Để những ai đi vào thì nhìn thấy ánh sáng. Đoạn song hành trong Máccô và Mátthêu không có câu này. Có thể vì Luca nghĩ đến căn nhà có hành lang, một kiểu nhà không có mấy tại Palestine nhưng rất thông thường trong thế giới La Hy hồi đó.

Chẳng có gì bí ẩn mà lại không trở nên hiển hiện. Câu này được nối với câu trước bằng chữ “vì”. Tuy nhiên, Luca đơn giản hóa câu khá vụng về của Máccô “để được” bằng chữ “mà”. Câu nói này nối với câu trước một cách lỏng lẻo bởi việc liên kết 3 nhóm tương phản: ánh sáng/bóng tối, bí ẩn/hiển hiện, che dấu/biết.

Hãy để ý tới cách thức anh em nghe. Trong khi Máccô viết: “Hãy để ý tới điều anh em nghe” (Mc 4:24) thì Luca nhấn mạnh đến “cách thức anh em nghe” điều mà Luca đã đề cập ở 8:12, 15.

Ai đã có, thì được cho thêm. Tự nó, câu này phản ảnh sự khôn ngoan thực tiễn về của cải. Tuy nhiên, trong đồng văn của Luca, nó không liên hệ gì tới tiền bạc hay của cải vật chất. Nó liên hệ tới câu nói trước, ai nghe lời một cách hữu ích sẽ được lợi nhiều hơn; ai nghe một cách hững hờ sẽ mất ngay cả điều xem ra họ đã có.

Cái họ tưởng là có. Luca dùng kiểu nói này làm phức tạp cho việc hiểu câu nói. Máccô chỉ đơn giản nói là: “ngay cái đang có”. Ý của Luca muốn nhấn mạnh tới giá trị biểu kiến của sở hữu chứ không phải sự sở hữu biểu kiến chúng.

Nhận định

Cha Fitzmyer cho rằng dụ ngôn cây đèn tiếp tục dụ ngôn người gieo hạt giống. Nhưng thoạt mới đọc, người ta thấy hai dụ ngôn này dường như là hai dụ ngôn biệt lập, không ăn uống gì với nhau cả. Chính Cha Fitzmyer cũng cho rằng các câu 8:16-18 là một loạt ba lời nói của Chúa Giêsu, phần lớn thuộc ba nguồn độc lập lẫn nhau, được nối kết với nhau. Tuy nhiên, ở đây, Luca, theo gương Máccô, đã gắn những lời nói này vào việc giải thích dụ ngôn người gieo hạt giống. Có điều, ngài bỏ hai dụ ngôn trong Máccô, tức dụ ngôn hạt lúa âm thầm mọc lên (4:26-29) và dụ ngôn hạt mù-tạt (4:30-32) và câu kết luận (4:33-34), người ta thắc mắc tại sao ngài lại giữ dụ ngôn cây đèn. Việc ngài giữ lại dụ ngôn này cho thấy rõ không những ngài lệ thuộc Máccô ở điểm này mà cả quan tâm của ngài muốn liên hệ các lời nói này gần gũi với phần này của Tin Mừng của ngài. Vì không những ngài bỏ cụm từ dẫn nhập thông thường của Máccô “Người nói với các ông” nhưng ngài còn nối chúng với câu 8:15 bằng liên từ de [δὲ=bởi chưng] (1) và du nhập liên từ gar [γὰρ=vì] ở câu 8:18b để nối kết tư liệu gần gũi với nhau hơn. Để bảo đảm có sự nhất quán chặt chẽ hơn, Luca đã bỏ 2 câu nói trong Máccô: 4:23 (ai có tai thì hãy nghe) và 4:24b (Anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em).

Ba câu nói Luca dùng ở đây cũng xuất hiện ở nơi khác trong Tin Mừng của ngài tuy dưới hình thức hơi khác: câu 16 có song hành ở 11: 33 (Chẳng có ai đốt đèn lên rồi đặt vào chỗ khuất hoặc dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, để những ai đi vào thì nhìn thấy ánh sáng); câu 17 là một hình thức của câu 12:2 (Không có gì che giấu mà sẽ không bị lộ ra, không có gì bí mật mà người ta sẽ không biết); và câu 18b-c là một hình thức của câu 19:26 (Tôi nói cho các anh hay : phàm ai đã có, thì sẽ được cho thêm; còn ai không có, thì ngay cái nó đang có cũng sẽ bị lấy đi). Các câu trong tình tiết này là lấy theo Máccô trong khi các câu kia là lấy của nguồn “Q”.

Câu đầu tiên nói tới việc đừng che dấu chiếc đèn đã đốt. Câu thứ hai nói về việc các điều bí ẩn trở thành hiển hiện và câu thứ ba nói về việc người đã có thì được cho thêm. Thoạt nhìn, chúng có vẻ như đương nhiên. Nhưng theo Cha Fitzmyer, chúng phải được hiểu trong đồng văn Luca nghĩa là việc Chúa Giêsu rao giảng về Nước Thiên Chúa, vốn đã bắt đầu với câu 8:4.

Trong đoạn trước, Luca từng tương phản các người nghe cách “vui vẻ” (câu 13) với những người nghe “với tấm lòng cao thượng và quảng đại”, và với lòng “kiên trì”(câu 15). Bây giờ, ở câu 18a, ngài viết “hãy để ý tới cách thức anh em nghe” quả đã tiếp nối những lời trên. Ngài bỏ dụ ngôn hạt lúa mọc âm thầm có lẽ là vì nó gây trở ngại cho việc nhấn mạnh ngài đặt vào cách lắng nghe lời Thiên Chúa.

Các câu nói, vì thế, dùng để nêu bật cách người ta nên lắng nghe Lời Thiên Chúa. Câu 16 nhấn mạnh tới việc ta không nên đốt đèn rồi dấu nó đi, mà phải đặt nó trên đế để nó chiếu sáng căn phòng. Và câu 17, liên kết chặt chẽ với câu 16, giải thích rằng điều bí ẩn sẽ hiển hiện; kết quả của bí ẩn là một ngày kia sẽ trở thành hiển hiện. Việc tỏ hiện này được nối với lý do tại sao người ta đốt đèn và đặt nó lên đế... Việc đốt đèn này dĩ nhiên mô tả tác phong của môn đệ Chúa Kitô: lối lắng nghe lời Thiên Chúa của họ phải mang lại hoa trái... Các hồng ân ban cho người môn đệ biết các điều bí ẩn về Nước Trời được Thiên Chúa dự liệu loan truyền cho mọi người.

Một tác giả khác (http://www.thespiritualdumbbell.com/blog/luke/the-parable-of-the-lamp-luke-816-18/), cho hay cả dụ ngôn này lẫn dụ ngôn người gieo hạt giống đều nói về Lời Chúa. Dụ ngôn này muốn nói tới việc ta phải làm gì với Lời Chúa ấy khi đã nhận được nó. Nó cần được chia sẻ và càng chia sẻ ta càng nhận được nhiều thông sáng hơn về Nước Thiên Chúa.

Đó cũng là nhận định của một tác giả khác (https://reformedbaptistblog.com/2014/04/25/parable-of-the-lamp-luke-816-18-teaching-outline/) khi cho rằng dù Chúa giải thích riêng cho các môn đệ ý nghĩa của dụ ngôn, nhưng các môn đệ không nên giữ cho riêng mình việc giải thích này. Trái lại trong tư cách ánh sáng thế gian, họ phải thông đạt cho người khác. Như Người đã dạy ở câu 15: “nắm giữ và nhờ kiên trì mà sinh hoa kết quả”. Hai việc tuân giữ và chia sẻ Lời Chúa phải đi song song với nhau, y như việc đốt đèn rồi để trên đế. Ta cũng nên nhớ lại trong Mátthêu 10:27, khi Chúa Giêsu sai các môn đệ ra đi rao giảng, Người nói với các ông: “Điều Thầy nói với anh em lúc đêm hôm, thì hãy nói ra giữa ban ngày; và điều anh em nghe rỉ tai, thì hãy lên mái nhà rao giảng”.

Về câu 18, tác giả này lưu ý tới lý do Chúa Giêsu nêu ra để khuyên ta nên chú ý tới cách lắng nghe lời Thiên Chúa. Lý do tích cực: “ai đã có, thì được cho thêm”. Ở đây Chúa Giêsu có ý nói đến những người “ai có tai thì hãy nghe” ở câu 8 và những người lắng nghe “với tấm lòng cao thượng và quảng đại” ở câu 15, họ sẽ nhận được nhiều chân lý hơn nữa. Như thế, những người thực sự sở hữu chân lý trong tâm hồn, dù ít ỏi bao nhiêu, cũng hãy tin rằng họ sẽ được ban cho thêm.

Lý do tiêu cực: “còn ai không có, thì ngay cái họ tưởng là có, cũng sẽ bị lấy mất”. Ở đây, chắc chắn Chúa Giêsu nghĩ đến ba loại đất xấu trong dụ ngôn người gieo hạt giống. Trong mỗi trường hợp này, những người đại diện cho các loại đất khác nhau dường như có được Lời Chúa chỉ để sau đó bị lấy đi mất. Họ không phải là những người biết lắng nghe lời Thiên Chúa, thiếu hăng say đối với lời Thiên Chúa thành thử không sinh hoa trái...
_________________________________________________________________________
(1) Các bản dịch tiếng Việt kể cả bản dịch của Nhóm PVCGK không lưu ý tới liên từ này.