Trang

Thứ Năm, 3 tháng 7, 2014

VUI HỌC THÁNH KINH THÁNG 7


VUI HỌC THÁNH KINH
THÁNG 7



Cuối tháng bảy,
Giáo Hội  mừng kính thánh Giacôbê tông đồ.
Mục Vui Học Thánh Kinh
Xin gởi đến quý Anh Chị chủ đề
về thánh Giacôbê và các tông đồ.



I. HÌNH TÔ MÀU





*Chủ đề của hình ảnh này là gì?
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

* Bạn hãy viết lại câu Tin mừng thánh Mátthêu 5,10
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .


II.TRẮC NGHIỆM THÁNG 7
THÁNH GIACÔBÊ

01. Cha của thánh Giacôbê, vị tông đồ tử đạo đầu tiên tên là gì ?  (Mc 1,16-20)
a. Ông Anphê
b. Ông Giôna
c. Ông Dêbêđê
d. Ông Simon

02. Em của thánh Giacôbê tên là gì? (Mc 1,16-20)
a. Ông Anrê
b. Ông Si mon
c. Ông Gioan
d. Ông Dacaria

03.  Những người đã được chứng kiến cuộc nói chuyện của Đức Giêsu với hai ông Elia và Môsê. (Mt 17,1ss)
a.  Ông Giacôbê – Gioan – Phêrô.
b.  Ông Phêrô – Anrê – Simon.
c.  Ông Phêrô – Giacôbê – Anrê.

04.  Ba lần trong sứ vụ, Đức Giêsu đã hạn chế số môn đệ được ở cùng Người cho một sự kiện quan trọng. Khi Người hấp hối trong vườn cây dầu. Đó là những môn đệ nào? (Mt 26,36ss)
a.  Ông Phêrô – Giacôbê – Batôlômêô.
b.  Ông Giacôbê – Gioan – Phêrô.
c.  Ông Anrê – Gioan – Batôlômêô.

05.  Các môn đệ có mặt trong khi Chúa Giêsu chữa lành cho con gái ông Giaia là những ai? (Lc 8,40-56)
a. Ông Phêrô - Gioan - Anrê.
b. Ông Phêrô - Giacôbê - Anrê.
c. Ông Gioan - Phêrô - Giacôbê.

06.  Hai người con của ông Dêbêđê, được mệnh danh là Bôanêghê, nghĩa là con của sấm sét. Hai người con ấy là  gì? (Mc 3,17)
a. Tông đồ Giacôbê & Gioan
b. Tông đồ Phêrô & Anrê
c. Tông đồ Phaolô & Gioan            
d. Tông đồ Gioan & Philipphê

07.  Vua Hêrôdê Ácrippa I cấm đạo gay gắt đã bắt tù các Thánh tông đồ và đã cho trảm quyết một vị tông đồ của Chúa. Vị được phúc tử đạo đầu tiên ấy là tên là gì ? (Cv 12,1-2)
a. Tông đồ Giacôbê         
b. Tông đồ Gioan
c. Tông đồ Phêrô             
d. Tông đồ Anrê
08.  Một lần, mẹ của hai ông xin cho con mình vị thế danh dự trong vương quốc của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu hỏi liệu họ có thể cùng uống chén đắng Ngài sắp phải uống. Chúa Giêsu bảo ngay rằng dù họ có uống chén đó, không phải Ngài định đoạt cho họ danh vị mà là Chúa Cha.  Hai vị này là ai? (Mt 20,20-23ss)
a. Tông đồ   Giacôbê & Gioan
b. Tông đồ  Simon & Phaolô
c. Tông đồ  Anrê & Phêrô       
d. Tông đồ Tôma & Matthêu

09.  Một lần Chúa Giêsu trên đường lên Giêrusalem cùng với các tông đồ, họ đi qua một thành xứ Samari, những người Samari từ chối đón tiếp họ. Thấy vậy, hai ông xin Đức Giêsu cho họ khiến lửa từ trời xuống thiêu đốt thành phố dân Samari như đã thiêu huỷ Xôđôm và Gômôra để trừng phạt. Hai vị này là ai? (Lc 9,51-56)
a. Tông đồ Gioan & Phêrô     
b. Tông đồ Giacôbê & Gioan
c. Tông đồ Anrê & Phêrô      
d. Tông đồ Philipphê & Phêrô

10. Thánh Giacôbê bị giết bằng cách gì ? (Cv 12,1-2)
a. Chém đầu
b. Ném đá
c. Bỏ vạc dầu sôi
d. Đóng đinh thập giá


III. Ô CHỮ THÁNG 7
THÁNH GIACÔBÊ



NHỮNG GỢI Ý :

01. Tại vườn này Đức Giêsu đã đưa ông Phêrô và hai người con ông Dêbêđê đi theo khi Người cầu nguyện. (Mt 26,36)

02. Em của thánh Giacôbê tên là gì? (Mc 1,16-20)

03. Bôanêghê nghĩa là con của ai ? (Mc 3,17)

04. Ai đã đưa các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan vào vườn Cây Dầu để cầu nguyện? (Mt 26,36)

05. Vua đã ra lệnh giết chết thánh Giacôbê là ai ? (Tdcv 12,1-3)

06. Người đã cùng với ông Giacôbê xin lửa từ trời xuống thiêu hủy làng Samari khi họ không tiếp đón Đức Giêsu tên là gì?  (Lc 9,51-56)

07. Cùng với thánh Phêrô và thánh Gioan, thánh Giacôbê đã chứng kiên việc Đức Giêsu cứu chữa con của ai sống lại? (Lc 5,35-42)

08. Tại biển hồ này Đức Giêsu đã kêu gọi thánh Giacôbê theo Người. (Mc 1,16-20)

09. Khi đến gặp Đức Giêsu, bà mẹ của các con ông Dêbêđê đã làm gì và kêu xin Người một điều ? (Mt 20,20-23)

10. Vị tông đồ tử đạo đầu tiên tên là gì?(Tdcv 12,1-3)
11. Khi Đức Giêsu kêu gọi, 2 ông Giacôbê và ông Gioan đang làm gì ? (Mt 18-21)

12. Cha của thánh Giacôbê tên là gì ? (Mc 1,16-20)

13. Đây là cách thánh Giacôbê bị giết chết? (Tdcv 12,1-3)

Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì ?





IV. THỬ TÀI
A. THỬ TÀI NHỚ

1. Tông đồ được chọn làm đầu Nhóm Mười Hai là ai? (Mt 10,1-11)

2. Tông đồ đã đứng dưới chân thập giá tên là gi? (x. Ga 19,25-26)

3. Tông đồ tử đạo đầu tiên tên là gì? (Cv 12,1-2)

4. Tông đồ được chọn thay ông Giuđa tên là gì? (Cv 1,13..)

5. Tông đồ đã phản bội thầy bằng nụ hôn là ai? (lc 22,47)

6.Tông đồ đã đòi được đưa bàn tay vào cạnh sườn Đức Giêsu tên là gì? (Ga 20,24..)

7. Tông đồ được chọn trên đường đi Đamát là ai? (Tđcv 9,1-19)


B. ALPHABET.

Bạn hãy sắp xếp những tông đồ dưới đây theo trật tự Alphabet.

Phêrô
Anrê
Giacôbê
Gioan
Philipphê
Batôlômêô
Tôma
Matthêu
Giacôbê
Giuđa Tađêô
Simon
Giuđa Ítcariốt
Phaolô
Matthia



V. CÂN NÃO

A.  Ô CHỮ TÂN ƯỚC 1


Bạn hãy tìm trong những ô chữ này
có bao nhiêu nhân vật và địa danh
được nói tới trong Tân Ước ,
sao cho chữ này tiếp cận chữ kia, ngang-dọc-xéo-ngược-xuôi,
mà không cách quãng.
 Vd ô chữ 01 : EVA, ÊLIA, SÊM, SẾT…
Mọi trích dẫn và tên riêng
đều dựa trên bản dịch Thánh Kinh
Lời Chúa Cho Mọi Người 2005
của Nhóm Phiên Dịch
Các Giờ Kinh Phụng Vụ..


(TRONG Ô CHỮ TÂN ƯỚC 1 CÓ ÍT NHẤT 8 TỪ)






B. ĐỐ BẠN ! L
Hãy quan sát những mẫu tự đã cho của các nhân vật dưới đây và rút ra 4 mẫu tự để tạo 1 nhân vật mới.



LUCA  có 1 mẫu tự (2Tm 4,11)
EPAPRA có 2 mẫu tự (Cl 1,7}
DENA có 2 mẫu tự (Tt 3,13)
LINO   không có mẫu tự nào. (2Tm 4,21) 
Nhân vật trong ô này là ai ?

NGUYỄN THÁI HÙNG
THÁNH GIACÔBÊ




Đọc lại ơn gọi của các thánh tông đồ, nhân loại không khỏi ngạc nhiên vì tính cách huyền nhiệm và diệu kỳ của Thiên Chúa trên từng con người, trên từng cá nhân. Tin Mừng của thánh Matthêu viết:” Đang đi dọc theo biển hồ Galilê, Chúa Giêsu thấy ông Giacôbê, con ông Dê-bê-đê, và ngươi em là ông Gio-an, cả hai đang vá lưới”( Mt 4, 18.21 ).

ƠN GỌI CỦA THÁNH GIACÔBÊ:
Chúa muốn gọi ai là tùy ý Chúa, không ai có quyền buộc Chúa phải làm thế này, phải làm thế khác. Ơn gọi là một ơn huệ nhưng không của Chúa. Thánh Giacôbê là anh của thánh Gioan, con của ông Dêbêđê. Thánh nhân là bạn đồng nghiệp với thánh Phêrô và thánh Anrê, tất cả đều làm nghề chài lưới và là những tay chài thiện nghệ. Các Ngài đã làm nghề cổ truyền này từ đời cha ông và nay  họ vẫn tiếp tục sống bằng nghề đánh cá ở biển hồ Giênêsarét. Thánh Matthêu đã tường thuật lại việc Chúa Giêsu kêu gọi bốn môn đệ đầu tiên như sau:” Người đang đi dọc theo biển hồ Galilê, thì thấy hai anh em kia, là ông Simon, cũng gọi là Phêrô, và người anh là ông Anrê, đang quăng chài xuống biển, vì các ông làm nghề đánh cá. Người bảo các ông:” Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá. Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo người. Đi một quãng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dêbêđê, là ông Giacôbê và người em là ông Gioan. Hai ông này đang cùng với cha là ông Dêbêđê vá lưới ở trong thuyền. Người gọi các ông. Lập tức, các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người”( Mt 4, 18-22 ). Tin Mừng nói: Chúa gọi và lập tức họ bỏ tất cả mà theo Chúa Giêsu. Đó là một sự lạ lùng vì chỉ một tiếng gọi, các môn đệ đã bỏ mọi sự mà theo Chúa Giêsu. Thánh Giacôbê dù rằng có bị mang tiếng vì bà mẹ của hai người con ông Dêbêđê đã suy  nghĩ theo ý trần gian xin cho một ông ngồi bên tả, một ông ngồi bên hữu Chúa trong vương quốc của Ngài, nhưng với sự tác động của Chúa Thánh Thần và với sự thay đổi của ơn Chúa, thánh Giacôbê và thánh Gioan đã hy sinh đến giọt máu cuối cùng để làm chứng cho Chúa.

THÁNH GIACÔBÊ TRỞ THÀNH NGƯỜI THÂN THIẾT CỦA CHÚA:
Được Chúa yêu thương, cải hóa, biến đổi, thánh Giacôbê đã trở nên người thân cận của
Chúa, cùng với thánh Phêrô và thánh Gioan. Thánh nhân đã được chứng kiến con ông Zairô Chúa làm cho sống lại, việc chúa biến hình trên núi Tabôrê, và cơn hấp hối của Chúa Giêsu trong vườn cây dầu. Tất cả những điều đó nói lên con người đặc biệt và vô cùng thân tín của Ngài đối với Chúa Giêsu. Chính vì được yêu mến tin tưởng, thánh Giacôbê đã được phước trở thành người tử đạo tông đồ đầu tiên đã đổ máu ra để minh chứng choChúa Giêsu phục sinh dưới thời vua Hêrôđê Agrippa I năm 43 hoặc 44 trước lễ phục sinh. Chúa đã trao  chén đắng cho Ngài và Ngài đã chấp nhận uống chén đắng Thầy trao. Chúa đã thưởng công và trao mũ triều thiên cho Ngài. Thánh nhân đã được tôn kính đặc biệt trên thế giới từ thế kỷ IX và lòng tôn kính thánh nhân toả lan khắp thế giới.

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã ban cho thánh Giacôbê vinh dự là tông đồ đầu tiên đã chết để làm chứng cho Tin Mừng. Xin cho Hội Thánh tìm được sức mạnh nhờ gương tử đạo của thánh nhân, và nhờ Người cầu thay nguyện giúp, Hội Thánh được luôn nâng đỡ phù trì( Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Giacô-bê  tông đồ ).
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

LỜI GIẢI ĐÁP
VUI HỌC THÁNH KINH
- THÁNG 7-

I. HÌNH TÔ MÀU
* Chủ đề :
TỬ ĐẠO

* Tin mừng thánh Mátthêu 5,10 :

Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính,
vì Nước Trời là của họ.

II.TRẮC NGHIỆM THÁNG 7
THÁNH GIACÔBÊ

01. Ông Dêbêđê (Mc 1,16-20)
02. Thánh Gioan (Mc 1,16-20)
03. Thánh Phêrô-Giacôbê-Gioan (Mt 17,1ss)
04. Thánh Phêrô-Giacôbê-Gioan (Mt 26,36ss)
05. Thánh Phêrô-Giacôbê-Gioan (Lc 8,40-56)
06. Thánh Giacôbê & Gioan (Mc 3,17)
07. Thánh Giacôbê (Cv 12,1-2)
08. Thánh Giacôbê & Gioan (Mt 20,20-23ss)
09. Thánh Giacôbê & Gioan (Lc 9,51-56)
10. Chém đầu (Cv 12,1-2)

III. Ô CHỮ THÁNG 7
THÁNH GIACÔBÊ 2

01. Ghếtsêmani (Mt 26,36)
02. Thánh Gioan (Mc 1,16-20)
03. Thiên lôi. (Mc 3,17)
04. Đức Giêsu (Mt 26,36)
05. Vua Hêrôđê (Hêrôđê Ácrippa I, 43)(Tdcv 12,1-3)
06. Ông Gioan  (Lc 9,51-56)
07. Ông Giaia (Lc 5,35-42)
08. Galilê (Mc 1,16-20)
09. Bái lạy (Mt 20,20-23)
10. Thánh Giacôbê (Tdcv 12,1-3)
11. Vá lưới (Mt 18-21)
12. Ông Dêbêđê (Mc 1,16-20)
13. Chém đầu (Tdcv 12,1-3)

Hàng dọc : Tông đồ Giacôbê

IV. THỬ TÀI
A. THỬ TÀI NHỚ

1. Tông đồ Phêrô Mt 10.1-11)
2. Tông đồ Gioan (x. Ga 19,25-26)
3. Tông đồ Giacôbê (Cv 12,1-2)
4. Tông đồ Matthia (Cv 1,13..)
5. Tông đồ Giuđa Ítcariốt (lc 22,47)
6. Tông đồ Tôma (Ga 20,24..)
7. Tông đồ Phaolô (Tđcv 9,1-19)

B.ALPHABET.

Anrê
Batôlômêô
Giacôbê con ông Anphê
Giacôbê con ông Dêbêđê
Gioan
Giuđa Ítcariốt
Giuđa Tađêô
Matthêu
Matthia
Phaolô
Phêrô
Philipphê
Simon
Tôma




V. CÂN NÃO

A.  Ô CHỮ TÂN ƯỚC 1

 

Ô CHỮ TÂN ƯỚC 1
(TRONG Ô CHỮ TÂN ƯỚC 1 CÓ ÍT NHẤT 8 TỪ)

E (Lc 3,28 )
ASÊ (Lc 3,36)
ÊLI (Lc 3,23)
EVÀ (2 Cr 11,3)
ÊVÊ (Lc 3,35)
SÊM (Lc 3,36)
SÉT (Rm 9,21)
ÊLIA(Mc 6,15)



B. ĐỐ BẠN ! L

Quan sát những mẫu tự đã cho ta thấy có  P,  U,  D và  E. Vậy nhân vật cần tìm là : PUDE (2 Tm 4,21)


NGUYỄN THÁI HÙNG


Thứ Sáu sau Chúa Nhật 13 Quanh Năm

Thứ Sáu sau Chúa Nhật 13 Quanh Năm
  

Bài Ðọc I: (Năm II) Am 8, 4-6. 9-12
"Ta sẽ cho nạn đói trên đất này: nhưng không phải là đói cơm bánh, mà là đói lời Chúa".
Trích sách Tiên tri Amos.
Ðây Thiên Chúa phán: "Hãy nghe đây, hỡi những ai đàn áp kẻ nghèo khó và muốn tiêu diệt hết những kẻ bần cùng trong cả nước. Các ngươi bảo: "Bao giờ qua tuần trăng mới để chúng tôi bán hàng! Khi nào hết ngày Sabbath để chúng tôi bán lúa mạch. Chúng tôi sẽ giảm lường đong, tăng giá và làm cân giả. Chúng tôi sẽ lấy tiền mua người nghèo, lấy đôi dép đổi lấy người túng thiếu. Chúng tôi sẽ bán lúa mục nát".
Chúa là Thiên Chúa phán: "Ngày ấy Ta sẽ khiến mặt trời lặn ngay giữa chính ngọ, và sẽ khiến mặt đất ra tối tăm giữa ban ngày. Ta sẽ làm cho các ngày đại lễ của các ngươi trở nên ngày tang tóc, cho các bài ca trở thành lời khóc than. Ta sẽ lấy bao bố đặt trên lưng các ngươi và khiến mọi người trọc đầu. Ta sẽ làm cho ngày ấy trở thành như ngày tang mất con một, và sau cùng nó trở nên ngày cay đắng".
Thiên Chúa lại phán: "Rồi đây sẽ đến ngày Ta cho nạn đói đến trên đất này, nhưng không phải là đói cơm bánh hay khát nước đâu, nhưng là đói nghe lời Chúa. Người ta sẽ di chuyển từ biển này qua biển nọ, từ bắc đến đông: họ đi vòng quanh tìm kiếm lời Chúa, nhưng chẳng thấy.
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 118, 2. 10. 20. 30. 40. 131
Ðáp: Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra (Mt 4, 4).
Xướng: 1) Phúc đức những ai giữ lời Ngài nghiêm huấn, những người đó tận tâm tìm kiếm Ngài. - Ðáp.
2) Với tất cả tâm can con tìm Chúa, xin chớ để con lạc xa chỉ thị Ngài. - Ðáp.
3) Sở dĩ linh hồn con mòn mỏi, là vì luôn luôn khao khát thánh dụ của Ngài. - Ðáp.
4) Con đã chọn con đường chân lý, con quyết tâm theo các thánh chỉ của Ngài. - Ðáp.
5) Này đây, con khao khát huấn lệnh của Ngài; theo lượng công minh Ngài, xin cho con được sống. - Ðáp.
6) Con há miệng để hút nguồn sinh khí, và con ham muốn những chỉ thị của Ngài. - Ðáp.

Alleluia: Tv 94, 8ab
Alleluia, alleluia! - Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng cứng lòng. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 9, 9-13
"Người lành mạnh không cần đến thầy thuốc: Ta muốn lòng nhân từ, chớ không phải là hy lễ".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.
Khi ấy, Chúa Giêsu đi ngang qua, thấy một người ngồi ở bàn thu thuế, tên là Matthêu. Người phán bảo ông: "Hãy theo Ta". Ông ấy đứng dậy đi theo Người. Và xảy ra là khi Người ngồi dùng bữa trong nhà, thì có nhiều người thu thuế và tội lỗi đến ngồi đồng bàn cùng Chúa Giêsu và các môn đệ của Người. Những người biệt phái thấy vậy, liền nói với các môn đệ Người rằng: "Tại sao Thầy các ông lại ăn uống với những người thu thuế và tội lỗi như thế?" Nghe vậy, Chúa Giêsu bảo rằng: "Người lành mạnh không cần đến thầy thuốc, nhưng là người đau yếu! Các ông hãy đi học xem lời này có ý nghĩa gì: "Ta muốn lòng nhân từ, chứ không phải là hy lễ". Vì Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng kêu gọi người tội lỗi".
Ðó là lời Chúa.


Suy Niệm: Bữa Tiệc Thân Hữu

Trong hầu hết các nền văn hóa hiện hữu trên thế giới, bữa ăn là một thời điểm, một nghi lễ đặc biệt trong đời sống con người. Con người thường chia giờ giấc trong ngày theo các bữa ăn. Bữa ăn là giờ duy nhất trong ngày, trong đó mọi thành phần trong gia đình có mặt bên nhau, do đó bàn ăn thường là biểu trương của hiệp nhất. Vì là giờ hiệp nhất, nên bữa ăn cũng là giờ linh thiêng trong cuộc sống. Người ta vẫn nói: "Trời đánh tránh bữa ăn". Bữa ăn là dấu chỉ của hiệp nhất, cho nên thời xa xưa, thỏa ước giữa các bộ lạc cũng được ký trong bữa tiệc. Ngồi đồng bàn với nhau có nghĩa là chấp nhận chia sẻ với nhau, chấp nhận tình thân hữu của nhau.
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy được ý nghĩa nổi bật của bữa ăn trong cuộc đời Chúa Giêsu. Phúc Âm thường ghi lại những lần Chúa Giêsu ngồi đồng bàn với những người thu thuế tội lỗi, những người bị đẩy ra bên lề xã hội. Ngồi đồng bàn với người nào là muốn chia sẻ, muốn nói lên tình thân thiện của người đó. Qua những lần ngồi đồng bàn với tất cả mọi hạng người, Chúa Giêsu bày tỏ cho chúng ta bộ mặt của một Thiên Chúa nhân hậu luôn hiện diện trong mọi sinh hoạt của con người, một Thiên Chúa chia sẻ cuộc sống của con người và muốn đi vào kết hiệp thâm sâu với con người.
Chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy Chúa Giêsu thường mượn hình ảnh bữa tiệc để nói về Nước Trời: "Nước Trời giống như vua kia làm tiệc cưới". Nước Trời giống như một tiệc vui. Tôn giáo mà Chúa Giêsu loan báo không phải là những nghi lễ hay những luật lệ cứng nhắc, mà là tôn giáo của tình yêu. Trích dẫn lời Tiên Tri Ôsê: "Ta muốn lòng nhân từ, chứ không phải lễ tế", Chúa Giêsu đả phá những tôn giáo chỉ xây dựng trên những nghi lễ trống rỗng, mà quên đi cái lõi của tôn giáo là tình thương.
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta nhìn lại cách sống đạo của chúng ta. Bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu để lại cho chúng ta là bữa tiệc dấu chứng tình yêu của Ngài. Tham dự vào bữa tiệc ấy là tham dự vào tinh thần yêu thương chia sẻ với Ngài. Nếu không có tinh thần yêu thương, thì tất cả những kinh kệ, những hành động phụng vụ chỉ là trống rỗng vô ích. Của lễ đẹp lòng Chúa nhất phải chăng không là những hành động yêu thương, chia sẻ, tha thứ đó sao? Lúc đó bàn thờ của chúng ta không chỉ nằm trong bốn bức tường nhà thờ, mà còn phải là gia đình, công sở, phố chợ. Nơi nào có hành động yêu thương, tha thứ, chia sẻ, thì nơi đó có Chúa hiện diện, có bình an, có Nước Trời.
Veritas Asia


Lời Chúa Mỗi Ngày
Thứ Sáu Tuần 13 TN2
 Bài đọc: Amo 8:4-6, 9-12; Mt 9:9-13.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: "Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế.”

Nhiều tín hữu cho việc giữ đạo chỉ giới hạn trong việc đi lễ mỗi tuần. Ra khỏi nhà thờ là họ trở về với cuộc sống trần tục, và phải bon chen tranh giành để kiếm sống mà không cần biết đến ai cả. Họ không biết rằng có một sự liên tục giữa những gì họ cử hành trong nhà thờ và những gì họ sống giữa đời. Họ phải tìm cơ hội để thi hành những gì Lời Chúa dạy trong nhà thờ: đem Tin Mừng đến cho muôn người, và phục vụ tất cả những ai đang cần đến sự chăm sóc của họ.
Các bài đọc hôm nay muốn nhấn mạnh đến việc con người phải giũ bỏ sự thờ phượng Thiên Chúa hời hợt bên ngoài để mặc lấy sự hoán cải tâm hồn bên trong. Trong bài đọc I, ngôn sứ Amos tố cáo con cái lối sống vụ hình thức của con cái Israel. Họ tuy giữ ngày Sabbath bên ngoài; nhưng bên trong chỉ mong ngày đó qua sớm để họ còn tiếp tục làm giàu bằng việc đối xử bất công với người nghèo. Ngôn sứ Amos nhắc nhở họ, điều quan trọng là họ phải biết đói khát Lời Chúa và sống công chính, chứ không phải chỉ miễn cưỡng giữ Luật trong khi tâm trí bày vẽ bao nhiêu cách thức để bóc lột dân nghèo. Trong Phúc Âm, những người Biệt Phái đánh giá Chúa Giêsu qua hành động bên ngoài, khi Ngài ngồi ăn với những người thu thuế và các kẻ tội lỗi. Chúa Giêsu nhắc nhở họ điều làm đẹp lòng Thiên Chúa là lòng yêu thương tha nhân; chứ không phải chỉ chú trọng đến việc giữ Luật cách hời hợt bên ngoài.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Ta sẽ gieo nạn đói trên xứ này, không phải đói bánh ăn, cũng không phải khát nước uống, mà là đói khát được nghe lời Đức Chúa.

1.1/ Nếu tội nhân không hoán cải, họ sẽ phải lãnh nhận hình phạt tương xứng.
Ngôn sứ Amos tố cáo hai tội chính con cái Israel đã xúc phạm đến Đức Chúa.
(1) Bất kính trong khi thờ phượng: Họ tham dự phụng vụ cách miễn cưỡng, trong khi thân xác họ ở trước tôn nhan Thiên Chúa; nhưng tâm hồn chu du mọi nơi. Họ nghĩ đến những việc sắp làm để kiếm tiền, và mong ngày Sabbath chóng qua để họ làm chuyện đó. Họ tin Thiên Chúa bằng môi miệng, và nghĩ họ chỉ cần giữ qua loa những lễ nghi bên ngoài là đủ đẹp lòng Ngài; chứ họ không bao giờ nghĩ đến họ phải hoán cải và thay đổi lối sông bất công với tha nhân. Điều này chứng minh họ chỉ thờ phượng Thiên Chúa bên ngoài, còn tâm hồn họ xa Ngài vạn dặm. Họ không kể chi đến việc tuân giữ Lề Luật “mến Chúa, yêu người” của Ngài.
(2) Lỗi đức công bằng: Họ sáng chế ra những cách để làm giàu và đối xử bất công với những người nghèo hèn khốn khổ như:
- Buôn bán điêu ngoa: Họ “làm cho cái đấu nhỏ lại, cho quả cân nặng thêm, làm lệch cán cân để đánh lừa thiên hạ.” Cái đấu có thể làm nhỏ lại bằng cách bóp méo, quả cân có thể nặng thêm bằng cách hàn thêm chì dưới đáy, cán cân cũng có thể làm lệch bằng cách sửa lại vị trí thăng bằng. Nói tóm, họ có cả trăm cách để thu nhập của cải về cho họ mà không cần để ý đến tình trạng bi đát của người mua là mẹ góa con côi hay kẻ nghèo khổ cơ bần.
- Coi trọng tiền bạc hơn nhân phẩm: Họ dùng “tiền bạc mua đứa cơ bần, đem đôi dép đổi lấy tên cùng khổ.” Khi con nợ không có tiền trả, họ xiết nợ bằng cách bắt con nợ phải làm nô lệ cho họ.
- Lường gạt: Để lường gạt người mua, họ có thể để trong thùng chứa những lúa gạo tốt bên trên trên, trong khi bên dưới toàn lúa nát gạo mục.
Cả hai tội đều xúc phạm đến Thiên Chúa vì những gì họ làm cho tha nhân là họ làm cho chính Ngài.
(3) Hình phạt tương xứng: Hình phạt xảy ra cách bất ngờ và họ sẽ trở tay không kịp vì Đức Chúa sẽ làm cho “mặt trời lặn giữa trưa, và khiến cho mặt đất tối sầm giữa lúc ngày đang sáng.” Những lễ hội và ngày vui của họ sẽ trở thành u sầu tang tóc. Khi chứng kiến tai ương xảy ra, mọi người phải tỏ lòng ăn năn thống hối bằng việc “phải quấn vải thô và mọi mái đầu đều phải cạo trọc.”

1.2/ Đói khát lời Chúa: Con người thường có khuynh hướng sợ đói khát về thể xác, nhưng rất ít khi chịu suy nghĩ tới sự đói khát tâm linh. Xét về thiệt hại, đói khát tâm linh thiệt hại hơn nhiều vì nó làm cho con người sống vất vưởng, sống không mục đích, và nhất là làm cho con người phải chết đời đời. Ngôn sứ Amos tiên đoán: “Đây sắp đến những ngày - sấm ngôn của Đức Chúa là Chúa Thượng - Ta sẽ gieo nạn đói trên xứ này, không phải đói bánh ăn, cũng không phải khát nước uống, mà là đói khát được nghe lời Đức Chúa.” Con cái Israel được nghe Lời Chúa qua các ngôn sứ, vắng bóng ngôn sứ họ sẽ không đượa nghe Lời Chúa. Lịch sử Cựu Ước chứng minh sự ứng nghiệm của lời tiên tri này; vì sau thời của ngôn sứ Malachi (5th BC), cả gần 500 năm, con cái Israel không còn thấy bóng dáng của một ngôn sứ nào trên đất nước của họ. Nếu khi còn ngôn sứ mà đời sống tâm linh của con cái Israel còn tệ hại như thế, khi vắng bóng ngôn sứ, đời sống tâm linh của các thế hệ tương lai còn bết bát tới chừng nào!

2/ Phúc Âm: "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.”

2.1/ Phản ứng của những người biệt phái: Đối với họ, những người thu thuế như Matthew được coi như những người tội lỗi công khai như gái điếm, vì tiếp tay với thế lực nước ngoài để bóc lột anh em mình. Vì thế, khi thấy Chúa Giêsu ngồi đồng bàn với Matthew và các bạn đồng nghiệp của ông, những người Pharisees nói với các môn đệ Người rằng: "Sao Thầy các anh lại ăn uống với bọn thu thuế, và quân tội lỗi như vậy?" Xét về phương diện con người, họ có lý do để phê bình Chúa Giêsu, vì như các cha mẹ Việt Nam vẫn khuyên con “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng.” Nhưng nhận xét này không thể áp dụng cho những người dày dạn kinh nghiệm, bậc quân tử, và nhất là Chúa Giêsu.

2.2/ Phản ứng của Chúa Giêsu: Ngài trả lời họ: "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.” Xét về phương diện thể lý, nếu một bác sĩ sợ bị nhiễm trùng từ bệnh nhân, ông sẽ không muốn gần con bệnh để chữa lành cho họ. Chúa Giêsu ví mình như người chữa bệnh tâm hồn, tuy Ngài ghê tởm tội lội; nhưng Ngài phải gần gũi tội nhân để tìm cách đưa họ trở về.
Chúa Giêsu mời gọi họ xét mình hai điều: Thứ nhất, Thiên Chúa yêu mến những ai có lòng thương xót hơn là lễ tế họ dâng; vì lễ tế chỉ là xác những con vật vô hồn; nhưng lòng thương xót mang về cho Thiên Chúa những con cái của Ngài. Thứ hai, nếu những người biệt phái chịu xét mình cẩn thận, họ cũng là những người cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa. Chỉ vì kiêu ngạo và tự cho mình là công chính nên họ không cảm thấy mình có tội; và như thế, họ sẽ không được hưởng lòng thương xót của Ngài.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúng ta không thể sống đạo bằng cách chỉ tham dự cách hời hợt những lễ nghi bên ngoài bên ngoài, nhưng phải thực sự hoán cải tâm hồn, biểu lộ qua cuộc sống công bằng và yêu thương.
- Chúng ta đừng đánh giá tha nhân qua chức vụ hay những hành động bên ngoài; nhưng qua những ước mong được học biết sự thật và hoán cải để sống cuộc đời tốt đẹp hơn. 
Lm.Anthony ĐINH MINH TIÊN, OP.


HẠT GIỐNG NẨY MẦM
- MÙA QUANH NĂM –
- TUẦN 13 -
"Có những hạt rơi vào đất tốt.
Chúng mọc và lớn lên, sinh hoa kết quả :
hạt thì được ba mươi, hạt thì được sáu mươi,
hạt thì được một trăm" (Mc 4,8)
Mt 9,9-13

A. Hạt giống...
Thánh Matthêu tường thuật về việc Chúa Giêsu kêu gọi chính ông :
- Ông là một người thu thuế tội lỗi.
- Chính Chúa Giêsu là người đi bước trước tới với ông : "Chúa Giêsu đi ngang qua, thấy… Ngài phán bảo ông…"
- Bởi thế ông rất mừng và nhanh chóng đáp lời : "Ông đứng dậy và đi theo".
- Ông mừng đến nỗi ngay sau đó mở tiệc khoản đãi Chúa Giêsu và các bạn thu thuế của mình.
- Qua kinh nghiệm này, Matthêu hiểu Chúa Giêsu là thầy thuộc của những kẻ tội lỗi bệnh tật linh hồn : "Ta đến không phải để kêu gọi người công chính nhưng để kêu gọi người tội lỗi".

B.... nẩy mầm.
1. Bản thân tôi cũng là một người tội lỗi đã được Chúa thương kêu gọi đi theo Ngài. Lẽ ra tôi phải luôn nhớ mãi hồng ân ấy và cũng quảng đại với những người tội lỗi như tôi. Thế nhưng hình như khi tôi được Chúa gọi rồi thì tôi liền quên ngay chuyện đó. Tôi tự coi mình là công chính và lên mặt khó chịu với những kẻ tội lỗi. Tôi không muốn Chúa kêu gọi thêm người tội lỗi nào nữa cả.
2. Trước lúc Chúa gọi, Matthêu "ngồi" (tư thế không muốn thay đổi) tại "bàn thu thuế" (môi trường sống tội lỗi). Nhưng ngay khi được Chúa gọi, ông đã nhanh chóng "đứng dậy" và "đi theo". Thái độ này biểu lộ một sự dứt khoát thay đổi, một hành trình mới.
3. Chúa Giêsu là Thầy thuốc chữa trị những nỗi đau của con người ; Ngài đến là nhằm kêu gọi những kẻ tội lỗi ; Ngài bảo "Ta muốn lòng nhân". Bây giờ tôi là đại diện của Chúa. Tôi phải sống và cư xử thế nào để người ta hiểu Chúa của tôi là như thế ? Tôi thấy có cần sửa đổi hay điều chỉnh gì không trong cách sống và cư xử của tôi ?
4. Đồ phế thải và người phế thải : Abbé Pierre chuyên giúp những người nghèo và vô gia cư để họ tự lực cánh sinh từ những vật dụng phế thải. Cha kể lại câu chuyện sau đây : Có một cựu tù nhân sống lang thang không nhà không cửa nên thất vọng dùng dao cắt mạch máu của mình. Có người gọi điện thoại cho cha. Cha lập tức đến nơi. Cha không một lời an ủi nhưng nói với ông như ra lệnh : "Anh đừng tự vẫn. Còn quá nhiều người kém may mắn đang cần đến sự giúp đỡ của tôi. Tôi cũng đang bệnh và cần sự giúp đỡ của anh". Nghe những lời đó, đôi mắt lờ đờ của người đàn ông sáng lên, và từ đó ông trở thành một trong những cộng sự viên đắc lực nhát của cha. (Chờ đợi Chúa)
Lm.Carolo HỒ BẶC XÁI – Gp. Cần Thơ

Thứ Tư, 2 tháng 7, 2014

VUI HỌC THÁNH KINH THÁNH TÔMA TÔNG ĐỒ

VUI HỌC THÁNH KINH
THÁNH TÔMA TÔNG ĐỒ
Tin Mừng thánh Gioan 20,24-29
Ngày 3 tháng 7



Tin Mừng

24 Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến.25 Các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tô-ma đáp: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin."26 Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em."27 Rồi Người bảo ông Tô-ma: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin."28 Ông Tô-ma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con! "29 Đức Giê-su bảo: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin! "

24 Thomas, called Didymus, one of the Twelve, was not with them when Jesus came.

25 So the other disciples said to him, "We have seen the Lord." But he said to them, "Unless I see the mark of the nails in his hands and put my finger into the nailmarks and put my hand into his side, I will not believe."

26 Now a week later his disciples were again inside and Thomas was with them. Jesus came, although the doors were locked, and stood in their midst and said, "Peace be with you."

27 Then he said to Thomas, "Put your finger here and see my hands, and bring your hand and put it into my side, and do not be unbelieving, but believe."

28 Thomas answered and said to him, "My Lord and my God!"

29 Jesus said to him, "Have you come to believe because you have seen me? Blessed are those who have not seen and have believed."

I. HÌNH TÔ MÀU


* Chủ đề của hình này là gì?
…………………………………………….

* Bạn hãy viết câu Tin Mừng thánh Giaon 20,29
…………………………………………….
…………………………………………….
…………………………………………….
…………………………………………….
"

II. TRẮC NGHIỆM

A.
a1. Tên gọi khác của ông Tôma là gì? (Ga 20,24)
a. Bôanêghê
b. Điđymô
c. Tađêô
d. Giôsuê

a2. Lần hiện ra đầu tiên, môn đệ nào vắng mặt? (Ga 20,24)
a. Môn đệ Phêrô
b. Môn đệ Gioan
c. Môn đệ Giacôbê
d. Môn đệ Tôma

a3. Khi hiện ra với các môn đệ, Đức Giêsu đã nói gì? (Ga 20,27)
a. Thầy đây, đừng sợ
b. Thầy đã sống lại rồi
c. Bình an cho anh em
d. Anh em hãy tin thầy

a4. Khi nghe các môn đệ kể lại việc Đức Giêsu hiện ra, ông Tôma muốn gì? (Ga 20,25)
a. Muốn thấy dấu đinh của Đức Giêsu
b. Muốn xỏ ngón tay vào lỗ đinh
c. Muốn đặt bàn tay vào cạnh sườn Đức Giêsu
d. Cả a, b và c đúng

a5. Khi gặp Đức Giêsu phục sinh, ông Tôma đã nói gì? (Ga 20,28)
a. Lạy Chúa của con, con đã tin
b. Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con
c. Lạy Thầy, con tin
d. Lạy Thầy, con đã thấy, con tin Thầy.

B.
b1. Biệt danh của tông đồ Tôma là Điđymô.  Điđymô có nghĩa là gì?
a. Song sanh
b. Sấm sét
c. Ánh sáng
d. Bình an

b2. Thánh Tôma người ở đâu?
a. Galilê
b. Bêlem
c. Xiđôn
d. Bêtania

b3. Theo truyền thống, trong hình vễ thánh Tôma, người ta vẽ tay ngài cầm cái gì?
a. Thanh gươm
b. Bông huệ
c. Cây gậy
d. Cái thước thợ nề

b4. Thánh Tôma chết vào năm 72, ngài được phúc tử đạo bằng cách nào?
a. Chém đầu
b. Treo cổ
c. Bị đâm bằng giáo
d. Lăng trì

b5. Theo truyền thống, thánh Tô ma đã đến truyền giáo nơi này :
a. Trung Hoa
b. Tây Ban Nha
c. Ấn độ
d. Rô ma



III. Ô CHỮ 


Những gợi ý

01. Đức Giêsu bảo ông Tôma đừng … …… . (Ga 20,27)

03. Ông Tôma muốn đặt bàn tay vào đâu của Đức Giêsu? (Ga 20,25)

04. Ai hiện ra với các môn đệ khi các cửa đều đóng kín? (Ga 20,26)

05. Ông Tôma muốn xỏ cái gì vào lỗ đinh nơi người Đức Giêsu? (Ga 20,25)

06. Khi hiện đến đứng giữa các môn đệ, Đức Giêsu chúc điều gì cho các ông? (Ga 20,26)

07. “Phúc cho những người … … …  mà tin”. (Ga 20,29)

Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì?

IV. CÂU THÁNH KINH HỌC THUỘC LÒNG

"Vì đã thấy Thầy, nên anh tin.
 Phúc thay những người không thấy mà tin! “
Tin Mừng thánh Gioan 20,29

NGUYỄN THÁI HÙNG








Thánh Tôma Tông Đồ
Nỗi oan Tôma
ĐGM Giuse Vũ Duy Thống
Thật ra, đi liền với danh xưng Tôma lại là một bài học dẫn đến niềm tin, và cũng còn đó lời gọi sống sao cho mối phúc thứ chín, như người ta gọi về lời Chúa Giêsu kết thúc trang Tin Mừng hôm nay “Phúc cho kẻ không thấy mà tin”, được trở thành hiện thực trong đời mỗi Kitô hữu.

Nỗi oan Tôma

Đối với phần đông tín hữu Việt Nam, danh xưng Tôma khơi gợi về một thái độ, rất riêng tư nhưng cũng rất điển hình, chẳng những không tích cực mà xem ra còn để lại nhiều tai tiếng. Gặp một tâm hồn cứng cỏi trước những biểu cảm của niềm tin, người ta đã khéo ví von “cứng lòng như Tôma”; thấy ai biểu lộ do dự hoặc nghi ngờ trước những sự kiện tôn giáo, người ta đã vội đưa vào gia phả “con cháu thánh Tôma”. Kể cũng oan.

Thật ra, đi liền với danh xưng Tôma lại là một bài học dẫn đến niềm tin, và cũng còn đó lời gọi sống sao cho mối phúc thứ chín, như người ta gọi về lời Chúa Giêsu kết thúc trang Tin Mừng hôm nay “Phúc cho kẻ không thấy mà tin”, được trở thành hiện thực trong đời mỗi Kitô hữu.

1. Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi

Niềm tin của Tôma vào Đấng Phục Sinh là cả một chặng đường trong đó yếu tố trước hết chính là cộng đoàn: “Chúng tôi đã được thấy Chúa”. Chính vì chứng từ của cộng đoàn này mà Tôma đã tự vấn để rồi sau đó mới đi tới đức tin. Ngay việc các môn đồ hội họp vào ngày thứ nhất trong tuần cùng với lời chúc bình an của Đấng Phục Sinh, làm bối cảnh hình thành truyện Tôma, cũng cho thấy vai trò của cộng đoàn trong việc khai sinh đức tin nơi một người.

Nhưng yếu tố chủ động hơn phải được tìm thấy trong phản tỉnh của cá nhân ông. “Nếu tôi không thấy… tôi không tin”. Câu nói tự phát ấy đã trở thành tai tiếng khiến nhiều người nghĩ rằng Tôma là một kẻ cứng đầu cứng cổ, đòi hỏi, nghi ngờ. Nhưng thực ra, ông là người thực tiễn. Chính nhờ ông lên tiếng mà ta mới thấy rõ hơn thế nào là trăn trở của đức tin thuở ban đầu và thế nào là nỗ lực cá nhân làm cho niềm tin có được bản sắc riêng không thể lẫn với người khác. Nếu hôm trước Tôma đòi thấy mới tin, thì tám ngày sau, qua tiếp xúc cá nhân với Đấng Phục Sinh, ông đã tuyên xưng không phải bằng công thức chung nữa, mà bằng một cách rất riêng làm thành đỉnh cao tuyên tín Phục Sinh: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi”.

Và niềm tin chỉ có thể đạt được kết quả khi có yếu tố quyết định chính là hồng ân Thiên Chúa, như một bao trùm từ khởi sự cho đến hoàn thành. Nguyện vọng của Tôma xem ra ngược ngạo, nhưng đã được Đức Giêsu thanh luyện, để cuối cùng khi dâng lời tuyên tín, cũng là lúc ông được dẫn vào một nhận thức mới mẻ hoàn toàn. Thay vì phải thấy mới tin, ông nhận ra rằng phải tin mới thấy trọn vẹn : thấy Đấng Phục sinh và con người Giêsu cũng là một, thấy Đấng Phục sinh rốt cuộc là Chúa và là Thiên Chúa của mình, và thấy niềm tin vượt lên tất cả sẽ trở thành hạnh phúc.

2. Đừng cứng lòng, nhưng hãy tin

Chuyện lòng riêng của Tôma cũng là chuyện lòng chung của muôn lòng tín hữu. Từ nỗi oan Tôma, ngày nay người ta hiểu hơn rằng niềm tin không phải là một yếu tố đơn thuần, mà là một tổng hợp giữa ơn thánh và nghị lực con người, trong đó có cộng đoàn và mỗi cá nhân.

Chỉ dựa vào ơn thánh, người ta có nguy cơ rơi vào thái độ coi mọi sự là bởi Chúa nên không cần phải đào sâu tìm hiểu nữa. Có biết đâu tin như thế là không còn tin nữa, mà một cách nào đó đã là cả tin. Vì tin tất cả nên cả tin, hay vì cả tin nên tin tất cả ? Chỉ dựa vào lý trí, người ta lại có nguy cơ khác là thái độ muốn giới hạn tri thức về thực tại và tiêu chuẩn của kinh nghiệm khả giác hoặc khả năng suy luận : những gì không hiểu, không đo lường sờ chạm, đều bị chối từ. Có biết đâu tin như thế cũng không còn là tin nữa, mà xem ra lại gần với sự bất tín ! Nếu chỉ dựa vào cộng đoàn thôi, người ta còn có thêm một nguy cơ nữa là thái độ tiêu cực. Bên ngoài có vẻ ngoan ngùy, nhưng thực chất là dấu hiệu của một niềm tin hời hợt. Lúc đạo giáo hưng thịnh xem ra không có vấn đề, nhưng khi sự đạo phải bước vào thầm lặng thì biết đâu bởi vì dễ tin nên cũng dễ bỏ niềm tin trước bất cứ ai ?

Thành ra, phải xem trường hợp Tôma như một kinh nghiệm, và cần xem chặng đường niềm tin của ông như một kinh điển cho niềm tin đang dấn bước đi trong cuộc sống. Đừng cứng lòng ! Phải chăng là lời gọi hãy xa đi những thái độ không phù hợp, để chẳng những tránh được khủng hoảng, mà dường như còn nghe lại từng ngày lời ân cần đã một lần ngỏ với Tôma ở cuối chặng đường gặp gỡ: “Nhưng hãy tin !”

3. Phúc cho kẻ không thấy mà tin

Cũng từ nỗi oan Tôma, tín hữu hôm nay cảm nhận hơn niềm vui trong đức tin của mình. Niềm vui của Tôma là được thấy Chúa nên tin, còn niềm vui của đời tín hữu lại là tin để được thấy Chúa. Tin như thế là một hạnh phúc.

Trong hạnh phúc ấy, sau này các tông đồ đã qui tụ cho Chúa những kẻ tin, và những kẻ tin sơ khai đã vui mừng cử hành niềm tin của mình một cách sống động, không những qua nghi thức phụng vụ, mà còn qua cách sống cộng đoàn biết chia sẻ và phục vụ lẫn nhau, và niềm hạnh phúc, cuối cùng, sẽ là sức mạnh chiến thắng.

Nhưng với kẻ tin hôm nay, tất cả vẫn còn ở phía trước. Bổn phận của ta là phải khổ công vun đắp niềm tin của mình sao cho thắm đượm hồng ân Thiên Chúa mà vẫn không quên nỗ lực đóng góp của con người, sao cho chan hòa với nhịp sống cộng đoàn mà vẫn không triệt tiêu bản sắc cá nhân. Và một khi niềm tin muốn khơi dậy niềm tin, thì cái bổn phận kia đã trở thành trách nhiệm loan báo hạnh phúc cho những người đồng thời.

Tuy nhiên, phải thú nhận rằng niềm tin hạnh phúc ấy còn lắm nhạt nhoà. Đó đây trong nhịp sống chung Giáo Hội cũng như trong nếp sống riêng mỗi tín hữu, vẫn có thể có những lúc ngại tin hoặc chậm tin vào điều mình không thấy. Nhất là phải hy sinh những hạnh phúc chính đáng thấy được để vươn đến một thứ hạnh phúc ở ngoài tầm nhìn khả giác. Quả là vất vả. Nhưng chính lúc ấy, Tôma xuất hiện như một người bạn tri âm, như một người thầy đã từng trải nghiệm. Và lời Đức Giêsu nói với ông lại trở thành lời vỗ về đem lại sức mạnh. Nghe trong mối phúc thứ chín có lời dặn dò : muốn thấy điều mình tin, hãy bắt đầu bằng cách tin điều mình không thấy; và chừng như cũng có lời ước hẹn :tin điều mình không thấy sẽ được thấy điều mình tin.

Ngày nay nỗi oan Tôma vẫn còn đó. Một mình ông chịu tai tiếng để sau này người ta biết đường mà tránh. Một mình ông chịu quở là cứng lòng tin để tín hữu hiểu rằng phải vượt trên những điều nhìn thấy mới gặp được lối đi hạnh phúc của niềm tin. Và như thế, liệu ta có thể bảo rằng nỗi oan Tôma là một nỗi oan hạnh phúc ? Cùng với mầu nhiệm đức tin khi bánh rượu được truyền phép hôm nay, ta sẽ lặp lại lời tuyên xưng của Tôma. Để xin thêm đức tin cho những tấm lòng còn nghi ngại, củng cố đức tin cho những người đang yếu đuối, và xin được hạnh phúc cho mọi kẻ tin.




Lời giải đáp VUI HỌC THÁNH KINH
THÁNH TÔMA TÔNG ĐỒ

I. HÌNH TÔ MÀU


* Chủ đề :
Chúa Giêsu hiện ra với Tôma

* Tin Mừng thánh Giaon 20,29

"Vì đã thấy Thầy, nên anh tin.
 Phúc thay những người không thấy mà tin! "

II. TRẮC NGHIỆM

A.
a1. b. Điđymô (Ga 20,24)
a2. d. Môn đệ Tôma (Ga 20,24)
a3. c. Bình an cho anh em (Ga 20,27)
a4. d. Cả a, b và c đúng (Ga 20,25)
a5. b. Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con (Ga 20,28)


B.
b1. a. Song sanh
b2. a. Galilê
b3. d. Cái thước thợ nề
b4. c. Bị đâm bằng giáo
b5. c. Ấn độ



III. Ô CHỮ 

01. Cứng lòng (Ga 20,27)
03. Cạnh sườn (Ga 20,25)
04. Đức Giêsu (Ga 20,26)
05. Ngón tay (Ga 20,25)
06. Bình an (Ga 20,26)
07. Không thấy (Ga 20,29)

Hàng dọc : Lòng tin

NGUYỄN THÁI HÙNG