Trang

Thứ Tư, 1 tháng 3, 2017

Lich sử mùa chay

Lich sử mùa chay
Thứ Tư Lễ Tro đánh dấu bắt đầu vào Mùa Chay, khoảng thời gian này xét mình xưng tội, cầu nguyện và hãm mình trước khi kỷ niệm ngày Chúa Gi su phục sinh.
Ngay từ những ngày đầu tiên của Giáo Hội đã có những bằng chứng về một vài hình thức của việc chuẩn bị Mùa Chay cho lễ Phục Sinh; nhưng khoảng thời gian và bản chất của việc chuẩn bị này đã phải mất nhiều thế kỷ để phát triển, và thậm chí đến ngày hôm nay vẫn còn đang thay đổi.
Vào khoảng đầu thế kỷ II, Thánh Irenaeus, một giám mục có ảnh hưởng lớn và là một nhà truyền giáo, đã viết thư cho Dức giáo hoàng Victor I khiếu nại về việc tranh luận xung quanh về ngày lễ Phục Sinh và nghi thức cùng thời gian ăn chay kéo dài ngày lễ này. Một số giáo hội tôn giáo đã ăn chay có một ngày, một số khác vài ngày, và còn lại một số vẫn giữ 40 giờ (hầu hết dựa vào niềm tin truyền thống rằng Đúc Kitô nằm 40 giờ trong mộ).
Phải hai thế kỷ nữa, trước Hội đồng Nicea (The Council of Nicea) mới đưa ra giải quyết vấn đề của Thánh Irenaeus. Đã được triệu tập bởi Hoàng đế La Mã Constantine vào năm 325, những giám mục tại Nicea đã đưa ra một công thức phức tạp để xếp đặt ngày tháng cho Lễ Phục Sinh là vào ngày Chúa Nhật sau khi lần trăng đầy đầu tiên sau ngày thứ nhất của mùa xuân. Những kinh sách chính thống được nảy sinh từ đó, Hội đồng cũng đã tham chiếu một mùa chay kéo dài 40 ngày cho việc ăn chay.
Từ Mùa Chay (Lent) bắt nguồn từ tiếng Anglo-Saxon, “Lencten”, nghĩa là “mùa xuân” (spring) và từ “Lenctentid” là từ dùng cho tháng Ba (March), là tháng của mùa hãm mình, hy sinh và sám hối.
Tại sao khoảng thời gian 40 ngày được chọn lại không được hiểu một cách hoàn toàn, nhưng các nhà thông thái tin nó được ảnh hưởng bởi những tham khảo Kinh Thánh đối với những ngày ăn chay 40 ngày bởi Moses trên núi Sinai và Đức Kitô trong sa mạc trước khi ngài chăm sóc cộng đồng. Dù sao, vào thời Đức Giáo hoàng Gregory, một nhân vật có uy tín trong thập kỷ cuối cùng của thế kỷ thứ VI, những người Kitô giáo ở La Mã và phương Tây đã tuân theo sáu tuần chay trước Lễ Phục Sinh.
Nhưng việc tính toàn không hoàn toàn chính xác. Đưa ra như vậy, việc ăn chay sẽ xảy ra vào ngày Chúa Nhật – vì ngày Chúa Nhật được xem như lễ kỷ niệm hàng tuần của sự Phục Sinh. Vì vậy, nó là ngày kỷ niệm chứ không phải ngày ăn chay – Sáu tuần ăn chay cộng lai chỉ có 36 ngày, không đủ 40 ngày. Để đúng với điều này, Đức Giáo hoàng Gregory đã dời Mùa Chay bắt đầu vào một ngày thứ Tư.
Gregory cũng đã được cho là khởi đầu hình thành và đã đặt tên ngày đầu của Mùa Chay, “Ngày Tro Tàn” (Day of Ashes) hoặc đơn giản, “Thứ Tư Lễ Tro” (Ash Wednesday). Để bắt đầu mùa ăn chay này và ăn năn sám hối, Gregory đã làm dấu trên trán cộng đồng tôn giáo của mình bằng tro, một biểu tượng Kinh Thánh cho sự sám hối. Đó cũng là điều nhắc nhở cho Kitô hữu thuở xưa về sự chết của họ (“vì bạn là tro bụi, và bạn sẽ phải trở về cùng tro bụi” Genesis 3: 19) và đây là điều cần thiết để chuẩn bị cho sự sống đời sau.
Một thiên niên kỷ rưỡi sau Đức Giáo hoàng Gregory, thời gian nghi thức Mùa Chay vẫn không rõ ràng đối với nhiều người Công Giáo vào lúc đó. Sự rối rắm ngăn chặn từ thực tế do nghi thức gây ra, Mùa Chay kéo dài 44 ngày.
Việc ăn chay 44 ngày theo truyền thống bắt đầu vào thứ Tư Lễ Tro, từ những ngày Chúa Nhật và kéo dài đến đêm trước lễ Phục Sinh. Tuy nhiên, những Chuẩn Mực Chung Cho Năm Nghi Lễ và Lịch, đã được Đức Giáo hoàng Phaolô VI truyền bá vào năm 1969, đã thiết lập những yếu tố hơi khác cho Mùa Chay.
Trở lại với tập quán được tổ chức một thời gian dài trong Giáo Hội, Công Đồng Vatican II đã tái thiết lập ba ngày trước lễ Phục Sinh như một thời gian thiêng liêng tách riêng biệt ra khỏi Mùa Chay, được xem như Vọng Phục Sinh (Sacred Triduum), thời gian ba ngày này với Lễ Tiệc Ly buổi tối của Thiên Chúa (the Lord’s Supper) vào thứ Năm Tuần Thánh, đó là khi mùa Vọng Phục Sinh bắt đầu. Như vậy, từ một bối cảnh nghi lễ, Mùa Chay bắt đầu vào thứ Tư Lễ Tro và kết thúc ngay trước lễ Tiệc Ly vào thứ Năm Tuần Thánh, bắt đầu vọng phục sinh. Và nó bao gồm cả ngày Chúa Nhật, làm cho nó kéo dài thời gian 44 ngày
Bản chất nghi thức Mùa Chay đã thay đổi đáng kể hơn một thiên niên kỷ. Trong khi việc ăn chay dường như luôn có một phần của sự chuẩn bị vượt qua, đã có sự tự chọn lựa nghi thức xung quanh việc ăn kiêng trong những thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội. Một số người Kitô giáo ăn chay hằng ngày trong mùa Phục Sinh; một số khác chỉ ăn một tuần một lần. Nhiều người ăn chay kham khổ hãm mình sống một tuần với một hay hai bữa ăn, nhưng nhiều người nhận thấy rằng giảm một bữa một ngày cũng là một sự hy sinh đầy đủ. Trong khi nhiều người kiêng thịt và rượu, không ăn thức gì ngoài bánh mì khô.
Đức Giáo hoàng Gregory cũng đã cân nhắc vấn đề này. Ngài đã đặt ra điều luật Mùa Chay mà mọi người Kitô giáo buộc phải kiêng thịt và tất cả những thứ làm từ “thịt” chẳng hạn như sữa, chất béo và trứng, và ăn chay có nghĩa là một bữa cơm trong ngày, thường diễn ra vào lúc giữa trưa.
Việc cấm sữa và trứng đã dẫn đến truyền thống của ngày thứ Ba trước lễ Phục Sinh, Lễ này được cử hành trước thứ Tư Lễ Tro. Vào ngày này, những người Kitô giáo có thể được dùng những loại thực phẩm mà họ không được dùng vào Mùa Chay – và bánh rán/ chiên trở nên một bữa ăn toàn sữa và trứng.
Vượt dòng thời gian, đã có những nhượng bộ được thành lập những điều luật xung quanh việc ăn chay, vào thế kỷ XII và XIII, những nhà thẩm quyền Giáo Hội như Thánh Thomas Aquinas bổ sung thêm một lượng “bổ sung” nào đó cho một bữa ăn mỗi ngày, nên được cho phép, đặc biệt đối với những người lao động chân tay. Ăn cá cuối cùng cũng được cho phép, và thậm chí cả việc tiêu thụ thịt và các sản phẩm bơ sữa, miễn là thể hiện những hành động thành tâm để đền bù cho sự xá tội.
Ngày nay, Điều luật của Bộ luật Công Giáo yêu cầu những người ở độ tuổi từ 18 đến 59 ăn chay vào thứ Tư Lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh.
Và việc ăn chay có nghĩa là chỉ ăn no một bữa, với những bữa tạm cho phép hai lần trong ngày (thường vào buổi sáng và buổi tối). Điều này cũng khuyến cáo rằng những người 14 tuổi trở lên ăn chay và kiêng thịt vào ngày thứ Tư Lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh trong thời gian Mùa Chay.
Tuy nhiên, Mùa Chay không đơn thuần chỉ là ăn kiêng. Cầu nguyện, thi ân và công tác từ thiện luôn là việc làm cổ vũ của Giáo Hội và đi Chặng Đường Thánh Giá (Station of the Cross/ Way of the Cross/ Via Crucis) là một dâng hiến Mùa Chay, đó là những ngày tháng trở về thế kỷ IV.
Khách hành hương tới Jerusalem sẽ hồi tưởng những bước chân của Đức Kitô đã đi trên con đường của Người tới Calvary, dừng lại từng nơi một để nguyện cầu. Khi những cuộc Thập Tự chinh vào thời Trung cổ đã ngăn cản những chuyến đi như thế tới Đất Thánh, Chặng Đường Thánh Giá đã được sao chép những phần khác nhau của Âu châu. Những nơi thờ phượng và những dấu hiệu đã được trùng tu với những hình ảnh của Cảm Xúc Nồng Nàn, được đặt trong những tu viện, và trong những thành phố đông người để giúp cho những chuyến hành hương tái hiện. Bây giờ, Mười Bốn Nơi Thương Khó xuất hiện hầu hết trong các giáo đường, và Đi Đàng Thánh Giá là một phần không thể thiếu trong những nghi thức của Mùa Chay.
Những truyền thống và nghi thức Mùa chay được thay đổi, nhưng tất cả đều tựu trung: chuẩn bị cho sự phục sinh của Đức Kitô và Chúa Nhật Phục Sinh. Vào Mùa Chay, chúng ta – những người Công Giáo hãy tập trung suy niệm.
Jos. Tú Nạc, Nguyễn Minh Sơn (Nguồn: The Catholic Register)
Mạng lưới cầu nguyện

Tại sao kiêng thịt mà không kiêng cá?

Tại sao kiêng thịt mà không kiêng cá?
Luật Giáo hội buộc tín hữu phải ăn chay kiêng thịt. Nhưng mà tại sao phải kiêng thịt ? Tại sao phải kiêng thịt mà không kiêng cá, kiêng trứng hay kiêng trái cây ? Ăn thịt có gì xấu không ?
Trước hết, nên lưu ý tới việc sử dụng từ ngữ. Tiếng “ăn chay kiêng thịt” gợi lên cho chúng ta hai điều: một điều cấm (kiêng) và một điều khuyến khích. Điều cấm là kiêng thịt; điều khuyến khích là ăn chay. Chắc quý vị đã biết rằng ở Việt Nam có vài tôn giáo đã hiểu như vậy: ăn chay có nghĩa là ăn đồ chay, những đồ lạt, không mặn. Còn đối với Kitô giáo, ăn chay có nghĩa là kiêng ăn. Như thế, ngoài chuyện kiêng thịt lại còn thêm chuyện kiêng ăn nữa. Vì vậy nếu muốn diễn tả cho đúng tư tưởng thì thay vì nói “ăn chay kiêng thịt”, chúng ta phải nói “kiêng ăn kiêng thịt” hoặc là “chay ăn chay thịt”! Nếu đặt lại vấn đề như vậy thì câu hỏi “tại sao phải kiêng thịt” đã được giải quyết một phần rồi, nghĩa là chúng ta kiêng thịt không phải tại vì thịt nó xấu xa, cũng như chúng ta kiêng ăn không phải tại vì sự ăn uống xấu xa: sự ăn uống cần thiết cho sự sống; nếu ai tuyệt thực hoàn toàn thì sẽ sớm qua bên kia thế giới.
Chúng ta kiêng thịt không phải vì nó xấu; thế thì tại sao lại chỉ kiêng thịt mà không kiêng luôn cả cá nữa ?
Vấn đề kiêng thịt không phải là cái gì riêng của Kitô giáo. Nó đã có một truyền thống lâu đời ở các tôn giáo trên thế giới, tuy với những lý do và động lực khác nhau. Chẳng hạn như các tín đồ Phật giáo kiêng thịt bởi vì họ tin vào thuyết luân hồi: khi giết các súc vật, biết đâu ta đã giết chính ông bà của mình bị phạt đầu thai làm kiếp súc vật. Dĩ nhiên, Kitô giáo đã đặt ra kỷ luật kiêng thịt không phải tại vì tin theo thuyết luân hồi nhưng dựa theo một động lực khác. Trong Cựu ước, ta đã thấy có những luật về kiêng thịt với những chi tiết khá phức tạp, thí dụ trong chương 11 của sách Lê vi, phân biệt những thú vật ô uế với vật tinh tuyền.
Tại sao lại có sự phân biệt giữa các thú vật tinh tuyền với thú vật ô uế ?
Các nhà chú giải Kinh thánh không trả lời được. Có lẽ tác giả của sách Lêvi đã lấy lại một tập tục có từ xa xưa mà không còn ai nhớ rõ gốc gác. Cho dù lý do phân loại thế nào đi chăng nữa, đến khi bước sang Tân ước, ta thấy có những cuộc cách mạng quan trọng. Chúa Giêsu đã xóa bỏ sự phân biệt giữa các vật tinh tuyền và vật ô uế. Sự tinh tuyền và ô uế nằm ở trong lòng của mình chứ thú vật chẳng có tội tình chi cả (Mc 7,15). Tuy nhiên, xem ra các Kitô hữu tiên khởi (phần lớn gốc Do thái) không thể thay đổi não trạng nhanh chóng, thí dụ như ở chương 10 của sách Tông đồ công vụ, ta thấy thánh Phêrô còn sợ chưa dám ăn một vài thứ chim trời đã bị xếp vào hàng ô uế; lật qua chương 15 (câu 20 và 29) ta còn thấy thánh Giacôbê muốn đòi buộc các tín hữu tân tòng phải kiêng tránh vài thức ăn. Nhưng thánh Phaolô đi mạnh mẽ hơn, nhất là vì ngài để ý tới dân ngoại hơn là tới dân Do thái. Thực vậy, thánh Phaolô chấp nhận hoàn toàn giáo lý của đức Kitô, theo đó chẳng có lương thực nào là ô uế hết. Nhưng có một vấn đề được đặt ra là có được ăn đồ cúng hay không? Trong thư gửi Rôma 14,14-16 thánh Phaolô đã phân biệt như thế này: tự nó, đồ cúng hay đồ không cúng chẳng có gì khác nhau, cho nên các tín hữu không phải kiêng cữ. Tuy nhiên, nếu có người non nớt bị vấp phạm vì việc người tín hữu ăn đồ cúng, thì mình phải tránh. Nói khác đi, mình kiêng ăn đồ cúng không phải tại vì nó là đồ ô uế nhưng mà mình phải tránh gây gương xấu cho người anh em mình; đây là một bổn phận thuộc giới răn bác ái yêu thương.
Như vậy, thánh Phaolô khuyến khích chúng ta cứ tha hồ ăn uống, phải không ?
Thánh Phaolô không bao giờ xúi các tín hữu ăn uống say sưa; trái lại, ngài đã hơn một lần khiển trách những người lấy cái bụng làm chúa. Thánh Phaolô chỉ muốn huấn luyện lương tâm của các tín hữu, hãy tìm hiểu cái lý do của các luật lệ, chứ không phải chỉ giữ luật lệ cách máy móc. Tất cả các lương thực đều tốt bởi vì do Chúa dựng nên cho con người. Chúng ta hãy hưởng dụng để ngợi khen Ngài. Việc ăn uống có thể trở thành cơ hội để chúc tụng tạ ơn Chúa như chúng ta đọc thấy ở thư gửi Rôma 14,6. Tuy nhiên, cần có chừng mực. Hơn thế nữa, thánh Phaolô khuyến khích các tín hữu hãy tiến thêm một bước nữa, biết hy sinh cả những cái gì được phép làm: việc kiêng cữ những điều tốt nằm trong chương trình thao luyện tinh thần giống như các lực sĩ tập luyện ở thao trường (1Cr 9,27), nhất là để hoạ theo gương của đức Kitô chịu thụ nạn trên thập giá vì yêu thương chúng ta.
Nhưng nếu đã muốn kiêng khem lương thực thì kiêng hết các món, chứ sao lại chỉ kiêng thịt ?
Như tôi đã nói ở đầu, trong Việt ngữ, vì đã quá quen với thành ngữ “ăn chay kiêng thịt” cho nên chúng ta chỉ giới hạn sự kiêng vào chuyện ăn thịt. Vấn đề kiêng cữ bao hàm việc kiềm chế hết những gì đem lại thỏa mãn thích thú, nhằm giúp cho ý chí chế ngự được bản năng. Theo một vài sử gia, trong những thế kỷ đầu tiên, Giáo hội phải mệt với những phe khắc khổ hơn là với phe phóng túng. Phe khắc khổ đòi Giáo hội phải ra luật buộc tất cả các tín hữu phải giữ chay. Nhưng mà Giáo hội đâu có thể bắt hết mọi người phải trở thành nhà khổ tu được. Mặt khác, trong số các vị khổ tu thời đó, không thiếu những người chịu ảnh hưởng của thuyết ngộ giáo, coi xác thịt và hôn nhân là tội lỗi. Dù sao, việc khổ chế vào những thế kỷ đầu hoàn toàn mang tính cách tự nguyện. Nếu có luật lệ thì cũng chỉ giới hạn cho từng địa phương chứ không bao trùm toàn thể Giáo hội. Việc kiêng khem tuyệt đối thường được dành cho ngày thứ 6 tuần thánh, rồi dần dần kéo dài ra các ngày thứ 6 hằng tuần. Nhưng mà dần dần kỷ luật kiêng khem tuyệt đối (chay ăn) được gia giảm bởi vì nhiều tín hữu phải làm việc lao động nặng nhọc, cần ăn uống để lấy sức. Mức độ châm chế được thay đổi tùy vùng tùy nơi. Bên Trung đông, người ta kiêng cả sữa, bơ, trứng; nhưng mà bên Tây phương, người ta chỉ đòi kiêng thịt. Từ thời Trung cổ, sự khổ chế tự nguyện biến thành khổ chế bắt buộc, nghĩa là trở thành luật buộc. Ngoài ra việc chay tịnh cũng là một hình phạt đền tội dành cho những hối nhân. Việc soạn thảo một bản văn pháp lý đòi hỏi phải xác định tỉ mỉ các chi tiết của nghĩa vụ. Hậu quả là người ta trở lại với não trạng của các luật sĩ vào thời Chúa Giêsu, với đủ thứ vấn nạn được nêu lên: luật kiêng thịt buộc phải kiêng những thứ gì? Có phải kiêng mỡ heo, kiêng sữa bò, tiết canh hay không? Các giống động vật nào phải kiêng: máu nóng hay máu lạnh? thú vật trên bộ hay là dưới nước? Ngan, ngỗng, vịt, lươn, rùa, sò ốc nhái có phải kiêng không? Các chuyên gia về luân lý tha hồ mà nghiên cứu tranh luận về các loại thịt. Tiếc rằng người ta đã mất đi cái động lực của nó là tinh thần khổ chế lúc đầu. Vì thế có cảnh ngược đời là có người mong tới ngày thứ 6 để có dịp đi ăn ở nhà hàng thủy sản thập cẩm. Đối lại là cái cảnh chảy nước mắt của bao dân nghèo phải chi tiền nhiều hơn vào ngày thứ 6, khi mà cá mắc hơn thịt.
Giáo luật ngày nay vẫn giữ nguyên tình trạng như vậy chứ ?
Bộ giáo luật hiện hành vẫn còn duy trì luật kiêng thịt, tuy nhiên với một tinh thần mới của công đồng Vaticanô II mà đức Phaolô VI đã muốn tiêm nhiễm với tông hiến Poenitemini (17/2/1966). Tinh thần đó có thể tóm lại 3 điểm sau: Tiên vàn là phải kiêng những gì xấu xa, tức là kiêng phạm tội; nói khác đi việc chay ăn chay thịt phải được lồng trong tinh thần thống hối cải hoán. Ngoài sự kiêng cái xấu, chúng ta hãy gắng tiến thêm một bước để kiêng cả cái tốt: sự kiêng cái tốt cũng nằm trong tinh thần đền tội và tu đức, để tập kiềm chế những đòi hỏi của bản năng dục vọng. Dưới khía cạnh này, lãnh vực kiêng khem rất là rộng: từ kiêng ăn uống cho tới kiêng thuốc lá, tivi, các thứ tiêu khiển giải trí, các thứ tiêu pha hoang phí. Bước thứ ba nữa là ngoài tính cách tiêu cực (kiêng lánh) cần thêm tính cách tích cực: nhịn ăn nhịn mặc để lấy tiền giúp đỡ người nghèo, tỏ tình tương trợ với người thiếu ăn thiếu mặc. Đó là cái động lực của việc kiêng khem. Các Hội đồng Giám mục sẽ tùy theo hoàn cảnh của mỗi địa phương mà đề ra những hình thái cụ thể trong việc áp dụng luật ăn chay kiêng thịt chiếu theo đ.1251 và 1253 của bộ giáo luật.
Lm. Phan Tấn Thành, O.P.
Nguồn: daminhvn.net

Kết cục của Thế giới


Kết cục của Thế giới

28 Tháng Mười Một 2016
Linh mục Ron Rolheiser, OMI

tranquility

Mọi người cứ luôn mãi dự đoán kết cục của thế giới. Trong Kitô giáo, thời tận thế được liên hệ với những ức đoán về lời hứa của Chúa Giêsu khi Ngài thăng thiên, là Ngài sẽ sớm trở lại và đưa lịch sử đến hồi viên mãn, thiết lập vương quốc bất diệt của Thiên Chúa. Từ đó, đã có nhiều ức đoán về kết cục của thế giới.
Chuyện này đầy dẫy trong thế hệ Kitô hữu đầu tiên. Họ sống trong ma trận những kỳ vọng mãnh liệt, dự tính rằng Chúa Giêsu sẽ trở lại trước khi nhiều người trong họ qua đời. Thật vậy, trong Phúc âm theo thánh Gioan, Chúa Giêsu đã bảo đảm với các môn đệ rằng một số người trong họ sẽ không nếm cái chết trước khi được thấy Nước Thiên Chúa. Ban đầu, điều này được diễn giải là một số người trong họ sẽ không chết trước khi Chúa Giêsu trở lại và ngày tận thế.
Và họ đã sống với kỳ vọng này, tin tưởng rằng thế giới sẽ đến hồi kết trước khi họ chết. Không ngạc nhiên khi điều này dẫn đến những suy tưởng cánh chung: Đâu là những dấu chỉ báo hiệu tận thế? Sẽ có những điềm lạ lớn lao trên mặt trăng và mặt trời? Sẽ có động đất dữ dội và chiến tranh lan tràn khắp thế giới báo trước ngày tận thế? Nhưng các Kitô hữu tiên khởi tin rằng mình phải sống tỉnh thức, cảnh giác, để bất kỳ lúc nào ngày đó đến, họ sẽ không ngủ quên, thiếu chuẩn bị, hoặc chè chén say sưa.
Tuy nhiên, khi năm tháng qua đi, và Chúa Giêsu vẫn chưa tái lâm, thì họ bắt đầu biến đổi cách hiểu, nên đến thời Phúc âm theo thánh Gioan được viết ra, có lẽ khoảng 70 năm sau khi Chúa Giêsu chết, các Kitô hữu tiên khởi bắt đầu hiểu khác đi. Giờ họ hiểu rằng lời hứa của Chúa Giêsu về việc một số người đồng thời với Ngài sẽ không phải nếm cái chết trước khi được thấy Nước Thiên Chúa, đồng nghĩa với người đó được đổ tràn Thần Khí Thiên Chúa. Thật vậy, Chúa Giêsu đã trở lại và thế giới vẫn chưa chấm hết. Và họ bắt đầu tin rằng, ngày tận thế không nhất thiết phải xảy đến.
Nhưng như thế không thay đổi sự tập trung của họ vào việc tỉnh thức và sẵn sàng.  Nhưng giờ lời mời gọi sống tỉnh thức đó được liên hệ nhiều hơn đến chuyện chúng ta không biết giờ nào mình sẽ chết. Như thế, lời mời gọi sống tỉnh thức bắt đầu được hiểu là một lời mời của Chúa muốn chúng ta sống trọn vẹn cuộc đời ngay lúc này và đừng để bị ru ngủ bởi áp lực của cuộc sống thường nhật, đừng chìm trong ăn uống, mua bán, lấy vợ gả chồng. Tất cả mọi sự bình thường, dù tự thân chúng là tốt, nhưng có thể ru ngủ chúng ta bằng cách giữ chúng ta không thật sự lưu tâm đến cuộc đời của mình.
Và đấy là thách thức cho mỗi một người chúng ta. Lo lắng thật sự của chúng ta không nên là chuyện thế giới này đột nhiên tận thế, hoặc việc chúng ta bất thần chết đi. Nhưng điều đáng lo là việc chúng ta sống rồi chết đi, mà không thật sự yêu thương, không thể hiện tình yêu của mình cho úng, và không nếm cảm sâu sắc niềm vui sống đích thực, bởi đang quá vùi mình trong công việc và những áp lực cuộc sống nên không bao giờ sống cho trọn vẹn được.
Do đó, sống tỉnh thức và cảnh giác trong kinh thánh, không phải là việc sống trong sự sợ hãi thế giới này sẽ sụp đổ hay sợ ngày chết. Đúng hơn, đây là vấn đề yêu thương và hòa giải những mối bận tâm chính của mình, là chuyện biết tri ân, cảm kích, kiên quyết, tha thứ, xin lỗi, và lưu tâm hơn đến những niềm vui sống trong cộng đồng nhân loại và trong vòng tay Chúa.
Đức Phật đã cảnh báo về một thứ ngài gọi là “uể oải.”  Chúng ta uể oải là khi chùng người xuống. Bất kỳ những mệt mỏi, lười biếng, khủng hoảng, lo lắng, căng thẳng, hay áp lực quá dộ đều có thể đánh gục trạm gác của chúng ta và biến chúng ta thành uể oải.  Nhưng điều đó cũng có thể xảy đến cách thể lý và tinh thần. Chúng ta có thể để sự bận rộn, áp lực, lo lắng, lười biến, căng thẳng, và bồn chồn đánh gục tư thế tinh thần của mình, để rồi “ngủ thiếp đi” và không còn tỉnh thức cảnh giác nữa.
Chúng ta cần phải tỉnh thức, chứ không phải uể oải. Nhưng đừng lo về chuyện tận thế hay giờ mình sẽ chết. Điều đáng lo là tình trạng của chúng ta khi cái chết tìm đến. Như Kathleen Dowling Singh đã viết trong quyển sách Nét đẹp của Già đi (The Grace in Aging) rằng: “Thật lãng phí khi đi vào giờ hấp hối, mà mang trong đầu những suy nghĩ và phản ứng lo lắng nhỏ nhặt cũ.”
Nhưng còn về chuyện lúc nào sẽ đến ngày tận thế thì sao?
Tôi cho rằng, có lẽ, bởi Thiên Chúa là vô cùng vô tận, nên ngày tận thế sẽ không bao giờ đến. Bởi sự sáng tạo và tình yêu vô hạn có bao giờ có giới hạn đâu? Có bao giờ tình yêu vô hạn nói rằng: ‘Đủ rồi! Thế thôi! Đây là giới hạn của tình yêu và sáng tạo!” Không. Tình yêu và sáng tạo của Thiên Chúa là vô cùng vô tận.
J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Bảy mối tội đầu


Bảy mối tội đầu


André Comte-Sponville, triết gia người Pháp, psychologies.com
Mọi người đều biết bảy mối tội đầu, nhưng với thời buổi này, chúng ta cũng nên cập nhật hóa theo thời sự các mối tội này: đó chính là mục đích của bài viết này.
Đôi khi người ta nhầm lẫn bảy mối tội đầu với mười điều răn. Mười điều răn có từ ngàn năm ở trong Cựu Ước. Đó là mười điều răn được Thiên Chúa truyền cho ông Môsê trên núi Si-nai. Ngoài một vài điều răn có tính cách thuần túy đạo đức (cấm thờ ảnh tượng, thờ đa thần, chứng dối, nghĩ ngày lễ buộc sa-bat vv..), phần còn lại là những điều răn đạo đức căn bản mà các tôn giáo khác đều có: Thảo kính cha mẹ, không giết người, không ngoại tình, không ăn cắp, không tham của người, không lấy vợ người …
Cũng đừng lầm lẫn tội hàng đầu và tội trọng. Tội hàng đầu là tội mà khi vấp phải thì làm cho mình vấp theo các tội khác. Tội trọng là tội làm cho mình xa Chúa: tội này chỉ được tha thứ khi mình đi xưng tội.
Bảy mối tội đầu dự phần trong truyền thống đạo đức và thiêng liêng của chúng ta. Ai cũng biết có bảy tội, nhưng đa số chúng ta không kể ra trọn vẹn được bảy tội. Vào cuối thế kỷ thứ VI, giáo hoàng Grégoire le Grand ấn định bảy tội: kiêu ngạo, hà tiện, dâm dục, tham lam, tham ăn, giận dữ, lười biếng. Từ lâu chúng ta không còn thấy đó là những lỗi lầm lớn nhất, cũng không còn thấy đó là những điều đáng ghét. Thời buổi này chúng ta có những tội khác đáng đánh đòn hơn.
Điều đó không có nghĩa đối với những người thời nay, chúng ta mất hết khái niệm về tội. Với những người còn tin Chúa, tội, trước hết là việc xúc phạm đến Chúa; nhưng đối với những người không tin, tội cũng là điều xúc phạm đến đạo đức mà mình xét thấy khá nặng để mình có thể tự lên án hay đi lên án người khác. Phạm tội, là cố ý làm điều xấu, là xúc phạm đến Chúa và đến nhân loại, ai dám cho mình là chưa bao giờ phạm?
Suy nghĩ lại các tội hàng đầu sẽ giúp chúng ta nhìn thấy điều này một cách rõ ràng hơn. Nhưng cũng nên cập nhật hóa danh sách các mối tội này: đó chính là mục đích của bài viết này.
  1. Ích kỷ
Thế nào là tội hàng đầu? Tội hàng đầu không bắt buộc phải là tội nặng hơn các tội khác, nhưng là một tội mà khi vi phạm thì kéo theo các tội khác. Đó là tội đứng đầu danh sách (péché capital: capital có nguồn gốc từ chữ latinh caput, là cái đầu), người ta có thể nói tội hàng đầu giống như một trong các nguồn cội của sự dữ.
Tội đầu tiên vừa được tìm thấy. Tại sao chúng ta làm điều xấu? Chỉ vì do độc ác? Chưa hẳn vậy. Thường thường chúng ta làm điều xấu để có một điều tốt. Đó là một trong những điểm, thật ra thì cũng chẳng có nhiều điểm, mà tôi đồng ý với triết gia Kant: con người không độc ác (họ không làm điều xấu chỉ vì điều đó xấu), nhưng con người không tốt (vì con người làm điều xấu là để cho người khác được tốt). Vì vậy, ích kỷ là nền móng của mọi sự xấu, mà ngày xưa Kant đã nói, và theo tôi, đó là tội đầu tiên của các mối tội. Đó là bất công ở ngôi vị thứ nhất. Triết gia Pháp Pascal đã giải thích, bởi vì “cái tôi là bất chính khi tôi là tâm điểm của mọi sự: mỗi cái tôi là kẻ thù và cũng là tên bạo chúa đối với tất cả các người khác”. Người ta chỉ làm điều xấu vì lợi ích riêng của mình. Con người chỉ xấu vì nó ích kỷ.
  1. Độc ác
“Còn tính bạo tàn thì sao? Thỉnh thoảng các sinh viên hỏi tôi như thế. Có phải con người không làm điều xấu vì điều đó xấu”? Không phải như vậy: họ làm điều xấu cho người khác, vì điều này làm họ vui; vậy, đối với họ, lạc thú của họ là điều tốt… Tính bạo tàn không những nó còn đó, mà chắc chắn, nó còn là lỗi lầm nặng nhất kéo theo nhiều lỗi lầm khác. Cho nên, đã đến lúc chúng ta phải xem nó như tội hàng đầu. Làm sao để định nghĩa nó? Đó là sở thích hay ý thích muốn làm người khác đau khổ về mặt thể lý hay về mặt tâm lý (sách nhiễu tinh thần). Tính bạo tàn là hỗn hợp pha trộn của khắc nghiệt, tàn nhẫn và tính khoái tàn ác, nhiều lúc có thể đưa đến man rợ: đó là phạm tội chống lại với lòng thương xót, chống với sự dịu hiền, chống với lòng nhân, theo nghĩa có lòng nhân là một đức tính. Đó là tội của người tra tấn, mà cũng là tội của ông chủ xấu xa, của người bạo tàn hay người đểu giã, thích thú thấy nạn nhân của mình rên la.
  1. Hèn nhát
Tội hàng đầu thứ ba: tội hèn nhát. Bởi vì không một đức tính nào, không một điều tốt nào có thể làm được mà không cần đến lòng can đảm. Bởi vì đứng trước hiểm nguy, hèn nhát là một loại ích kỷ. Nói cho cùng, đa số các hành vi xấu, dù cho là những hành vi tệ hại nhất, ngoại trừ tính tàn bạo là một ngoại lệ, thì người ta có thể giải thích con người làm điều xấu chỉ vì sợ sẽ bị khổ thêm, chứ không phải làm vì muốn làm khổ người khác. Có bao nhiêu người canh tù nhân ở các trại tập trung sẽ thích được ở nhà yên ổn thay vì phải làm công việc cay đắng này? Nhưng họ không có can đảm để vắng mặt, để bất tuân lệnh, để phản kháng… Như vậy, họ làm chuyện xấu một cách hèn nhát, một cách có ý thức và có hiệu quả. Không có gì biện minh cho điều này được. Làm tội là không biện minh được. Nhưng điều này cho biết họ là thành phần đa số, hiếm có những người tồi tệ, phần đông là những người hèn nhát và ích kỷ, mà trong một trạng huống này hay trạng huống nọ, họ không biết cưỡng lại khuynh hướng của thời đại hay của thứ loài. Nữ triết gia Hannah Arendt nói đó là cái tầm thường của sự xấu: tính tàn bạo là ngoại lệ; ích kỷ và hèn nhát là khuôn khổ.
  1. Ác ý
Mình có thể đứng thẳng để nhìn mình trong gương mà không cần nương tựa vào ai không? Đến một chừng mực nào đó mà sự nhục nhã, hay đơn giản chỉ là cái tầm thường đã làm cho con người khó mà không nói dối với chính mình. Vì thế, ác ý là một tội chính: bởi vì nó làm cho các việc gian quấy trở thành có thể thực hiện được khi mình che giấu hay khéo biện minh bằng các lời biện minh giả tạo. Ví dụ, sau Thế chiến Thứ hai, tên đồ tể Eichmann, một công chức tận tụy trong trại tập trung ở Đức, đã khai với quan tòa ông chỉ biết vâng lệnh cấp trên. Hay người đi hiếp dâm khai anh chỉ tuân theo các xung động của anh. Hay hành động hèn hạ thường tình khi giải thích lỗi lầm của mình phạm là do thời thơ ấu, do vô thức, do loạn thần kinh … Thật là gọn tiện. Quá gọn tiện. Theo triết gia Pháp Sartre, có ác ý, đó là làm như mình không có tự do, mình không có trách nhiệm; trong khi mình có tự do, mình có trách nhiệm, tối thiểu là trong các hành vi, trong các chọn lựa của mình. Trong một nghĩa thường tình nhất, đó cũng là nói dối người khác. Nhưng thường thường vẫn chỉ là một nguyên tắc: người ta nói dối để che giấu lỗi của mình, để biện minh hay để gán một giá trị mà mình không có… Ai bỏ được tật nói dối – với chính mình và với người khác -, ai ngưng làm bộ, thì họ chỉ còn chọn lựa giữa đức hạnh và sỉ nhục. Một chọn lựa đau khổ mà lòng ác ý nhắm để hỗ trợ chúng ta: đó là tự cho phép làm điều xấu bắng cách tự cho phép che giấu nó.
  1. Tự đủ
Đến ngang đây, tôi vẫn chưa đề cập đến tội nào trong bảy mối tội đầu. Dù không ở trong danh sách chính thức, tội mà tôi muốn đề cập đến đây cũng không xa mấy cái tội mà các Tổ Phụ trong sa mạc gọi là kiêu ngạo. Kiêu ngạo chỉ là một khiếm khuyết thường tình nhất và sâu xa nhất. Tỏ ra mình tự đủ, đó không những chỉ là kiêu ngạo; mà còn tự phụ, hợm mình, vênh vang, cho mình là đáng kể, tự mãn, tự cao … Đó là tội của thằng ngốc tự phụ, tôi ít biết mấy loại này nơi những người thông minh hay những người đáng ghét nhất. Nhưng thường thường đó là cái tội làm đầu mối cho việc lạm dụng quyền lực, khai thác trục lợi người khác, cố ý thù hận hay khinh thường người khác, đó là không kể đến kỳ thị chủng tộc và kỳ thị giới tính của mình. Người Da Trắng cho mình là một chủng tộc cao, người hung bạo tự hào về nam tính, những người này không những kỳ cục mà còn nguy hiểm, đó là lý do vì sao người ta cùng đồng lòng nên chiến đấu chống lại họ. Kẻ ghét người thì không đáng sợ: vì anh không tự cho mình là người ngoại lệ và chính anh, anh tự biết anh cũng không đủ…
  1. Cuồng tín
Đứng về mặt tư tưởng thì tự đủ sẽ trở nên cuồng tín. Đó là chủ nghĩa độc đoán có tính cách hận thù và hung bạo vì họ quá tin chắc vào sự thật của mình để có thể dung thứ sự thật của người khác. Không những là không dung thứ: họ còn muốn cấm đoán hay loại bỏ bằng vũ lực những gì người khác không đồng ý hay nói họ sai. Lúc nào và ở đâu, người ta cũng đều thấy hậu quả của nó: các cuộc thanh toán đẫm máu, chiến tranh tôn giáo, bắt bớ, khủng bố, độc tài … Người ta chỉ làm chuyện xấu để có chuyện tốt, tôi tự nhủ, và người ta sẽ cho phép mình làm các điều càng xấu bao nhiêu cũng được để điều tốt càng có vẻ lớn hơn bấy nhiêu. Còn hơn là thích thú, họ hăng say làm. Đó là điều mà người ta cố ý gây ra thảm sát vì Thượng Đế chứ không phải vì mình, vì hạnh phúc nhân loại chứ không phải hạnh phúc của mình “Các bạn hãy giết tất cả, Thiên Chúa hay Lịch Sử sẽ biết người nào là người của mình …” Cuồng tín, tội ác tập thể. Đó là tội làm đầy các trại tập trung và đốt cháy các dàn thiêu.
  1. Nhu nhược
Vì tôi cũng phải chọn cho tôi một danh sách bảy tội hàng đầu, nên tôi cũng giữ lại ở đây một trong các tội xưa cũ: tội mà tôi gọi là nhu nhược thì nói chung cũng giống như tội lười biếng. Nhu nhược là gì? Đó là hỗn hợp của tính nhu nhược và thích làm vui lòng, của tính yếu đuối và tự yêu mình: đó là không có khả năng tự áp đặt một cái gì cho chính mình, làm một cố gắng lâu bền hơn, nén mình, vượt lên và vươn lên … Nhu nhược, không những là thiếu năng lực: đó là thiếu ý chí và thiếu đòi hỏi. Nơi cái gì làm một tội thành một tội hàng đầu? Nơi cái này, nhu nhược kéo theo nhiều tội khác: cư xử thô tục, đó là nhu nhược trong cung cách ứng xử; vô trách nhiệm, đó là nhu nhược đối với người khác hay đối với các bổn phận của mình; tinh thần hèn hạ, đó là nhu nhược đối với người có quyền; mị dân, đó là nhu nhược đối với dân chúng … Văn hào người Pháp André Gide đã nói “Phải đi theo dòng đời, nhưng phải đi lên.” Nhu nhược là người thích đi xuống.
Đó là bảy tội mà đối với tôi, đó là bảy mối tội hàng đầu của thời buổi này. Tôi xin lặp lại, không bắt buộc đó phải là bảy tội nặng nhất, nhưng theo tôi, đó là tội điều khiển hay có thể giải thích tất cả các tội khác. Điều đó lại cũng làm mở đường cho nhiều đức hạnh khác. Để kết thúc, chúng ta thử nêu ra đây một vài đức hạnh.
– Để chống với ích kỷ? Lòng đại lượng, công chính và tình yêu.
– Để chống với độc ác? Thái độ dịu dàng và lòng thương xót.
– Để chống lại với hèn nhát? Lòng can đảm.
– Để chống lại với ác ý? Đó là thiện ý, là tình yêu cho sự thật.
– Để chống lại với thói tự đủ? Lòng khiêm tốn, tính đơn sơ, óc hài hước.
– Để chống lại với cuồng tín? Lòng khoan dung.
– Để chống lại với nhu nhược? Ý chí. Ý chí có phải là một đức tính? Tôi không biết. Nhưng không có một đức tính nào được trau dồi mà không cần đến ý chí.
Marta An Nguyễn chuyển dịch

Đức Giáo hoàng trả lời phỏng vấn của tạp chí Sneaker của “người vô gia cư”

Đc Giáo hoàng tr li phng vn ca tp chí Sneaker ca “người vô gia cư

Tạp chí “Scarp de’ tenis” (Sneaker) số ra ngày 28/02 hôm nay, có đăng cuộc phỏng vấn Đức Giáo hoàng về nhiều vấn đề. “Scarp de’ tenis” là tạp chí tiếng Ý do những người vô gia cư điều hành.

Tạp chí “Scarp de’ tenis” cũng hoạt động như một dự án xã hội, với phần lớn ban điều hành là người vô gia cư, bị đau khổ bởi những hoàn cảnh khó khăn cá nhân hay những hình thức kỳ thị loại trừ của xã hội. Tạp chí cũng là nguồn thu nhập chính của phần lớn cộng tác viên.

Trong cuộc phỏng vấn, Đức Giáo hoàng Phanxicô giải thích những sáng kiến mới đây để giúp người tị nạn, như là cung cấp nơi trú ngụ trong Vatican. Ngài đã giải thích cho thấy sáng kiến đón tiếp người vô gia cư đã được các giáo xứ ở Roma tham gia nhiệt tình thế nào. Ngài cho biết có hai giáo xứ ở Vatican đều nhận người Syria và nhiều giáo xứ ở roma cũng đã trả tiền nhà cho các gia đình nghèo khổ suốt một năm.

Trong cuộc phỏng vấn, Đức Giáo hoàng thường nói đến ý tưởng đi bằng chiếc giày của người khác. Theo ngài, đi bằng giày người khác là cách để mình thoát ra khỏi sự ích kỷ, vì chúng ta học hiểu biết những tình cảnh khó khăn. Ngài khẳng định rằng lời nói không thì chưa đủ, nhưng sự vĩ đại là đi bằng đôi giày của người khác. Ngài chia sẻ: “Tôi thường gặp một người, sau khi đã tìm sự an ủi nơi các Kitô hữu, có thể là một giáo dân, một Linh mục, một nữ tu hay Giám mục, họ nói với tôi là ‘họ lắng nghe tôi nhưng họ không hiểu tôi.’”
Đức Giáo hoàng cũng nói đùa về thái độ của dân chúng về việc cho tiền những người sống trên đường phố. Ngài kể là nhiều người quyết định không cho tiền, vì họ chỉ dùng nó để uống rượu. Nhưng Đức Giáo hoàng nói đùa: “Ly rượu là điều hạnh phúc duy nhất của họ trong cuộc sống!”

Nói về lòng quảng đại, Đức Giáo hoàng kể một câu chuyện thời ngài còn ở Buenos Aires, về bà mẹ có 5 đứa con. Khi người cha đang đi làm, còn cả nhà đang ăn trưa, thì một người vô gia cư đến xin ăn. Thay vì dạy các con lấy phần ăn để dành cho người cha để cho người hành khất, bà mẹ dạy các con cho một ít phần ăn của chúng. Và Đức Giáo hoàng khẳng định: “Nếu chúng ta muốn cho, chúng ta phải cho những gì là của chúng ta!”

Nói về vấn đề giới hạn số người tị nạn và di cư, đầu tiên Đức Giáo hoàng nhắc các độc giả của ngài rằng nhiều người trong số những người đang đến đất nước chúng ta là những người chạy trốn khỏi chiến tranh và đói kém. Tất cả chúng ta ở trên thế giới này là một phần của tình cảnh này và cần tìm cách giúp những người xung quanh chúng ta.

Ngài nói đến 13 người tị nạn đến từ đảo Lesbos và đã hòa nhập tốt vào xã hội, các trẻ em được đi học và các phụ huynh tìm được việc làm. Theo ngài, đó là gương mẫu cho người nhập cư muốn hòa nhập vào và đóng góp cho quốc gia mới và đạt được ước mơ.

Đức Giáo hoàng nhắc đến Thụy điển, quốc gia có gần 10% dân số là người nhập cư, để minh chứng cho vấn đề nhập cư. Trong những năm dưới chế độ độc tài ở Argentina, ngài đã thường nhìn đến Thụy điển như là ví dụ tích cực cho sự hội nhập. (RV 28/02/2017)
Hồng Thủy

GĐPV : Trong Thánh lễ, Sách lễ được đặt trên bàn thờ lúc nào?

Giải đáp phụng vụ: Trong Thánh lễ, Sách lễ được đặt trên bàn thờ lúc nào?
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Nhiều ảnh chụp được công bố cho thấy Đức Giáo Hoàng giảng trong Thánh Lễ hàng ngày của mình từ giảng đài, có lẽ sau khi đọc bài Tin Mừng, nhưng trong hậu cảnh có thể thấy rằng Sách lễ bàn thờ đã được đặt trên bàn thờ. Thưa cha, theo con biết, Sách lễ bàn thờ không được đặt trên bàn thờ, cho đến khi bàn thờ được chuẩn bị cho phần dâng lễ vật. Con nói vậy có đúng không? Thật không may, xu hướng đặt Sách lễ bàn thờ trên bàn thờ, trước khi Thánh Lễ bắt đầu, đang là một trong các lỗi thường gặp nhất, mà con nhìn thấy hầu hết ở các nơi con đi! – B. C., Birmingham, Vương quốc Anh.


Đáp: Qui chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma nói như sau:

"139. Sau lời nguyện cho mọi người, mọi người ngồi và bắt đầu hát ca tiến lễ (x. số 74), nếu có rước lễ phẩm. Thầy giúp lễ hay một thừa tác viên giáo dân khác đem khăn thánh, khăn lau chén, chén thánh và Sách Lễ đặt trên bàn thờ.

"306. Trên bàn thờ chỉ đặt những gì mà việc cử hành Thánh Lễ đòi hỏi, nghĩa là, sách Tin Mừng từ đầu cử hành cho đến khi công bố Tin Mừng, chén thánh với đĩa, bình thánh, nếu cần, khăn thánh, khăn lau và Sách Lễ từ lúc trình lễ phẩm cho đến khi tráng chén. Phải đặt cách kín đáo những gì cần khuếch âm tiếng của vị tư tế” (Bản dịch Việt ngữ của linh mục Phanxicô Xavier Nguyễn Chí Cần, Giáo phận Nha Trang).

Tuy nhiên, có một ngoại lệ duy nhất của luật này, vốn là dành cho Thánh Lễ chỉ có một người giúp:

"256. Vị tư tế, sau khi cúi sâu chào bàn thờ, đứng trước bàn thờ, làm dấu thánh giá, và nói: "Nhân danh Chúa Cha"; đoạn quay chào người giúp bằng một trong các công thức đề nghị; rồi làm việc thống hối.

“257. Sau đó ngài tiến lên bàn thờ và hôn bàn thờ, đoạn đến bên Sách Lễ phía trái bàn thờ và đứng ở đó cho đến hết lời nguyện cho mọi người.

“258. Sau đó ngài đọc ca nhập lễ, và kinh "Lạy Chúa, xin thương xót" và "Vinh danh", theo luật chữ đỏ" (Bản dịch, như trên).

Do đó, theo tôi nghĩ, Qui chế tổng quát Sách lễ Rôma là khá rõ ràng. Trong hầu hết các Thánh lễ, Sách lễ không được đặt trên bàn thờ, cho đến khi trình lễ phẩm. Chúng tôi phải nêu ra rằng Sách lễ cũng giả định sự hiện diện của các người giúp cần thiết, để thực hiện các công việc được mô tả.

Tại tất cả các Thánh Lễ Giáo hoàng, các qui chế này cũng được tuân giữ với độ chính xác lớn.

Tuy nhiên, các Thánh Lễ tại nhà Santa Marta là ít trang trọng hơn; thường không có người giúp hoặc phó tế, và tất cả các linh mục hiện diện đồng tế với Đức Thánh Cha. Nhà nguyện cũng tương đối nhỏ, và đã không được thiết kế với loại hình sử dụng trọng thể.

Hơn nữa, các nhóm người tham dự Thánh Lễ này là khác nhau mỗi ngày, và đến nhà nguyện ngay trước khi Thánh Lễ bắt đầu. Do đó, không dễ dàng để sắp xếp Thánh lễ thường xuyên như được thực hiện trong khung cảnh giáo xứ.

Khi nhìn các hình chụp, có thể thấy rằng dường như Đức Thánh Cha thường sử dụng hai Sách lễ, một tại một bục đọc sách của vị chủ tọa, và một trên bàn thờ. Bằng cách này, sự phân biệt rõ ràng giữa các phần khác nhau của Thánh Lễ được giữ lại.

Tôi có thể nói rằng trong khi thật là tốt hơn để cố gắng giữ cho bàn thờ trống trải cho đến khi trình lễ phẩm, các hoàn cảnh cụ thể của việc cử hành Thánh lễ mỗi ngày có thể tạo ra một cái gì đó trở ngại, để làm như vậy.

Cuối cùng, điều quan trọng là hãy nhớ rằng các cử hành nhỏ trong nhà nguyện này không nhằm cung cấp một mẫu gương cho phần còn lại của Giáo Hội. Ngay cả các cử hành Thánh lễ lớn của Đức Giáo Hoàng, vốn được chuẩn bị trong từng chi tiết, phải chú ý đến số lượng người tham dự đông, từ 15.000 người trở lên. Do đó, các chưởng nghi Giáo hoàng của buổi lễ đôi khi phải tìm kiếm các giải pháp, vốn không được quy định trong các sách phụng vụ, trong khi vẫn tôn trọng sự thánh thiêng của nghi thức.

Còn các người phụ trách chuẩn bị các cử hành phụng vụ trong bối cảnh giáo xứ thường xuyên, nên tuân theo hướng dẫn của các sách phụng vụ đã được phê duyệt, và các văn bản chính thức khác ở cấp hoàn vũ, quốc gia hay địa phương. (Zenit.org 28-2-2017)

Nguyễn Trọng Đa

40 ngày mùa Chay được tính thế nào?

40 ngày mùa Chay được tính thế nào?

40 ngày mùa Chay được tính thế nào? Mùa Chay bt đu khi nào? Ngày c hành L Phc Sinh hàng năm được tính toán thế nào?
H. 40 ngày mùa Chay được tính thế nào?

Thời gian mùa chay trước lễ Phục Sinh thường được gọi là 40 ngày chay tịnh, nhưng thực ra có 46 ngày tính từ thứ 4 lễ Tro cho tới Chúa Nhật Phục Sinh. Vậy tại sao chỉ nói có 40 ngày?

T. Chúng ta cần trở ngược lại thời sơ khai của Giáo Hội, các môn đệ đầu tiên là những người Do Thái vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm về tầm quan trọng của ngày Sabat, vẫn được xem là ngày thứ 7. Bởi vì ngày Sabat được ghi trong sách Khởi Nguyên là thời gian để nghỉ ngơi và thờ phượng. Tuy nhiên Chúa Ki-tô lại phục sinh vào Chúa Nhật, ngày thứ nhất trong tuần. Chính các tông đồ và các ki-tô hữu đầu tiên đã thấy được rằng sự Phục Sinh là một cuộc sáng tạo mới nên họ chuyển ngày Sabat sang Chúa Nhật chứ không là còn là thứ 7 như quan niệm của Do Thái nữa.

Đối với Ki-tô giáo, mọi Chúa Nhật đều là những ngày cử hành sự phục sinh của Chúa Ki-tô, các tín hữu không được ăn chay, và làm những hình thức đền tội trong các ngày này. Các Chúa Nhật không được tính vào thời gian chay tịnh mùa Chay.

Vậy để có được 40 ngày chay tịnh như Chúa Giê-su, mùa Chay bao gồm 6 tuần lễ với 6 ngày ăn chay trong tuần, cộng với 4 ngày từ thứ tư lễ Tro cho tới thứ 7 trước Chúa Nhật thứ nhất mùa Chay. 36 + 4 = 40.

H. Mùa Chay bắt đầu khi nào?

Mùa Chay được bắt đầu với thứ tư lễ Tro trước lễ Phục Sinh 46 ngày. Tuy nhiên, vì lễ Phục Sinh không được ấn định vào một ngày cố định cho mỗi năm, do vậy, phải biết cách tính lễ Phục Sinh theo Tây lịch.

H. Ngày cử hành Lễ Phục Sinh hàng năm được tính toán thế nào?

T. Lễ Phục Sinh không có một ngày cử hành nhất định hàng năm như lễ Giáng Sinh với ngày 25-12. Công đồng Nicea (325) ấn định ngày lễ Phục Sinh hàng năm là Chúa Nhật thứ nhất kể từ ngày rằm đầu tiên của tiết xuân phân. Tưởng cũng nên biết rằng lễ vượt qua của Do thái là ngày 14 tháng Nissan, tức là trước ngày trăng tròn của tiết xuân phân. Và các giáo hội Đông phương cũng lấy ngày này để mừng lễ Phục Sinh.

Để có thể tính được ngày lễ Phục Sinh hàng năm của Công Giáo, cần đi theo trình tự sau:
- ngày xuân phân hàng năm là 21-3 (theo tây lịch)
- ngày trăng tròn (ngày 15 theo âm lịch) đầu tiên sau ngày 21-3 này
- Chúa Nhật thứ nhất tính từ ngày trăng tròn này, đó là Chúa Nhật Phục Sinh.

Lm. Pr. Nguyễn Đức ThắngGP.Long Xuyên