Trang

Thứ Bảy, 2 tháng 9, 2017

Nguyên văn bài diễn văn của Đức Phanxicô về Phụng Vụ: Cuộc cải tổ Phụng Vụ của Vatican II là không thể đảo ngược.

Nguyên văn bài diễn văn của Đức Phanxicô về Phụng Vụ: Cuộc cải tổ Phụng Vụ của Vatican II là không thể đảo ngược.


 
Tác giả: 
 Vũ Văn An

Ngày 24 tháng Tám vừa qua, lúc 12 giờ trưa, Đức Phanxicô đã tiếp kiến, tại Hội Trường Phaolô VI, các tham dự viên của Tuần Lễ Phụng Vụ Toàn Quốc Ý lần thứ 68. Chủ đề của Tuần Lễ Phụng Vụ năm nay là “Một Phụng Vụ Sống Động cho Một Giáo Hội Sống Động.

Nhân dịp này, Đức Phanxicô tuyên bố một cách long trọng rằng cuộc cải tổ phụng vụ của Vatican II là không thể đảo ngược. Ngài nói: “Chúng ta có thể quả quyết một cách chắc chắn và với thế giá của huấn quyền rằng cuộc cải tổ phụng vụ là đièu không thể đảo ngược được”.

Sau đây là nguyên văn bài diễn văn dựa vào bản tiếng Anh của Hãng Tin Zenit: 


Anh chị em thân mến, chào anh chị em buổi sáng!

Tôi chào mừng tất cả anh chị em và xin cám ơn vị Chủ Tịch, Đức Cha Claudio Maniago, về những lời ngài trình bầy về Tuần Lễ Phụng Vụ Toàn Quốc, kỷ niệm 70 năm ngày ra đời của Trung Tâm Hoạt Động Phụng Vụ.

Khoảng thời gian trên là một thời kỳ, trong đó, trong lịch sử Giáo Hội, và, cách riêng, trong lịch sử phụng vụ, các biến cố chủ yếu chứ không hời hợt đã diễn ra. Công Đồng Vatican II sẽ không thể bị quên lãng thế nào thì cuộc cải tổ phụng vụ cũng sẽ được tưởng nhớ như thế vì nó từ đó mà có.

Công Đồng và cuộc cải tổ là các biến cố trực tiếp liên kết với nhau, các biến cố không bỗng chốc đơm bông mà đã được chuẩn bị từ lâu. Nó đã được chứng nghiệm bởi điều được gọi là phong trào phụng vụ, và các câu giải đáp do Các Vị Giám Mục Tối Cao đưa ra để trả lời các khó khăn được tri cảm trong việc cầu nguyện trong Giáo Hội. Khi một nhu cầu được ghi nhận, dù giải pháp chưa tức thì có đó, vẫn có nhu cầu phải bắt đầu hành động.

Tôi nghĩ tới Đức Piô X, đấng đã truyền lệnh phải sắp xếp lại nền âm nhạc thánh (1) và việc phục hồi cử hành ngày Chúa Nhật (2); ngài còn lập một Ủy Ban để cải tổ tổng quát nền phụng vụ, vì biết rằng nó sẽ có bao hàm một công việc vừa dài vừa ngắn hạn; và do đó, như chính ngài thừa nhận, cần phải nhiều năm qua đi, trước khi tòa nhà phụng vụ này, có thể nói như thế, […] tái hiện sáng chói trong phẩm giá và sự hoà hợp của nó, khi đã được thanh tẩy khỏi mọi vết nhăn của tuổi già” (3).

Đức Piô XII đã tiếp nối dự án cải tổ với Thông Điệp Mediator Dei (4) và lập ra một Ủy Ban Nghiên Cứu (5); ngài cũng đưa ra nhiều quyết định cụ thể liên quan đến sách Thánh Vịnh (6), giảm chay trước khi Rước Lễ, sử dụng sinh ngữ trong Nghi Thức, cải tổ quan trọng Lễ Vọng Phục Sinh và Tuần Thánh (7). Từ thúc đẩy này, theo gương nhiều dân tộc khác, Trung Tâm Hoạt Động Phụng Vụ đã xuất hiện tại Ý, được hướng dẫn bởi các vị giám mục biết lo lắng cho những người đã được ủy thác cho mình và được sinh động hóa nhờ các học giả biết yêu mến Giáo Hội cũng như nền mục vụ phụng vụ.

Rồi Công Đồng Vatican II đã hoàn thiện Hiến Chế về phụng vụ thánh Sacrosanctum Concilium (SC) như hoa trái tốt lành của cây Giáo Hội; các đường hướng cải tổ tổng quát của hiến chế này đáp ứng các nhu cầu có thực và niềm hy vọng cụ thể về một cuộc canh tân: một phụng vụ sống động được mong ước cho một Giáo Hội vốn được lên sinh lực nhờ các mầu nhiệm được cử hành. Đây là việc nói lên một cách mới mẻ sinh lực muôn thuở của Giáo Hội cầu nguyện, Giáo Hội hằng bận tâm lo cho các Kitô hữu “tham dự vào mầu nhiệm đức tin ấy, không như những khách bàng quan, câm lặng, nhưng là những người thấu đáo mầu nhiệm đó nhờ các nghi lễ và kinh nguyện: họ tham dự hoạt động thánh một cách ý thức, thành kính và linh động” (SC, 48). Chân Phúc Phaolô VI đã nhắc lại điều vừa rồi khi giải thích các biện pháp đầu tiên của cuộc cải tổ mới được công bố: "Nên cảnh giác điều này: thích đáng biết bao nếu thẩm quyền của Giáo Hội mong muốn, cổ vũ, đề xướng lối cầu nguyện mới mẻ này, nhờ thế đem lại một sự gia tăng lớn lao hơn cho sứ mệnh thiêng liêng của Giáo Hội […]; và ta không nên do dự trong việc tự làm cho mình trước nhất trở thành các môn đệ và sau đó trở thành các người yểm trợ trường cầu nguyện đang khởi sự bắt đầu này” (8).

Hướng đi do Công Đồng vạch ra đã tìm được hình thức của nó, một hình thức phù hợp với nguyên tắc vừa kính trọng truyền thống lành mạnh vừa kính trọng sự tiến bộ chính đáng; hình thức này được tìm thấy nơi các sách phụng vụ do Chân Phúc Phaolô VI công bố, và được tiếp nhận một cách nồng nhiệt bởi các vị giám mục hiện diện tại Công Đồng, và cho tới nay trong gần 50 năm được sử dụng trong Nghi Lễ Rôma. Việc áp dụng thực tế cho từng quốc gia liên hệ, dưới sự hướng dẫn của các hội đồng giám mục, vẫn thịnh hành, vì để canh tân não trạng, cải cách các sách phụng vụ mà thôi không đủ. Phù hợp với qui phạm trong các sắc lệnh của Công Đồng, các sách cải tổ đã khắc ghi một diễn trình đòi hỏi thì giờ, trung thành tiếp nhận, thực tiễn vâng lời, thi hành việc cử hành khôn ngoan, trước nhất, từ phiá các thừa tác viên thụ phong, nhưng cũng từ phía các thừa tác viên khác, các lĩnh xướng viên (cantor), và tất cả những ai tham dự phụng vụ. Thực vậy, ta biết đấy, việc giáo dục phụng vụ cho các mục tử và tín hữu là một thách đố phải luôn được đề cập lại. Chính Đức Phaolô VI, một năm trước khi qua đời, đã nói với các vị hồng y tụ họp nhau tại cơ mật hội: “Nay đã đến lúc để các chia rẽ nhất định phải thất bại, vì tất cả đều độc hại như nhau, cách này hay cách khác, và áp dụng, một cách toàn diện với đủ mọi tiêu chuẩn công chính và gợi hứng của nó, việc cải tổ đã được Ta chấp thuận để thực thi các quyết định của Công Đồng” (10).

Và hiện nay, vẫn còn việc phải làm trong chiều hướng trên, cách riêng, phải tái khám phá các lý do cho quyết định đã được đưa ra đối với việc cải tổ phụng vụ, phải khắc phục các bài đọc thiếu nền tảng và hời hợt, việc tiếp nhận và các thực hành phiến diện khiến phụng vụ ra méo mó. Đây không hẳn là việc phải suy nghĩ lại cuộc cải tổ bằng cách khảo sát lại các quyết định, mà là nhận thức tốt hơn các lý do nằm ở bên dưới, và nhờ các tài liệu lịch sử, biết nội tâm hóa các nguyên tắc linh hứng và tuân giữ các kỷ luật qui định về nó. Sau huấn quyền này, sau cuộc hành trình lâu dài này, ta có thể quả quyết một cách chắc chắn và với thế giá của huấn quyền rằng cuộc cải tổ phụng vụ là điều không thể đảo ngược được.

Nhiệm vụ cổ vũ và bảo vệ phụng vụ đã được bộ giáo luật ủy thác cho Tòa Thánh và các giám mục giáo phận; trách nhiệm và thẩm quyền của những vị này rất đáng kể vào lúc này; các cơ quan quốc gia và giáo phận lo việc mục vụ phụng vụ, các viện huấn luyện và các chủng viện cũng tham gia vào việc này. Ở Ý, nổi bật trong lãnh vực huấn luyện này là Trung Tâm Hoạt Động Phụng Vụ với nhiều sáng kiến của nó như Tuần Lễ Phụng Vụ hàng năm.

Sau khi duyệt lại cuộc hành trình này bằng ký ức, nay tôi muốn đề cập một số khía cạnh dưới chủ đề được anh chị em suy nghĩ trong mấy ngày này, tức là “Một Phụng Vụ Sống Động cho một Giáo Hội Sống Động”.

Phụng vụ “sống động” là nhờ sự hiện diện sống động của Đấng “khi chết đã tiêu diệt sự chết và khi sống lại đã phục hồi sự sống cho chúng con” (Kinh Tiến Tụng Phục Sinh I), không có sự hiện diện thực sự của mầu nhiệm Chúa Kitô, sẽ không có sự sinh động của phụng vụ. Không có nhịp đập của trái tim, sẽ không có sự sống con người thế nào, thì ở đây, không có nhịp đập của Chúa Kitô, sẽ không có hoạt động phụng vụ nào như thế. Thực ra, điều định nghĩa phụng vụ chính là sự thực thi, qua các dấu hiệu thánh thiện, chức linh mục của Chúa Giêsu Kitô, nghĩa là, việc người hiến mạng sống Người đến độ chịu chết giang tay trên thập giá, một chức linh mục được làm cho trở thành hiện diện không ngừng nhờ các nghi thức và lời cầu nguyện, tuyệt hảo nhất trong Mình và Máu Thánh Người, nhưng cũng trong con người của vị linh mục, trong việc công bố Lời Chúa, trong cộng đoàn tụ họp để cầu nguyện nhân danh Người (xem SC, số 7). Trong số các dấu hiệu hữu hình của Mầu Nhiệm vô hình, ta thấy có bàn thờ, dấu chỉ Chúa Kitô là viên đá sống động, bị con người liệng bỏ nhưng đã trở thành viên đá góc của tòa nhà thiêng liêng trong đó việc thờ phượng bằng tinh thần và sự thật được dâng lên Thiên Chúa hằng sống (xem 1Pr 2:4; Ep 2:20). Bởi thế, bàn thờ, trung tâm mà mọi chú ý của ta qui về trong các nhà thờ (11), đã được thánh hiến, được xức dầu thánh, được xông hương, được hôn kính, được tôn kính: cái nhìn của dân cầu nguyện, cả linh mục lẫn giáo dân, đều hướng về bàn thờ, được triệu tập để tụ họp quanh nó (12); được đặt trên bàn thờ là lễ vật của Giáo Hội mà Chúa Thánh Thần đã thánh hiến thành Bí Tích hy sinh của Chúa Kitô; từ bàn thờ, bánh sự sống và chén cứu độ được ban phát “để chúng con trở thành một thân thể và một tinh thần trong Chúa Kitô” (Kinh Nguyện Thánh Thể III).

Phụng vụ là sự sống dành cho toàn bộ dân của Giáo Hội (13). Quả thế, từ bản chất, phụng vụ vốn là của “người dân” (popupar) chứ không phải của hàng giáo sĩ, là hành động vì dân và của dân, như chính từ nguyên đã chứng tỏ. Như rất nhiều lời cầu nguyện phụng vụ đã nhắc nhớ, nó là hành động mà Thiên Chúa đã thi hành vì dân của Người, nhưng cũng là hành động dân lắng nghe lời của Thiên Chúa nói, và họ đáp ứng bằng cách ca ngợi Người, cầu khẩn Người, lãnh nhận nguồn bất tận của sự sống và lòng thương xót tuôn ra từ các dấu hiệu thánh thiện. Giáo Hội cầu nguyện qui tụ tất cả những ai có một tâm hồn biết lắng nghe Tin Mừng, chứ không hề loại bỏ ai; được triệu mời là người hèn mọn và người cao cả, người giầu có và người nghèo khổ, trẻ em và người cao niên, người khỏe mạnh và người ốm đau, người công chính và người tội lỗi. Phù hợp với hình ảnh “đám đông mênh mông” cử hành phụng vụ tại đền thánh Thiên Quốc (Xem Kh 7:9), cộng đồng phụng vụ, trong Chúa Kitô, vượt lên trên mọi giới hạn tuổi tác, chủng tộc, ngôn ngữ và quốc gia. Tầm mức “người dân” của phụng vụ nhắc ta nhớ rằng nó có tính bao gồm (inclusive) chứ không loại trừ (exclusive), cổ vũ sự hiệp thông, tuy nhiên không đánh đồng (homologizing), vì nó kêu gọi từng người đóng góp vào việc xây dựng Nhiệm Thể Chúa Kitô, tùy theo ơn gọi và tính độc đáo của mình: “Thánh Thể không phải là một bí tích ‘dành cho tôi’ mà thôi, nó là bí tích của nhiều người lập thành một thân thể là dân thánh tín thành của Thiên Chúa” (14). Do đó, chúng ta không nên quên rằng trước nhất nó là nền phụng vụ nói lên lòng sùng đạo (pietas) của toàn bộ dân Chúa, rồi được kéo dài nhờ việc thi hành và lòng sùng kính mà chúng ta vốn biết dưới danh xưng lòng đạo bình dân, một lòng đạo đức cần được đánh giá và khuyến khích trong sự hòa hợp với phụng vụ (15). Phụng vụ là sự sống chứ không phải một ý niệm để hiểu xuông mà thôi. Thực vậy, nó dẫn tới việc sống kinh nghiệm khởi đầu, vốn có tính biến đổi lối suy nghĩ và cư xử, chứ không làm phong phú một mớ ý niệm về Thiên Chúa. Việc thờ phượng của phụng vụ “trước hết không phải là một học lý để hiểu xuông hay một nghi thức để cử hành; dĩ nhiên nó cũng là một nghi thức nhưng xét cách khác, nó khác hẳn: nó là một nguồn sống và soi sáng hành trình đức tin của ta” (16).

Suy gẫm thiêng liêng là một điều khác với phụng vụ, vì phụng vụ “thực sự là bước vào mầu nhiệm Thiên Chúa; để mình được dẫn vào mầu nhiệm và hiện hữu trong mầu nhiệm” (17). Có một sự khác nhau lớn giữa việc nói rằng Thiên Chúa hiện hữu và việc cảm thấy Thiên Chúa yêu thương chúng ta, trong con người thực của chúng ta, ngay lúc này và tại đây. Trong lời cầu nguyện của phụng vụ, chúng ta cảm nghiệm sự hiệp thông được tượng trưng không phải bằng các ý niệm trừu tượng nhưng bằng một hành động mà Thiên Chúa và chúng ta, mà Chúa Kitô và Giáo Hội, là các tác nhân (18). Do đó, các nghi thức và lời cầu nguyện (xem SC, số 48), từ bản chất của chúng chứ không do các giải thích của chúng ta, đã trở thành một trường học dạy lối sống Kitô Giáo, mở ra cho mọi người có lỗ tai rộng mở, có mắt có tim để học hỏi ơn gọi và sứ mệnh của môn đệ Chúa Giêsu. Điều này phù hợp với nền huấn giáo nhiệm tính (mystagogic catechesis) vốn được các giáo phụ thực hành và cũng đã được Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo tiếp nhận; Sách này nói về phụng vụ, Phép Thánh Thể và các bí tích khác dưới ánh sáng các bản văn và nghi thức trong các sách phụng vụ ngày nay.

Nhờ kết hợp thành một hiện hữu sống động với Chúa Kitô mà trở thành người cưu mang sự sống, trở thành mẹ, thành nhà truyền giáo, nhưng Giáo Hội chỉ thực sự sống động nếu dám đi ra ngoài gặp gỡ người lân cận, lo lắng phục vụ mà không chạy theo các thế lực trần gian chỉ khiến Giáo Hội ra hiếm muộn. Do đó, việc cử hành các mầu nhiệm thánh nhắc chúng ta nhớ tới Đức Mẹ, Trinh Nữ của Kinh Ngợi Khen, chiêm ngưỡng nơi ngài “mọi điều ngài ước mong và hy vọng, như trong một hình ảnh tinh ròng nhất” (SC 103).

Cuối cùng, chúng ta không thể quên được rằng sự phong phú của Giáo Hội cầu nguyện, vì là “công giáo”, nên phải vượt quá Nghi Lễ Rôma, là nghi lễ, mặc dù sâu rộng nhất, nhưng không duy nhất. Sự hòa hợp của các truyền thống nghi lễ khác nhau của cả Đông Phương lẫn Tây Phương, từ hơi thở của cùng một Thần Khí, đem lại tiếng nói cho Giáo Hội cầu nguyện duy nhất vì Chúa Kitô, với Chúa Kitô và trong Chúa Kitô, vì vinh danh Chúa Cha và sự cứu rỗi thế giới.

Anh chị em thân mến, tôi cám ơn anh chị em đã tới viếng thăm và tôi khuyến khích những ai có trách nhiệm đối với Trung Tâm Hoạt Động Phụng Vụ tiếp tục có lòng tin vào sự gợi hứng lúc ban đầu, là phục vụ việc cầu nguyện của dân thánh Thiên Chúa. Thực vậy, Trung Tâm Hoạt Động Phụng Vụ luôn luôn nổi bật vì sự quan tâm đối với nền mục vụ phụng vụ, trung thành với các chỉ dẫn của Tòa Thánh cũng như của các giám mục và hưởng được sự hỗ trợ của các ngài. Kinh nghiệm lâu dài của Tuần Lễ Phụng Vụ, được tổ chức tại nhiều giáo phận của Ý, cùng với tập san “Phụng Vụ”, đã rất hữu ích trong việc cổ vũ cuộc canh tân phụng vụ trong đời sống các giáo xứ, các chủng viện và các cộng đồng tu trì. Cực nhọc là điều không thiếu, nhưng niềm vui cũng luôn có đó! Hôm nay, một lần nữa, tôi yêu cầu sự cam kết này nơi anh chị em: để giúp các thừa tác viên thụ phong, cũng như các thừa tác viên khác, các lĩnh xướng viên, các nghệ sĩ, các nhạc sĩ biết hợp tác với nhau để phụng vụ thực sự là “nguồn suối và đỉnh cao của sinh lực trong Giáo Hội” (xem SC,10). Tôi xin anh chị em vui lòng cầu nguyện cho tôi và tôi xin ban cho anh chị em Phép Lành Tông Truyền từ đáy lòng tôi.
______________________________________________________________________________________________________
Chú thích

[1] Xem Tự Sắc Tra le sollecitudini, ngày 22 tháng Mười Một, 1903: ASS 36 (1904), 329-339.

[2] Xem Tông Hiến Divino afflatu, ngày 1 tháng Mười Một, 1911: AAS 3 (1911), 633-638.

[3] Tự Sắc Abhinc duos annos, ngày 23 tháng Mười, 1913: AAS 5 (1913) 449-450).

[4] 20 tháng Mười Một, 1947: AAS 39 (1947) 521-600.

[5] Xem Thánh Bộ Nghi Lễ, phần lịch sử, số 71. “Memoria sulla riform liturgica” (1946).

[6] Xem Piô XII, Tự Sắc In cotidianis precibus, ngày 24 tháng Ba, 1945: AAS 37 (1945) 65-67.

[7] Xem Thánh Bộ Nghi Lễ, Sắc Lệnh Dominicae Resurrectionis, ngày 9 tháng 2, 1951: AAS 43 (1951) 128-129; Id., Sắc Lệnh Maxima Redemptionis, ngày 16 tháng Mười Một, 1955: AAS 47 (1955) 838-841).

[8] Yết Kiến Chung, ngày 13 tháng Giêng , 1965.

[9] “Việc cải tổ các nghi thức và các sách phụng vụ đã được thực hiện gần như ngay sau khi công bố Hiến Chế Sacrosanctum Concilium và được thi hành một ít năm sau nhờ việc làm đáng kể và vô tư của rất đông các nhà chuyên môn và mục tử khắp thế giới (Xem Sacrosanctum Concilium, 25). Công việc này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của nguyên tắc công đồng: trung thành với Truyền Thống và cởi mở với tiến bộ hợp pháp (xem Đã dẫn, 23); do đó, có thể nói rằng việc cải tổ phụng vụ hoàn toàn hợp truyền thống “ad normam Sanctorum Patrum” (quy phạm Giáo Phụ) (xem Đã dẫn, số 50; Insitutio generalis Missalis Romani, Prooemium, 6)” (Đức Gioan Phaolô II, Tông Thư Vicesimus quintus annus, 4).

[10] “Ngày nay, một điểm đặc thù trong đời sống Giáo Hội, một lần nữa, lôi cuốn sự chú ý của Đức Giáo Hoàng: đó là các hoa trái có ích không thể bác bỏ được của việc cải tổ phụng vụ. Kể tứ lúc công bố Hiến Chế Công Đồng Sacrosanctum Concilium, nhiều tiến bộ vĩ đại đã được thực hiện, đáp ứng được các tiền đề do phong trào phụng vụ của cuối thế kỷ 19 đề xuất và đã thực hiện trọn vẹn các khát vọng sâu xa, mà rất nhiều người trong Giáo Hội cũng như các học giả từng cố gắng và cầu nguyện cho. Nghi Thức Thánh Lễ mới, do Ta công bố sau một chuẩn bị lâu dài, đầy trách nhiệm của nhiều cơ quan, và đã đưa nhiều bài tán dương (eulogies) khác vào Qui Điển Rôma, là qui điển cho đến nay chủ yếu vẫn không thay đổi, đã mang lại nhiều hoa trái tốt lành: tham dự nhiều hơn vào hành động phụng vụ; ý thức hành động thánh một cách đứng đắn hơn; nhận thức nhiều hơn và rộng rãi hơn các kho tàng bất tận của Thánh Kinh; gia tăng ý nghĩa cộng đoàn của Giáo Hội. Diễn biến trong các năm qua cho thấy chúng ta đang đi đúng đường. Tuy nhiên, bất hạnh thay, đã có những lạm dụng và tự sáng chế trong lúc thi hành. Nay đã đến lúc để các chia rẽ nhất định phải thất bại, vì tất cả đều độc hại như nhau, cách này hay cách khác, và áp dụng, một cách toàn diện với đủ mọi tiêu chuẩn công chính và gợi hứng của nó,việc cải tổ đã được Ta chấp thuận để thực thi các quyết định của Công Đồng” (Bài nói chuyện Gratias ex animo, ngày 27 tháng Sáu, 1977: Insegnamenti di Paolo VI, XV [1977], 655-656, bằng tiếng Ý 662-663).

[11] Xem Ordinamento generale del Messale Romano, n 299; Rito della dedicazione di un altare, Premesse, nn. 155, 159.

[12] “Quanh bàn thờ này, chúng con được nuôi dưỡng bằng Mình và Máu Con Cha để tạo thành Giáo Hội duy nhất và thánh thiện của Cha” (Nghi thức thánh hiến bàn thờ, số 213, Kinh Tiền Tụng).

[13] “Các hành động phụng vụ không phải là các hành động tư riêng mà là các cử hành của Giáo Hội; mà Giáo hội thì vốn là ‘bí trích của hợp nhất’ nghĩa là, dân thánh tụ họp và được sắp xếp dưới sự hướng dẫn của các giám mục. Do đó, các hành động này thuộc toàn bộ cơ thể Giáo Hội, chúng biểu lộ Giáo Hội một cách minh nhiên và tiềm ẩn” (SC, số 26).

[14] Bài giảng lễ trọng Mình và Máu Cực Thánh Chúa Kitô, ngày 18 tháng Sáu, 2017: L’Osservatore Romano, các ngày 19-20 tháng Sáu, 2017, trang 8.

[15] Xem SC, 13; Tông Huấn Evangelii gaudium, ngày 24 tháng Mười Một, 2013, 122-126: AAS 105 (2013), 1071-1073.

[16] Bài giảng Thánh Lễ Chúa Nhật III Mùa Chay, Giáo Xứ Ognissanti thuộc Giáo Phận Rôma, ngày 7 tháng Ba, 2015.

[17] Bài giảng Thánh Lễ tại Nhà Thánh Marta, ngày 10 tháng Hai, 2014.

[18] “Hãy xem xem tại sao việc tưởng niệm Thánh Thể lại đem lại cho ta nhiều ơn phúc đến thế: đây không phải là một ký ức trừu tượng, lạnh lùng, chỉ có tính ý niệm, mà là ký ức sống động và đầy an ủi về tình yêu Thiên Chúa. […] Trong Thánh Thể, có mọi mùi của lời và cử chỉ của Chúa Giêsu, mọi vị Phục Sinh của Người, mọi hương thơm của Thần Trí Người. Được khắc ghi trong trái tim tiếp nhận nó của chúng ta là sự chắc chắn được Người yêu thương” (Bài giảng lễ trọng Mình và Máu Cực Thánh Chúa Kitô, ngày 18 tháng Sáu, 2017: L’Osservatore Romano, các ngày 19-20 tháng Sáu, 2017, trang 8).

Người vô thần và người mất đức tin giúp ta trở thành những nhà truyền giảng Tin Mừng tốt hơn

Người vô thần và người mất đức tin giúp ta trở thành những nhà truyền giảng Tin Mừng tốt hơn


 
Tác giả: 
 Vũ Văn An

Các cuộc thăm dò gần đây cho thấy con số người vô thần và rời khỏi Giáo Hội Công Giáo ngày càng đông hơn. Nên các nhà truyền giảng Tin Mừng ngày nay không thể không cảm thấy bị thách thức bởi hiện tượng này. Mà dù có vô cảm đối với vấn đề này đi chăng nữa, các vị cũng được người ta nhắc nhớ khôn nguôi.

Đó là trường hợp của linh mục Robert E. Lauder, giáo sư triết học tại Đại Học St John, tác giả cuốn Pope Francis’ Profound Personalism and Poverty (Resurrection Press) và loạt bài thuyết giảng “The Catholic Novel” trên YouTube. Cha kể lại
:

Sau các buổi thuyết giảng của tôi, đều có một ai đó, thường là một phụ huynh, đến nói với tôi một cách buồn bã về một người khác, thường là đứa con trai hay đứa con gái, không còn tìm được thích thú nào nữa trong đức tin Công Giáo. Mỗi lần như thế, họ đều để lại cho tôi nhiều câu hỏi khiến tôi phải vật lộn với chúng: làm cách nào cha có thể đem một ai đó trở về với đức tin? Làm cách nào cha có thể rao giảng tin mừng cho những người không còn tìm được chút giá trị gì trong mối liên hệ của họ với Thiên Chúa đầy yêu thương?

Gần đây, hai con người bất ngờ đã giúp tôi đào sâu và sắc bén hóa các câu trả lời của mình, tôi hy vọng thế. Một người hoàn toàn xa lạ. Còn người kia là bạn của tôi, một linh mục đã về hưu. Cả hai đều đã từ bỏ đức tin Kitô Giáo.

“Con không tin Thiên Chúa”, một thanh niên tuyên bố như thế trong một buổi hỏi thưa nhân một bài nói chuyện của tôi về triết học nhân vị tại trụ sở Công Nhân Công Giáo ở Bowery, thuộc thành phố New York, cách nay vài năm. “Con không tin có đời sau. Con cũng không thèm dành thì giờ để suy nghĩ về các vấn đề này. Con không cảm thấy mình có xu hướng suy nghĩ về chúng, và con cảm thấy chẳng có lỗi gì. Con chỉ sống cuộc sống của mình”.

Anh ta cùng với một nhóm nhỏ các sinh viên của một trường đại học Công Giáo tới dự giảng khóa của tôi, và tôi thấy anh là người can đảm dám nói lên quan điểm riêng của mình trước một cử tọa Công Giáo đông đảo. Tôi gần như lập tức nghĩ tới tiểu thuyết gia Walker Percy—nỗi bận bịu với điều ông gọi là “sự phiền muộn” (“the malaise”) và tình cảm qúy mến ông dành cho cha đẻ của chủ nghĩa hiện sinh, Søren Kierkegaard (1813-55).

Điều Percy gọi là sự phiền muộn thì Kierkegaard mô tả như một nỗi thất vọng (despair): bị mất hút trong cái hàng ngày, không có khả năng hay không sẵn lòng đối chất với các câu hỏi tối hậu. Kierkegaard nghĩ rằng mọi người đều sống một trong ba tinh cầu hiện hữu sau đây: 1) mỹ thuật, nghĩa là đắm chìm trong các khoái cảm giác quan của thế giới này mà không một chút ý thức gì về sự siêu việt; 2) đạo đức học, một thứ chủ nghĩa Khắc Kỷ (stoicism), chỉ nhấn mạnh tới bổn phận, dấn than và trung thành với luật lệ; và 3) tôn giáo, tức mối tương quan liên bản vị với Thiên Chúa, một mối tương quan đạt được không phải nhờ lý trí hay luận điểm hoặc chứng cớ mà là qua cái nhẩy vọt của đức tin. Người thực hiện bước nhẩy vọt này sẽ phải sống cách nào đó để làm chứng cho sự hiện diện đầy yêu thương của Thiên Chúa. Chứng tá này vừa là một dấu hiệu vừa là một lời mời ngỏ với người khác.

Trong phần lớn cuốn tiểu thuyết đầu tay của Percy, tức cuốn The Moviegoer, Binx Bolling, người kể chuyện và là nhân vật chính, sống trong tinh cầu mỹ thuật, nhưng luôn đi tìm kiếm. Anh nhận định: “biết mình có khả năng tìm kiếm là đã thấy mình đang đi tới một điều gì đó. Không đang đi tới một điều gì đó là đang thất vọng”. Cuối cùng, nhờ tương quan yêu thương với một công nương trẻ rất cần người khác, Binx đã làm một bước nhẩy vọt tới Thiên Chúa.

Lúc ấy tôi mong được nói chuyện với người sinh viên sau buổi giảng bài của tôi ở trụ sở Công Nhân Công Giáo, nhưng anh ta đã rời khỏi trước khi tôi được anh ta chú ý. Nếu có dịp, có lẽ tôi sẽ đối chất với anh ta bằng một số câu hỏi liên quan tới môn siêu hình mà tôi vốn đặt ra cho các sinh viên trong các lớp triết học của tôi: Anh nghĩ đời sống có ý nghĩa gì? Nếu không có Thiên Chúa, thì đâu là các hệ luận đối với đời sống? Nếu không có Thiên Chúa, há đời người chẳng phi lý hay sao? Nếu đời là phi lý, thì kinh nghiệm yêu và được yêu của anh là gì, và đâu là ý nghĩa của tương quan yêu thương?

Tôi nghĩ không có gì sai đối với các câu hỏi trên, nhưng giờ đây tôi e rằng khi nêu chúng ra, dường như tôi là một nhà cải đạo chứ không hẳn một nhà truyền giảng Tin Mừng đối với người thanh niên này. Có lẽ tôi nghĩ tôi có thể lý luận khiến anh ta bước vào niềm tin. Sau khi suy nghĩ, tôi hiểu ra rằng truyền giảng Tin Mừng đòi hỏi nhiều hơn việc nêu lên các câu hỏi bằng lời nói. Kierkegaard nghĩ đúng: chìa khóa là làm chứng bằng chính đời mình. Không ai có thể làm bất cứ ai khác trở lại. Việc trở lại chân thực phải là việc của tự do. Khi tôn trọng tự do của người khác, ta mô phỏng Thiên Chúa, Đấng đã dựng nên tự do của con người và tôn trọng sự tự do này.

Trong “Niềm Vui Tin Mừng”, Đức Giáo Hoàng Phanxicô viết như sau về các nhà truyền giảng Tin Mừng: “Thay vì tỏ ra muốn áp đặt các nghĩa vụ mới, các nhà truyền giảng nên chứng tỏ mình là người muốn chia sẻ niềm vui của họ, hướng dẫn họ tới chân trời cái đẹp, và mời gọi họ tới bàn tiệc thơm ngon. Giáo Hội lớn mạnh không nhờ việc cải đạo, mà là ‘nhờ sự lôi cuốn’”.

Đáng lẽ tôi phải nhớ các lời lẽ trên khi ngồi ăn trưa để chờ gặp một người bạn già, một linh mục đã về hưu. Khi thuật lại hành trình ra khỏi đức tin của mình, ông bạn tôi lý luận rằng niềm tin Kitô Giáo không tạo được bất cứ khác biệt cụ thể nào đối với đời một con người. Ngài bảo: “cha tin một vị Thiên Chúa có bản vị, còn tôi, tôi tin một năng lực hiện sinh. Việc này không tạo nên bất cứ khác biệt nào trong lối sống của chúng ta”. Tôi vội vàng đáp lại “dĩ nhiên là có. Tôi có thể liên hệ với một vị THiên Chúa có bản vị. Tôi không thể liên hệ với một năng lực hiện sinh”.

Tôi thấy vui khi nhận định của tôi làm ngài im lặng. Tôi có lời nói sau cùng, thắng cuộc tranh luận. Nhưng nhìn lại cuộc chuyện trò, tôi thắc mắc không biết ông bạn tôi có vô tình thách thức tôi phải trở nên một nhà truyền giảng Tin Mừng, một chứng tá, hơn là một nhà cải đạo không? Có phải bước đầu tiên trong tương quan truyền giảng Tin Mừng là người truyền giảng Tin Mừng phải được truyền giảng Tin Mừng hay không?

Đức Giáo Hoàng Phanxicô từng nhấn mạnh đi nhấn mạnh lại rằng Thiên Chúa là thành phần của đời mỗi người, cả những người không bao giờ nghĩ tới Thiên Chúa hay cho rằng mình đã mất hết đức tin vào Thiên Chúa. Trong cuộc phỏng vấn đăng trên tờ America hồi tháng Chín năm 2013, Đức Phanxicô nói thế này:

“Tôi có sự chắc chắn của một tín điều là: Thiên Chúa hiện diện trong đời sống mọi người, Thiên Chúa quả hiện diện trong đời sống mọi người. Cha có thể, cha phải cố gắng tìm kiếm Thiên Chúa trong mọi cuộc nhân sinh. Mặc dù đời sống một con người là mảnh đất đầy chông gai và cỏ dại, nó vẫn luôn có chỗ để hạt giống tốt mọc lên. Cha phải tín thác vào Thiên Chúa”.

Với “sự chắc chắn của một tín điều" trên, nhìn lại hai tương tác của mình, tôi không còn thấy chúng gây nản lòng nữa. Đối với một nhà truyền giảng Tin Mừng, nản lòng không phải là một giải pháp. Không, tôi không thay đổi được tâm trí của bất cứ ai. Nhưng có lẽ, dù chàng sinh viên trẻ và vị linh mục về hưu không hề có ý định, một cách gián tiếp, họ vẫn là những nhà truyền giảng Tin Mừng cho tôi. Tại sao không? Chúa Thánh Thần thổi đâu tùy ý Người.

38 Giáo Hội Công Giáo Dưới Cái Nhìn của Một Ký Giả Hoa Kỳ (bài 38)

Giáo Hội Công Giáo Dưới Cái Nhìn của Một Ký Giả Hoa Kỳ (bài 38)


Tác giả: 
 Vũ Văn An

Chương mười hai: Các tân biên cương

Đầu thế kỷ 16, sự việc khá ảm đạm đối với Giáo Hội Công Giáo. Các câu truyện gây tai tiếng về tình dục và tài chánh của các linh mục Công Giáo làm công luận nổi giận, làm gia tăng các tri cảm về một Giáo Hội ngạo mạn và giả hình. Trong nội bộ, Giáo Hội bị xâu xé bởi các cuộc tranh luận thần học gắt gao và các bất đồng rộng rãi từ trong dân chúng. Các kỹ thuật truyền thông mới nhất tức nghề in có nghĩa: các cuộc tranh luận kia không chỉ được giữ kín nơi các nhà chuyên môn, mà còn nhanh chóng trở thành cuộc tranh cãi ai cũng biết.

Một thế hệ mới các nhà tư tưởng và tranh đấu gây áp lực đòi cải tổ triệt để, và sức kiên nhẫn của họ cuối cùng không còn nữa, đã nổ thành cuộc Cải Cách Thệ Phản. Cuộc khởi nghĩa do Martin Luther châm ngòi này mau chóng tràn qua khắp lục địa và kết quả là Giáo Hội Công Giáo vĩnh viễn mất phân nửa Âu Châu.

Khi thế giới cận đại bắt đầu thành hình, một phần được thúc đẩy bởi sự xuất hiện của khoa học thực nghiệm, người ta bắt đầu thay đổi cách suy nghĩ gần như về mọi sự, kể cả đức tin tôn giáo và các cơ cấu thẩm quyền cổ truyền. Tác động tiêu cực của hiện tượng này đối với Đạo Công Giáo hết sức lớn lao: hàng triệu người vốn sinh ra trong Giáo Hội đã rời khỏi, ơn gọi làm linh mục hay tu dòng sa sút trông thấy, và cả hình ảnh công cộng lẫn thế giá tinh thần của Giáo Hội đều bị tả tơi. Nhiều quan sát viên tin rằng đây là một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất trong nhiều thế kỷ qua của Giáo Hội, nếu không muốn nói là mọi thời, và nhiều người còn sợ Giáo Hội đang lao vào một đêm tối vĩnh viễn.

Thế nhưng, bất chấp các đe dọa trên, Giáo Hội Công Giáo vẫn đã khôi phục lại. Đức Giáo Hoàng Phaolô III triệu tập Công Đồng Trent trong các năm 1546 tới 1563. Công Đồng này đã kích thích cả một đợt canh tân được biết dưới danh nghĩa Phản Cải Cách. Việc giáo dục tôn giáo cả hàng giáo sĩ lẫn hàng giáo dân, nhất là ở các vùng thôn quê, đã được cải thiện đáng kể, tiếp theo việc cho công bố nhiều tài liệu giáo lý và các sách thủ bản cho các vị giải tội. Kỷ luật giáo sĩ được thắt chặt hơn. Vai trò “các giám mục vắng mặt” bị bãi bỏ, khi các giám mục buộc phải sống tại giáo phận của mình và đích thân giám sát các công việc của giáo hội địa phương của mình. Các dòng tu mới được thành lập, trong đó có Dòng Capuchin, Dòng Ursuline, và nhất là Dòng Tên, với một tinh thần truyền giáo cuồng nhiệt và một cam kết sống đơn giản và tự hy sinh cao độ. Các vị thánh huyền nhiệm vĩ đại như Thánh Têrêxa thành Avila và Gioan Thánh Giá phát động các phong trào linh đạo mới bắt nguồn từ việc hồi hướng nội tâm đối với Chúa Kitô, chứ không chỉ những điều bên ngoài thuộc phạm vi phụng vụ và bí tích. Các thúc đẩy mới này cũng xuất hiện hàng loạt trong nghệ thuật và âm nhạc Công Giáo, cố gắng phục hồi cho bằng được một cảm thức tôn kính và thánh thiêng. Một thế hệ giám mục mới xuất hiện, được thúc đẩy đem các cải tổ này vào áp dụng. Nổi bật nhất là Thánh Charles Borromeo vĩ đại của Milan, vị thánh, cho tới tận nay, vẫn được coi là lý tưởng mà mọi giám mục Công Giáo khắp thể giới phải noi theo.

Tinh thần canh tân trên đặt Giáo Hội Công Giáo vào chỗ đóng góp một cách đầy nghị lực vào Thời Đại Khám Phá ở Âu Châu suốt trong mấy thế kỷ kế tiếp. Khi các người khai phá và lập cư Âu Châu bén rễ vào Mỹ Châu, Phi Châu và Á Châu, các nhà truyền giáo Công Giáo cũng đã theo sát gót chân họ, nhất là các dòng tu như Dòng Tên, Dòng Đa Minh và Dòng Phanxicô, nhằm dựng tại đó những ngọn cờ đức tin phấp phới. Bản án lịch sử đối với chủ nghĩa thực dân Âu Châu là một bản án lẫn lộn, nhưng sự thật vẫn là: một thế kỷ hay gần như thế của Phong Trào Cải Cách Thệ Phản xem ra đã hút hết máu sống ra khỏi Giáo Hội Công Giáo, nhưng thực ra, Giáo Hội này đang trải nghiệm một cuộc lớn mạnh chưa từng thấy trong lịch sử của nó. Lần đầu tiên, Giáo Hội trở thành “công giáo” thực sự, nghĩa là “phổ quát”, không phải chỉ trên danh nghĩa, mà thực sự trải rộng cùng khắp địa cầu.

Đầu thế kỷ 21, giống như đầu thế kỷ 16, cũng thành hình một thời kỳ sóng gío cho Giáo Hội. Bắt đầu với thập niên 1960, sự xuất hiện của chủ nghĩa duy tục ở khắp các nẻo đường Tây Phương bắt đầu xâm thực các sào huyệt hậu Cải Cách của Giáo Hội. Sự ác cảm mà chủ nghĩa duy tục tạo nên đối với thẩm quyền tôn giáo, và nhất là đối với Giáo Hội Công Giáo, đã gia tốc đáng kể trong suốt một thập niên qua do nhiều tai tiếng và tranh luận gây ra, nhất là do các tiết lộ liên quan đến các vụ lạm dụng tình dục và che đậy chúng. Riêng năm 2010 mà thôi, tức ở cao điểm các tai tiếng lạm dụng tình dục ở Đức, khoảng 180,000 người Công Giáo Đức đã chính thức ghi danh rút chân ra khỏi Giáo Hội. Theo hệ thống thuế nhà thờ của nước này, mọi thành viên của một tổ chức tôn giáo đều phải đăng ký với chính phủ và cũng phải chính thức từ bỏ tư cách thành viên của mình thì mới khỏi phải đóng thứ thuế này. Phần lớn các chuyên viên tin rằng con số đào ngũ chính thức chỉ là một phần nhỏ, trong khi các người Công Giáo, tuy ra khỏi Giáo Hội, nhưng không chính thức làm thế về phương diện hành chánh, đông hơn nhiều.

Vấn đề là liệu thời kỳ khủng hoảng trên có là khúc dạo đầu cho một cuộc tái sinh hay không.

Có dấu hiệu canh tân nào không?

Có thể có. Ở một phần tư cuối cùng của thế kỷ 20, Đạo Công Giáo đã thu lượm được nhiều thành quả lớn lao ở bên ngoài Tây Phương. Các ước lượng đương thời cho thấy giữa thế kỷ này, trọn ba phần tư dân số Công Giáo hoàn cầu, dự phóng vào khoảng một tỷ rưỡi, sẽ sống ở nam bán cầu. Phần lớn sự gia tăng này là do các yếu tố dân số học, phản ảnh sự phát triển dân số nói chung của thế giới đang phát triển suốt trong thế kỷ 20. Thế nhưng, ở một số vùng, nhất là ở Phi Châu và một phần Đông Nam Á, sự phát triển của Đạo Công Giáo vượt quá sự phát triển dân số nói chung. Điều này cho thấy sự thành công của các cố gắng truyền giáo. Ở Phi Châu, chẳng hạn, dân số nói chung tăng 304 phần trăm giữa năm 1950 và năm 2000, nhưng số người Công Giáo tăng tới 712 phần trăm.

Một lần nữa, cuộc khủng hoảng sâu xa đối với Giáo Hội ở một phần của thế giới đã khai diễn cùng một lúc với sự gia tăng khổng lồ ở một phần khác. Mặc dù được xây dựng trên nền tảng vững chắc của các nhà truyền giáo ngoại quốc, song phần lớn sự lớn mạnh phi thường này được thúc đẩy bởi các nhà lãnh đạo Công Giáo bản địa. Thậm chí, người ta còn nói tới một thứ “truyền giáo ngược” (reverse mission) lúc các giáo sĩ và giáo dân Công Giáo hăng hái ở nam bán cầu mơ ước được đáp trả ơn phúc họ từng nhận được từ các thế hệ truyền giáo Tây Phương trước đây bằng cách làm sống lại đức tin cho Âu Châu và Bắc Mỹ. Người ta có thể thấy điều này đang diễn ra tại Hoa Kỳ, nơi một trong sáu vị linh mục hiện nay sinh ở ngoại quốc và hàng năm Giáo Hội ở đây tiếp nhận thêm 300 tân linh mục quốc tế. Các dấu hiệu thời đại này đang hiện diện ở khắp mọi nơi. Ngay khi viết những dòng này, John Allen cho hay tại giáo xứ của người bà 98 tuổi của anh ở vùng nông thôn phía Tây Kansas, cha xứ là một vị linh mục trẻ trung xuất thân từ Miến Điện.

Khắp Nam bán cầu, một thế hệ các nhà lãnh đạo Công Giáo mới đang xuất hiện; họ xác tín sâu sắc rằng thời điểm lịch sử của họ đã tới. Họ không còn coi họ như những người hợp tác tỉnh nhỏ nữa, mà là các nhà lãnh đạo của các cộng đồng Công Giáo năng động nhất và phát triển nhanh nhất trên hành tinh này. Họ tin rằng những địa danh như Mumbai, Manila, Abuja, và Buenos Aires, đối với Đạo Công Giáo của thế kỷ này, sẽ là điều mà Milan, Paris, và Leuven vốn là trong các thế kỷ 15 và 16: các trung tâm hàng đầu của viễn kiến thần học mới mẻ, các khuôn mẫu mục vụ mới mẻ, và giai cấp lãnh đạo chính trị mới mẻ trong Giáo Hội hoàn cầu.

Điều gì đang diễn ra tại Phi Châu?

Sự lớn mạnh của Đạo Công Giáo ở Phi Châu trong thế kỷ 20 hết sức gây ấn tượng. Từ cái nền chỉ có 1.9 triệu người Công Giáo vào năm 1900, tổng số này tăng tới 130 triệu người vào năm 2000, tức tăng 6708 phần trăm. Quả hết sức đáng lưu ý khi dựa vào các dự phóng trung hạn của Phân Bộ Dân Số Liên Hiệp Quốc và dựa vào giả thiết cho rằng sự gia tăng dân số của Đạo Công Giáo cũng cùng một nhịp như sự gia tăng dân số hoàn cầu nói chung để đưa ra các con số ước lượng cho năm 2050.

Thực vậy, đến năm 2050, 3 cường quốc Phi Châu sẽ giành được chỗ đứng trên bảng liệt kê các quốc gia Công Giáo lớn nhất thế giới: Cộng Hòa Dân Chủ Congo, Uganda, và Nigeria. Ba đại cường này sẽ thay thế cho Tây Ban Nha và Ba Lan, vốn là các hòn đá góc của thế giới Kitô Giáo Tây Phương cổ thời. Sự xuất hiện của ba cường quốc này cũng cho thấy điều này nữa những phần trên bản đồ Công Giáo có thể chịu ảnh hưởng hơn hết của “thời điểm Phi Châu” đang ló dạng trong Giáo Hội là Pháp và các vùng nói tiếng Anh, vì tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thứ hai ở Cộng Hòa Dân Chủ Phi Châu, trong khi tiếng Anh giữ vai trò này tại Nigeria và Uganda.

Các ơn kêu gọi cũng đang nở rộ. Thí dụ, người ta vốn cho rằng Chủng Viện Tưởng Nhớ Bigard ở miền đông nam Nigeria, với số sinh viên ghi danh lên tới 1,100 người là chủng viện Công Giáo lớn nhất trên thế giới hiện nay. Một mình chủng viện này đã gần bằng 1 phần năm mọi chủng viện ở Hoa Kỳ gom lại. Thế nhưng, bất kể mùa gặt gây ấn tượng này, vẫn không có chuyện thặng dư linh mục tại Phi Châu, phần lớn vì người Phi Châu được rửa tội nhanh hơn họ được chịu chức linh mục. Thực vậy, tỷ số linh mục so với người Công Giáo rửa tội ở Âu Châu và Bắc Mỹ là gần 1 vị cho 1,300 giáo dân, thì ở Phi Châu, tỷ số ấy là gần 1 vị cho 5,000 giáo dân. Một cách đặc trưng, sự gia tăng nhanh chóng trong một giáo hội địa phương thường làm cho việc thiếu linh mục ra xấu thêm hơn là cải thiện nó, vì hố phân cách giữa số giáo dân và số giáo sĩ sẽ còn trở nên bi đát hơn nữa.

Giải thích hiện tượng gia tăng này, các tín hữu thường cho rằng Chúa Thánh Thần đang khuấy động ở Phi Châu. Còn các nhà xã hội học về tôn giáo thì rút ra ba nhân tố có tính thực nghiệm hơn sau đây:

• Phi Châu là lục địa cuối cùng nơi mà các tôn giáo bộ lạc cổ thời đang tan rã và người ta chọn lựa giữa các tôn giáo lớn hiện có của hoàn cầu, tức Kitô Giáo hay Hồi Giáo. Mặc dù mọi ngành của Kitô Giáo đều cảm nhận được một mức độ phát tiển vững mạnh, nhưng sự lớn mạnh của Phái Ngũ Tuần được kể là cảm kích nhất.

• Phi Châu có tỷ lệ sinh sản cao, và những việc gia tăng dân số này làm gia tăng số thành viên của Giáo Hội. Về phương diện dân số học, bất cứ thủy triều nào cũng nâng cao mọi con thuyền.

• Ở cuối thế kỷ 20, các cố gắng truyền giáo ở Phi Châu đã trở nên của người bản địa một phần lớn, thay vì được các nhà truyền giáo ngoại quốc tổ chức và cung cấp nhân viên, một biện pháp dĩ nhiên làm gia tăng con số thành viên một cách nhanh chóng hơn nhiều. Một triệu người Công Giáo Nigeria không thể tạo ra một nhà truyền giáo mới người Ái Nhĩ Lan, nhưng chắc chắn họ tạo nên nhiều tân linh mục người Nigeria.

Chân dung Đạo Công Giáo ở Phi Châu ra sao?

Phi Châu là địa điểm khởi đầu cho một trong những đặc điểm của Đạo Công Giáo tại phần lớn các nước đang mở mang: nó tổng hợp các lập trường rất cổ truyền hay rất bảo thủ về một số vấn đề, nhất là luân lý tính dục, và các lập trường khá tự do hay cấp tiến về một số vấn đề khác nhất là công bằng kinh tế và liên hệ quốc tế. Trong khi các người Công Giáo ở Tây Phương sa lầy trong các cuộc tranh luận về phá thai, đồng tính luyến ái, và hôn nhân đồng tính, thì các vấn đề này không gây được mấy xôn xao nơi các giới Công Giáo Phi Châu. Theo một cuộc Thăm Dò Hoàn Cầu của Pew năm 2006, đến 98 phần trăm Kitô hữu Nigeria tin rằng đồng tính luyến ái “không bao giờ được biện minh” cả và hàng ngũ giáo dân Công Giáo tại nước này chia sẻ sự đồng thuận xã hội căn bản này.

Thế nhưng, ở cả đỉnh lẫn ở đáy Giáo Hội Phi Châu, cũng có nhiều thái độ xã hội và chính trị cởi mở hơn, được phần lớn người Tây Phương coi là nghiêng nhiều về cánh tả. Thực vậy, đa số người Công Giáo Phi Châu chủ trương các quan điểm sau đây:

• Họ hoài nghi đối với thị trường tự do của chủ nghĩa tư bản và việc hoàn cầu hóa;
• Họ cảnh giác trước ảnh hưởng hoàn cầu của Hoa Kỳ và cả của Trung Quốc nữa;
• Họ ủng hộ Palestine và, do đó, đôi khi chỉ trích Do Thái;
• Họ ủng hộ Liên Hiệp Quốc;
• Họ chống chiến tranh và cảnh giác đối với việc can thiệp quân sự của bất cứ siêu cường nào;
• Họ ủng hộ vai trò mạnh mẽ của nhà nước trong nền kinh tế.

Các giám mục và các nhà thần học Công Giáo Phi Châu thường coi mình như những tòa án và người bênh vực cho các quan điểm trên, cả trong Giáo Hội hoàn vũ lẫn đấu trường chính trị quốc tế. Một trong các đặc tính khác biệt của văn hóa Công Giáo Phi Châu là một số lượng thì giờ và năng lượng khá cao của nó đã được đầu tư vào các vấn đề đối ngoại trên này, tức làm thế nào để Giáo Hội tiếp cận các vấn đề rộng lớn hơn của thời đại, ngược với các cuộc tranh luận nội bộ Công Giáo vẫn thường làm cho Giáo Hội ở Tây Phương phải bận tâm. Do đó, việc xuất hiện của Phi Châu là điềm báo trước một đóng góp nhiều nghị lực hơn của Công Giáo vào sự việc của thế giới.

Đâu là các vấn đề có tính chủ đề hàng đầu đối với Đạo Công Giáo Phi Châu? 

Trước bối cảnh các quan tâm rộng lớn về công bằng xã hội của Giáo Hội, Đạo Công Giáo ở Phi Châu dành một chỗ quan trọng cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Phần lớn các nhà kinh tế học tin rằng các quốc gia giầu có ở Tây Phương có thể hoàn toàn thanh thỏa Các Mục Tiêu Thiên Niên Kỷ chống nghèo đói của Liên Hiệp Quốc, mở rộng các thị trường của họ, loại bỏ mọi trợ cấp, và đóng Thuế Tobin đầy đủ, nhưng điều này tạo được rất ít khác biệt nơi các quốc gia đang phát triển nếu việc chuyển nhượng thịnh vượng do đó mà có kết cục chỉ nằm trong túi của giai cấp ưu tú chính trị và kinh doanh thối nát. Năm 2004, Viện Ngân Hàng Thế Giới tường trình rằng các quốc gia kiểm soát được nạn tham nhũng và cải thiện được tinh thần thượng tôn pháp luật có thể tăng thu nhập của cả nước lên gấp 4 lần ; họ gọi đây là “tiền chia cổ phần 400 phần trăm nhờ quản trị”. Thành thử, bất cứ cuộc thăm dò các giám mục, các nhà thần học và giáo dân Công Giáo nào cũng đều thấy cuộc đấu tranh chống tham nhũng, kể cả việc tạo nên một thế hệ mới các nhà lãnh đạo Phi Châu sẵn sàng biết nghĩ tới ích chung hơn là làm giầu cho mình, cho bộ lạc hay mạng lưới bảo hộ của mình, là quan tâm công bằng xã hội hàng đầu. Đã đành, phần lớn người Phi Châu sẽ nói thêm rằng tệ nạn tham nhũng được các quyền lợi thương mại và chính trị Tây Phương nâng đỡ và tiếp tay, nhưng việc này cũng không vì thế mà làm cho nó trở thành ít là vấn đề của họ hơn.

Một ưu tiên có tính cốt lõi khác đối với các nhà lãnh đạo Công Giáo Phi Châu là mối liên hệ với Hồi Giáo, nhất là tại các vùng thuộc lục địa này nơi có số đông đảo người Công Giáo và Hồi Giáo sống gần gũi bên nhau. Người Công Giáo Phi Châu thường có một thái độ hơi khác đối với cách tiếp cận nói chung của Giáo Hội đối với Hồi Giáo. Họ không cảm thấy mặc cảm tội lỗi bao nhiêu trước các lầm lỗi lịch sử mà Tây Phương từng phạm chống lại người Hồi Giáo, như các thập tự chinh chẳng hạn; có chăng, họ chỉ cảm thấy mình là nạn nhân của hiện tượng “hồi giáo hóa” hung hãn mà thôi. Thành thử, các nhà lãnh đạo Công Giáo Phi Châu sẵn lòng xác quyết quyền lợi của họ nhiều hơn, và nhấn mạnh điều này: đối thoại phải là con đường hai chiều.

Đức Hồng Y John Onaiyekan của Abuja, chẳng hạn, tin rằng sự yếu ớt chính trong cách tiếp cận Hồi Giáo của Giáo Hội Công Giáo là nó đã quá lệ thuộc vào người Công Giáo ở Trung Đông, nơi phần đông người Công Giáo lớn lên trong các cộng đồng Kitô Giáo nhỏ xíu bị bao vây bởi một đa số Hồi Giáo áp đảo. Đức Hồng Y Onaiyekan cho rằng trong một bối cảnh như thế, những người Công Giáo này ắt hẳn chỉ có thể có những hoài mong tối thiểu nơi các người hàng xóm Hồi Giáo mà thôi. Như chính lời ngài nói: “miễn là họ đừng sát hại chúng tôi, mọi sự đều tốt cả”. Theo ngài hoài mong này quá thấp. Người Công Giáo cần nhấn mạnh rằng người Hồi Giáo phải thừa nhận tự do tôn giáo như một vấn đề nguyên tắc, chứ không phải chỉ là cử chỉ miễn cưỡng đối với các công dân bậc nhì.

Đâu là các thách đố lớn đang đặt ra cho Giáo Hội ở Phi Châu? 

Dù Đạo Công Giáo Phi Châu chưa bị rúng động bởi tai tiếng lạm dụng tình dục trẻ em theo mức độ đã diễn ra ở Bắc Mỹ hay ở phần lớn các nước Âu Châu, nhưng hiện có nhiều tường trình liên tiếp ở một số nơi trên lục địa này, nhất là tại các vùng quê, cho thấy luật độc thân linh mục bị vi phạm nhiều hơn được tuân giữ. Trong nhiều năm qua, cũng có những phúc trình cho rằng các sứ thần của Đức Giáo Hoàng tại một số nước Phi Châu gặp khó khăn trong việc nhận diện các ứng viên giám mục vì nạn vi phạm luật độc thân rộng rãi này. Thiết lập sự thật đối với các tri cảm này là điều khó khăn vì thiếu các cuộc thăm dò xã hội đáng tin cậy, và các nhà cầm quyền trong Giáo Hội có tiếng là không chịu giải quyết vấn đề. Người ta sẽ nhận được các câu trả lời khác nhau tùy thuộc họ hỏi ai: các nhà truyền giáo Tây Phương có xu hướng cho rằng hiện có vấn đề lớn lao, trong khi các linh mục và giám mục địa phương thì chối là không có vấn đề gì lớn lao cả; thường các vị sau cho biết thêm rằng về vấn đề giáo sĩ lạm dục tình dục, họ không cần các bài học luân lý của Tây Phương.

Cuối thập niên 1990, cũng có những lời tố cáo nghiêm trọng cho rằng ở một số quốc gia Phi Châu, các linh mục đã lạm dụng thẩm quyền của mình để cưỡng ép các nữ tu phải làm tình với họ, một phần vì các linh mục này thấy các nữ tu “an toàn” hơn về phương diện HIV/AIDS. Giữa các năm 1994 và 1998, 5 bản tường trình viết tay khác nhau đã được gửi về Vatican bởi các vị lãnh đạo các dòng nữ; các vị này mô tả nhiều hình thức lạm dụng khác nhau, trong đó, có những vụ quá đáng trong đó, các linh mục hiếp dâm các nữ tu rồi dụ họ phải phá thai. Một lần nữa, thật khó có thể lên tài liệu cho tầm cỡ lớn lao của việc lạm dụng này cũng như hoàn cảnh xẩy ra đã hơn 20 năm qua nay có còn tiếp diễn nữa không. Tuy nhiên, nguyên việc các tri cảm loại này nay vẫn còn dai dẳng đủ cho thấy Đạo Công Giáo ở Phi Châu có thể đang phải đương đầu với một thách đố trầm trọng về kỷ luật giáo sĩ, nhất là trong một thời đại trong đó bất cứ hình thức giáo sĩ lạm dụng nào cũng không thể dấu diếm lâu được.

Một thách đố mục vụ chủ yếu khác đối với các nhà lãnh đạo Công Giáo ở Phi Châu là sức lôi cuốn lâu dài của thực hành tôn giáo cổ truyền của người bản địa, nhất là ma thuật và trò phù thủy. Trong khi người bắc bán cầu có thể coi ma thuật phần lớn như một hình thức vô hại của nền linh đạo Tân Thời (new Age spirituality) thì ở khắp nam bán cầu, người ta coi ma thuật và phù thủy là chuyện có thật nhưng thuộc ma qủy, thành thử đáp ứng thích đáng là cuộc chiến đấu thiêng liêng. Bolaji Idowu, một học giả Methodist thuộc sắc dân Yoruba ở Nigeria, từng viết rằng “ở Phi Châu, điều vô ích là đặt câu hỏi liệu có phù thủy hay không… Đối với người Phi Châu thuộc mọi tầng lớp, trò phù thủy là một thực tại khẩn trương”.

Nó cũng là một vấn đề sống chết. Ở Nigeria, một phụ nữ cao niên bị chém đầu năm 2007 sau khi bị tố cáo đã đặt bùa ểm cho thành viên của một bộ lạc. Ngược lại, kẻ giết bà đã châm ngòi cho một vụ chém giết liên sắc tộc khiến 8 người bị thiệt mạng. Trong nhiều năm qua, những tục thờ cúng bí mật tại một trăm khuôn viên đại học của Nigeria, với những danh xưng như Black Axes (Rìu Đen) và Pyrates (Cướp Biển), thường thực hành juju hay ma thuật đen, để làm kẻ thù khiếp sợ, và những vụ xô xát đầy bạo động giữa các tục thờ cúng này đã khiến hàng trăm người thiệt mạng. Năm 2007, một bọn dân làng ở Kenya đã đánh đập một cụ già 81 tuổi cho đến chết vì hồ nghi cụ đã sát hại 3 đứa cháu của cụ bằng trò phù thủy.

Tháng Hai năm 2007, Đại Học Công Giáo của Đông Phi Châu tại Nairobi, Kenya, tổ chức một hội nghị chuyên đề về thách đố mục vụ đối với trò phù thủy. Các chuyên viên cảnh cáo rằng trò phù thủy đang “tiêu diệt” Giáo Hội Công Giáo ở Phi Châu vì các giáo sĩ hoài nghi, do Tây Phương giáo dục, không chịu đáp ứng một cách thích đáng các nhu cầu thiêng liêng của người dân.

Michael Katola, một giảng sư về thần học mục vụ cho hay: “Điều quan trọng là Giáo Hội phải hiểu các nỗi sợ sệt của người dân, chứ đừng gán các nỗi sợ này cho mê tín dị đoan. Trò phù thủy là một việc có thực; nó không phải chuyện mê tín. Nhiều cộng đồng ở Kenya biết rõ các sức mạnh có thật”. Katola cảnh cáo rằng các đáp ứng mục vụ không thích đáng đang đẩy một số người Phi Châu về phía Phái Ngũ Tuần.

Nữ Tu Bibiana Munini Ngundo nói rằng Giáo Hội Công Giáo chưa lưu ý đủ tới “việc chữa lành toàn diện”, khiến người ta phải đặt tin tưởng vào các thầy bói và thầy ma thuật. Cha Clement Majawa ở Malawi liệt kê 14 loại trò phù thủy đang được thực hành tại Phi Châu và cho rằng việc Giáo Hội bác bỏ “chỉ leo thang vấn đề” mà thôi.

Ngài nói thêm: “Vì Chúa Kitô trong các sách Tin Mừng từng gặp ma qủy, nên điều thích đáng là các Kitô hữu phải chấp nhận trò phù thủy là chuyện có thật”.

Còn tiếp

37 Giáo Hội Công Giáo Dưới Cái Nhìn của Một Ký Giả Hoa Kỳ (bài 37)

37 Giáo Hội Công Giáo Dưới Cái Nhìn của Một Ký Giả Hoa Kỳ (bài 37)



Tác giả: 
 Vũ Văn An

Đâu là các thách đố lớn lao đang đặt ra cho Giáo Hội Công Giáo tại Hoa Kỳ?

Hãy hỏi 3 người Công Giáo Hoa Kỳ câu hỏi trên, có lẽ bạn sẽ nhận được 4 ý kiến khác nhau. Không dám nói là dứt khoát, ta có thể nhận ra ít nhất 4 thách đố đang ló dạng ở cuối chân trời.

Đầu tiên là các điểm gây đau đầu mới cũng như các điểm đem lại cơ may mới, do việc thay đổi dân số học đem lại. Về phương diện mục vụ, các nhà lãnh đạo Công Giáo ở Hoa Kỳ sẽ bị áp lực phải bảo đảm điều này: cộng đồng nói tiếng Tây Ban Nha đang lớn mạnh không được hiện hữu trong một thứ vũ trụ song hành với các trung tâm truyền thống của đời sống Công Giáo, nhưng phải hội nhập trọn vẹn vào đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội. Về phương diện xã hội và chính trị, các giám mục và các vị lãnh đạo khác sẽ được kêu gọi thực hiện điều các vị vốn thực hiện trong thế kỷ 19, là hành xử như các tòa tranh đấu quyền lợi cho di dân và như thành trì chống lại việc loại trừ có tính xã hội. Các vị cũng phải chấp nhận việc cộng đoàn của các vị mỗi ngày một già đi và tìm phương thế sáng tạo để khuyến khích các tín hữu có tuổi trong cộng đoàn mình đầu tư nhiều thì giờ và tài nguyện hơn vào các chính nghĩa Công Giáo, hơn là cảm thấy bị bỏ rơi và quên lãng.

Thứ hai, tính cạnh tranh về tôn giáo ở Hoa Kỳ có giảm đi đôi chút ở đầu thế kỷ 21, và hiện có bằng chứng cho thấy Giáo Hội Công Giáo nên quan tâm tới phần mất mát “thị trường” của mình. Cuộc Thăm Dò về Khung Cảnh Tôn Giáo năm 2008 của Trung Tâm Pew cho thấy hiện tượng khá linh động trong việc thống thuộc tôn giáo ở Hoa Kỳ: gần nửa số người trưởng thành Hoa Kỳ một là thay đổi tôn giáo hai là hoàn toàn từ bỏ các mối liên kết của họ đối với tôn giáo. Đối với Đạo Công Giáo, nhiều hàng tít lớn cho thấy hiện có tới 22 triệu người cựu Công Giáo ở Hoa Kỳ, một mất mát lớn hơn hết trong bất cứ tổ chức tôn giáo nào. Một trong ba người Hoa Kỳ được dưỡng dục trong đức tin Công Giáo đã rời bỏ Giáo Hội. Nếu không có di dân, Đạo Công Giáo ở Hoa Kỳ hẳn đã gảm thiểu một cách đáng kể: với mỗi thành viên mới Giáo Hội có được, họ mất tới 4 thành viên.

Dù các con số trên có thể là dấu chỉ một cuộc xuất hành hàng loạt ra khỏi Đạo Công Giáo, nhưng bức tranh phức tạp hơn thế. Giáo hội hiện vẫn duy trì được 68 phần trăm những người sinh ra trong đức tin cho tới tuổi trưởng thành, một ỷ lệ thấp hơn Ấn Độ Giáo (84 phần trăm) cũng như Do Thái Giáo, Chính Thống Giáo, và Đạo Mormon (tất cả đều trên 70 phần trăm), nhưng vẫn hơn bất cứ hình thức Thệ Phản nào. Phái Baptist duy trì được 60 phần trăm tín hữu, phái Luthêrô duy trì được 59 phần trăm, phái Ngũ Tuần duy trì được 47 phần trăm, phái Trưởng Lão duy trì được 40 phần trăm. Các Chứng Nhân Giêhôva chỉ duy trì được 37 phần trăm các thành viên từ lúc mới sinh đến tuổi trưởng thành, nghĩa là họ phải đương đầu với một ỷ lệ ra đi gần 2 phần 3. Tuy nhiên, điều các giáo phái này xem ra làm trội hơn Giáo Hội Công Giáo là việc họ tuyển mộ. Người Thệ Phản thu nhận 3 thành viên mới cho mỗi 4 thành viên họ bị mất ở Hoa Kỳ. Các Chứng Nhân Giêhôva nổi bật về phương diện này: vì họ tuyển được nhiều thành viên mới hơn là số bị mất, thành thử nói chung, họ vẫn phát triển mặc dù họ có ỷ lệ duy trì thấp hơn tỷ lệ duy trì của Giáo Hội Công Giáo.

Điều cốt yếu ở đây là: khi so sánh với các nhóm tôn giáo khác, các cuộc đấu tranh của Giáo Hội Công Giáo không thực sự là việc chăm sóc mục vụ mà là sức mạnh truyền giáo. Nói chung, Đạo Công Giáo phục vụ các thành viên hiện hữu rất tốt, căn cứ vào con số các tín hữu trung thành với Giáo Hội. Điều Giáo Hội này làm không tốt bằng là việc rao giảng Tin Mừng. Đặt tất cả các điều này vào lối nói thô thiển của tư bản chủ nghĩa, nghĩa là vào thị trường tôn giáo đầy tính cạnh tranh của Hoa Kỳ, thì vấn đề thực sự của Công Giáo không phải là việc phục vụ khách hàng mà là các vụ rao bán mới. Gia tăng khả năng truyền giáo của Giáo Hội, do đó, phải là ưu tiên khá khẩn thiết.

Thứ ba, Giáo Hội Công Giáo ở Hoa Kỳ đang đương đầu với một loạt các cuộc tranh đấu mỗi ngày một khó khăn thêm giữa nhà nước và giáo hội, trong các trận tuyến như chính sách tiểu bang và liên bang về phá thai, ngừa thai, và hôn nhân đồng tính; khả năng của các trường, các bệnh viện và cơ quan bác ái thống thuộc Giáo Hội trong việc duy trì giáo huấn của Giáo Hội trong khi vẫn nhận được tài trợ công cộng; và quyền phản đối lương tâm của các cá nhân và định chế tôn giáo.

Ai chịu trách nhiệm đối với các cuộc tranh đấu này thì vẫn còn là vấn đề tranh cãi. Các giám mục Hoa Kỳ tin rằng hiện có một cố gắng có phối hợp nhằm làm suy yếu việc truyền thống Hoa Kỳ bảo đảm tự do tôn giáo, do giai cấp trí thức ưu tú thế tục và các lực lượng chính trị cấp tiến lãnh đạo (theo họ, phần lớn có liên hệ với Đảng Dân Chủ). Đặc biệt, các giám mục tin rằng tự do tôn giáo ở Hoa Kỳ đang bị tái định nghĩa như một điều hoàn toàn tùy thuộc các cá nhân chứ không phải các định chế, nhằm một là làm tê liệt các định chế của Giáo Hội hai là gây chia rẽ giữa các định chế này và hàng giáo phẩm. Các người phê bình các giám mục, trong đó, có thành phần ý kiến cấp tiến rất đáng kể ngay bên trong Giáo Hội, cho rằng hàng giáo phẩm chịu trách nhiệm phần nào về việc này, một phần vì đã càng ngày càng có chủ trương cứng rắn hơn trong giáo huấn phò sự sống, và một phần khác vì đã liên minh trên thực tế với Đảng Cộng Hòa và do đó, trở thành một mục tiêu chính trị.

Bất kể người ta chẩn đoán vấn đề ra sao, sự kiện gia tăng căng thẳng giữa nhà nước và giáo hội ở Hoa Kỳ là điều không thể chối cãi. Năm 2011, các giám mục lập một Ủy Ban Đặc Nhiệm về Tự Do Tôn Giáo để đáp úng tình thế và một trong các hành vi đầu tiên của Ủy Ban là thuê một nhóm luật sư. Ở Hoa Kỳ thế kỷ 21, đây thường là điều bạn biết bạn đang gặp rắc rối: lúc bạn cần phải thuê một nhóm luật gia danh tiếng.

Thứ tư, Giáo Hội Công Giáo ở Hoa Kỳ là một điển hình đặc biệt rõ nét của cuộc khủng hoảng mô tả ở chương 10 về việc “bộ lạc hóa”. Cảnh vực Công Giáo ở Hoa Kỳ được chấm phá bằng nhiều bộ lạc khác nhau: người Công Giáo phò sự sống, người duy truyền thống về phụng vụ, các phong trào, người Công Giáo cải tổ, các nhóm hòa bình và công lý,v.v… Trong thực hành, đôi khi các nhóm này kình chống nhau hơn là đồng minh với nhau, và do đó, Giáo Hội bị sa lầy vào cuộc tranh chấp nội bộ. Nói cách khác, đây là hình thức bộ lạc kiểu Balkan, chứ không phải liên minh Iroquois. Trong một môi trường như thế, giữ cho Giáo Hội hợp nhất với nhau sẽ là một thách đố hết sức gay go ở đầu thế kỷ 21.

Khi nhìn Hoa Kỳ, Vatican thấy gì?

Trước đây không lâu, Vatican thấy có nhiều điều đáng để sợ ở Hoa Kỳ, hoặc ít nhất, có nhiều điều hàm hồ lưỡng nghĩa. Ngày nay, nhìn qua sông nước, Vatican thấy Hoa Kỳ là người bạn tốt nhất của mình và là người hùn hạp tự nhiên nhất của mình trên sân khấu hoàn cầu. Cả hai phản ứng này đều cần được giải thích phần nào.

Lúc Hoa Kỳ mới lập quốc, Vatican phần lớn bận bịu với sự việc ở Âu Châu. Có nghĩ đến Tân Thế Giới, thì Vatican cũng chỉ chú tâm tới các tranh chấp thực dân giữa các cường quốc Công Giáo ở Nam Mỹ. Vatican có lưu ý tới cuộc nội chiến Hoa Kỳ trong một thời gian ngắn, cụ thể qua việc trao đổi thư từ giữa Đức Giáo Hoàng Piô IX và Jefferson Davis, lãnh tụ của Phe Liên Minh (confederacy). Đức Piô chưa bao giờ nhìn nhận Các Tiểu Bang Liên Minh Hoa Kỳ (Codfederacy States of America), nhưng ngỏ với Davis như là “Thưa Ngài Tổng Thống” và tiếp một đại sứ của Davis. Tuy nhiên, tất cả những điều này chỉ là tiết mục chuyển tiếp (interlude) không để lại nhiều dấu ấn trong các thái độ của cả Rôma lẫn Hoa Kỳ.

Phải đợi lúc Hoa Kỳ trở thành một đại cường hoàn cầu sau Thế Chiến I, Vatican mới lưu ý nhiều hơn và khi đã lưu ý như thế, Vatican duy trì mãi thái độ này. Cuộc Cách Mạng Bônxêvích lúc đó đã diễn ra ở Nga rồi, nên Vatican hoan nghinh sự xuất hiện của một bức tường lửa mới và mạnh mẽ chống lại sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản. Đồng thời, nhiều chính khách Công Giáo Âu Châu, kể cả một số nhà ngoại giao và tư tưởng kỳ cựu của Vatican, coi Hoa Kỳ như một nền văn hóa phần lớn theo Thệ Phản, thậm chí theo Canvinh, đối nghịch với đạo đức học xã hội Công Giáo. Sau Thế Chiến II, một số giới chức cao cấp Vatican thực sự còn khuyên Ý không nên tham gia khối NATO, lấy lý do liên minh này chỉ là con ngựa thành Troa nhằm truyền bá các giá trị thệ phản ra khắp thế giới, nhất là việc tách biệt hoàn toàn giữa giáo hội và nhà nước, dưới sự che chở của sức mạnh quân sự và kinh tế Hoa Kỳ. Phải có sự can thiệp đặc biệt của Đức Giáo Hoàng Piô XII, người ủng hộ NATO, cuộc tranh luận mới kết thúc.

Cuộc tranh đấu chung chống chủ nghĩa cộng sản trở thành trọng điểm trong mối bang giao Hoa Kỳ - Vatican suốt hậu bán thế kỷ 20, đạt tới cao điểm thời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II; Nhà báo Hoa Kỳ Carl Bernstein gọi cuộc phối hợp tâm trí giữa Rôma và Washington là “liên minh thần thánh”. Thế nhưng, các thiên kiến cũ không bao giờ hoàn toàn biến đi. Năm 2003, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phái một đặc phái viên qua Washington để cố thuyết phục chính phủ Bush đừng gây chiến với Iraq. Đặc phái viên này, Đức Hồng Y Pio Laghi, một vị hồng y người Ý rất kỳ cựu, đã trở về Rôma với lời phàn nàn cho rằng Bush và nhóm của ông nhìn thế giới dưới nhãn quan nhị nguyên Canvinh, một thế giới bị phân chia giữa những người được chọn và những người bị kết tội.

Tuy nhiên, trong mấy thập niên gần đây, thái độ Vatican đối với Hoa Kỳ và ảnh hưởng hoàn cầu của nó đã nồng ấm hẳn lên. Khi Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI tông du Hoa Kỳ năm 2008, ngài ca ngợi truyền thống giáo hội và nhà nước tách biệt nhau của Hoa Kỳ, mô tả nó như có mục đích cổ vũ quyền tự do theo (for) tôn giáo, hơn là quyền tự do thoát khỏi (from) tôn giáo. Phần lớn, việc này xẩy ra là do các khai triển ở Âu Châu từ cuối thập niên 1960, nhất là sự xuất hiện của hình thức duy tục triệt để, một hình thức mà Vatican tin rằng có quyết tâm diệt trừ ảnh hưởng tôn giáo khỏi đời sống công cộng. Thời điểm chủ yếu hơn cả là năm 2004, khi ứng cử viên tổng thống của Đảng Dân Chủ John Kerry thua George Bush một phần vì lá phiếu “đức tin và các giá trị” ở Hoa Kỳ. Cùng thời điểm này, một triết gia và chính trị gia Công Giáo người Ý, Rocco Buttiglione, một người bạn thân của Đức Gioan Phaolô II bị bác chức bộ trưởng trong Ủy Ban Âu Châu vì đã duy trì giáo huấn Công Giáo về phá thai và đồng tính luyến ái. Tri cảm ở Rôma là Âu Châu đã trở thành một vùng “người Công Giáo không nên nạp đơn”, trong khi người có đức tin vẫn được nghinh đón vào đời sống công cộng tại Hoa Kỳ.

Thành thử, bài toán địa dư nổi bật ở Vatican hiện nay là: bất chấp các lỗi lầm của nó, Hoa Kỳ vẫn là đại cường chủ yếu trên hoàn cầu, sẵn sàng cổ vũ một vai trò công cộng và sinh động cho tôn giáo và sẵn sàng nhất trong việc lắng nghe các quan tâm của Vatican. Các nhà ngoại giao của Đức Giáo Hoàng tin rằng Hoa Kỳ chắc chắn là quốc gia thân thiện với Giáo Hội hơn bất cứ siêu cường mới xuất hiện nào khác trong thế kỷ 21, như Trung Quốc, nơi các giám mục Công Giáo và hàng giáo sĩ tiếp tục bị giam giữ , hay Ấn Độ, nơi phong trào Ấn Giáo cực đoan đang làm ngơ các vụ tàn sát Kitô Giáo. Niềm xác tín này giúp giải thích lý do tại sao Vatican có đường hướng ôn hòa với Chính Phủ Obama hơn nhiều giám mục Hoa Kỳ. Trong khi nhiều người Hoa Kỳ có xu hướng so sánh Obama với phe đối lập trong nước, thì các nhà ngoại giao Vatican có xu hướng so sánh ông ta (và bất cứ lãnh tụ Hoa Kỳ nào) với các chính khách ở Âu Châu, cũng như các nhà lãnh đạo của các cường quốc chính khác trên thế giới. Nói chung, Vatican dường như tin rằng trong thế kỷ mới này, Hoa Kỳ là cuộc cá độ tốt nhất trong việc bảo vệ tự do tôn giáo, bảo vệ vai trò sinh động cho những người có đức tin trong sinh hoạt công cộng, và trật tự quốc tế vững ổn từ trong căn bản.

Vatican nhìn giáo hội Hoa Kỳ như thế nào?

Một lần nữa, Vatican thấy cả tích cực lẫn tiêu cực. Cuối thế kỷ 19, Vatican lo rằng người Công Giáo Hoa Kỳ sẽ loan truyền một thứ lạc giáo, gồm cả “duy đặc thù” (particularism: tức ý niệm cho rằng người Công Giáo Hoa Kỳ là một trường hợp đặc biệt và cần sự rộng rãi để hội nhập vào một quốc gia đa số theo Thệ Phản), “duy cá nhân” (kể cả việc bác bỏ thẩm quyền của hàng giáo phẩm), và triệt để tách biệt giáo hội và nhà nước. Trong thông điệp năm 1898, tựa là Testem Benevolentiae Nostrae, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII tố cáo lạc giáo “Duy Hoa Kỳ” (Americanism) này. Các nhà lãnh đạo Giáo Hội ở Hoa Kỳ vào lúc đó không nhận mình chủ trương các ý niệm được mô tả trong thông điệp và phần lớn các sử gia hiện nay tin rằng thông điệp này thực sự nhắm vào các trào lưu cấp tiến lúc ấy ở Pháp. Tuy nhiên, lá thư vẫn cho thấy rõ các nhà tư tưởng của Vatican từ lâu vốn không hài lòng với hình thức Công Giáo đang thành hình ở Hoa Kỳ.

Vì ảnh hưởng hoàn cầu của Hiệp Chúng Quốc và các tài nguyên khổng lồ của Đạo Công Giáo ở Hoa Kỳ, Vatican phải lưu ý đặc biệt tới Giáo Hội ở đây. Thập niên 1980, Vatican mở một cuộc điều tra về thừa tác vụ dành cho người Công Giáo đồng tính nam nữ do hai người Công Giáo Hoa Kỳ phát động, đó là Nữ Tu Jeannine Gramick và Cha Robert Nugent, vi sợ rằng thừa tác vụ này đang bán rẻ giáo huấn chính thức về đồng tính luyến ái. Gần cùng thời gian này, một nhà thần học luân lý Hoa Kỳ nổi tiếng, Cha Charles Curran, là đối tượng của một cuộc điều tra khá lâu dài của Vatican mà kết cục là Cha Curran bị sa thải khỏi Đại Học Công Giáo America. Cha bị tố cáo duy trì các lập trường bất đồng về nhiều vấn đề đạo đức học tính dục, như ngừa thai chẳng hạn. Gần đây, vào năm 2012, Vatican ra lệnh xem xét toàn bộ nhóm lãnh đạo chung của các nữ tu Hoa Kỳ, tức Hội Đồng Lãnh Đạo Các Nữ Tu (LCWR), dựa trên các lệch lạc đối với giáo huấn của Giáo Hội về nhiều vấn đề như phụ nữ làm linh mục, phá thai và hôn nhân đồng tính, và điều bị Vatican coi như “chủ nghĩa duy nữ cực đoan”. Những việc can thiệp như thế này khiến người ta châm biếm cho rằng Giáo Hội ở Hoa Kỳ mà hắt hơi thì cả thế giới Công Giáo chắc đang cảm cúm cả.

Tuy nhiên, một lần nữa, việc đánh giá của Vatican đối với Giáo Hội Hoa Kỳ ở đầu hế kỷ 21 về căn bản khá tích cực. Đến một mức độ nào đó, việc này có được một phần do trong 30 năm qua, dưới thời các Đức Gioan Phaolô II và Bênêđíctô XVI, các vị giám mục được bổ nhiệm cho Hoa Kỳ có xu hướng thân Vatican. Một phần khác cũng vì các tổ chức Công Giáo chính ở Hoa Kỳ, nhất là Hội Hiệp Sĩ Columbus với 1.8 triệu thành viên, là ân nhân chính của nhiều chính nghĩa Công Giáo. (Hãy lấy một thí dụ nhỏ: những người tới thăm Vatican hẳn lưu ý điều này: các xe vận tải của CTV, tức hệ thống truyền hình của Vatican, đều mang huy hiệu của Hội Hiệp Sĩ Columbus). Thành thử, người Công Giáo Hoa Kỳ có xu hướng tạo ảnh hưởng rất lớn đối với các bình diện cấp cao của Giáo Hội. Tính đến năm 2012, chẳng hạn, Hoa Kỳ có nhiều hồng y có quyền bỏ phiếu bầu vị giáo hoàng kế tiếp hơn cả Ba Tây (sáu) và Mễ Tây Cơ (bốn) cộng lại. Đây là hai quốc gia Công Giáo lớn nhất trên thế giới, với tổng số dân Công Giáo cộng lại gấp tới hơn 3 lần rưỡi dân số Công Giáo của Hiệp Chúng Quốc. Ở các bình diện thấp hơn, cũng thế, Vatican cũng càng ngày cành dựa vào Hoa Kỳ nhiều hơn. Chẳng hạn, khi bị Âu Châu lượng giá về việc rửa tiền năm 2012, Tòa Thánh đã phải cậy nhờ một luật sư Hoa Kỳ, vốn là một giáo dân ở California, Ông Jeffrey Lena, làm cố vấn chính. Cùng năm đó, để giải quyết các vấn đề giao tế nhân sự kéo dài lâu năm của mình, Vatican cũng đã phải thuê một nhà báo Hoa Kỳ, Ông Gregory Burke, một phóng viên kỳ cựu của hãng Fox và là thành viên của Opus Dei.

Khi nói với các nhân viên của Vatican về người Công Giáo Hoa Kỳ, chắc chắn bạn sẽ được nghe họ than phiền. Họ nói rằng người Công Giáo Hoa Kỳ chỉ chiếm 6 phần trăm dân số Công Giáo thế giới, nhưng hình như không chịu hiểu cho rằng họ là thành phần của một Giáo Hội hoàn cầu rộng lớn hơn và vì thế sự việc không luôn theo ý họ. Trong khi người Công Giáo Hoa Kỳ đôi lúc than phiền rằng họ không được Rôma yêu thương đủ, thì các nhân viên của Vatican thường phản đối mà cho rằng Hoa Kỳ đã có quá nhiều ảnh hưởng đối với Giáo Hội rồi. Các thiên kiến xưa cũ về Hoa Kỳ như một nền văn hóa cao bồi ấu trĩ cũng khá dai dẳng nơi một sối giới ở Vatican. Tuy nhiên, nói thế thì nói, xem ra ở đầu thế kỷ 21, càng ngày càng có “thời điểm Hoa Kỳ” ở Vatican, được nuôi dưỡng nhờ cái nhìn khá tích cực đối với sự đóng góp của người Công Giáo Hoa Kỳ, cả về phương diện cá nhân lẫn về phương diện tập thể.

Chúng ta có thể có một vị giáo hoàng người Hoa Kỳ không?

Đã từ lâu, sự khôn ngoan thông thường vẫn cho rằng một người Hoa Kỳ không thể được bầu làm giáo hoàng vì cùng một lý do như họ không thể được bầu làm Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc. một định chế hoàn cầu giả thiết phải là một môi giới hợp tình hợp lý đối với mọi quốc gia và do đó, người lãnh đạo nó không thể xuất thân từ một trong các siêu cường. Tuy nhiên, đầu thế kỷ 21, ít nhất có 3 lực lượng đang làm cho thứ luận lý học này tan vỡ, và giúp cho ý niệm một giáo hoàng người Hoa Kỳ có thể trở thành khả hữu hơn.

Thứ nhất, Hoa Kỳ không còn là siêu cường đơn độc của thế giới nữa. Các giám mục Công Giáo có xu hướng coi Trung Quốc hoặc Saudi Arabia như là các siêu cường nhiều hơn chứ không phải Hoa Kỳ. Các giám mục ở Đông Nam Á, có xu hướng ít nhất nghĩ tới Ấn Độ như một lực lượng hoàn cầu chủ yếu giống như Hoa Kỳ. Nói cách khác, trong một thế giới đa cực, các cấm kỵ truyền thống chống lại một “giáo hoàng siêu cường” đã dần mất đi sức mạnh của nó.

Thứ hai, việc bầu Đức Gioan Phaolô II năm 1978 đã thay đổi năng động tính tâm lý nơi các vị hồng y bầu giáo hoàng. Cùng một lúc, người ta nghĩ việc bầu vị giáo hoàng người Ba Lan cũng đã báo hiệu việc kết thúc 500 năm độc quyền của người Ý đối với ngôi vị giáo hoàng, nhưng nhờ nhìn thấy các ơn phúc của nó, việc này còn có giá trị hơn nữa. Thực vậy, trên thực tế, nó đã tạo nên một não trạng mới nơi các vị hồng y, giúp các ngài cởi mở hơn đối với ý niệm vị giáo hoàng sắp tới có thể xuất thân từ bất cứ nơi đâu, vì chính cá nhân, chứ không phải quốc tịch của vị này, là điều đáng kể. Để chứng tỏ điều này, sau mật nghị hồi tháng Tư năm 2005 nhiều vị hồng y nói rằng các ngài bầu Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI không phải vì ngài là người Đức. Thực sự, các ngài cho hay, các ngài bầu ngài bất chấp việc ngài là người Đức. Nói một cách tổng quát, nhiều vị hồng y cho biết các ngài bị lôi cuốn bởi ý tưởng chọn một người không phải là Âu Châu, nhưng các ngài thấy nơi Đức Ratzinger một cá nhân đầy đủ tư cách vào lúc đó.

Thứ ba, vấn đề căn bản liên quan tới việc nói đến xuất xứ của vị giáo hoàng kế tiếp là các vị hồng y không chọn một giấy xuất cảnh, mà chọn một hữu thể nhân bản bằng xương bằng thịt. Dù trong lý thuyết, việc bầu một người Hoa Kỳ làm giáo hoàng hoàn toàn hợp lý đi chăng nữa, thì vị này cũng phải có đủ tư cách mới làm cho viễn tượng ấy thành sự thực được. Trong phần lớn thế kỷ 20, hình như chưa có vị hồng y Hoa Kỳ nào buộc người ta phải xếp vào loại papabile hay có thể trở thành ứng viên chức giáo hoàng. Các vị hồng y Hoa Kỳ nổi tiếng là các nhà cai trị hay kỹ trị (techcrats), là các vị “gạch vữa” hơn là các chính khách (statesmen) hay các tư tưởng gia thâm thúy. Tuy nhiên, gần đây, hình ảnh này bắt đầu thay đổi. Đức Hồng Y Francis George của Chicago được quốc tế coi như một nhà trí thức nghiêm túc, một trong ít thành viên của hồng y đoàn có khả năng so sánh với với Đức Bênêđíctô. Đức Hồng Y Timothy Dolan của New York được coi như một nhà lãnh đạo nhiều đặc sủng, thông thạo truyền thông, có khả năng tỏa chiếu một hình ảnh tích cực của Giáo Hội trên sân khấu công cộng. Nói cách khác, lần kế tiếp, khi các vị hồng y họp lại để bầu vị tân giáo hoàng, chắc chắn các ngài sẽ không loại bỏ ý niệm bầu một người Hoa Kỳ làm giáo hoàng.

Còn tiếp

ĐTC gửi sứ điệp cho Đại hội quốc tế giáo lý bên Argentina

ĐTC gửi sứ điệp cho Đại hội quốc tế giáo lý bên Argentina




BUENOS AIRES: Trong sứ điệp gửi đại hội quốc tế giáo lý nhóm tại Buenos Aires trong các ngày từ 11 tới 14 tháng 7, ĐTC khích lệ các giáo lý viên chu toàn sứ mệnh phục vụ Giáo Hội của mình bằng cách  sống mật thiết với Chúa Giêsu và dùng mọi phương thế để loan báo Ngài, trước hết bằng chứng tá cuộc sống.
Đại hội quốc tế giáo lý do Học viện giáo lý của HĐGM Argentina cùng tổ chức với phân khoa Thần Học của đại học Công giáo Argentina với khẩu hiệu “Phúc cho những ai tin”. Trong số các thuyết trình viên cũng có ĐTGM Luis Francisco Ladaria dòng Tên Tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin và Đức Ông José Ruiz Arenas thư ký Hội đồng Toà Thánh tái truyền giảng Tin Mừng.
Mở đầu sứ điệp ĐTC đã trích câu thánh Phanxicô thành Assisi trả lời các tu sĩ xin thánh nhân dậy cho các vị biết giảng dậy: “Hỡi anh em, khi chúng ta thăm viếng các người đau yếu, giúp đỡ trẻ em và cho người nghèo ăn là chúng ta đã giảng dậy rồi”. Câu trả lời hay đẹp này tóm gọn ơn gọi và nhiệm vụ của giáo lý viên. Giáo lý viên không phải là một công việc hay một nhiệm vụ bên ngoài con người của mình, nhưng là một ơn gọi phục vụ Giáo Hội, đã nhận được từ Chúa và phải thông truyền trong suốt cuộc đời. Giáo lý viên phải luôn luôn quy hướng về lời loan báo ban đầu là ơn thay đổi cuộc sống. Việc loan báo này phải đi kèm đức tin đã hiện diện trong tâm tình tôn giáo của dân tộc chúng ta. Cần phát triển tiềm năng lòng đạo đức và tình yêu thương nằm trong tâm tình tôn giáo bình dân để thông truyền các nội dung đức tin và tạo ra một trường đào tạo giúp vun  trồng ơn đã nhận lãnh.
Để được như thế, giáo lý viên phải là người bước đi từ Chúa Kitô và với Chúa Kitô, chứ không phải khởi hành từ các tư tưởng và sở thích của riêng mình. Càng biết lấy Chúa Kitô làm trung tâm điểm, giáo lý viên càng ra khỏi chính mình và gần gũi tha nhân, theo gương Chúa Giêsu sống thân tình với Thiên Chúa Cha rồi gặp gỡ các người đói khát, chữa lành họ và cứu vớt họ.
Sự kiện này giải thích tầm quan trọng của giáo lý trong việc cử hành các bí tích khai tâm kitô. Cuộc sống kitô là một tiến trình lớn lên và hội nhập mọi chiều kích  của con người trong một lộ trình lắng nghe và đáp trả (Evangelii Gaudium, 166).
Giáo lý viên cũng phải là một người có óc sáng tạo, biết sử dụng và sáng chế ra các phương tiện và hình thức khác nhau để loan báo Chúa Kitô, biết gặp gỡ các dấu chỉ mới và các hình thức mới để thông truyền đức tin. Các phương pháp có thể khác nhau, nhưng quan trọng là kiểu  loan báo của Chúa Giêsu, thích ứng với mọi người kiếm tìm Thiên Chúa.
Sau cùng ĐTC cám ơn các giáo lý viên vì những gì họ làm và các nỗ lực của họ đồng hành với dân Chúa (REI 12-7-2917)
Tác giả: Linh Tiến Khải
Nguồn: http://vietvatican.net

Không cần bói toán, vì chúng ta bước đi trong sự ngạc nhiên

Không cần bói toán, vì chúng ta bước đi trong sự ngạc nhiên





Chúng ta không cần bói toán để biết trước tương lai. Kitô hữu đích thực không phải là người bị cài đặt vào con số cố định. Kitô hữu là người đặt niềm tin nơi Thiên Chúa và để cho Ngài dẫn dắt trên con đường rộng mở với đầy sự ngạc nhiên. Đức Thánh Cha chia sẻ như thế trong thánh lễ sáng 26/6 tại nhà nguyện Marta.
Lên đường
Kitô hữu mà chỉ dậm chân tại chỗ, thì không phải là Kitô hữu chính danh. Vì khi dậm chân tại chỗ, có nghĩa là người ấy bị cài đặt bởi quá nhiều điều, và không còn chỗ cho sự ngạc nhiên của Thiên Chúa. Con đường ngạc nhiên, con đường của niềm tin đặt nơi Chúa, giống như câu chuyện của Abraham hôm nay. Abraham cho thấy phong cách mà một Kitô hữu cần. Đó là ba khía cạnh: lên đường, lời hứa, và chúc phúc.
Thiên Chúa đã sai Apraham lên đường, rời bỏ xứ sở, rời bỏ quê hương. Các ngôn sứ cũng thế, ví như ngôn sứ Elisa. Câu chuyện ơn gọi của các môn đệ trong Tin Mừng cũng vậy. Chúa Giêsu mời gọi các ông, các ông bỏ lại mọi sự và lên đường theo Chúa. Nếu không có khả năng từ bỏ, thì chưa phải là Kitô hữu chính danh. Bởi lẽ khi chưa biết từ bỏ, họ không thể sống kinh nghiệm từ bỏ và chịu đóng đinh như Chúa Giêsu trên thập giá. Còn Apraham, ông vâng theo tiếng Chúa gọi, ông bỏ lại mọi sự và lên đường theo lời Chúa hứa.
Lời hứa
Người Kitô không dùng bói toán để đoán biết tương lai, cũng không có những quả cầu phalê để đoán số mệnh… Không. Không. Kitô hữu không biết mình đi đâu, chỉ biết rằng mình đi theo lời hướng dẫn. Đó là đi theo lời hứa của Thiên Chúa. Như Thiên Chúa nói với Apraham, rằng Chúa sẽ ban cho ông đất hứa làm gia nghiệp. Tuy nhiên, Apraham không xây nhà, mà chỉ cắm lều, lập bàn thờ để thờ phượng Thiên Chúa, và rồi ông tiếp tục bước đi, tiếp tục lên đường, luôn luôn lên đường.
Cuộc hành trình luôn bắt đầu mỗi sáng. Đó là con đường tin tưởng nơi Chúa, mở ra trước những ngạc nhiên của Thiên Chúa, có cả những điều chưa tốt, cả những điều tệ nữa, chúng ta thử nghĩ về người bệnh, thử nghĩ về người chết. Dù thế nào, đó cũng là con đường mở, là con đường Thiên Chúa dẫn chúng ta đến nơi an toàn, đến nơi Chúa dọn sẵn. Khi sống như thế, người ấy đang tiến bước, đang sống trong chiếc lều, một chiếc lều thiêng liêng. Tâm hồn chúng ta nhiều khi bị mắc kẹt trong những hệ thống, bị cài đặt bởi quá nhiều thứ, mà đánh mất không gian, không còn chỗ cho những lời hứa. Làm như thế, chúng ta không còn tiến bước, không còn là người Kitô hữu đích thực.
Chúc phúc
Kitô hữu là người được Thiên Chúa chúc phúc, và rồi đến lượt mình, họ đi chúc phúc cho tha nhân. Đây chính là đời sống Kitô của chúng ta. Bởi vì mọi người kể cả giáo dân đều phải chúc phúc cho người khác, đều phải chúc phúc cho tha nhân chính phúc lành mà họ đã nhận nơi Thiên Chúa. Thường thì chúng ta có thói quen không chúc lành cho người thân láng giềng. Chúng ta hãy sống như tổ phụ Abraham đã sống: đó là lên đường, là từ bỏ, là tin tưởng vào lời Thiên Chúa hứa, là sống không có gì đáng chê trách. Đời sống người Kitô đơn giản là thế.

Nguồn: http://vietvatican.ne

ĐẠI HỘI GIÁO LÝ TOÀN QUỐC LẦN V- 2017 Buổi sáng Ngày làm việc thứ tư của Đại Hội (31/08/2017)

ĐẠI HỘI GIÁO LÝ TOÀN QUỐC LẦN V- 2017
Buổi sáng Ngày làm việc thứ tư của Đại Hội (31/08/2017)

5g30: Các tham dự viên cùng nhau ca tụng, ngợi khen và chúc tụng Chúa qua Giờ Kinh Sáng và Thánh Lễ. Hiện diện trên bàn thờ với Đức Cha Giuse Nguyễn Năng, Giám mục Giáo phận Phát Diệm là quý Cha trong Giáo Tỉnh Sài Gòn.
Chia sẻ sứ điệp Lời Chúa (Mt 24, 42-51) trong bài giảng, Đức Cha Giuse Nguyễn Năng đã nhắc nhớ các tham dự viên- là những người giữ vai trò đào tạo giáo lý viên, hoặc là chính giáo lý viên- hai ý tưởng rút ra từ sứ điệp Tin Mừng : trung tín và khôn ngoan trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng.
Trung tín, điều này đòi buộc giáo lý viên phải trung thành, tận tụy với công việc. Giáo lý viên không thể dạy giáo lý, hay thi hành phận vụ một cách hời hợt, thiếu chuẩn bị. Khi trung thành, tận tụy với công việc, lời dạy, lời loan báo Tin Mừng của họ mới có sứ thuyết phục. Không chỉ trung tín, giáo lý viên cần phải biết đồng hành với học viên trong đời sống đức tin, nghĩa là đi ra khỏi lớp học để sống cùng với học viên của mình trong đời sống đức tin hằng ngày.
Khôn ngoan, đây là điều mà giáo lý viên cần phải biết để áp dụng khi thi hành phận vụ của mình. Giáo lý viên phải biết rao giảng Lời Chúa cho đúng đối tượng, nghĩa là cho ai, đúng thời điểm- là lúc nào và đâu là hoàn cảnh thuận lợi. Sự khôn ngoan này giúp giáo lý viên biết tìm kiếm phương cách giảng dạy, làm thế nào để đồng hành với học viên cho phù hợp, cũng như đổi mới "phương pháp" rao giảng Tin Mừng, nghĩa là nhấn đến việc Tân Phúc Âm hóa cho thích nghi với hoàn cảnh xã hội. Đức Cha nhắc lại cho mọi người ý nghĩa của Tân Phúc Âm hóa: nôi dung rao giảng vẫn như cũ vì "Chúa Giêsu vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay và như vậy mãi đến muôn đời" ( Dt 13,7-8); nhưng giáo lý viên cần đổi mới lòng nhiệt thành, phương pháp, ngôn ngữ để lời rao giảng của giáo lý viên được người nghe trong thời đại hôm dễ dàng đón nhận, mà không khư khư ôm lấy những "ngôn ngữ quen thuộc, nhàm chán."
Sau giờ điểm tâm, quý tham dự viên bắt đầu chương trình làm việc ngày thứ tư của Đại Hội.
8g00: Đức Tổng Giám Mục Phaolô Bùi Văn Đọc đã thuyết trình đề tài "Đào tạo Giáo lý viên- chứng nhân niềm vui Tin Mừng".
Dựa trên Tông huấn NIềm Vui Tin Mừng ( Evangelii Gaudium), Đức TGM đã khai triển và nhấn đến khía cạnh cần phải đào tạo, giúp giáo lý viên có được niềm vui Tin Mừng, trước khi họ chia sẻ niềm vui Tin Mừng đến cho học viên, những ai mà họ gặp gỡ. Giáo lý viên chỉ có thể trở nên chứng tá của niềm vui Tin Mừng khi họ biết say mê tìm kiếm và gặp gỡ Thiên Chúa. Nhờ gặp gỡ Thiên Chúa, họ mới có niềm vui, hứng khởi để sống chứng tá và chia sẻ cho người khác về niềm vui mà chính họ đã cảm nếm. Đó là niềm vui sâu xa, có cả chiều kích rộng-cao-sâu khi được bén rễ và kín múc từ nguồn là Tin Mừng, nơi Thiên Chúa. Nếu giáo lý viên có niềm vui này, họ sẽ không dễ dàng bị người khác "cướp mất" niềm vui, cho dù họ gặp nhiều khó khăn thử thách.
Chính Chúa Thánh Thần, Đấng đã, đang và sẽ luôn khơi gợi trong lòng giáo lý viên niềm vui sâu xa này. Ngài sẽ là nguồn ơn của hứng khởi, của niềm vui thực bên trong tâm hồn cho dẫu có bị sỉ nhục hay gặp khó khăn, đau buồn.
Đức TGM Phao lô cũng nhấn đến những yếu tố, điều kiện mà giáo lý viên cần có như cần có đức tin vững vàng, biết nội dung giáo lý rõ ràng và đặc biệt, họ cần có lòng mến, yêu mến Thiên Chúa và tha nhân.
Sau phần thuyết trình, các tham dự viên đã đặt câu hỏi, xin Đức TGM chia sẻ kinh nghiệm riêng tư của việc cảm nhận nhận niềm vui Tin Mừng, cũng như làm thế nào để có được niềm vui đó.
Với những câu trả lời ngắn, pha lẫn chút hài, các tham dự viên đã tìm thấy nguồn của niềm vui khi họ cậy trông vào Chúa Thánh Thần, Đấng sẽ giúp họ có được niềm vui thực, niềm vui phát xuất từ Tin Mừng. Đó chính là nguồn hứng khởi để giáo lý viên thu hút được học viên, không phải bằng lời nói, nhưng chính là bằng cảm nhận, cách sống chứng tá cho niềm vui của Tin Mừng.
Trước giờ họp nhóm, nhóm Truyền Thông Đại Hội là quý Thầy Đại Chủng Viện Xuân Lộc đã trình chiếu bản tin Sáng, thâu kết những hoạt động và hình ảnh của ngày làm việc thứ ba của Đại Hội.
9g00: Thảo luận nhóm với ba nội dung : (1) Vai trò của Chúa Thánh Thần trong cuộc sống sứ vụ và công việc của giáo lý viên; (2) Vai trò của cầu nguyện trong cuộc sống sứ vụ và công việc của giáo lý viên và (3) Vai trò Lời Chúa trong cuộc sống sứ vụ và công việc của giáo lý viên.
10g15: Hội thảo chung.
Hầu hết các nhóm, các tham dự viên đều đã nhấn mạnh đến vai trò hết sức quan trọng của Chúa Thánh Thần, Lời Chúa trong cuộc sống sứ vụ của giáo lý viên. Vì chính Chúa Thánh Thần, Đấng đang hoạt động trong Giáo Hội, cũng sẽ hoạt động nơi từng giáo lý viên, giúp họ có được lòng mến, sự hăng say, niềm vui của việc phục vụ, của người đang mang trong mình sứ mạng giáo dục và đồng hành đức tin với học viên. Bản đúc kết cũng đã chỉ ra vai trò Lời Chúa trong đời sống của giáo lý viên vì Lời Chúa là linh hồn của nội dung giáo lý, là nguồn soi rọi, là động lực...là tất cả của đời sống sứ vụ giáo dục đức tin. Và để có thể thi hành sứ mạng, "là" giáo lý viên" của Chúa, các nhóm đã chỉ ra sự cần thiết của cầu nguyện, đó là nhịp cầu, là con đường, là hơi thở của giáo lý viên.
Để đánh dấu những ngày làm việc, tham dự Đại Hội Giáo Lý lần V tại Giáo phận Xuân Lộc, Đức Cha Đa Minh Nguyễn Chu Trinh, nguyên Giám Mục Giáo Phận Xuân Lộc đã gửi tặng đến mỗi tham dự viên tượng Đức Mẹ Núi Cúi. Đây quả là một món quà rất quý đối với từng tham dự viên, không chỉ là những gì nhìn thấy được qua hiện vật, nhưng là một cảm nhận tuyệt vời khi được Đức Mẹ Núi Cúi đồng hành với từng tham dự viên trong những ngày Đại Hội này, tại Tòa Giám Mục Xuân Lộc, tại vùng đất đã và đang xây dựng Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ Núi Cúi. 
11g30: Cơm trưa "tự phục vụ". Đây là bữa cơm các tham dự viên "tự phục vụ", xa rời "những chiếc bàn cố định" quen thuộc...để đến với "những cái mới hơn, gặp gỡ được nhiều hơn và có được nhiều hứng khởi hơn trong sứ vụ, trong sự hiệp thông với tha nhân...
12g15: Các tham dự viên nghỉ trưa.
Tác giả: Nt. Têrêsa Ngọc Lễ, OP ( Ban Truyền Thông Đại Hội)
Nguồn: giaolyductin.org