Trang

Chủ Nhật, 29 tháng 5, 2016

Tài liệu về hôn nhân

Tài liệu về hôn nhân


 
Tác giả: 
 Trần Mỹ Duyệt


Trắc nghiệm chỉ số thông minh về hôn nhân Công Giáo. Bạn có biết 5 điều căn bản sau đây về hôn nhân Công Giáo không?

Đây không phải là một khảo cứu chuyên nghiệp, và cũng không phải là câu trả lời đầy đủ về hôn nhân Công Giáo cũng như sự thông minh của bạn khi bước vào đời sống này. Những gì Dr. Gregory K. Popcak đưa ra chỉ là những gợi ý có tính chủ quan tuy giá trị và hữu ích. Do đó, bạn cũng nên dừng lại ít phút trên hành trình cuộc sống để tìm hiểu và tái khám phá thêm những giá trị và hạnh phúc ơn gọi hôn nhân của chính mình, vì đó là những gì bạn cần có và phải làm trong cuộc đời. Tài liệu này được trích từ OSV Daily Take và được link từ Face book của Lm. Chirstopher Myers.

Trần Mỹ Duyệt chuyển ý.

Một vấn đề đã trở thành quá rõ ràng dưới ánh sáng của Thượng Hội Đồng Về Gia Đình mới đây, đó là tại sao có quá ít người hiểu biết về viễn tượng hôn nhân Công Giáo - có thể nói là hầu hết người Công Giáo! Mời bạn trắc nghiệm khả năng hiểu biết của mình qua những câu hỏi sau:

H: Công việc chính của người chồng và người vợ Công Giáo là gì?

Đ: Công việc chính của người chồng và người vợ Công Giáo là giúp nhau đạt được Nước Trời. Đó là phần chủ yếu của ý nghĩa hôn nhân được nói tới như một bí tích và một ơn gọi. Khi một người chồng và người vợ kết hôn trong Giáo Hội Công Giáo, họ đang xác tín rằng họ tin là Thiên Chúa đã chọn họ để thực hiện một vai trò hết sức quan trọng để thánh hóa nhau - chỉ đứng sau quyền năng cứu độ của Chúa Giêsu Kitô. Một cách chính xác, đây cũng là lý do lớn khiến Giáo Hội khe khắt về ly dị. Hành động ly dị có thể nói là, “Tôi từ chối vai trò Thiên Chúa đã chọn cho tôi trong việc giúp đỡ người phối ngẫu lên Thiên Đàng.” Dĩ nhiên, Thiên Chúa vẫn có thể đưa họ lên đó, nhưng ly dị làm ngăn cản sự hỗ trợ chính yếu của nhau. Chỉ có một con đường duy nhất ra để thoát khỏi vai trò hợp thức này là minh chứng - qua tiến trình hóa giải - rằng Thiên Chúa đã không chọn bạn đóng vai trò này.   
   
H: Đúng hay Sai. Bạn và người phối ngẫu nói về hôn nhân của mình như thế nào. 

Đ: Sai. Đó là lý do các đôi Công Giáo bị cấm không được viết ra những lời thề hứa cho riêng mình. Dĩ nhiên, mỗi cuộc hôn nhân có những khác biệt đôi chút, nhưng thay vì định nghĩa bản chất tự nhiên của hôn nhân cho chính họ, như những cặp đôi đời thường vẫn làm, những cặp vợ chồng Công Giáo một cách minh nhiên chấp nhận sống đời hôn nhân như Giáo Hội định nghĩa. Tại sao? Trước hết vì họ tin rằng Giáo Hội Công Giáo có nhiều điều để giảng dậy họ về cách thức để trở nên những người yêu thương một cách trọn vẹn, và tiếp đến, bởi vì họ muốn trở thành những chứng nhân sống động của một sự thật tự ý trong viễn ảnh của tình yêu và tính dục Công Giáo. Mỗi một cặp đôi Công Giáo đều được nâng đỡ để trở thành một dấu chứng sống và sinh động mà sự hiểu biết về tình yêu và sinh lý Công Giáo là con đường tới tự do thật sự, niềm vui và sự thỏa mãn để qua đó họ có thể mời gọi cả thế giới về với Chúa Kitô qua gương sống của họ.    

H: Đúng hay Sai. Hôn nhân là một bí tích của tính dục. 

Đ: Đúng. Mỗi bí tích đều dựa trên những dấu chỉ vật chất mà chúng đại diện. Phép Rửa Tội dùng nước làm biểu tượng cho sự thanh tẩy tâm hồn. Phép Thánh Thể hoán đổi bánh và rượu thành lương thực thần linh. Phép Hôn Phối chuyển hóa sinh lý thành thực tại tinh thần như Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã viết, “trong ngất ngây nâng lên tới thánh thiêng.” Cũng giống như bạn không thể thanh tẩy mà không cần nước, một cặp vợ đôi cũng không thể kết hôn một cách hiệu lực ngoại trừ họ có khả năng sinh hoạt tính dục. Trong bí tích hôn nhân, tính dục tạo nên một cách sống động sự kết hợp hiệp nhất gần gũi tinh thần và thể xác. Cũng thế, nó cho phép vợ chồng trở nên những người cộng tác trong việc tạo dựng sự sống, nó hành động như một sự nhắc nhở vật chất về tình yêu nồng nàn mà Thiên Chúa đã ban cho người vợ và người chồng, và nó giúp thánh hóa hai người bằng sự thách thức họ ôm lấy sức thu hút họ kinh nghiệm trong vòng tay của nhau và để phát triển trong nhân đức khi cùng nhau xây dựng một sự hiệp nhất chung mà nó có thể làm cho sự tốt lành của mỗi người từ trong phòng ngủ ra đến bên ngoài. Cũng thế, khi một cặp vợ chồng Công Giáo hỏi, “Ai cho quyền Giáo Hội để bào chúng tôi làm việc ấy trong phòng ngủ?” Và câu trả lời là họ là những người đã cho phép mình - khi họ đứng trước bàn thờ.    
   
H: Đúng hay Sai. Hôn nhân là vĩnh viễn

Đ: Đây là một câu hỏi đánh lừa. Và câu trả lời là “cả hai”. Có lẽ bạn đã có lần nghe: “Trên thiên đàng người ta không dựng vợ, gả chồng” (Mt 22:30). Nhưng, ở một nghĩa nào đó, hôn nhân không chấm dứt trên thiên đàng mà nó được biến đổi và dẫn vào sự hiệp thông của các thánh. Hôn nhân là dấu chỉ thuộc trần thế về sự hiệp thông hôn ước Thiên Chúa định sẵn cho con cái Ngài để cảm nghiệm trong Ngài (Jn 17:21). Sự hiệp thông này, dĩ nhiên, không phải là dục vọng, nhưng Giáo Hội đã dậy chúng ta rằng nó là sự kết hợp vợ chồng, trong ý nghĩa hoàn toàn cho đi bản thân mình và được gói trọn một cách đầy đủ trong thương xót, tình yêu ban sự sống Thiên Chúa đã có cho mỗi người chúng ta.  

H: Đúng hay Sai.  Hôn nhân dậy chúng ta về Thiên Chúa.

Đ: Đúng. Hôn nhân dậy chúng ta nhiều về cách thế Thiên Chúa yêu Giáo Hội (Eph 5:31-32).  Khi thế giới nhìn vào một đôi hôn nhân Công Giáo, nó mong muốn được thấy một mẫu gương sống động về lòng thương xót và sự trung tín mà Thiên Chúa yêu con người sa ngã, thương tích. Đó cũng là lý do tại sao tái hôn sau khi ly dị (không được gỡ giải - xem câu hỏi thứ nhất) là một vấn đề lớn lao. Nó làm méo mó hình ảnh của hôn nhân yêu thương thánh thiện cần có, làm cho khó khăn hơn để thế giới nhìn ra cách thức Thiên Chúa yêu thương chúng ta như thế nào. Thật khó lòng để tin vào một điều gì chúng ta chưa có kinh nghiệm. Hôn nhân Công Giáo được kỳ vọng đem lại cho thế giới một dấu chỉ của một tình yêu bền vững dù bất cứ như thế nào.      

Bạn như thế nào rồi? Để có thêm kiến thức, mời bạn đọc tham khảo “For Better...FOREVER! A Catholic Guide to Lifelong Marriage”  đã được hiệu đính và tái bản lần thứ 2.

***
Test your Catholic marriage IQ Do you know these five essential facts about Catholic marriage? Dr. Gregory K. Popcak OSV Daily Take

10/30/2015

One thing that became stunningly clear in light of the recent Synod on the Family is how little people really understand the Catholic vision of marriage - perhaps most especially Catholics! Test your Catholic marriage IQ with the following questions.

Q: What is the primary job of the Catholic husband and wife?

A: The primary job of a Catholic husband and wife is to help get each other to heaven. That's a big part of what it means to say that marriage is both a sacrament and a vocation. When a husband and wife get married in the Catholic Church, they are affirming that they believe God has chosen them to play an essential role in each other's sanctification - second only to the saving power of Jesus Christ. Incidentally, this is also a big reason the Church frowns on divorce. To actively pursue divorce is to say, "I refuse to play the role God chose me to play in helping this person get to heaven." Of course, God can still get them there, but divorce deprives them of a major support. The only way to step out of this role validly is to find - through the process of an annulment - that God really didn't choose you to play this role after all.

Q:  True or False. You and your spouse get to say what your marriage should look like.

A: False. That's why Catholic couples are forbidden to write their own marriage vows. Of course, every marriage is different in some ways, but rather than defining the nature of marriage for themselves, as many secular couples do, Catholic couples implicitly agree to live marriage as the Church defines it. Why? First, because they believe that the Catholic Church has a lot to teach them about what it means to be fully loving people and second, because they want to be living witnesses of the freeing truth of the Catholic vision of love and sexuality. Every Catholic couple is supposed to be a living, breathing sign that the Catholic understanding of love and sex is the path to true freedom, joy and fulfillment so that they can call the whole world to Christ through their example.

Q: True or False. Marriage is the sacrament of sex.

A: True. Every sacrament depends on a physical sign that actually causes what it represents. Baptism uses water to signify the actual cleansing of the soul. The Eucharist transforms bread and wine into spiritual food. Sacramental marriage turns sex into a spiritual reality that, as Pope Benedict XVI wrote, "rises in ecstasy toward the divine." Just like you can't baptize without water, a couple cannot be validly married unless they are capable of having sexual intercourse. In a sacramental marriage, sex actually causes the spiritual union physical intimacy represents. Likewise, it allows couples to be co-creators of life, it serves as a physical reminder of the passionate love God has for the husband and wife, and it helps to sanctify the couple by challenging them to embrace the vulnerability they experience in each other's arms and to grow in virtue as they work together to build the intimate partnership that enables them to work for each other's good in and out of the bedroom. Incidentally, when Catholic couples ask, "What gives the Church the right to tell us what to do in the bedroom?" The answer is that they couple did - when they stood at the altar. (Check the small print.)

Q: True or False. Marriage is eternal.

A: OK. Trick question. The answer is "both." You've probably heard that "there is no marriage in heaven" (Mt 22:30). But, in a sense, marriage doesn't end in heaven as much as it is transformed and expanded into the communion of saints. Marriage is the earthly sign of the nuptial union God intends all of his children to experience in him (Jn 17:21). This union is, of course, not sexual, but the Church teaches us that it is nuptial, in the sense that it is totally self-giving and completely bound up in the passionate, life-giving love God has for each of us.

Q: True or False. Marriage teaches us about God.

A: True. Marriage teaches us a lot about the way God loves the whole Church (Eph 5:31-32). When the world looks at a Catholic couple, it is supposed to see a vibrant example of the passion and faithfulness with which God loves all of his broken, wounded people. That's why remarriage after divorce (without annulment - see first question) is such a big deal. It defaces the icon of divine love marriage is supposed to be, making it harder for the world to see how God could love us the way he does. It's hard to believe in something we have never experienced. Catholic marriage is supposed to give the world a sign of a love that endures no matter what as.

How'd you do? To learn more check out my all new, revised and expanded 2nd edition of For Better...FOREVER! A Catholic Guide to Lifelong Marriage.
Dr. Greg Popcak is the author of many books, including the all new, revised & expanded 2nd edition of For Better...FOREVER! To learn more about his books and Catholic tele-counseling services, visit www.CatholicCounselors.com.


Bài văn ứng xử trước nỗi đau khiến giáo viên phải học hỏi


Bài văn ứng xử trước nỗi đau khiến giáo viên phải học hỏi


"Như một con sâu gây hại gặm nhấm dần những xúc cảm tốt đẹp, nỗi đau ru con người vào cõi quên lãng, vào cảm giác mệt mỏi, chán chường", nữ sinh lớp 11 viết.
Trong một cuộc thi trên diễn đàn văn học, đề bài về “Ứng xử trước nỗi đau” khiến nhiều học sinh quan tâm. Bài viết của Phan Thị Thanh Ngọc (học sinh lớp 11A, trường THPT Trung Phú, xã Bình Mỹ, huyện Củ Chi, TP HCM) nhận được nhiều lời khen ngợi.
Đề bài như sau:
Câu chuyện 1: Một cô gái đến tìm một nhà sư, cô hỏi:
- Thưa thầy, con muốn buông một vài thứ mà không thể, con mệt mỏi quá.
Nhà sư đưa cho cô gái 1 cốc nước và bảo cô cầm, đoạn ông liên tục rót nước sôi nóng vào cốc, nước chảy tràn ra cả tay, làm cô bị phỏng, cô buông tay làm vỡ cốc. Lúc này nhà sư từ tốn hỏi:
- Đau rồi tự khắc sẽ buông!
Vấn đề là, tại sao phải đợi tổn thương thật sâu rồi mới buông?
Câu chuyện 2: Một chàng trai đến tìm nhà sư, anh hỏi:
- Thưa thầy, con muốn buông một vài thứ mà không thể, con mệt mỏi quá.
Nhà sư đưa anh ta 1 cái tách và bảo anh cầm, đoạn ông rót đầy tách trà nóng vừa mới pha xong.
Chàng trai nóng quá nhưng anh vẫn không buông tay mà chuyển từ tay này sang tay kia cho đến khi nguội rồi uống và cảm nhận thấy rất ngon. Lúc này, nhà sư từ tốn nói:
- Cứ đau là buông thì con đã bỏ lỡ những cái tốt đẹp sau đó rồi.
Vấn đề là tại sao cứ đau là phải buông trong khi còn có thể làm cho nó tốt đẹp lên.
Bài học rút ra: Trong cuộc đời vốn phức tạp này, chỉ có ta mới biết lúc nào nên cầm lên và bỏ xuống chuyện của chính mình. Em nghĩ như thế nào về cách ứng xử trước nỗi đau của chàng trai và cô gái trong hai câu chuyện trên?
Bai van ung xu truoc noi dau khien giao vien phai hoc hoi - Anh 1
Thanh Ngọc - tác giả của bài văn được cộng đồng mạng yêu mến.
Bài viết của học sinh Thanh Ngọc:
Cuộc sống mỗi con người cũng như con lắc đơn chênh vênh giữa hai thái cực đối lập nhau: Những thăng trầm biến động, những quanh co bằng phẳng, những nụ cười hạnh phúc hay những giọt nước mắt đắng cay. Chính vì thế, cuộc đời luôn đặt ra những câu hỏi thử thách con người trước những dao động không ngừng trong cuộc sống.
Liệu con người sẽ đứng dậy trước những bão giông, cố gắng gượng chung sống với nỗi đau hay buông xuôi phó mặt bản thân cho số phận? Mỗi câu trả lời sẽ dẫn cuộc đời mỗi người đến những ngã rẽ khác nhau, nơi được bao phủ bởi niềm vui hay ngập chìm trong nỗi hối hận.
Do đó, “trong cuộc đời vốn dĩ phức tạp này, chỉ có ta mới biết lúc nào nên cầm lên và bỏ xuống chuyện của chính mình”. Đó chính là thái độ ứng xử trước nỗi đau mà chàng trai và cô gái trong hai câu chuyện đã lựa chọn giải quyết theo hai hướng riêng biệt.
Con đường đời mà mỗi người bước đi không chỉ trải đầy hoa hồng mà còn lấm láp những đớn đau, nghiệt ngã. Không ai có thể vỗ ngực tự tin rằng đời mình là một chuỗi những ngày dài hạnh phúc và cũng không một ai có thể chắc chắn rằng đời mình bị lấp đầy bởi nỗi đau khôn tả.
Nỗi đau cũng như hạnh phúc, chúng luôn túc trực bên cuộc hành trình của mỗi cá nhân, luôn luân phiên nhau hiện hữu, tô điểm bức tranh đời sống thêm muôn màu muôn vẻ.
Nỗi đau là một trạng thái tâm lý của con người khi những sự việc xung quanh diễn ra theo chiều hướng ngược lại những ước muốn của bản thân. Người ta đau khi gặp thất bại, đau khi bị khước từ tình cảm, đau khi phải trải qua những mất mát lớn lao không thể chấp nhận được.
Nỗi đau nhấn chìm tâm hồn con người vào những hố sâu tuyệt vọng, vẽ ra trước mắt họ một thế giới u ám, mù mịt, một không gian bất hạnh bị bóng tối che lấp, khỏa đầy. Nỗi đau như một cây kim châm cắm sâu vào trái tim người chịu đựng, khiến họ ngập ngụa trong nỗi dày vò, day dứt khôn nguôi.
Chính vì sợ bị vấy bẩn bởi những vệt màu đen tối ấy, con người sợ nỗi đau, sợ những giọt nước mắt xót xa như một lẽ thường tình. Như một con sâu gây hại gậm nhấm dần những xúc cảm tốt đẹp, nỗi đau ru con người vào cõi quên lãng, vào cảm giác mệt mỏi, chán chường, thúc giục “nạn nhân” buông tay từ bỏ những câu chuyện mà mình đang nắm giữ. Dần dần, con người tự động buông bỏ những khó khăn, những tâm sự đang chất chứa trong lòng như một phản xạ tất yếu mà trái tim chỉ huy.
“Đau rồi tự khắc sẽ buông” cũng như việc buông tay một cốc trà nóng để cơ thể tránh được những thương tổn không đáng. Thế nhưng, vẫn có người chọn cho mình phương hướng giải quyết tự chữa lành những vết thương, là khi “chuyển từ tay này sang tay kia” mà không đành lòng làm vỡ cốc.
Bởi chiếc cốc là một sản phẩm được nhào nặn nên từ bàn tay tinh xảo của người nghệ nhân. Đó là đứa con của sự cố gắng, không thể muốn làm vỡ là làm vỡ được. Chiếc cốc xuất hiện trong hai câu chuyện tượng trưng cho những mối quan hệ, những công việc, những tâm huyết mà bản thân ta đã đặt từng viên gạch dựng xây từng ngày.
Bai van ung xu truoc noi dau khien giao vien phai hoc hoi - Anh 2
Thanh Ngọc vẽ sơ đồ tư duy cho bài văn của mình.
Do đó, có nên hay không khi buông tay những điều có giá trị mà mình từng rất trân quý? Mỗi người sẽ có câu trả lời riêng để quyết định từ bỏ hay níu giữ. Nhưng dẫu sao, trước khi đưa ra cách giải quyết chính thức, chúng ta cần phải cân nhắc thật kỹ về giá trị của những “chiếc cốc”.
Thầy Trịnh Quỳnh – giáo viên trường THPT Lương Thế Vinh, Nam Định – người sáng lập ra cuộc thi nhận xét: "Bài văn hay quá. Bản thân mình là giáo viên nhưng còn phải học hỏi học sinh nhiều điều".
“Đau rồi tự khắc sẽ buông” thế nhưng “tại sao phải đợi tổn thương thật sâu rồi mới buông?”. Bởi đâu dễ dàng để buông tay những điều mà mình từng quý trọng, đâu dễ dàng cắt đứt những mối quan hệ mà mình từng gieo trồng, vun xới bấy lâu nay.
Con người luôn muốn bảo vệ những hạt ngọc quý giá trong cuộc đời mình dù có ngày, nó hóa thành cây kim làm rỉ máu trái tim ta. Sự chần chừ, do dự trong việc tìm cách giải quyết luôn bắt nguồn từ những dòng ý nghĩ “không nỡ”.
Nếu con người có thể dứt khoát hơn, khối óc có thể minh mẫn hơn, trái tim có thể mạnh mẽ hơn thì có lẽ những vết thương sẽ không thâm nhập vào cõi lòng sâu đến như vậy. Để rồi cũng đến lúc, nỗi đau lan tỏa, đôi tay cũng tự buông xuôi. Vậy thì khi đã chọn cách buông, nếu buông ngay từ đầu chẳng phải tốt hơn sao?
Sự do dự khiến con người đau trong lặng câm, day dứt từ ngày này qua ngày khác rồi cũng dẫn đến kết quả không như mong đợi. Như thế chẳng khác nào lãng phí thời gian, lãng phí tình cảm, tâm huyết bấy lâu nay.
Do đó, khi cảm thấy những nỗ lực của mình là phí hoài vô nghĩa, khi nhìn thấy tương lai phía trước vẫn tối tăm nếu cứ tiếp tục, thì hãy buông tay ngay từ đầu, đừng để trái tim chìm sâu trong đau đớn, tuyệt vọng.
Bên cạnh đó, con người có thể chọn cách níu giữ nỗi đau, dần dà xoa dịu tâm hồn đang bỏng rát để thổi nguội sức nóng trong tâm can. Bởi “Tại sao cứ đau là phải buông trong khi còn có thể làm cho nó tốt đẹp lên”.
Thật vậy, nếu buông tay từ bỏ những điều quan trọng trong đời chỉ vì một chút nỗi đau vừa chớm nở thì có lẽ chúng ta sẽ đánh mất “những cái tốt đẹp sau đó”. Trước khi muốn buông tay, hãy nghĩ đến lý do tại sao mình bắt đầu. Không thể vì một chút khó khăn, một vài thử thách mà ta đi ngược lại mơ ước thoạt đầu của bản thân, dập tắt những kế hoạch, những mối quan hệ đang trong giai đoạn đơm hoa kết trái.
Với lòng kiên trì bền bỉ, với nỗ lực vững chãi theo thời gian, với tâm hồn yêu thương, thấu hiểu cặn kẽ thì nỗi đau sẽ vơi đi nhanh chóng, trái tim sẽ vượt qua những vùng ranh giới quẩn quanh, bế tắc.
Có vượt qua nỗi đau, có gạt đi giọt nước mắt, thì con người mới có thể chạm đến bến bờ hạnh phúc rực rỡ sắc màu. Nỗi đau, sự tuyệt vọng chỉ là bài toán nhỏ để đo đạc sự bền bỉ của trái tim:
“Biển lặng không làm nên những người thủy thủ tài giỏi”
(Ngạn ngữ Châu Phi)
Cũng như cuộc đời không vướng đau khổ thì mãi mãi cũng không thể nào tốt đẹp. Cứ chạm ngõ đau thương mà buông tay thì cố gắng ban đầu thật vô nghĩa. Vì vậy, khi cảm thấy vẫn còn hy vọng, trái tim vẫn còn day dứt khó phai thì nên tiếp tục lưu giữ “chiếc cốc” của đời mình, hàn gắn những vết nứt mà suýt nữa chỉ vì chúng mà ta buông tay gạt bỏ những cơ hội sau này.
Hai cách giải quyết hoàn toàn đối lập nhau, nhưng bài học giữa hai câu chuyện không hề tồn tại sự mâu thuẫn. Xâu kết lại tất cả, cả hai phương pháp như bổ sung, hòa quyện lẫn nhau để hình thành nên những thái độ sống tốt đẹp, những hành động ứng xử thấu đáo trước nỗi đau.
Trong cuộc đời vốn phức tạp này, chỉ có ta mới biết lúc nào nên cầm lên và bỏ xuống chuyện của mình. Lúc cần thiết nhất hãy buông cũng như lúc cảm thấy vẫn còn hy vọng, hãy níu giữ. Tất cả đều tùy thuộc vào từng ngữ cảnh, từng giá trị mà mỗi người nắm giữ.
Trong cuộc sống này vẫn hiện hữu những con người ứng xử đẹp trước nỗi đau mà mình phải gánh chịu. Lê Thanh Thúy – đóa hướng dương không đợi mặt trời đã lựa chọn cho mình cách giải quyết tích cực với nỗi đau, căn bệnh ung thư xương đang dày vò tấm thân cô từng ngày.
Nỗi đau thể xác không thể nào khỏa lấp tâm hồn nhân đạo của cô gái trẻ. Thúy gắng gượng vượt lên trên tất cả để sống tiếp cuộc đời còn lại sao cho thật xứng đáng với ước mơ của mình. Cô gái với nghị lực thép ấy đã lập nên quỹ “Ước mơ của Thúy” để giúp đỡ những trẻ em ung thư mang trong mình số phận nghiệt ngã. Nếu Thúy không tiếp tục nắm giữ “chiếc cốc” của chính mình, phó mặc cho số phận đẩy đưa thì có lẽ những hành động ấm áp lòng người sẽ không được tiếp diễn.
Nếu chị buông tay từ bỏ mọi thứ thì một đóa hướng dương rạng rỡ sẽ không có dịp nở rộ giữa vườn hoa cuộc sống. Thúy đã lựa chọn cầm nắm vận mệnh đầy đớn đau của chính mình thay vì thả trôi tất cả vào cõi hư vô, quên lãng. Một lựa chọn thật đúng đắn, đẹp đẽ và cao thượng biết bao.
Thế nhưng, không phải ai cũng mang một trái tim mạnh mẽ như Thúy. Một số người không chịu nổi sự đau đớn dày vò mà buông tay bỏ lỡ những điều mình từng trân quý. Cô gái vội vàng chia tay người mình yêu chỉ vì những cuộc cãi vã nhỏ nhoi.
Một anh giám đốc dễ dàng từ bỏ sự nghiệp cả đời khi một chút thất bại, một chút tuyệt vọng bám víu anh trong những giai đoạn thua lỗ, cạn kiệt tài chính. Một vận động viên lập tức dập tắt mơ ước cả đời mình sau một vụ chấn thương đầy đau đớn...
Nếu vượt qua được ranh giới của nỗi đau đang ngự trị trong lòng, có lẽ cuộc đời họ sẽ được thắp bởi những ánh sáng lung linh và hạnh phúc. Thật đáng tiếc. Song, không chỉ có những trái tim mềm yếu vứt bỏ cơ hội tốt đẹp của mình mà còn tồn tại những con người cố chấp đến không tưởng. Biết rõ người mình yêu là một kẻ tồi tệ nhưng họ vẫn ngang nhiên sa vào lưới tình để rồi đau lại càng đau. Biết rõ công việc mình đang làm hoàn toàn không tốt nhưng họ vẫn miệt mài cặm cụi bên bàn làm việc để rồi nhận lấy những nỗi day dứt dằn xé cõi lòng. Biết rõ con đường mình đang đi là một tương lai mù mịt nhưng họ vẫn không dám quay đầu lại vì “tiếc” những năm tháng đã qua.
Sự chần chừ, do dự không muốn buông bỏ những nỗi đau đang đeo bám tâm hồn chỉ khiến những con người đó lặn ngụp trong bể sâu tuyệt vọng, khốn khổ. Cuộc sống ấy thật vô nghĩa.
Sự mất mát, nỗi đau khiến chúng ta trở nên trống rỗng nhưng hãy học cách ngăn cản những vệt đen u uất ấy đóng lại trái tim và tâm hồn mình. Hãy giữ một khối óc minh mẫn và một cái đầu tỉnh táo để quyết định ứng xử ra sao trước nỗi đau mà mình phải đối mặt.
Chính chúng ta mới là người thấu hiểu rõ nhất lúc nào nên cầm lên và bỏ xuống chuyện đời mình. Có thể bạn chọn phương án “Đau rồi tự khắc sẽ buông” cũng như bạn có thể quyết định “cứ đau là buông thì con đã bỏ lỡ những cái tốt đẹp sau đó rồi”.
Dù bạn chọn như thế nào đi nữa, hãy chắc chắn rằng phần đời còn lại của chúng ta không khuất lấp sau màn đêm đặc quánh, nơi được đổ đầy bởi nỗi day dứt, hối hận khôn nguôi.
Bởi: “Phần lớn những nỗi thống khổ của nhân loại đều do con người tự gây ra vì đánh giá nhầm giá trị của nhiều điều.”
( Benjamin Franklin)
Phạm Thị Thanh Ngọc đạt nhiều thành tích trong môn Ngữ văn. Nữ sinh sinh năm 1999 chia sẻ, đây là đề bài em rất tâm đắc. Cảm xúc dâng trào đã thôi thúc nữ sinh viết bài văn bằng những suy nghĩ tự nhiên, chân thành.
Thanh Ngọc cho biết, khi làm bài, chi tiết khiến em xúc động nhất là ở phần phê phán. Những con người không đủ dũng cảm đối mặt nỗi đau hay những con người chần chừ do dự khi quyết định số phận đều khiến em thương cảm. Thật ra cuộc đời họ đáng thương hơn đáng trách.
Quyên Quyên

Thứ Bảy, 28 tháng 5, 2016

Bài 22 PHỤNG VỤ THÁNH THỂ

Phần III - Bài 22 PHỤNG VỤ THÁNH THỂ




        Trước khi đọc thêm, bạn hãy suy nghĩ và hoàn tất hai câu hỏi sau:

1.      Một trong những buổi phụng tự đáng nhớ nhất mà tôi đã tham dự là…

2.      Điều làm cho đáng nhớ, đó là…

THÁNH THỂ


        Cha Walter Ciszek bị băét tại Nga-sô hồi đệ nhị thế chiến.  Ngài bị giam trong tù hai mươi ba năm.  Sau khi được thả, ngài viết cuốn sách nhan đề là Người đã dẫn dắt tôi (He Leadeth Me).  Ngài mô tả một cộng đoàn tù nhân Công Giáo bé nhỏ thường bí mật tụ họp nhau mỗi khi có thể để cử hành Thánh Thể.

        Vào thời đó, người Công Giáo nhịn ăn uống từ sau nửa đêm để được rước lễ ngày hôm sau.  Trong những Thánh lễ bí mật này, cộng đoàn thường để dành Mình Thánh lại để đem cho những tù nhân Công Giáo khác không thể tham dự.  Cha Ciszek viết:  “Đôi khi chúng tôi chỉ gặp được họ khi chúng tôi trở về nhà giam vào buổi tối trước bữa ăn.  Thế mà những người này vẫn nhịn đói cả ngày và lao động quần quật không một miếng bỏ bụng từ tối hôm trước, chỉ vì họ muốn được rước Thánh Thể.  Vậy mới biết Bí tích Thánh Thể đối với họ quý trọng dường nào.”

        Đối với người Công Giáo, không có Bí tích nào quý trọng hơn là Bí tích Thánh Thể.

BỮA TIỆC THÁNH THỂ


        Có lẽ cách đơn giản nhất để hiểu Phụng vụ Thánh Thể là hãy nhớ lại thánh sử Lu-ca mô tả Phụng vụ ấy vào bữa Tiệc Ly:

        “Khi giờ đã đến, Đức Giê-su vào bàn, và các Tông Đồ cùng vào với Người…  Rồi Người cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông và nói:  ‘Đây là mình Thầy, hy sinh vì anh em.  Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy.’  Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và nói:  ‘Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em.’” (Lc 22:14,19-20).

        Mô tả của thánh Lu-ca cho thấy ba sự kiện quan trọng về Thánh Thể, đó là:

                -  một bữa ăn tưởng niệm,
-  một bữa ăn hiến tế, và
                -  một bữa ăn giao ước.

Thánh Thể là một bữa ăn tưởng niệm


        Khi nói:  “Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy,” thì Chúa Giê-su đã có một ý nghĩ độc đáo và đặc biệt.

        Ý niệm tưởng nhớ trong Kinh Thánh mang một ý nghĩa súc tích hơn là ý niệm tưởng nhớ hiện thời.  Đối với người Do-thái, tưởng nhớ không chỉ có nghĩa là nhớ lại một biến cố quá khứ.  Nhưng tưởng nhớ là đem một biến cố quá khứ đưa vào hiện tại và sống lại biến cố ấy.  Thí dụ, khi người Do-thái cử hành (tưởng nhớ) biến cố Vượt qua thì họ tin rằng nhờ đức tin, họ đã đem biến cố ấy về hiện tại và sống lại biến cố đó.  Họ tham dự vào biến cố tựa như là đích thân hiện diện trong chính biến cố xảy ra lúc ban đầu.

        Chính phương cách tưởng nhớ đặc biệt này Đức Giê-su đã muốn khi Ngài nói với cộng đoàn môn đệ của Ngài:  “Anh em hãy làm việc này, mà tưởng nhớ đến Thầy.”

        Trong Thánh lễ, chúng ta tưởng nhớ cuộc sống, sự chết và sống lại của Đức Giê-su.  Chúng ta tin rằng nhờ đức tin chúng ta đưa những biến cố này vào hiện tại, để chúng ta có thể tham dự vào những biến cố ấy thực sự như các tông đồ đã tham dự trong bữa Tiệc Ly.

Thánh Thể là một bữa ăn hiến tế


        Trong bữa Tiệc Ly, Đức Giê-su nói:  “Đây là mình Thầy, hy sinh vì anh em” và “Đây là… máu Thầy, máu đổ ra vì anh em.”  Cả hai cách nói, “hy sinh vì anh em” và “đổ ra vì anh em” đều ám chỉ về một hy tế.  Toàn thể khung cảnh bữa Tiệc Ly mang đặc tính hiến tế và trực tiếp liên hệ với cái chết hy sinh của Đức Giê-su trên thập giá vào ngày hôm sau.

        Khi cử hành Thánh Thể, cộng đồng Công Giáo tham dự vào hy tế của Chúa Giê-su dâng lên Thiên Chúa Cha.  Thánh Phao-lô làm sáng tỏ điều này khi ngài nói:  “Khi ta nâng chén tạ ơn mà cảm tạ Chúa, há chẳng phải là dự phần vào Máu Đức Ki-tô ư?  Và khi ta cùng bẻ Bánh Thánh, đó chẳng phải là dự phần vào Thân Thể Người sao?” (1 Cr 10:16).

        Hy tế Thánh lễ không phải là một hy tế mới.  Đó là cùng một hy tế Đức Giê-su đã mở đầu tại bữa Tiệc Ly và hoàn tất ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.  Chúng ta tham dự vào hy tế ấy như các tông đồ đã tham dự trong bữa Tiệc Ly và như các môn đệ Đức Giê-su đã tham dự khi đứng dưới chân thập giá ngày Thứ Sáu Tuần Thánh.

Thánh Thể là một bữa ăn giao ước


        Trong bữa Tiệc Ly, Đức Giê-su nói:  “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy.”  Chúng ta nhận thấy hai điểm ở đây:

        Trước hết, những lời của Đức Giê-su nhắc lại giao ước Thiên Chúa đã ký kết với dân Ít-ra-en tại chân núi Si-nai.  Giao ước ấy được đóng ấn bằng máu những con vật được dâng hiến.  Nói đến việc “đóng ấn” này, sách Xuất Hành viết:  “Ông Mô-sê lấy cuốn sách giao ước đọc cho dân nghe.  Họ thưa:  ‘Tất cả những gì Đức Chúa đã phán, chúng tôi sẽ thi hành và tuân theo.’  Bấy giờ, ông Mô-sê lấy máu rảy lên dân và nói:  ‘Đây là máu giao ước Đức Chúa đã lập với anh em, dựa trên những lời này” (Xh 24:7-8).  Còn giao ước mới thì được “đóng ấn” bằng chính máu của Đức Giê-su.

        Thứ đến, những lời của Đức Giê-su “Chén này là giao ước mới” cũng nhắc lại lời Thiên Chúa hứa qua ngôn sứ Giê-rê-mi-a:  “Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en và nhà Giu-đa một giao ước mới…  Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta.  Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta…  Ta sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa” (Gr 31:31-34).  Đây là giao ước mới Đức Giê-su đã khai mạc trong bữa Tiệc Ly.  Đó cũng là giao ước mới mà chúng ta cử hành trong Thánh lễ.  Chúng ta cử hành một thực tại không thể tin được, đó là qua Đức Giê-su, Thiên Chúa đã trở thành Cha chúng ta và chúng ta được trở nên con cái Người.

Chúng ta làm những gì Đức Giê-su đã làm


        Trong bữa Tiệc Ly, Đức Giê-su “cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông (tông đồ) và nói:  ‘Đây là mình Thầy…’  Tới tuần rượu cuối bữa ăn, Ngài cũng làm như vậy.” Đây cũng chính là những gì chúng ta làm trong Phụng vụ Thánh Thể.

        Linh mục, hành động như người đại diện cho toàn thể cộng đoàn, nhận lấy bánh và rượu rồi chuẩn bị dâng lên.  Chúng ta gọi đó là phần Tiến lễ.

        Tiếp đến, linh mục làm phép bánh và rượu.  Chúng ta gọi phần này là Kinh Tạ ơn.

        Sau hết, linh mục trao bánh và rượu (giờ đây đã trở thành Mình và Máu Chúa Ki-tô) cho cộng đoàn.  Chúng ta gọi phần này là Hiệp lễ.

        Những gì Đức Giê-su đã làm trong bữa Tiệc Ly đều phù hợp với ba phần chính của Phụng vụ Thánh Thể:

        Trong bữa Tiệc Ly                 Trong Phụng vụ Thánh Thể
        Đức Giê-su cầm lấy                        Tiến lễ
        Đức Giê-su làm phép                      Kinh Tạ ơn
        Đức Giê-su trao cho                       Hiệp lễ

PHẦN TIẾN LỄ


        Phụng vụ Lời Chúa bắt đầu với việc rước Sách Thánh lên cung thánh.  Phụng vụ Thánh Thể cũng bắt đầu với việc rước đem của lễ (bánh và rượu) lên Bàn Tiệc của Chúa (bàn thờ).

        Sau khi đặt của lễ trên bàn thờ, linh mục chuẩn bị của lễ khi đọc lời nguyện trên bánh.  Lời nguyện dựa theo một lời nguyện ở bàn ăn của người Do-thái:

        “Lạy Chúa là Chúa Tể càn khôn, chúc tụng Chúa đã rộng ban cho chúng con bánh này là hoa màu ruộng đất và công lao của con người, xin dâng lên Chúa để bánh này trở nên bánh trường sinh nuôi dưỡng chúng con.”Cũng cùng một cách như thế, linh mục cầu nguyện trên rượu. 

Thánh Lu-ca nói rằng sau khi Đức Giê-su đã chuẩn bị của lễ, Ngài đọc lời chúc lành trên của lễ.  Ngày nay việc chúc lành này được gọi là Kinh Tạ ơn.

KINH TẠ ƠN


        Để giản dị hơn, chúng ta có thể chia Kinh Tạ ơn ra làm ba phần:

                Lời Tiền tụng,
                Trình thuật bữa Tiệc Ly, và
                Kết thúc.

Lời Tiền tụng giới thiệu Kinh Tạ ơn


        Linh mục bắt đầu lời Tiền tụng bằng cách mời gọi mọi người hãy “nâng cao” tâm hồn để “tạ ơn Chúa.”  Rồi tùy theo từng mùa, linh mục đọc những lời như sau:

        “Lạy Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Cha mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và sinh ơn cứu độ cho chúng con, khi Đức Ki-tô tự hiến tế làm Chiên Vượt Qua của chúng con.  Chính Người là Chiên thật đã xóa tội trần gian.  Người đã chết để diệt trừ sự chết nơi chúng con, và đã sống lại để phục hồi sự sống cho chúng con.”

        Lời Tiền tụng kết thúc với việc giáo dân cầu nguyện rằng:

        “Thánh! Thánh! Chí Thánh!  Thiên Chúa, Chúa Tể càn khôn là Đấng Thánh.  Trời đất rạng ngời vinh quang Chúa.  Hoan hô Chúa trên các tầng trời.  Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa.  Hoan hô Chúa trên các tầng trời.”

        Những lời “Thánh! Thánh! Chí Thánh!” trích từ sách ngôn sứ I-sai-a khi ngài kể lại thị kiến về các tạo vật trên trời đứng trước nhan thánh Chúa và hô lên “Thánh! Thánh! Chí Thánh!”

        Lời “Hoan hô” (Hosanna) gặêp thấy đôi chỗ trong Kinh Thánh.  Đầu tiên, Hosanna là lời kêu xin Thiên Chúa tới cứu giúp.  Sau này, nó biến thành lời chúc tụng Thiên Chúa và được sử dụng trong lời Tiền tụng theo ý nghĩa đó.

Trình thuật bữa Tiệc Ly tiếp tục kinh Tạ ơn


        Tiếp đến, linh mục sang phần chính của Kinh Tạ ơn là phần thuật lại bữa Tiệc Ly, nói về Đức Giê-su:

        “Trong đêm bị trao nộp, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn Cha, bẻ ra, trao cho các môn đệ và nói:  ‘Tất cả các con cầm lấy mà ăn:  Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con.’

        “Cùng một thể thức ấy, vào cuối bữa ăn, Người cầm lấy chén, tạ ơn, trao cho các môn đệ và nói:  ‘Tất cả các con cầm lấy mà uống:  Này là chén Máu Thầy, máu giao ước mới, giao ước vĩnh cửu sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội.  Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy.’”

Kết thúc Kinh Tạ ơn


        Linh mục kết thúc Kinh Tạ ơn bằng cách gợi lại sự chết và sống lại của Đức Giê-su.  Rồi linh mục dâng lên Chúa Cha mình và máu Đức Giê-su với những lời sau đây:

        “Chính nhờ Đức Ki-tô, cùng với Đức Ki-tô và trong Đức Ki-tô, hiệp nhâát với Chúa Thánh Thần, mọi vinh quang và danh dự đều thuộc về Cha là Thiên Chúa toàn năng đến muôn thuở muôn đời.”

        Cộng đoàn đồng thanh đáp lại với lời “A-men”.  Từ thời xưa, lời đáp này đã được gọi là “Amen trọng thể.”  Ở nhiều nhà thờ người ta đệm nhạc rộn ràng khi hát lời đáp này.

PHẦN HIỆP LỄ


        Linh mục mở đầu phần hiệp lễ bằng cách mời cộng đoàn cùng đọc kinh Lạy Cha.  Những lời “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày” mang ý nghĩa đặc biệt trong lúc này.  Bởi vì một lát nữa các phần tử trong cộng đoàn sẽ lãnh nhận Mình Thánh Chúa Ki-tô là “bánh ban sự sống” (Ga 6:35).

        Tiếp theo kinh Lạy Cha là nghi thức chúc bình an.  Lúc này linh mục mời cộng đoàn chúc bình an cho nhau.  Thường thường chúc bình an bằng cách bắt tay hoặc ôm hôn kèm theo lời “Bình an Chúa Ki-tô ở cùng…”

        Từ bình an trong tiếng Do-thái là Shalom.  Khó mà dịch ra cho đúng nghĩa, nhưng nói chung là chúng ta chúc cho nhau được đầy tràn mọi điều tốt lành do Đức Giê-su đem tới, tức là sự tha thứ, tình yêu thương và sự vui mừng.

Linh mục bẻ bánh


        Tiếp theo nghi thức chúc bình an là “bẻ bánh.”  Thời xưa, việc bẻ bánh mất nhiều thì giờ hơn vì người ta dùng các ổ bánh mì trong Thánh lễ.  Điều này cũng giúp chúng ta hiểu tại sao người ta hát kinh “Lạy Chiên Thiên Chúa.”  Trong khi chờ đợi đang bẻ bánh thì người ta hát kinh này.  Ngày nay, chúng ta vẫn còn hát kinh Lạy Chiên Thiên Chúa, nhưng bánh lễ là những tấm bánh nhỏ, thay vì dùng cả ổ bánh lớn.

Bữa Tiệc Thánh Thể


        Thánh Phao-lô viết:  “Bởi vì chỉ có một tấm Bánh, và tất cả chúng ta chia sẻ cùng một Bánh ấy, nên tuy nhiều người, chúng ta cũng chỉ là một thân thể” (1 Cr 10:17).  Bữa ăn Thánh Thể là cao điểm trong Thánh lễ.  Đó là nguồn cội và biểu lộ sự hiệp nhất của cộng đoàn trong Chúa Ki-tô.

        Bữa Tiệc Thánh Thể ngược lại với bữa ăn hằng ngày.  Trong bữa ăn hằng ngày, nhũng gì chúng ta ăn sẽ biến thành một phần của con người chúng ta.  Còn trong Bữa Tiệc Thánh Thể, chúng ta trở thành một phần của những gì chúng ta ăn, đó là thân mình Chúa Ki-tô.

        Cách thức chúng ta thường làm khi rước lễ là để cho thừa tác viên Thánh Thể đặt Mình Thánh vào miệng chúng ta hoặc vào lòng bàn tay chúng ta.  Khi làm như thế, thừa tác viên sẽ nói:  “Mình Thánh Chúa Ki-tô.”  Chúng ta sẽ đáp lại:  “A-men.”  Nếu đôi khi có cho rước Máu Thánh Chúa, thì thừa tác viên sẽ đưa chén cho chúng ta và nói:  “Máu Thánh Chúa Ki-tô.” Chúng ta cũng đáp lại:  “A-men,” rồi cầm lấy chén và uống.

        Phần Hiệp lễ kết thúc với một phút thinh lặng và lời nguyện do linh mục đọc.

KẾT LỄ


        Thánh lễ kết thúc với việc linh mục giải tán cộng đoàn.  Có người đã nói về lúc này như sau:  “Lúc thánh thiện nhất của phụng vụ là khi dân Chúa, sau khi đã được Lời Chúa và Thánh Thể ban cho sức mạnh, thì bước ra khỏi cửa nhà thờ mà đi vào thế giới để đích thực làm Giáo Hội.”  Sứ mệnh của cộng đoàn là đáp lại Lời Chúa.  Việc giải tán gồm hai động tác ngắn.

        Trước hết, linh mục chúc lành cho dân chúng, ngài nói:  “Xin Thiên Chúa toàn năng là Chúa Cha, và Chúa Con, và Chúa Thánh Thần ban phúc lành cho anh chị em.”
       
 Tiếp đến, để sai dân chúng đi làm Giáo Hội, linh mục nói:  “Lễ đã xong, chúc anh chị em ra về trong bình an và yêu thương để phụng sự Chúa.”  Cộng đoàn đáp:  “Tạ ơn Chúa.”

ĐỌC VÀ SUY NIỆM KINH THÁNH


1. Hình bóng về Bí tích Thánh Thể Gioan 2:1-12              
        
2.  Lời hứa về Bí tích Thánh Thể  Gio-an 6:35-59             
        
3.  Thiết lập Bí tích Thánh Thể   Lu-ca 22:14-20            
       
 4.  Cử hành Bí tích Thánh Thể    Lu-ca 24:13-35            
       
 5.  Thánh Phao-lô với Bí tích Thánh Thể      1 Cô-rin-tô 11:17-29

THẢO LUẬN

        1.  Ôn lại những ý nghĩa Thánh Thể là một bữa ăn:  tưởng niệm, hiến tế và giao ước.

        2.  Ba phần chính của Kinh Tạ Ơn.

        3.  Giải tán sau khi Thánh lễ kết thúc là giây phút “thánh thiện” được hiểu thế nào?

CHIA SẺ


        1.  Một phụ nữ Tin Lành viết trong một tạp chí quốc gia:  “Những người bạn Công Giáo của tôi làm cho tôi thắc mắc.  Họ nói rằng Thánh lễ thực sự cùng là Bữa Tiệc Ly, thực sự cùng là Hy tế Thập giá…  Vậy, nếu tôi tin Chúa Ki-tô hiện diện trên bàn thờ, thì tại sao tôi lại không có mặt ở đó mỗi ngày?”  Bạn trả lời người ấy thế nào?

2.  Cha Ciszek viết trong cuốn Người đã dẫn dắt tôi :  “Chúng tôi đã dâng Thánh lễ trong những kho chứa đồ, hoặc tụm lại giữa chỗ bùn lầy hoặc tuyết tan của một góc nền nhà sắp xây… Vậy mà trong những hoàn cảnh thô sơ ấy, Thánh lễ đã đưa chúng tôi đến gần Chúa hơn là người ta tưởng.”  Tại sao?  Điều gì đã làm cho Thánh lễ thành một kinh nghiệm đầy ý nghĩa và một biểu lộ đức tin của cộng đoàn như Đức Giê-su đã muốn?

3.  Trong cuốn Chuyển hướng (Turning), Emilie Griffin viết:  “Việc sùng kính Bí tích Thánh Thể - tức là tin vào sự hiện diện đích thực của Chúa Ki-tô -  đã đưa tôi đến với những nhà thờ Công giáo…  Riêng tôi, càng sùng kính Bí tích Thánh Thể, tôi càng bị lôi cuốn tới đạo Công giáo hơn.”  Bà muốn nói gì khi nhắc đến việc “tin vào sự hiện diện đích thực của Chúa Ki-tô”?  Bí tích Thánh Thể có tầm quan trọng nào trong việc lôi cuốn bạn tới Giáo Hội Công Giáo?

Tác giả: Mark Link, S.J. Chuyển ngữ: Lm Trần đình Nhi
Nguồn: The Catholic Vision III – 22