Trang

Thứ Hai, 26 tháng 6, 2017

VUI HỌC THÁNH KINH CHÚA NHẬT 15 TN A


VUI HỌC THÁNH KINH
CHÚA NHẬT 15 TN A
Tin Mừng thánh Mátthêu 13,1-23



Tin Mừng

Hôm ấy, Đức Giêsu từ trong nhà đi ra ngồi ở ven Biển Hồ.2 Dân chúng tụ họp bên Người rất đông, nên Người phải xuống thuyền mà ngồi, còn tất cả dân chúng thì đứng trên bờ.3 Người dùng dụ ngôn mà nói với họ nhiều điều.

4 Trong khi người ấy gieo, thì có những hạt rơi xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất.5 Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá, chỗ đất không có nhiều; nó mọc ngay, vì đất không sâu;6 nhưng khi nắng lên, nó liền bị cháy, và vì thiếu rễ nên bị chết khô.7 Có những hạt rơi vào bụi gai, gai mọc lên làm nó chết nghẹt.8 Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt, nên sinh hoa kết quả: hạt được gấp trăm, hạt được sáu chục, hạt được ba chục.9 Ai có tai thì nghe."

10 Các môn đệ đến gần hỏi Đức Giêsu rằng: "Sao Thầy lại dùng dụ ngôn mà nói với họ? "11 Người đáp: "Bởi vì anh em thì được ơn hiểu biết các mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không.12 Ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có, thì ngay cái đang có, cũng sẽ bị lấy mất.13 Bởi thế, nếu Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ, là vì họ nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe không hiểu.14 Thế là đối với họ đã ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ I-sai-a, rằng: Các ngươi có lắng tai nghe cũng chẳng hiểu, có trố mắt nhìn cũng chẳng thấy;15 vì lòng dân này đã ra chai đá: chúng đã bịt tai nhắm mắt, kẻo mắt chúng thấy, tai chúng nghe, và lòng hiểu được mà hoán cải, và rồi Ta sẽ chữa chúng cho lành.

16 "Còn anh em, mắt anh em thật có phúc vì được thấy, tai anh em thật có phúc, vì được nghe.17 Quả thế, Thầy bảo thật anh em, nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy điều anh em đang thấy, mà không được thấy, nghe điều anh em đang nghe, mà không được nghe.


18 "Vậy anh em hãy nghe dụ ngôn người gieo giống.19 Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường.20 Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận.21 Nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay.22 Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến Lời không sinh hoa kết quả gì.23 Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục."



1 On that day, Jesus went out of the house and sat down by the sea.

2 Such large crowds gathered around him that he got into a boat and sat down, and the whole crowd stood along the shore.

3 And he spoke to them at length in parables, saying: "A sower went out to sow. 4 And as he sowed, some seed fell on the path, and birds came and ate it up.

5 Some fell on rocky ground, where it had little soil. It sprang up at once because the soil was not deep,6 and when the sun rose it was scorched, and it withered for lack of roots.

7 Some seed fell among thorns, and the thorns grew up and choked it.

8 But some seed fell on rich soil, and produced fruit, a hundred or sixty or thirtyfold.

9 Whoever has ears ought to hear."





10 The disciples approached him and said, "Why do you speak to them in parables?"

11 He said to them in reply, "Because knowledge of the mysteries of the kingdom of heaven has been granted to you, but to them it has not been granted.

12 To anyone who has, more will be given and he will grow rich; from anyone who has not, even what he has will be taken away.

13 This is why I speak to them in parables, because 'they look but do not see and hear but do not listen or understand.'14 Isaiah's prophecy is fulfilled in them, which says: 'You shall indeed hear but not understand you shall indeed look but never see.

15 Gross is the heart of this people, they will hardly hear with their ears, they have closed their eyes, lest they see with their eyes and hear with their ears and understand with their heart and be converted, and I heal them.'16 "But blessed are your eyes, because they see, and your ears, because they hear.



17 Amen, I say to you, many prophets and righteous people longed to see what you see but did not see it, and to hear what you hear but did not hear it.

18  "Hear then the parable of the sower.

19 The seed sown on the path is the one who hears the word of the kingdom without understanding it, and the evil one comes and steals away what was sown in his heart.

20 The seed sown on rocky ground is the one who hears the word and receives it at once with joy.

21 But he has no root and lasts only for a time. When some tribulation or persecution comes because of the word, he immediately falls away.

22 The seed sown among thorns is the one who hears the word, but then worldly anxiety and the lure of riches choke the word and it bears no fruit.

23 But the seed sown on rich soil is the one who hears the word and understands it, who indeed bears fruit and yields a hundred or sixty or thirtyfold."



I. HÌNH TÔ MÀU



* Chủ đề của hình này là gì?
… … … … … … … … … … … … …

* Bạn hãy viết câu TM thánh Mátthêu 13,4a.5a.7a.8a.
… … … … … … … … … … … … …
… … … … … … … … … … … … …
… … … … … … … … … … … … …
… … … … … … … … … … … … …

II. TRẮC NGHIỆM

01. Đây là thứ tự những hạt giống rơi xuống khi gieo vãi: (Mt 13,1-9)
a. Vệ đường – sỏi đá – bụi gai – đất tốt.
b. Đất tốt – vệ đường – sỏi đá – bụi gai.
c. Sỏi đá – vệ đường – bụi gai – đất tốt.

02. Những kẻ đã được gieo bên vệ đường là những ai? ( Mt 13,19)
a. Những người chăm chỉ lắng nghe Lời Chúa.
b. Những người nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu.
c. Những người thực hành Lời Chúa.
d. Những người không chấp nhận Lời Chúa.

03. Khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời liền vấp ngã ngay, đó là những kẻ được gieo ở đâu? ( Mt 13,20)
a. Những kẻ được gieo bên vệ đường.
b. Những kẻ được gieo trên nơi sỏi đá.
c. Những kẻ được gieo vào bụi gai.
d. Những kẻ được gieo trên đất tốt.

04. Những kẻ được gieo vào bụi gai, đó là những kẻ nghe Lời, nhưng sự gì đã bóp nghẹt Lời, khiến Lời không sinh hoa kết quả? ( Mt 13,22)
a. Gian nan.
b. Thử thách.
c. Nỗi lo lắng sự đời.
d.Quỷ dữ cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy.

05. Những kẻ được gieo trên đất tốt là ai?
(Mt 13,23)
a. Những kẻ đón nhận Lời Chúa.
b. Những kẻ nghe Lời và hiểu.
c. Những người nghèo khó.
d. Những người dc Đức Giêsu kêu gọi.




III.  Ô CHỮ

 
Những gợi ý

01. Người đã giảng dạy dụ ngôn người gieo giống là ai? (Mt 13,1)

02. Những hạt rơi xuống vệ đường thì bị con gì đến ăn mất? (Mt 13,4)

03. Những hạt rơi rên sỏi đá thì bị thế nào khi nắng lên? (Mt 13,6)

04. Đức Giêsu nói với các môn đệ, anh em được ơn hiểu biết các mầu nhiệm gì còn họ thì không? (Mt 13,11)

05. Trước đám đông Đức Giêsu đã dùng điều gì để nói với họ? (Mt 13 3)

06. Những hạt bị chết khô được gieo trên đâu? (Mt 13,5)

07. Kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả. Đó là những kẻ được gieo ở đâu? (Mt 13,23)

08. Phúc cha anh em vì mắt, vì tai anh em được thấy, được nghe. Còn những ai muốn thấy, muốn nghe mà chẳng được ? (Mt 10,16-17)

09. Những kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo sợ sự đời, và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt, khiến lời không sinh hoa kết quả gì. Đó là những hạt được gieo vào đâu? (Mt 13,22)

Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì?


IV. CÂU THÁNH KINH HỌC THUỘC LÒNG

“Còn kẻ được gieo trên đất tốt,
 đó là kẻ nghe lời và hiểu,
thì tất nhiên sinh hoa quả và làm ra,
 kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu mươi,
kẻ được ba chục”.
Tin mừng thánh Mátthêu 13,23



Lời giải đáp VUI HỌC THÁNH KINH
CHÚA NHẬT 15 TN A

I. HÌNH TÔ MÀU

* Chủ đề :
Người Gieo Giống

* Tin Mừng thánh Mátthêu 13,4a.5a.7a.8a.

4 Trong khi người ấy gieo, 
thì có những hạt rơi xuống vệ đường,
5 Có những hạt rơi trên nơi sỏi đá,
7 Có những hạt rơi vào bụi gai,
8 Có những hạt lại rơi nhằm đất tốt.

II. Lời giải đáp TRẮC NGHIỆM

01. a. Vệ đường – sỏi đá – bụi gai – đất tốt. (Mt 13,1-9)
02. b. Những người nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu. ( Mt 13,19)
03. b. Những kẻ được gieo trên nơi sỏi đá. ( Mt 13,20)
04. c. Nỗi lo lắng sự đời. ( Mt 13,22)
05. b. Những kẻ nghe Lời và hiểu. ( Mt 13,23)

III.  Ô CHỮ

01. Đức Giêsu. (Mt 13,1)
02. Chim chóc. (Mt 13,4)
03. Chết khô. (Mt 13,6)
04. Nước Trời. (Mt 13,11)
05. Dụ ngôn. (Mt 13,3)
06. Sỏi đá. (Mt 13,5)
07. Đất tốt. (Mt 13,23)
08. Ngôn sứ (Mt 10,16-17)
09. Bụi gai. (Mt 13,22)

Hàng dọc :  Gieo Giống

 Nguyễn Thái Hùng




VUI HỌC THÁNH KINH CHÚA NHẬT 14 TN A

VUI HỌC THÁNH KINH
CHÚA NHẬT 14 TN A
Tin Mừng thánh Mátthêu 11,25-30



Tin Mừng

25 Vào lúc ấy, Đức Giêsu cất tiếng nói: "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn.26 Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha.


27 "Cha tôi đã giao phó mọi sự cho tôi. Và không ai biết rõ người Con, trừ Chúa Cha; cũng như không ai biết rõ Chúa Cha, trừ người Con và kẻ mà người Con muốn mặc khải cho.

28 "Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.29 Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.30 Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng."


25 At that time Jesus said in reply, 14 "I give praise to you, Father, Lord of heaven and earth, for although you have hidden these things from the wise and the learned you have revealed them to the childlike.

26 Yes, Father, such has been your gracious will.

27 All things have been handed over to me by my Father. No one knows the Son except the Father, and no one knows the Father except the Son and anyone to whom the Son wishes to reveal him.


28 15 "Come to me, all you who labor and are burdened, 16 and I will give you rest.

29 17 Take my yoke upon you and learn from me, for I am meek and humble of heart; and you will find rest for your selves.

30 For my yoke is easy, and my burden light."





I. HÌNH TÔ MÀU




* Chủ đề của hình này là gì?
… … … … … … … … … … … … …

* Bạn hãy viết câu TM thánh Mátthêu 11,28
… … … … … … … … … … … … …
… … … … … … … … … … … … …
… … … … … … … … … … … … …
… … … … … … … … … … … … …


II. TRẮC NGHIỆM

01. “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha”. Đây là cầu nguyện của ai? (Mt 11,25)
a. Đức Giêsu.
b. Ông Gioan tẩy giả.
c. Ông Ápraham.
d. Ông Ađam.

02. Mầu nhiệm Nước Trời được mạc khải cho những ai? (Mt 11,25)
a. Những nhà thông thái.
b. Những người bé mọn.
c. Các ngôn sứ.
d. Các ngoại kiều.

03. Những người bé mọn thì được mặc khải điều gì? (Mt 11,25)
a. Ơn cứu độ đã đến.
b. Sự giải phóng của dân tộc
c. Mầu nhiệm Nước Trời.
d. Hạnh phúc Nước Trời.

04. Đức Giêsu nói: “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì … … …”. (Mt 11,29)
a. Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.
b. Tôi là Đường, là Sự thật và là Sự sống.
c. Tôi là ánh sáng trần gian.
d. Tôi là mục tử nhân lành.

05. Đức Giêsu kêu gọi những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ngài, Ngài sẽ làm gì? (Mt 11,28)
a. Sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.
b. Ban đầy ân sủng.
c. Ban bánh bởi trời.
d. Sẽ cho hưởng niềm vui Nước Trời.


III.  Ô CHỮ





Những gợi ý

01. Đây là lời cầu nguyện của Đức Giêsu: “Lạy Cha là … … … trời đất, con xin ngợi khen Cha”. (Mt 11,25)

02. Những người bé mọn thì được mặc khải mầu nhiệm gì ? (Mt 11,25)

03. Đức Giêsu mời gọi mọi người hãy mang lấy ách của Ngài, vì ách của ngài thì thế nào? (Mt 11,30)

04. “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha”. Đây là cầu nguyện của ai? (Mt 11,25)


05. Mầu nhiệm Nước Trời đã giấu không cho những người nào biết? (Mt 11,25)

06. Đức Giêsu cầu nguyện với Cha là Chúa Tể … … … . (Mt 11,25)

07. Mầu nhiệm Nước Trời được mạc khải cho những người nào? (Mt 11,25)

Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì?


IV. CÂU THÁNH KINH HỌC THUỘC LÒNG

“Anh em hãy mang lấy ách của tôi
 và hãy học với tôi,
 vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường”.
Tin Mừng thánh Mátthêu 11,29



Lời giải đáp VUI HỌC THÁNH KINH
CHÚA NHẬT 14 TN A

I. HÌNH TÔ MÀU

* Chủ đề :
Đến với Chúa Giêsu

* Tin Mừng thánh Mátthêu 11,28:

"Tất cả những ai
đang vất vả mang gánh nặng nề,
hãy đến cùng tôi,
tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.

II. TRẮC NGHIỆM

01. a. Đức Giêsu. (Mt 11,25)
02. b. Những người bé mọn. (Mt 11,25)
03. c. Mầu nhiệm Nước Trời. (Mt 11,25)
04. a. Tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.  (Mt 11,29)
05. a. Sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. (Mt 11,28)


III.  Ô CHỮ

01. Chúa Tể (Mt 11,25)
02. Nước Trời (Mt 11,25)
03. Êm ái  (Mt 11,30)
04. Đức Giêsu (Mt 11,25)
05. Thông thái (Mt 11,25)
06. Trời đất (Mt 11,25)
07. Bé mọn (Mt 11,25)

Hàng dọc : Trái Tim

 Nguyễn Thái Hùng


Đam mê của thánh Phanxicô Assisi

Đam mê của thánh Phanxicô Assisi

st-francis 
Khi nói đến thánh Phanxicô, chúng ta nghĩ ngay đến Kinh Hòa Bình và Bài Ca Tạo Vật. Có thể nói, từ những tư tưởng này, ngài được mệnh danh là Sứ giả hòa bình bởi vì chúng là điểm qui chiếu cho đời sống an hòa nơi ngài.
Thiên thời, địa lợi và nhân hòa, cả ba chiều kích này được thánh nhân sống rất triệt để. Chính thái độ sống hòa đồng và hòa điệu với mọi chiều kích mà thánh nhân đáng được gọi là Sứ giả hòa bình.
Năm 1979, ĐGH Gioan Phaolô II đã công bố: Thánh Phanxicô là quan thầy của những người bảo vệ môi sinh. Chắc hẳn, đây không phải là một quyết định dựa trên tình cảm nhất thời, nhưng dựa vào đời sống của ngài được thể hiện cụ thể trong Bài ca Tạo Vật. Trong đó, chim trời mây nước và cả vũ trụ này đều có chỗ đứng và giá trị nào đó trong cuộc đời của ngài; tất cả nên chị nên anh, cả đến cái chết như là sự dữ tuyệt đối cũng được ngài gọi bằng một tên thân thương: chị chết. Như thế, không một thực tại nào mang màu sắc u tối, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống thánh nhân. Chính sự huyền đồng này (hòa điệu một cách huyền nhiệm) đã giúp ngài chinh phục cả những kẻ thù giết hại. Xin đơn cử giai thoại kể về cuộc gặp gỡ giữa ngài và con chó sói hung bạo tại Agodio Gubio.
Khi thánh nhân cư ngụ tại Agodio thì có một con chó sói hung dữ đã xuất hiện, nó quấy nhiễu và gieo rắc tại họa cho mọi người. Mỗi lần đi ra ngoài, ai ai cũng trang bị khí giới sẵn sàng chuẩn bị giao chiến với con thú dữ; có người sợ đến nỗi không dám ra khỏi nhà. Thấy vậy, ngày nọ ngài quyết định đến chạm trán với con thú, ngài làm dấu Thánh giá, đặt tất cả tin tưởng vào Chúa, rồi tiến thẳng đến trước mặt con vật. Vừa thấy thánh nhân, con vật nhe răng và chuẩn bị tấn công, nhưng ngài không lùi bước, ngài tiến lại gần, làm dấu Thánh giá và gọi nó lại. Ngài nói cùng nó với tất cả sự trân trọng vì nó cũng là một tạo vật của Chúa: “Này anh sói, anh lại đây, nhân danh Chúa Kitô, tôi truyền cho anh đừng hãm hại ai nữa”. Như một phép lạ, con chó sói hung dữ giờ đây ngoan ngoãn khép miệng lại và quấn quýt bên ngài, ngài lại tiếp tục nói như sau: “Này anh sói, anh đã gây không biết bao nhiêu thiệt hại cho vùng này, anh giết hại những tạo vật của Chúa mà không có phép Ngài. Anh không những sát hại súc vật mà còn giết hại cả loài người là hình ảnh Thiên Chúa nữa; anh đáng phạt vì những tội ấy… Nhưng tôi muốn giàn hòa giữa anh và họ để anh không còn hãm hại ai nữa”.
Thánh nhân vừa nói xong những lời đó thì con chó sói vặn mình ra điều biết lỗi và chấp nhận đề nghị của ngài. Ngài nói tiếp: “Này anh sói, hẳn anh thích làm hoà với mọi người, tôi hứa rằng: bao lâu còn sống, anh sẽ không bị đói khát nữa, anh có hứa với tôi là sẽ không hãm hại bất cứ người và vật nào nữa không ?”. Con vật cúi đầu như đoan hứa, thánh nhân đặt tay trên nó và đại diện cho thị dân Agodio long trọng cam kết những lời ngài vừa hứa với con sói. Giai thoại kể tiếp rằng: con vật tiếp tục sống hai năm tại đó, ngày ngày ra vào bất cứ nhà nào cũng như chính nhà của nó. Nó không làm hại ai và cũng không ai hãm hại nó, cuối cùng, con vật chết đi giữa tiếng khóc của dân làng.
Theo thánh nhân, chúng ta cần tỏ ra bất bạo động với thiên nhiên, với chim trời núi rừng, với không khí nước non. Chỉ với một tâm hồn thanh thản và hài hoà như thế, con người mới có thể xây dựng hoà bình trên thế giới.
Sự hoà giải này không dừng lại với tương quan thú vật nhưng còn mở ra với người khác. Chính ý hướng ngay lành này góp phần hoán cải các tâm hồn đối nghịch. Chúng ta thấy nỗi đam mê hoà giải không chỉ được phát huy lúc thời trai trẻ mà ngay cả lúc trên giường bệnh ngài vẫn dấn thân phục vụ hoà bình vì ích chung.
Điều này được cha Nguyễn Hồng Giáo [1] biên soạn khi ghi lại lịch sử cuộc đời thánh nhân: Năm 1226, vào những ngày cuối đời nằm trên giường bệnh, thánh nhân rất đau lòng khi nghe tin Đức giám mục và ông trị trưởng ở Assisi kình địch nhau. Vị Giám mục thì ra vạ tuyệt thông cho ông thị trưởng, còn ông này thì cấm không cho ai được mua bán và ký kết khế ước gì với Đức Cha.
Thánh nhân nói với anh em trong dòng: “Thật xấu hổ cho chúng ta, những người làm tôi Chúa, vị Giám mục và ông thị trưởng thù ghét nhau như thế mà chẳng ai đứng ra hoà giải”.
Chúng ta cũng có thể hỏi: thế bản thân ngài làm được gì khi mắt đã gần mù và thân xác kiệt quệ phải nằm một chỗ ? Có chứ ! Thánh nhân đã làm một việc quá sức tưởng tượng của mọi người, và có thể nói “rất Phanxicô”, đó là thêm vào Bài ca tạo vật mà ngài đã sáng tác trước đó ít lâu, một phiên khúc ca ngợi hoà bình và tha thứ, rồi cử anh em đi mời ông thị trưởng tới Tòa Giám mục. Khi ông tới nơi và hai người gặp nhau, các môn đệ nhân danh ngài, cất tiếng hát Bài ca tạo vật cùng với phiên khúc mới. Khi tiếng hát vừa dứt, hai người nắm tay nhau nói lời hoà giải và ôm hôn tỏ tình thân mật.
Chắc hẳn, thánh nhân không bao giờ tự coi mình có khả năng hoà giải nhưng luôn là khí cụ bình an của Chúa. Điều này được chứng thực trong lời Kinh Hoà Bình.
Lạy Chúa, xin hãy dùng con
Như khí cụ bình an của Chúa
Để con đem yêu thương vào nơi oán thù
Đem thứ tha vào nơi lăng nhục
Đem tin kính vào nơi nguy nan
Đem trông cậy vào nơi thất vọng
Dọi ánh sáng vào nơi tối tăm
Đem niềm vui đến chốn ưu sầu.
Lạy Chúa, xin hãy dạy con
Tìm an ủi người hơn được người ủi an
Tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết
Tìm yêu mến người hơn được người mến yêu
Vì hiến thân chính là nhận lãnh
Tha thứ cho người chính là được thứ tha
Cam lòng chịu chết là được sống muôn đời.
Thật ra, nhiều nhà chuyên môn nhìn nhận rằng kinh này không do thánh nhân trước tác nhưng được gán cho ngài vì tinh thần hoà bình của tác giả theo chủ trương của thánh nhân vào thời bấy giờ. Nhưng dù sao, chúng ta cũng có thể rút ra một kết luận tác giả đã khôn khéo khi truyền đạt điểm giáo lý này với một văn phong hết sức đạo đức trong bầu khí cầu nguyện. Thật vậy, tác giả ý thức hoà bình không phải là hoa trái của riêng nỗ lực cá nhân người nào mà có được nhưng phát xuất ơn hoán cải tâm hồn đến từ Thiên Chúa. Như thế, bầu khí cầu nguyện của lời kinh giúp mọi người ý thức sự yếu đuối của bản thân, từ đó, trông chờ ơn Chúa giúp. Ở đây chúng ta cảm nhận một thái độ sống đam mê xây dựng hoà bình, nhờ ơn Chúa và khởi đi từ chính bản thân sẽ mang lại hoa trái tốt đẹp cho các linh hồn. Khi chúng ta đặt lời kinh này trong bối cảnh thời ấy, mới nhận ra sự tranh chấp quyền lợi, tranh giành quyền bính… đã huỷ hoại bầu khí hoà bình; đồng thời, xác định tầm quan trọng về sự hiện diện của thánh nhân và sự quan phòng tốt đẹp của Chúa nhằm tái lập tinh thần Kitô giáo trong thời Trung cổ.
Ở đây, chúng ta cần xác tín lại điều đã khẳng định từ trước, môi trường là một trong những yếu tố làm phát sinh đam mê. Cụ thể hơn, chính môi trường rối loạn tranh chấp, bất hoà làm phát sinh niềm đam mê xây dựng hoà bình nơi thánh nhân và những người thiện chí đương thời. Bài ca tạo vật và Kinh hoà bình là những bằng chứng sống động cho một thời đen tối trong xã hội và Giáo hội.
Chúng ta vừa bàn qua tương quan giữa thánh nhân với thiên nhiên và tha nhân, xét cho cùng, hai chiều kích này chỉ là hệ quả tất yếu, hoa trái của một thực tại cao sâu hơn. Thiết nghĩ, chính tương quan giữa ngài với Thiên Chúa mới tạo nên nhựa sống trào tràn nuôi dưỡng cây sinh trái là hoà bình.
ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận kể lại giai thoại về thánh Phanxicô rằng [2]: Vào dịp thánh nhân qua Toà thánh để xin phê chuẩn luật dòng anh em hèn mọn, ĐTC thân mật hỏi ngài:
– Con có bao giờ thấy Chúa chưa?
+ Con vừa thấy đêm qua.
– Người có nói gì với con không?
+ Người và con bên nhau suốt đêm không nói gì. Tuy nhiên, cứ mỗi lúc con nói “Cha” với Người thì Người trả lời lại với con: “Con của Ta”. Cứ thế, chẳng có gì hơn cho đến lúc trời sáng.
Qua đó, chúng ta thấy thánh nhân có những khoảnh khắc nên Một với Chúa; thao thức của Chúa cũng là thao thức của ngài, đam mê của Chúa cũng là đam mê của ngài. Chúa đã chịu đóng đinh và chịu chết khả dĩ giao hoà nhân loại với Thiên Chúa. Qua thánh nhân, Chúa tiếp tục thân hành lên đường tìm kiếm những con chiên lạc để đưa về ràn. Có thể nói, qua thánh nhân, Chúa tiếp tục chịu đóng đinh và chết cho con người. Sự chia rẽ của con người cách nào đó in đậm 5 dấu thánh trên thân thể ngài. 5 dấu thánh là dấu chỉ sống động cụ thể thay cho lời mời gọi nhân loại: Hãy sống và xây dựng hoà bình, hãy sống và đam mê hoà bình vì bạn sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
EYMARD An Mai Đỗ, O.Cist.
(Bài viết được tác giả gửi đến dongten.net)

[1] X. Nguyệt san Công giáo và dân tộc, số 58.
[2] X. ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, Những người lữ hành trên đường Hy vọng, tr.44.

Lòng yêu thú vật với ý thức sinh thái

Lòng yêu thú vật với ý thức sinh thái

                                                      Hoành Sơn

Ngay từ muôn xưa, loài người đã coi mình là chủ trái đất để coi khinh các sinh vật bên dưới. Chỉ trừ dân Ấn có luật cấm sát sinh, kỳ dư hết thảy đều ăn thịt thả cửa và sát phạt thú vật không hữu ích một cách vô tội vạ. Ngay cả người Do Thái và Ky tô hữu cũng làm vậy luôn.

Ý thức làm chủ trái đất trong Cựu Ước

Theo Sáng thế thư, sau khi tạo nên trời đất và muôn vật, Đức Giavê đã làm nên con người theo hình ảnh Ngài (1.27), rồi đặt nó vào giữa vườn Eđen “để canh tác và gìn giữ” (2.15), đồng thời cho nó “làm chủ cá biển, chim trời, lục súc và mọi động vật bò trên mặt đất” (1.28).
Các thánh vịnh, trong khi ca tụng Chúa về công trình tạo thế, cũng hãnh diện về quyền làm chủ thiên nhiên của loài người, như trong thánh vịnh 8 sau đây :
-“Cứ xem bầu trời, công trình ngón tay Chúa,
Mặt trăng và các sao do Chúa làm nên.
Vậy con người là chi mà Chúa nghĩ đến nó?
 Con của người là gì mà Chúa quan tâm đến nó?
“Chúa đã khiến cho nó chỉ kém thần linh tí ti,
Chúa đội triều thiển vinh quang và vinh dự cho nó;
Chúa đặt nó làm chủ những công trình do tay Ngài làm,
Chúa đặt tất cả dưới chân nó:
“Tất cả lục súc, mọi đàn lục súc,
Cả những loài thú hoang luôn,
Cùng với chim trời, cá biển,
……………………………..
“Ôi lạy Chúa, lạy Thiên Chúa chúng con,
Danh Chúa thật vĩ đại biết bao
Trên toàn cõi địa cầu!” 
Tuy rằng theo Cựu Ước khải thị, con người được làm chủ trái đất và muôn vật trên ấy thật đấy, nhưng không phải làm chủ tuyệt đối, khi mà Đức Giavê đặt ra những mục tiêu chúng điều kiện hoá sự làm chủ nói trên, và đây là để “gìn giữ” và “canh tác”, nghĩa là chăm sóc và làm phát triển thêm, chứ đâu phải tàn sát chim muông và phá hoại môi trường như người ta đang làm bây giờ, khi mà vì hưởng thụ và sản xuất chỉ để hưởng thụ, họ đã khiến đất đai và sông biển bị ô nhiễm nặng, trong khi tầng ô dôn bảo vệ sự sống mỏng dần đi, và CO2 trong không khí quá nhiều đang làm trái đất quá nóng, khiến những núi băng Nam cực và Bắc cực tan ra, và nước biển dâng cao sắp nhận chìm những vùng đất thấp ở ven biển và hải đảo.
Làm sao để cứu trái đất này đây, cùng với loài người chúng ta trên đó? Phải trở lại với ý thức sinh  thái và lòng trân quý sự sống mà Phương Đông chúng ta sẵn có hồi xa xưa!

Lòng tôn trọng sự sống theo truyền thống Phương Đông

Theo truyền thống đề cao ý tưởng của Platon, mà ý tưởng thì luôn đối kháng từng cặp như sáng với tối, trong với ngoài, ác với thiện, nên bên Tây người ta khó hoà hợp với nhau. Trái lại, Đông phương từ thực tại cụ thể mà suy chiêm, nên nhìn tất cả qua lăng kính âm dương bù trừ, khiến người ta dễ hiếu hoà, coi Hoà là hướng nhắm của Càn Khôn, của thiên nhiên, của sự sống.
Cái nhín âm dương là của chung cho cả truyền thống văn minh Đống Á và Nam Á.
Âm dương bên Ấn độ, đó là Tam cách (Triguna) Âm-Dương-Lực, trong khi yếu tố Lực nằm sẵn trong Âm và Dương bên Trung quốc rồi. Theo triết học Samkhya bên Ấn, tất cả đều do âm dương kết hợp mà thành. Còn theo Veda, thì vạn vật đã từ một Con người nguyên sơ mà xuất sinh. Do có cùng một nền tảng và nguồn gốc, nên tất cả hẳn có họ hàng với nhau.
Thêm vào đó, toàn dân Ấn phải giữ luật Cấm sát sinh (Ahimsa). Ahimsa rồi sẽ trở thành Bất bạo động trong tâm tư và hành động của Thánh (Mahâtma) Gandhi. Bất bạo động ấy mang một ý nghĩa rất Kytô-tính là Tình yêu không biên giới, dù biên giới là tôn giáo hay dân tộc. Và ảnh hưởng của nó đã vượt biên sang Tây phương vào thế kỷ XX, để thành phong trào phản chiến ở Pháp, và những cuộc biểu tình chống phân biệt sắc tộc bên Hoa kỳ do Martin Luther King lãnh đạo, mà kết quả là sau đó có một người da đen được bầu làm tổng thống bên Hiệp chúng quốc.
Đấy là sự hoà hợp giữa người với người. Còn về hoà hợp giữa người với thiên nhiên, thì Ấn độ cũng ảnh hưởng mạnh đến thế giới qua một con người vĩ đại khác : Rabindranath Tagore, giải thưởng Nobel văn chương năm 1913. Không những là một thiên tài về thơ (cùng với mấy môn nghệ thuật khác như nhạc và vũ), Tagore còn là một người yêu cỏ cây, sông núi do thiên bẩm của mình. Thiên nhiên ấy không chỉ là tự nhiên, mà còn là một thiên nhiên sống và thần thánh, được phủ dưới bóng êm đềm Đức Chúa, cũng là Cha luôn. Chúng ta hãy nghe một đoạn trong Gitanjali, trong đó Tagore chỉ nhìn thấy một DÒNG SỐNG nó đang êm chảy bên trong con người cũng như giữa muôn vật:
-“Dòng sống ấy trong tim mạch tôi đêm ngày chảy,
Cũng dòng ấy trên hoàn vũ đang múa nhảy nhịp nhàng,
Bật thành niềm vui trên ngọn cỏ, lùm cây,
Chảy lao xao trong nhị hoa, gân lá.
Cũng dòng ấy đu đưa trên gối mẹ, ở đứa trẻ sơ sinh
Khi sống chết đan nhau như nhấp nhô cơn sóng.
Chạm nguồn sống bao la, con người tôi bừng tỉnh
Với dòng sống muôn đời đang nhẹ đập tim tôi.”
                                        *
Và bây giờ, chúng ta hãy tìm đến Văn minh Đông Á với tiềm năng hoà hợp giữa loài người với nhau, và giữa con người với trời đất.
Theo Kinh Dịch và Đạo Đức Kinh Trung quốc, thì tất cả đã từ Thái cực hay Đạo, qua phân cực âm dương và âm dương tương hợp, tương thôi mà thành. Do đó, hướng đi của vạn vật luôn là “phụ âm nhi bão dương, xung khí dĩ vi Hoà”. Nghĩa là nếu đi vào con đường âm dương tương hợp tương thôi ấy của trời đất thì vạn sự sẽ xuôi êm. Xuôi êm cả trong cơ thể khi khí âm khí dương tương đắc với nhau, như Hoàng đế nội kinh nói :
-“Khí tương đắc tắc hoà, bất tương đắc tắc bệnh.”
Hoà luôn khắp dương gian trong lòng sự sống khi mà theo Chu Hi thì “âm dương biến hoá” khiến “vạn vật sinh sinh”. Kế đó hoà giữa loài người với nhau nữa khi mà âm dương hợp tụ, khiến “nhân dân hoà thuận, vương trị thái bình”, như Thái bình kinh xác quyết.
Hoà thuận và thái bình ư? Thế nhưng cũng như mọi dân tộc khác, dân Trung hoa không mấy khi được yên ổn làm ăn, dù có Khổng tử dạy vua quan dùng lể để hoá dân, dù có Lão tử dạy dùng nhu mà khuất phục cường quyền. Đó là do sự tham tàn của những người làm chủ đất nước.
Dẫu sao, đối với thiên nhiên, xem ra Trung quốc và Việt nam có một thái độ thân cận và gần gũi.
Quả thế, trong khi bên Tây người ta thích vẽ chân dung người tách khỏi núi sông và cây cối, thì bên Đông, người ta luôn hoạ cô thôn nữ tựa mình bên thân mai, và trong thơ người ta lấy dòng sông thu êm trôi để tả ánh mắt, lấy đường cong của núi mùa xuân để tả hàng lông mày của người đẹp :
-“Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.”
                                          Truyện Kiều
Còn khi xây nhà, người ta phải xem phong thuỷ, và chọn những nơi phong cảnh hùng vĩ như sườn non, ven hồ để xây đền chùa, với tấm mái uốn cong dưới lùm cây cổ thụ.
Ngày nay khi mà con người đang tách khỏi thiên nhiên để giam mình trong những đô thị chật chội, cùng lúc phá rừng và đổ rác xuống sông để rồi bị thiển nhiên đe doạ trả thù, chúng ta cần phải trở lại cách nhìn âm dương hoà hợp nó kéo ta gần lại với núi sông và muông thú theo gương thánh Phan sinh Assisi, cũng là theo lời kêu gọi của Đức Phan sinh trong thông điệp  Laudato Si. Vâng, hãy bồi bổ cho sự sống và yêu quý sinh vật theo quy tắc “Lợi vật” nó thuộc đức Nhân của Phương Đông.
Riêng trong Kytô giáo, chúng ta hãy khai thác mầu nhiệm Tạo thế, nhất là Nhập thể và Thánh Thể để thấy thiên nhiên là thần thánh và đáng quý trọng đối với chúng ta.

Thiên nhiên qua mầu nhiệm Tạo thế, Nhập thể và Thánh Thể

Khoa học từ lâu đã cho thấy : Toàn vũ trụ đã từ một Quantum ban sơ mà hình thành dần dần, bắt đầu với các hat cơ bản, rồi nguyên tử, phân tử, kế đó siêu đại phân tử protein để bắt đầu cho sự sống; đến lượt sinh vật, chúng đã tiến hoá từ loại đơn bào đến đa bào, rồi từ thực vật đến động vật, từ khỉ tinh tinh đến con người. Dĩ nhiên con người đã vượt hẳn lên trên với linh hồn và ý chí tự do, nhưng xét về mặt cơ thể, nó cũng là vật chất và có họ hàng với những sinh vật kém tiến hoá hơn. Lại nữa, dù được đặt làm chủ trái đất, thì trái đất và muôn loài trên đó cũng là quà của Thiên Chúa ban. Mà đã là quà tặng của Đấng Tối cao do lòng thương tưởng của Ngài, thì chúng đáng phải được chúng ta trân quý hết sức chứ!
Nhìn qua lăng kính Sáng tạo, muôn vật đã thành thân cận với loài người như vậy rồi. Huống nữa khi Con Thiên Chúa đã “thành thịt” (incarnatus) giữa chúng ta, thi thiên nhiên ấy càng trở nên tôn quý biết bao, nhất là với mầu nhiệm Thánh Thể, khiến Teilhard de Chardin trong Milieu Divin (Môi trường thần thánh), thấy nó như vương nhiễm Thịt Máu Chúa. Nhất là khi tầm nhìn cánh chung (trong Cứu độ học) không chỉ hướng về Tận thế, mà còn hướng về Trời mới Đất mới trong tiên tri Isaia (65.17) và thánh Phêrô (2Ph.3.13); và Trời Đất mới ấy sẽ được chia sẻ vinh quang của con cái Thiên Chúa, như thánh Phaolô xác quyết ở thư Rôma 8.19-21.
Vậy hỏi từ nay, chúng ta còn dám khinh rẻ núi sông, cây cỏ, còn dám vô cớ đạp chết những sinh vật bé nhỏ vô hại nữa hay không? Nhất là khi gần đây, khoa sinh học đã khám phá thấy rất nhiều đông vật cũng có cảm xúc và tình cảm như con người.

Về cảm xúc và tình cảm của nhiều giống thú vật[1],

Con người vừa biết suy tư và quyết định, vừa có ý thức hồi phản về chính mình, điều ấy không chỉ nhờ vào linh hồn hay hồn thiêng liêng thôi, mà còn nhờ vào một hệ thần kinh rất phát triển, nhất là ở bộ não. Thế mà khá  nhiều thú vật cũng có hệ thần kinh phát triển gần mức chúng ta về một số mặt đấy.
Hãy nhìn xem con bạch tuộc chẳng hạn, bộ não trung tâm của nó có thể làm việc riêng bên cạnh những hệ thần kinh ngoại biên của tám cái vòi (như tám cánh tay) chúng cũng hoạt động từng cái riêng rẽ : có khi hai vòi thì bắt mồi trong khi những vòi khác cứ tiếp tục bơi. Nói cách khác, con bạch tuộc như có thể nghĩ đến tám chín công việc cùng lúc vậy!
Động vật cũng có cảm xúc nữa. Hãy coi đàn cá vàng bơi trong hô. Khi thấy người chủ đến rắc cám cho ăn, chúng liền hối hả bơi tới, xem như rất thích thú. Hãy nghe con chim hót líu lo một mình : có thể đó là lúc nó đang vui, và tiêng hót ấy càng thánh thót hơn khi một bạn tình tới đậu gần nó. Cảm nhận ấy là nhờ hoạt động của chất endomorphine (giảm đau) và dopamine (kích vui), giống như ở con người.
Còn tình cảm, thì phải kể đến mấy con vật rất giầu tình cảm là chó, cá heo và voi.
Hãy bắt đầu với chó. Với vỏ não thuỳ thái dương (cortex temporal), giúp nhận ra mặt chủ, và tầng phía trước (striatum ventral) đánh hơi thấy mùi chủ, chó cảm thấy người này rất thân thiết đối với nó, đến nỗi khi thấy chủ vui, nó cũng vui lây bằng cách ve vẩy đuôi, và khi thấy chủ gặp nguy hiểm, nó có thể liều mình cứu chủ. Chó trung thành với chủ đến nỗi mà ở Tokyo trước đây không lâu, khi theo ông chủ đã già ra ga lên xe lửa mà không thấy trở về, con chó của ông đã ở lỳ tại nhà ga, rồi chết tại đó. Và người ta đã đắp tượng con chó ấy trước nhà ga để kỷ niệm.
Cũng giàu tình cảm như chó là cá heo (dauphin). Nhờ vỏ não thính giác (cortex auditif) siêu nhạy, cá heo có thể nhận ra những biến đổi bên trong cơ thể đối diện để biết tình trạng sức khoẻ của cá heo bạn, rôi nhờ vỏ não cận viền  (cortex paralimbique hướng về xử lý cảm xúc) phát triển hơn là của con người, cùng với những nơ rôn hình thoi (en fuseau) cơ sở cho đồng cảm (empathie), cá heo trở nên rất vị tha, đến nỗi nó có thể liều thân cứu một cá heo khác hay cứu một con người đang gặp nạn.
Cũng vị tha như thế là loài voi.
Voi cũng có những nơ rôn hình thoi (en fuseau) hướng về ý thức bản thân và quan hệ xã hội. Nhờ thế, chúng có một tình đồng loại rất sâu đậm. Hãy lấy một trường hợp cụ thể làm ví dụ:
Năm 2003 tại khu bảo tồn quốc gia Samburu ở Kenya, con voi đầu đàn của bầy Đại mệnh phụ (First Ladies) xụm xuống. Lập tức con trưởng bối của một đàn khác đến giúp, cố đỡ nó dậy mà không được, nên xem ra rất khổ sở khi tiết địch ở hạch thuỳ thái dương (glandes temporales). Cuối cùng, con bị bệnh đã chết ngày hôm sau. Ít nhất có năm đàn voi đến viếng xác nó trong nhiều ngày liên tiếp, hoặc bằng cách đứng im lặng xung quanh, hoặc lay động con đã chết.
                                    *
Chỉ cách đây mấy thế kỷ, khoa học chẳng hề quan tâm đến thú vật mà người ta coi là không có đầu óc, cũng chẳng có cảm xúc gì. Descartes xem chúng không hơn gì những cỗ máy; còn Malebranche thì đánh cho chó kêu mà bảo :-Hãy xem Cái ấy nó kêu mà chẳng cảm thấy gì, chẳng khác nào chiếc đồng hồ quả lắc vậy! Con vật được làm nên cho con người sử dụng, nhất là để qua nó chúng ta khám phá cách vận hành của cơ thể chúng ta, thế thôi.
Cũng vì coi thú vật chẳng khác chi cục đá như vậy, nên khi có người như G.Romanes viết trong cuốn Sự thông minh động vật rằng : động vật cũng biết cảm xúc và lý giải, thì ông bị coi là điên rồ và nhân hình hoá lục súc. Quả thật vào thời ấy, khoa học coi hoạt động thú vật chỉ là phản xạ đối với kích thích từ ngoài thôi. Ngay gần đây, năm 1970, G. Chapouthier khi ấy còn là sinh viên, đã được nhắc nhở là “hãy coi con chuột bạch làm thí nghiệm chỉ như những mẩu gỗ thôi. Mọi sự đồng cảm sẽ được mang ra chế diễu, coi như những nhạy cảm không đúng chỗ”.
Thế nhưng sang đầu thế kỷ XXI, thái độ nói trên không còn nữa. Khoa học bắt đầu nhận ra rằng : Con thú không phải là cỗ máy hay cục gỗ, mà nó biết cảm xúc và đau đớn! Lại nữa, đứng vế mặt sinh học, khá nhiều thú vật có họ gần với con người. Con tinh tinh chẳng hạn, nó chia sẻ với chúng ta tới 98% mã di truyền đấy! Nhiều độngvật khác cũng có hệ thần kinh khá phát triển, khiến chúng có nhận thức, ngủ biết mơ, lại có ý thức về bản thân và về đồng loại. Chẳng nững có cảm xúc và biết đau khổ, mà nhờ vỏ não mới (néocortex), loài có vú còn biết tương thân tươnng ái, biết giúp đỡ nhau, thậm chí có thể liều mình để cứu nhau.
Một khi đã thấy rõ như thế, các nhà khoa học không còn dám tàn nhẫn với thú vật như trước. Dần dà đã phát sinh một nền luân lý liên quan đến cách đối xử với thú vật, rồi từ luân lý mà luật pháp cũng vào cuộc. Việc làm thí nghiệm trên động vật được giới hạn lại như sau : Nếu có thể thay thế bằng cách khác, thí phải thay thế. Bằng như không có cách thay thế, thì phải giảm bớt số lượng động vật sử dụng trong thí nghiệm, cũng như giảm tối đa sự đau đớn gây nên cho chúng!
Đây mới chỉ là bước đi khởi đầu, khi mà trên thế giới hằng năm vẫn có tới 60 tỷ súc vật bị giết thịt, đôi khi còn bị giết một cách rất dã man là khác. Tôi nhớ trước đây không lâu, một số nhà hàng Tầu ở Việt Nam còn ghi trong thực đơn một món ăn rất đắt tiền : Óc khỉ, óc sống ấy. Có nghĩa là nhà hàng sẽ mang tới bàn ăn một cái lồng chật hẹp, trong nhốt một chú khỉ sống. Lồng chỉ chứa vừa khít cơ thể con khỉ, khiến nó không cục cựa gì được, còn đầu bị giữ cứng ở phía trên, để qua một lỗ nhỏ ở đó, người ta đập vỡ óc khỉ, rồi lấy muỗm múc óc sống mà ăn, mặc cho chú khỉ kêu rên đau đớn.
                                       *
Để tỏ lòng nhân đạo với muông thú, lắm người hôm nay muốn ăn chay theo dân Ấn và Phật tử, nghĩa là tránh ăn thịt cá. Có người còn bỏ cả ăn trứng và uống sữa, lại không dùng giày dép bằng da bò hay da cá sấu, cũng tránh dùng áo ấm, chăn mền và khăn quàng cổ bằng lông cừu luôn.
Tôi thiêt nghĩ cũng không nên đi quá xa để coi con vật ngang bằng con người “linh ư vạn vật”. Sở dĩ Ấn giáo không ăn thịt, là vì, do niềm tin vào thuyết luân hồi , người ta sợ giết và ăn nhầm phải ông bà do nghiệp quả mà nay đang sống kiếp con cá, con heo. Nên nhớ, người Ấn tuy kiêng ăn mặn, nhưng vẫn uống sữa như uông nước, lại còn giết thú vật để tế thần nữa. khiên vào thế kỷ -III. Hoàng đế Asoka (A-dục) sau khi theo Phật giáo, đã ra lệnh cấm sát tế để giảm bới đau đớn cho lục súc.
Gần đây, bản tuyên ngôn “Quyền động vật” (Droit de l’Animal) xướng xuất từ bên Hoa ký năm 1970, nay đã truyền lan sang mấy nước tiến bộ như Pháp quốc chẳng hạn.

Ý thức sinh thái với lòng yêu muông thú

Theo khải thị (hay khải mạc, tức mở màn, re-velum-are, apokaluptô) CƯ, Thiên Chúa đã tạo nên thiên nhiên như quà tặng cho con người để nó sử dụng, coi sóc và phát triển, chứ không phải để nó mặc sức lạm dụng và tàn phá đâu. Nên phải xem thiên nhiên như Ngôi nhà (Ecology do Oikos… là ngôi nhà…) chung như Đức Phan sinh kêu gọi trong Laudato Si. Để được như thế, phải bớt thái độ “chủ nhân ông” để thân cận với chim muông, cây cỏ. Và đây là bắt chước thánh Phan sinh Assisi gọi Mặt trời là Anh, Mặt trăng là Chị, con sẻ và bông hoa là những em nhỏ thân thương.
Cứ sử dụng rau cỏ và lục súc khi cần cho sự sống. Chỉ nên giữ đúng nguyên tắc “Ăn để mà sống, chứ không sống để mà ăn”. Và hãy cải tạo đất đai, sông núi, hãy trồng trọt và chăn nuôi, hãy chế tạo vật dụng để phục vụ con người, chứ không nên làm ngược lại, là đặt thiên nhiên lên bàn thờ như vào thời bái vật (fétichisme). Bởi đích nhắm của tạo thế là con người, chứ không phải con bò hay cá ông, đúng như nhà khoa học Phật tử là Trịnh xuân Thuận cũng nhìn nhận như vậy.
Đối với những con vật độc hại cho giống người, như ruồi muỗi và vi rút, thì dĩ nhiên phải diiệt trừ tận gốc. Nhưng đừng vô cớ bắn chơi một con chim hay đạp chết một con cóc chỉ vì thấy ngứa mắt.
Một cách tích cực, hãy sống thân cận với chim muông, hoa cỏ, coi chúng không chỉ như vật dụng, mà còn như quà tặng Thiên Chúa gửi tới làm bạn với chúng ta. Rồi hãy nhìn sâu vào bên trong một thân cây để thấy sức sống diệu kỳ ở đó, cũng như nhìn sâu vào bên trong một con bướm đang hút nhị hoa để thấy nó cũng có cảm xúc thích thú như mình.
Ngoài ra khi đi du lịch, thay vì tìm đến chốn phồn hoa đô hội, hãy tới vui chơi nơi đồng ruộng, sông ngòi hay non cao hùng vĩ. Cũng nên làm nhà ở chốn thôn dã, vừa mát mẻ, thanh thoáng, vừa có cảnh đẹp tự nhiên, khiến tâm hồn dễ an bình và thư thái. Nếu phải kiếm việc làm tại thành thị, thì cứ sáng đi chiều về, hơn là suốt đêm ngày hít thở khói bụi và nghe xe chạy ầm ầm giữa phố phường chật hẹp và quá đông đúc.
Sống giữa thiên nhiên cùng với trời xanh, cây tươi và chim hót như vậy, chẳng những tâm hồn êm ả, mà cũng dễ cảm nhận sự có mặt thân cận của Thiên Chúa, và đây là đi vào CHIÊM ĐỂ YÊU (Contemplatio ob amorem) trong Linh thao thánh I-nhã Loyola.
                           
[1] Trong đoạn này, tác giả lấy tư liệu ở tạp chí Science et Vie số tháng Janv. 2017, tr. 41-58.