Trang

Thứ Bảy, 26 tháng 8, 2017

Edith Stein: Từ Dòng Kín Echt, Hà Lan, đến phòng hơi ngạt Birkenau, Ba Lan

Edith Stein: Từ Dòng Kín Echt, Hà Lan, đến phòng hơi ngạt Birkenau, Ba Lan

“Chúng tôi đã sống một ngày thật sự kỳ lạ”
fr.zenit.org, Constance Roques. 2017-08-08
Nhân dịp kỷ niệm 75 năm ngày Thánh Edith Stein qua đời, báo Osservatore Romano ấn bản tiếng Ý ngày thứ ba 8 tháng 8 – 2017 vinh danh Thánh Nữ và tất cả những người cùng chịu chung số phận giống Thánh Edith ở Hà Lan.
Đi viếng thăm những nơi cuối cùng Thánh Edith đã đi qua (tu viện Dòng Kín Cát Minh Echt, Hà Lan, trại tập trung Westerbork, Ba Lan), tác giả Ferdinando Cancelli nhường lời cho bà Etty Hillesum, người có mặt ở Westerbork cùng thời gian với Thánh Edith, bà viết: “Chúng tôi sống một ngày thật kỳ lạ. Một chuyến xe chở đến cho chúng tôi những người công giáo do thái hay người do thái công giáo, các nam nữ tu sĩ mang ngôi sao vàng trên áo dòng của họ”.
Echt, Maastricht, Amersfoort, Westerbork, Birkenau. Giữa vụ bắt chiều 2 tháng 8 và cái chết trong phòng hơi ngạt vô danh ở Birkenau, chỉ bảy ngày trôi qua: trong vòng một tuần, cách đây 75 năm, chấm dứt số mệnh của các nữ tu Rosa và Edith Stein.
”Đi, Chúng ta đi vì dân tộc chúng ta”, Edith an ủi chị Rosa của mình khi chị khóc vì phải rời tu viện Echt, Hà Lan. Các nhân chứng nói có một đám đông nhỏ, của một vài người chống đối dù chiếc xe của Mật vụ Đức (Gestapo) cẩn thận không chờ hai nữ tu trước cửa tu viện nhưng ở góc đường Peijerstraat, cách đó khoảng một trăm mét. Chỉ một lát sau, cánh cửa khép lại trên đời sống của hai phụ nữ vô tội.
Tu viện Cát Minh Echt vẫn vậy: mặt tiền ảm đạm bằng gạch đỏ, một cổng nhỏ, lối vào nhà thờ ở đường Bovensestraat, nhiều cửa hàng hiện đại chỉ che phần tường nhỏ của cảnh cũ. Trại chuyển tiếp Amersfoort và trại Westerbork thì xa Maastricht và Echt, về phía đông-bắc Hà Lan, mất hút trong vùng kênh và nước của một ngày mùa hè Hà Lan.
Ngày 4 tháng 8 – 1942, Edith và Rosa, cùng nhiều người do thái khác đến Westerbork. Ngày nay vẫn còn di tích của trại bên trái cổng vào, người ta còn thấy căn nhà của bộ chỉ huy: một biệt thự nhỏ, bây giờ khép kín trong một khung kiếng khổng lồ. Các màn của tầng một được kéo xuống, bất động, sầu thảm, đàng sau các khung kính là nơi các sĩ quan chỉ huy đã liếc một cái nhìn lạnh lùng trên tấn thảm kịch không tả được của bao nhiêu cuộc đời bị đổ nhào.
Chúng tôi nghĩ, khung kiếng có che chở được căn nhà hay che người nhìn nó không? Thực tế, có thể nào người ta chịu được cái nhìn trực tiếp, đàng sau các bức màn, bao nhiêu là chuẫn mực trước một hố thẳm đau khổ như vậy không?
Và rồi còn cây cối: chúng tôi bồi hồi xúc động nhìn các cây sồi, cây ti-dơn, cây bu-lô vươn cao khắp nơi trong vùng lân cận. Chúng mới thật là các nhân chứng trực tiếp cuối cùng: trong những ngày này, cách đây 75 năm, rất nhiều người có mặt khi Rosa và Edith chờ để lên chuyến xe lửa đưa họ đến một cõi chết ở xa.
Chúng tôi đi bộ rất gần trại và nghĩ đến giây phút khủng khiếp đó: sự đen tối hé đàng sau cửa sổ căn nhà của bộ chỉ huy, chút bã nhợt nhạt của bóng tối bao phủ thời thạch thảo của vùng Drenthe này.
“Chúng tôi sống một ngày thật kỳ lạ. Etty Hillesum viết, bà ở Westerbork vào tháng 8 này để giúp những người chuyển tiếp đến đây. Một chuyến xe chở đến cho chúng tôi những người công giáo do thái hay người do thái công giáo, nam nữ tu sĩ mang ngôi sao vàng trên áo dòng của họ. Tôi còn nhớ hai anh em trẻ sinh đôi, khuôn mặt đẹp nâu nâu gợi nhớ các khu gettô của người do thái, ánh mắt nhìn mang nét thanh thản trẻ thơ dưới mũ choàng của họ, họ kể một cách đáng yêu, hơi ngạc nhiên một chút, là người ta vừa bắt họ lúc bốn giờ rưỡi sáng và ở Amersfoort, người ta cho họ ăn bắp cải tím (…). Hillesum viết tiếp, và trên tất cả là tiếng gõ lách cách không ngừng của một loạt máy chữ: một hệ thống làm việc quan liêu (…). Sau đó có người kể cho tôi nghe, cũng chiều hôm đó, họ thấy một nhóm nữ tu đi chầm chậm trong bóng đêm giữa hai lán đen tối, họ vừa đi vừa lần chuỗi, không lo ra, như thử họ ở trong nhà tu kín của họ. Etty Hillesum kết thúc, tôi cũng gặp hai nữ tu thuộc một gia đình do thái rất chính thống, giàu, có học ở Breslau, họ mang ngôi sao vàng thêu trên áo dòng của mình”.
Ngày 9 tháng 8 – 1942, sau hai ngày đi đường kinh khủng, Rosa và Edith Stein biến mất cùng với hàng ngàn người khác trong vực thẳm Birkenau.
Marta An Nguyễn dịch
Tu viện Cát Minh Echt

Edith Stein, nữ thánh tử đạo ở Auschwitz “đã cho sự dữ một ý nghĩa”

Edith Stein, nữ thánh tử đạo ở Auschwitz “đã cho sự dữ một ý nghĩa”

Edith Stein chết ở trại tập trung Auschwitz ngày 9 tháng 8 – 1942
cath.ch, Raphaël Zbinden, 2017-08-09
Lễ kính ngày 9 tháng 8, Thánh Edith Stein là nữ tu Dòng Kín, người do thái Đức, nữ thánh “làm chứng cho sự tin tưởng vào Chúa vượt lên tất cả”. Nữ tu Elisabeth thuộc Dòng Kín Pâquier, nước Pháp nói đến di sản thiêng liêng của người xém vào tá túc tu viện của họ trước khi bị đưa vào trại tập trung Auschwitz.
Nếu các nữ tu Dòng Kín Pâquier quan tâm nhiều đến câu chuyện của Thánh Edith Stein là vì nữ thánh xém đến ở Dòng Kín ở Fribourg, Thụy Sĩ trước khi bị đưa vào trại tập trung Auschwitz. Căn phòng của nữ thánh đã được chuẩn bị. Một nữ tu người Pháp, con của một sĩ quan đã dọn phòng cho Edith. Nữ tu Elisabeth cho biết, nữ tu người Pháp thấy việc đón một người bạn cùng Dòng người Đức là dấu hiệu hòa bình giữa hai nước. 
Một căn phòng được dọn theo dấu chỉ hòa bình 
Tuy nhiên dự trù để Thánh Edith Stein đến đây đã bị ngăn trở vì thủ tục quản trị. Các thủ tục này đã bị trì hoãn ở Liên bang. Câu chuyện rắc rối khi nữ thánh muốn đem theo chị Rosa của mình theo, chị không phải là tu sĩ. Dòng Kín không thể đón người ngoài, phải tìm cho chị một nơi ở khác vì thế thủ tục bị chậm. Khi đó nữ thánh hy vọng sẽ được đến Thụy Sĩ trong một thời gian gần. Nhà Dòng còn giữ thư nữ thánh cám ơn đã đón nhận mình đến ở.
Vào thời đó, Edith Stein đang ở trong một tu viện của Echt, Hà Lan. Nữ tu Elisabeth cho biết: “Thật sự nữ thánh không muốn đi trốn, nhưng được khuyên nên đi Thụy Sĩ để an toàn”. Edith đã không đến, nữ thánh không bao giờ thấy căn phòng đã được chuẩn bị cho mình. 
“Chúng ta đi cho dân tộc mình”
Mùa hè năm 1942, các giám mục Hà Lan đã viết một thư công khai kêu gọi dân chúng chống lại chủ nghĩa phát xít. Để trả đũa, các người công giáo gốc Do Thái bị bắt và bị trục xuất đưa về các trại tập trung ở miền đông. Edith và Rosa là nạn nhân trong số này. Một thời gian sau, cả hai chết trong phòng hơi ngạt ở Auschwitz. Khi lính Đức đến bắt, Edith đã nói với chị mình: “Chúng ta đi cho dân tộc mình”. Nữ tu Elisabeth giải thích, vì nữ thánh không bao giờ phủ nhận gốc rễ do thái của mình. Trong khi đi, Edith luôn lo cho những người đi theo mình đến cõi chết, đặc biệt là các em bé với một lòng nhân và lòng lân tuất. 
Chiến thắng cuối cùng trên sự dữ
Nữ tu Elisabeth cho rằng, chứng từ của Thánh Têrêxa-Biển Đức Thánh giá chưa bao giờ mang nét thời sự như bây giờ, “ở thời buổi không có ý nghĩa, nữ thánh đã biết cho sự dữ có một ý nghĩa”. Nữ tu Elisabeth nhấn mạnh: “Trong tình trạng đau đớn và lo lắng tột độ, nữ thánh đã tin tưởng ở Chúa đến cùng. Edith Stein nhắc rằng, cuối cùng Chúa là người chiến thắng sự dữ”. Một trong các câu nói nổi tiếng của Thánh Edith là: “Thế giới được làm bởi những chuyện nghịch lý… Nhưng chung cuộc sẽ không được làm bởi các chuyện nghịch lý này. Còn lại chỉ là tình yêu cao cả. Làm sao thế giới có thể khác đi được?”. 
Nữ tu Dòng Kín, nhà khoa học và nữ chiến sĩ
Edith Stein sinh ngày 12 tháng 10 năm 1891 trong một gia đình do thái ở Breslau, Phổ, bây giờ là thành phố Wroclaw, miền tây nước Ba Lan. Dù được nuôi dạy theo truyền thống do thái, nhưng đến tuổi vị thành niên, Edith xa mọi tín ngưỡng, cũng thời gian này, Edith tự động bỏ học một thời gian. Trên trang mạng của Dòng Kín Pháp ghi nhận, Edith có một trí óc thông minh sắc bén, bà tìm đủ mọi cách để đi tìm sự thật. Edith đi học lại và ghi tên học các phân khoa tâm lý và triết học ở trường đại học.
Edith Stein là một trong các phụ nữ hiếm hỏi thời đó học đại học. Nữ thánh là người phụ nữ Đức đầu tiên nhận bằng tiến sĩ triết học với đề tài về lòng thấu cảm. Edith là học trò và sau là phụ tá cho triết gia Edmund Husserl, mà các công trình về hiện tượng học đã làm cho Edith chú tâm đến hiện tượng tôn giáo.
Khi đức tin và lý lẽ đồng minh với nhau
Edith dần dần đặt vấn đề đức tin vào Chúa khi thấy một phụ nữ cầu nguyện một mình trong nhà thờ, hoặc khi thấy một trong các bạn gái góa bụa của mình dựa trên sức mạnh đức tin để đi qua thời gian tang chế. Năm 1921, khi đọc tiểu sử Thánh Têrêxa Avila, Edith quyết định xin rửa tội theo nghi thức công giáo. Kết hợp với khả năng triết học dưới ánh sáng của đức tin, Edith Stein cống hiến mười mấy năm trong ngành dạy học. Quan tâm chủ yếu của nữ thánh là nâng cao giá trị tầm nhìn kitô của con người. Nữ tu Elisabeth ghi nhận, kết hợp triết học và thần học, chứng tỏ khoa học không đối nghịch với đức tin”.
Trong thời gian đi dạy, nữ thánh có nhiều buổi diễn thuyết ở nhiều nước, đặc biệt ở Thụy Sĩ. Edith bảo vệ quyền phụ nữ và tầm quan trọng của gia đình. Edith cũng chiến đấu ở tầm mức chính trị, đặc biệt nữ thánh có chân trong Hiệp hội Phổ cổ động để phụ nữ được đi bầu.
Đồng bổn mạng của Âu châu
Hoàn toàn sáng suốt trước chủ nghĩa phát-xít đang lên mạnh và bị cấm dạy vì đức tin do thái, nữ thánh vào Dòng Kín Cologne năm 1933 và láy tên Têrêxa-Biển Đức Thánh gia. Lại cắt đứt với gia đình và nhất là với mẹ vì bà không hiểu chọn lựa của Edith. Nhưng Edith tiếp tục theo đuỗi cuộc chiến chống sự dữ đang lan tràn trên thế giới.
Bị dục phải rời Đức, năm 1938 Edith qua Dòng Kín Echt ở Hà Lan. Sau vụ các giám mục Hà Lan tố cáo các vụ thanh trừng của người nazi, chính quyền xã hội-quốc gia quyết định trục xuất vào trại tập trung tất cả tín hữu kitô gốc do thái.
Ngày 9 tháng 8 năm 1943, Edith Stein chết trong phòng hơi ngạt ở Auschwitz, vừa là nạn nhân của vụ diệt chủng người do thái vừa là chúa nhật cho Chúa Kitô.
Ngày 11 tháng 10 năm 1998, Đức Gioan-Phaolô II phong thánh cho Edith Stein và Edith Stein là đồng bổn mạng của Âu châu.
Marta An Nguyễn dịch
Tượng tưởng niệm Thánh Edith Stein, Cologne, Đức.

Kỷ niệm 75 năm ngày Thánh Edith Stein qua đời

Kỷ niệm 75 năm ngày Thánh Edith Stein qua đời

Còn lại chỉ là tình yêu cao cả
fr.zenit.org, Cristiana Dobner, 2017-08-08
Ngày 9 tháng 8 năm 1942, chính xác 75 năm ngày Thánh Edith Stein qua đời ở trại tập trung Auschwitz, Ba Lan.
Ngày 8 tháng 8-2017, trong ấn bản báo Osservatore Romano tiếng Ý, ký giả Cristiana Dobner đưa ra “ba nơi, ba ngày” của người phụ nữ can đảm này, người từ chối được giúp để trốn thoát và đã khẳng định: “Thế giới được làm bởi những chuyện nghịch lý… Nhưng chung cuộc sẽ không được làm bởi các chuyện nghịch lý này. Còn lại chỉ là tình yêu cao cả. Làm sao thế giới có thể khác đi được?”
Các giai đoạn cuối cùng của đời sống Thánh Edith Stein được tóm vào ba địa danh và ba ngày. 
Amersfoot, ngày 2 tháng 8 – 1942: người tài xế của chiếc xe xung kích trên đó Edit và chị Rosa của mình bị cưỡng bức lên xe, trong các cuộc trả đũa, họ bị trục xuất ra khỏi tu viện sau lá thư của các giám mục Hà Lan tố cáo chế độ nazi. Chiếc xe đi lạc đường và họ bị đưa vào trại lúc một giờ khuya.
Westerbork: nơi họ bị đưa đến trong đêm 3 rạng ngày 4 tháng 8 và đã được bà Etty Hillesum, người có mặt lúc đó mô tả như sau: “Tình trạng chung ở Westerbork là hỗn độn, gần giống như quanh tấm ván thuyền trôi giạt của một chiếc tàu trên đó những người đắm tàu níu vào trước khi chết chìm. Đôi khi người ta nghĩ, thà bị vào trại tập trung còn hơn phải chứng kiến cảnh sợ sệt, tuyệt vọng của hàng ngàn, hàng ngàn đàn ông, đàn bà, trẻ con, người tàn phế, người điên, người lớn tuổi mà trong một hàng dài gần như vô tận đi dọc theo bàn tay cứu giúp của chúng tôi”.
Auschwitz: số 44074. Với bản tin ngắn gọn và theo thủ tục hành chánh: “Ngày 9 tháng 8, tại Ba Lan, đã qua đời bà Stein, Edith Thérèse Hedwige, sinh ngày 12 tháng 10 –  1891 ở Breslau, thường trú ở Echt”.
Người làm vườn của tu viện Echt, một ký giả bạn và một cựu tù nhân bị đày đã ở bên cạnh Thánh Edith trong những giây phút cuối này. Họ đã ra làm chứng như chứng nhân bằng mắt khi mở án phong chân phước và xem xét đời sống và chứng tá đứng trước cái chết của triết gia hiện tượng học, vị Thánh của Dòng Kín.
Có thể tóm về Edith Stein như sau: “Bà nói với một giọng tự tin khiêm tốn, đến mức những ai nghe cũng phải cảm động. Một buổi nói chuyện với bà (…) như một chuyến du hành đến một thế giới khác. Trong những lúc này, Westerbork như không còn tồn tại… Bà nói với tôi: ‘Tôi không bao giờ có thể nghĩ rằng con người có thể như vậy, và… anh em tôi lại đau khổ cực độ như thế sao!’. Khi chuyện này không còn nghi ngờ gì thì bà bị chuyển đi nơi khác, tôi hỏi nếu tôi có thể giúp bà được và (tìm cách giải thoát bà); … thì thêm một lần nữa, bà cười với tôi và van tôi đừng làm như vậy. Tại sao lại làm một ngoại lệ cho bà và cho nhóm của bà? Điều này không công chính, bà được đặc ân chỉ vì bà đã rửa tội sao! Như thử nếu bà không thể chịu chung số phận với người khác thì cuộc đời của bà sẽ bị thiêu rụi: “Không, không, không được như vậy!”.
Ký giả Van Kempen đứng trước một “phụ nữ cao cả và vững mạnh về mặt thiêng liêng”. Trong cuộc trao đổi, ông hút một điếu thuốc và hỏi “bà có muốn hút một điếu không”. Bà trả lời với tôi, đã có một thời bà đã hút và ngày trước, khi còn sinh viên, bà cũng có khiêu vũ”.
Người cựu tù nhân bị đày ghi nhận một khía cạnh đặc biệt: “Bà rất can đảm; bà trả lời như bà vẫn trả lời. Khi các tên lính đức quốc xã phỉ báng bà, bà không phản ứng, bà vẫn trung thực với chính mình. Bà tuyệt đối không sợ”.
Wielek, người công chức Hà Lan thuật lại một cuộc đối thoại, trong đó “với tự tin và khiêm tốn”, Thánh Edit Stein đã nói: “Thế giới được làm bởi những chuyện nghịch lý… Nhưng chung cuộc sẽ không được làm bởi các chuyện nghịch lý này. Còn lại chỉ là tình yêu cao cả. Làm sao thế giới có thể khác đi được?”
Marta An Nguyễn dịch

Vì sao Đức Phanxicô sẽ tôn vinh Đức Phaolô VI

Vì sao Đức Phanxicô sẽ tôn vinh Đức Phaolô VI

lalibre.be, Bosco d’Otreppe, 2017-08-08
Dưới hầm mộ của Đền thờ Thánh Phêrô, trước ngôi mộ đơn sơ giản dị của Đức Phaolô VI, dáng đứng của Đức Phanxicô khi cầu nguyện, một mình, trong thinh lặng gần như có một cái gì của huyền bí.
Đây không phải là lần đầu tiên ngài đứng trước ngôi mộ của các vị tiền nhiệm. Ngày chúa nhật 6 tháng 8, Đức Phanxicô đến đây để tưởng niệm năm thứ 39 ngày Đức Phaolô VI qua đời, từ đầu triều giáo hoàng của mình, dịp này dịp khác, ngài cũng đã đến đây để cầu nguyện.
Hai giáo hoàng trong các cơn bão tố
Dù trong các thông điệp, các thư, các bài giảng, Đức Phanxicô trích nhiều các bài của các vị tiền nhiệm của mình. Nhưng chúng ta có thể thấy một sự gần gũi đặc biệt giữa Đức Phanxicô và Đức Phaolô VI.
Giáo hoàng bị chỉ trích, bị làm ầm ngay trong giáo hội của mình, Đức Phanxicô đương nhiên phải nhớ lại các cơn bão tố mà Đức Phaolô VI từng hứng chịu. Các cơn bão này đến từ hàng ngủ những người được gọi là bảo thủ, thất vọng về các kết quả của Công đồng Vatican II, cũng như đến từ hàng ngủ những người có tiếng là tiến bộ, họ chỉ trích gay gắt Thông điệp Sự sống Con người (Humanae Vitae). Thông điệp này công bố năm 1968 nói về hôn nhân và điều hòa sinh sản, Giáo hội ngoảnh mặt đi với các phương pháp ngừa thai.
Nhưng các mối dây giữa hai giáo hoàng còn sâu đậm hơn, như tác giả Paul de Charentaynoì trong quyển sách mang tên “Đức Phaolô VI, người tạo cảm hứng cho Đức Phanxicô” (Nxb Salvator, 2015) đã viết.
Vượt lên sự việc Đức Phaolô VI trút bỏ một cách quyết liệt việc thực thi quyền lực của giáo hoàng (chẳng hạn bỏ miện và một phần của sự quý phái Vatican), chúng ta chỉ nên giữ lại nét giống nhau chính yếu của hai giáo hoàng: đối thoại. Đức Phaolô VI đã thiết lập “thượng hội đồng giám mục”, một hình thức mà Đức Phanxicô muốn tái lập lại để thực thi quyền lực một cách đồng đội hơn ở Vatican. Còn với thế giới, Đức Phaolô VI đã nhận định lý thuyết về sự cần thiết phải có đối thoại qua Thông điệp Giáo hội của Người (Ecclesiam Suam). Quan tâm này là ở trọng tâm triều giáo hoàng của Đức Phanxicô, ngài được bầu chọn lên để hoàn tựu việc này.
Không có gì là ngây thơ ở Vatican. Bức hình Đức Giáo hoàng đứng cầu nguyện trước mộ Đức Phaolô VI giữa mùa hè, tế nhị nhắc lại Đức Phanxicô là ai: một giáo hoàng muốn trung thành với truyền thống của các vị tiền nhiệm để lại, nhưng cũng muốn làm một vài guồng máy và thói quen của Giáo hội tiến triển, theo gương Đức Phaolô VI mà chính Đức Phanxicô đã phong chân phước cho ngài.
Ở Vatican, các cơn bão thường rất mãnh liệt. Đức Phaolô VI đã trải qua và Đức Phanxicô, cũng sẽ trải qua trong vài tháng sắp tới trên lãnh vực cải cách, chắc chắn ngài cũng muốn kín đáo nhắc lại.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch

Về Nhân Đức và Tội Lỗi

Về Nhân Đức và Tội Lỗi



Linh mục Ron Rolheiser, OMI

Có một câu châm ngôn nói rằng: Không gì cho ta cảm giác tốt đẹp hơn nhân đức. Đây là chân lý sâu sắc, nhưng còn một khía cạnh ẩn giấu nữa. Khi làm việc tốt, chúng ta thấy bản thân mình tốt đẹp. Nhân đức thực sự là phần thưởng cho chính nó rồi, và như thế là tốt. Nhưng cảm giác mình công chính có thể sớm biến thành cảm giác tự đại. Không gì cho ta cảm giác tốt đẹp hơn nhân đức, nhưng sự tự đại có vẻ cũng cho ta cảm giác tốt đẹp nữa.
Chúng ta thấy điều này được biểu lộ rõ trong dụ ngôn của Chúa Giêsu về người thu thuế và người Pharisiêu. Người Pharisiêu thực hành nhân đức, ông hành động đúng theo những điều được dạy, nhưng trong ông không có khiêm nhượng, cũng không thấy cần Thiên Chúa và lòng thương xót, mà chỉ có thái độ tự đại và xét đoán người khác. Tất cả chúng ta cũng thế, cũng dễ trở thành người Pharisiêu này. Mỗi khi thấy người khác đang phải đấu tranh để sống đẹp, chúng ta nói: Nhờ ơn Chúa tôi mới được thế này. Thái độ có vẻ khiêm nhượng đó có thể mang hai ý nghĩa rất khác nhau. Nó có thể là một lời tạ ơn chân thành vì đã được những ơn mình không xứng đáng, hoặc có thể dễ dàng là một thái độ tự đại về sự vượt trội của mình so với người khác.
Những ngòi bút thiêng liêng kinh điển như Gioan Thánh Giá, khi nói về những thử thách chúng ta gặp phải trên con đường môn đệ, đã nói về một thứ gọi là: Lỗi của những người nằm ngoài hoán cải ban đầu. Ý nghĩa của câu này là: Chúng ta không bao giờ thoát được cuộc đấu tranh với tội lỗi. Khi chúng ta trưởng thành, thì tội lỗi càng tinh vi hơn. Ví dụ như, trước khi trưởng thành, chúng ta xác định được bảy mối tội đầu, và chúng thể hiện nơi chúng ta một cách nguyên sơ và rõ ràng. Chúng ta thấy điều này nơi trẻ con, thanh thiếu niên. Với họ, kiêu ngạo rõ ràng là kiêu ngạo, ghen tỵ rõ ràng là ghen tỵ, ích kỷ rõ ràng là ích kỷ, tham lam rõ ràng là tham lam, và nóng giận rõ ràng là nóng giận. Chẳng có gì tinh vi hay ẩn giấu cả, cái lỗi nằm rành rành ra đó.
Nhưng khi chúng ta vượt qua được dạng nguyên sơ của những tội này, thì chúng lại đội những lốt khác tinh vi hơn trong cuộc đời chúng ta. Vì thế, chẳng hạn như, khi chúng ta khiêm nhượng, thì chúng ta lại trở nên kiêu ngạo và tự đại vì sự khiêm nhượng của mình. Và tôi thấy từ chính kinh nghiệm của mình rằng: Không một ai thiển cận và xét đoán hơn một người mới trở lại đạo hay một người mang ngọn lửa nhiệt thành ban đầu.
Tội có những phức tạp của nó.  Một số khái niệm ngây thơ của chúng ta về tội và sự khiêm nhượng cũng cần được xem xét lại. Ví dụ như, chúng ta thường nuôi một khái niệm lãng mạn hóa rằng, người có tội thì khiêm nhượng, nhận thức mình cần được tha thứ, và mở lòng ra với Chúa. Và chúng ta có thể thấy điều này trong Phúc âm. Khi Chúa Giêsu rao giảng, những người Pharisiêu đương cự với Chúa và thông điệp của Chúa, còn những người thu thuế và gái điếm lại mở lòng hơn với Ngài. Vậy từ đó chúng ta có thể đặt một câu hỏi: Có phải tội lỗi còn khiến chúng ta nhận ra mình cần Chúa hơn cả nhân đức nữa?
Đúng, khi tội đó thành thật, khiêm nhượng, biết thú nhận và sám hối, hoặc là khi hành động sai trái của chúng ta bắt nguồn từ việc bị tổn thương, bị lợi dụng.  Không phải mọi tội lỗi đều như nhau. Có tội ngay thẳng và tội bất lương.
Là con người, chúng ta yếu đuối và thiếu sức mạnh để luôn luôn làm theo những gì tốt đẹp nhất trong con người mình. Đôi khi chúng ta chịu thua cám dỗ và yếu đuối. Để giải thích về việc chúng ta phạm tội, chỉ cần nói điều này thôi. Chúng ta là con người! Và đôi khi, người ta rơi vào tình trạng tội lỗi vốn không thật sự do tay họ gây ra. Họ bị lợi dụng, bị bắt sống trong hoàn cảnh tội lỗi không do họ chọn lựa, họ là nạn nhân của nạn buôn người, là nạn nhân của hoàn cảnh bất công trong xã hội hay gia đình, hoặc họ bị tổn thương quá nặng. Trong những hoàn cảnh đó, một hành động sai lầm, là vấn đề sống còn chứ không phải vấn đề chọn lựa tự do. Một bà đã giải thích cho tôi rằng: “Tôi đơn giản là một con chó, cắn để khỏi bị cắn thôi.” Trong những trường hợp này, thường thì dưới lớp vỏ chai đá có một tâm hồn vẫn ngây thơ vô tội biết mình cần lòng thương xót Chúa. Có tội ngay thẳng.
Và có tội không ngay thẳng, là thứ tội biện luận, luôn chìm trong kiêu ngạo nên không thể thú nhận mình tội lỗi. Kết quả là, nó trở thành một tâm hồn đầy xét đoán, cay đắng, và chai đá. Khi tội biện luận, thì sự cay đắng tiếp vào, kéo theo sự ghét bỏ với nhân đức mà nó đã không giữ được.  Khi chúng ta biện luận, thì bản năng luân lý của chúng ta không bị lừa phỉnh đâu. Nó phản ứng lại và trừng phạt bằng cách khiến chúng ta ghét bỏ mình. Và khi ai đó ghét bỏ mình, thì sự căm ghét đó sẽ lớn lên và trở thành ghét bỏ người khác, và nhất là ghét bỏ nhân đức mà mình đã không giữ được. Ví dụ như, không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều người ngoại tình thường cay độc vô cùng khi nói đến đức khiết tịnh.
Thấy mình yếu đuối và tội lỗi, có thể khiến chúng ta cúi mình khiêm nhượng, và mở lòng chúng ta đón nhận lòng thương xót Chúa. Nhưng nó cũng có thể biến tâm hồn chúng ta chai đá, cay đắng và xét đoán. Không phải mọi người có tội đều cầu nguyện như người thu thuế trong Phúc âm.
Nhân đức khiến chúng ta biết ơn. Tội lỗi khiến chúng ta khiêm nhượng.
Đúng là thế. Nhưng không phải lúc nào cũng thế.
J.B. Thái Hòa chuyển dịch

Di dân: “Giá trị đúp của hội nhập”

Di dân: “Giá trị đúp của hội nhập”

Đọc thư của Đức Phanxicô về vấn đề di dân
fr.zenit.org, Marina Droujinin, 2017-08-24
Ngày 21 tháng 8, trong một cuộc phỏng vấn với Radio Vatican tiếng Ý, linh mục Fabio Baggio, phó thư ký phân bộ “Người di dân và tị nạn” của Bộ Phát triển Con người Toàn diện nhấn mạnh đến “giá trị đúp của hội nhập”, không những quan tâm đến “người di dân hội nhập, nhưng cũng quan tâm đến người bản xứ hội nhập với người di dân”.
Linh mục giải thích bức thư của Đức Giáo hoàng dành cho Ngày Thế Giới di dân và tị nạn sẽ cử hành vào ngày 14 tháng 1 năm 2018 sắp tới với chủ đề “Đón nhận, bảo vệ, cổ động và hội nhập”.
Linh mục Baggio ghi nhận: “Giáo huấn xã hội của Giáo hội hướng dẫn chúng ta, khởi đi từ giáo dục, một giáo dục về tính khác biệt và về sự nhận biết người khác như một giá trị tăng thêm vào cho cuộc sống chúng ta, chỉ dẫn cho chúng ta con đường để thành tựu hóa con người theo chương trình hoạch định của Chúa”.
Linh mục giải thích: “Đón nhận, là làm thế nào để người di dân có các phương tiện khác nhau, chắc chắn và hợp pháp, hơn là những gì mà ngày nay các tổ chức buôn người, các tổ chức mafia địa phương làm. Đáng tiếc thay, thường thường những người này không thể nào có được các con đường hợp pháp. Đặc biệt ở đây, đó là những người đi trốn các cuộc xung đột, các bách hại, các chiến tranh, trốn các hoàn cảnh bất an, một số người còn đi trốn vì nạn nghèo đói cùng cực, thiếu tất cả mọi sự để có một cuộc sống cơ bản”.
Linh mục Baggio nói tiếp: “Khi nói đến vấn đề nới rộng các đường dây hợp pháp, Đức Giáo hoàng nói đến các kinh nghiệm để có thể giải quyết tình trạng ngày hôm nay:  cấp chiếu khán nhập cảnh nhân đạo hay chiếu khán mà ở Ý gọi là ‘bảo trợ thêm’. Sự mở rộng các chiếu khán này phải được làm trước khi vượt biển hay băng sa mạc. Và cũng phải có một khả thể thực hiện được trong vùng đất khởi phát hay trong vùng đất đầu tiên tạm cư, chẳng hạn trại tị nạn của xứ láng giềng”.
Linh mục Baggio khẳng định, Đức Phanxicô chống các vụ “trục xuất hàng loạt” người di dân vì trong trường hợp này, “người di dân không được trình bày trường hợp cá nhân của mình, những vụ này thường được làm một cách qua loa và thường xuyên được làm theo ý của người làm hồ sơ dựa theo các công thức trục xuất, mà không có xác minh hiệu quả, nhất là không có một khả năng nào để kháng cáo”. Linh mục Baggio nhấn mạnh, các vụ trục xuất này phải được bãi bỏ.
Trong thư của mình, Đức Phanxicô giải thích, “phải nỗ lực có các biện pháp khác nhau về việc giam giữ”. Linh mục Baggio nêu rõ: “Nạn quan liêu giấy tờ và thủ tục hành chính là một trọng tội, sự việc không có chiếu khán, không có được giấy phép, không có giấy thị thực nhập cảnh không được dẫn đến tù tội. Có những biện pháp xen kẻ rất có giá trị, có những cách thực hành đặc biệt cho các trẻ em còn nhỏ, mà chúng tôi luôn yêu cầu không được dùng biện pháp giam giữ để phòng ngừa”.
Khi nhắc đến trường hợp của nước Ý, linh mục Baggio nói đến “có các sự hợp thức hóa rất đặc biệt” đôi khi còn được gọi là “đặc xá”, nhưng luôn luôn là các vụ hợp thức hóa phi thường, cho thấy có thể giải quyết vấn đề giấy tờ này bằng một hình thức giấy tờ khác. Ở đây không có tội phạm, vì thế không cần đến việc giam giữ”.
Linh mục Baggio giải thích, Đức Phanxicô mong muốn có sự tôn trọng quyền để có một quốc tịch: “Đức Phanxicô đề cập một cách đặc biệt đến những người không có quốc tịch và những người chưa được có quốc tịch khi sinh ra. Đối với tất cả các trẻ em khi sinh ra, phải cho các em được có quốc tịch của cha mẹ nếu cha mẹ các em yêu cầu, và nếu họ quyết định một cách khác, thì các em phải có quốc tịch của nước nơi các em sinh”.
Linh mục luôn nhắc đến trường hợp của nước Ý, ngài nhấn mạnh: “Giáo hội Ý, một cách đặc biệt, thuận cho quyền có quốc tịch nơi đất mình sinh ra, quyền này có thể cùng tồn tại với quyền quốc tịch của cha mẹ”.
Để kết luận, linh mục Baggio cho biết, hai Hiệp ước thế giới về người tị nạn và di dân của bộ soạn thảo sắp được Liên Hiệp Quốc chuẩn chi, dự trù vào năm 2018. Linh mục giải thích: “Từ ngày 1 tháng 1, chúng tôi đã có nhiều cuộc gặp với Đức Giáo hoàng, đó là các cuộc gặp hàng tháng, để tìm mô thức cho các tiến trình dẫn đến các Hiệp ước thế giới này. Chúng tôi đã hoàn thành 20 điểm hành động, gồm một loạt chỉ dẫn rất thực tế đến từ kinh nghiệm của chính Giáo hội, các việc mà Giáo hội địa phương đã thực hiện tốt, để được gần sát với các đề nghị chúng tôi đưa ra”.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
Linh mục Fabio Baggio:

Vì sao bức thư của Đức Giáo hoàng về người di dân gây tranh luận

Vì sao bức thư của Đức Giáo hoàng về người di dân gây tranh luận

lavie.fr, Henrik Lindell, 2017-08-22
Trong bức thư nhân Ngày Thế Giới người Di dân, Đức Giáo hoàng viết an ninh cá nhân phải trước an ninh quốc gia. Một đoạn gây khó hiểu cho người công giáo.
Hẳn nhiên mục đích bức thư không phải để gây tranh luận nhưng kết quả lại gây tranh luận. Trong bức thư công bố ngày 21 tháng 8 để phổ biến nhân Ngày Thế Giới người Di dân, Đức Phanxicô tái khẳng định quan điểm của mình về việc đón tiếp người di dân và tị nạn khi họ đi trốn “chiến tranh, bách hại, các tai ương thiên nhiên và nạn đói nghèo”. Khi tuyên bố về việc rộng cấp chiếu khán nhân đạo và tiếp đón đầu tiên một cách xứng đáng, ngài cho rằng phải luôn đặt trọng “an ninh cá nhân” của người di dân trước “an ninh quốc gia”. Một câu nếu đọc tách biệt sẽ gây khó hiểu trong bối cảnh an ninh bị căng thẳng, nhất là khi nhiều nước phương Tây tiếp nhận người di dân và những người này đã làm các tội ác hoặc tổ chức các vụ tấn công. Đọc phớt qua sẽ nghĩ Đức Giáo hoàng nói, an ninh của người di dân quan trọng hơn an ninh của người dân ở nước họ đến. 
Trên các trang mạng xã hội, nhiều người công giáo lên tiếng chỉ trích ồn ào, họ nói lên sự bất bình của mình, trong khi những người bình thường bênh vực giáo hoàng thì lại im lặng. Từ tổ chức Giá trị hiện nay ở Pháp (Valeurs actuelles en France) đến Breitbart ở  nước Mỹ, các cơ quan truyền thông phái hữu quốc gia thường lên án thái độ phò-di dân của giáo hoàng đã dựt các hàng tít lớn, xem đây như một sự kiện quan trọng đáng lo ngại. Trong lãnh vực chính trị, nhiều đại diện của phe hũu và cực hữu đã phản ứng rất tiêu cực. Ở Paris, nữ nghị viên Âu châu Sophie Montel cho rằng “giáo hoàng phải tập trung vào lãnh vực của mình, đừng xen vào chính trị”. 
Một sứ điệp nguyên nghĩa
Sứ điệp của giáo hoàng có mang tính chính trị không? Trong một nghĩa nào đó, có. Trong bối cảnh của mình, ngài xin người công giáo “cứ có dịp là chia sẻ sứ điệp này với tất cả các tác nhân chính trị và xã hội”, bao gồm trong một tiến trình được bắt đầu trong cuộc Họp Thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc tháng 9 năm ngoái, đưa đến việc các Quốc gia sẽ chuẩn chi các thỏa ước toàn cầu từ đây đến cuối năm 2018 cho người di dân và tị nạn, gọi là Global Compacts. Hẳn nhiên đây là một tài liệu “dấn thân”, như người ta nói, nhằm để dùng như một lập luận.
Bức thư rất chi tiết, một quan điểm dứt khoát về nhiều chủ đề chính trị tế nhị trong bối cảnh tranh luận hiện nay. Ngoài việc cấp chiếu khán nhân đạo, Đức Giáo hoàng giải thích phải nới rộng đoàn tụ gia đình đến ông bà và anh chị em. Phải bảo vệ quyền tự do di chuyển và làm việc, cũng như việc hội nhập về mặt xã hội-nghề nghiệp. Ngài cũng chống đối việc “đồng hóa, dẫn đến việc loại bỏ hay quên đi căn tính riêng của mình”, ngài chủ trương một “văn hóa gặp gỡ”, một sự hội nhập chú trọng đến văn hóa gốc.
Nguyên tắc tập trung vào con người nhân bản, một nguyên tắc mà vị tiền nhiệm yêu quý Bênêđictô XVI đã cương quyết khẳng định, buộc chúng ta luôn phải đặt nặng an ninh cá nhân trên an ninh quốc gia. – Đức Phanxicô
Tuy nhiên người ta ghi nhận, Đức Phanxicô không nhắc đến các lời nói khác uyển chuyển hơn mà ngài đã nói về vấn đề di dân. Ngài cũng không đề cập đến việc, mà nhiều lần ngài đã nói, các nước phải giới hạn việc đón tiếp theo khả năng hội nhập của mình và các người di dân cũng phải có bổn phận thích ứng. 
Đâu là nội dung đoạn bị lên án? Đức Giáo hoàng có thật sự muốn nói an ninh của người di dân phải quan trọng hơn an ninh của quốc gia không? Nếu không, thì sứ điệp là như thế nào? Để hiểu hơn, chúng ta phải xem lại câu nói trong bối cảnh của nó: “Nguyên tắc tập trung vào con người nhân bản, một nguyên tắc mà vị tiền nhiệm yêu quý Bênêđictô XVI (Thông điệp Caritas in veritate, Bác ái trong Chân lý) buộc chúng ta phải đặt an ninh cá nhân trên an ninh quốc gia. Đương nhiên điều cần thiết là phải đào tạo thích ứng cho các nhân viên kiểm soát ở biên giới. Các điều kiện của người di dân, các người xin quy chế tị nạn và những người tị nạn phải được bảo đảm an ninh cá nhân cho họ và họ được hưởng các dịch vụ cơ bản. Nhân danh cho phẩm cách nền tảng của mỗi con người, phải nỗ lực có các giải pháp xen kẻ cho việc giam giữ những người nào vào lãnh thổ của một quốc gia mà không có phép”. 
“An ninh quốc gia” ở đây là như thế nào?
Khi chúng tôi đặt câu hỏi này với một vài nhà thần học thì họ không muốn trả lời, một vài người cho rằng đây là khía cạnh chính trị nóng bỏng của vấn đề. Về phần các phòng truyền thông của Vatican thì cho rằng, đoạn này nói rất rõ. Họ cho chúng tôi câu trả lời rất mạnh: “Khi đọc toàn câu trích thì sẽ thấy ý nghĩa của nó rất rõ: các quyền của cộng đồng không thể vượt lên các quyền của cá nhân, họ là ưu tiên”. Chúng tôi phải quay về với một giáo sư triết trẻ, chuyên về triết chính trị và luân lý, giáo sư Andéol Chartier, người dùng thì giờ để giải thích cho chúng tôi.
Theo giáo sư, cuộc tranh luận cho thấy có một sự hiểu sai: “Đương nhiên Đức Giáo hoàng không muốn so sánh an ninh của một người với an ninh của nhiều người! Còn an ninh ‘quốc gia’, chắc chắn ngài hiểu đây là một cái gì khác hơn là an ninh của toàn thể người dân Pháp.” Tuy nhiên, giáo sư triết công nhận, “cái gì khác” chỉ được hiểu qua ánh sáng của toàn bộ tư tưởng công giáo về quan hệ giữa con người và cộng đoàn – trong trường hợp này là quốc gia Pháp -, là một chuyện rất khó.
Con người nhân bản là tạo tác của Thiên Chúa (cùng với sự hợp tác của cha mẹ), trong khi chính trị, kinh tế, vv, là tạo tác của loài người.  
Vì thế, theo Đức Giáo hoàng, “an ninh quốc gia” là an ninh không phải chỉ của những người Pháp – trên thực tế an ninh này ít bị đe dọa so với an ninh của những người xin tị nạn -, nhưng là an ninh của các cơ cấu xã hội và con người mà “các luật, văn hóa, kinh tế, chính trị của một nước và tất cả những chuyện dính đến con người với nhau, nhưng không phải chính bản thân con người.” Và quả vậy, trong thần học luân lý công giáo, an ninh của một người thì cao hơn các cấu trúc xã hội, “con người nhân bản là tạo tác của Thiên Chúa (cùng với sự hợp tác của cha mẹ), trong khi chính trị, kinh tế, vv, là tạo tác của loài người.”
Giáo sư Andéol Chartier cho biết, đoạn này cần được giải thích một cách rõ ràng và giáo sư đã thất vọng khi thấy có cuộc tranh cãi về việc này. Giáo sư nói: “Giáo hoàng không bao giờ viết gì để cho vui. Khi ngài có một sứ điệp cần quảng bá thì ngài nói, dù có gặp phản ứng như thế nào. Như thế trong bức thư này, có một đoạn khác còn đáng gây tranh cãi hơn đoạn chúng ta vừa nói. Trong nhiều đoạn, Đức Giáo hoàng đã ám chỉ đến ưu tiên cho người nghèo. Ngài đề nghị quan tâm đến an ninh cá nhân của người di dân có thể còn quan trọng hơn quan tâm đến an ninh của một công dân Pháp đang sống yên lành trong nhà họ. Nguyên tắc này có thể làm sốc, nhưng nó nằm trong giáo điều công giáo. Những người chỉ trích có thể họ không có thì giờ để đọc toàn bộ bức thư…”
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch