Trang

Thứ Bảy, 31 tháng 1, 2026

Lời Chúa như Chân Lý giải thích thế giới

 

Lời Chúa như Chân Lý giải thích thế giới

 

Trong truyền thống Kinh Thánh, tình trạng căn bản của nhân loại được mô tả như một cuộc hiện hữu trong bóng tối. Bóng tối ấy không chỉ là thiếu kiến thức hay kém hiểu biết, nhưng là tình trạng con người phải sống, suy nghĩ và hành động khi chưa được ánh sáng chân lý trọn vẹn soi chiếu. Ngôn sứ Isaia đã diễn tả tình trạng này bằng một hình ảnh mạnh mẽ: “Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; những kẻ sống trong vùng bóng tối nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi” (Is 9,1). Ánh sáng mà ngôn sứ loan báo không chỉ xua tan sợ hãi, nhưng còn mở ra khả năng thấy rõ con đường phải đi và ý nghĩa của chính cuộc sống.

Về mặt nhân học, con người không thể sống mà không có một lời giải thích nào đó về thế giới. Mỗi cá nhân, một cách ý thức hay vô thức, đều sử dụng lý trí, kinh nghiệm sống và trí tưởng tượng để hình thành những diễn giải nhằm hiểu thực tại chung quanh và định hướng đời mình. Tuy nhiên, những diễn giải ấy thường mang tính cục bộ, bị chi phối bởi hoàn cảnh, môi trường và những giới hạn nội tại của con người. Kinh Thánh nhận định rất tỉnh táo về điều này khi nói rằng: “Có những con đường xem ra chính trực đối với con người, nhưng cuối cùng lại dẫn đến tử vong” (Cn 14,12).

Con người có thể suy nghĩ, lựa chọn và hành động với tất cả thiện chí, nhưng vẫn có nguy cơ lạc hướng vì thiếu ánh sáng chân lý toàn diện.

Chính trong bối cảnh ấy, mầu nhiệm Nhập Thể của Ngôi Lời mang một ý nghĩa quyết định. Tin Mừng Gioan công bố rằng: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người” (Ga 1,9). Ngôi Lời không đến chỉ để bổ sung thêm một hệ thống luân lý hay một tập hợp giáo huấn, nhưng để mặc khải chân lý sâu xa về Thiên Chúa, về con người và về lịch sử. Khi Đức Giêsu tự giới thiệu mình là “đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6), Người khẳng định rằng nơi Người, con người có được chìa khóa để hiểu đúng thực tại và sống đúng với ý nghĩa đích thực của đời mình.

Từ ánh sáng của Ngôi Lời, con người không chỉ nhận được một tri thức mới, mà còn được mời gọi bước vào một cách sống mới. Đức Giêsu nói: “Các ông sẽ biết sự thật, và sự thật sẽ giải phóng các ông” (Ga 8,32). Sự giải phóng này không đơn thuần là thoát khỏi áp bức bên ngoài, nhưng là được giải phóng khỏi những cách hiểu sai lạc về thế giới và về chính mình. Khi có một lời giải thích đúng về thực tại, con người bắt đầu sống trong sự thật, nghĩa là sống phù hợp với điều mình là và điều mình được mời gọi trở thành.

Tuy nhiên, đời sống hằng ngày cho thấy con người liên tục bị bao vây bởi những “lời giải thích vô thức”. Qua tiếp xúc, kinh nghiệm và môi trường sống, những quan niệm, định kiến và quy luật ngầm được hấp thụ một cách tự nhiên, chẳng hạn như những lối suy nghĩ giản lược về thiện – ác, thành công – thất bại, hay giá trị của con người. Những “lời giải thích” ấy có thể mang lại sự tiện lợi nhất thời, nhưng thường không dẫn con người đến chân lý sâu xa. Thánh Phaolô vì thế khuyên nhủ các tín hữu: “Đừng rập theo đời này, nhưng hãy biến đổi con người anh em bằng cách đổi mới tâm trí” (Rm 12,2). Sự đổi mới ấy không thể xảy ra nếu không có một nguồn ánh sáng khác, vượt lên trên những diễn giải thuần túy nhân loại.

Cầu nguyện với Lời Chúa chính là con đường để ánh sáng chân lý ấy thấm nhập vào đời sống con người. Lời Chúa không chỉ được đọc hay suy nghĩ như một đối tượng tri thức, mà được đón nhận như ánh sáng hướng dẫn cuộc sống.

Thánh Vịnh đã diễn tả kinh nghiệm này bằng lời cầu nguyện đơn sơ nhưng sâu sắc: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119,105). Trong cầu nguyện, Lời Chúa dần dần giải thích lại thế giới cho con người, không bằng những khái niệm trừu tượng, nhưng bằng việc định hình lại cách nhìn, cách phán đoán và cách hành động.

Điều cốt yếu là Lời Chúa không dừng lại ở bình diện hiểu biết của trí óc, mà phải thấm vào tâm hồn và đi vào đời sống cụ thể. Thư Do Thái khẳng định: “Lời Thiên Chúa sống động và hữu hiệu, sắc bén hơn gươm hai lưỡi, xuyên thấu tâm can” (Dt 4,12). Khi Lời Chúa được cầu nguyện và nội tâm hóa như thế, nó trở thành nguyên lý sống, giúp con người không chỉ thấy rõ con đường, mà còn có khả năng bước đi trên con đường ấy trong sự thật.

Trong một thế giới đầy những diễn giải mâu thuẫn và chồng chéo, cầu nguyện với Lời Chúa không loại bỏ vai trò của lý trí hay kinh nghiệm, nhưng đặt chúng dưới ánh sáng của chân lý mặc khải. Nhờ đó, con người không còn lần mò trong đêm tối, nhưng được dẫn đi bởi ánh sáng của Ngôi Lời, Đấng “chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1,5).

Lm. Giuse Vũ Uyên Thi, S.J.

Lời Chúa và Ký ức – Phục hồi kinh nghiệm Đức Tin

 

 Lời Chúa và Ký ức – Phục hồi kinh nghiệm Đức Tin

 

 

Trong đời sống đức tin, có một điều rất con người nhưng đôi khi bị bỏ quên, rằng người ta không chỉ sống bằng lý trí hay ý chí, mà còn sống rất nhiều bằng ký ức. Kinh nghiệm của những niềm vui, niềm an ủi nỗi đau đã qua, hay kỷ niệm những lần được nâng đỡ hoặc bị bỏ rơi… đều có thể âm thầm định hình cách con người nhìn về chính mình, về người khác và về Thiên Chúa. Ký ức và đời sống cầu nguyện vì thế có một mối tương quan sống động. Trong đó, việc cầu nguyện với Lời Chúa trong đời sống cá nhân và cộng đoàn không chỉ là một công việc đạo đức, mà là một hành trình để ký ức được thanh luyện và tái sinh, để làm sinh động lại kinh nghiệm về Thiên Chúa mà đôi khi ta có thể bị đánh mất.

 

Thế giới hôm nay đầy như giàu cảm xúc nhất thời, nhưng lại nghèo ký ức. Đức cố gắng Hồng y Carlo M. Martini từng nhận định về thực trạng này từ hơn ba mươi năm trước đây, thời công nghệ thông tin còn chưa phát triển mạnh như ngày nay. Theo bạn, con người luôn sống trong hiện tại nghẹt thở với những hình ảnh và thông tin liên tục hiện ra trước mắt đến nỗi đau cố gắng này xóa sạch biến cố kia, khiến họ dễ quên đi kinh nghiệm quá khứ mà chỉ dự đoán về cuộc sống của mình từ một biến cố hay cảm xúc cuối cùng. Nếu cảm xúc này cực tích thì mọi sự đều tốt đẹp, còn ngược lại thì mọi sự đều trở nên xấu tệ. Những nỗi lo nghi ngờ, sợ hãi, cô đơn… từ một biến cố có thể trở thành chìa khóa duy nhất để một người đọc lại cuộc đời họ. Điều này không chỉ diễn ra với xã hội nói chung mà cả trong đời sống đức tin, nó diễn tả một trạng thái thực sự đánh mất kinh nghiệm về Thiên Chúa.

 

Kinh nghiệm về Thiên Chúa là một ký ức sống động, một cuộc gặp khó thân tình với Chúa trong Lời Ngài. Chỉ có trải nghiệm mới này là chìa khóa thực sự để một người có thể phán đoán khách quan về bản thân, về những gì họ đã và đang sống.

 

Khi cầu nguyện với Lời Chúa, người tín hữu bước vào dòng ký ức sống động của một dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn và dẫn dắt. Một dân tộc luôn được mời gọi “nhớ lại” hay đúng hơn là “sống lại” những biến cố Thiên Chúa đã làm, để cảm nhận Ngài hiện diện sống trong lịch sử và trong hiện tại (x. Đnl 8,2). Hãy nhớ lại như thế là một hành vi đức tin.

 

Quả thực, Lời Chúa được suy gẫm trong cầu nguyện ta vào một tương quan sống động với Thiên Chúa. Câu chuyện về những lần Thiên Chúa can thiệp, có khi dịu dàng yêu thương, có khi đầy thử thách đau, hay những lần dân Chúa bất trung và được tha thứ, hoặc những nỗi đau khổ của Môsê, của các ngôn sứ vv, giúp ta nhớ lại chính trải nghiệm bản thân mình và kinh nghiệm của ta sẽ được phong phú nhờ những trải nghiệm đó.

 

Trong thực tế, một người chết không chỉ tin bằng những công thức tín lý, mà còn tin bằng ký ức về những lần cảm nhận được Thiên Chúa ở rất gần mình, hay những lúc tưởng tượng như Ngài vắng bóng. Đó là ký ức về một Thiên Chúa trung tín, chiến đấu giáo dục và dẫn dắt dân Ngài qua bao thăng lịch sử. Nếu kinh nghiệm về Thiên Chúa bị suy nghèo hoặc bị đánh mất, đức tin cá nhân cũng như cộng đồng dễ trở nên khó khăn hoặc theo thói quen. Đời sống Chết hữu khi đó dễ nghiêng về hình thức với những quy định bên ngoài được chú ý quan trọng và quan tâm hơn chiều sâu nội tâm. Một đoàn thể hay cộng đoàn tu trì có thể tranh luận nhiều về nghi thức, về những chi tiết thứ yếu, suy xét về chiếc áo dòng sao cho thu hút… trong khi điều cốt lõi là việc gặp gỡ và diễn tả một Thiên Chúa sống động trong đời mình trở nên mờ nhạt.

 

Nếu kinh nghiệm về Thiên Chúa bị suy nghèo hoặc bị đánh mất, đức tin cá nhân cũng như cộng đồng dễ trở nên khó khăn hoặc theo thói quen.

 

Nhìn về Giáo hội sơ khai, người ta dễ dàng nhận được sức mạnh của các Kitô hữu không đến từ tổ chức nhưng từ ký ức sống động về Đức Thú Phục Sinh đang ở giữa, đang nói với họ qua Lời Ngài mỗi khi cộng đoàn quy tụ cầu nguyện chung. Và chính kinh nghiệm này cấm cho họ sức mạnh, niềm vui và lòng có thể đảm bảo để làm chứng cho đức tin, tạo nên cộng đoàn không ngừng lớn lên (x. Cv 2,42- 47).

 

Như thế, Lời Chúa được cầu nguyện cá nhân hay trong cộng đoàn là cơ hội để ký ức được hạnh phúc, được biến đổi và làm cho kinh nghiệm về Thiên Chúa được trở nên sống động. Đối với các tín hữu, một trong những sai lầm của đời sống nội tâm là chỉ nhớ những gì làm mình tự hào hay chỉ đọc lại đời mình qua những thất bại, thâm thương hoặc tội lỗi. Ký ức đó dễ làm ta rơi vào mặc cảm hoặc kín. Lời Chúa không phủ nhận những ký ức đau buồn. Ngược lại, trong Kinh thánh có rất nhiều lời cầu nguyện diễn tả nỗi đau, sự hoang mang và cảm giác bị bỏ rơi (x. Tv 22, Tv 42). Nhưng những trải nghiệm ấy trở thành nơi gặp gỡ Thiên Chúa, hoàn thành vẫn hiện diện ngay cả khi con người như không nhận ra.

 

Khi trình diễn cầu nguyện với Lời Chúa, người tín hữu tăng dần cách không chỉ nhớ điều cuối cùng đã xảy ra, mà nhớ lại toàn bộ hành động với tâm tình tạ ơn, cùng một cái nhìn quân bình và sâu sắc hơn.

 

Trong tương quan với ký ức, cầu nguyện với Lời Chúa như một bài trí nhớ tinh khiết. Đó là một tiến trình dài, người tín hữu học cách đọc lại toàn bộ hành trình đời mình dưới ánh sáng của Thiên Chúa. Lời Chúa giúp kết nối những cố gắng lớn nhỏ của cuộc đời. Như kinh nghiệm của hai môn đệ quy trên đường Emmau, khi Kinh thánh được mở ra, ký ức về thất bại dần dần được biến đổi thành một cái nhìn mới về toàn bộ cố gắng đã xảy ra (x. Lc 24,13-35). Cũng như vậy, khi hiển thị cầu nguyện với Lời Chúa, người tín hữu tăng dần cách không chỉ nhớ điều cuối cùng đã xảy ra, mà nhớ toàn bộ hành động với tâm tình tạ ơn, cùng một cái nhìn quân bình và sâu sắc hơn.

 

Cuối cùng, một cộng đoàn biết cầu nguyện với Lời Chúa sẽ là một cộng đoàn có ký ức lành mạnh: biết nhớ những điều Thiên Chúa đã làm, biết tạ ơn, và biết hy vọng. Từ đó, đời sống đức tin được làm mới, không dùng những hình thức bên ngoài, mà bằng kinh nghiệm sâu xa về sự hiện diện của Chúa. Trong thế giới đầy biến động và bất an hôm nay, cầu nguyện với Lời Chúa là cách Hữu hữu để Thiên Chúa đọc lại lịch sử đời ta cùng với Ngài, để nhận ra Ngài vẫn đang đồng hành cùng ta, trong đời sống Giáo hội và nhân loại.

 

Maria Hải Châu, SSS

 

MỠ ĐỂ MIỆNG MÈO - MỖI TUẦN MỘT THÀNH NGỮ

 

MỠ ĐỂ MIỆNG MÈO - MỖI TUẦN MỘT THÀNH NGỮ

avatarThầy Giuse Nguyễn Văn Quýnh
WGPPC (22/01/2026) – Sau đây là bài viết giải thích ý nghĩa của câu thành ngữ “mỡ để miệng mèo”, cũng như soi sáng ý nghĩa của câu thành ngữ này dưới kinh nghiệm đời sống và ánh sáng Lời Chúa.

Mèo rất thèm thịt cá, đặc biệt là thịt mỡ. Hơn nữa, mèo có khả năng vồ mồi nhanh như chớp, mà để “mỡ trước miệng mèo”, thì quả là hớ hênh.

Cho nên, thành ngữ “mỡ để miệng mèo” có nghĩa là, để một vật quý trong tình trạng hớ hênh, khiến cho kẻ đang thèm muốn dễ dàng chiếm đoạt.

Chúng ta có thể đặt câu với thành ngữ như sau:

- Giao kho bạc cho kẻ tham tiền trông coi thì cũng như “mỡ để miệng mèo” vậy!

- Chiếc xe SH mới mua mà để tênh hênh giữa đường, chẳng khác nào “mỡ để miệng mèo”!

Thánh Phaolô khuyên phải đóng cửa những dịp tội, đừng để lòng dục hoặc lòng tham có cơ hội hành động, nghĩa là: “Đừng tạo dịp cho tội lỗi”.

“Anh em hãy mặc lấy Chúa Giêsu Kitô,
và đừng chiều theo tính xác thịt
mà thoả mãn các dục vọng”
(Rm 13,14)

Kinh Thánh nhiều lần nhắc ta phải xa tránh dịp tội, vì con người vốn yếu đuối, rất dễ sa ngã.

“Anh em hãy canh thức và cầu nguyện,
kẻo sa chước cám dỗ;
vì tinh thần thì hăng hái,
nhưng xác thịt lại yếu đuối”
(Mt 26,41)

Tóm lại, thành ngữ “mỡ để miệng mèo” cảnh báo chúng ta phải biết kiểm soát tình huống, không mở cửa cho điều dữ xâm nhập. Như lời Thánh Phaolô khuyên:

“Đừng để cho ma quỷ thừa cơ lợi dụng”
(Ep 4,27)

Như vậy, “Mỡ để miệng mèo” dạy ta:

- Đừng đặt mình trước cơn cám dỗ.

- Biết xa tránh dịp tội và xin Chúa giữ gìn.

Vì người khôn ngoan không chỉ biết nói “không” với tội, mà còn biết tránh xa nơi tội có thể bắt đầu.

Nguồn: giaophanphucuong.org

CỰC NHỌC VÀ AN ỦI - TIN MỪNG CỦA THÁNH PHAOLÔ

 

CỰC NHỌC VÀ AN ỦI - TIN MỪNG CỦA THÁNH PHAOLÔ

avatarLm. Mỹ Sơn
WGPLX (31/12/2025) - Các bài suy niệm sau đây được lấy từ cuốn “Tin mừng của Thánh Phaolô”, tác giả là Đức Hồng y Carlo Maria Martini. Đây là những bài suy niệm rất hay về Thánh Phaolô, người mục tử tốt lành theo gương Đức Kitô.

SUY NIỆM 2CỰC NHỌC VÀ AN ỦI

Trong bài trước, chúng ta đã suy niệm và cầu nguyện về “tình thương của thánh Phaolô dành cho cộng đoàn của ngài”. Hôm nay, chúng ta cùng nhau suy niệm và cầu nguyện về “sự cực nhọc và niềm an ủi của thánh Phaolô”. Qua đó, chúng ta sẽ nhận ra rõ ràng và cụ thể hơn tình thương dành cho cộng đoàn của ngài. Đồng thời, qua đó, chúng ta cũng nhìn lại chính mình, nhìn lại tình thương chúng ta dành cho cộng đoàn giáo xứ mà chúng ta đang là mục tử qua những mệt nhọc và an ủi đã in sâu vào tâm trí, vào lòng chúng ta.

Trước hết, chúng ta chăm chú lắng nghe lời Thánh tông đồ nói với cộng đoàn Côrintô trong thư thứ hai:

“… Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an. Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó. Vì cũng như chúng ta chia sẻ muôn vàn nỗi khổ đau của Đức Kitô, thì nhờ Người, chúng ta cũng được chứa chan niềm an ủi. Chúng tôi có phải chịu gian nan, thì đó là để anh em được an ủi và được cứu độ. Chúng tôi có được an ủi, thì cũng là để anh em được an ủi, khiến anh em có sức kiên trì chịu đựng cùng những nỗi thống khổ mà chính chúng tôi phải chịu. Chúng tôi lấy làm an tâm về anh em, vì biết rằng anh em thông phần thống khổ với chúng tôi thế nào, thì cũng sẽ được thông phần an ủi như vậy.

Thật thế, thưa anh em, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì về nỗi gian truân chúng tôi đã gặp bên Asia: chúng tôi đã phải chịu đựng quá mức, quá sức chúng tôi, đến nỗi chúng tôi không còn hy vọng sống nổi. Nhưng chúng tôi đã mang án tử nơi chính bản thân rồi, để chúng tôi không tin tưởng vào chính mình, mà vào Thiên Chúa, Đấng làm cho kẻ chết trỗi dậy. Chính Người đã cứu và sẽ còn cứu chúng tôi khỏi một cái chết như thế. Người là Đấng chúng tôi trông cậy, Người sẽ còn cứu chúng tôi nữa. Còn anh em, hãy lấy lời cầu nguyện mà trợ giúp chúng tôi. Như vậy, Thiên Chúa sẽ ban ơn cho chúng tôi nhờ lời cầu thay nguyện giúp của nhiều người; và do đó, nhiều người sẽ cảm tạ Thiên Chúa vì Người đã thương chúng tôi” (2Cr 1,3-11).

I. GIẢI THÍCH BẢN VĂN

1. Thử thách thứ nhất: thánh nhân thấy mình bị đại đa số đồng bào do thái loại trừ

2. Thử thách thứ hai: những chống đối xuất phát từ nội bộ, từ chính cộng đoàn mà ngài rao giảng và thành lập

3. Thử thách thứ ba: thử thách này thuộc nội tâm của chính thánh Phaolô

II. SUY NIỆM LỜI CHÚA

1. Gian nan, thử thách gắn liền với cuộc đời và sứ vụ của Thánh Phaolô

2. An ủi của người tông đồ là vì người khác

3. Thử thách chết người trong tin tưởng tuyệt đối vào Đức Kitô phục sinh

4. Một tương quan đầy tràn tình người

I. GIẢI THÍCH BẢN VĂN

Cách chung, Thư 2 Côrintô cho biết Thánh Phaolô đã trải qua 3 thử thách nghiệt ngã sau đây:

1. Thử thách thứ nhất: thánh nhân thấy mình bị đại đa số đồng bào do thái loại trừ

Khởi đầu sứ vụ thánh Phaolô nghĩ rằng mình có sứ vụ loan báo Tin mừng cho đồng bào của mình và cho rằng dù có khó khăn, thì rồi anh em đồng bào Do Thái cũng sẽ đón nhận Tin mừng. Nhưng thánh nhân đã hoàn toàn thất bại. Ảo tưởng hoàn toàn bị tan vỡ. Đó là nỗi thất vọng lớn đầu tiên trong sứ vụ của ngài

2. Thử thách thứ hai: những chống đối xuất phát từ nội bộ, từ chính cộng đoàn mà ngài rao giảng và thành lập

Thánh Phaolô đã mong mỏi những cộng đoàn đoàn kết một lòng một ý, sống tình nghĩa huynh đệ chân thành, hoà hợp và yêu thương, với lòng nhiệt huyết sục sôi. Nhưng rồi, những mong ước đó lại biến thành một kinh nghiệm chua chát, cay đắng: các cộng đoàn thay vì hợp nhất, một lòng, một ý lại là những cộng đoàn bị xâu xé vì những bất đồng. Sự chia rẽ không chỉ ngay trong cộng đoàn mà còn giữa cộng đoàn với chính cá nhân ngài. Hơn nữa, đây không phải là những cộng đoàn đông đảo, lớn rộng, mà chỉ là những cộng đoàn ít người, nhỏ bé.

3. Thử thách thứ ba: thử thách này thuộc nội tâm của chính thánh Phaolô

Đây là những thử thách bên trong mà có lúc ngài đề cập đến cách kín đáo, có khi lại rõ ràng công khai. Khó mà biết được cụ thể những thử thách nội tâm đó là gì.

Từ những thử thách nghiệt ngã đó, những lời Thánh Phaolô chúng ta vừa nghe có ý nghĩa gì?

Sự an ủi phát sinh từ chính giữa những đau khổ

Thường trong đời sống con người, chúng ta nói đến niềm vui và nỗi buồn; đồng thời, chúng ta tìm kiếm sự quân bình giữa hai kinh nghiệm này. Không thể có niềm vui tràn đầy luôn mãi, mà cũng không thể có nỗi buồn da diết kéo dài vô tận.

Đối với Thánh Phaolô thì khác. Ngài không tìm kiếm sự quân bình giữa niềm vui và nỗi buồn trong sứ vụ tông đồ, mà là sống niềm an ủi giữa muôn vàn thử thách, khổ đau. Không phải niềm vui và nỗi buồn làm nên cuộc đời chúng ta mà là những đau khổ và niềm an ủi phát sinh từ chính những đau khổ, những gian nan, thử thách xảy đến trong cuộc đời.

Câu 3 và 4 của chương I cho thấy rõ điều đó: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an. Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách…” Đây không đơn giản là niềm vui bình thường, nhưng là sự an ủi giữa lòng những thử thách, gian nan đang sống.

Câu 5 sau đó giúp hiểu rõ hơn nữa tương quan giữa gian nan và an ủi: “Vì cũng như chúng ta chia sẻ muôn vàn nỗi khổ đau của Đức Kitô, thì nhờ Người, chúng ta cũng được chứa chan niềm an ủi.”

Đây không còn là những gian nan, đau khổ của Thánh Phaolô nữa mà là những gian nan, đau khổ của chính Đức Kitô, và như vậy, chúng ta hiểu rằng thánh Tông đồ không sống những gian nan, đau khổ đơn độc, như thuộc về riêng mình, nhưng như những gian nan, đau khổ của Đức Kitô trong bản thân mình, bởi vì chúng đi lìền với sứ vụ mà Chúa đã trao phó cho ngài; và ngài sống trong Đức Kitô, hiệp thông cùng một đời sống với Chúa. Ngài gọi đó là những đau khổ của chính Đức Kitô vì ngài hiến thân trọn vẹn cho sứ vụ bởi tình yêu dành cho Chúa.

II. SUY NIỆM LỜI CHÚA

Bây giờ chúng ta cùng suy niệm các câu 3,4,5.

1. Gian nan, thử thách gắn liền với cuộc đời và sứ vụ của Thánh Phaolô

Câu hỏi đặt ra ở đây là: Để cảm nhận được niềm an ủi phát xuất từ chính những đau khổ thì tương quan giữa chúng là gì?

Điều đó muốn nói rằng niềm an ủi phát sinh ngay khi chúng ta lâm vào cơn thử thách, ngay trong cơn thử thách; như vậy, nó không phải là một sự thêm vào, hay một bù trừ nhỏ bé cho những cơn thử thách, giống như niềm vui đến sau những đau khổ đã chịu như một bù trừ cho chúng ta.

Chúng ta có thể chạm trán với những thử thách thể lý, tâm lý, nhưng không phải luôn luôn là những thử thách có tính hiện sinh, nghĩa là chúng gắn liền với cuộc đời và sứ vụ của chúng ta. Điều này có nghĩa là gì? Có thể giải thích rõ hơn như sau:

Chúng ta gặp muôn vàn thử thách trong sứ vụ: mệt nhọc thể lý, căng thẳng, tâm trạng bực bội, chán ngán với những công việc phục vụ quen thuộc hàng ngày, những giờ phút xung đột, mâu thuẫn, ác cảm khiến chúng ta chán ghét người khác, coi thường hoàn cảnh, né tránh những biến cố xảy đến. Chúng ta có thể lâm vào những tình trạng trên cách thể lý, tâm lý, nhưng chưa chắc đã có tính hiện sinh nếu chúng ta không dám nhìn trực diện vào chúng, nếu chúng ta chối bỏ chúng, phớt lờ chúng, gạt chúng sang một bên, có thể là do sợ hãi không dám đương đầu với chúng. Nói cách khác, chúng ta coi những thử thách đó như một hiện tượng bên ngoài, không thực sự gắn liền với cuộc sống thiết thân của ta, chúng không có chỗ trong cuộc sống đó, và do đó, chúng sẽ bị giữ lại trong vô thức. Khi làm như vậy, chúng ta như đang tự gây mê về tâm lý.

Hành động như trên, chúng ta ngăn cản chính mình nội tâm hoá những thử thách, không hội nhập chúng vào con đường sứ vụ của mình, và hậu quả là chúng ta không thể biến đổi chúng thành an ủi.

Có thể nói, chỉ khi chịu đựng thử thách, đau khổ như thử thách, đau khổ của Đức Kitô, chúng ta mới tìm được sức mạnh và sự an ủi của Người để chịu đựng và vượt qua thử thách, đau khổ. Thánh Tông đồ Phaolô đã là một người như vậy. Câu 4 và 5 trong thư thứ hai gởi tín hữu Côrintô cho thấy điều đó: những đau khổ của Đức Kitô mà chúng ta chịu đựng nơi mình chính là nguồn an ủi cho chúng ta.

Câu hỏi: Trong đời sống tông đồ, mục vụ của tôi, tôi đã trải qua những thử thách, đau khổ nào? Và đã được an ủi ra sao?

2. An ủi của người tông đồ là vì người khác

Câu 6 và 7 của chương I nhấn mạnh rằng niềm an ủi là vì lợi ích của người khác.

Sự an ủi của người tông đồ, rất quan trọng, và là công việc của Chúa Thánh Thần thực hiện nơi người đó; sự an ủi đó không dành cho người tông đồ giống như niềm vui đến để bù trừ cho những thử thách, đau khổ đã chịu. Sự an ủi của người tông đồ là để cho người khác.

Chúng tôi có phải chịu gian nan, thì đó là để anh em được an ủi và được cứu độ. Chúng tôi có được an ủi, thì cũng là để anh em được an ủi...” (câu 6).

Có lẽ chúng ta thấy hổ thẹn khi đọc câu 7 của Thánh Phaolô: “Chúng tôi lấy làm an tâm về anh em, vì biết rằng anh em thông phần thống khổ với chúng tôi thế nào, thì cũng sẽ được thông phần an ủi như vậy.”

Khi đọc câu này có thể chúng ta nghĩ đến những cuộc gặp gỡ làm chúng ta chán nản, đôi khi thất vọng vì thấy những người tham dự chỉ tham dự cho có, chỉ nghe cho có, chỉ thảo luận cho có; không cởi mở, không đón nhận, thiếu sức sống nơi những người hầu như khép kín vào chính mình, và kết quả là đâu vẫn hoàn đó, không có thay đổi nào, biến đổi nào. Vì thế, nhiều khi chúng ta nghĩ thôi mình soạn bài, mình để hết tâm huyết vào buổi gặp gỡ, trao đổi thì kết quả vẫn vậy; có lẽ mình chẳng thể làm gì hơn được nữa, nên đâm ra nản chí, thất vọng, không còn muốn nói, muốn gặp gỡ nữa.

Giờ đây, đọc lại những lời của Thánh Phaolô, chúng ta thấy mình không thể nói cách tin tưởng như ngài: “Chúng tôi lấy làm an tâm về anh em, vì biết rằng anh em thông phần thống khổ với chúng tôi thế nào, thì cũng sẽ được thông phần an ủi như vậy.” Đúng là rất cần một cái nhìn đức tin mạnh mẽ để xem những yếu đuối, những vô năng của cộng đoàn như: khép kín, chia rẽ, thành kiến… là những thử thách, đau khổ… và rồi chúng sẽ đem đến chiến thắng. Làm sao để niềm hi vọng của chúng ta vào cộng đoàn luôn vững vàng bởi vì chúng ta xác tín rằng những người trong cộng đoàn cũng tham dự vào những thử thách, đau khổ và rồi cũng tham dự vào sự an ủi như chúng ta.

Tất cả chúng ta đều cần đọc kỹ và suy gẫm câu trên của Thánh Phaolô để rồi có thể diễn tả như ngài.

Câu hỏi: Niềm an ủi chúng ta đã lãnh nhận có biến đổi chúng ta thành những người biết khích lệ, an ủi người khác, hoặc cộng đoàn không? Chúng ta có thể nói lên kinh nghiệm đó như Thánh Phaolô không

3. Thử thách chết người trong tin tưởng tuyệt đối vào Đức Kitô phục sinh

Các câu 8 và 9 có thể đặt đầu đề là “thử thách chết người”: “Thật thế, thưa anh em, chúng tôi không muốn để anh em chẳng hay biết gì về nỗi gian truân chúng tôi đã gặp bên Asia: chúng tôi đã phải chịu đựng quá mức, quá sức chúng tôi, đến nỗi chúng tôi không còn hy vọng sống nổi.”

Ở đây, Thánh Phaolô thú nhận với chúng ta rằng ngài không đủ sức mạnh; trong khi, ở những chỗ khác trong thư, những sức mạnh đó lại xuất hiện rất rõ ràng và toả sáng.

Như đã nói ở trên, trong thư này, Thánh Phaolô diễn tả sự tin tưởng lạ lùng vào đặc sủng cá nhân của ngài; dù vậy, ở đây ngài phải thú nhận rằng những đau khổ xảy đến cho ngài ở Asia (rất có thể là những đau khổ do bách hại, cay đắng, thất vọng sâu xa đến từ chính cộng đoàn, đó là những giờ phút mà sức mạnh tâm lý suy giảm trầm trọng) đã làm ngài phải chịu đựng quá mức, quá sức…

Đôi khi điều này cũng xảy đến với chúng ta khi chúng ta gặp những thử thách quá sức chịu đựng của mình. Nhưng nếu suy nghĩ cẩn thận, sâu sát, chúng ta sẽ thấy rằng Chúa còn gìn giữ chúng ta khỏi chịu điều tệ hại nhất.

Nhưng nếu điều xảy đến làm chúng ta phải thốt lên như Thánh Phaolô: “Chúng tôi đã phải chịu đựng quá mức, quá sức chúng tôi, đến nỗi chúng tôi không còn hy vọng sống nổi.” Đối với ngài, lúc này, dường như chẳng còn gì nữa. Tất cả đã kết thúc. Tuy vậy, Thánh tông đồ vẫn tin tưởng nói tiếp: “Nhưng chúng tôi đã mang án tử nơi chính bản thân rồi, để chúng tôi không tin tưởng vào chính mình, mà vào Thiên Chúa, Đấng làm cho kẻ chết trỗi dậy” (câu 9). Chúng ta thấy Mầu nhiệm Phục sinh không bao giờ biến mất khỏi đôi mắt của Thánh Phaolô; Có Thiên Chúa là Đấng làm cho kẻ chết sống lại sẽ giải thoát chúng ta khỏi tình thế không lối thoát, khỏi con đường cùng.

Cũng như Thánh Phaolô, đặc sủng tông đồ này được ban cho chúng ta qua việc đặt tay theo truyền thống của Giáo hội. Vì thế, chúng ta phải suy đi gẫm lại không ngừng những câu của Thánh Phaolô trên đây, dưới cái nhìn của Thiên Chúa để vượt qua những gian nan, thử thách, đau khổ của sứ vụ tông đồ Chúa trao: Lạy Chúa, Chúa đã trao cho con sứ vụ tông đồ, điều đó có ý nghĩa gì với con?

4. Một tương quan đầy tràn tình người

Câu 10 và 11 nói về sự tham dự của cộng đoàn. Thánh Phaolô nói: tôi thú nhận rằng nếu tôi có thể vượt qua được những giờ phút cực kỳ khó khăn, đó cũng là nhờ anh em, nhờ lời cầu nguyện của anh em, xin tiếp tục cầu nguyện cho tôi và tạ ơn Thiên Chúa vì tôi. Suy nghĩ về tương quan của Thánh Phaolô và cộng đoàn, chúng ta hãy tự hỏi: có bao giờ tôi đã sống mối tương quan như vậy với cộng đoàn của tôi? Có bao giờ tôi dám can đảm nói rằng: xin cầu nguyện cho tôi vì tôi đã lâm vào một hoàn cảnh vô cùng nặng nề, khó khăn và chính nhờ sự hiện diện của anh em, nhờ lời cầu nguyện của anh em mà tôi đã vượt qua được.

Chúng ta ai cũng biết, khi thân xác đau đớn cùng cực, khi cái chết đã gần kề, cộng đoàn sẽ có mặt ngay lập tức và các hội đoàn, các nhóm dễ dàng hoà giải với vị mục tử đang đau đớn, hấp hối, không hi vọng chữa khỏi. Hoàn cảnh đau khổ, chết chóc đó đã giúp biến đổi lòng người và tương quan giữa họ được hàn gắn.

Điều đó thường rất đúng. Nói như thế, không có nghĩa là chúng ta mong muốn vị mục tử của chúng ta đau ốm, bệnh tật nặng nề. Nhưng ở đây, chỉ muốn nói tương quan đích thực, mật thiết, tin tưởng giữa cộng đoàn của Thánh Phaolô với ngài là điều có thực, rất đáng cho chúng ta suy nghĩ trong thinh lặng, trước mặt Chúa và hỏi Chúa rằng: “Lạy Chúa, trong cuộc đời phục vụ của người mục tử, con đã trải qua những thử thách như Thánh Phaolô chưa? Và con đã vượt qua những thử thách đó thế nào? Con có được mối tương quan đích thực, mật thiết, tin tưởng với cộng đoàn giáo xứ mà con phục vụ như ngài không?”

Lạy Chúa, xin ban cho con ơn an ủi của Chúa Thánh Thần.

Tác giả: Linh mục Mỹ Sơn

Nguồn: giaophanlongxuyen.org