Lễ trọng Truyền tin mừng sự kiện lịch sử Thiên thần Gabriel hiện ra với Đức Trinh nữ Maria, như được ghi trong Sách Tin mừng: " Bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và đây đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Chúa. Ngài sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con chịu Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho ngai vàng vua Đavít, tổ tiên sẽ vô cùng vô tận ” (Luca 1: 26–38). 

Thế nhưng vào thế kỷ thứ năm, nhiều vị giám mục đã tham gia vào một cuộc tranh luận thần học gay khóa về hiệp hiệp nhất giữa bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại của Chúa Kitô, được gọi là “ Ngôi Hiệp hoặc hiệp hiệp nhất ngôi vị - unio hypostatica ”.

Tổng Giám mục Constantinôpôli là Nestoriô (khoảng 386 – 450) lập luận rằng trong Chúa Kitô có hai ngôi, với hai bản tính, một nhân tính và một thần tính. Vị Tổng Giám mục cho rằng Đức Maria chỉ sinh ra nhân tính của Chúa Giêsu, chứ không sinh ra thiên tính của Ngài. Nói cách khác, nhân tính của Chúa Kitô được sinh ra từ Đức Trinh nữ Maria, nhưng thần tính của Ngài thì không như thế. Do đó, Nestoriô tin rằng Đức Maria chỉ nên được gọi là “ Χριστοτόκος , nghĩa là Đổcư mang Chúa Kitô , hay Mẹ Chúa Kitô ” chứ không phải “ Θεοτόκος, nghĩa là Cửu cửu mang Thiên Chúa hay Mẹ Thiên Chúa”.

Trong khi đó, Thánh Cyrilô (376-444), Tổng Giám mục Alexandria, lập luận luận rằng bản tính Thiên Chúa và bản tính nhân loại của Chúa Giêsu được hợp nhất trong một ngôi vị. Thần tính và nhân tính được kết hiệp Hiệp hoàn hảo, và do đó, gọi Mẹ Maria là “ Theotokos - Mẹ Thiên Chúa ”, là công việc thích đáng chứ không chỉ là “ Mẹ của Chúa Kitô ”. Mẹ Maria đã thụ thai một Ngôi vị trong lòng mình, và Ngôi vị đó vừa là Thiên Chúa vừa là con người, được hợp lý nhất hoàn hảo thành một.

Chính Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã trích dẫn Thánh Cyrilô như sau: “ Như vậy, chúng tôi khẳng định rằng các bản tính tuy khác nhau nhưng được hợp lý nhất trong một Cuộc chiến tối nhất đích thực, từ cả hai bản tính chỉ sinh ra một Chúa Kitô và Người Con; không phải vì hiệp nhất của các bản tính làm cho sự khác biệt trong các bản tính đã bị xóa, mà đúng hơn, bởi vì thần tính và nhân tính, được hợp nhất trong một sự kết hợp không miêu tả, ra cho chúng ta ta một Chúa, một Chúa Kitô và một Người Con ”.

Đức Giáo hoàng Bênêđíctô XVI nói tiếp: “ Điều này rất quan trọng: nhân tính đích thực và thần tính đích thực sự được Hiệp nhất trong một Ngôi Vị, là Chúa Kitô Kitô của chúng ta .” Ngài tiếp tục trích dẫn Thánh Cyrilô: “ Chúng ta sẽ chỉ bảo đảm một Chúa Kitô và một Chúa duy nhất, không phải theo nghĩa chúng ta thờ phượng con người ấy “ cùng với ” Ngôi Lời, chống mẹo lên ý tưởng về sự tinh chia cách khi nói “ cùng với ” , nhưng theo nghĩa chúng ta chỉ thờ phượng cùng một Ngôi vị, bởi vì Ngôi vị ấy không tách biệt Ngôi Lời, thân xác của Ngài, Ngài cũng không phải như thể “ hai người con ” đang bên Chúa Cha nhưng chỉ là một, Hiệp nhất với chính thân xác của Ngài ” (Buổi tiếp kiến ​​chung, Quảng trường Thánh Kiếm, Thứ Tư, ngày 3 tháng 10 năm 2007). [1]

Theo lịch sử, vào năm 431, Hội thánh tổ chức công đồng tại Êphêsô, tại đó các trường thiết lập Thánh Cyrilô được chấp nhận và trường thiết lập của Nestoriô được lên án. Nestoriô sau đó được tổ chức Tổng Giám mục Constantinôpôli.

Trong suốt lịch sử Giáo hội, khi một chân lý thần học được minh định, thì chân lý ấy được cử hành trong Phục vụ như một biểu hiện sống động của Đức tin Giáo hội.

Lễ Truyền tin kính nhớ giây phút đầu tiên của ơn nghiên cứu độ nơi trần thế và sự kết hợp của Thiên tính với nhân tính trong một ngôi vị của Ngôi Lời, nhấn mạnh giáo huấn của Công đồng Êphêsô: “ Do đó, Công đồng thánh trọng đại nói rằng, Con Một, sinh ra theo bản tính của Chúa Cha, là Thiên Chúa thật, Ánh sáng bởi Ánh sáng, giúp Ngài mà Chúa Cha đã tồn tại, đã thế, nhập thể, làm người, khổ đau, sống lại ngày thứ ba và lên trời. Phải gắn bó theo những lời này và những sắc lệnh này, khi xem xét ý nghĩa của Ngôi Lời nhập và người làm. Chúng tôi không nói rằng bản tính của Ngôi Lời thay đổi và thành xác thịt, hoặc nói rằng Ngôi Lời đã có thể biến đổi thành một con người toàn bộ linh linh và có thể xác thực; Con Người, không đơn thuần là mong muốn hay xin vui lòng được gọi như vậy, cũng không phải vì mình tự mang lấy một ngôi nhà, mà bởi vì hai bản tính được kết hợp với nhau trong một Hiệp hội thực sự nhất, cho nên vừa có một Chúa Kitô vừa có một Người Con ”. [2]

Ngày lễ này được ấn định vào tháng chín trước Lễ Giáng sinh, nhưng cũng rất có thể Lễ Giáng sinh được ấn định vào tháng chín sau Lễ Truyền tin. Cuốn Bách Khoa Toàn Thư Công Giáo - Bách khoa toàn thư Công giáo giải thích lý do đằng sau cách tính toán này. Toàn bộ nền văn học Giết giáo cổ đại, bất chấp mọi kiến ​​thức thiên văn học, đều công nhận ngày 25 tháng 3 là ngày Chúa Giêsu chịu chết. Quan điểm cho rằng người nhập khẩu cũng có thể diễn ra vào ngày được tìm thấy trong tác phẩm trước đây được giao cho Thánh Cyprianô, Giám mục Cartagô, Bắc Phi, tử đạo năm 248, long trọng tuyên bố rằng Chúa giáng sinh vào ngày 25 tháng 3, vào ngày thứ 4 trong tuần. Tác phẩm này cho rằng sự thăng hoa và cái chết của Chúa Giêsu phải trùng khớp với sự tạo dựng và sa ngã của Ađam. Vì thế được tạo dựng vào mùa xuân, nên Cứu Thế cũng được biểu tượng Thái Lan và sau này chịu chết ngay sau điểm phân xuân... Sách chép về các tử tử đạo cổ xưa cho rằng ngày 25 tháng 3 là ngày Lucifer sa ngã, là ngày tạo dựng nên Ađam, ngày Abraham hiến tế Isaác, ngày dân Israel vượt qua biển Đỏ, và là ngày Chúa Chịu đựng. [3]

Lễ Truyền tin cử đức tin của Giáo hội thành thực tại thiêng liêng đã diễn ra khi Thiên thần Gabriel hiện ra với Đức Trinh nữ Maria. Tuy nhiên, lễ Truyền tin không chỉ là lễ kính kính Đức Mẹ, mà trước hết và trên hết là lễ kính Chúa Kitô, cử hành sự nhập thể của Ngài. Mặc dù Lễ Giáng sinh kỷ niệm thăng hoa của Chúa Kitô, nhưng lễ Truyền tin kỷ niệm nhập thể của Chúa Kitô trong lòng Đức Trinh nữ Maria.

Và tất nhiên lễ trọng này cũng là một lễ kính Đức Mẹ. Chúng ta cử hành lời xin vâng theo tổng thể của Mẹ Maria đối với kế hoạch của Chúa Cha: “ Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói ” (Lc 1: 38). Chúng tôi cử hành động khiêm nhường, vâng phục, lo lắng ngùy và đặc biệt là tình mẫu tử của Đức Mẹ đối với Thiên Chúa và nhân loại.

Lễ trọng này cũng tôn vinh Chúa Cha trên trời vì lễ này đã khởi đầu cho kế hoạch nghiên cứu của Chúa Cha. Giải quyết có thể mang lại ý nghĩa ngoài sự hiểu biết. Điều này đã được giải quyết trong ý định của Chúa Cha trên trời từ xưa và diễn ra một cách kín đáo, chỉ có Đức Trinh nữ Maria Chậm rãi mới được biết.

Khi cử hành lễ Truyền tin, Hội thánh mời chúng ta suy nghĩ tất cả những huyền thoại nhiệm tâm của đức tin chúng ta. Đức tin không chỉ được tin, mà còn phải được cử hành, được kính hoan hoan, được cho vay, yêu mến và sống trọn vẹn. Chúng ta trả tiền đức tin của chúng ta vào sự thể chúng và yêu cầu xin chuyển cầu của Đức Trinh nữ Maria cho chúng ta có thể noi theo lời “xin vâng” của Mẹ trước ý muốn của Chúa Cha trên trời, để chúng ta tiếp tục mang Con Thiên Chúa trong tâm hồn mình, và qua đời sống chúng ta, Ngài tiếp tục được chứng tỏ cho thế giới.

Phạm Văn Trung

__________

[1] https://www.vatican.va/content/benedict-xvi/en/audiences/2007/documents/hf_ben-xvi_aud_20071003.html

[2] https://www.newadvent.org/fathers/3810.htm , Thư tín của Cyril gửi Nestorius ("Intelligo quosdam meæ")

[3] https://aleteia.org/2020/03/25/why-is-the-annunciation-celebrated-on-march-25/