Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn đ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn đ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 2 tháng 9, 2024

HUẤN DỤ CN 22 TN B (01/9/2024) -

 

HUẤN DỤ CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN NĂM B (01/9/2024) - THANH SẠCH THỰC SỰ TRONG CON TIM

avatarVatican News
 
(Vatican News, 01/9/2024) - Trưa Chúa nhật ngày 01/9, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự buổi đọc Kinh Truyền Tin với các tín hữu hiện diện tại quảng trường thánh Phêrô. Trước khi đọc kinh, Đức Thánh Cha đã có bài huấn dụ ngắn dựa trên đoạn Tin Mừng Chúa nhật 22 Thường Niên năm B. Sau đây là toàn văn bài huấn dụ của Đức Thánh Cha:

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

KINH TRUYỀN TIN

CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN NĂM B

Quảng trường Thánh Phêrô

Chúa nhật, ngày 01/9/2024

[hình và video]

Anh chị em thân mến, chúc Chúa Nhật tốt lành!

Trong Tin Mừng phụng vụ hôm nay (xem Mc 7,1-8.14-15.21-23), Chúa Giêsu nói về sự thanh sạch và ô uế: một chủ đề rất quen thuộc với những người đương thời với Chúa, chính yếu liên quan đến việc tuân giữ các nghi thức và luật lệ về hành vi, tránh mọi tiếp xúc với những đồ vật hoặc những người bị coi là ô uế và, nếu điều đó xảy ra, thì phải “tẩy uế” (xem Lv 11-15). Đó gần như là một sự ám ảnh của một số chức sắc tôn giáo thời bấy giờ: sự thanh sạch và ô uế.

Một số luật sĩ và người Pharisêu, những người tuân giữ nghiêm ngặt các quy tắc này, tố cáo Chúa Giêsu đã cho phép các môn đệ của Người dùng bữa mà không rửa tay. Chúa Giêsu nhận lấy sự khiển trách này của những người Pharisêu đối với các môn đệ để nói về ý nghĩa của sự “thanh sạch”.

Chúa Giêsu nói, sự thanh sạch không liên quan đến những nghi thức bên ngoài, nhưng trước hết liên quan đến những gì bên trong. Vì vậy, để được thanh sạch, thì rửa tay nhiều lần cũng chẳng có ích gì nếu lúc đó bên trong bạn còn nuôi dưỡng những cảm xúc ác độc như tham lam, đố kỵ và kiêu ngạo, hoặc những ý định xấu xa như lừa dối, trộm cắp, phản bội và vu khống (xem Mc 7,21- 22). Chúa Giêsu thu hút sự chú ý để nói về chủ nghĩa nghi thức, không làm cho người ta lớn lên về sự tốt lành; thậm chí, đôi khi nó có thể dẫn đến việc sao lãng, hoặc thậm chí biện minh, với bản thân hay với người khác, về những lựa chọn và thái độ trái ngược với đức ái, làm tổn thương tâm hồn và khép kín con tim.

Và điều này cũng quan trọng đối với chúng ta: chẳng hạn, chúng ta không thể khi vừa rời khỏi Thánh lễ, lúc còn ở sảnh nhà thờ, đã dừng lại tám những chuyện xấu và thiếu thương xót về mọi thứ và mọi người. Hoặc tỏ ra ngoan đạo trong cầu nguyện nhưng ở nhà lại đối xử lạnh lùng và tách biệt với những người trong gia đình, hoặc bỏ bê cha mẹ già, những người cần sự giúp đỡ và đồng hành (xem Mc 7,10-13). Đây là cuộc sống hai mặt và chúng ta không thể như vậy. Đây là điều những người Pharisêu đã làm: sự thanh sạch bề ngoài mà chẳng có thái độ tốt lành bên trong, thái độ thương xót đối với người khác. Hoặc cũng không thể tỏ ra rất công bằng với mọi người, thậm chí có thể thực hiện một số hoạt động tình nguyện và một số cử chỉ từ thiện, nhưng bên trong lại nuôi dưỡng lòng hận thù đối với người khác, coi thường người nghèo và người kém cỏi hoặc cư xử không trung thực trong công việc.

Khi làm như vậy, tương quan với Thiên Chúa chỉ còn là những cử chỉ bên ngoài, còn bên trong thì vẫn trơ cứng trước hoạt động thanh luyện của ân sủng Chúa, bằng cách đắm chìm trong những suy nghĩ, thông điệp và hành vi thiếu tình thương.

Chúng ta được tạo dựng cho một điều khác. Chúng ta được tạo dựng cho sự thanh sạch thực sự của cuộc sống, cho sự diệu dàng và cho tình yêu.

Vậy chúng ta hãy tự hỏi: tôi có sống đức tin của mình một cách nhất quán, nghĩa là những gì tôi làm trong nhà thờ, tôi cũng cố gắng thực hiện bên ngoài với cùng một tinh thần không? Bằng cảm xúc, lời nói và hành động, tôi có thể hiện cụ thể những gì tôi nói trong cầu nguyện, trong sự gần gũi và tôn trọng đối với anh chị em mình không?

Xin Mẹ Maria, Người Mẹ thanh sạch nhất, giúp chúng ta biến cuộc sống của chúng ta, trong tình yêu, trở thành một việc thờ phượng đẹp lòng Thiên Chúa (x. Rm 12,1).

----

Sau Kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha nhắc đến những cuộc chiến ở Ucraina, Israel, Palestine… gây ra đau khổ cho người dân. Bên cạnh nhiều người chết và bị thương, hàng triệu người ở Ucraina khốn khổ vì mất điện, không có nước. Chúng ta hãy nhớ là tiếng kêu của họ vang lên đến Thiên Chúa. Chúng ta không thể dửng dưng với họ.

Kế đến, Đức Thánh Cha nhắc đến hôm nay là Ngày Thế giới Cầu nguyện cho việc Chăm sóc Thụ tạo. Ngài kêu gọi tất cả mọi người, các thể chế, hiệp hội, gia đình và mỗi người có những dấn thân cụ thể để chăm sóc ngôi nhà chung. Tiếng kêu của Trái đất bị thương tổn ngày càng trở nên khẩn thiết và đòi hỏi một hành động kiên quyết.

Đức Thánh Cha cũng nhắc, bắt đầu từ thứ Hai (2/9), ngài sẽ bắt đầu chuyến tông du đến một số nước Châu Á và Châu Đại Dương. Ngài xin mọi người cầu nguyện cho chuyến tông du này đạt được nhiều hoa trái.

Cuối cùng Đức Thánh Cha chúc mọi người một Chúa Nhật tốt lành, và xin đừng quên cầu nguyện cho ngài.

Nguồn: vaticannews.va/vi

Thứ Tư, 6 tháng 3, 2024

Diễn văn ĐTC dành cho Hội thảo Quốc tế “Người Nam-Người Nữ: Hình ảnh của Thiên Chúa. Hướng tới một nhân học về ơn gọi”

 

Diễn văn Đức Thánh Cha dành cho Hội thảo Quốc tế “Người Nam-Người Nữ: Hình ảnh của Thiên Chúa. Hướng tới một nhân học về ơn gọi”

 
  •  
  •  


WHĐ (05.03.2024) – Sáng hôm mồng 01.03, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị Quốc tế “Người Nam-Người Nữ: Hình ảnh của Thiên Chúa. Hướng tới một nhân học về ơn gọi”, do Trung tâm Nghiên cứu và Nhân học về Ơn gọi (the Centre for Research and Anthropology of Vocations - CRAV) tổ chức tại Vatican từ ngày mồng 01 đến mồng 02.03.2024.

Vì Đức Thánh Cha vẫn còn bị cảm, nên bài Diễn văn đã được soạn sẵn của ngài do Đức ông Filippo Ciampanelli tuyên đọc.

Sau đây là toàn văn Việt ngữ bài Diễn văn và lời chào tự phát của Đức Thánh Cha dành cho những người hiện diện:


Lời chào tự phát của Đức Thánh Cha trước bài Diễn văn:

Xin chào quý vị! Tôi nhờ người khác đọc bài diễn văn của tôi để tôi đỡ mệt; Tôi vẫn còn bị cảm nên chỉ đọc một lúc là thấy mệt. Nhưng tôi muốn nhấn mạnh một điều: điều rất quan trọng việc tiến hành cuộc gặp gỡ này, cuộc gặp gỡ giữa người nam và người nữ, bởi vì ngày nay mối nguy hiểm tồi tệ nhất là ý thức hệ về giới tính, vốn loại bỏ những khác biệt. Tôi yêu cầu nghiên cứu về hệ tư tưởng xấu xa này của thời đại chúng ta, một hệ tư tưởng xóa bỏ sự khác biệt và khiến mọi thứ trở nên giống nhau; xóa bỏ sự khác biệt là xóa bỏ tính nhân văn. Mặt khác, người nam và người nữ đang ở trong tình trạng “căng thẳng” phong nhiêu. Tôi nhớ đã đọc một cuốn tiểu thuyết từ đầu thập niên 1900, tác giả là con trai của Tổng giám mục Canterbury: Chúa tể của thế giới. Cuốn tiểu thuyết nói về tương lai và mang tính tiên tri, bởi vì nó cho thấy xu hướng xóa bỏ mọi khác biệt. Thật thú vị khi đọc cuốn truyện này, nếu quý vị có giờ, bởi vì nó có những vấn đề này của ngày nay; tác giả thực là một nhà tiên tri.


DIỄN VĂN ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ
DÀNH CHO CÁC THAM DỰ VIÊN HỘI THẢO QUỐC TẾ
NGƯỜI NAM-NGƯỜI NỮ HÌNH ẢNH CỦA THIÊN CHÚAHƯỚNG TỚI MỘT NHÂN HỌC VỀ ƠN GỌI

Ngày mồng 01.03.2024

Thưa anh chị em!

Tôi rất vui được tham dự Hội thảo này do Trung tâm Nghiên cứu và Nhân học về Ơn gọi tổ chức, trong đó các học giả từ nhiều nơi trên thế giới, mỗi người có chuyên môn riêng, sẽ thảo luận về chủ đề “Người Nam-Người Nữ: Hình ảnh của Thiên ChúaHướng tới một nhân học về ơn gọi”. Tôi chào tất cả các tham dự viên, và cảm ơn Đức Hồng y Ouellet vì những lời của ngài: chúng ta chưa phải là những vị thánh, nhưng chúng ta hy vọng sẽ luôn ở trên đường trở thành một vị thánh - đây là ơn gọi đầu tiên mà chúng ta đã lãnh nhận! Và trên hết, tôi xin cảm ơn quý vị vì cách đây vài năm, cùng với những người có tầm ảnh hưởng khác và đang tìm kiếm một liên minh tri thức, quý vị đã thành lập Trung tâm này để khởi xướng nghiên cứu học thuật quốc tế nhằm ngày càng hiểu rõ hơn về ý nghĩa và tầm quan trọng của ơn gọi trong Giáo Hội và xã hội.


Mục đích của Hội thảo này trước hết là xem xét và đánh giá chiều kích nhân học của mọi ơn gọi. Điều này đưa chúng ta đến một chân lý cơ bản và nền tảng mà ngày nay chúng ta cần tái khám phá với tất cả vẻ đẹp của nó: cuộc sống của con người là một ơn gọi. Chúng ta đừng quên điều này: Chiều kích nhân học, vốn làm nền tảng của mọi ơn gọi trong cộng đoàn, gắn liền với một đặc tính thiết yếu của con người: đó là chính con người là một ơn gọi. Mỗi người chúng ta, cả trong những lựa chọn quan trọng liên quan đến một bậc sống cũng như trong vô số cơ hội và tình huống trong đó những lựa chọn này được thể hiện và hình thành, đều khám phá và thể hiện bản thân như một người được kêu gọi, như một người nhận ra mình trong việc lắng nghe và đáp trả, chia sẻ chính mình và tài năng của mình với người khác vì ích chung.

Khám phá này đưa chúng ta ra khỏi sự cô lập của một cái tôi tự quy chiếu, và giúp chúng ta nhìn bản thân mình như một căn tính mang tính tương quan: Tôi hiện hữu và sống mối tương quan với những người đã sinh ra tôi, với thực tại siêu việt, với tha nhân và với thế giới xung quanh, trong đó tôi được mời gọi thực hiện một sứ mạng cụ thể và cá vị với niềm vui và trách nhiệm.


Chân lý mang tính nhân học này là nền tảng vì nó đáp ứng trọn vẹn ước muốn đạt được sự viên mãn và hạnh phúc của con người đang ngự trị trong tâm hồn chúng ta. Trong bối cảnh văn hóa ngày nay, đôi khi thực tại này có xu hướng bị lãng quên hoặc bị che khuất, với nguy cơ giản lược con người thành những nhu cầu vật chất hoặc những nhu cầu cơ bản, như thể con người chỉ là một vật thể không có lương tâm và ý chí, đơn thuần bị cuộc sống kéo lê như bộ phận của một thiết bị cơ khí. Trái lại, người nam và người nữ được Thiên Chúa tạo dựng và là hình ảnh của Đấng Tạo Hóa; nghĩa là con người mang trong mình niềm khao khát về sự vĩnh cửu và hạnh phúc mà chính Thiên Chúa đã gieo vào tâm hồn và được mời gọi thực hiện qua một ơn gọi cụ thể. Do đó, trong chúng ta tồn tại một sự căng thẳng nội tâm lành mạnh mà chúng ta không bao giờ được dập tắt: đó là chúng ta được mời gọi đến hạnh phúc, đến sự sống sung mãn, và đến điều gì đó cao cả mà Thiên Chúa đã dự định cho chúng ta. Cuộc đời của mỗi chúng ta, không có ngoại lệ, và không hề ngẫu nhiên; Sự hiện hữu của chúng ta trong thế giới không phải là kết quả của sự tình cờ, mà đúng hơn, chúng ta là một phần của kế hoạch tình yêu, và chúng ta được mời gọi ra khỏi chính mình, hoàn thành cuộc đời mình đối với bản thân và tha nhân.


Vì lý do này, nếu quả thật mỗi người chúng ta đều có một sứ mạng, nghĩa là chúng ta được mời gọi góp phần mình để hoàn thiện thế giới và định hình xã hội, thì tôi luôn muốn nhớ rằng đó không phải là một nhiệm vụ bên ngoài được giao phó cho cuộc đời chúng ta, nhưng là một chiều kích liên quan đến chính bản chất của chúng ta, cấu trúc của con người nam - nữ của chúng ta theo hình ảnh và giống Thiên Chúa. Chúng ta không chỉ được giao phó một sứ mạng, mà mỗi người chúng ta cũng là một sứ mạng:

Tôi là một sứ mạng, luôn luôn; bạn là một sứ mạng, luôn luôn; mỗi người nam người nữ đã chịu phép rửa là một sứ mạng. Những người đang yêu thì không bao giờ ở yên; họ được kéo ra khỏi con người họ; họ được thu hút bởi người khác và họ thu hút người khác; họ hiến mình cho người khác và xây dựng những mối quan hệ trao ban sự sống. Liên quan đến tình yêu của Thiên Chúa, không ai là vô ích hay vô nghĩa.” (Sứ điệp Ngày Thế giới Truyền giáo năm 2019).

Đức Hồng Y Newman, một nhân vật trí thức và nhà tu đức lỗi lạc, đã có những lời soi sáng về điều này. Tôi trích dẫn một vài câu:

“Tôi được tạo dựng để làm một điều gì đó hoặc để trở thành một người nào đó mà không ai khác được dựng nên để trở thành. Tôi có một vị trí trong những ý định của Thiên Chúa, trong thế giới của Thiên Chúa, nơi mà không ai khác có được; dù tôi giàu hay nghèo, bị người đời khinh khi hay quý trọng, điều đó không quan trọng, vì Thiên Chúa biết tôi và gọi đích danh tôi. Thiên Chúa đã dựng nên tôi để thực hiện cho Ngài một mục đích rõ ràng nào đó; Ngài đã giao phó cho tôi một công việc mà Ngài chưa giao cho ai khác. Tôi có sứ mạng của mình… Ở một khía cạnh nào đó, tôi cần thiết cho những mục đích của Ngài”.

Và thánh nhân tiếp tục:

“Thiên Chúa đã không dựng nên tôi một cách vô ích. Tôi sẽ làm tốt, tôi sẽ thực hiện công việc của Ngài; Tôi sẽ là một thiên thần hòa bình, một người rao giảng chân lý nơi mà Ngài đã dành cho tôi mà tôi không hề hay biết, miễn là tôi tuân giữ các giới răn của Ngài và phục vụ Ngài trong ơn gọi của mình” (J. H. Newman, Meditations and Devotions).

Thưa anh chị em, việc nghiên cứu, học tập và đặc biệt là những cơ hội thảo luận này rất cần thiết và quan trọng, để truyền bá nhận thức về ơn gọi mà mỗi người được Thiên Chúa mời gọi, trong những bậc sống khác nhau và nhờ vào nhiều đặc sủng của riêng mình. Những cơ hội thảo luận này cũng hữu ích trong việc cật vấn chúng ta về những thách đố hiện nay, cuộc khủng hoảng nhân học đang diễn ra, và việc cổ võ cần thiết các ơn gọi nhân bản và Kitô giáo. Và điều quan trọng là sự luân chuyển ngày càng hiệu quả giữa các ơn gọi khác nhau được phát triển, cũng nhờ vào sự đóng góp của quý vị, để những công việc xuất phát từ đời sống giáo dân nhằm phục vụ xã hội và Giáo hội, cùng với hồng ân của thừa tác vụ chức thánh và đời sống thánh hiến, có thể góp phần tạo ra niềm hy vọng trong một thế giới đang tràn ngập những trải nghiệm nặng nề về sự chết.

Việc tạo ra niềm hy vọng này, và việc dấn thân phục vụ Nước Thiên Chúa để xây dựng một thế giới rộng mở và huynh đệ là một nhiệm vụ được giao phó cho mọi người nam nữ trong thời đại chúng ta. Cảm ơn sự đóng góp của quý vị về vấn đề này. Cảm ơn quý vị đã làm việc trong những ngày này. Tôi phó thác công việc của quý vị cho Chúa qua lời cầu nguyện, nhờ sự chuyển cầu của Đức Maria, Biểu tượng của ơn gọi và là Mẹ của mọi ơn gọi. Và xin quý vị cũng nhớ cầu nguyện cho tôi.


Lời của Đức Thánh Cha ngay sau bài Diễn văn:

Tôi chúc quý vị tiến hành công việc cách tốt đẹp nhất! Và đừng sợ những khoảnh khắc rất phong phú này trong đời sống Giáo hội. Chúa Thánh Thần đòi chúng ta một điều quan trọng: đó là sự trung thành. Nhưng sự trung thành phải phát triển, điều này cũng có nghĩa là đòi chúng ta phải chấp nhận rủi ro. “Sự trung thành trong viện bảo tàng” không phải là trung thành. Hãy can đảm tiến về phía trước để phân định và mạo hiểm trong việc tìm kiếm ý Chúa. Chúc quý vị những điều tốt đẹp nhất. Hãy can đảm tiến bước, và đừng đánh mất khiếu hài hước của mình!

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Chuyển ngữ từ: 
vatican.va (01. 03. 2024)

Thứ Bảy, 18 tháng 3, 2023

Đức Thánh Cha chủ sự nghi thức thống hối “24 giờ cho Chúa”

 

Đức Thánh Cha chủ sự nghi thức thống hối “24 giờ cho Chúa”

 
  •  
  •  


ĐỨC THÁNH CHA CHỦ SỰ NGHI THỨC THỐNG HỐI “24 GIỜ CHO CHÚA”

Hồng Thủy - Vatican News

Vatican News (17.3.2023) – Lúc 4 giờ 30 chiều thứ Sáu ngày 17/3/2023, Đức Thánh Cha đã chủ sự nghi thức thống hối trong bối cảnh của sáng kiến “24 giờ cho Chúa” tại giáo xứ Đức Mẹ Ân sủng tại khu vực Trionfale ở Roma. Trong bài giảng ngài nói rằng "Bí tích Hòa giải phải là: một cuộc gặp gỡ lễ hội, chữa lành con tim và để lại bình an nội tâm; không phải là tòa án của con người để sợ hãi, mà là một vòng tay của Chúa để an ủi.”

Đây là lần thứ 10 sáng kiến “24 giờ cho Chúa” được cử hành. Năm 2022, Đức Thánh Cha đã chủ sự nghi thức thống hối tại đền thờ Thánh Phêrô. Năm nay, nhằm để cho các tín hữu ở các giáo xứ có thể tham dự, Đức Thánh Cha đã chọn cử hành tại giáo xứ Đức Mẹ Ân sủng.

Đến giáo xứ vào khoảng lúc 4 giờ 15 phút chiều, Đức Thánh Cha đã dâng hoa kính viếng Đức Mẹ và gặp gỡ các tín hữu trước khi bắt đầu chủ sự nghi thức thống hối.

Sự giàu có tôn giáo có thể là một trở ngại

Sau phần phụng vụ Lời Chúa, Đức Thánh Cha bắt đầu bài giảng với lời của Thánh Phaolô trong bài đọc thứ nhất: “Những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Đức Kitô, tôi cho là thiệt thòi” (Pl 3,7). Những điều thánh Phaolô nói chính là "sự giàu có tôn giáo”. Theo Đức Thánh Cha, “thói quen tôn giáo này, có thể tạo nên một công đức, một sự khoe khoang, một sự giàu có tôn giáo, trên thực tế lại là một trở ngại.”

Và ngài nhận định rằng người quá giàu có về bản thân và về “sự anh hùng” tôn giáo của mình, tự cho mình là công chính và tốt hơn những người khác, cho phép mình hài lòng với việc đã giữ được vẻ bề ngoài. Nhưng điều này khiến họ không thể dành chỗ cho Chúa vì không cảm thấy cần Người, “cái tôi” của họ đã chiếm chỗ của Chúa và do đó, ngay cả khi đọc kinh và thực hiện các hoạt động thiêng liêng, họ cũng không thực sự đối thoại với Người.

Thái độ của người Pharisêu

Đó là thái độ của người Pharisêu. Trước hết, Đức Thánh Cha giải thích về tư thế của người Pharisêu: ông đứng thẳng. “Ông chắc chắn về bản thân, đứng thẳng và đắc thắng như một người được ngưỡng mộ vì năng lực của mình. Trong thái độ này, anh ta cầu nguyện với Chúa, nhưng trong thực tế, anh ta ăn mừng chính mình... Về hình thức, lời cầu nguyện của ông không chê vào đâu được, bề ngoài ông tự cho mình là một người ngoan đạo và mộ đạo, nhưng, thay vì mở lòng với Chúa bằng cách nói với Người sự thật của trái tim, ông che giấu những điểm yếu của mình bằng thói đạo đức giả. Ông không chờ đợi ơn cứu độ của Chúa như một món quà, nhưng gần như mong đợi nó như một phần thưởng xứng đáng cho công trạng của ông. Ông không do dự tiến về phía bàn thờ của Chúa để ngồi vào chỗ của mình, ở hàng ghế đầu, nhưng cuối cùng lại đi quá xa và đặt mình trước Chúa!”

Người thu thuế đứng đàng xa

Còn người thu thuế đứng đàng xa. Đức Thánh Cha giải thích tiếp: “Ông không cố gắng vượt lên, ông đứng lại ở cuối. Nhưng chính khoảng cách đó cho thấy ông là một tội nhân đối với sự thánh thiện của Thiên Chúa, là điều cho phép ông cảm nghiệm được phúc lành và vòng tay thương xót của Chúa Cha. Thiên Chúa có thể đến với ông chính bởi vì, bằng cách giữ khoảng cách, ông đã dành chỗ cho Người... Điều này cũng xảy ra trong cuộc sống của người thu thuế đó: dừng lại ở phía cuối đền thờ, ông thực sự nhận ra mình đang ở trước mặt Thiên Chúa: với khoảng cách, và bằng cách này, ông để cho Thiên Chúa đến gần mình.”

Thiên Chúa có thể xoá bỏ khoảng cách với chúng ta khi chúng ta thành thật với Người

Từ hai thái độ này, Đức Thánh Cha nhắc nhở: “Chúa đến với chúng ta khi chúng ta tránh xa cái tôi tự phụ của mình. Người có thể rút ngắn khoảng cách với chúng ta khi chúng ta thành thật, không giả vờ, mang đến với Người sự mong manh của chúng ta. Người dang tay đỡ chúng ta đứng dậy khi chúng ta biết ‘đụng đáy vực sâu’ và lòng chúng ta chân thành tin cậy Người... Người chờ đợi chúng ta ở dưới tận cùng, bởi vì qua Chúa Giêsu, Người muốn ‘xuống tận cùng’, nhận lấy vị trí cuối cùng, trở thành người phục vụ mọi người... Thiên Chúa chờ đợi chúng ta ở đó, đặc biệt Người chờ đợi chúng ta trong bí tích Giải tội.”

Bí tích Giải tội là vòng tay Thiên Chúa an ủi

Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu xét mình, bởi vì trong chúng ta có thể có cả người Pharisêu và người thu thuế. Ngài nói: “Chúng ta đừng trốn đằng sau vẻ giả hình bề ngoài, nhưng hãy tin tưởng phó thác cho lòng thương xót của Chúa những mờ mịt, lỗi lầm, đau khổ của chúng ta. Khi đi xưng tội, chúng ta đứng ở cuối, giống như người thu thuế, để nhận ra khoảng cách ngăn cách chúng ta giữa điều Chúa mơ ước cho cuộc đời chúng ta và con người thật của chúng ta hàng ngày... Bí tích Hòa giải phải là: một cuộc gặp gỡ lễ hội, chữa lành con tim và để lại bình an nội tâm; không phải là tòa án của con người để sợ hãi, mà là một vòng tay của Thiên Chúa để an ủi.”

Đức Thánh Cha mời các tín hữu cùng lặp lại lời cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” sau mỗi lời xưng thú tội lỗi.

Nguồn: vaticannews.va/vi

Thứ Tư, 29 tháng 12, 2021

Thánh Giuse, Di dân bị Bách hại và Can đảm: Bài Giáo lý Hàng tuần của Đức Phanxicô

 Bài Giáo lý Hàng tuần của Đức Phanxicô: Thánh Giuse, Di dân bị Bách hại và Can đảm

Vũ Văn An
 

Theo tin Tòa Thánh, Thứ tư ngày 29 tháng 12, 2021, tại Hội trường Yết kiến Thánh Phaolô VI, Đức Giáo Hoàng Phaolô đã tiếp tục loạt bài giáo lý của ngài về Thánh Cả Giuse, hôm nay, ngài nhấn mạnh tới khía cạnh di dân bị bách hại và can đảm của vị thánh. Sau đây là nguyên văn bài giáo lý của ngài dựa vào bản Tiếng Anh do Tòa Thánh cung cấp.



Anh chị em thân mến, chào anh chị em buổi sáng!

Hôm nay, tôi muốn trình bầy với anh chị em Thánh Giuse như một di dân bị bách hại và can đảm. Thánh sử Matthêu mô tả về ngài như thế. Biến cố đặc thù trong cuộc đời của Chúa Giêsu cũng liên quan đến Thánh Giuse và Mẹ Maria, theo truyền thống, được gọi là “cuộc chạy trốn sang Ai Cập” (x. Mt 2:13-23). Gia đình Nadarét đã phải chịu nỗi nhục nhã ấy và trực tiếp trải qua sự bấp bênh, sợ hãi và đau đớn khi phải rời bỏ quê hương. Ngày nay, rất nhiều anh chị em của chúng ta vẫn đang bị buộc phải trải qua cùng những bất công và đau khổ như vậy. Nguyên nhân thì hầu như luôn luôn là sự cao ngạo và bạo lực của kẻ quyền thế. Đây cũng là trường hợp của Chúa Giêsu.

Vua Hêrôđê biết được từ các đạo sĩ về sự ra đời của “Vua dân Do Thái”, và tin này làm ông chấn động. Ông cảm thấy bất an, ông cảm thấy quyền lực của mình đang bị đe dọa. Vì vậy, ông ta tập hợp tất cả những người lãnh đạo của Giêrusalem lại để tìm ra nơi Chúa Giêsu sinh ra, và yêu cầu các đạo sĩ thông báo cho ông ta những chi tiết chính xác, để - ông ta nói một cách giả dối - ông ta cũng sẽ đến và thờ lạy Người. Nhưng khi nhận ra các đạo sĩ đã trở về theo hướng khác, ông ta đã lên một kế hoạch độc ác: giết tất cả những đứa trẻ dưới hai tuổi ở Bêlem, đó là khoảng thời gian, theo tính toán của các Đạo sĩ, trong đó Chúa Giêsu đã sinh ra.

Trong lúc đó, một thiên sứ ra lệnh cho Thánh Giuse: “Hãy trỗi dậy, đem con trẻ và mẹ em chạy sang Ai Cập, và ở đó cho đến khi ta nói cho ông hay; vì Hêrôđê sắp tìm con trẻ để tiêu diệt em” (Mt 2:13). Ngày nay, anh chị em hãy nghĩ đến nhiều người cũng cảm thấy bị thôi thúc ở trong lòng: "Hãy chạy trốn, hãy chạy trốn, bởi vì có nguy hiểm ở đây". Kế hoạch của Hêrôđê gợi ta nhớ đến kế hoạch của Pharaô đã ném tất cả trẻ trai của dân Do Thái xuống sông Nile (x. Xh 1:22). Việc lánh nạn sang Ai Cập gợi nhớ toàn bộ lịch sử của Dân Do Thái bắt đầu với Ápraham, người cũng đã trú ngụ ở đó (xem St 12:10); với Giuse, con Giacóp, bị anh em mình bán (xem St 37:36) trước khi trở thành “người cai trị lãnh thổ” (xem St 41: 37-57); và với Môsê, người đã giải phóng dân tộc mình khỏi ách nô lệ của người Ai Cập (x. Xh 1:18).

Chuyến lánh nạn của Thánh Gia sang Ai Cập đã cứu Chúa Giêsu, nhưng tiếc là nó không ngăn cản được Hêrôđê thực hiện vụ thảm sát của ông ta. Do đó, chúng ta phải đối đầu với hai nhân cách đối lập nhau: một mặt là Vua Hêrôđê với sự hung dữ, mặt khác là Thánh Giuse với sự quan tâm và lòng can đảm. Vua Hêrôđê muốn bảo vệ quyền lực của mình, chính làn da của mình, bằng sự tàn nhẫn không nương tay, như được chứng thực bằng việc hành quyết một trong những người vợ, một số con cái của ông ta và hàng trăm đối thủ. Ông ta là một người tàn nhẫn: để giải quyết vấn đề, ông ta chỉ có một giải pháp: giết. Ông ta là biểu tượng của nhiều bạo chúa trong quá khứ và ngày nay. Và đối với chúng, đối với những bạo chúa này, người dân không đáng kể; quyền lực mới đáng kể, và nếu họ cần có chỗ cho quyền lực, họ sẽ tiêu diệt người dân. Và điều này cũng đang xảy ra hôm nay: chúng ta không cần nhìn vào lịch sử cổ thời, nó đang xảy ra hôm nay. Ông ta là người đã trở thành "sói" cho những người khác. Lịch sử đầy rẫy những nhân vật như thế, những người sống với nhiều nỗi sợ hãi của họ, cố gắng chinh phục chúng bằng cách thực thi quyền lực một cách chuyên quyền và thực hiện các hành động bạo lực vô nhân đạo. Nhưng chúng ta không nên nghĩ rằng chúng ta chỉ sống theo quan điểm của Hêrôđê khi chúng ta trở thành bạo chúa, không; thật vậy, đó là một thái độ mà tất cả chúng ta đều có thể sa vào, mỗi khi chúng ta cố gắng xua tan nỗi sợ hãi bằng sự cao ngạo, dù chỉ bằng lời nói, hoặc tạo ra các hành vi lạm dụng nho nhỏ nhằm hành hạ những người thân cận của chúng ta. Chúng ta cũng có trong lòng khả thể trở thành những Hêrôđê nho nhỏ.

Thánh Giuse đối lập với Hêrôđê: trước hết, ngài là “người công chính” (Mt 1:19), còn Hêrôđê là một người độc tài. Hơn nữa, ngài chứng tỏ ngài can đảm làm theo mệnh lệnh của Thiên thần. Người ta có thể hình dung ra những thăng trầm ngài phải đối diện trong cuộc hành trình lâu dài và nguy hiểm và những khó khăn liên quan đến việc ở lại một đất nước xa lạ, với một ngôn ngữ khác: rất nhiều khó khăn. Lòng can đảm của ngài cũng bộc lộ trong lúc ngài hồi hương, khi được Thiên Thần trấn an, ngài vượt qua nỗi sợ hãi có thể hiểu được của mình và cùng với Đức Maria và Chúa Giêsu định cư ở Nadarét (x. Mt 2:19-23). Hêrôđê và thánh Giuse là hai nhân vật đối lập nhau, phản ảnh hai bộ mặt muôn thuở của nhân loại. Một quan niệm sai lầm phổ biến là coi lòng can đảm là đức tính riêng của người anh hùng. Trong thực tế, cuộc sống hàng ngày của mỗi người đều đòi hỏi lòng can đảm. Cách sống của chúng ta - của anh chị em, của tôi, của mọi người: người ta không thể sống mà không có lòng can đảm, lòng can đảm để đối đầu với các khó khăn hàng ngày. Trong mọi thời đại và mọi nền văn hóa, chúng ta đều thấy những người đàn ông và đàn bà can đảm, những người, để nhất quán với các niềm tin của họ, đã vượt qua mọi khó khăn, và chịu đựng bất công, kết án và thậm chí cả cái chết nữa. Lòng can đảm đồng nghĩa với lòng dũng cảm, một đức tính cùng với sự công bằng, khôn ngoan và tiết độ là một phần của nhóm các nhân đức nhân bản vốn được gọi là “các nhân đức chính”.

Bài học mà Thánh Giuse để lại cho chúng ta hôm nay là: cuộc sống luôn có sẵn cho chúng ta những nghịch cảnh, điều này đúng, khi đứng trước chúng, chúng ta cũng có thể cảm thấy bị đe dọa và sợ hãi. Nhưng không phải bằng cách biểu lộ điều tồi tệ nhất của bản thân, như Hêrôđê, chúng ta có thể vượt qua những khoảnh khắc nhất định, nhưng bằng cách hành động giống như Thánh Giuse, vị thánh đã phản ứng chống nỗi sợ hãi bằng lòng can đảm tin cậy vào sự Quan phòng của Thiên Chúa. Hôm nay tôi nghĩ chúng ta cần một lời cầu nguyện cho tất cả những người di cư; những người di cư và tất cả những người bị bách hại, và tất cả những ai là nạn nhân của những nghịch cảnh bất lợi: chúng có thể là hoàn cảnh chính trị, lịch sử hoặc bản thân. Nhưng, chúng ta hãy nghĩ đến rất nhiều người là nạn nhân của các cuộc chiến tranh, những người muốn chạy trốn khỏi quê hương của họ nhưng không thể chạy trốn; chúng ta hãy nghĩ đến những người di cư đã lên đường để được tự do, rất nhiều người trong số họ đã kết thúc trên đường phố hoặc trên biển cả; Chúng ta hãy nghĩ đến Chúa Giêsu trong vòng tay của Thánh Giuse và Mẹ Maria, đang chạy trốn, và chúng ta hãy nhìn thấy nơi Người từng người trong số những người di cư của ngày hôm nay. Di cư ngày nay là một thực tại mà chúng ta không thể nhắm mắt. Đó là một tai tiếng xã hội của nhân loại.

Lạy Thánh Giuse,
ngài là người đã trải qua sự đau khổ của những người phải chạy trốn
ngài là người đã bị buộc phải chạy trốn
để cứu mạng của những người thân yêu nhất của ngài,
xin bảo vệ tất cả những người đang chạy trốn vì chiến tranh,
hận thù, đói khát.
Xin trợ giúp họ trong các khó khăn của họ,
Xin củng cố họ trong hy vọng, và để họ tìm được sự chào đón và liên đới.
Xin hướng dẫn các bước đi của họ và mở rộng trái tim của những người có thể giúp họ. Amen.
 
Vietcatholic news