Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn TH MV TÌNH YÊU. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TH MV TÌNH YÊU. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 8 tháng 1, 2018

Hơn một năm sau Tông Huấn Niềm Vui Yêu Thương, các giám mục Khzakhstan tuyên xưng chân lý về hôn nhân bí tích

Hơn một năm sau Tông Huấn Niềm Vui Yêu Thương, các giám mục Khzakhstan tuyên xưng chân lý về hôn nhân bí tích

Vũ Văn An

 

Ba vị giám mục của Khazakhstan vừa công bố bản tuyên xưng “các chân lý không thay đổi về hôn nhân bí tích” để trả lời lối giải thích của Đức Phanxicô và một số vị giám mục về Tông Huấn Niềm Vui Yêu Thương nhằm cho phép một số người Công Giáo ly dị tái hôn mà không có án vô hiệu được lãnh nhận các bí tích.

Trong văn kiện dài 6 trang, các vị bản quyền, tất cả đều thuộc Kazakhstan và trong đó, có Đức Cha Athanasius Schneider, Giám Mục Phụ Tá của Astana, nói rằng lối giải thích của Đức Giáo Hoàng và của một số Hội Đồng Giám Mục như Đức và Malta đang gây ra “hỗn loạn lan tràn”, sẽ làm gia tăng “nạn dịch ly dị” và hoàn toàn “xa lạ” đối với toàn bộ đức tin và truyền thống của Giáo Hội.

Trước sự “hỗn loạn ngày một lan tràn này” trong Giáo Hội, các vị giám mục tái khẳng định giáo huấn của Giáo Hội về tính bất khả tiêu của hôn nhân. Các ngài suy luận rằng cho phép một số người ly dị “tái hôn” được rước lễ mà không có án vô hiệu và không sống tiết dục, thì gần như là “một loại du nhập ly dị vào đời sống Giáo Hội”.

Các ngài viết tiếp: Giáo Hội “nên là một thành trì và là một dấu hiệu mâu thuẫn không thể lầm lẫn được chống lại nạn dịch ly dị, một nạn dịch mỗi ngày một lan tràn hơn trong xã hội dân sự”.

Các ngài cũng nhấn mạnh rằng bất cứ “chấp thuận hay hợp pháp hóa nào” đối với việc vi phạm dây hôn phối “cho dù một cách gián tiếp… cũng mâu thuẫn một cách nghiêm trọng đối với thánh ý minh nhiên của Thiên Chúa và Lệnh Truyền của Người” là đừng phạm tội ngoại tình.

Các vị giám mục, trong đó có Đức Tổng Giám Mục Tomash Peta của Astana và Đức Tổng Giám Mục Jan Pawel Lenga của Karaganda, đã nhắc đến dù không nêu tên “các thẩm quyền phẩm trật” cho phép một số “người ly dị và tái hôn” nhận lãnh các bí tích dù họ “thường xuyên và cố ý more uxore (sống như vợ chồng) với người không phải là người phối ngẫu hợp pháp của mình.

Các ngài viết tiếp: “một số các qui luật này đã nhận được sự chấp thuận của cả thẩm quyền tối cao của Giáo Hội”, có ý ám chỉ quyết định mới đây của Đức Phanxicô coi kỷ luật mục vụ này là “huấn quyền chân chính”.

Các vị giám mục còn có lập luận cho rằng một đức tin được tuyên xưng phải đi kèm một thực hành bí tích, và các ngài đã trưng dẫn Thánh Kinh, Công Đồng Vatican II và các giáo huấn của các vị giáo hoàng trước đây, kể cả của Thánh Gioan Phaolô II, các chân phúc Piô IX và Phaolô VI, để tăng cường quan điểm của mình.

Các ngài cũng nhấn mạnh điều này: là các giám mục, các ngài ý thức được “trách nhiệm và bổn phận nặng nề” đối với các tín hữu hằng chờ mong ở các ngài một “việc tuyên xưng công khai và không mơ hồ đối với chân lý và kỷ luật không thay đổi của Giáo Hội liên quan tới tính bất khả tiêu của hôn nhân”.

Các ngài viết thêm “vì lý do này, chúng tôi không được phép giữ im lặng. Nên, trong tinh thần của Thánh Gioan Tẩy Giả, Thánh Fisher, Thánh Thomas More, Chân Phúc Laura Vicuna và của nhiều vì hiển tu và tử đạo hữu danh và vô danh khác, chúng tôi khẳng định tính bất khả tiêu của hôn nhân”.

Bằng chữ viết đậm, các ngài nhấn mạnh rằng “không được phép biện minh, chấp thuận, hay hợp pháp hóa dù trực tiếp hay gián tiếp việc ly dị và mối liên hệ tình dục bền vững không phải là phu thê qua việc dùng kỷ luật bí tích cho phép những người gọi là ‘ly dị và tái hôn’ rước lễ, trong trường hợp này là một thứ kỷ luật xa lạ với toàn bộ Thánh Truyền của đức tin Công Giáo và Tông Truyền”.

Trong phần kết luận, các vị giám mục viết rằng khi thực hiện việc tuyên xưng công khai này, các ngài “thành thực xác tín rằng” các ngài thực hành “một việc phục vụ đức ái trong sự thật” đối với Giáo Hội và Đức Thánh Cha.

Các vị giám mục cho biết các ngài ký bản tuyên xưng này vào ngày 31 tháng Mười Hai, nhằm Ngày Lễ Thánh Gia trong Nghi Lễ Rôma, và trong năm kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra ở Fatima.


Thứ Sáu, 27 tháng 10, 2017

Một cách đọc tích cực đối với tông huấn Niềm Vui Yêu Thương

Một cách đọc tích cực đối với tông huấn Niềm Vui Yêu Thương
Vũ Văn An
23/Oct/2017

Linh mục James F. Keenan, Dòng Tên, cho rằng với Phục Sinh, “mọi sự trở nên mới… Và, nếu ta dám chấp nhận ơn thánh đức tin, ta có thể thấy một năng động tính mới… Năng động tính Phục Sinh, một năng động tính mời gọi ta nhìn sự việc ra mới, mời gọi ta thấy không phải điều được phép mà là điều được kêu gọi, theo tôi, rất hiển hiện trong tông huấn Niềm Vui Yêu Thương”.

Thực vậy, trong tông huấn trên, theo Cha Keenan, có rất nhiều điều mới mẻ không hề làm ta lo lắng. Vì trong Giáo Hội, mới mẻ không bao giờ mâu thuẫn với quá khứ. Phục Sinh luôn liên kết với Bêlem! Sự mới mẻ của Niềm Vui Yêu Thương hết sức khéo léo đem truyền thống vào hiện tại, vì lợi ích tương lai. Truyền thống luôn cần khai triển như nhà thần học vĩ đại Marie Dominique Chenu từng viết; nếu không, nó không thể đem ta tới tương lai.

Theo Cha Keenan, sau đây là 12 điều mới mẻ của Niềm Vui Yêu Thương.

1. Niềm Vui Yêu Thương đánh dấu một khúc rẽ. Theo Cha Keenan, khúc rẽ (Wendpunkt) chính là tên các nhà thần học Đức gọi Niềm Vui Yêu Thương trong một cuốn sách do họ biên tập. Vì theo họ, có nhiều viễn ảnh tươi mát trong tông huấn này: giáo huấn thượng hội đồng, nền thần học tương quan về hôn nhân, lương tâm ra lệnh, đồng hành thừa tác, thương xót mang thương xót, giáo hội tuyên xưng. Còn các nhà thần học Bỉ thì gọi Niềm Vui Yêu Thương là “Điểm Bất Phản Hồi” (Point of No Return).

2. Hoa trái của một giáo hội có tính công đồng. Hai mươi lăm trước đây, Đức Tổng Giám Mục John Quinn cho rằng chúng ta có các công đồng ra quyết định, không khác tinh thần của Công Đồng Giêrusalem trong Công Vụ 15. Tại Công Đồng đó, các thánh Phêrô, Phaolô và Giacôbê, cùng với các vị khác trong ban lãnh đạo Giáo Hội mạnh bạo bàn tới việc làm thế nào để thích ứng với người ngoại giáo về phương diện mục vụ, dưới ánh sáng các thực hành của Giáo Hội lúc đó.

Trong bối cảnh trên, tông huấn Niềm Vui Yêu Thương đã phát sinh từ việc làm của hai Thượng Hội Đồng trong đó các nhà lãnh đạo Giáo Hội cũng vật lộn, lý luận, tranh cãi và đấu tranh về tình trạng hiện thời của hôn nhân Công Giáo và nhu cần phải có các giải đáp mục vụ cho cuộc sống của những người kết hôn.

3. Xin mạn phép tín lý! Đây là một tông huấn mục vụ. Một trong các vị tham dự Thượng Hội Đồng lên tiếng đầu tiên khi tông huấn vừa được công bố là Đức Hồng Y Kasper: “nó không thay đổi bất cứ điều gì của tín lý Gío Hội hay của giáo luật – nhưng nó thay đổi tất cả”.

Đức Hồng Y Kasper hiểu rõ cái nhìn thông suốt của sử gia giáo hội John O’Malley khi nhắc nhở chúng ta rằng Công Đồng Vatican II là một công đồng mục vụ về cả văn phong lẫn nội dung. Ngài cũng nói thêm rằng các đường hướng chính trong triều đại của Đức Giáo Hoàng Phanxicô đều là giáo huấn của Vatican II.

Và theo O’Malley, giáo huấn được coi là mục vụ khi ta cố gắng hiểu đúng tín lý. Giáo huấn mục vụ không bao giờ là người em tồi của tín lý, mà là bạn đồng hành. Nhờ giáo huấn mục vụ, tín lý được giảng dậy cách hữu hiệu. Và theo John Noonan, Jr., chính nhờ giáo huấn mục vụ mà tín lý được khai triển.

4. Nền thần học hôn nhân có tính cụ thể và tương quan sâu sắc. Đức Phanxicô đôi lúc tỏ ra không vui khi người ta chỉ lưu ý tới chương tám của Niềm Vui Yêu Thương mà bỏ qua 7 chương đầu. Phải đọc trọn cả 8 chương, người ta mới nắm được giáo huấn mới của huấn quyền về hôn nhân.

Nhà thần học Đức, Konrad Hilpert, nhận ra mối tương quan năng động giữa hôn nhân và tính dục trong Niềm Vui Yêu Thương như là chìa khóa của sự mới mẻ nói trên. Ông cho rằng tập chú của nền đạo đức học tương quan của nó không phải là hành vi tính dục và các qui luật xác định về nó, mà đúng hơn, là bối cảnh thông đạt trong đó, một con người tiến tới chỗ ý thức tốt hơn về khả năng biết, hiểu, chấp nhận và yêu thương một con người khác.

Ở đây, ở Hoa Kỳ, có thể nói Julie Hanlon Rubio là người viết nhiều và viết có ý nghĩa hơn cả về nền thần học hôn nhân. Bà cho rằng đóng góp hàng đầu của tông huấn là “lời nó kêu gọi các cặp vợ chồng trì chí trong tình yêu phu thê qua thời gian. Nó đề cập tới các câu hỏi quan trọng: ‘Tại sao kết hôn? Tại sao tiếp tục ở lại trong hôn nhân? Và cung cấp các câu trả lời tốt đẹp hơn bất cứ giáo huấn Công Giáo chính thức nào khác về hôn nhân”.

5. Dĩ nhiên, bạn cần một sách vỡ lòng mới mong đọc được nó. Các sách vỡ lòng thuộc loại này không cần thiết vì lẽ tông huấn phức tạp, mà đúng hơn vì lẽ nó có tính nền tảng và rộng dài. Nền thần học này cần được lên xương thịt cho các giáo hội địa phương. Việc này cũng đã phát sinh ra cả một thị trường các sách vỡ lòng này. Người Pháp đã phát hành một cuốn, được coi như “một cuộc hành trình cùng đi với nhau”.

Học Viện Dòng Tên ở Nam Phi đã cung cấp một cuốn tương tự như thế. Các sách vỡ lòng bằng tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Đức đã được phổ biến khắp nơi trên liên mạng. Ở Hoa Kỳ, tạp chí National Catholic Reporter cũng đã cung cấp một cuốn của họ, rồi Julie Hanlon Rubio phát hành một cuốn chỉ dẫn đào tạo đức tin về nó qua nhà Liturgical Press và nay Tom Rausch cùng Roberto Dell’Oro đang chủ biên một tuyển tập cho nhà Paulist Press.

6. Nền thần học luân lý có một trách vụ mới: đồng hành với những người khác trong việc đào tạo lương tâm họ. Connor Kelly viết rằng với tông huấn này, Đức Phanxicô thay đổi trọn bộ trách vụ của thần học luân lý: Từ nay, không những lương tâm thừa nhận sự thật luân lý như đã được giảng dậy, mà nó còn biện phân và xác định rõ đường đi của nó cho tương lai. Mọi người Công Giáo phải để lương tâm mình trở thành hướng dẫn viên của mình.

Kelly bảo ta phải chú ý tới đoạn 303. “Thế nhưng, lương tâm không những có thể thừa nhận rằng một hoàn cảnh nhất định nào đó không tương ứng một cách khách quan với các đòi hỏi tổng quát của Tin Mừng.

"Nó còn có thể thành thực và trung thực nhìn nhận rằng đối với hiện nay, đây là đáp ứng quảng đại nhất có thể có đối với Thiên Chúa, và tiến tới chỗ nhìn thấy một cách khá chắc chắn rằng về phương diện luân lý thì đây là điều chính Thiên Chúa đòi hỏi giữa tính phức tạp cụ thể trong các giới hạn của họ, dù nó chưa trọn vẹn là lý tưởng khách quan.

"Dù sao, ta hãy nhớ rằng việc biện phân này có tính năng động; nó phải mãi mãi cởi mở đối với các giai đoạn tăng trưởng mới và các quyết định mới có khả năng giúp cho lý tưởng này được thể hiện cách trọn vẹn hơn”.

Việc Đức Giáo Hoàng nói đến khả năng biện phân của lương tâm hoàn toàn ăn ý với nền thần học của Công Đồng, nhất là trong Gaudium et spes. Kelly viết: “Khi nghiêm chỉnh nhận lấy ý tưởng này của Công Đồng, Niềm Vui Yêu Thương đã thăng tiến một cách có ý nghĩa cái hiểu của huấn quyền về lương tâm, nói lên một bước nữa trong diễn trình liên tục khai triển và phục hoạt truyền thống vốn sinh động trong Giáo Hội từ thời Vatican II”.

Điều trên có nghĩa lương tâm Công Giáo nay tự do được quyền làm ngơ giáo huấn của Giáo Hội hay không? Không. Nhưng ta nên hỏi giáo huấn của Giáo Hội trực tiếp ra lệnh đến mức nào cho các quyết định bình thường của lương tâm Công Giáo.

Giáo Hội hướng dẫn ta trong một số vấn đề thuộc việc làm cha mẹ và đời sống phu thê, nhưng việc sống ơn gọi đó trên căn bản hàng ngày tùy thuộc sự biện phân tích cực của lương tâm để biết được điều gì tốt nhất cho con cái, cho hôn nhân và cho gia đình. Ở nơi làm việc cũng thế, vấn đề giải trình trách nhiệm (accountability), sự hợp tình hợp lý, sự trong sáng, và tính cẩn mật tư riêng thúc đẩy ta thường xuyên phải sử dụng lương tâm.

Các quyết định đa dạng phải đưa ra hàng tuần trên đây không được thực hiện bằng các tham chiếu một thủ bản có tính huấn quyền nào đó, mà đúng hơn bằng cách thường xuyên tra vấn lương tâm mình.

7. Thói quen nại tới lương tâm mình chính là việc biện phân luân lý. Đức Phanxicô đã nắm được ý tưởng tuân theo lương tâm khi nói tới biện phân. Việc nhấn mạnh tới biện phân này thường được các độc giả của thông điệp nhận ra; như các biên tập viên của tạp chí Commonweal từng ghi nhận, đây là việc “thừa nhận tính phức tạp của con người và sự ủng hộ tính phụ đới”.

Các nhà thần học luân lý coi việc huấn quyền cổ vũ việc biện phân này như lời mời gọi chúng ta thăm dò cách làm thế nào, người Công Giáo chúng ta, bằng lương tâm, biện phân được điều Chúa Kitô hằng yêu cầu chúng ta bất luận ở thời nào. Chính đây là điều nhiều người gọi là lời tông huấn mời gọi ta đừng sa vào chủ nghĩa duy tối thiểu mà là duy tối đa.

8. Đồng hành là kiểu mẫu của thừa tác vụ Niềm Vui Yêu Thương. Tiếng nói, phong thái, và các tầm nhìn thấu suốt của Đức Phanxicô có tính mục vụ tuyệt diệu và hiện diện cùng khắp tông huấn. Chúng hiện diện cùng khắp đến nỗi khi đọc tông huấn, ta có cảm giác kỳ lạ là Đức Phanxicô đang nói với chính ta; ngài thực sự theo bước chân ta từ phòng này qua phòng nọ trong nhà ta cho tới khi ngồi xuống dưới bếp và ta cảm thấy ngài đang nói với ta về việc cho và nhận trong các mối tương quan. Nhưng, đồng thời, ngài cũng lắng tai nghe, chờ câu trả lời và bình luận của ta. Ngài đồng hành với ta khi ta đối phó với cuộc hôn nhân, với các mối liên hệ của chính ta.

Có thể nói đồng hành là hiệu lệnh được Đức Phanxicô gửi tới các giám mục, giáo sĩ, tu sĩ và các thừa tác viên giáo dân của ngài. Chúng ta được mời gọi đồng hành với người khác trong lúc họ đào tạo lương tâm họ và đưa ra các quyết định hàng ngày trong cuộc hôn nhân, trong gia đình và trong cộng đồng của họ.

9. Việc đồng hành nối kết chứ không dẹp bỏ lương tâm Công Giáo. Ở phần đầu tông huấn, Đức Phanxicô viết rằng “Chúng ta được mời gọi đào tạo các lương tâm chứ không thay thế chúng” (Niềm Vui Yêu Thương 37). Qủa là câu nói thời danh. Nó được trích dẫn rất nhiều lần như một nhận định tự phê đối với thừa tác vụ giáo huấn và giảng dậy của Giáo Hội.

Câu nói trên xuất hiện lúc Đức Phanxicô đề cập tới việc ta thường không cởi mở đối với hành động của ơn thánh. Ngài bảo: “ta cũng thấy khó dành chỗ cho lương tâm của tín hữu, những người rất hay hết lòng đáp ứng Tin Mừng giữa nhiều hạn chế của họ, và có khả năng thực hiện việc biện phân của họ trong các tình huống phức tạp”. Đây là một văn kiện của huấn quyền biết dành chỗ cho lương tâm Cng Giáo.

10. Thừa tác vụ đồng hành này không khác chi các giáo huấn mục vụ của Đức Gioan Phaolô II. Ta có thể nhận ra khá nhiều lời giảng dậy trong đó Đức Gioan Phaolô II cung cấp cho các cặp vợ chồng các giải pháp mục vụ về đồng hành. Hai lời chỉ giáo đó tìm thấy trong tông huấn Familiaris Consortio (1981). Lời thứ nhất, ở số 34, nói tới diễn trình hợp pháp qua đó, một cặp vợ chồng dù nhìn nhận thẩm quyền của Humanae Vitae, nhưng vì không thể tuân theo giáo huấn của nó, nên đã đi tìm lời khuyên bảo mục vụ và trong một số trường hợp, nhờ luật tiệm tiến, mà được rước lễ dù họ vẫn thực hành việc kiểm soát sinh đẻ.

Lời chỉ giáo thứ hai về đồng hành tìm thấy ở số 84. Điều đáng lưu ý là trong cuộc họp báo công bố Niềm Vui Yêu Thương, Đức Hồng Y người Áo, Christoph Schönborn, được hỏi làm cách nào giảng hòa việc Đức Phanxicô mở ra vấn đề xưng tội và rước lễ của người ly dị tái hôn với việc Đức Gioan Phaolô II bác bỏ việc cho phép những người này rước lễ chỉ trừ sau khi xưng tội, họ đồng ý sống “tiết dục hoàn toàn” (84).

Đức Hồng Y trả lời rằng: Với tông huấn Familiaris, Đức Gioan Phaolô II cho phép các người Công Giáo ly dị tái hôn nhưng sống “tiết dục hoàn toàn” được rước lễ. Trước Đức Gioan Phaolô II, không có vị giáo hoàng nào nói tới khả thể này cả. Bởi thế, giống như Đức Gioan Phaolô II, há Đức Phanxicô không được phép nêu lên các vấn đề khác hay sao?

Đức Hồng Y nói tiếp “ở đây, có sự liên tục trong giáo huấn, nhưng cũng có điều mới mẻ thực sự. Có sự phát triển thực chất về tín lý, chứ không phải gián đoạn”.

Rocco Buttiglione trên tờ Osservatore Romano của Tòa Thánh nói thêm vào chỗ Đức Hồng Y Schönborn còn bỏ ngỏ. Ông đặt câu hỏi: “Có chăng bất cứ sự mâu thuẫn nào giữa các vị giáo hoàng ra vạ tuyệt thông cho các người ly dị tái hôn và Thánh Gioan Phaolô II, người đã cởi bỏ vạ tuyệt thông đó?” Làm sao Đức Phanxicô lại có thể khác với Đức Gioan Phaolô II? Cả hai vị đều đọc các dấu chỉ thời đại và hướng dẫn Giáo Hội qua sự phát triển của Giáo Hội.

11. Sự phát triển này đồng hành cả với lương tâm của các người Công Giáo ly dị tái hôn. Người ta đã viết nhiều về vấn đề của Đức Phanxicô và việc liệu ngài có cho phép hay không các người này được lãnh nhận các bí tích hòa giải và rước lễ trong một số trường hợp họ thực sự mong muốn trong lương tâm.

Ở Ghi Chú số 351, qua một cách nói, ngài gợi ý rằng đây là một vấn đề sẽ do các giáo hội địa phương quyết định. Dù một số người có thể ngạc nhiên và nhiều người khác lý luận rằng các giáo hội địa phương không thể quyết định các vấn đề như thế này, thì ta vẫn nên nhớ một trong các thành tựu của Vatican II là phục hồi vai trò không thể thiếu của các giáo hội địa phương bên trong Giáo Hội hoàn vũ.

Đức Phanxicô tìm hết cách để thực thi các quyết định của Công Đồng và, như đã thấy trên đây về tính công đồng và về lương tâm, tinh thần của Công Đồng đã trở thành linh hồn của phần lớn giáo huấn của chính ngài.

Lisa Sowle Cahill nhận định rất đúng rằng “điều Đức Phanxicô đã làm thực sự là ban phép và dành không gian cho các giám địa phương được thử nghiệm các canh tân linh động, đầy thương xót và có tính mục vụ nhiều hơn, nhưng ngài không ra lệnh điều này”. Tuy nhiên, ngài theo dõi và chờ đợi.

Một ít sáng kiến đáng được nhắc đến ở đây. Các giám mục ở Buenos Aires đã viết một lá thư cho các linh mục của họ liên quan đến việc phải giải thích chương tám ra sao. Sau khi thừa nhận việc tông huấn Familiaris Consortio cho phép các cặp ly dị tái hôn sống tiết dục được rước lễ, các giám mục viết thêm rằng nếu giải pháp này không khả thi, thì “vẫn có thể còn có con đường biện phân”.

“Trong một trường hợp cụ thể, khi thừa nhận có sự hiện hữu của những giới hạn có thể làm giảm mức độ trách nhiệm và qui lỗi, nhất là khi một ngời tin rằng họ sẽ phạm một sai lầm khác có thể gây hại tới con cái do cuộc kết hợp mới sinh ra, thì Niềm Vui Yêu Thương dẫn khởi khả thể được lãnh nhận các bí tích hòa giải và Thánh Thể”.

Các ngài còn viết thêm rằng trong một số trường hợp, sự kín đáo riêng tư (confidentiality) sẽ là điều khôn ngoan khi cộng đồng địa phương tiến bước trong một “tinh thần hiểu biết và cởi mở”. Đức Phanxicô khen ngợi lá thư này, coi nó “rất tốt và hoàn toàn nắm được ý nghĩa chương tám của Niềm Vui Yêu Thương. Không có lối giải thích khác. Tôi chắc chắn nó sẽ mang lại nhiều ơn ích”.

Trường hợp thứ hai là Đức Tổng Giám Mục Dominique Lebrun của Rouen, Pháp. Ngài đã giới thiệu với tổng giáo phận 7 vị linh mục làm “thừa sai của Lòng Thương Xót” có nhiệm vụ “đặc biệt” chào đón các người ly dị hiện đang sống trong một mối liên hệ mới, với mục tiêu giúp họ “xét lương tâm hoàn toàn theo ý họ dưới ánh sáng Lời Thiên Chúa”.

Dĩ nhiên, có những giáo hội còn đi trước cả Niềm Vui Yêu Thương. Ít ngày sau khi công bố Niềm Vui Yêu Thương, Đức Hồng Y Schönborn tiết lộ rằng ngài “không ít tự hào” khi thấy tông huấn “hoàn toàn tiếp nhận” thực hành mục vụ liên quan tới các người ly dị tái hôn vốn đã được diễn ra tại giáo phận ngài 15 năm qua.

12. Phục hồi lòng thương xót. Đây là một điểm son của Niềm Vui Yêu Thương. Ở số 311, Đức Phanxicô viết rằng “Đôi lúc, ta thấy khó có thể dành chỗ cho lòng yêu thương vô điều kiện của Thiên Chúa trong sinh hoạt mục vụ của ta. Ta đặt quá nhiều điều kiện lên lòng thương xót đến nỗi ta làm rỗng hết ý nghĩa cụ thể và tầm quan trọng thực sự của nó. Đây là cách tệ hại nhất để làm loãng Tin Mừng. Chẳng hạn, đúng là lòng thương xót không loại trừ công lý và chân lý, nhưng trước hết và trên hết, ta phải nói rằng lòng thương xót chính là sự viên mãn của công lý và là biểu hiện ngời sáng nhất của chân lý Thiên Chúa. Vì lý do này, ta nên luôn coi là ‘thiếu thỏa đáng bất cứ quan niệm thần học nào, cuối cùng, nghi vấn cả sự toàn năng của Thiên Chúa và, nhất là, lòng thương xót của Người’”.

Thứ Tư, 23 tháng 8, 2017

Một năm sau Niềm Vui Yêu Thương

Một năm sau Niềm Vui Yêu Thương
Vũ Văn An8/22/2017


Tông huấn hậu thượng hội đồng giám mục thế giới về tình yêu gia đình, Niềm Vui Yêu Thương, đã được công bố ngày 8 tháng Tư năm 2016, hơn một năm nay. Diễn trình hoàn thành tông huấn được kể là dài nhất trong mấy thập niên qua. Dù đụng đến một đề tài phức tạp và đề tài này từng gây sóng gió trong suốt diễn trình hai thượng hội đồng liên tiếp, người ta vẫn hy vọng với tông huấn của Đức Phanxicô, bầu khí thanh thản sẽ được lập lại.

Nhưng thực tế đã không xẩy ra như thế. Chỉ mấy tháng sau ngày công bố, các nghi ngại đối với tông huấn đã được nói lên thật rõ và thật to bởi rất nhiều nhà thần học và giáo phẩm, mà nổi nhất là bởi bốn vị Hồng Y, tuy không nắm giữ chức vụ gì quan trọng hiện thời, nhưng có một quá khứ không đến nỗi mờ nhạt cho lắm. Người ta gọi các ngài là 4 Hồng Y nghi ngại.

Cho đến nay, nỗi nghi ngại của các ngài vẫn còn đó và dường như nó vẫn được một số giới trong Giáo Hội nghiền ngẫm suy tưởng. Và do đó, một làn mây không chắc chắn đang phủ lên bầu trời tín lý của Giáo Hội.



Tại sao chưa để cuộc tranh luận lắng dịu?

Ngày 11 tháng Tư năm 2017, Linh Mục Raymond J. de Sousa đặt câu hỏi: Tại sao ta chưa thể để cuộc tranh luận “Niềm Vui Yêu Thương” lắng dịu?

Và linh mục de Sousa trả lời: chưa, “nếu bạn tin rằng giáo huấn của Giáo Hội về hôn nhân đang lâm nguy, lòng trung thành của Giáo Hội đối với giáo huấn Tin Mừng của Chúa Giêsu, và khả năng của Giáo Hội trong việc cung cấp một giải pháp tin mừng thay thế cho cuộc cách mạng tình dục, một cuộc cách mạng mà chất axít của nó đã hủy hoại rất nhiều niềm vui yêu thương được Đức Giáo Hoàng Phanxicô đề xuất”.

Nhân dịp này, linh mục de Sousa bác bỏ lập trường của Đức Hồng Y Wuerl, tổng giám mục Washington D.C., Hoa Kỳ. Vị giáo phẩm này đề nghị phương pháp giải thích tông huấn thích đáng nhất là coi không có gì trong tông huấn này thay đổi tín lý của Giáo Hội cả: tính bất khả tiêu của hôn nhân còn nguyên vẹn, các chỉ thị của Bộ Giáo Luật còn nguyên vẹn và cả vai trò của lương tâm cá nhân trong việc xác định trách nhiệm tội lỗi vẫn còn nguyên vẹn.

Về điểm sau cùng, Đức Hồng Y Wuerl viết rằng “Tông huấn không tạo nên một thứ diễn trình tòa trong để vô hiệu hóa hôn nhân hay để thay đổi trật tự luân lý khách quan. Thay vào đó, tông huấn nhấn mạnh nhiều hơn tới vai trò của lương tâm cá nhân trong việc thích ứng hóa các chuẩn mực luân lý này vào các hoàn cảnh thực tại của bản thân”.

Linh mục de Sousa cho rằng Đức Hồng Y Wuerl co thể đúng khi cho rằng không có gì thay đổi về tín lý, vì ngài đọc nó như một giáo lý viên bậc thầy. Nhưng nhiều vị giáo phẩm khác không đọc nó như vậy. Các giám mục Malta, chẳng hạn, hay một số giám mục Đức. Họ rõ ràng đọc nó như một thay đổi về tín lý.

Tuy nhiên, điều Đức Hồng Y Wuerl hay các giám mục Malta nghĩ không quan trọng. Điều linh mục de Sousa mong ước là chính đức Phanxicô lên tiếng nói rằng Đức Hồng Y Wuerl đúng, và các giám mục Malta sai.

Quả thực, theo linh mục de Sousa, hiện có hai lối giải thích Niềm Vui Yêu Thương nhất là những điều liên quan tới giáo huấn về tình trạng các cặp sống trong một cuộc kết hợp tính dục ở bên ngoài cuộc hôn nhân hợp pháp.

Trường hợp thứ nhất là một người thừa nhận cuộc kết hợp của mình trái với giáo huấn Tin Mừng, và mong muốn một là ly thân hay, ít nhất, hạn chế các liên hệ tính dục, nhưng không thể làm được. Lý do thường được nêu ra là các hậu quả do người kia đe dọa.

Đức Hồng Y Francesco Coccopalmerio, đứng đầu cơ quan giải thích các bản văn giáo luật, đưa ra trường hợp một người đàn bà muốn thế, nhưng người chồng theo dân luật sẽ tự sát nếu họ ngưng giao hợp tính dục.

Theo linh mục de Soua, thoạt nghe, trường hợp này có vẻ đầy cảm kích, nhưng thực ra, nó vẫn nằm trong truyền thống Công Giáo: người ta sẽ không có tội nếu làm một điều xấu nặng nhưng không hiểu biết về nó hoặc thiếu tự do khi làm nó.

Trường hợp thứ hai là hoàn cảnh của một cặp không lấy nhau hợp pháp, một là ly dị và tái hôn, hai là sống chung chưa bao giờ lấy nhau; cặp này hoàn toàn biết rõ mối liên hệ của họ trái ngược với Tin Mừng, nhưng quyết định tiếp diễn các liên hệ tính dục, coi nó như một diễn trình tốt hơn, xét vì nếu ly thân hay tiết dục sẽ dẫn tới các tội mới.

“Những tội mới” này là gì thì không được chỉ rõ nhưng không phải là các khó khăn cố hữu của việc tuân theo luật lệ luân lý trong một thế giới sa ngã.

Lối giải thích này quả có đi trệch ra ngoài giáo huấn về hôn nhân của Thánh Kinh. Theo cha de Sousa, đây là lãnh vực mà hình như đoạn 301 của Niềm Vui Yêu Thương đề cập tới khi nó dậy rằng “một chủ thể có thể biết trọn vẹn lề luật, thế nhưng… ở trong một hoàn cảnh cụ thể không cho phép họ hành động và quyết định khác được mà không phạm thêm tội”.

Xem ra điều muốn nói ở đây là trong một số hoàn cảnh, sẽ tốt hơn nếu chọn sống các liên hệ tính dục ngoài hôn nhân một cách có hiểu biết và ưng thuận hoàn toàn. Đây quả là một điều mới lạ đối với giáo huấn của Giáo Hội vì đã dạy rằng có những hoàn cảnh trong đó về phương diện luân lý, người ta được phép thi hành các liên hệ tính dục ngoài hôn nhân hợp pháp.

Nếu thế, thì nó đã mâu thuẫn với giáo huấn rõ ràng của Thánh Kinh về hôn nhân và các liên hệ tính dục. Niềm Vui Yêu Thương có dạy thế không?

Linh mục de Sousa cho rằng chỉ có Đức Phanxicô mới làm người ta an lòng chứ không phải lời khẳng định của Đức Hồng Y Wuerl rằng Niềm Vui Yêu Thương không thay đổi giáo huấn của Giáo Hội về hôn nhân.

Một sự im lăng từng bị kết án

Sự im lặng của Đức Phanxicô đã gợi hứng cho linh mục Regis Scanlon, Dòng Capuchin Phanxicô, viết bài “Lịch sử nói với ta điều gì về Niềm Vui Yêu Thương”. Trong bài này, linh mục thuật lại câu truyện đã xẩy ra cách nay 1,500 năm dưới triều giáo hoàng của Đức Honorius I (625-638).

Đức Honorius bị áp lực phải phản ứng đối với lạc giáo Nhất Chí (monothelitism) được lòng người lúc đó; lạc giáo này cho rằng Chúa Giêsu Kitô, về phương diện bản tính, chỉ có một ý chí. Nhưng Giáo Hội vốn dạy rằng về phương diện bản tính, Người có hai ý chí không thể tách biệt nhau nhưng khác biệt nhau hay hai hoạt động khác biệt nhau. Đồng thời, Giáo Hội cũng dạy rằng về phương diện luân lý, Người chỉ có một ý chí và một hành động mà thôi. Nói cách khác, không có sự đối chọi nào giữa hai ý chí và hai hoạt động nơi Chúa Kitô.



Mặc dù Đức Honorius tin giáo huấn chân thực của Giáo Hội, nhưng ngài muốn tránh rắc rối trong Giáo Hội và tránh xúc phạm những người Nhất Chí, mà một trong số họ chính là Hoàng Đế Heraclius. Giống ngày nay, các giám mục muốn được minh xác, nhưng Đức Honorius khuyên nên giữ im lặng. Ngài khuyên giám mục Sergius như sau:

"Các trước tác thánh đã minh chứng rõ ràng rằng Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Chúa Con và Lời của Thiên Chúa, nhờ Người mà muôn vật được tạo thành, là một, khi thực hiện các việc thuộc Thiên Chúa và thuộc người ta. Tuy nhiên, về vấn đề các việc làm của Nhân Tính và Thần Tính, liệu một hoặc hai hoạt động cần phải được công bố và hiểu biết, thì những việc này không thuộc chúng ta; chúng ta hãy để chúng cho các nhà văn phạm học; những người này quen thuộc với việc trình bầy với giới trẻ nguồn gốc có giá trị nhất của các chữ dùng… Ta khuyên hiền huynh hãy giảng dậy với ta rằng có một Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống, Thiên Chúa chân thật nhất trong hai bản tính, hoạt động theo thần tính và theo nhân tính, vì ta vốn nhất trí với hiền huynh trong đức tin chính thống và sự hợp nhất Công Giáo, nhưng tránh không dùng các chữ đã được du nhập, tức một hay hai hoạt động”.

Ta nên lưu ý lời của Đức Honorius: “…những việc này không thuộc chúng ta; chúng ta hãy để chúng cho các nhà văn phạm học…” Ngài nghĩ rằng chân lý đã rõ ràng đủ và Giáo Hội không cần phải minh xác thêm nữa bằng các hạn từ như hai hoạt động và hai bản tính.

Tuy nhiên, khoảng 40 năm sau ngày Đức Honorius qua đời, Công Đồng Chung Thứ Sáu của Giáo Hội đã kết án sự kiện ngài giữ im lặng. Đức Giáo Hoàng Lêô II, kế nhiệm Đức Giáo Hoàng Agatho, chấp nhận việc kết án này. Trong lá thư xác nhận gửi cho Hoàng Đế Constantine Pogonatus, ngài viết:

"Ta cũng kết án tuyệt thông những người sáng chế ra sai lạc mới, tức Theodore, giám mục Pharan, Cyrus thành Alexandria, Sergius, Pyrrhus, Paul, và Peter, là những kẻ gài bẫy chứ không hướng dẫn, thuộc Giáo Hội Constantinople; và cả Honorius, người đã không soi sáng Giáo Hội Tông Truyền này bằng tín lý của truyền thống Tông Đồ, nhưng để cho nó, vốn không tì vết, bị tì vết bởi sự phản bội phàm trần”.

Và trong thư gửi các giám mục Tây Ban Nha, Đức Giáo Hoàng Lêô II cũng quả quyết rằng:

“Tuy nhiên, những ai dám chủ trương chống lại tính tinh ròng của tín lý Tông Truyền, đi trệch ra khỏi nó, thì quả thực đã bị kết án đời đời; họ là Theodore thành Pharan, Cyrus thành Alexandria, Sergius, Pyrrhus, Paul, và Peter, đều là người Constantinople; với Honorius người đã không dập tắt ngọn lửa chớm nở của tín điều lạc giáo, vốn là việc thích đáng của thẩm quyền Tông Truyền, nhưng vì sao lãng, đã nuôi dưỡng nó”.

Do đó, quyết định của Đức Honorius đã bị lên án không phải vì tích cực rao giảng sự sai lầm hay lạc giáo, mà chỉ vì đã “sao lãng” việc giảng dậy sự thật!

Cha Scanlon kết luận: “Trường hợp cổ xưa trên giúp ta liên hệ với Niềm Vui Yêu Thương. Dù sao, Đức Giáo Hoàng Phanxicô cũng đang giữ im lặng, rõ ràng để các giám mục tự ý đoán ra ý nghĩa của văn kiện mà không được ngài giúp đỡ mặc dù có những lời kêu gọi được soi sáng để tránh mù mờ xao xuyến. Trong khi sự im lặng của Đức Honorius ảnh hưởng tới tín lý đức tin (học lý), hành động của Đức Giáo Hoàng Phanxicô còn nghiêm trọng hơn nữa vì sự im lặng của ngài liên quan tới các hành vi luân lý (thực hành) là điều trực tiếp và nhanh chóng ảnh hưởng tới người ta hơn.

Linh mục Scanlon tự hỏi: tại sao Đức Phanxicô giữ im lặng? Và ngài tự động trả lời: cho đến nay, chúng ta không biết tại sao. Theo ngài, chúng ta có thể nêu ý kiến, khẩn khoản yêu cầu, và ta thán một vị giáo hoàng về các hành động hay không hành động của ngài, như Thánh Nữ Catarina thành Sienna vốn làm, nhưng ta không thể chính thức xử án ngài. Chỉ có vị giáo hoàng mới xử án một vị giáo hoàng mà thôi. Đức Giáo Hoàng Phanxicô và Niềm Vui Yêu Thương chắc chắn sẽ được một vị giáo hoàng sau này phán kết. Liệu ngài có được xử sự tốt hơn Đức Honorius hay không, không ai biết. Chỉ có Thiên Chúa mới biết. Chúng ta không biết hết mọi sự. Có những lý do mà chúng ta không biết tại sao Đức Giáo Hoàng Phanxicô từ khước không giải quyết cuộc tranh chấp. Và bất chấp mọi điều đã được nói ra và thực hành, rất có thể ngài sẽ được các vị giáo hoàng sau này xử sự tốt hơn Đức Honorius.


Còn 1 kỳ: Sửa Sai Công Khai

Thứ Năm, 8 tháng 6, 2017

Phải chăng các vị giám mục được quyền ra chỉ thị về việc rước lễ của người ly dị tái hôn phần đời?

Phải chăng các vị giám mục được quyền ra chỉ thị về việc rước lễ của người ly dị tái hôn phần đời?

Dù có ý hay không, nhưng khi nói rằng việc thi hành Tông huấn “Niềm Vui Yêu Thương” (Amoris Laetitia) tùy thuộc hướng dẫn của các giám mục địa phương, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tản quyền việc giải quyết cuộc tranh luận về việc rước lễ của những người Công Giáo ly dị và tái hôn phần đời.
Thực vậy, về cuối Tông Huấn “Niềm Vui Yêu Thương”, Đức Phanxicô viết rằng khi các linh mục phải đưa ra phán đoán trong các trường hợp cụ thể như chăm sóc mục vụ cho người Công Giáo ly dị và tái hôn phần đời, các ngài sẽ làm việc này “phù hợp với giáo huấn của Giáo Hội và các hướng dẫn của vị giám mục”.
 
Người ta thắc mắc không biết lúc ấy, ngài có biết lời khuyên trên sẽ gây nên không biết bao nhiêu giải pháp trái ngược nhau hay không.
 
Vì từ ngày công bố nó hồi tháng Tư vừa qua, nhiều vị giám mục và nhiều nhóm giám mục khắp nơi trên thế giới đã ban hành các chỉ dẫn để thi hành tông huấn trên, và nếu quan sát quang cảnh, thì ai cũng thấy rõ: các chỉ dẫn này không giống nhau.
 
Một số chỉ dẫn cho rằng dù các người Công Giáo ly dị và tái hôn phần đời vẫn là thành viên trong Giáo Hội và do đó nên được tiếp nhận vào đời sống Giáo Hội, nhưng truyền thống ngăn cấm họ rước lễ vẫn được duy trì nguyên vẹn.
 
Một số chỉ dẫn khác dù rất thận trọng vẫn cho rằng “Niềm Vui Yêu Thương” quả có tạo ra khả thể để những người này, trong một số trường hợp, được rước lễ sau một diễn trình biện phân.
 
Trước các chủ trương khác nhau như trên, một số người phản đối, cho rằng dù các vị giám mục được quyền quyết định phải thi hành một quyết định của Đức Giáo Hoàng ra sao, nhưng các ngài không có quyền giải thích ngược với nó. Một số khác lý luận rằng cho tới khi và ngoại trừ Đức Giáo Hoàng thay đổi luật Giáo Hội, các vị giám mục có quyền áp dụng các qui định hiện nay được các ngài coi là thích đáng.
 
Bất kể người ta nhận định ra sao về cuộc tranh luận, kết luận sau đây vẫn không thể nào tránh được: dù có ý định hay không, điều Đức Phanxicô thực sự đã làm là chấp nhận tản quyền một trong các vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất trong đời sống Giáo Hội hiện nay.
 
Trừ khi được minh xác thêm hay được sắc lệnh mới của Rôma, điều hiện đang diễn ra là các giám mục cá thể hay các nhóm giám mục miền đang xác định nên trả lời có hay không trong lãnh thổ thuộc quyền tài phán của các ngài.
 
Hồi tháng Bẩy, Đức Tổng Giám Mục Charles Chaput ban hành các chỉ dẫn để thi hành “Niềm Vui Yêu Thương” tại Philadelphia. Các chỉ dẫn này định rằng các người Công Giáo ly dị và tái hôn phần đời, nếu muốn rước lễ, phải sống như anh trai em gái nghĩa là tự chế việc thân mật tính dục.
 
Gần đây, Đức Cha Thomas J. Olmsted của Phoenix đã viết một bài trên tờ báo của giáo phận, đại khái nói rằng không có điều nào trong “Niềm Vui Yêu Thương” mở đường cho việc rước lễ của người ly dị tái hôn phần đời.
 
Đầu tháng này, các vị giám mục của Alberta và Các Lãnh Thổ Phía Bắc Canada cũng đã ra các chỉ thị khắt khe đối với việc rước lễ của người ly dị tái hôn phần đời, khi nhấn mạnh rằng đây không phải chỉ là việc đơn giản nói chuyện qua loa với một vị linh mục, mà là việc phải hàn gắn vết thương trầm trọng do việc gẫy đổ của hôn nhân tạo ra, mới có thể được rước lễ.
 
Ấy thế nhưng, cũng đầu tháng này, các giám mục của miền Buenos Aires của chính Đức Phanxicô đã ra một dự thảo, cho hay: trong một số trường hợp, “Niềm Vui Yêu Thương” có cung cấp cho người ly dị tái hôn phần đời khả thể được lui tới các bí tích Hòa Giải và Thánh Thể. Đức Phanxicô đã mau mắn viết thư trả lời ca ngợi các ngài rằng các ngài đã giải thích đúng tông huấn của ngài.
 
Đầu tháng Bẩy, Đức Hồng Y Ennio Antonelli, người Ý, cựu chủ tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình, nói rằng Đức Phanxicô “thậm chí đang mở đường cho việc được lãnh nhận bí tích Hòa Giải và Thánh Thể”. Còn Đức Hồng Y Christoph Schönborn của Vienna, Áo, một người thân cận của Đức Giáo Hoàng, thì nhiều lần nói rằng "Niềm Vui Yêu Thương" quả có tạo khả thể để những người ly dị tái hôn phần đời được lãnh nhận các bí tích, trong một số trường hợp.
 
Như thế có nghĩa ra sao? Phải chăng các qui định hiện nay khác nhau giữa những nơi như Buenos Aires, Vienna và những nơi như Phoenix, Philadelphia và Alberta?
 
Các nhà chuyên môn có thể tranh luận bất tận về điều thực sự là hay nên là, nhưng điều xem ra rõ ràng là việc thực hành sẽ thay đổi từ nơi này tới nơi nọ, tùy theo thiên hướng của vị giám mục hay các giám mục cầm quyền.
 
Vì thế, song song với cuộc tranh luận hăng say về nội dung của "Niềm Vui Yêu Thương", chúng ta đang bước vào một cuộc tranh luận mới về tác động của nó, tập chú vào vấn đề liệu việc để cho địa phương quyết định một điều như thế này có phải là một động thái khôn ngoan hay không.
 
Nhiều người cho rằng vì cuộc tranh luận về Rước Lễ đụng đến các chủ đề hết sức trọng yếu như thần học Công Giáo về hôn nhân và cái hiểu của Giáo Hội về Phép Thánh Thể, nên nếu cho phép địa phương có những giải đáp khác nhau liều mình ta sẽ phá hoại tính hợp nhất của đức tin.
 
Khi nhà báo John Allen hỏi Đức Hồng Y Francis Arinze của Nigeria, nay đã về hưu, về việc này, ngài tỏ ra nghiêm khắc. “Có phải ông đang bảo tôi: chúng ta có thể có một hội đồng giám mục quốc gia tại một nước chấp thuận một điều gì đó mà ở một hội đồng khác, nó bị coi là một tội hay không? Phải chăng tội sắp sửa thay đổi theo biên giới quốc gia? Chúng ta có thể trở thành các Giáo Hội quốc gia? Xem ra chúng ta đang quốc hữu hóa điều đúng và điều sai”.
 
Tuy nhiên, nhiều người khác sẵn sàng cho hay: vì các thực tại văn hóa khác nhau ở nhiều nơi trên thế giới, nên việc cho phép các mục tử và các giám mục một ít quyền rộng rãi trong việc phán định là một điều khôn ngoan, ấy là chưa kể đến việc phải tuân giữ chủ trương nhấn mạnh tới tính hợp đoàn của Công Đồng Vatican II.
 
Điều trên hình như đang củng cố nhận định của Đức Hồng Y Walter Kasper ngỏ với các nhà báo nhân dịp Thượng Hội Đồng năm 2014, khi ngài cho rằng các giám mục Phi Châu “không nên nói với chúng ta quá nhiều về điều chúng ta nên làm”. Điều ngài muốn nói là: hoàn cảnh ở Đức khác với hoàn cảnh ở Phi Châu, và các giải pháp kiểu một cỡ thích hợp cho mọi người không luôn có giá trị trong Giáo Hội hoàn cầu.
 
Ba năm rưỡi qua, từ ngày được bầu làm giáo hoàng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã hơn một lần nói rằng ngài thấy cần phải có “một sự tản quyền lành mạnh” trong Giáo Hội Công Giáo.
 
Bất kể nó có lành mạnh hay không dưới mắt người nhìn, nhưng khi đụng tới việc rước lễ của người ly dị tái hôn dân sự, căn cứ vào những gì đang diễn ra, khó lòng không tin việc tản quyền là điều Đức Giáo Hoàng Phanxicô muốn.
 
Vũ Văn An

Những câu hỏi thông thường về Tông huấn Amoris Laetitia

Những câu hỏi thông thường về Tông huấn Amoris Laetitia

1. Tông huấn là gì?
 
Tông huấn là một bài huấn dụ đặc biệt của Đức giáo hoàng nhằm truyền đạt nhận định của ngài về một vấn đề nào đó. Đức giáo hoàng thường dùng Tông huấn để công bố những kết luận ngài có được sau khi xem xét những khuyến cáo của một Thượng Hội đồng Giám mục. Ngài cũng có thể dùng Tông huấn để khuyến dụ các tín hữu tiến sâu hơn vào đời sống làm môn đệ Chúa Kitô, chẳng hạn như Đức giáo hoàng Phanxicô đã dùng Tông huấn Evangelii Gaudium để công bố Tin Mừng trong thế giới ngày nay (24-11-2013).
 
2. Tông huấn Amoris Laetitia do đâu mà có?
 
Amoris Laetitia là kết quả của những suy tư trong cầu nguyện của Đức giáo hoàng Phanxicô về những cuộc thảo luận và những kết quả của hai Thượng Hội đồng Giám mục tổ chức tại Roma: một Thượng Hội đồng Ngoại thường năm 2014, và một Thượng Hội đồng Thường lệ năm 2015, cả hai đều có chủ đề về hôn nhân và gia đình. Tông huấn này muốn chia sẻ với toàn thể Hội Thánh giáo huấn và khuyến dụ của ngài về công tác mục vụ gia đình, và về những gì hôn nhân và gia đình được mời gọi trong thời điểm này của lịch sử. 
 
3. Thượng Hội đồng Giám mục là gì?
 
Thượng Hội đồng Giám mục là một định chế thường trực của Hội thánh Công giáo, được Chân phúc Giáo hoàng Phaolô VI thiết lập năm 1965, không lâu sau khi bế mạc Công đồng Vatican II, để tiếp nối tinh thần của giám mục đoàn và sự hiệp thông đã có được tại Công đồng Vatican II. Thượng Hội đồng là một đại hội các giám mục trên toàn thế giới nhằm tham vấn cho Đức giáo hoàng về những vấn đề quan trọng Hội thánh đang trực diện bằng cách bảo vệ huấn giáo của Hội thánh và củng cố kỷ luật trong Hội thánh (xem website của Tòa thánh và Giáo luật, khoản 342).
 
4. Tông huấn Amoris Laetitia đề cập những vấn đề nào?
 
Amoris Laetitia đề cập đến rất nhiều vấn đề liên quan đến hôn nhân và đời sống gia đình, và chú trọng đặc biệt vào ơn gọi và sứ mệnh tình yêu của gia đình. Tông huấn nói về những sức mạnh và những ân huệ của gia đình, và những thách thức hiện thời các gia đình trên khắp thế giới đang phải đối mặt. Tông huấn khuyến khích các đôi vợ chồng, các gia đình, và các tác viên mục vụ hãy đồng hành và chăm lo cho các gia đình và những ai đang cần được Chúa thương xót và chữa lành. Điều này đòi hỏi ta phải biết suy nghĩ sâu xa về tình yêu và những gì tình yêu bao hàm trong thực tại hằng ngày của hôn nhân và đời sống gia đình.
 
5. Tên của Tông huấn này nghĩa là gì ?
 
Amoris Laetitia là từ ngữ la tinh hàm nghĩa “Niềm Vui của Tình Yêu”. Câu mở đầu nói: “Niềm Vui của Tình Yêu các gia đình trải nghiệm được cũng chính là niềm vui của Hội thánh” (s.1). Tông huấn muốn làm vọng lại xác tín của các Nghị phụ Thượng Hội đồng rằng gia đình Kitô hữu “quả thực là tin tốt lành” (s.1) và muốn giúp Hội thánh gần gũi với các gia đình trong mọi hoàn cảnh.
 
6. Ai nên đọc Tông huấn này?
 
Văn kiện này dành cho tất cả những ai quan tâm đến tương lai của gia đình. Tông huấn ngỏ lời với các giám mục, linh mục, phó tế, những người được thánh hiến, các đôi vợ chồng Kitô hữu và tất cả các Kitô hữu giáo dân. Cách riêng, các đôi vợ chồng được nhắc nhở về ơn gọi và sứ mệnh của mình qua Tông huấn này, và các gia đình có thể thấy Tông huấn này là nguồn cảm hứng liên tục.
 
7. Những nhà lãnh đạo Công giáo có thể sử dụng Tông huấn này như thế nào?
 
Amoris Laetitia sẽ là một kim chỉ nam giá trị cho tất cả những ai dấn thân vào tác vụ giúp các bạn trẻ phân định và chuẩn bị hôn nhân cũng như những đôi vợ chồng và các gia đình ở mọi giai đoạn của đời sống. Các vị lãnh đạo Công giáo cần phải dành mọi nỗ lực để nghiên cứu trọn vẹn Tông huấn này. Nhất là cần chú ý xem những nhận định sâu sắc của Đức giáo hoàng đã có thể làm cho tác vụ đặc thù này trở nên phong phú và sống động ra sao. Chính Đức giáo hoàng Phanxicô đã ân cần mời gọi chúng ta đọc tông huấn này một cách kiên nhẫn và cẩn thận, với hy vọng “khi đọc văn kiện này, tất cả sẽ cảm nhận mình được mời gọi biết yêu mến và quý trọng đời sống gia đình…” (s.7).
 
8. Đức giáo hoàng Phanxicô bộc lộ mối quan tâm của ngài đối với các gia đình như thế nào trong triều đại của ngài?
 
Đức giáo hoàng Phanxicô đã tỏ lòng yêu mến đối với hôn nhân và các gia đình bằng nhiều cách. Ngay trong năm đầu tiên của triều đại giáo hoàng của ngài, ngài đã triệu tập hai khóa họp khoáng đại Thượng Hội đồng Giám mục liên tiếp về gia đình. Ngài đã dành các buổi tiếp kiến hằng tuần suốt hơn một năm để ban những huấn dụ về các chủ đề liên quan đến hôn nhân và gia đình, và ngài đã nêu lên những chứng từ sôi nổi hấp dẫn về vẻ đẹp trong kế hoạch của Thiên Chúa về gia đình trong kỳ Đại hội Thế giới các Gia đình tại Philadelphia. Ngài cũng tôn phong Đức Gioan Phaolô II – mà ngài xưng tụng là “vị giáo hoàng của gia đình” lên bậc hiển thánh.
 
9. Còn những văn kiện chủ yếu nào khác nữa của Hội thánh về hôn nhân và gia đình?
 
Như Đức giáo hoàng Phanxicô đã trình bày trong chương ba, Amoris Laetitia khai triển tiếp theo một kho tàng giáo huấn phong phú của Hội thánh về hôn nhân và gia đình. Tông huấn này là một văn kiện song hành và bổ túc cho văn kiện Familiaris Consortio (Về Vai trò của Gia đình Kitô hữu trong Thế giới Ngày nay), do Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II ban hành sau Thượng Hội đồng Giám mục về gia đình họp trong năm 1980, đã là viên đá thử vàng cho mục vụ chăm sóc hôn nhân và đời sống gia đình từ khi được phổ biến. Đức Gioan Phaolô II còn cống hiến cho Hội thánh một văn kiện khác nữa cho các gia đình trong năm 1994, tên là “Thư gửi các Gia đình”, và các bài giáo lý của ngài về tình yêu con người, thường được gọi là “thần học thân xác”, cũng đã làm cho việc chiêm nghiệm của Hội thánh về hôn nhân và đời sống gia đình ngày nay được trở nên thực sự phong phú. Tất cả những công trình này được trích dẫn ở nhiều điểm khác nhau trong Amoris Laetitia. Những văn kiện then chốt khác, cũng đã được trích dẫn, bao gồm cả Hiến chế Mục vụ Gaudium et Spes của Công đồng Vatican II (Về Hội thánh trong Thế giới Ngày nay), Thông điệp Humanae Vitae (Về Sự Sống Con Người) của Chân phúc Giáo hoàng Phaolô VI, và Thông điệp Deus Caritas Est (Thiên Chúa là Tình yêu) của Đức nguyên giáo hoàng Bênêđictô XVI.
 
10. Làm thế nào để tôi có được bản Tông huấn Amoris Laetitia?
 
Có thể liên hệ mua Tông huấn Amoris Laetitia - Niềm Vui của Tình Yêu, bản dịch tiếng Việt do Văn phòng Hội đồng Giám mục Việt Nam thực hiện và xuất bản tại Văn phòng HĐGM số 72/12 Trần Quốc Toản Q.3 Tp. HCM,Đt: 08 3820 5242, kể từ ngày 20 tháng 7 năm 2016. Cũng có thể tìm đọc toàn văn Tông huấn này sẽ được đăng tải trên trang mạng của HĐGM Việt Nam. Bản tiếng Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha… của Tông huấn Amoris Laetitia có thể tham khảo trên trang mạng của Toà Thánh:www.vatican.va.

Văn phòng HĐGMVN

Thứ Ba, 6 tháng 6, 2017

2 Đức Hồng Y Schonborn: Tông Huấn Niềm Vui Yêu Thương và phạm trù tả hữu (II)

Đức Hồng Y Schonborn: Tông Huấn Niềm Vui Yêu Thương và phạm trù tả hữu (II)

Tác giả: 
 Vũ Văn An

Hãy quên tả hữu đi

Ai cũng biết, khởi đầu trong sự nghiệp của ngài, Đức Hồng Y Christoph Schönborn vốn được coi là người bảo thủ, được Đức Hồng Y Joseph Ratzinger bảo trợ. Nhưng nay, phần đông người ta coi ngài như một đồng minh cấp tiến của Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Theo ngài, đây không hẳn là một thay đổi cho bằng sự thiếu thỏa đáng của các phạm trù ‘tả hữu’. Như Thánh Tôma Aquinô chẳng hạn, đâu có tả hữu gì, mà chỉ là “sáng suốt và Công Giáo”.

Sau đây là phần hai cuộc phỏng vấn Đức Hồng Y Schönborn của Crux:

Hỏi: Hai mươi năm trước đây, Đức Hồng Y được coi là người bảo thủ, được Đức Hồng Y Joseph Ratzinger bảo trợ. Ngày nay, nhiều người coi Đức Hồng Y là một đồng minh cấp tiến của Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Đức Hồng Y thay đổi, Giáo Hội thay đổi hay tất cả đơn giản chỉ minh hoạ lý do tại sao các phạm trù tả hữu không thoả đáng?

Trả lời: Phần lớn là câu sau cùng. Dĩ nhiên, có một sự phát triển trong đời mỗi con người. Lúc còn là một nhà thần học trẻ, Đức Hồng Y Joseph Ratzinger được coi là người rất cấp tiến, nhưng sau Vatican II, càng ngày ngài càng bảo thủ hơn. Lúc là Hồng Y, ngài bị coi là Panzerkardinal (Hồng Y áo giáp). Lúc ngài làm giáo hoàng, chúng tôi, các học trò cũ của ngài, rất đỗi ngạc nhiên thấy ngài mở rộng vòng tay, vì chúng tôi chưa bao giờ được thấy cử chỉ ấy của ngài. Dĩ nhiên, ngôi vị giáo hoàng đã tác động lên ngài không ít.

Tôi cũng đã phát triển trong cuộc sống của mình. Là một tu sĩ Đa Minh trẻ tuổi trong thời kỳ khoảng năm 1968, tôi là người cánh tả…, cấp tiến, dấn thân về xã hội, chưa bao giờ theo Mác, nhưng trái tim tôi nghiêng nhiều về phía tả. Về một vài phương diện nào đó, nó vẫn tiếp tục còn ở đó. Rồi tôi thấy các hậu quả thảm hại của năm 1968 trong Dòng Đa Minh, ở Đức và ở Pháp. Tôi khám phá ra nền thần học Đông Phương, truyền thống Chính Thống, và các giáo phụ. Tôi có may mắn được hướng dẫn sâu xa vào Thánh Tôma Aquinô bởi một tu sĩ Đa Minh cao tuổi, người trở thành cha thiêng liêng và thầy dạy của tôi. Tôi trở nên điều tôi hy vọng mình vẫn cỏn là một thần học gia, có khuynh hướng thiên rất nhiều về các giáo phụ, về truyền thống Đông Phương, và về Thánh Tôma Aquinô. Tôi chưa bao giờ nghĩ Thánh Tôma Aquinô là bảo thủ hay cấp tiến, ngài chỉ đơn giản sáng suốt và Công Giáo mà thôi.

Các thày dạy của tôi, các bậc thầy chính của tôi, là Hans Urs von Balthasar và Joseph Ratzinger. Anh chị có bảo các ngài là bảo thủ không? Anh chị có bảo các ngài là cấp tiến không? Các phạm trù này đều sai. Các ngài vĩ đại, các ngài là những tâm trí vĩ đại. Tôi chưa hề thấy Joseph Ratzinger là người hẹp hòi, mà là một thày dạy Công Giáo hết sức vững vàng.

Khi được kêu gọi làm thư ký cho ủy ban soạn thảo Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, một công việc có lẽ quan trọng nhất tôi từng làm xưa nay trong đời, nhiệm vụ của tôi là phát biểu một cách dễ hiểu, tổng hợp và có tổ chức toàn bộ giáo huấn Công Giáo. Đây quả là một cuộc mạo hiểm kỳ diệu, dưới sự hướng dẫn của Đức Hồng Y Ratzinger, là cùng chau chuốt công trình này với một nhóm lớn, những con người lớn, làm việc mật thiết với nhau.

Khi Đức Giáo Hoàng Phanxicô được bầu, tôi không bao giờ coi việc này như một đứt đoạn. Tôi cho rằng đây là một thứ bộ ba (triptych): Đức Gioan Phaolô và Đức Bênêđíctô, trong các triều giáo hoàng của các ngài, phải bảo toàn các điều nền tảng của giáo huấn Công Giáo đang bị đe dọa trầm trọng. Đức Giáo Hoàng Phanxicô, một tu sĩ Dòng Tên có gốc rễ sâu xa, mang đến ý thức này là người ta đang đứng ở đâu, họ đang ở đâu, đời sống của họ ra sao, và ta phải dẫn họ tới đâu, một cách kiên nhẫn và đầy lưu tâm. Ngài làm với Giáo Hội và vươn cả ra ngoài Giáo Hội, điều mà Thánh Inhã từng muốn làm trong Linh Thao: gặp gỡ người ta ngay trong đời sống của họ, ngay trong tình thế của họ và dẫn họ từng bước bằng biện phân tới chỗ hoàn toàn dấn thân cho Chúa Kitô. Tôi thấy một sự bổ túc vĩ đại và tôi cũng thấy nó trong giáo huấn giáo hoàng. Với tôi Familiaris Consortio và Amoris Laetitia bổ túc cho nhau rất nhiều.

Anh chị hãy quên đi các phạm trù [tả hữu].

Hỏi: Đức Hồng Y còn tin rằng Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo là công trình quan trọng nhất trong đời Đức Hồng Y không?

Trả lời: Còn, còn. Đó là một kinh nghiệm tuyệt vời, tập chú không phải vào các suy tư của các thần học gia, mà vào giáo huấn của Giáo Hội, và phát biểu nó một cách không như những viên gạch trong một túi lưng mà ta phải đeo mà chẳng hiểu gì, nhưng tìm thấy nexus mysteriorum, tức sự nối kết giữa các mầu nhiệm, như Giáo Hội vốn dạy. Mục đích của Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo không cận kề có tính mục vụ, nhưng là nền tảng cho công trình mục vụ tốt đẹp. Lấy Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo làm dụng cụ, ta có thể thực hiện được điều Đức Giáo Hoàng Phanxicô kêu gọi Giáo Hội thực hiện, đó là trở thành các nhà truyền giáo.

Hỏi: Đức Hồng Y ở trong Mật Nghị Hội bầu Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Đức Hồng Y phần nào biết Đức Hồng Y Bergoglio trước khi ngài được bầu, và Đức Hồng Y đã làm việc gần gũi với ngài kể từ ngày ngài được bầu. Ngài có làm Đức Hồng Y ngạc nhiên không, hay đây ít nhiều có phải là điều Đức Hồng Y nghĩ mình đang nhận được?

Trả lời: Không, ngài làm tôi ngạc nhiên. Ngài làm tôi ngạc nhiên từ ngày đầu, khi ngài đứng ở ban-công và cúi đầu thinh lặng yêu cầu người ta cầu nguyện cho ngài. Và từ đó, ngài tiếp tục làm chúng ta ngạc nhiên.

[Phát ngôn viên: nhưng Đức Hồng Y mong được ngạc nhiên mà. Điều đầu tiên Đức Hồng Y nói với con sau cơ mật viện là “chúng ta sẽ thấy nhiều điều ngạc nhiên theo cung cách Đức Gioan XXIII”]

Vâng đúng thế. Tôi mong chờ các điều ngạc nhiên.

Hỏi: Nếu thế thì ngài đã đáp ứng. Ngài tiếp tục kéo các con thỏ ra khỏi chiếc mũ…

Trả lời: À, tôi không biết liệu có phải là các con thỏ hay không, nhưng hết lần này qua lần nọ, là sự tự do của Tin Mừng. Chúa Giêsu luôn làm người ta ngạc nhiên. Trước hết là chính các môn đệ của Người. Họ khó mà hiểu được Người, nhưng tuy thế, Người vẫn yêu thương họ.Tôi nghĩ điều hết sức tốt đẹp là nét tươi mát của Tin Mừng. Nhưng theo tôi, không hề có sự đứt đoạn. Khi Đức Gioan Phaolô được bầu, một người xuất thân từ Đông Âu, từ một nước Cộng Sản… Anh chị đã xem cuốn phim Nine days that changed the world (chín ngày thay đổi thế giới) chưa? Sống ở Áo này, gần biên giới Cộng Sản, thật là kỳ diệu. Chuyến viếng thăm đầu tiên của ngài ở đây, ở Vienna. Dĩ nhiên, cũng có những giớ phút khó khăn, nhưng điều chắc chắn đây là thời kỳ vĩ đại.

Và rồi, có triều giáo hoàng ngắn hơn của Đức Bênêđíctô. Và điều ngạc nhiên đối với chúng tôi, các học trò của ngài, là thấy ngài giữa đám đông, và hành xử rất khéo. Còn các buổi yết kiến chung thì đông hơn của Đức Gioan Phaolô. Còn ơn phúc giảng dạy vĩ đại nữa mà chúng tôi biết qua các khóa giảng, sách vở và bài giảng lễ của ngài. Tôi phải nói rằng trải nghiệm hiện nay của tôi đối với 3 triều giáo hoàng mà tôi biết cách gần gũi chính là phép lạ của ngôi vị giáo hoàng. Nó hết sức hấp dẫn và tiếp tục hấp dẫn.

Hỏi: Có phải Đức Hồng Y muốn nói rằng ngôi vị giáo hoàng có thể mang nhiều cái lạ ra khỏi người ta mà Đức Hồng Y không ngờ tới không?

Trả lời: Đúng, đúng. Và tôi cho rằng Chúa, Đấng luôn hướng dẫn Giáo Hội, dẫn dắt Giáo Hội bằng Thần Trí của Người, luôn ban cho Giáo Hội vị mục tử mà Giáo Hội cần vào lúc thích hợp.Vị tiền nhiệm của tôi là người chủ chốt trong việc bầu Đức Gioan Phaolô, đó là Đức Hồng Y [Franz] König và cả Ratzinger nữa. Tôi nghĩ chúng ta được diễm phúc rất lớn bởi triều giáo hoàng hiện nay. Và các triều giáo hoàng kế tiếp, mỗi thời một triều giáo hoàng thích đáng.

Hỏi: Chúng con đang ngồi kế cận một bức tranh tại dinh Tổng Giám Mục có ý nghĩa sâu xa với tổng giáo phận Vienna và Giáo Hội Áo. Đức Hồng Y có thể cho chúng con biết lịch sử này không?

Trả lời: Đây là một câu truyện rất cảm động. Vào ngày 8 tháng Mười năm 1938, Hitler xâm lăng Nước Áo. Hôm trước ngày xâm lăng, ngày Lễ Rất Thánh Mân Côi, Đức Hồng Y lúc đó là [Theodor] Innitzer triệu tập giới trẻ Công Giáo của Vienna, một cách không chính thức, họp nhau tại nhà thờ chính tòa. Trong khoảng từ 7 đến 9 giờ sáng, hàng ngàn người trẻ đã tụ tập ở đó. Đức Hồng Y giảng cho họ một bài giảng rất mạnh mẽ; ngài nói rằng “Chúa Giêsu Kitô là Führer của chúng ta!”. Hết sức phấn khích, giới trẻ tụ tập quanh dinh Tổng Giám Mục hô lớn: “chúng tôi muốn gặp Đức Giám Mục của chúng tôi!”, cố ý nhại lại cung cách Đoàn Thanh Niên Hitler có thói quen hô “Chúng tôi muốn gặp Führer của chúng tôi!” Nghe thấy thế, Đức Hồng Y đã tới cửa sổ, ban phép lành rồi nói: “Các con hãy về nhà, về nhà trong im lặng”.

Cuộc ruồng bố đầu tiên của cảnh sát diễn ra vào buồi tối hôm đó, ngày 7 tháng Mười. Và hôm sau, diễn ra cuộc trả thù. Đoàn Thánh Niên Hitler xâm chiếm dinh Tổng Giám Mục, họ giật sập cổng, phá nát cả tòa nhà…

Hỏi: Đối với những người không biết Vienna, đây không phải là một dinh xây dựng trên một ngọn đồi nào đó, mà là giữa trung tâm thành phố, nên các cuộc biểu tỉnh dễ dàng diễn ra…

Trả lời: Và ngày nay cũng vẫn như thế, chung quan nhà, vẫn thế. Nên, Đức Hồng Y phải trốn trên gác xép (attic). Cha thư ký bị ném qua cửa sổ, bị thương nặng. Và cuối cùng, cảnh sát tới, lúc mọi sự đã hết đường cứu chữa. [Và Đức Hồng Y chỉ lên bức tranh mà nói] Biến cố này còn lại như một ký ức. Anh chị thấy chỗ Đoàn Thanh Niên Hitler rạch xác Chúa Giêsu… Nó diễn ra đúng một tháng sau ngày các hội đường Do Thái bị thiêu rụi trên toàn nước Đức.

Hỏi: Dĩ nhiên, Đức Hồng Y không phải sống điều đó, nhưng chắc chắn Đức Hồng Y biết câu truyện…

Trả lời: Mẹ tôi lúc đó 18 tuổi, nay bà còn sống, đã 97, và bà nhớ rất rõ giây phút ấy.

Hỏi: Dù sao, đây cũng là một phần của câu truyện gia đình, một phần của câu truyện tổng giáo phận. Nó có mang lại cho Đức Hồng Y sự tin tưởng nào không khi nhìn vào các vấn đề bên trong Giáo Hội hiện nay, hay các vấn đề văn hóa? Lịch sử có đem lại cho Đức Hồng Y tin tưởng chắc chắn nào rằng nếu chúng ta đã qua được điều kia, thì cũng sẽ qua được điều này không?

Trả lời: Được, chúng ta không có lời hứa hẹn Âu Châu sẽ không có một số phận như Thổ Nhĩ Kỳ, trước đây vốn hoàn toàn theo Kitô Giáo, [hay] Bắc Phi, trước đây cũng hoàn toàn theo Kitô Giáo. Nhưng ta vẫn có hy vọng. Đang có những dấu chỉ hy vọng. Nhưng trong trạng huống nghèo nàn hơn nhiều. Giáo Hội đang kinh qua một sự co rút, một co rút lớn lao, nhưng tôi tin tưởng nơi Chúa. Người vốn là thiện ích của Giáo Hội. Tại sao lại không thể có sự đổi mới thực sự cho Giáo Hội? Chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Thần.

Hỏi: Đức Hồng Y vừa nói có nhiều dấu chỉ hy vọng. Vậy ở Vienna này, đâu là những dấu chỉ ấy?

Trả lời: Di dân Kitô Giáo là một. Chúng tôi có nhiều cộng đồng di dân đa dạng đến từ khắp mọi nơi trên thế giới, từ Trung Quốc tới Châu Mỹ La Tinh. Họ đang mang đến những hương vị mới, những men bột mới, sinh khí mới cho đời sống Giáo Hội địa phương. Và rồi còn có nhiều dấu chỉ tốt đẹp nơi thế hệ trẻ. Dĩ nhiên, thế hệ trẻ hiện nay nhỏ bé hơn, vì ít trẻ em, đây là một sự kiện. Nhưng nếu anh chị tham dự Lễ Ngũ Tuần ở Salzburg nơi tuổi trẻ Công Giáo tụ tập, anh chị sẽ thấy một Giáo Hội sống động.

1 Đức Hồng Y Schonborn: Tông Huấn Niềm Vui Yêu Thương và phạm trù tả hữu

Đức Hồng Y Schonborn: Tông Huấn Niềm Vui Yêu Thương và phạm trù tả hữu

Tác giả: 
 Vũ Văn An

Tuần rồi, hai ký giả John Allen và San Martín đã qua Vienna phỏng vấn Đức Hồng Y Christoph Schonborn, Tổng Giám Mục thành phố, người được coi là trí thức bậc nhất trong số các giáo phẩm Âu Châu. Hai ký giả đã hầu chuyện với Đức Hồng Y về nhiều vấn đề có tính thời sự hiện nay trong Giáo Hội.

Trong các vấn đề được đề cập tới có Tông Huấn Niềm Vui Yêu Thương. Theo Đức Hồng Y, dù nhiều nhà phê bình tỏ ra lo ngại trước động thái thận trọng của Đức Phanxicô đối với việc có thể cho phép người Công Giáo ly dị tái hôn được chịu các bí tích, dù không chính thức được tòa án Giáo Hội tuyên bố cuộc hôn nhân trước của họ bất thành (vô hiệu), nhưng nếu đọc Tông Huấn này một cách nghiêm túc, thì, ít nhất tại Tây Phương, lời kêu gọi biện phân của nó thực sự đi ngược lại khuynh hướng quá “buông thả”.

Ngài nói: “Ở Tây Phương, nói chung, chúng ta đúng hơn bị cơn cám dỗ buông thả. Ở những khu vực khác, một số người bị cơn cám dỗ nghiêm khắc. Còn Đức Giáo Hoàng Phanxicô thì nói một điều rất quan trọng: cả người nghiêm khắc lẫn người buông thả đều không làm việc biện phân. Người nghiêm khắc biết trước mọi điều, còn người buông thả thì thả lỏng mọi sự”.

Đức Hồng Y cho rằng Niềm Vui Yêu Thương kêu gọi ta thực hành một cuộc duyệt xét luân lý lâu dài và nghiêm túc về việc thất bại của hôn nhân, dựa theo mẫu Linh Thao của Thánh Inhã thành Loyola, đấng sáng lập Dòng Tên. Nếu duyệt xét này được thực hiện một cách nghiêm túc, chắc chắn đây sẽ là một tiến trình kiểm tra (screening) nghiêm ngặt trước khi cho phép người ly dị tái hôn rước lễ hơn là thực hành hiện nay ở một số nền văn hóa Tây Phương.

Đức Hồng Y Schönborn cũng cho biết ngài không thực sự bối rối trước sự kiện các giám mục hay các nhóm giám mục khác nhau đưa ra nhiều lối giải thích khác nhau về Tông Huấn Niềm Vui Yêu Thương, vì “tiếp thu là một diễn trình lâu dài”.
Trọng điểm ở đây, theo Đức Hồng Y Schönborn, là: Giáo Hội không nên vội vã rút ra các câu kết luận thực tế ngay tức khắc, mà nên chú tâm vào việc thẩm thấu tinh thần của văn kiện nhất là lời kêu gọi biện phân của nó.

Ngài bảo: “Cần phải thảo luận, và tôi không sợ việc tiếng nói của các giám mục và của hàng ngũ giáo dân chưa hoàn toàn ăn ý với nhau”.

Trong cuộc đàm đạo này, Đức Hồng Y Schönborn cũng còn đề cập đến nhiều vấn đề khác:

• Ngài cho rằng Đức Giáo Hoàng Phanxicô tạo nên “một bộ ba” (triptych) với các vị tiền nhiệm của ngài là Thánh Gioan Phaolô II và Đức Bênêđíctô XVI. Hai vị sau “phải bảo toàn những điều căn bản của giáo huấn Công Giáo vốn đang bị đe dọa nghiêm trọng” trong khi Đức Phanxicô lưu ý tới việc “người ta đang đứng ở đâu, họ đang ở đâu, cuộc sống của họ ra sao, và ta phải dẫn họ tới đâu”.

• Ngài nhìn nhận rằng các vị Hồng Y bầu Đức Giáo Hoàng Phanxicô thực sự không biết các ngài nhận được những gì, dù, ngài cười, ngài vốn mong có sự bất ngờ, theo nghĩa Đức Phanxicô, rốt cuộc, sẽ trở thành điều ngài mong đợi.

• Ngài nhấn mạnh rằng các phạm trù như tả hữu nên được “quên đi” khi cố gắng hiểu Giáo Hội. Thánh Tôma Aquinô đâu có tả hữu chi, mà “chỉ sáng suốt và Công Giáo” thôi.

• Ngài cho rằng ta không thể coi là đương nhiên việc đức tin không chết đi ở Tây Phương ngày nay như cách nó đã chết thực trong lịch sử ở Thổ Nhĩ Kỳ và Bắc Phi. Nhưng ngài vẫn thấy nhiều dấu chỉ hy vọng, nhất là nơi di dân, họ mang tới một đức tin sống động cho Lục Địa Xưa và nơi khá nhiều nhóm nhỏ các tín hữu trẻ.

Niềm Vui Yêu Thương

Phần một của cuộc đàm đạo tập chú vào Tông Huấn Niềm Vui Yêu Thương.

Hỏi: Các giám mục và các nhóm giám mục đang đưa ra các câu trả lời khác nhau cho câu hỏi: Niềm Vui Yêu Thương muốn nói gì về việc rước lễ của người Công Giáo ly dị và tái hôn. Tính đa dạng mà một số người cho là lộn xộn này, có làm Đức Hồng Y bối rối chăng?

Trả lời: Thực sự không. Tiếp thu là một diễn trình lâu dài, nếu là điều quan trọng. Việc tiếp thu Công Đồng Trent cần tới 200 năm. Việc tiếp thu Công Đồng Nixêa đầu tiên cần tới 300 hay 400 năm. Tiếp thu là một diễn trình quan trọng, vì chính qua cuộc tranh luận quanh một giáo huấn mà giáo huấn này mới thấm sâu vào cơ thể Giáo Hội và mới trở nên thịt xương cho Giáo Hội. Việc tiếp thu Vatican II còn lâu mới kết thúc, nó vẫn chưa chấm dứt…

Hỏi: Đức Hồng Y có lẽ cho rằng sự náo động quanh Niềm Vui Yêu Thương minh họa điều trên, có phải không ạ? Nó minh họa rằng cuộc tranh luận về việc áp dụng mục vụ các viễn kiến của Công Đồng nay vẫn còn đang tiếp diễn?

Trả lời: Chính xác như thế. Tôi nghĩ việc Niềm Vui Yêu Thương chú tâm vào điều Đức Giáo Hoàng Phanxicô gọi là các gia đình “như họ đang thực sự là” là một trong các chú tâm lớn của Vatican II. Dĩ nhiên, luôn có một căng thẳng nào đó giữa việc phát biểu tín lý, sự rõ ràng về tín lý, và việc tích nhập giáo huấn của Giáo Hội vào cuộc sống người ta và vào chính cuộc sống của chúng ta.

Diễn trình tiếp thu trên phải là một thời gian để thảo luận. Tôi không sợ có cuộc thảo luận. Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói với chúng ta khi kết thúc Thượng Hội Đồng đầu tiên năm 2014 rằng ngài có lẽ sẽ lo lắng nếu điều gì cũng thanh thản, không cần phải thảo luận. Như Thánh Inhã, ngài gọi điều này là việc làm của Thần Khí. Đây là sự thúc đẩy của Thần Khí. Giống như mang thai vậy, anh chị biết đó? Đây là một việc đang diễn biến. Nó cần thảo luận, và tôi không sợ việc tiếng nói của các giám mục và của giáo dân chưa hoàn toàn ăn ý với nhau.

Điều tôi khẩn khoản là kiên nhẫn. Ở Hội Đồng Giám Mục Áo, chúng tôi nói chúng tôi không thích đưa ra các tập hướng dẫn vào ngay lúc này vì chúng ta vẫn còn đang ở trong thời kỳ tiếp thu văn kiện. Sau Vatican II, phần lớn các Hội Đồng Giám Mục quá lớn để có thể vội vàng tổ chức các hội đồng địa phương nhằm tạo ra các chất liệu riêng của mình.

Ngoại lệ duy nhất… có thể còn các ngoại lệ khác, nhưng ngoại lệ chính bản thân tôi biết… là vị Tổng Giám Mục Krakow. Cuối Vatican II, Đức Hồng Y [Karol] Wojtyla đã làm gì? Ngài xuất bản một cuốn sách nhỏ chứa các bản văn chủ chốt của Công Đồng và các bình luận ngắn. Cuốn sách này được in ra nhiều ngàn bản, và toàn thể tổng giáo phận Krakow tham gia một diễn trình hội đồng kéo dài 10 năm.

Mục đích không phải là đưa ra các văn kiện, mà chỉ nghiên cứu Vatican II và nội tâm hóa giáo huấn của nó về phụng vụ, về Giáo Hội, về mạc khải Thiên Chúa, về tự do tôn giáo, v.v… Đến khi đã là giáo hoàng rồi, ngài mới chính thức bế mạc hội đồng này khi trở về thăm quê hương Ba Lan lần đầu tiên. Tôi nghĩ đó là cách làm đúng đắn.

Điều tôi ráng làm ở giáo phận chúng tôi là đọc bản văn Niềm Vui Yêu Thương với các linh mục và giáo dân, nói với họ ‘Hãy nhìn bản văn, hãy đọc nó, nó được viết một cách đẹp đẽ’, đừng vội rút ra các kết luận thực tiễn ngay tức khắc, một thứ áp dụng Niềm Vui Yêu Thương đầy tính giải nghi học (casuistic). Hãy để anh chị em thấm nhuần văn kiện vĩ đại này, và rồi, từ từ, nó sẽ được soi sáng.

Một số Hội Đồng Giám Mục đã cho công bố các bản chỉ dẫn, như Malta, Đức, Giáo phận Rôma, v.v… Điều đó tốt, nhưng các chỉ dẫn này cần được thảo luận thêm, tôi nghĩ vậy, vì vẫn còn quá sớm. Các vị giám mục của giáo tỉnh Buenos Aires cũng đã công bố các bản chỉ dẫn, và Đức Giáo Hoàng đã cho biết lập trường là các bản chỉ dẫn này phù hợp với Niềm Vui Yêu Thương. Nhưng, nói chung, tôi nghĩ chúng ta cần có thời gian. Chúng ta phải tiếp cận với tinh thần của Niềm Vui Yêu Thương trước khi rút ra bất cứ kết luận thực tiễn nào.

Hỏi: Đức Hồng Y khuyên nên kiên nhẫn, nhưng trong khi ấy nhiều người bối rối vì các giám mục Buenos Aires hình như đã đưa ra câu trả lời cho câu hỏi liệu các người Công Giáo ly dị và tái hôn phần đời có được lãnh nhận Thánh Thể hay không còn các giám mục của Alberta và của Lãnh Thổ Tây Bắc (Gia Nã Đại) lại đưa ra một câu trả lời khác hẳn. Vậy đâu là câu trả lời đúng?

Trả lời: Câu trả lời đúng là biện phân. Hãy đọc Familiaris Consortio số 84 … để qua một bên vấn đề rước lễ, vốn là một cái ‘bẫy’ như Đức Giáo Hoàng Phanxicô có lần nói. Ai cũng trước nhất nhìn vào câu hỏi ‘họ có được phép hay không?’ Nhưng cách biện phân làm việc khác hẳn, và tiêu chuẩn hàng đầu đã được chính Thánh Gioan Phaolô đưa ra. Trong Familiaris Consortio, ngài nói ‘các mục tử biết điều này: vì sự thật, họ buộc phải thi hành việc biện phân thận trọng đối với các hoàn cảnh’.

Điều ấy có nghĩa gì? Nó có nghĩa: mỗi hoàn cảnh khác nhau đều có một sự khác nhau về luân lý, và ngài đưa ra ba trường hợp: trường hợp bị người phối ngẫu bỏ rơi một cách thẳng thừng; trường hợp hôn nhân ‘đổ vỡ không thể cứu chữa’; và trường hợp những người xác tín trong lương tâm rằng cuộc hôn nhân thứ nhất của họ chưa bao giờ thành sự. Ba thí dụ này đã được Đức Giáo Hoàng Phanxicô quảng diễn ở chương 8 của Niềm Vui Yêu Thương, kêu gọi họ và cả chúng ta biện phân và phân biệt.

Điều đó cần phải làm, trước nhất, bởi chính các đương sự. Câu hỏi đầu tiên không phải là liệu họ có được lãnh các bí tích hay không, mà là họ đã xử lý ra sao sự thất bại trong cuộc hôn nhân của họ.

Ở tổng giáo phận Vienna, chúng tôi có một chương trình dành cho các người ly dị và tái hôn trong nhiều năm qua tên là ‘Năm Điều Lưu Ý’. Tôi cảm thấy được tăng cường mạnh mẽ bởi Niềm VuiYêu Thương trong phương pháp biện phân của nó. Một trong những điều đầu tiên chúng tôi hỏi là ‘Anh chị đối xử với con cái ra sao?’ Trong Niềm Vui Yêu Thương, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhấn mạnh rằng không bao giờ được buộc con cái phải vác lên vai gánh nặng do cuộc tranh chấp của cha mẹ tạo nên. Có một tiết rất cảm động trong đó, Đức Giáo Hoàng Phanxicô viết rằng ‘Tôi đưa ra lời kêu gọi này với các cha mẹ đã ly thân: đừng bao giờ bắt con cái mình làm con tin!” (Niềm Vui Yêu Thương 245). Đây là một tội nặng, rất nặng.

Ngài đưa ra rất nhiều trợ giúp để biện phân. Chẳng hạn, ngài nói tới hoàn cảnh người phối ngẫu bị bỏ rơi. Trong cuộc hôn nhân của anh/chị, anh/chị có xem xét hoàn cảnh của người phối ngẫu bị bỏ rơi không? Đâu là hậu quả của việc anh/chị ly dị đối với bạn bè, các gia đình khác, cộng đoàn? Anh/chị có xét tới vấn đề hận thù giữa anh/chị và người kia không? Đó là các phương thế để biện phân, và câu hỏi hàng đầu là phải xử lý ra sao hoàn cảnh trong đó lời thề hứa đã không thành.

Hỏi: Trọng tâm của Niềm Vui Yêu Thương, xét về nhiều phương diện, là lời kêu gọi biện phân này. Điều một số người hiểu chữ ‘biện phân’ là làm loãng các chuẩn mức luân lý. Thành thử, trên quan điểm mục vụ, Đức Hồng Y làm sao chắc chắn được rằng biện phân không có nghĩa là điều này?

Trả lời: anh chị hãy đọc chương 7 của Niềm Vui Yêu Thương nói về giáo dục. Ở đấy, anh chị thấy chính xác khuôn khổ của điều là biện phân đích thực. Cha mẹ phải làm gì cho con cái họ và với con cái họ? Điều gì tốt, điều gì xấu đối với chúng? Chỗ nào họ phải nghiêm khắc, chỗ nào họ phải kiên nhẫn? Đấy là công việc chuẩn mực của các nhà giáo dục, và phải là công việc của mọi hoạt động mục vụ, đó là biện phân.

Do đó, Đức Giáo Hoàng Phanxicô không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng “Chúng ta cần một nền đào tạo tốt hơn về biện phân”. Có nhiều qui luật về biện phân. Trong Linh Thao, Thánh Inhã đưa ra nhiều qui luật về biện phân. Và cuối cùng, trong chiều kích tối hậu, biện phân là lắng nghe tiếng nói của Thiên Chúa trong đời anh chị. Đó là vấn đề lương tâm.

Hỏi: Há Đức Hồng Y không quan tâm sao trước việc điều trên có thể làm yếu đi lòng kính trọng đối với Bí Tích Hôn Phối, hay tháo gỡ cam kết của chúng ta đối với ý niệm vĩnh viễn của hôn nhân? 

Trả lời: Theo nghĩa của Niềm Vui Yêu Thương, tôi nghĩ biện phân, tại một số khu vực trong Giáo Hội, có thể dẫn đến một thái độ nhgiêm ngặt hơn. Ở Tây Phương, nói chung, chúng ta đúng hơn bị cơn cám dỗ buông thả. Ở những khu vực khác, một số người bị cơn cám dỗ nghiêm khắc. Còn Đức Giáo Hoàng Phanxicô thì nói một điều rất quan trọng: cả người nghiêm khắc lẫn người buông thả đều không làm việc biện phân. Người nghiêm khắc biết trước mọi điều, còn người buông thả thì thả lỏng mọi sự.

Hỏi: Tất cả đều khởi đi từ tiên thiên…

Trả lời: Đúng vậy. Và nền giáo dục buông thả cũng tệ như nền giáo dục nghiêm khắc.

Hỏi: Đức Hồng Y có cho rằng xét theo thực tại mục vụ, nếu, ở Tây Phương, chúng ta xem trọng Niềm Vui Yêu Thương, thì thực sự chúng ta sẽ nghiêm ngặt hơn đối với việc ly dị và tái hôn dân sự không? 

Trả lời: Tôi phải nói chúng ta sẽ lưu tâm hơn, vâng. Cẩn thận hơn.

Có lẽ cẩn trọng hơn?

Trả lời: Cẩn trọng hơn theo nghĩa huấn luyện lương tâm. Vâng. Nhưng tôi phải nói thêm một yếu tố rất quan trọng. Trong Niềm Vui Yêu Thương, có một đoạn duy nhất trong đó Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói đến việc rước lễ. Nhưng không trong bối cảnh ly dị. Mà trong bối cảnh thực tại xã hội (Niềm Vui Yêu Thương 186). Ngài trích dẫn thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô, khi nói tới việc biện phân thân xác và Thánh Phaolô quở mắng người Côrintô điều gì? Quở rằng người giầu ăn uống đến no say, còn người nghèo thì đói meo. Và đó không phải là biện phân thân xác.

Tôi nghĩ lời mời gọi biện phân là một điều chạm đến mọi người. Không phải chỉ người ly dị mà thôi. Nó đụng đến mọi người: tôi phải biện phân ra sao khi tôi đối xử với người của tôi, với nhân viên của tôi một cách tàn nhẫn, vô nhân đạo, rồi đi rước lễ vào Chúa Nhật? Đấy có phải là biện phân thân xác không?

Thành thử, tôi nghĩ Đức Giáo Hoàng Phanxicô mời gọi chúng ta mở rộng vấn đề. Và cuối cùng, theo lời của Thánh Phaolô, mọi người phải biện phân xem mình ăn vì án phạt hay vì ơn ích.

Còn 1 kỳ

Thứ Tư, 5 tháng 4, 2017

Tín lý “de fide” và lời yêu cầu tha thiết của một giáo dân về “Amoris Laetitia”

Tín lý “de fide” và lời yêu cầu tha thiết của một giáo dân về “Amoris Laetitia”

Tác giả: 
 Vũ Văn An

E. Christian Brugger là một giáo dân hoạt động trong lãnh vực đạo đức sinh học, từng giữ ghế Giáo Sư Thần Học Luân Lý tại Chủng Viện Thần Học Thánh John Vianey ở Denver, Colorado, Hoa Kỳ và hiện là Giáo Sư và Khoa Trưởng Trường Triết Học và Thần Học của Đại Học Notre Dame Australia, Sydney, Úc Châu.

Mới đây, ông có nêu vấn đề tại sao có sự hồ đồ lẫn lộn trong Giáo Hội hiện nay về Amoris Laetitia, và đâu là các hậu quả đối với việc hợp nhất của Giáo Hội? Và ông cho rằng sự hồ độ lẫn lộn này, xét cho cùng, là về hai tín điều “de fide” trong đức tin Kitô Giáo và một trong các hậu quả của sự hồ đồ lẫn lộn này chính là một ly giáo trên thực tế trong Giáo Hội Công Giáo.

Brugger cho rằng khi thuật ngữ “de fide” được dùng trong thần học Công Giáo để nói về một tín lý, thì nó có nghĩa một chân lý thuộc Mạc Khải Thiên Chúa. Hạn từ Mạc Khải Thiên Chúa có ý nói tới các chân lý được Thiên Chúa chọn để tự mạc khải Người và thánh ý Người cho nhân loại để hòa giải thế giới với chính Người, ngõ hầu con người nam nữ có thể sống kết hợp với Người một cách bất toàn ở đời này và, sau khi chết và phán xét, được sống hoàn toàn với Người trên thiên đàng. Như thế, Giáo Hội coi các tín lý “de fide” là cần thiết cho sự cứu rỗi. Vị thế của chúng trong giáo huấn Công Giáo là không thể sửa đổi. Và cách thế công bố chúng là vô ngộ.

Trong bài này, Brugger đề cập tới 3 vấn đề. Thứ nhất, ông dẫn nhập và giải thích ý niệm thần học “các đối tượng đệ nhị đẳng của vô ngộ” và cho thấy gần như mọi chân lý thuộc các vấn đề tính dục do Giáo Hội Công Giáo giảng dạy thuộc loại các đối tượng đệ nhị đẳng của vô ngộ này, và do đó, có thể gọi một cách chính đáng là các tín lý “de fide”. Thứ hai, bắt đầu từ sự bất đồng trong nội bộ Giáo Hội đối với thông điệp Sự Sống Con Người, Giáo Hội Công Giáo đã sống trong tình trạng thiếu hợp nhất đối với các tín lý “de fide” và sự thiếu hợp nhất này đã gia tăng hẳn do các vấn đề của Amoris Laetitia gây ra. Thứ ba, tác giả đề nghị một số gợi ý thực tiễn để cả hàng giáo phẩm lẫn hàng giáo dân có thể giải quyết cơn khủng hoảng này.

Các đối tượng đệ nhị đẳng của vô ngộ 

Các văn kiện của Công Đồng Vatican II dạy rằng Chúa Giêsu muốn thẩm quyền vô ngộ của Giáo Hội Công Giáo, khi bênh vực và giảng dậy các chân lý của mạc khải Thiên Chúa (cũng gọi là “kho tàng đức tin”) phải mở rộng không những tới các chân lý mạc khải chính thức, mà cả các chân lý nhất thiết có liên hệ với các chân lý của mạc khải Thiên Chúa, cho dù các chân lý này chưa bao giờ được đề xuất như là được mạc khải một cách chính thức. Các chân lý này có thể được giảng dậy cách vô ngộ vì chúng cần thiết đối với việc bảo vệ về tôn giáo và trình bầy cách trung thành các chân lý của mạc khải Thiên Chúa (Lumen Gentium, số 25). Các chân lý này, đôi khi, được gọi là “các đối tượng đệ nhị đẳng” của vô ngộ, tương phản với “các đối tượng đệ nhất đẳng” tức các chân lý được mạc khải chính thức.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong Tông Thư năm 1998 nói rằng Giáo Hội không những sở hữu các chân lý đệ nhất đẳng của mạc khải Thiên Chúa nhờ linh hứng của Chúa Thánh Thần, mà còn sở hữu các đối tượng đệ nhị đẳng của vô ngộ nhờ “linh hứng đặc thù của Thần Trí Thiên Chúa”. Trong lời chú giải của ngài, Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, lúc ấy là bộ trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, viết rằng khi so sánh với các tín lý được mạc khải chính thức, “không có sự khác nhau nào về đặc tính trọn vẹn và không thể thay đổi trong sự tín phục (assent) phải có đối với các giáo huấn này”. Đức Hồng Y Ratzinger quả quyết rằng sự tín phục dành cho các chân lý này “dựa vào đức tin nơi ơn trợ giúp của Chúa Thánh Thần đối với Huấn Quyền và dựa vào tín lý Công Giáo về ơn vô ngộ của Huấn Quyền”. Như thế, giống các chân lý được mạc khải chính thức, các chân lý này cũng phải được sự tín phục của đức tin, cho dù người ta hiểu rằng chúng không có sự trợ giúp của mạc khải Thiên Chúa.

Dù “tín lý de fide”, thông thường (chứ không luôn luôn), vốn dành cho các giáo huấn được Giáo Hội xác định là đã được mạc khải chính thức, nhưng điều không kém đúng là các giáo huấn Công Giáo chuyên biệt nói về các đối tượng đệ nhị đẳng của vô ngộ cũng là các tín lý de fide, như Đức Hồng Y Ratzinger từng gọi chúng: “các tín lý phải được tin bằng đức tin [de fide tenenda]”. Bộ Giáo Luật qui định rằng chúng “phải được chấp nhận và tin giữ một cách chắc chắn” và bất cứ ai bác bỏ chúng “là tự đặt mình vào thế chống lại giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo” (Điều 750 §2).

Các tín lý luân lý về tính dục và hôn nhân 

Các qui luật luân lý về tính dục và hôn nhân được Giáo Hội Công Giáo giảng dậy thuộc cả hai loại đối tượng đệ nhất và đệ nhị đẳng của vô ngộ. Các đối tượng đệ nhất đẳng bao gồm các chân lý được giảng dậy minh nhiên trong Mạc Khải Thiên Chúa, như cấm không được ngoại tình và đặc tính bất khả tiêu của hôn nhân; các đối tượng đệ nhị đẳng bao gồm các giáo huấn về tính dục và hôn nhân vốn được Giáo Hội giảng dậy từ thời các tông đồ như là phải tin một cách định tín (definitively). Những giáo huấn này, do cung cách chúng được đề xuất, phải được coi như là được giảng dậy một cách vô ngộ bởi Huấn Quyền Thông Thường và Phổ Quát của Giáo Hội, là thẩm quyền giảng dậy một cách vô ngộ khi các giám mục “dù tản mác khắp thế giới, nhưng vẫn duy trì sợi dây hiệp thông với nhau và với vị kế nhiệm Thánh Phêrô, giảng dậy một cách chân chính về một vấn đề đức tin và luân lý (res fidei et morum), nhất trí cùng một phán đoán (về vấn đề này) và giảng dậy phán đoán này như là phải được tin giữ một cách định tín (definitive tendendam)”.

Không thể có sự hoài nghi hữu lý nào về việc các giáo huấn của Giáo Hội về bối cảnh đặc biệt của hôn nhân dành cho việc biểu lộ tính dục dục quan chính đáng và tính sai lạc của mọi hình thức tính dục phi hôn nhân tự ý chọn lựa (như thủ dâm, giao hợp ngoài hôn nhân, các hành vi đồng tính luyến ái, các hành vi ngừa thai v.v…) vốn đã được các giám mục giảng dậy trong một nhất trí phổ quát, mọi thời và mọi nơi, rằng chúng rõ ràng liên hệ tới phúc lợi mau qua và trường cửu của tín hữu, và do đó phải tin giữ một cách định tín (definitive tendendam). Sự kiện người Công Giáo, trong các thời gần đây, bác bỏ một số hay tất cả các giáo huấn không hề đánh đổ sự kiện này: các điều kiện cho việc thi hành một cách vô ngộ Huấn Quyền Thông Thường và Phổ Quát đã hội đủ gần như suốt trong lịch sử lâu đời của Giáo Hội.

Thành thử, các chân lý căn bản của đạo đức tính dục được Giáo Hội Công Giáo giảng dậy và bảo vệ đều thuộc một cách hoặc trực tiếp (như các đối tượng đệ nhất đẳng) hoặc gián tiếp (như các đối tượng đệ nhị đẳng) vào kho tàng đức tin và do đó có thể gọi là, và thực sự là, các tín lý de fide.

Một ly giáo chưa được nhìn nhận trong Giáo Hội 

Brugger cho rằng, bắt đầu với việc bất thuận đối với việc Giáo Hội Công Giáo tái khẳng định giáo huấn cổ xưa của mình về sự sai lầm của việc giao hợp cố tình ngừa thai trong Humanae Vitae (1968), và diễn tiến qua việc chấp nhận rộng rãi lối lý luận thực dụng, gọi là “duy tỷ hiệu” (“proportionalist”), trong thần học luân lý Công Giáo của thập niên 1970, nhiều người Công Giáo bắt đầu bác bỏ sự hiện hữu của các hành động vốn xấu từ bản chất (nghĩa là các hành động không bao giờ hợp pháp về phương diện luân lý vì quyết định của chúng luôn mâu thuẫn triệt để với thiện ích của con người nhân bản). Điều này, theo lý, sẽ dẫn người ta tới việc bác bỏ các giáo huấn của Giáo Hội về tính sai lầm của mọi loại sinh hoạt tính dục mà truyền thống vốn coi là xấu từ bản chất. Việc bác bỏ này hiện hữu trong mọi bình diện của Giáo Hội Công Giáo, từ hàng giáo dân tới hàng giáo phẩm, và tỏ ra vừa cương quyết vừa ương ngạnh.

Giáo Hội Công Giáo, do đó, trong nhiều thập niên qua, đã hiện hữu trong một tình huống thiếu hợp nhất khách quan và trầm trọng về các vấn đề tín lý de fide. Nói cách khác, theo Brugger, Giáo Hội Công Giáo đã và đang sống trong trạng thái ly giáo trên thực tế (de facto).

Mơ hồ lẫn lộn, thiếu hợp nhất, và Amoris Laetitia

Theo Brugger, có sự mơ hồ lẫn lộn trong Giáo Hội Công Giáo về Tông Huấn Amoris Laetitia vì một số vị giám mục nói và đưa ra chính sách trong giáo phận của các ngài rằng các người ly dị tái hôn, trong một số trường hợp, có thể được lãnh nhận Phép Thánh Thể mà không cần phải cương quyết sống tiết dục hoàn toàn với người bạn tình của mình. Một số vị giám mục khác, vì muốn giữ sự liên tục với truyền thống Công Giáo, nên đã chủ trương rằng điều này không hợp pháp và không thể hợp pháp được.

Các vấn đề về tín lý de fide do các lối giải thích trái ngược nhau này tạo ra là tính sai lầm từ bản chất của việc ngoại tình và tính bất khả tiêu tuyệt đối của hôn nhân Kitô Giáo; cả hai tính này đều đã được quả quyết một cách vô ngộ bởi Thánh Kinh và Thánh Truyền. Nếu các tín lý này đúng, thì người nào đã ly dị mà lại tích cực về phương diện tính dục với một người khác không phải là người phối ngẫu hợp pháp của mình trong khi người này còn sống, là phạm tội ngoại tình.

Dù Đức Hồng Y Kasper, và các vị giám mục khác bênh vực việc cho phép những người ly dị tái hôn được rước lễ, có khẳng định tính sai lầm của ngoại tình và tính bất khả tiêu của hôn nhân, nhưng xem ra việc khẳng định của các vị này bất tương hợp với việc cho phép rước lễ mà họ vốn bênh vực. Vì không ai trong tình trạng làm bậy nghiêm trọng một cách khách quan tỏ tường nhưng không chịu ăn năn lại có thể được tự do lãnh nhận Thánh Thể, từ tay một linh mục hay một giám mục hay bất cứ ai khác, vì “tình trạng và hoàn cảnh sống của họ mâu thuẫn một cách khách quan với sự kết hợp yêu thương giữa Chúa Kitô và Giáo Hội vốn được Phép Thánh Thể biểu tượng và thể hiện” (Familiaris Consortio). Do đó, họ không được làm bất cứ điều gì sai lầm một cách khách quan.

Nhiều vị giám mục nhìn nhận sự mâu thuẫn trên và do đó chống lại việc cho phép rước lễ. Nhưng các vị khác tin rằng không có tranh chấp nào cả, nên đã cho rước lễ.

Như thế, hàng giáo phẩm hiện đang ở trong tình trạng thiếu hợp nhất một cách nghiêm trọng về các vấn đề thuộc kho tàng đức tin. Nói cách khác, Giáo Hội Công Giáo đang sống trong cảnh ly giáo trên thực tế. Sự tranh cãi chung quanh Amoris Laetitia không phải là nguyên nhân của sự thiếu hợp nhất này vì sự thiếu hợp nhất này vốn đã có từ nhiều thập niên qua. Nhưng cuộc tranh cãi này duy trì sự chia rẽ và làm cho sự chia rẽ ra sâu xa hơn một cách đáng kể. Nó làm sâu xa hơn vì Đức Giáo Hoàng đã bênh vực một lập trường ngược với giáo huấn muôn đời của Giáo Hội.

Các nghĩa vụ của Tòa Thánh 

Vậy Đức Thánh Cha phải làm gì? Theo Brugger, ngài nên chỉ thị cho Đức Hồng Y Müller của thánh bộ Giáo Lý Đức Tin trả lởi năm câu hỏi do các vị Hồng Y Brandmüller, Burke, Caffara, và Meisner đệ trình. Việc này sẽ giúp làm sáng tỏ một số mơ hồ lẫn lộn có hại do chương tám của Amoris Laetitia nêu ra. Sau đó, ngài nên giảng dậy một cách rõ ràng và có thẩm quyền điều gì là đúng trong các vấn đề có liên quan tới luân lý tính dục vốn khiến người ta hoài nghi và mơ hồ kể từ lúc bắt đầu triều giáo hoàng của ngài. Ngài nên dạy rằng mỗi và mọi cuộc hôn nhân Kitô đã hoàn hợp thì tuyệt đối bất khả tiêu; mọi hình thức tự ý làm tình ngoài hôn nhân đều luôn luôn sai lầm, nhất là ngoại tình, và cả các hành vi đồng tính luyến ái, ngừa thai, thủ dâm, gian dâm; giao hợp tính dục với một người không phải là người phối ngẫu hợp pháp của mình luôn luôn là ngoại tình; ai còn bị ràng buộc bởi sợi dây hôn phối và sống với một người khác theo kiểu vợ chồng, đều rơi vào tình trạng ngoại tình; và người như thế phải tự chế đừng Rước Lễ trừ khi và cho tới khi xưng thú ăn năn các hành vi lỗi lầm của mình và quyết tâm sống thanh khiết.

Sau cùng, biết rằng hàng giám mục đang chia rẽ về các tín lý de fide thuộc luân lý, ngài nên hướng dẫn các giám mục anh em của ngài thành thực đối diện với cuộc khủng hoảng lần này trong Giáo Hội và quyết tâm nhất định vượt qua nó. Ngài nên triệu tập một Thượng Hội Đồng mật chỉ bao gồm các giám mục thế giới mà thôi ở Assisi hay Castel Gandolfo hay tại một địa điểm khác, không bị ai chú ý, không truyền thông, không chuyên viên, không quan sát viên đại kết, … với chủ đề là sự hợp nhất hàng giám mục trong các vấn đề luân lý. Không nên giới hạn thời gian cho Thượng Hội Đồng này, cứ để nó kéo dài bao lâu cần thiết. Ngài nên ngỏ lời với các anh em của ngài trong tình bác ái, không la mắng hay bóng gió, về việc sẽ tai hại biết chừng nào cho phần rỗi các linh hồn khi các vị kế nhiệm các tông đồ không hợp nhất về các vấn đề de fide.

Brugger tha thiết mong rằng vừa như một người cha đối với con cái vừa như một người anh đối với anh em, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nên khuyên nhủ mọi người bỏ qua một bên các cử chỉ nhỏ mọn và không có tinh thần Kitô Giáo, mọi tật xấu và ngu muội tự ái, và mọi biểu hiện của tinh thần bè phái, ăn năn vì các chia rẽ mà các ngài đáng lẽ nên nói tới từ lâu, và cam kết dấn thân cho mục tiêu chung là hợp nhất hàng giám mục. Ngài nên để, chứ không chỉ nói sẽ để, cho các anh em giám mục của ngài tự do đề cập tới các vấn đề bất đồng mà không sợ bị trả đũa. Ngài nên dùng tính ấm áp Á Căn Đình ngoại hạng của ngài để thuyết phục anh em giám mục của ngài thực sự mong muốn hợp nhất trong hàng giám mục; thúc giục các ngài tự do và thành thực nói với nhau; và làm dễ dàng sự đồng thuận về bất cứ thỏa thuận nào cần đạt tới. Sự hợp nhất mà ngài đang cố gắng hướng tới, sự hợp nhất mà ngài nhấn mạnh không nên mở rộng quá các vấn đề thuộc kho tàng đức tin, bằng cách nhấn mạnh rằng Giáo Hội cho phép sự đa dạng ở mọi điều khác, và ngài là người đầu tiên phải làm gương điều này cho mọi anh em của ngài.

Sau cùng, Brugger tha thiết xin ngài sẵn lòng làm bất cứ điều gì cần thiết, kể cả hy sinh tính mạng, để làm dễ dàng nơi các giám mục Công Giáo lời khẩn cầu lúc gần chết mà Chúa Giêsu đã ngỏ cùng Cha của Người: “Xin cho chúng nên một”.

Các nghĩa vụ của tín hữu giáo dân 

Người giáo dân Công Giáo thì phải làm gì? Brugger nghĩ rằng họ nên đào luyện lương tâm của họ cho phù hợp với các chân lý luân lý định tín được Giáo Hội Công Giáo giảng dạy, nhất là các qui luật đạo đức tính dục và các giáo huấn về hôn nhân. Họ nên thấy rằng mọi qui luật tiêu cực (“ngươi đừng”) được Giáo Hội bênh vực nhất thiết hàm nghĩa một điều sự thiện tích cực được qui luật này bảo vệ và cổ vũ (thí dụ: ta không nên sát hại trẻ thơ vì sự sống là một sự thiện vĩ đại). Họ cần thấy hơn bao giờ hết rằng các giáo huấn về tính bất khả tiêu tuyệt đối của hôn nhân và việc ngăn cấm ngoại tình không phải là các qui luật của câu lạc bộ, mà là các chân lý luân lý hàm ý trong sự thiện vĩ đại của hôn nhân Kitô Giáo. Chúa Giêsu muốn hôn nhân là một sacramentum (dấu chỉ hay biểu tượng do Thiên Chúa thiết lập) của tình yêu tuyệt đối bất khả tiêu giữa Người và Giáo Hội; như thế, hôn nhân Kitô giáo một khi đã hoàn hợp thì tuyệt đối bất khả tiêu; ly dị không những sai, mà còn bất khả nữa: như Chúa Giêsu không thể nào ly dị khỏi Giáo Hội của Người thế nào, thì một người đàn ông cũng không thể ly dị khỏi người vợ đã thành sự của mình như vậy. Thành thử, nếu người này làm tình với bất cứ ai khác, vì bất cứ lý do gì, được xã hội chấp nhận ra sao, khi người vợ đã thành sự của họ còn sống, thì họ là người ngoại tình. Giống mọi tội khác, ngoại tình có thể tha thứ được; nhưng để được tha thứ, đòi phải ăn năn cách trọn (contrition) và cương quyết tránh xa tội lỗi. Đó là các chân lý luân lý Kitô Giáo; và chúng là các tín lý de fide của Giáo Hội Công Giáo.

Hơn nữa, theo Brugger, người Công Giáo không nên để cho nỗi lo lắng trước tình thế hiện nay làm lung lay đức tin của họ vào lời Chúa Giêsu hứa sẽ gìn giữ Giáo Hội khỏi các sai lầm đáng kết án và cung cấp cho ta con thuyền đáng tin cậy cho phần rỗi các linh hồn. Họ không nên rơi vào cơn cám dỗ của Wycliffe, Luther, hay Zwingli dùng các thất vọng của họ đối với các chức sắc của Giáo Hội, dù có lý, để chống lại chính Giáo Hội của Chúa Kitô. Họ nên hiểu ra rằng Giáo Hội từng chịu đau khổ từ bên ngoài và từ bên trong rất nhiều lần trong các thế kỷ, và so với các giai đoạn khác trong lịch sử, như thế kỷ thứ tư với lạc giáo Ariô, thế kỷ 14 với cuộc Đại Ly Giáo, Chế Độ Khủng Bố Pháp, Kulturkampf Đức, thì các nan đề của Giáo Hội hiện nay khá nhẹ.

Thêm vào đó, mọi người Công Giáo đã chịu phép rửa nên nhất quyết sống như một vị thánh. Chỉ một số rất ít các vị thánh được khắc hình trên các cửa sổ kính mầu. Số đông còn lại không bao giờ được chú ý hay nổi tiếng đủ để được bộ phong thánh của Rôma lưu tâm. Nhưng các ngài đã làm hết sức để biện phân và tuân theo ý Chúa Giêsu mỗi ngày, bằng cách quay lưng khỏi việc tự yêu mình cách sai lầm, khỏi tham vọng bác bỏ, thanh thản chấp nhận bị nhục mạ, ăn năn mọi tội lỗi biết được, nói không với mọi khuynh hướng nghĩ đến hoặc hành động dựa vào các thèm muốn tính dục ngoài hôn nhân, quay lưng khỏi những giận dữ vô chừng, và bác bỏ, bác bỏ, bác bỏ thứ ngôn ngữ xã hội phi Thiên Chúa về tính dục, phái tính, và hôn nhân do não trạng thế tục hiện đại cổ vũ.

Mọi người Công Giáo cần được xác tín rằng việc canh tân xã hội và Giáo Hội bắt đầu với chính họ. Trong lịch sử, canh tân hầu như chưa bao giờ diễn ra từ trên xuống dưới, từ ngôi vị giáo hoàng và Rôma, mà đúng hơn, từ dưới lên trên. Nó diễn ra khi các Kitô hữu nhất quyết sống thực đức tin vào Chúa Kitô và cố gắng học biết sức mạnh sự phục sinh của Người, kiên nhẫn chia sẻ các đau khổ của Người để có thể đạt tới sự phục sinh mà Người đã hứa hẹn.

Sau cùng, họ nên cầu nguyện cho sự hợp nhất của hàng giám mục.