Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn THĐ GIA ĐÌNH. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn THĐ GIA ĐÌNH. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 7 tháng 4, 2016

Thái độ đúng đắn trong việc chào đón tông huấn Amoris Laetitia

Thái độ đúng đắn trong việc chào đón tông huấn Amoris Laetitia

Tác giả: 
 Vũ Văn An

Trong mấy ngày qua, hai phe bảo thủ và cấp tiến trong Giáo Hội Công Giáo liên tiếp đưa ra nhiều “mong ước” đối với tông huấn Amoris Laetitia sắp được công bố vào ngày 8 tháng Tư này về chủ đề gia đình, dựa vào kết quả của hai thượng hội đồng năm 2014 và 2015.

Nhưng ít ai chịu lưu ý tới tài liệu và thư hướng dẫn đọc tông huấn trên của Văn Phòng Thượng Hội Đồng. Tài liệu và thư hướng dẫn này nhấn mạnh rằng Amoris Laetitia “trước nhất và trên hết là một văn kiện mục vụ” và là “lời mời gọi đối thoại”.

Tài liệu trên, do tờ National Catholic Reporter đưa tin, nói rằng “nói về gia đình và ngỏ lời với các gia đình, thách đố không phải là thay đổi tín lý mà là hội nhập văn hóa các nguyên tắc tổng quát cách nào đó để chúng được hiểu biết và đem ra thực hành”.

Nhân nói tới đối thoại, tài liệu nhấn mạnh rằng “viễn kiến của Đức Giáo Hoàng về xã hội có tính bao gồm. Việc bao gồm này liên quan tới cố gắng nhằm chấp nhận tính đa dạng, đối thoại với những người suy nghĩ khác (với ta), khuyến khích việc tham gia của những người có những khả năng khác”.

Tài liệu trên được gửi cho các vị giám mục cùng với các bản tóm lược các buổi yết kiến vào ngày thứ Tư gần đây về gia đình của Đức Phanxicô, và Thần Học Thân Xác của Đức Gioan Phaolô II; các tài liệu này được mô tả như “nguồn quan trọng” của Amoris Laetitia.

Joshua J. McElwee, khi đưa tin này, cho biết theo tài liệu trên, Đức Giáo Hoàng muốn Giáo Hội chấp nhận một chủ trương bao gồm mới đối với xã hội và phải làm sao để các tín lý “phục vụ sứ mệnh mục vụ” của mình. Ngài “khuyến khích không những một cuộc ‘canh tân’ mà còn hơn nữa, phải là một cuộc ‘hoán cải ngôn từ’ chân thực nữa”.

Tài liệu trên viết rằng “Tin Mừng không nên chỉ có tính lý thuyết, nó không được xa rời khỏi đời thực của người ta… Ngôn từ của chúng ta phải khích lệ và làm an tâm mọi bước đi tích cực của mọi gia đình chân chính”.

Tài liệu nói thêm rằng Đức Giáo Hoàng Phanxicô “muốn phát biểu bằng một ngôn từ thực sự tới tai người đọc, và điều này ngụ ý biện phân và đối thoại”. Về biện phân, tài liệu cho rằng phải “tránh việc coi các chân lý và quyết định là việc đương nhiên; nó buộc ta phải khảo sát và chấp nhận có ý thức các công thức của ta về chân lý và các quyết định ta đã chọn”.

Tài liệu viết tiếp: “Giống các vị tiền nhiệm của ngài, Đức Giáo Hoàng Phanxicô yêu cầu rằng là các mục tử, chúng ta phải biện phân giữa nhiều tình huống khác nhau mà các tín hữu và mọi người, mọi gia đình, mọi cá nhân từng trải nghiệm”.

"Biện phân… khích lệ ta phát triển từ tốt tới tốt hơn. Theo Thánh Inhaxiô thành Loyola, một trong các đặc điểm của biện phân là nhấn mạnh không những việc phải tính tới sự thật khách quan, mà cả việc phát biểu sự thật này bằng một tinh thần tốt lành, biết xây dựng”.

“Biện phân là cuộc đối thoại của các vị chăn chiên với Đấng Chăn Chiên Lành để luôn đi tìm phần rỗi các con chiên”.

Về đối thoại, tài liệu hướng dẫn cho rằng đối thoại “nghĩa là ta không nên… coi những điều ta suy nghĩ là đương nhiên, cả những điều người khác suy nghĩ cũng thế”.

Tài liệu cùng ngụ ý cho rằng tông huấn muốn nại tới 2 lạc giáo ngày xưa để phê phán những người sợ đối thoại. Tài liệu viết “Đức Phanxicô cho chúng ta thấy 2 loại người không thể đối thoại vì họ đều co rút hay co cụm vào chính họ. Một số người giản lược con người của họ vào điều họ biết hay cảm nhận mà thôi (ngài gọi họ là ‘ngộ đạo’); một số khác giản lược con người của họ vào các điểm mạnh của họ mà thôi (ngài gọi họ là ‘tân Pêlagiô’ = tự sức mình, không cần Thiên Chúa)”.

Nhưng “đối với văn hóa đối thoại, việc bao gồm mọi người là điều chủ yếu… Đức Giáo Hoàng gợi ý rằng ta nên minh nhiên hiện hữu trong cách thế hiểu Giáo Hội như thế này: như dân trung thành của Thiên Chúa”, một dân biết chấp nhận sự đa dạng, đối thoại và khuyến khích sự tham dự của những người khác với ta.

Tuy nhiên, tài liệu cũng có đoạn nhấn mạnh rằng “không nên giải thích ưu tư mục vụ như là chống đối luật lệ và việc chăm sóc mục vụ. Vì sự thật không hề trừu tượng; nó tự hoà nhập vào cuộc hành trình nhân bản và Kitô giáo của từng tín hữu”.

Tài liệu cho hay: “Chăm sóc mục vụ cũng không phải chỉ là việc áp dụng thần học thuần ngẫu nhiên thực tiễn. Ta không hề có ý định gồm tóm chăm sóc mục vụ vào tín lý mà thôi, nhưng duy trì ấn tích mục vụ nguyên thủy và cấu thành của tín lý”.

Tài liệu kết luận như sau: “ngôn từ của lòng thương xót là hiện thân của sự thật ở trong đời. Do đó, quan tâm của Đức Giáo Hoàng là tái cảnh huống hóa (re-contextualize) tín lý để phục vụ sứ mệnh mục vụ của Giáo Hội”.

Theo tài liệu này, “tín lý nên được giải thích trong tương quan với trọng điểm của sơ truyền (kerygma) Kitô Giáo và dưới ánh sáng của cảnh huống mục vụ nơi nó được áp dụng”. Vì dù gì, nguyên tắc của Bộ Giáo Luật vẫn có giá trị: “Phần rỗi các linh hồn, điều luôn là luật tối cao của Giáo Hội, phải được để trước mắt ta”.

Quan điểm của hai vị giáo phẩm Hoa Kỳ

Cũng trong mấy ngày qua, hai vị giáo phẩm cao cấp nhất của Giáo Hội Hoa Kỳ đã lên tiếng, giúp ta hiểu rõ hơn những điều vừa trình bầy ở phía trên.

Vị đầu tiên là Đức Hồng Y Timothy Dolan, Tổng Giám Mục New York. Tại Rôma gặp gỡ nhiều giới chức Tòa Thánh trước khi lên đường tới vùng người Kurd ở Iraq để bầy tỏ tình liên đới với các Kitô hữu bị bách hại ở đấy, Đức Hồng Y Dolan đã dành cho tạp chí Crux một cuộc phỏng vấn.

Trả lời câu nhận định cho rằng bất luận Đức Phanxicô nói gì trong Amoris Laetitia, nhiều người cũng sẽ không hài lòng, Đức Hồng Y Dolan trả lời rằng: thì ngay từ thuở đầu, đã có người không hài lòng với giáo huấn của Chúa Giêsu rồi. Sau đó, với Giáo Hội cũng vậy. Luôn có những cách nhìn sự vật khác nhau, những cách giải thích sự vật khác nhau. Bất chấp những điều này, “trong sứ điệp của Chúa Giêsu, vốn có sự rõ ràng và chính xác mà ta không được phá rối, và tôi không muốn phá rối, và tôi tin Đức Giáo Hoàng Phanxicô muốn phá rối. Sứ điệp tôi hy vọng sắp xuất hiện một cách trong trẻo trong tông huấn… là: một lần nữa, Giáo Hội, dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần, sẽ thành thực cố gắng trung thành với giáo huấn vượt thời gian của Chúa Giêsu, nhưng biết áp dụng giáo huấn này một cách đầy thương xót, hiểu biết, nhân hậu".

“Điều ấy không mới mẻ gì, vì tôi hy vọng ta vẫn đang cố làm điều ấy từ lâu. Tôi nghĩ hiện có chút kịch tính hơn trước, và được nhiều người chú ý tới nó hơn, vì nhân cách của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, người đã làm cho sự nhậy cảm mục vụ ấy thành tiêu điểm suốt ba năm qua".

“Tôi nghĩ điều bạn sắp sửa thấy sẽ là một phương thức Công Giáo cổ điển, minh bạch bảo vệ giáo huấn của Giáo Hội nhưng vẫn kêu gọi những phương cách sáng tạo để đem lòng thương xót của Thiên Chúa tới người ta”.

Theo Đức Hồng Y Dolan, thái độ đúng đắn nhất là khiêm nhường chăm chú (humble attentiveness): đọc, nghiên cứu, xem kỹ Đức Giáo Hoàng muốn nói gì, chứ không chỉ các tít lớn, những câu vừa lòng truyền thông (sounbites), dù là truyền thông đứng đắn như Crux!

Đạo Công Giáo, theo Đức Hồng Y, chỉ biến mạng (evolution) chứ không cách mạng. Giáo Hội không thay đổi để làm vừa lòng con người hiện nay. Nhưng nếu Tông Huấn, dựa vào tòa trong, cho phép người Công Giáo ly dị tái hôn rước lễ thì sao? Đức Hồng Y Dolan cho biết: ngài không dành nhiều thì giờ cho điều này. Thứ nhất, vì ngài nghĩ nó sẽ không diễn ra. Thứ hai, thực ra nó đã diễn ra bằng nhiều cách rồi.

Dĩ nhiên, vốn có một phương thức bảo thủ đối với giải pháp toà trong được các giáo luật gia và thần học gia bênh vực. Như Thánh Anphongsô Đệ Liguori chẳng hạn. Người ta chỉ sợ sự việc trở nên quá lỏng lẻo thôi.

Điều cũng khiến Đức Hồng Y Dolan quan tâm là giải pháp toà trong, dù rất quan trọng, nhưng đừng che khuất sự thật này: sứ mệnh chính và khẩn trương của Giáo Hội hiện nay là đề cao vẻ đẹp và cao quí của bí tích hôn nhân và đời sống gia đình, chứ không phải ly dị. Dù gì, những người Công Giáo ly dị tái hôn mà còn đi nhà thờ chỉ là số rất nhỏ.

Vị giáo phẩm cao cấp thứ hai của Hoa Kỳ là Đức Hồng Y Donald Wuerl của Washington D.C. Trong dịp tới thăm Học Viện Bắc Mỹ ở Rôma, ngài cũng đã lên tiếng với cùng một quan điểm như Đức Hồng Y Dolan. Vì dù Tông Huấn có cho phép người Công Giáo ly dị tái hôn rước lễ, dựa vào tòa trong, thì đây cũng không phải là cách mạng mục vụ gì. Vì thực ra, việc này đã được nhiều vị giải tội thực hiện rồi.

Về tín lý, Đức Hồng Y Wuerl cũng cho rằng “Tại tâm điểm giáo huấn của chúng ta là mạc khải của Chúa Giêsu Kitô. Giáo Hội cố gằng duy trì và bảo vệ mạc khải ấy bằng tín lý của mình. Nhưng tín lý cần được làm cho sống động, và việc này, đối với cộng đồng, mang hình thức giáo luật, còn đối với các cá nhân, nó mang hình thức thực hành mục vụ".

“Tôi nghĩ chúng ta sắp được thấy một việc làm tươi mát lại các đường hướng trên. Chúng ta biết giáo huấn là gì rồi, nhưng trong cả hai thượng hội đồng, ta luôn nghe nói rằng giáo huấn không y hệt như thực hành mục vụ. Tôi nghĩ chúng ta sắp được thấy điều đó trong văn kiện này…”

Theo Đức Hồng Y Wuerl, việc sử dụng tòa trong không hề là tiêu hôn trong tòa giải tội, cũng không phải là án vô hiệu, mà chỉ là gặp gỡ người ta một cách có ý thức tại nơi họ thấy họ hiện diện. Đây là thực hành mục vụ, một việc vốn đã có từ thuở đầu của Giáo Hội.

Thứ Ba, 2 tháng 2, 2016

Đức Phanxicô nói với Bộ Giáo Lý Đức Tin: nối kết lý thuyết với thực hành

Đức Phanxicô nói với Bộ Giáo Lý Đức Tin: nối kết lý thuyết với thực hành


 
Tác giả: 
 Vũ Văn An

Trong bài “Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng về Gia Đình sẽ được công bố vào tháng Ba này”, chúng tôi có nhắc đến việc Bộ Giáo Lý Đức Tin được hỏi ý kiến về bản dự thảo Tông Huấn và nhận định của nhiều người cho rằng dù góp rất nhiều ý kiến, nhưng rất có thể Đức Phanxicô sẽ không lấy ý kiến nào của Bộ này.

Nhận định trên dường như đã được củng cố vào ngày 29 tháng 1, khi ngài tiếp kiến Bộ này tại Vatican. Thực vậy, trong buổi tiếp kiến này, Đức Phanxicô đã tập chú vào chủ đề Năm Thương Xót, và cho hay: “Lòng thương xót là nền tảng của đời sống Giáo Hội: vì sự thật đầu tiên của Giáo Hội quả thực là tình yêu của Chúa Kitô”.

Ngài cho biết thêm: khi bảo vệ sự toàn vẹn của tín lý Kitô Giáo, Bộ Giáo Lý Đức Tin chủ yếu liên hệ với việc thương người về phần hồn (như lấy lời lành khuyên người, mở dạy kẻ mê muội, răn bảo kẻ có tội). Các việc này tự nhiên có liên hệ với việc giúp đỡ người nghèo và người túng thiếu về vật chất, qua các nối kết với cơ quan bác ái Kitô Giáo.

Ngài nhấn mạnh: “Quả thực, đức tin Kitô Giáo không phải chỉ là các nhận thức để học thuộc lòng, mà còn là sự thật để sống trong yêu thương”.

Để bảo toàn sự toàn vẹn ủa Đức Tin, Bộ Giáo Lý Đức Tin phải cố gắng bảo đảm sự tinh tuyền của tín lý nhưng cũng phải “bảo toàn cả sự toàn vẹn của phong hóa nữa”. Đức Tin vào Chúa Kitô bao gồm cả việc nhất trí về nhận thức mà còn phải đáp ứng về luân lý nữa.

Trong bài nói chuyện của ngài, Đức Phanxicô đề cập tới ba điểm: mối tương quan qua lại giữa các việc thương người về phần xác và về phần hồn; tầm quan trọng của tính hợp đoàn trong đời sống và việc cai quản Giáo Hội; mối tương quan bổ túc cho nhau giữa các ơn đặc sủng và các ơn phẩm trật trong đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội.

Sau đây là nguyên văn bài nói chuyện của Đức Thánh Cha:

Anh chị em thân mến,

Tôi gặp anh chị em lúc anh chị em kết thúc các việc làm trong buổi họp toàn thể. Tôi xin thân ái chào mừng anh chị em và cám ơn Đức Hồng Y Bộ Trưởng về những lời lẽ lịch sự của ngài.

Chúng ta đang trong Năm Thánh Lòng Thương Xót. Tôi hy vọng trong Năm Thánh này, mọi chi thể Giáo Hội sẽ canh tân đức tin của mình vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng là gương mặt của lòng Chúa Cha thương xót, là đường nối kết Thiên Chúa vói con người. Do đó, lòng thương xót tạo nên đầu cột (architrave) nâng đỡ đời sống Giáo Hội: sự thật đầu tiên của Giáo Hội, quả thực, là tình yêu của Chúa Kitô. Như thế, làm sao ta có thể không muốn toàn thể tín hữu Kitô Giáo, cả các mục tử lẫn các giáo dân, tái khám phá và đặt ở tâm điểm, suốt trong Năm Thánh này, các việc thương người về phần xác lẫn phần hồn? Và, khi hoàng hôn cuộc đời diễn ra, chúng ta sẽ bị chất vấn xem liệu ta có cho người đói ăn và cho người khát uống không, chúng ta cũng sẽ bị chất vấn xem liệu chúng ta có giúp đỡ người ta hết hoài nghi, chúng ta có cam kết tiếp nhận người tội lỗi, khuyên bảo và sửa trị họ hay không, chúng ta có khả năng chống u mê, nhất là liên quan tới đức tin Kitô Giáo và cuộc sống tốt. Lưu ý tới các việc thương người là điều quan trọng:  chúng không phải là việc sùng kính. Đây là tính cụ thể của việc các Kitô hữu phải thăng tiến tinh thần thương xót ra sao. Trong các năm này, có lần tôi tiếp đón một Phong Trào quan trọng tại Đại Sảnh Phaolô VI; phòng đầy người. Và tôi đề cập tới chủ đề các việc thương người. Tôi dừng lại và đặt câu hỏi: “Có ai trong anh chị em nhớ rõ các việc thương người về phần xác và về phần hồn là những việc gì không? Ai biết xin giơ tay”. Chỉ có khoảng 20 người trong số 7,000 người trong Đại Sảnh (giơ tay). Ta phải dạy lại các tín hữu về điều này, nó rất quan trọng.

Trong đức tin và đức mến, ta thấy có một mối tương quan có tính nhận thức và kết hợp với mầu nhiệm tình yêu, là chính Thiên Chúa. Và, dù Thiên Chúa vẫn luôn là một mầu nhiệm trong chính Người, lòng thương xót hữu hiệu của Người đã trở thành lòng thương xót đầy cảm xúc trong Chúa Giêsu, sau khi làm Người thành người để cứu chuộc loài người. Ở đây, trách vụ được ủy thác cho thánh bộ của anh chị em tìm được nền tảng tối hậu và sự biện minh riêng của nó. Thực vậy, đức tin Kitô Giáo không phải chỉ là nhận thức để lưu giữ trong ký ức, mà còn là sự thật để sống trong yêu thương. Do đó, cùng với Giáo Lý Đức Tin, điều cũng cần thiết là bảo vệ tính toàn vẹn của các phong hóa, nhất là trong các lãnh vực tế nhị nhất của đời sống. Sự gắn bó của Đức Tin vào con người Chúa Kitô bao hàm cả hành vi lý trí lẫn đáp ứng luân lý đối với các ơn phúc của Người. Về phương diện này, tôi cám ơn anh chị em về mọi cam kết và trách nhiệm mà anh chị em đang thừa hành trong việc xử lý các trường hợp giáo sĩ lạm dụng trẻ vị thành niên.

Săn sóc sự toàn vẹn của đức tin và phong hóa là một trách vụ tế nhị. Muốn thi hành sứ mệnh này cách tốt đẹp, điều quan trọng là phải có sự cam kết có tính hợp đoàn. Thánh bộ của anh chị em biết đánh giá rất cao sự đóng góp của các tham vấn viên và ủy nhiệm viên, những người tôi muốn cám ơn về việc làm qúy gía và khiêm nhường của họ; và tôi khuyến khích anh chị em tiếp tục thói quen xử lý các vấn đề trong các buổi họp hàng tuần của anh chị em và các vấn đề quan trọng hơn ở buổi họp thường lệ hay toàn thể. Tính hợp đoàn đúng đắn phải được phát huy ở mọi bình diện của đời sống Giáo Hội. Về phương diện này, năm ngoái, anh chị em đã tổ chức một hội nghị hợp thời, với các đại diện của Các Ủy Ban Tín Lý của Các Hội Đồng Giám Mục Âu Châu, để cùng hợp đoàn bàn luận một số thách đố về tín lý và mục vụ. Nhờ thế, anh chị em đã góp phần vào việc làm sống dậy nơi tín hữu một thúc đẩy truyền giáo mới và mở tâm hồn rộng hơn đón nhận chiều kích siêu việt của sự sống, mà nếu không có nó, Âu Châu sẽ liều mình đánh mất tinh thần nhân bản mà nó vốn yêu thích và bảo vệ. Tôi mời gọi anh chị em tăng cường hơn nữa sự cộng tác với các cơ quan cố vấn này, những cơ quan đang giúp các hội đồng giám mục và các giam mục cá thể trong mối lo âu của các ngài đối với tín lý thánh thiện, vào lúc có những thay đổi nhanh chóng và sự phức tạp mỗi ngày mỗi gia tăng trong các vấn đề.

Một đóng góp quan trọng khác nữa của anh chị em vào việc canh tân đời sống Giáo Hội là việc nghiên cứu tính bổ túc cho nhau giữa các ơn phúc phẩm trật và đặc sủng. Theo luận lý học hợp nhất trong dị biệt hợp pháp, một luận lý học từng định tính cho mọi hình thức hiệp thông chân chính trong Dân Chúa, các ơn phúc phẩm trật và đặc sủng được kêu gọi đồng công hiệp lực vì lợi ích của Giáo Hội và thế giới. Ngày nay, chứng từ của tính bổ túc cho nhau này càng khẩn thiết hơn bao giờ hết và nó nói lên một biểu thức hùng hồn của tính đa dạng có trật tự vốn bao hàm mọi cơ cấu Giáo Hội, như là phản ảnh sự hiệp thông hoà điệu nó vẫn sống trong trái tim Thiên Chúa, Thiên Chúa Duy Nhất và Ba Ngôi. Mối tương quan giữa các ơn phúc phẩm trật và đặc sủng quả nhắc ta nhớ tới cội rễ Ba Ngôi của nó, trong mối dây nối kết giữa Ngôi Lời Nhập Thể của Thiên Chúa và Chúa Thánh Thần, Đấng luôn là ơn phúc của Chúa Cha và Chúa Con. Quả thực, nếu cội rễ này được nhìn nhận và tiếp nhận với lòng khiêm nhường, nó sẽ giúp Giáo Hội có khả năng để mình được canh tân mọi thời mọi lúc như “một dân dẫn khởi được sự hợp nhất của mình từ sự hợp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” theo kiểu nói của Thánh Cyprianô (De Oratione Dominica, 23). Tính hợp nhất và tính đa dạng là dấu ấn của một Giáo Hội, nhờ được Chúa Thánh Thần linh hứng, đã có thể lên đường bằng những bước chân chắc chắn và trung thành hướng tới các mục tiêu mà Chúa Sống Lại đã chỉ cho mình xuyên suốt lịch sử. Ở đây, ta thấy rõ: một khi được hiểu chính xác, năng động tính hợp đoàn sẽ phát sinh ra từ việc hiệp thông và sẽ dẫn tới một việc hiệp thông còn được thể hiện, thâm hậu hóa và mở rộng hơn nữa để phục vụ đời sống và sứ mệnh của Dân Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến, Tôi cam đoan sẽ tưởng nhớ đến anh chị em trong lời cầu nguyện và tin tưởng anh chị em sẽ cầu nguyện cho tôi. Xin Chúa chúc lành cho anh chị em và xin Đức Mẹ che chở anh chị em.

Thứ Ba, 24 tháng 11, 2015

12*Thượng Hội Đồng về Gia Đình năm 2015, Tường Trình Sau Cùng, Phần III, chương 4

Thượng Hội Đồng về Gia Đình năm 2015, Tường Trình Sau Cùng, Phần III, chương 4


 
Tác giả: 
 Vũ Văn An

Chương 4

Gia đình và việc truyền giảng Tin Mừng
Linh đạo gia đình

87. Trong ơn gọi và sứ mệnh của nó, gia đình quả là một kho báu thực sự của Giáo Hội. Tuy nhiên, như Thánh Phaolô đã nói về Tin Mừng, “chúng tôi mang kho báu này trong những chiếc bình bằng đất” (2Cor 4:7). Đức Giáo Hoàng Phanxicô từng nói: ở cửa trước của gia đình “có viết ba chữ... ‘xin vui lòng’, ‘xin cám ơn’, ‘xin thứ lỗi’. Trên thực tế, những lời này mở đường cho gia đình sống tốt đẹp. Chúng là những lời đơn giản, nhưng đem ra thực hành thì không hề đơn giản chút nào! Chúng chứa đựng một sức mạnh lớn lao: sức mạnh bảo vệ gia đình, ngay cả lúc đang kinh qua hàng nghìn khó khăn và thử thách; trái lại, nếu thiếu chúng, gia đình sẽ từ từ nứt rạn và cuối cùng xụp đổ” (Đức Phanxicô, Yết Kiến Chung, 13 tháng Năm, 2015). Giáo huấn của các vị giáo hoàng mời gọi ta thâm hậu hóa sinh hoạt thiêng liêng của gia đình, bắt đầu với việc tái khám phá việc cầu nguyện trong gia đình và cùng nhau lắng nghe Lời Chúa, Lời từ đó phát sinh ra cam kết yêu thương. Thánh Thể là nguồn nuôi sống chính của sinh hoạt thiêng liêng trong gia đình, nhất là vào ngày của Chúa, ngày vốn là dấu chỉ việc ta bén rễ sâu vào cộng đồng Giáo Hội (xem Đức Gioan Phaolô II, Dies Domini, 52-66). Việc cầu nguyện trong gia đình, việc tham dự phụng vụ và việc thực hành lòng sùng kính bình dân và lòng tôn kính Đức Mẹ đều là các phương thế hữu hiệu để gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô và để gia đình truyền giảng Tin Mừng. Điều này làm nổi bật ơn gọi đặc biệt của vợ chồng trong việc biến sự thánh thiện của họ thành hiện thực qua cuộc sống lứa đôi, với ơn Chúa Thánh Thần, qua cả việc tham dự vào mầu nhiện thập giá Chúa Kitô, một mầu nhiệm sẽ biến các khó khăn và đau khổ của họ thành của lễ tình yêu.

88. Tình âu yếm là sợi dây hợp nhất cha mẹ với nhau và cha mẹ với con cái. Âu yếm là hân hoan cho đi và gợi nơi người khác tâm cảm được yêu thương. Nó được biểu thị qua cung cách đặc thù nhìn các giới hạn của người khác bằng một con mắt quan tâm nhậy cảm, nhất là khi các giới hạn này trở nên hiển nhiên cao độ. Cư xử một cách nhậy cảm và kính trọng là chữa lành các vết thương và phục hồi niềm hy vọng, giúp làm sống lại niềm tự tin nơi người khác. Tình âu yếm trong các liên hệ gia đình là nhân đức hàng ngày giúp ta vượt qua được các tranh chấp nội bộ và có tính tương quan. Về phương diện này, Đức Giáo Hoàng Phanxicô mời ta suy xét: “Ta có can đảm tiếp nhận một cách nhậy cảm các hoàn cảnh và các vấn đề khó khăn diễn ra quanh ta không hay thay vào đó, ta chỉ tiếp nhận các giải pháp vô ngã, tuy hữu hiệu nhưng không có được cái ấm áp của Tin Mừng? Thế giới ngày nay cần nhậy cảm xiết bao! Cần lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa, cần sự gần gũi của Người, cần sự âu yếm dịu dàng của Người biết chừng nào!” (Bài giảng Thánh Lễ Đêm Giáng Sinh, 24 tháng Muời Hai, 2014).

Gia đình như chủ thể của thừa tác mục vụ

89. Nếu gia đình Kitô hữu muốn mãi trung thành với sứ mệnh của mình, họ phải hiểu họ từ đâu phát sinh ra: họ không thể truyền giảng Tin Mừng nếu chính họ không được truyền giảng Tin Mừng. Sứ mệnh của gia đình bao hàm việc kết hợp giữa vợ chồng, việc dưỡng dục con cái, việc làm chứng cho bí tích, việc chuẩn bị hôn nhân cho các cặp khác và việc thân ái đồng hành với các cặp và các gia đình đang gặp khó khăn. Do đó, điều quan trọng là phải giúp gia đình có được sức mạnh truyền giảng tin mừng và dạy giáo lý. Về phương diện này, nên lưu ý tới việc đánh giá các cặp vợ chồng, các người mẹ người cha như những chủ thể tích cực của giáo lý, nhất là khi dạy dỗ con cái, trong việc cộng tác với các linh mục, các phó tế, vác vị tận hiến và các giáo lý viên. Sức mạnh này phải bắt đầu ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên của vợ chồng. Việc giáo lý trong gia đình sẽ giúp ích rất nhiều theo nghĩa đây là cách hữu hiệu để huấn luyện các cha mẹ trẻ và giúp họ ý thức được sứ mệnh truyền giảng Tin Mừng của họ đối với chính gia đình riêng của họ. Hơn nữa, điều chủ yếu là phải nhấn mạnh tới mối liên kết giữa kinh nghiệm gia đình và việc khai tâm Kitô Giáo. Toàn bộ cộng đồng Kitô hữu phải là nơi các gia đình phát sinh, nơi họ đến với nhau và dấn thân với nhau, đồng hành trong đức tin và chia sẻ các cách lớn lên và trao đổi hỗ tương.

90. Giáo Hội phải đem đến cho các gia đình một cảm thức thuộc về mình, một cảm thức “chúng tôi” trong đó không một chi thể nào bị lãng quên. Hãy khuyến khích mỗi người để họ phát triển các khả năng bản thân của họ bằng cách đem kế hoạch phục vụ Nước Thiên Chúa của đời họ tới chỗ sinh hoa kết trái. Mọi gia đình, khi đã hội nhập vào khung cảnh Giáo Hội, đều nên tái cảm nhận được niềm vui hiệp thông với các gia đình khác trong việc phục vụ ích chung của xã hội, trong việc cổ vũ một nền chính trị, một nền kinh tế và một nền văn hóa biết phục vụ gia đình, dù phải sử dụng đến mạng lưới xã hội và các phương tiện truyền thông. Hy vọng ta sẽ tạo ra được các cộng đồng nhỏ gồm nhiều gia đình làm chứng tá sống cho các giá trị Tin Mừng. Hiện nay ta cảm thấy việc cần phải chuẩn bị, huấn luyện và trao trách nhiệm cho một số gia đình để họ đồng hành với các gia đình khác trong việc sống lối sống Kitô Giáo. Những gia đình nào muốn hiến thân sống sứ mệnh “ad gentes” (truyền giáo dân ngoại) nên được ghi nhận và khuyến khích. Sau cùng, tầm quan trọng của việc phối hợp thừa tác vụ giới trẻ với việc chăm sóc mục vụ gia đình đã được nhấn mạnh.

Mối tương quan với các nền văn hóa và các định chế

91. Giáo Hội “nhờ sống trong nhiều điều kiện đa dạng của lịch sử, nên đã tiếp nhận nhiều khám phá của các nền văn hóa khác nhau để truyền bá và giải thích tin vui của Chúa Kitô trong việc rao giảng của mình cho mọi dân tộc, để khảo sát tỉ mỉ và hiểu biết tin vui này cách sâu xa hơn, và để phát biểu nó cách tốt hơn trong việc cử hành phụng vụ và trong đời sống đa dạng của cộng đồng tín hữu” (GS, 58). Do đó, điều quan trọng là phải lưu ý tới các nền văn hóa này và tôn trọng mỗi một nền văn đó trong tính độc đáo của nó. Thậm chí, ta còn cần nhắc lại lời Chân Phúc Phaolô từng viết “việc đứt đoạn giữa Tin Mừng và văn hóa chắc chắn là một thảm kịch của thời ta, cũng như nó đã là thảm kịch cho các thời đại khác. Do đó, ta phải dành mọi sức lực vào việc phúc âm hóa nền văn hóa, nói chính xác hơn, phải phúc âm hóa các nền văn hóa” (EN, 20). Thừa tác mục vụ hôn nhân và gia đình đòi phải biết đánh giá các yếu tố tích cực gặp được trong các kinh nghiệm tôn giáo và văn hóa khác nhau, vốn được coi như một “praeparatio evangelica” (chuẩn bị cho Tin Mừng). Tuy nhiên, trong cuộc gặp gỡ với các nền văn hóa, việc truyền giảng Tin Mừng nào biết lưu tâm tới việc cổ vũ gia đình về phương diện nhân bản đều buộc phải phê phán thẳng thừng các điều kiện văn hóa, xã hội, chính trị và kinh tế. Việc gia tăng quyền bá chủ của các lực lượng thị trường, một việc gia tăng đang ảnh hưởng tới không gian và thời gian của cuộc sống gia đình chân chính, cũng góp phần vào việc gia tăng kỳ thị, gia tăng nghèo đói, gia tăng loại trừ và bạo lực. Trong số các gia đình đang sống trong các điều kiện kinh tế thiếu thốn do thất nghiệp hay điều kiện làm việc bấp bênh hay do không được trợ giúp về y tế và xã hội gây ra, thường hay xẩy ra sự kiện này: một số gia đình, vì không thể nhận được tín dụng, nên đã trở thành nạn nhân của việc cho vay nặng lãi và đôi lúc, người ta thấy họ bị buộc phải mất nhà cửa, thậm chí mất cả con cái nữa. Trong bối cảnh này, có đề nghị cho rằng các cơ cấu kinh tế phải được tổ chức thỏa đáng để trợ giúp các gia đình này hay để cổ cổ vũ gia đình và tình liên đới trong xã hội.

92. Gia đình là tế bào đầu tiên và có tính sinh tử của xã hội (AA, 11). Nó cần phải khám phá ra ơn gọi của nó để nâng đỡ cuộc sống về mọi mặt của nó trong xã hội. Điều không thể thiếu đối với các gia đình, qua các hiệp hội của họ, là phải tìm ra các phương pháp để tương tác với các định chế chính trị, kinh tế và văn hóa, nhằm mục đích xây dựng một xã hội công chính hơn. Vì thế, cần phải khai triển việc đối thoại và hợp tác với các định chế xã hội và cần phải khuyến khích và hỗ trợ hàng ngũ giáo dân để họ dấn thân, trong tư cách Kitô hữu, vào lãnh vực chính trị xã hội. Đời sống chính trị phải đặc biệt tôn trọng nguyên tắc phụ đới và không được tước đoạt quyền lợi các gia đình. Về phương diện này, điều chủ yếu là suy nghĩ về “Hiến Chương Quyền Lợi Gia Đình” (xem Hội Đồng Giáo Hoàng về Gia Đình, 22 tháng 10, 1983) và “Tuyên Bố Phổ Quát về Các Nhân Quyền” (10 tháng 12, 1948). Đối với các Kitô hữu đang hoạt động trong chính trường, họ cần dành ưu tiên cho việc cam kết bảo vệ sự sống và gia đình, vì xã hội nào coi thường gia đình đều để mất viễn ảnh tương lai. Các hiệp hội gia đình, khi dấn thân làm việc chung với các truyền thống Kitô Giáo khác, đều có nhiều trách vụ chính yếu, trong đó có việc cổ vũ và bảo vệ sự sống và gia đình, cổ vũ tự do giáo dục và tự do tôn giáo, cổ vũ việc hòa hợp hóa giữa việc làm và thì giờ dành cho gia đình, cổ vũ việc bảo vệ phụ nữ và vâng phục lương tâm.

Sẵn sàng truyền giáo

93. Từ bản chất của nó, gia đình của những người đã chịu phép rửa đều là gia đình truyền giáo, và gia tăng đức tin của mình nhờ hành động đem đức tin đến cho người khác, trước nhất là cho con cái. Ngay hành động sống hiệp thông trong gia đình cũng đã là hình thức đầu tiên của truyền giáo rồi. Thực thế, việc truyền giảng Tin Mừng bắt đầu từ gia đình, trong đó, không những sự sống thể lý được lưu truyền, mà cả sự sống thiêng liêng nữa. Không được quên vai trò của ông bà trong việc lưu truyền đức tin và các thực hành tôn giáo: các ngài làm chứng cho các dây liên kết giữa các thế hệ, là những người bảo vệ các truyền thống khôn ngoan, việc cầu nguyện và làm gương sáng. Như thế, gia đình được thành lập như chủ thể của hành động mục vụ qua việc minh nhiên công bố Tin Mừng và thừa hưởng nhiều hình thức làm chứng tá: liên đới với người nghèo, cởi mở đối với các dị biệt giữa người ta, gìn giữ tạo thế, liên đới với các gia đình khác, nhất là những gia đình túng thiếu nhất, cả tinh thần lẫn vật chất, cả dấn thân cho việc cổ vũ ích chung bằng việc biến đổi các cơ cấu xã hội bất công, bắt đầu với khu vực họ sinh sống, tham gia các công việc thương người về tinh thần và thể xác.

KẾT LUẬN

94. Chúng tôi, các nghị phụ Thượng Hội Đồng, trong kỳ họp này, tụ hội trong hợp nhất quanh Đức Giáo Hoàng Phanxicô, đã cảm nhận được tình âu yếm và lời cầu nguyện của cả Giáo Hội, đã cùng tiến bước như các môn đệ Emmau và nhận ra sự hiện diện của Chúa Kitô nhờ bẻ bánh tại bàn Thánh Thể, trong sự hiệp thông huynh đệ, trong việc chia sẻ các kinh nghiệm mục vụ. Chúng tôi ước ao thành quả của công trình nay đã được đặt vào bàn tay của Vị Kế Nhiệm Thánh Phêrô này sẽ đem lại hy vọng và vui mừng cho vô vàn gia đình khắp thế giới, đem lại hướng dẫn cho các mục tử và nhân viên mục vụ cũng như đem lại đà thúc đẩy cho công trình truyền giảng Tin Mừng. Trong lúc đạt tới kết luận cho Bản Tường Trình này, chúng tôi khiêm nhường xin Đức Thánh Cha, nhân cơ hội này, ban hành một văn kiện về gia đình, để Chúa Kitô, ánh sáng thế gian, được rạng sáng trong nó, vốn là Giáo Hội tại gia.

Kinh Thánh Gia

Lạy Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse,
Nơi các ngài, chúng con được chiêm ngưỡng
vẻ sáng lạn của tình yêu đích thực,
chúng con tin tưởng chạy tới với các ngài.

Lạy Thánh Gia Thất Nadarét,
Xin ban ơn cho các gia đình chúng con
Cũng trở thành nơi hiệp thông và cầu nguyện,
trường chân chính của Tin Mừng
và các Giáo Hội nhỏ tại gia.

Lạy Thánh Gia Thất Nadarét,
Xin cho các gia đình chúng con đừng bao giờ
cảm nghiệm bạo lực, hất hủi và chia rẽ nữa:
xin cho tất cả những người bị thương tổn hay xúc phạm
tìm được an ủi và chữa lành tức khắc.

Lạy Thánh Gia Thất Nadarét,
Xin cho Thượng Hội Đồng Giám Mục sắp tới,
Làm chúng con, một lần nữa, biết lưu tâm
tới tính thánh thiêng và bất khả vi phạm của gia đình,
và vẻ đẹp của nó trong kế hoạch Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse,
Xin nhân từ nghe lời chúng con cầu xin.

Amen

Kết quả bỏ phiếu từng số trong Bản Tường Trình Sau Cùng Của Thượng Hội Đồng Giám Mục với Đức Thánh Cha Phanxicô

Con số các Nghị Phụ hiện diện: 277 (2 phần 3: 177)
Số phiếu trắng không được nhắc đến

 
Số       Đồng ý      Không đồng ý
1         260            0
2         257            0
3         255            1
4         256            2
5         256            3
6         249            9
7         248            9
8         245            9
9         254            4
10       253            7
11       256            1
12      253             5
13      255             5
14      256             5
15      255             5
16      254             8
17      259             1
18      258             1
19      255             5
20      257             3
21      256             4
22      252             4
23      253             4
24      255             5
25      242           15
26      256             2
27      251             9
28      257             4
29      249             8
30      250             7
31      253             7
32      249             6
33      246           12
34      245           11
35      259             2
36      256             3
37      252             6
38      251             5
39      255             3
40      255             6
41      253             7
42      257             2
43      254             6
44      247           11
45      249             6
46      254             5
47     246            11
48     253              6
49     253              5
50     252              6
51     250            11
52     252              5
53     244            15
54     236            21
55     243            14
56     248            10
57     257              2
58     247            14
59     258              3
60     259              1
61     254              7
62     259              0
63     237            21
64     247            11
65     252              7
66     258              0
67     259              0
68     253              3
69     236            21
70     213            47
71     218            42
72     229            29
73     236            24
74     223            36
75     205            52
76     221             37
77     247             11
78     250                8
79     246              14
80     253                6
81     253                7
82     244              16
83     248              12
84     187              72
85     178              80
86     190              64
87     255                3
88     252                4
89     257                2
90     255                5
91     248              12
92     256                4
93     255                2
94     253                5

Thượng Hội Đồng về Gia Đình năm 2015, Tường Trình Sau Cùng, Phần III, chương 3

11* Thượng Hội Đồng về Gia Đình năm 2015, Tường Trình Sau Cùng, Phần III, chương 3



Tác giả: 
 Vũ Văn An

Chương 3

Gia đình và việc đồng hành mục vụ
Các hoàn cảnh phức tạp

69. Như một sự kết hợp trung thành và bất khả tiêu giữa một người đàn ông và một người đàn bà, được mời gọi chấp nhận nhau và chấp nhận sự sống, bí tích hôn phối là một ơn phúc vĩ đại dành cho gia đình con người. Giáo Hội có được niềm vui và bổn phận công bố hồng ân này cho mọi người trong mọi hoàn cảnh. Ngày nay, mỗi ngày người ta càng ý thức được trách nhiệm phải đem các người đã chịu phép rửa tới chỗ tái khám việc ơn thánh Chúa hành động ra sao trong đời họ, ngay trong các hoàn cảnh khó khăn nhất, để đem họ tới chỗ viên mãn của bí tích. Dù vẫn đánh giá cao và luôn khuyến khích các gia đình tôn trọng vẻ đẹp của hôn nhân Kitô Giáo, Thượng Hội Đồng muốn thúc đẩy việc biện phân mục vụ các hoàn cảnh trong đó việc chấp nhận ơn phúc này đang gặp khó khăn trong việc đánh giá, thậm chí, trong một số hoàn cảnh, còn bị thương tổn nữa. Quả là một trách nhiệm nghiêm trọng khi phải duy trì cuộc đối thoại sinh động với các tín hữu này, khi phải tìm sự đồng thuận đối với việc làm thế nào có được sự suy nghĩ chín chắn đối với Tin Mừng hôn nhân và gia đình trong tính viên mãn của nó. Các mục tử phải nhận diện các yếu tố nào có lợi cho việc truyền giảng Tin Mừng và việc phát triển nhân bản và thiêng liêng cho những người Chúa đã ủy thác cho mình chăm sóc.

70. Quan tâm mục vụ cần phải trình bầy sứ điệp Tin Mừng một cách rõ ràng và thu thập các yếu tố tích cực trong các hoàn cảnh chưa đáp ứng được sứ điệp này, hay không hề đáp ứng nó chút nào. Tại nhiều quốc gia, con số những cặp sống chung nhưng không kết hôn với nhau, cả theo giáo luật lẫn theo dân luật, càng ngày càng gia tăng. Tại một số quốc gia, vẫn còn lối hôn nhân cổ truyền, do sự sắp xếp giữa hai gia đình và thường được cử hành trong nhiều giai đoạn khác nhau. Việc người ta chọn sống chung với nhau thường là do não trạng muốn chống đối các định chế và các cam kết dứt khoát nói chung, nhưng cũng có thể do việc muốn chờ một sự an toàn hơn cho cuộc sống (việc làm hay đồng lương ổn định). Cuối cùng, tại một số quốc gia khác, những cuộc kết hợp trên thực tế (de facto) đang phát triển nhanh chóng, không những chỉ vì muốn bác bỏ các giá trị gia đình và hôn nhân, mà còn vì việc kết hôn bị họ coi là hàng xa xỉ, do điều kiện xã hội, thành thử, sự thiếu thốn về xã hội đã buộc người ta phải kết hợp trên thực tế. Tất cả các hoàn cảnh này đều phải được ứng phó một cách xây dựng, tìm cách làm sao biến đổi chúng thành các dịp để hoán cải hướng tới sự viên mãn của hôn nhân và gia đình dưới ánh sáng Tin Mừng.

71. Việc quyết định kết hôn dân sự hay chỉ đơn giản sống chung với nhau thường không do sự thúc đẩy của thiên kiến hay đề kháng chống lại sự kết hợp bí tích, mà là do các xem xét văn hóa hay ngẫu nhiên mà ra. Trong nhiều hoàn cảnh, việc quyết định sống chung với nhau là dấu chỉ một liên hệ thực sự muốn tiến tới hướng ổn định. Một ý muốn như thế, nếu được biểu hiện bằng một sợi dây liên kết lâu bền, đáng tin cậy và sẵn sàng chào đón sự sống, thì ta có thể coi nó như một cam kết để mở đường tiến tới bí tích hôn phối, vì nghĩ rằng đây là kế hoạch Thiên Chúa dành cho đời họ. Ta nên khuyến khích con đường tiến tới này, một con đường có thể dẫn tới hôn nhân bí tích, nếu ta nhận ra các đặc điểm chân thực của một tình yêu đại lượng và bền vững: muốn tìm điều tốt cho người khác trước khi nghĩ đến quyền lợi của mình; kinh nghiệm tha thứ và được tha thứ; khát mong xây dựng một gia đình không tự khép kín, trái lại cởi mở đối với lợi ích của cộng đồng Giáo Hội và xã hội nói chung. Căn cứ vào con đường này, ta cần thừa nhận giá trị của các dấu chỉ yêu thương vừa kể, chúng thực sự phản ảnh tình yêu Thiên Chúa trong một cam kết hôn nhân chân chính.

72. Các vấn đề liên quan tới hôn nhân hỗn hợp đòi phải có sự quan tâm đặc biệt. Hôn nhân giữa người Công Giáo và người Kitô hữu đã rửa tội trong các Giáo Hội khác “ít nhất do diện mạo đặc thù của nó, cũng đem lại nhiều yếu tố để được đánh giá cao và trân qúy, hoặc vì giá trị nội tại của chúng hoặc vì các đóng góp của chúng cho phong trào đại kết”. Với một mục đích như thế, “nên tìm cách để có sự hợp tác chân tình giữa các thừa tác viên Công Giáo và không Công Giáo, từ lúc chuẩn bị kết hôn cho tới lúc kết hôn” (FC, 78). Về vấn đề chia sẻ Thánh Thể, ta nên nhớ rằng “quyết định cho phép hay không cho phép phía không Công Giáo rước lễ phải được xem xét theo các quy định chung hiện hành, cả đối với Kitô hữu Đông Phương lẫn các Kitô hữu khác, và có lưu ý tới hoàn cảnh đặc thù này là những người lãnh nhận bí tích hôn phối đều là các Kitô hữu đã rửa tội. Mặc dù vợ chồng của hôn nhân hỗn hợp cùng lãnh nhận bí tích rửa tội và bí tích hôn phối, nhưng việc chia sẻ Thánh Thể thì không có ngoại lệ và dù trong trường hợp nào, các qui định đã được đặt ra phải được tuân giữ...” (Hội Đồng Giáo Hoàng về Hợp Nhất Kitô Hữu, Chỉ Thị về việc Áp Dụng các Nguyên Tắc và các Qui Định Đại Kết, 25 tháng Ba, 1993, 159-160).

73. Các cuộc hôn nhân khác đạo giúp ta có môi trường rất tốt để đối thoại liên tôn trong cuộc sống hàng ngày, và có thể là dấu hiệu hy vọng cho các cộng đồng tôn giáo, nhất là trong các hoàn cảnh căng thẳng. Các cặp vợ chồng chia sẻ các kinh nghiệm tâm linh liên hệ, hay con đường đi tìm tôn giáo nếu một trong hai người là người chưa tin (xem 1 Cor 7:14). Nhưng các cuộc hôn nhân khác đạo này cũng đặt ra nhiều khó khăn đặc biệt, liên hệ cả tới căn tính gia đình lẫn việc dưỡng dục con cái. Các cặp vợ chồng được mời gọi phải thường xuyên biến đổi tâm tình lôi cuốn lúc ban đầu thành lòng thành thực ước muốn điều tốt cho người kia. Sự cởi mở này cũng biến đổi sự gắn bó tôn giáo thành một dịp để phong phú hóa phẩm chất tâm linh của mối liên hệ. Con số các gia đình phát xuất từ các cuộc hôn nhân khác đạo, hiện đang gia tăng ở cả các nước truyền giáo lẫn các nước có truyền thống Kitô Giáo lâu đời, đòi phải cung cấp một việc chăm sóc mục vụ dị biệt hóa tùy theo bối cảnh xã hội và văn hóa khác nhau. Tại một số quốc gia, nơi không có tự do tôn giáo, người phối ngẫu Kitô Giáo bị buộc phải qua tôn giáo của người kia mới có thể lấy nhau được, và không thể cử hành một hôn lễ khác đạo hoặc cho con cái rửa tội. Do đó, ta phải tái khẳng định việc tôn trọng tự do tôn giáo khi giao dịch với bất cứ ai.

74. Các cuộc hôn nhân hỗn hợp và khác đạo đem lại nhiều khía cạnh hứa hẹn phong phú đồng thời nhiều điểm gay go không dễ giải quyết, trên bình diện mục vụ hơn là bình diện quy phạm, như vấn đề giáo dục tôn giáo cho con cái, việc tham dự sinh hoạt phụng vụ của người phối ngẫu, việc chia sẻ các kinh nghiệm tâm linh. Để giải quyết một cách xây dựng các dị biệt thuộc phạm vi đức tin, điều chủ yếu là phải lưu ý đặc biệt tới những con người kết hợp nhau trong cuộc hôn nhân này, không phải chỉ trong thời kỳ trước hôn nhân mà thôi. Các cặp và các gia đình trong đó, một người phối ngẫu là Công Giáo còn người kia không có đức tin, đang gặp nhiều thách đố đặc biệt. Trong những trường hợp như thế, điều cần là phải làm chứng cho người ta thấy Tin Mừng có khả năng giải quyết các hoàn cảnh này cách tường tận, khiến cho việc dưỡng dục con cái trong đức tin trở nên khả hữu.

75. Rửa tội cho những người bị kẹt trong các hoàn cảnh hôn nhân phức tạp là một trong những điều rất khó khăn. Đây là những kết ước hôn nhân trong đó, ít nhất một trong hai người không biết gì về đức tin Kitô Giáo. Trong những trường hợp như thế, các vị giám mục được mời gọi thực hành biện phân mục vụ một cách thích đáng để giúp những người này về phương diện thiêng liêng.

76. Giáo Hội dựa vào Chúa Giêsu để lên khuôn quan điểm của mình. Người là Đấng, vì yêu thương vô hạn, đã hiến mình vì mọi người không trừ ai (MV, 12). Khi xử sự với các gia đình có người có khuynh hướng đồng tính luyến ái, Giáo Hội tái khẳng định điều này: mọi người, bất kể khuynh hướng tính dục bản thân, đều đáng được tôn trọng vì phẩm giá của họ và được chào đón cách tôn trọng, thận trọng tránh “bất cứ dèm pha có tính kỳ thị bất công nào” (Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Các xem xét liên quan tới việc thừa nhận hợp pháp các cuộc kết hợp đồng tính, 4). Phải dành cho việc đồng hành với các gia đình có người có khuynh hướng đồng tính một sự chăm sóc đặc thù. Đối với các kế hoạch nhằm công nhận tư thế bình đẳng về hôn nhân cho các cuộc kết hợp giữa những người đồng tính luyến ái, thì “không có bất cứ căn bản nào để so sánh hay thiết lập một loại suy nào, dù là xa xôi, giữa các cuộc kết hợp đồng tính và kế hoạch mà Thiên Chúa vốn dành cho hôn nhân và gia đình (vừa dẫn)". Thượng Hội Đồng chủ trương rằng không thể chấp nhận được việc các Giáo Hội địa phương nhường bước trước các áp lực về vấn đề này, cũng như việc các tổ chức quốc tế đặt điều kiện cho các nước nghèo phải ban hành các đạo luật thiết lập ra cuộc hôn nhân giữa những người cùng giới tính nếu muốn được trợ giúp về tài chánh.

Đồng hành trong các hoàn cảnh khác nhau

77. Bằng một chia sẻ đầy cảm xúc, Giáo Hội biến thành của mình các niềm vui và hy vọng, các đau đớn và lo âu của mọi gia đình. Đối với Giáo Hội, đứng cạnh các gia đình như một người đồng hành có nghĩa chấp nhận một thái độ biết khôn ngoan thích ứng: có lúc cần phải ở bên cạnh và im lặng lắng nghe; có lúc, cần tiến lên phía trước để chỉ đường phải đi; lại có lúc, phải đi phía sau, hỗ trợ và khích lệ. “Giáo Hội phải khai tâm các chi thể của mình, linh mục, tu sĩ và giáo dân, vào 'nghệ thuật đồng hành', để mọi người học được việc phải cởi giầy ra trước mảnh đất thánh thiêng là người khác (xem Xh 3:5). Ta nên đem vào nẻo đường đi một nhịp bước gần gũi bổ ích, với một cái nhìn kính cẩn và đầy cảm thương, nhưng đồng thời có tính chữa lành, giải thoát, và khuyến khích sự trưởng thành trong cuộc sống Kitô hữu” (EG, 169). Giáo xứ cung cấp sự chăm sóc mục vụ chính cho các gia đình vì giáo xứ là gia đình của các gia đình, trong đó, việc đóng góp của các cộng đồng nhỏ, các phong trào và hiệp hội trong Giáo Hội được thống nhất một cách nhịp nhàng. Việc đồng hành đòi phải có các linh mục được huấn luyện chuyên biệt, phải lập ra các viện chuyên môn để các linh mục, các tu sĩ và giáo dân học cách chăm sóc mọi gia đình, đặc biệt là các gia đình đang gặp khó khăn.

78. Một thừa tác vụ chuyên dành cho những người có mối liên hệ hôn nhân tan vỡ xem ra hết sức cấp thiết vào lúc này. Thảm kịch phân ly thường xuất hiện sau nhiều thời kỳ tranh chấp lâu dài, tạo đau khổ lớn lao trước nhất cho con cái. Cảnh cô lập của người phối ngẫu bị bỏ rơi, người thường bị bó buộc phải phá vỡ cuộc sống chung do bị liên tiếp hành hạ trầm trọng, đòi cộng đồng Kitô hữu phải chăm lo họ cách đặc biệt. Việc ngăn ngừa và chăm sóc đối với những người bị bạo hành trong gia đình đòi phải có sự hợp tác chặt chẽ với các nhà chức trách tư pháp để có hành động chống lại người gây ra tội ác và đem lại sự che chở thoả đáng cho các nạn nhân. Ngoài ra, điều chủ yếu là phải phát huy việc bảo vệ các trẻ vị thành niên khỏi bị lạm dụng tình dục. Xem ra cũng cần lưu ý tới các gia đình trong đó, một số thành viên theo đuổi các hoạt động có những đòi hỏi đặc thù, như những người trong quân ngũ chẳng hạn, là những người sống trong trạng thái xa cách về thể lý và vắng mặt khỏi gia đình lâu ngày, với mọi hậu quả phát sinh từ việc này. Rồi khi từ chiến tuyến trở về, họ còn thường chịu ảnh hưởng của hội chứng hậu chấn thương (post-traumatic syndrome) và bị bối rối trong lương tâm khiến họ gặp nhiều vấn nạn về luân lý. Thành thử ở đây, cần một loại chăm sóc mục vụ đặc thù đối với họ.

79. Kinh nghiệm thất bại hôn nhân luôn là một kinh nghiệm đau buồn đối với hết mọi người. Mặt khác, cũng sự thất bại này có thể trở thành một dịp để suy nghĩ, hoán cải và tin tưởng vào Thiên Chúa: Nhờ biết thừa nhận phần trách nhiệm của mình, mỗi người có thể tìm được tin tưởng và hy vọng nơi chính mình. “Từ trái tim Ba Ngôi, từ những thẳm sâu riêng tư nhất của mầu nhiệm Thiên Chúa, bật lên cho chúng ta và chẩy hoài không ngừng là con sông vĩ đại của lòng thương xót. Dòng suối này không bao giờ bị múc cạn đối với tất cả những ai lui tới với nó. Mỗi lần có ai cần, họ đều tới gần nó, vì lòng thương xót của Thiên Chúa là vô tận” (MV 25). Tha thứ cho một bất công mình phải chịu là điều không dễ dàng, nhưng đây là con đường nhờ ơn thánh mà trở thành khả hữu. Bởi thế, cần có thừa tác vụ hoán cải và hòa giải, thậm chí cần thiết lập tại các giáo phận các trung tâm chuyên biệt để lắng nghe và làm trung gian. Dù sao, cần phải cổ vũ công lý đối với mọi phía có liên hệ tới sự tan vỡ hôn nhân (các người phối ngẫu và con cái). Cộng đồng Kitô hữu và các mục tử của họ có nghĩa vụ yêu cầu các người phối ngẫu ly thân và ly dị đối xử với nhau một cách kính trọng và từ bi, trước hết vì lợi ích con cái, những người mà ta không nên chồng chất thêm đau khổ. Con cái không thể là đối tượng của tranh chấp, và phải tìm ra phương thế tốt nhất để chúng vượt qua được chấn thương gia đình ly tán và lớn lên một cách thanh thản bao nhiêu có thể. Dù sao, Giáo Hội cũng phải luôn nhấn mạnh tới nỗi bất công thường phát sinh từ hoàn cảnh do ly dị tạo nên.

80. Các gia đình chỉ có cha hoặc mẹ (gia đình có cha mẹ đơn lẻ) có những nguyên nhân khác hẳn: mẹ hoặc cha ruột (theo sinh học) chưa bao giờ muốn hòa nhập vào cuộc sống gia đình, các hoàn cảnh bạo hành khiến cha hay mẹ phải trốn chạy với các con, một người trong cha mẹ qua đời, cha hay mẹ bỏ bê gia đình, và nhiều hoàn cảnh khác nữa. Bất cứ do nguyên nhân nào, người cha hay người mẹ sống với đứa con luôn phải tìm sự nâng đỡ và an ủi từ các gia đình khác trong cộng đồng Kitô hữu, và từ cả các cơ cấu mục vụ của giáo xứ. Phân tích cho cùng, các gia đình này thường chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các vấn đề kinh tế, bởi sự bất trắc, không an toàn về việc làm, bởi khó khăn trong việc bảo dưỡng con cái, bởi việc không có nhà ở. Cũng cần phải có một sự lo lắng mục vụ y như thế đối với những người góa bụa, các bà mẹ vẫn còn là thiếu niên và con cái họ.

81. Bất cứ khi nào các cặp vợ chồng gặp vấn đề trong mối liên hệ của họ, họ cũng nên có thể trông nhờ sự giúp đỡ và đồng hành của Giáo Hội. Kinh nghiệm cho thấy: với sự trợ giúp thích đáng và với hành động hòa giải của ơn Chúa Thánh Thần, đa số các cuộc khủng hoảng hôn nhân đã được vuợt qua cách thỏa đáng. Biết cách tha thứ và cảm nhận được sự tha thứ là kinh nghiệm nền tảng của cuộc sống gia đình. Sự tha thứ giữa vợ chồng với nhau giúp ta khám phá ra sự thật sau đây của tình yêu: nó hiện hữu mãi mãi, không bao giờ chấm dứt (xem 1Cor 13:8). Trong lãnh vực liên hệ bản thân, nhu cầu hoà giải gần như là chuyện xẩy ra hàng ngày. Các hiểu lầm do các liên hệ với gia đình gốc gây ra, sự tranh chấp giữa các phong tục văn hóa và dị biệt tôn giáo, các khác nhau trong việc dưỡng dục con cái, lo lắng trước các khó khăn kinh tế, các căng thẳng phát sinh từ việc mất việc làm, là một số nguyên nhân thường xuyên tạo ra căng thẳng và tranh chấp. Nghệ thuật chăm chỉ hòa giải, một nghệ thuật đòi có sự trợ giúp của ơn thánh, cần sự hợp tác đại lượng của cha mẹ, bạn bè, và đôi khi của người ngoài nữa. Trong những trường hợp đau lòng hơn, như bất trung chẳng hạn, thì cần phải có cố gắng đền bồi thực sự và thành thực, để đặt mình vào cung cách suy nghĩ đúng đắn. Một đoan hứa bị thương có thể được chữa lành trở lại: Ngay lúc khởi sự chuẩn bị kết hôn, nên có bài dạy về niềm hy vọng này. Hành động của Chúa Thánh Thần là điều nền tảng trong việc chăm sóc các gia đình và các cá nhân bị thương; ngoài ra cần lãnh nhận bí tích Hòa Giải, và được các thừa tác viên có kỹ năng đồng hành trong hành trình thiêng liêng.

82. Đối với số lớn các tín hữu từng kinh qua cuộc hôn nhân bất hạnh, việc tuyên bố hôn nhân vô hiệu là con đường nên theo. Hai Tự Sắc Mitis Iudex Dominus Jesus và Mitis et Misericors Jesusmới đây đã dẫn đến việc đơn giản hóa các diễn trình tuyên bố hôn nhân vô hiệu. Với các bản văn này, Đức Thánh Cha cũng muốn “nói rõ rằng chính vị giám mục, trong Giáo Hội của ngài, một Giáo Hội ngài được cử nhiệm làm mục tử và làm người đứng đầu, do chính sự kiện này, là quan tòa của các tín hữu đã được ủy thác cho ngài” (MI, Nhập đề, III). Việc thi hành các văn kiện này là trách nhiệm quan trọng của vị bản quyền giáo phận; vị này được mời gọi phán xử một số trường hợp, để tín hữu dễ dàng tìm được công lý hơn. Việc này đòi phải có sự chuẩn bị để có đủ số nhân viên, gồm cả giáo sĩ lẫn giáo dân; những người này phải được ưu tiên dành cho phận vụ này trong Giáo Hội. Do đó, điều bó buộc là giúp các người đã ly thân hay các gia đình đang gặp khủng hoảng có thể sử dụng được các dịch vụ thông tin, huấn đạo và làm trung gian, liên kết với việc chăm sóc mục vụ cho gia đình, thậm chí các dịch vụ này còn có thể tiếp đón người ta trong các cuộc điều tra sơ khởi về diễn trình hôn phối.

83. Chứng tá của những người, dù trong các hoàn cảnh khó khăn, vẫn không bước vào cuộc kết hợp mới, vẫn trung thành với sợi dây bí tích, đáng được Giáo Hội đánh giá cao và hỗ trợ. Giáo Hội muốn bày tỏ với họ gương mặt của một Thiên Chúa trung thành với tình yêu của Người và luôn sẵn sàng phục hồi sức mạnh và niềm hy vọng. Những người đã ly thân hay ly dị nhưng không tái hôn, là các chứng tá của lòng chung thủy vợ chồng, và phải được khích lệ trong việc tìm của nuôi dưỡng trạng thái sống của họ nơi Thánh Thể.

Biện phân và hội nhập

84. Những người đã rửa tội ly dị và tái hôn dân sự nên được hội nhập nhiều hơn vào các cộng đồng Kitô Giáo theo nhiều cách có thể, tránh mọi dịp gây gương xấu. Luận lý học của việc hội nhập này là chìa khóa cho việc đồng hành mục vụ với họ, không những để họ thấy họ vẫn thuộc về Nhiệm Thể Chúa Kitô là Giáo Hội, mà còn để họ có được một cảm nghiệm hân hoan và sinh hoa trái trong Nhiệm Thể ấy. Họ là người đã rửa tội, họ là anh chị em, Chúa Thánh Thần tuôn đổ các ơn phúc và đặc sủng vào trong họ để sinh ích cho mọi người. Sự tham dự của họ có thể được phát biểu trong nhiều việc phục vụ khác nhau trong Giáo Hội: nên Giáo Hội phải biện phân xem có thể hủy bỏ những hình thức nào trong số các hình thức loại trừ đang được áp dụng trong sinh hoạt phụng vụ, mục vụ, giáo dục và định chế. Không những họ không nên tự coi mình như bị tuyệt thông, mà họ còn cần được sống và lớn mạnh như các chi thể sống động của Giáo Hội, cảm nghiệm Giáo Hội như mẹ hiền vẫn đang đồng hành với họ, săn sóc họ một cách âu yếm, và khích lệ họ trên đường đời và đường Tin Mừng.

Việc hội nhập này cũng cần thiết đối với việc săn sóc và giáo dục con cái họ, vốn phải được coi là quan trọng nhất. Đối với cộng đồng Kitô Giáo, săn sóc những người này không làm suy yếu đức tin và chứng tá của Giáo Hội đối với tính bất khả tiêu của hôn nhân; đúng hơn, trong việc săn sóc này, Giáo Hội nói lên tình bác ái của mình một cách thích đáng.

85. Thánh Gioan Phaolô II đã cho ta một tiêu chuẩn toàn bộ, một tiêu chuẩn vẫn là căn bản cho việc đánh giá các hoàn cảnh này: “Các mục tử phải biết rằng, vì lợi ích của sự thật, các ngài buộc phải thi hành việc biện phân các hoàn cảnh một cách thận trọng. Thực vậy, có sự khác nhau giữa những người thành thực cố gắng muốn cứu cuộc hôn nhân thứ nhất của họ và bị bỏ rơi một cách bất công, và những người, vì lỗi lầm nặng nề của mình, đã hủy diệt cuộc hôn nhân thành sự theo giáo luật. Sau cùng, có những người bước vào cuộc kết hợp thứ hai chỉ vì muốn dưỡng dục con cái, và những người, về phương diện chủ quan, đôi khi biết chắc trong lương tâm rằng cuộc hôn nhân trước và đã bị huỷ diệt một cách vô phương cứu chữa chưa bao giờ thành sự cả” [Familiaris Consortio 84]. Bởi thế, bổn phận của các linh mục là đồng hành với những người liên hệ trên con đường họ biện phân theo giáo huấn của Giáo Hội và sự hướng dẫn của vị giám mục. Trong diễn trình này, điều hữu ích là thực thi việc xét mình trong những lúc suy gẫm và thống hối. Người ly dị và tái hôn phải tự hỏi mình xem mình đã cư xử ra sao với con cái khi cuộc khủng hoảng bắt đầu xẩy ra với cuộc hôn nhân đầu; họ có thực hiện các cố gắng hòa giải hay không; tình huống người bạn đời bị bỏ rơi ra sao; các hậu quả của mối liên hệ mới như thế nào đối với những người khác trong gia đình và đối với cộng đồng tín hữu; và mẫu gương nào đã được dành cho các người trẻ đang chuẩn bị kết hôn. Một suy gẫm thành thực có thể tăng cường niềm tín thác vào lòng thương xót của Thiên Chúa, một lòng thương xót không bị từ khước cho bất cứ ai.

Ngoài ra, điều không thể chối cãi được là: trong một số hoàn cảnh, “Việc quy lỗi và quy trách nhiệm đối với một hành động có thể được giảm bớt hay xóa bỏ” [Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo, số 1735] do nhiều điều kiện khác nhau. Thành thử, phán kết về một hoàn cảnh khách quan không nhất thiết dẫn tới một phán kết về việc “qui lỗi chủ quan” [Ủy Ban Giáo Hoàng về Các Bản Văn Luật Pháp, Tuyên Bố ngày 24 tháng Sáu, năm 2000, số 2a].

Trong một số hoàn cảnh, người ta rất khó có thể hành động khác đi. Cho nên, dù vẫn duy trì qui luật tổng quát, nhưng cần phải thừa nhận rằng trách nhiệm đối với một hành động hay một quyết đình nào đó không như nhau trong mọi trường hợp. Dù vẫn phải lưu ý tới việc đào tạo lương tâm thích đáng nơi người ta, nhưng việc đồng hành mục vụ phải dự liệu các hoàn cảnh này. Hậu quả của các hành vi không nhất thiết phải như nhau trong mọi trường hợp.

86. Diễn trình đồng hành và biện phân sẽ hướng dẫn các tín hữu này tới việc xét lương tâm đối với hoàn cảnh của họ trước mặt Thiên Chúa. Đàm đạo với một linh mục ở tòa trong sẽ góp phần vào việc đào tạo một phán đoán đúng về điều hiện đang ngăn cản khả thể được sống trọn vẹn hơn trong Giáo Hội và về các biện pháp có thể gây thuận lợi và phát huy việc phát triển này. Xét vì trong cùng một lề luật, không hề có sự tiệm tiến [Familiaris Consortio số 34], nên việc biện phân này không thể không xét tới các đòi hỏi của Tin Mừng về chân lý và bác ái được Giáo Hội trình bầy. Để việc này có thể diễn ra, các điều kiện cần thiết về khiêm nhường, thận trọng, và kính yêu Giáo Hội và giáo huấn Giáo Hội phải được bảo đảm, trong việc thành thực tìm kiếm thánh ý Chúa và trong ước nguyện đạt tới một đáp ứng tốt nhất có thể có đối với thánh ý này.

Còn tiếp

Thứ Hai, 23 tháng 11, 2015

10*Thượng Hội Đồng về Gia Đình năm 2015, Tường Trình Sau Cùng, Phần III, chương 2

10 * Thượng Hội Đồng về Gia Đình năm 2015, Tường Trình Sau Cùng, Phần III, chương 2



Tác giả: 
 Vũ Văn An

Chương 2

Gia đình, sinh sản, dưỡng dục
Việc truyền sinh

62. Sự hiện diện của nhiều gia đình trong Giáo Hội là một ơn phúc đối với cộng đồng Kitô hữu và đối với xã hội, vì việc chào dón sự sống vốn là một đòi hỏi nội tại của tình yêu vợ chồng. Về phương diện này, Giáo Hội bầy tỏ lòng thành thực biết ơn các gia đình đã chào đón, nuôi dưỡng, âu yếm bảo bọc và truyền thụ đức tin cho con cái mình, nhất là các gia đình mỏng manh và có con cái khuyết tật. Các trẻ em này, sinh ra với các nhu cầu đặc biệt, khiến Chúa Kitô thương yêu và Giáo Hội buộc phải bảo vệ như một ơn phúc. Bất hạnh thay, hiện đang có não trạng phổ quát muốn giảm thiểu việc sinh ra sự sống mới, chỉ để thoả mãn bản thân của cặp vợ chồng. Các nhân tố kinh tế, văn hóa và giáo dục đang áp đặt một gánh nặng, đôi khi có tính quyết định, tạo nên một sa sút đáng kể về sinh suất, làm suy yếu cơ cấu xã hội, đặt thành nghi vấn mối liên hệ giữa các thế hệ và khiến người ta có cái nhìn không chắc chắn đối với tương lai. Về phương diện này, điều quan trọng là bắt đầu lắng nghe người ta và đưa ra các lý lẽ bênh vực vẻ đẹp và sự thật của việc chào đón sự sống vô điều kiện, vì điều này được tình yêu con người cần đến để có thể sống một cách viên mãn. Ở đây, ta thấy sự cần thiết phải quảng bá các tuyên bố có tính giáo huấn của Huấn Quyền Giáo Hội nhằm cổ vũ nền văn hóa sự sống. Việc chăm sóc mục vụ cho gia đình mỗi ngày mỗi đòi các chuyên viên Công Giáo thuộc lãnh vực y sinh học phải can dự nhiều hơn vào các khóa tiền hôn nhân và vào việc đồng hành với các cặp vợ chồng.

Trách nhiệm sinh sản

63. Phù hợp với trật tự tạo dựng, tình yêu vợ chồng giữa một người đàn ông và một người đàn bà và việc truyền sinh đã được sắp đặt cho nhau (xem St 1:27-28). Nhờ cách này, Đấng Tạo Hóa đã biến người đàn ông và người đàn bà thành những người tham dự vào công trình sáng tạo của Người, và đồng thời biến họ thành dụng cụ tình yêu của Người, ủy thác cho họ trách nhiệm đối với tương lai nhân loại qua việc lưu truyền sự sống con người. Vợ chồng phải cởi mở đón chào sự sống, đào tạo lối suy luận đúng đắn “biết nhìn ra thiện ích riêng của mình và thiện ích của con cái, cả những đứa đã sinh ra và những đứa đang được dự trù, biết biện phân các điều kiện vật chất và tinh thần về thì giờ và hoàn cảnh sống của họ, và luôn lưu ý tới thiện ích của cộng đồng gia đình, của xã hội con người và của Giáo Hội” (GS 50; cf. VS, 54-66). Phù hợp với đặc điểm bản vị và hoàn toàn nhân bản của tình yêu vợ chồng, cách đúng đắn để kế hoạch hóa gia đình là đồng thuận đối thoại giữa vợ chồng, tôn trọng thì giờ và quan tâm tới phẩm giá người bạn đời. Trong bối cảnh này, người ta nên đọc lại Thông Điệp Humanae Vitae (xem các số 10-14) và Tông Huấn Familiaris Consortio (xem các số 14; 28-35) để đánh thức khuynh hướng biết sống ngược với não trạng phản sự sống hiện nay. Nhờ thế, việc cởi mở đón chào sự sống có thể lớn mạnh trong gia đình, trong Giáo Hội và trong xã hội. Qua nhiều định chế dành cho trẻ em, Giáo Hội có thể góp phần tạo ra một xã hội và cả một cộng đồng đức tin biết lấy đứa con làm thước đo. Lòng can đảm truyền sinh sẽ được tăng cường một cách đáng kể ở những nơi biết tạo ra bầu không khí thích đáng cho trẻ em, trong đó người ta sẵn sàng giúp đỡ và đồng hành với những người có trách nhiệm dưỡng nuôi con cái (sự hợp tác giữa các giáo xứ, các cha mẹ và các gia đình).

Quyết định sinh sản con cái có trách nhiệm giả thiết phải có việc đào tạo lương tâm, vốn là “tâm điểm thâm sâu nhất và là cung thánh của một con người, trong đó, họ một mình hiện diện với Thiên Chúa; tiếng của Người vang lên trong họ” (GS, 16). Vợ chồng càng cố gắng lắng nghe Lời Chúa và các giới răn của Người trong lương tâm (xem Rm 2:15), và được đồng hành về thiêng liêng, thì quyết định của họ càng thoát được tính chủ quan và khuynh hướng mốn chiều theo lối sống của những người chung quanh. Vì tình yêu đối với phẩm giá lương tâm, Giáo Hội mạnh mẽ bác bỏ các can thiệp cưỡng bức của Nhà Nước nhằm ủng hộ việc ngừa thai, triệt sản hay thẳng thừng phá thai. Cần phải khuyến khích việc sử dụng các phương pháp dựa trên “chu kỳ của khả năng sinh nở tự nhiên”. Việc khuyến khích này nên nhấn mạnh điều sau: “các phương pháp này tôn trọng thân xác vợ chồng, khích lệ tình âu yếm giữa họ và có lợi cho việc dưỡng dục đúng nghĩa” (CCC, 2370). Có bằng chứng lâu đời cho thấy: con cái là quà phúc kỳ diệu của Thiên Chúa, là niềm hân hoan của cha mẹ và của Giáo Hội. Qua chúng, Thiên Chúa canh tân bộ mặt thế giới.

Giá trị của sự sống trong mọi giai đoạn của nó

64. Sự sống là ơn phúc Chúa Ban và là một mầu nhiệm vượt quá chúng ta. Bởi thế, không thể có việc vứt bỏ những sự sống mới bắt đầu cũng như sự sống ở giai đoạn cuối đời. Trái lại, điều chủ yếu là phải dành cho những giai đoạn này một sự chăm sóc đặc biệt. Ngày nay, “Hữu thể nhân bản” rất đễ “bị coi như một món hàng tiêu thụ ngay trong nó, một món hàng có thể được sử dụng rồi quăng bỏ. Chúng ta đã để cho nền văn hóa ‘vứt bỏ’ phát triển, thậm chí còn được cổ vũ nữa” (EG, 53). Về phương diện này, được sự nâng đỡ của toàn bộ xã hội, gia đình có bổn phận chào đón sự sống sắp sửa sinh ra và chăm sóc sự sống này cho tới các giai đoạn sau cùng của nó. Còn về thảm kịch phá thai, trước nhất Giáo Hội quả quyết đặc tính thánh thiêng và bất khả xâm phạm của sự sống con người và dấn thân nhất quyết hành động để bênh vực sự sống này (xem EV, 58). Nhờ các định chế của mình, Giáo Hội cung cấp huấn đạo cho những người mang thai, nâng đỡ các bà mẹ thiếu niên, giúp đỡ các hài nhi bị bỏ rơi, và gần gũi những người đã phá thai. Giáo Hội nhắc các nhân viên trong lãnh vực y tế nhớ nghĩa vụ luân lý của họ là phải phản đối lương tâm. Đồng thời, Giáo Hội không chỉ cảm thấy phải cấp thời khẳng định quyền được chết tự nhiên, tránh lối điều trị tàn nhẫn và an tử, mà còn săn sóc người cao niên, che chở những người có khuyết tật, trợ giúp những người bệnh sắp chết, an ủi những người đang hấp hối, và cương quyết bác bỏ án tử hình (xem CCC, 2258).

Nhận con nuôi và nuôi trẻ

65. Việc nhận con nuôi, nhận trẻ mồ côi và các trẻ em bị bỏ rơi, nhận chúng như con cái của chính mình, trong tinh thần Tin Mừng, quả đả mang lấy vai trò tông đồ gia đình đích thực (xem AA, 11), và vốn được Huấn Quyền kêu gọi và khuyến khích nhiều lần (xem FC, 41; EV, 93). Quyết định nhận con nuôi và nuôi trẻ (fostering) nói lên một loại sinh hoa trái đặc thù, vượt lên trên và vượt quá các trường hợp hiếm muộc đáng buồn. Một quyết định như thế biểu thị hùng hồn cho việc chào đón có tính sinh sản, cho chứng tá đức tin và cho việc nên trọn của tình yêu. Nó phục hồi phẩm giá hỗ tương cho sợi dây từng bị bẻ gẫy: cho các vợ chồng không có con và cho những đứa con không có cha mẹ. Bởi thế, cần phải hỗ trợ mọi sáng kiến nhằm làm cho thủ tục nhận con nuôi được dễ dàng hơn. Việc buôn bán trẻ em giữa các nước và lục địa có thể được ngăn chặn nhờ các biện pháp luật lệ và việc kiểm soát của các chính phủ. Tính liên tục trong mối liên hệ sinh sản và mối liên hệ dưỡng nuôi phải lấy sự dị biệt giới tính giữa đàn ông đàn bà làm nền tảng cần thiết, giống như trong việc sinh sản. Đứng trước hoàn cảnh trong đó, người ta muốn có con bằng bất cứ giá nào, coi việc này như một thứ quyền để được thỏa mãn bản thân, thì việc nhận con nuôi hay nuôi trẻ, hiểu cho đúng, nhấn mạnh khía cạnh quan trọng sau đây của việc làm cha mẹ và làm con cái: chúng giúp ta nhìn nhận con cái, bất luận con tự nhiên, con nuôi hay con nhận nuôi, đều là những con người khác, và do đó, ta phải chào đón, yêu thương, chăm sóc , chứ không phải chỉ đem vào đời. Quyền lợi ưu tiên của đứa trẻ luôn luôn phải là yếu tố quyết định điều hướng việc nhận con nuôi hay nhận nuôi trẻ. Như Đức Giáo Hoàng Phanxicô từng nhắc nhở: “con cái có quyền đươc lớn lên trong một gia đình với một người cha và một người mẹ” (Buổi Yết Kiến Đức Thánh Cha dành cho các tham dự viên của cuộc hội thoại về bản chất bổ túc của người đàn ông và người đàn bà, do Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin cổ vũ, 17 tháng Hai, 2014). Tuy nhiên, Giáo Hội có bổn phận buộc phải công bố rằng nếu có thể, con cái có quyền được lớn lên trong các gia đình nơi chúng sinh ra với sự trợ giúp lớn nhất có thể có.

Việc dưỡng dục con cái

66. Một trong các thánh đố nền tảng đang đặt ra cho các gia đình ngày nay chắc chắn là thách đố dưỡng dục; thách đố này càng trở nên cấp thiết và phức tạp hơn bởi thực tại văn hóa đương thời và ảnh hưởng mạnh mẽ của các phương tiện truyền thông. Nên xem xét thích đáng các đòi hỏi và hoài bão của các gia đình: để trong cuộc sống hàng ngày, họ có khả năng trở thành nơi phát triển, nơi truyền thụ đức tin vững chắc và chủ yếu, nơi sống thiêng liêng và thực hành nhân đức giúp lên khuôn cho cuộc sống. Gia đình gốc thường là nơi ươm trồng ơn kêu gọi làm linh mục và tu dòng: vì thế, cha mẹ được thúc giục cầu xin Chúa ban ơn gọi vô giá này cho một trong những đứa con của họ. Trong lãnh vực giáo dục, quyền của các cha mẹ phải được bảo đảm trong việc tự do chọn lối giáo dục cho con cái phù hợp với các xác tín của họ, các khả thể sẵn có, và phẩm chất. Chúng phải được giúp đỡ để có thể sống cuộc sống cảm giới của chúng, ngay trong liên hệ hôn nhân, như một cách thế hướng tới trưởng thành, biết chấp nhận người khác mỗi lúc mỗi sâu sắc hơn và hiến mình mỗi lúc mỗi trọn vẹn hơn. Theo chiều hướng này, điều cần thiết là tái khẳng định việc cung cấp các phương tiện huấn luyện nhằm nuôi dưỡng đời sống hôn nhân và tầm quan trọng của một hàng ngũ giáo dân biết đồng hành bằng chính chứng tá sống của họ. Giúp ích rất nhiều là gương sáng của một tình yêu trung thành và sâu sắc, phát xuất từ tình âu yếm dịu dàng, biết kính trọng, và có khả năng phát triển với thời gian, và trong việc cương quyết cởi mở đón chào sự sống mới, ta sẽ cảm nghiệm được một mầu nhiệm vượt quá chính ta.

67. Trong các nền văn hóa khác nhau, các người lớn trong gia đình thường đóng một vai trò không thể thiếu trong việc dưỡng dục. Tuy nhiên, trong nhiều hoàn cảnh, ta đang chứng kiến cảnh các cha mẹ giảm dần phần đóng góp của mình vào việc dưỡng dục con cái, do sự hiện diện đầy áp đảo của các phương tiện truyền thông trong gia đình, cũng như khuynh hướng muốn chừa hay dành nhiệm vụ này cho người khác. Nhưng mặt khác, các phương tiện truyền thông (nhất là truyền thông xã hội), với thời gian, có thể giúp các thành viên trong gia đình hợp nhất với nhau. Ngoài ra, các phương tiện truyền thông cũng là dịp để truyền giảng Tin Mừng cho giới trẻ. Giáo Hội đang được yêu cầu khuyến khích và nâng đỡ các gia đình trong nhiệm vụ phải lưu tâm và can dự một cách có trách nhiệm vào các chương trình có tính học thuật và giáo dục có lợi cho con cái họ. Hiện có sự nhất trí trong việc quả quyết rằng cơ sở giáo dục đầu tiên chính là gia đình và cộng đồng Kitô hữu có vị trí rất tốt trong việc hỗ trợ và tổng hợp vai trò huấn luyện không thể thay thế này. Điều cần thiết là phải dành không gian và thời gian hội họp để khuyến khích việc huấn luyện các cha mẹ và chia sẻ kinh nghiệm của các gia đình. Điều cũng quan trọng là việc các cha mẹ tham dự nhiều vào việc chuẩn bị cho con em lãnh nhận các bí tích khai tâm Kitô Giáo, vì họ chính là các thầy cô và các chứng tá đức tin đầu tiên của con cái họ.

68. Các trường Công Giáo đóng một vai trò chủ yếu trong việc giúp đỡ các cha mẹ chu toàn bổn phận giáo dục con cái họ. Giáo dục Công Giáo làm cho vai trò gia đình được dễ dàng: nó bảo đảm việc chuẩn bị vững vàng, giáo dục nhân đức và các giá trị, dạy dỗ theo giáo huấn của Giáo Hội. Nên khuyến khích các trường Công Giáo trong sứ mệnh giúp các cựu học sinh của họ lớn lên thành những người trưởng thành chín chắn, có khả năng nhìn thế giới qua cái nhìn yêu thương của Chúa Giêsu, và hiểu cuộc sống như lời mời gọi phụng sự Thiên Chúa. Do đó, hệ luận là các trường Công Giáo rất quan trọng cho sứ mệnh truyền giảng Tin Mừng của Giáo Hội. Tại nhiều vùng, các trường đều là Công Giáo, tạo cơ hội đích thực cho trẻ em các gia đình nghèo, nhất là giới trẻ, giúp chúng thoát được cảnh nghèo và có cơ hội đóng góp thực sự cho đời sống xã hội. Phải khuyến khích các trường Công Giáo tiến hành các sinh hoạt của họ tại các cộng đồng nghèo nàn nhất, để phục vụ những thành viên kém may mắn nhất và dễ bị thương tổn nhất của xã hội chúng ta.

Còn tiếp