Trang

Thứ Sáu, 3 tháng 8, 2012

CÙNG HỌC HỎI LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 18 TN B






CÙNG HỌC HỎI LỜI CHÚA
CHÚA NHẬT 18 TN B

Tin Mừng thánh Gioan 6,24-35



24 Vậy khi dân chúng thấy Đức Giê-su cũng như các môn đệ đều không có ở đó, thì họ xuống thuyền đi Ca-phác-na-um tìm Người.25 Khi gặp thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói: "Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy? "26 Đức Giê-su đáp: "Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê.27 Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận."28 Họ liền hỏi Người: "Chúng tôi phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn? "29 Đức Giê-su trả lời: "Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến."30 Họ lại hỏi: "Vậy chính ông, ông làm được dấu lạ nào cho chúng tôi thấy để tin ông? Ông sẽ làm gì đây?31 Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: Người đã cho họ ăn bánh bởi trời."

32 Đức Giê-su đáp: "Thật, tôi bảo thật các ông, không phải ông Mô-sê đã cho các ông ăn bánh bởi trời đâu, mà chính là Cha tôi cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực,33 vì bánh Thiên Chúa ban là bánh từ trời xuống, bánh đem lại sự sống cho thế gian."34 Họ liền nói: "Thưa Ngài, xin cho chúng tôi được ăn mãi thứ bánh ấy."35 Đức Giê-su bảo họ: "Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!

24 When the crowd saw that neither Jesus nor his disciples were there, they themselves got into boats and came to Capernaum looking for Jesus.

25 And when they found him across the sea they said to him, "Rabbi, when did you get here?"

26 Jesus answered them and said, "Amen, amen, I say to you, you are looking for me not because you saw signs but because you ate the loaves and were filled.

27 Do not work for food that perishes but for the food that endures for eternal life,  which the Son of Man will give you. For on him the Father, God, has set his seal."

28 So they said to him, "What can we do to accomplish the works of God?"

29 Jesus answered and said to them, "This is the work of God, that you believe in the one he sent."

30 So they said to him, "What sign can you do, that we may see and believe in you? What can you do?31  Our ancestors ate manna in the desert, as it is written: 'He gave them bread from heaven to eat.'"

32 So Jesus said to them, "Amen, amen, I say to you, it was not Moses who gave the bread from heaven; my Father gives you the true bread from heaven.

33 For the bread of God is that which comes down from heaven and gives life to the world."

34 So they said to him, "Sir, give us this bread always."

35  Jesus said to them, "I am the bread of life; whoever comes to me will never hunger, and whoever believes in me will never thirst.



II. TRẮC NGHIỆM


01. Thật, tôi bảo thật các ông (26): Kiểu nói này, với từ amên lặp lại 2 lần (amên amên legô hymin) là đặc điểm riêng của TM IV (25 lần). Amên do từ Hípri ’âmên có nghĩa là “vững vàng, chắc chắn”. Kinh nguyện Kitô giáo dùng công thức amên này để kết lời cầu, với ước mong là gì?
a. Tôn vinh Thiên Chúa
b. Các lời hứa của Thiên Chúa được thực hiện.
c. Ý Thiên Chúa thể hiện
d. Con người được sống hạnh phúc với Thiên Chúa.

02. Trong các TMNL, Chúa Giêsu nói: “Amen, tôi bảo các ông” (dùng 1 lần “amen”).  Kiểu nói đặc biệt của Chúa Giêsu có thể bao hàm những khía cạnh nào?
a. Chúa Giêsu bảo đảm tính xác thực của những lời Người nói (x. Ga 8,24);
b. Chúa Giêsu muốn đồng hóa mình với “Amen”, nghĩa là với “sự thật”, với “chân lý” (x. Ga 14,6; Kh 3,14)
c. Chúa Giêsu nhấn mạnh đến những gì đã nói hay những gì sẽ nói để người nghe chú ý; như thế amên mở đầu cho những mạc khải quan trọng.
d. Cả a, b và c đúng.


03. Chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận có nghĩa là gì?
a.  Con Người từ trời đến và các dấu lạ Người làm là những hành vi qua đó Thiên Chúa đảm bảo cho tính xác thực của sứ mạng của Người (3,33)
b. Đảm bảo rằng loài người có thể nhờ Người mà đạt được sự sống đời đời.
c. Con người gặp được vinh quang của Thiên Chúa.
d. Chỉ có a và b dúng.


04. Bánh hóa ra nhiều đó là mộtdấu chỉ. Bữa ăn lạ lùng nhắm đến một thực tại khác ngoài việc Chúa Giêsu có thể ban bánh và cho ăn no nê theo nghĩa trần thế còn cho chúng ta thấy diều gì nữa?
a. Bản thân Người chính là bánh ban sự sống
b. Ban sự sống vĩnh cửu,
c. Không bao giờ tàn lụi.
d. Cả a, b và c đúng.



05. “Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ”. Ở đây  Chúa Giêsu  muôn nói đến cái đói và cái khát gì?
a. Vật chất
b. Thần thiêng.
c. Hằng ngày
d. Cả a, b và c đúng.

06. Đứng trước đoàn người hăm hở đi tìm lương thực vật chất, Chúa Giêsu đã cảnh báo họ: “Đừng lo tìm những thứ lương thực hay hư nát, nhưng hãy tìm lương thực gì?
a. Đem lại no đủ
b. Đem lại hạnh phúc trường sinh”.
c. Đem lại sự sống mới
d. Đem lại niềm vui


07. Chúa Giêsu nói: việc Thiên Chúa muốn các ông làm là gì?
a. Tin vào Đấng Người đã sai đến
b. Tin vào lời ông Gioan tẩy giả
c. Hãy luôn ăn chay cầu nguyền
d. Hãy sám hối



III. CÂU LỜI CHÚA GHI NHỚ VÀ HỌC THUỘC LÒNG

"Chính tôi là bánh trường sinh.
 Ai đến với tôi, không hề phải đói;
 ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!
Tin Mừng thánh Gioan 6,24-35



Lời giải đáp VUI HỌC LỜI CHÚA
CHÚA NHẬT 18 TN B
Tin Mừng thánh Gioan 6,24-35

II. TRẮC NGHIỆM

01. b. Các lời hứa của Thiên Chúa được thực hiện.
02. d. Cả a, b và c đúng.
03. d. Chỉ có a và b dúng.
04. d. Cả a, b và c đúng.
05. b. Thần thiêng.
06. b. Đem lại hạnh phúc trường sinh”.
07. a. Tin vào Đấng Người đã sai đến


NGUYỄN THÁI HÙNG 

LỜI CHÚA MỖI NGÀY THỨ BẢY TUẦN XVII THƯỜNG NIÊN năm II



LỜI CHÚA MỖI NGÀY
THỨ BẢY TUẦN XVII THƯỜNG NIÊN năm II
Bài đọc: Jer 26:11-16, 24; Mt 14:1-12
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ :
Những thái độ của con người khi đương đầu với sự thật.
Đứng trước sự thật, con người có thể có hai thái độ chính: (1) Họ chấp nhận sự thật và tìm cách sửa đổi sai lầm họ gây ra để cuộc đời của họ sẽ tốt đẹp hơn. (2) Họ từ chối sự thật vì nhiều lý do: tự ái, kiêu ngạo, sợ mất lợi nhuận... Vì thế, họ sẽ phớt lờ, bóp méo, và tìm cách tiêu diệt sự thật.
Hai bài đọc hôm nay thuật lại hai thái độ chính khi con người phải đương đầu với sự thật.
Bài đọc I thuật lại phiên xử của Jeremiah và kết quả là ông đã trắng án. Các nhà lãnh đạo và dân chúng nhận ra ngôn sứ Jeremiah chỉ lặp lại những gì Thiên Chúa tuyên sấm. Vì thế, truy tố Jeremiah không làm cho những lời tuyên sấm của Thiên Chúa ra vô hiệu, mà còn làm cơn giận của Thiên Chúa mau đến, vì họ dám làm đổ máu người vô tội. Trong Phúc Âm, thánh Matthew thuật lại việc tiểu vương Herode đã bắt bỏ tù và chém đầu ông Gioan Tẩy Giả, vì ông đã ngăn cản việc tiểu vương muốn lấy bà Herodia, vợ của Philip, anh của tiểu vương, làm vợ.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Sự Thật giải thoát

Có ba thành phần chính trong phiên xử của Jeremiah:
1.1/ Tuyên cáo là các tư tế và các tiên tri giả.
Họ cáo buộc Jeremiah: "Con người này đáng lãnh án tử, vì ông ta đã tuyên sấm chống lại thành này, như chính tai các ông đã nghe!" Hôm qua chúng ta đã nói, họ không đá động gì đến vế trước của lời tuyên sấm, mà chỉ chú trọng đến vế sau tức là hậu quả sẽ xảy ra nếu không chịu thi hành những đòi hỏi của vế đầu. Ngay cả khi chưng dẫn vế sau, họ cũng không chưng dẫn đúng; nhưng chỉ giữ lại những gì có lợi cho việc họ buộc tội Jeremiah. Họ cũng không thèm chú ý đến ai là tác giả của lời tuyên sấm, nhưng đã gán những lời này cho Jeremiah.
Các tư tế buộc tội Jeremiah vì ông nói đến sự sụp đổ của Đền Thờ; nếu Đền Thờ bị sụp đổ, họ sẽ thất nghiệp, vì đâu còn Đền Thờ nữa để họ phục vụ. Các tiên tri giả buộc tội Jeremiah vì ông nói ngược lại những gì họ nói. Họ không nói những lời Thiên Chúa truyền, mà chỉ nói những gì vua chúa và toàn dân thích nghe.

1.2/ Bị cáo là tiên tri Jeremiah. Ông kháng cáo hai điểm:
(1) Ông nhắc lại toàn bộ lời tuyên sấm và tác giả của nó. Ông nói với tất cả các thủ lãnh và toàn dân như sau: "Chính Đức Chúa đã sai tôi tuyên sấm mọi lời liên quan đến Nhà này cũng như thành này mà các ngươi đã nghe. Vậy giờ đây, các ngươi hãy cải thiện đường lối và hành vi của các ngươi và hãy nghe tiếng Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi; bấy giờ Đức Chúa sẽ đình chỉ những tai hoạ Người đã quyết định để lên án các ngươi.” Ông muốn nói: Đức Chúa là Người tuyên sấm, ông chỉ là người lặp lại lời tuyên sấm. Khi Đức Chúa tuyên sấm, Người chắc chắn sẽ giữ lời.
(2) Họ phải chịu trách nhiệm về việc đổ máu người vô tội. Ông nói: “Còn tôi, tôi ở trong tay các ngươi, các ngươi cứ xử với tôi thế nào như các ngươi coi là tốt đẹp và chính đáng. Có điều xin các ngươi biết rõ cho rằng: Nếu các người giết tôi, thì chính các ngươi sẽ phải chuốc lấy máu vô tội cho mình, cho thành này và dân cư trong thành. Vì quả thật là Đức Chúa đã sai tôi đến với các ngươi để công bố cho các ngươi nghe tất cả những điều trên đây.” Truy tố Jeremiah chẳng những không làm cho lời tuyên sấm ra vô hiệu, mà còn đổ thêm dầu vào cơn thịnh nộ của Thiên Chúa; vì họ đã làm đổ máu người vô tội; và nhất là người đó lại là ngôn sứ của Thiên Chúa.

1.3/ Quan tòa là các thủ lãnh và toàn dân.
Sau khi đã nghe những lời tuyên cáo của các tư tế và các ngôn sứ giả, đồng thời cũng được nghe những lời kháng cáo của Jeremiah, các thủ lãnh và toàn dân phải dùng trí khôn ngoan suy xét để nhận ra đâu là sự thật. Sau cùng, họ nói với các tư tế và các ngôn sứ giả: "Con người này không đáng lãnh án tử, vì ông ta đã nói với chúng ta nhân danh Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta." Kết quả là Jeremiah được trắng án, tiên tri được ông Akhicam, con ông Saphan ra tay che chở cho khỏi rơi vào tay dân mà bị giết.

2/ Phúc Âm: Vua Herode dùng uy quyền giết chết Gioan Tẩy Giả mà không thèm xử án.
Khi tiểu vương Herode nghe danh tiếng Đức Giêsu, thì nói với những kẻ hầu cận rằng: "Đó chính là ông Gioan Tẩy Giả; ông đã từ cõi chết trỗi dậy, nên mới có quyền năng làm phép lạ." Tiểu vương biết rành rẽ về Gioan Tẩy Giả vì chính ngài đã giết chết ông.

2.1/ Lý do tại sao Gioan Tẩy Giả bị tù: Khi vua Herode Cả băng hà, ông phân chia lãnh thổ cho ba con trai: Herode Antipas cai trị vùng tả ngạn của Galilee, Philip cai trị vùng bên kia sông Jordan, và Herode thứ cai trị vùng Jerusalemvà Judah. Tiểu vương Herode Antipas muốn lấy bà Herodia, vợ ông Philíp, anh của nhà vua. Ông Gioan Tẩy Giả đã phản đối tiểu vương: "Ngài không được phép lấy bà ấy!" Luật pháp quốc gia ngăn cản không cho một người lấy vợ của anh em mình khi người anh em ấy còn sống. Luật Do-thái chỉ cho phép lấy vợ của anh em khi anh em mình đã chết mà không có con nối dòng. Herode Antipas đã phạm hai tội: (1) tội rẫy người vợ trước của mình là con vua Nabatean Arabs; và (2), tội loạn luân, lấy chị dâu của anh mình là Philip.

2.2/ Lý do tại sao ông không dám giết Gioan Tẩy Giả
Trình thuật Matthew nêu lý do “vì ông sợ người Do-thái.” Họ coi Gioan như tiên tri của Chúa và tiểu vương sợ dân chúng sẽ nổi loạn nếu ông bị giết. Tiểu vương Herode cho giam Gioan Tẩy Giả trong ngục để chờ thời cơ.
Sử gia Josephus cho lý do chính để Herode giết Gioan Tẩy Giả, vì ông sợ ảnh hưởng của Gioan Tẩy Giả trên dân chúng (Ant 18, 5, 2). Là tiểu vương của Galilee, ông không muốn có bất kỳ sự đối nghịch nào.

2.3/ Lý do tại sao sau cùng Gioan Tẩy Giả bị chém đầu: Nhân ngày sinh nhật của vua Herode, con gái bà Herodia đã biểu diễn một điệu vũ trước mặt quan khách, làm cho nhà vua vui thích. Bởi đó, vua thề là hễ cô xin gì, vua cũng ban cho. Nghe lời mẹ xui bảo, cô thưa rằng: "Xin ngài ban cho con, ngay tại chỗ, cái đầu ông Gioan Tẩy Giả đặt trên mâm." Nhà vua lấy làm buồn, nhưng vì đã trót thề, lại thề trước khách dự tiệc, nên truyền lệnh ban cho cô. Vua sai người vào ngục chặt đầu ông Gioan. Người ta đặt đầu ông trên mâm, mang về trao cho cô, và cô ta đem đến cho mẹ.
Tất cả những sự kiện này chứng minh Herode không phải là một vua công chính: Ông ly dị vợ, lấy vợ của anh, thề hứa vô lối, giữ lời thề cách không công bằng, và vi phạm đến sự sống của người công chính.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta phải tôn trọng sự thật bằng cách lắng nghe cẩn thận khi người khác trình bày ý kiến của họ, và hãy biết xét xem điều đó có đúng hay không; chứ đừng bao giờ dùng uy quyền để bóp chết sự thật.
- Nếu xét thấy điều đó là đúng, chúng ta hãy có can đảm để sửa sai để cuộc đời chúng ta mỗi ngày mỗi tốt đẹp hơn. Chúng ta cũng phải sẵn sàng nói và làm chứng cho sự thật.
Lm.Đinh Minh Tiên, OP.


Thánh Gioan Maria Vianney và Tòa Giải Tội


Thánh Gioan Maria Vianney và Tòa Giải TộiLm Giuse Nguyễn Hữu An8/2/2012
Di hài Thánh Gioan Maria Vianney.

Đức Giáo Hoàng Piô XII viết về cha thánh Gioan Maria Vianney một câu thật ngắn gọn: “Một chuyên viên thành thạo nhất về các tội nhân”.

Công việc mục vụ ngồi tòa, giải tội là sứ vụ đức ái mục tử đẹp nhất trong cuộc đời của cha thánh, là hoạt động sáng chói nhất trong nhiệm vụ của một mục tử.

Thời trẻ Gioan có một tâm nguyện: “Nếu một ngày nào đó tôi được làm Linh mục, tôi sẽ đưa nhiều linh hồn về cho Chúa”. Khi làm Linh mục, ngài đã thực hiện tâm nguyện ấy. Tòa giải tội là nơi ngài đưa các linh hồn về cho Chúa nhiều nhất. Tòa giải tội đã thu hút biết bao hối nhân tìm đến với xứ Ars. Tòa giải tội là phép lạ lớn nhất trong cuộc đời của thánh nhân.

1. Thời gian ở tòa giải tội.

Một phần lớn cuộc đời Linh mục của cha Vianney trôi qua trong tòa giải tội. Trong 30 năm dài, một làn sóng người hành hương không ngừng đổ về ngôi nhà thờ cũ kỷ của họ Ars. Mùa đông rét buốt, số người đến đây không ít hơn các mùa ấm áp.
Tứ tháng 11 đến tháng 3, cha sở phải ngồi tòa trung bình không dưới 12-13 giờ mỗi ngày. Người ta đứng thành hàng dài, từ trong nhà thờ ra bên ngoài, nối đuôi nhau không ngớt chờ đợi tới phiên mình.

Trong năm 1845, có ngày số người hành hương đến Ars lên tới ba hay bốn trăm. Tại nhà ga lớn nhất của Lyon, người ta mở một văn phòng hoạt động 24/24 để bán vé tàu cho khách đi Ars, vé có giá trị tám ngày, đó là thời gian trung bình người ta phải đợi cho đến phiên mình vào tòa xưng tội với vị Linh mục thánh thiện nổi tiếng.

Vào mười năm cuối đời, Thánh Vianney phải giải tội từ mười sáu đến mười tám tiếng một ngày! Còn khách hành hương nói chung phải đợi ba mươi, năm mươi, bảy mươi giờ trước khi được lãnh nhận bí tích hòa giải. Cũng có khi người ta mua lại chỗ đứng của người nghèo. Ai muốn đi ra ngoài phải thỏa thuận vời người bên cạnh hoặc với người bảo vệ nhà thờ. Đêm thì sao? Khi cửa nhà thờ đóng lại, người ta đánh số chổ của mình. (x.Linh mục, người loan báo Tin Mừng, Lm Nguyễn Hồng Giáo, OFM). 


2. Ai đến với tòa giải tội?

Họ gồm đủ mọi thành phần và lứa tuổi: có giáo dân, tu sĩ, linh mục và đôi khi cả giám mục nữa; họ là quý tộc và bình dân, kẻ vô chủ nghĩa và người học thức, người thành thị và người thôn quê,… Có khi nguyên một gia đình ngồi trên xe ngựa đến từ những tỉnh xa xôi. Từ những vùng lân cận, người ta tuôn về đây bằng đôi chân hay bằng xe, theo đường bộ hay đường thủy. Năm cuối cùng của cuộc đời cha Vianney (1858-1859), số khách hành hương lên tới tám mươi ngàn, chỉ tính riêng số người dùng các phương tiện chuyên chở công cộng; còn tính chung có lẽ là khoảng một trăm ngàn đến một trăm hai mươi ngàn.

Đám đông này rất trật tự và nghiêm trang. Họ đến là để nhìn một vị thánh, để xưng tội, để cầu nguyện hay để hoàn thành một lời khấn với thánh nữ Philomêna. Có những người vào làng Ars như vào một đền thánh; vừa nhìn thấy tháp chuông nhà thờ, họ liền cất nón mũ xuống và làm dấu thánh giá. Một nhân chứng kể lại quang cảnh họ nhìn thấy vào tháng ba năm 1859: đông đảo những người ngoài họ Ars đứng trong nghĩa trang cũ và đến tận trong những con đường nhỏ kế cận chờ đến phiên vào tòa giải tội.

Buổi sáng vào khoảng chín giờ, Cha Vianney dành một số thời gian cho các tu sĩ và linh mục. Ngài giải tội cho họ ở một tòa đặt sau bàn thờ chính. Có lần Đức Giám mục địa phận nhà cũng ngồi chờ phiên mình. Cha giải tội cũng dành một số ngoại lệ cho giáo dân con chiên cha, người bệnh, người tản tật và những hối nhân không thể chờ đợi. Đối với trường hợp cuối cùng này, ngài thường dùng ơn “nhìn thấy trong tâm hồn” để nhận ra từ trong dòng người chờ đợi, rồi ưu tiên cho họ.(sđd, trang 62-63).

3. Cha Vianney khuyên bảo các hối nhân như thế nào?

Nói chung, ngài mạnh mẽ thẳng thắn, nhân từ nhưng không yếu đuối. Ngài biết cần phải “đánh” điểm nào cho trúng đích. Đọc một số lời khuyên còn ghi lại, tôi thấy ngài thường ngắn gọn, đầy tâm tình chứ không máy móc lạnh lùng.

Để lay tỉnh những “đại tội nhân”, khá nhiều khi ngài tung ra một câu đanh thép: “này con, con bị luận phạt đời đời”. Phát ra từ môi miệng một vị thánh mà người ta tin là ngài đọc được tương lai, câu đó giống như một lời phán quyết khủng khiếp. Nhưng thật ra ngài chỉ muốn nói: “nếu con không xa lánh dịp tội ấy, nếu con cứ duy trì cái thói quen tội lỗi ấy, nếu con không nghe theo lời khuyên dạy thì con sẽ bị luận phạt”.

Đối với những người đạo đức, ngài không cần nhiều lời. Nhưng ngay cả với trường hợp này, vẫn là những mũi tên nóng bỏng đâm thấu tận con tim: “xin Đức Cha yêu thương các Linh mục của ngài!”. Đó là lời duy nhất ngài nói với Đức cha De Langalerie, Giám mục địa phận Belly đang quỳ gối trước mặt ngài. Một cộng sự viên gần gũi của ngài xưng thú: “con đã lười biếng làm điều này nhưng tận đáy lòng, con vẫn thiện chí”, cha giải tội đáp lại duy nhất một câu “Ồ! thiện chí, thiện chí … hỏa ngục cũng lót toàn thiện chí”. Linh mục Monnin kể: “tôi đã xưng tội với ngài hai lần. Lần nào cũng thế, sau mỗi tội tôi xưng ra dù là tội nhẹ nhất, ngài đều nói: ‘đáng tiếc quá’. Từ một người khác, đó có thể là một cách nói thông thường, nhưng từ môi miệng của Cha Sở họ Ars, Linh mục Monnin coi như là tiếng kêu của lòng tin, lòng thương xót và sự ghê tởm đối với tội lỗi; ngài thêm: “Nhất là giọng nói đầy âu yếm đã đánh động tôi” (sđd, trang 64).


4. Cha Vianney yêu thương tội nhân.

Cha Vianney ghê tởm tội lỗi bao nhiêu thì yêu mến người tội lỗi bấy nhiêu. Ngài có một lòng cảm thương vô bờ đối với hối nhân. Tình yêu ấy được biểu lộ qua những nhân đức sau đây.

a. Cầu nguyện cho tội nhân. 

Xen lẫn với kinh nguyện hằng ngày, ngài thường khóc lóc mà thưa với Chúa: “Lạy Chúa, Chúa không muốn kẻ có tội phải chết… Những người có tội thật đáng thương. Ước gì con có thể thú tội thay cho họ”. Một người thân tín nói với ngài: “Cha cầu nguyện cho họ ít đi một tí được không? Thấy cha vất vả đau khổ quá!. Ngài trả lời: “Biết sao được. Cha đã hứa cầu nguyện cho họ, cha không thể bỏ…”. Lần khác ngài tâm sự: “Tôi chỉ thực sự là tôi khi tôi cầu nguyện cho những người tội lỗi”.

b. Đền tội thay cho họ. 

Ngài ăn chay hãm mình để đền bù tội lỗi và mong cho tội nhân hối cải.Trong những năm cuối đời, ngài thường ra việc đền tội nhẹ cho hối nhân. Ngài nói: “Tôi ra việc đền tội nhẹ cho họ, phần đền tội còn lại, tôi sẽ làm thay”. Và ngài làm thay bằng chính sự khổ chế của mình. Tất nhiên, không phải lúc nào cũng vậy. Đối với những lỗi nặng mà cứ tái phạm mãi, ngài bắt hối nhân phải làm những việc đền tội nặng, để họ chứng tỏ sự chân thành và quyết tâm sửa đổi, hầu đem lại lợi ích cho chính họ. Cha Vianney nhiều khi còn khóc trong tòa giải tội nữa. Ngài khóc vì người ta xúc phạm tới Chúa, ngài cũng khóc vì thương các linh hồn… Chính sự thánh thiện của ngài mang lại cho lời khuyên răn và nước mắt của ngài có sức mạnh và hiệu lực. Có người hỏi: “sao cha khóc thế?” ngài đáp ngắn gọn: “tôi khóc vì các ông các bà không khóc cho đủ”.

c. Yêu thương tội nhân

Đối với những tội nhân cứng lòng, ngài tìm hết cách giúp họ thống hối như gặp gỡ, khuyên nhủ, khi nặng khi nhẹ, và ngay cả bằng nước mắt. Nước mắt và Thánh giá, nhờ ngài, có thể làm cho một trái tim chai đá trở thành trái tim thịt mềm. Có người lúc trước đã trả lời thẳng thừng: “Tôi không muốn xưng tội”, hoặc: “Tôi không đến đây để làm cái chuyện đạo đức của mấy bà”. Mặc kệ. Cuối cùng tất cả đều quỳ xuống dưới chân ngài và xưng thú. Chúa đã ban cho ngài một trực giác lạ lùng để nhận ra giữa đám đông hoặc giữa những người đi qua, ai là kẻ cần được đưa về với Chúa nhất để giúp họ, trước sự ngạc nhiên của chính họ. Do đó mà khi có người buột miệng hỏi: “Mỗi năm cha bắt được bao nhiêu cá lớn?”, ngài trả lời ngay, không lưỡng lự: “Hơn 700”. Không nhớ con số sao được đối với những con cá như thế!

d. Luôn nhẫn nại

Một dù vất vả ngồi tòa và có những chuyện dễ làm người ta bực mình, nhưng ngài thì không. Ngược lại, ngài tỏ ra đặc biệt nhẫn nại. Đây là một trong những đức tính nổi bật nhất nơi ngài. Một linh mục đã nhận xét : Tôi đã từng quan sát kỹ xem ngài có tỏ ra bất nhẫn bực tức lúc nào không, mà không thấy. Đem chuyện này hỏi ngài thì được ngài trả lời: “Phải nhẫn nại mới có thể cho cái người ta cần chứ ! Bất nhẫn thì được cái gì ?” Ngài cũng nói với một cha bạn: “Hãy học tập sự nhẫn nại của Chúa”.

e. Hiền hòa, kính trọng hối nhân.

Vào thời kỳ cao điểm, bình quân mỗi ngày có từ 300 đến 400 người xếp hàng xưng tội. Công việc vất vả và liên tục trong 30 năm này đã làm cho ngài kiệt lực, đến nỗi có lần ngài tự thú: “Khi tôi rời tòa giải tội, tôi phải lấy tay sờ vào đùi xem nó có còn ở đấy không. Đôi khi ra khỏi nhà thờ, tôi phải vịn vào tường mà đi cho khỏi ngã. Đầu tôi nặng trĩu. Thực sự tôi đã không biết mình chống lại như thế nào”. 

Suốt ngày bị công việc mục vụ dồn ép như thế, ngồi nghe hối nhân hàng giờ như thế mà ngài vẫn không mất kiên nhẫn, không la lối nạt nộ ai bao giờ, thật là lạ lùng.

Ngài luôn hiền hòa, tế nhị, kính trọng đối với hối nhân, bất kể là ai. Có Linh mục sa ngã nặng đến xưng tội vẫn được ngài yêu mến, kính trọng. Lời khuyên dành cho Đức Giám Mục Giáo Phận đến xưng tội với ngài là : xin Đức cha hãy yêu thương các Linh mục của Đức cha.

Dù có đông người xếp hàng bên tòa giải tội, ngài vẫn dành cho mỗi người một thời gian cần thiết, bởi người nào cũng có vấn đề riêng của mình. Ngài không khuyên dài, nhiều khi chỉ một lời thôi, nhưng là lời làm cho hối nhân phải động tâm suy nghĩ, một lời tác động mạnh trên họ có khi cả đời. Chính sự thánh thiện và yêu thương đem lại sức mạnh và hiệu năng cho lời đó. (x. Thánh Gioan Maria Vianney, bổn mạng các Linh mục, Lm Micae Trần Đình Quảng;simonhoadalat.com).

5. Theo gương cha thánh, Linh mục cử hành Bí Tích Hòa Giải 

Giải tội là một tác vụ khó khăn nhất, đòi hỏi nhất, nhưng đó là một tác vụ cao đẹp nhất, an ủi nhất của Linh mục trong đời mục vụ. (x.Chân dung Linh mục trang 39, ĐGM Giuse Vũ Duy Thống). 
Là tác vụ khó khăn nhất bởi lẽ, ngồi tòa giải tội giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Với một tư thế không đổi là lắng nghe, phân định, khuyên nhủ, ban phép giải tội. Nghe đi nghe lại đủ thứ tội luỵ trần gian. Linh mục Nguyễn Tầm Thường đã dùng hình ảnh “cái bô rác” để nói về lỗ tai các Linh mục, chứa đựng mọi rác rưới tội lỗi hồng trần, nhưng Linh mục không để mình bị lây nhiễm rác rưới.Trí óc luôn làm việc căng thẳng. Một tư thế ngồi, tay cầm tràng hạt, tay chống trán, đầu tựa vào tòa nghe chăm chú. Có khi cơ thể mệt mỏi ê ẩm mà không được nghĩ ngơi.

Là tác vụ đòi hỏi nhất bởi lẽ, trước khi ngồi tòa, Linh mục đã phải chuẩn bị bằng cách trang bị kiến thức tương hợp; trong khi giải tội, linh mục phải vận dụng khôn ngoan để phân định, cương nghị để khuyên can, nhân từ để xá giải; sau khi đã ra khỏi tòa hòa giải, Linh mục phải trung tín với ấn tòa giải tội. Nếu điều Linh mục phải nhớ trong ngày là sách nguyện, thì điều Linh mục phải quên chính là tội người ta xưng. 

Là một tác vụ cao đẹp nhất và an ủi nhất bởi lẽ, qua trung gian Linh mục, hối nhân gặp được trái tim đầy thương xót của Thiên Chúa. Và đó là hạnh phúc. Người ta bảo trên đời có ba bóng dáng hạnh phúc tinh ròng: mẹ đem con đi rửa tội về, người lành tạ thế và hối nhân từ tòa giải tội bước ra. 

Nếu như hạnh phúc của người truyền giáo là có một người được rửa tội thì hạnh phúc của Linh mục giải tội là có một tội nhân được giao hòa với Chúa, được tìm lại ơn thứ tha và nguồn bình an, niềm vui tâm hồn. Hối nhân càng nhiều tội lỗi, càng lâu năm xa cách nguội lạnh mà được ơn trở lại thì Linh mục càng dâng đầy hạnh phúc. Có những hối nhân đã khóc nức nở khi sám hối về tội lỗi của mình và nhận ra lòng thương xót của Chúa. Họ quỳ đó, khóc chân thành với những dòng lệ ăn năn. Nước mắt hạnh phúc của người con trở về với Cha nhân từ. Những nổi đau thể xác, tâm hồn được bộc bạch. Có những người mẹ, người vợ thổ lộ tâm sự của gia đình, tâm tư không thể nói cùng ai chỉ trừ Cha giải tội. Thanh niên nam nữ với những thao thức tuổi trẻ xin linh hướng. Thiếu nhi đón nhận lời thăm hỏi khuyên bảo. 

Có nhiều tâm hồn trong sáng, thánh thiện đến tòa giải tội đã làm gia tăng lòng đạo đức của linh mục. 

Thi hành tác vụ cao đẹp ấy, Linh mục là người diễn dịch lòng yêu thương nhân từ của Thiên Chúa (Thư Thứ Năm Tuần Thánh 2002, số 3). 

Để có thể thi hành tác vụ của lòng thương một cách hữu hiệu, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II khuyên Linh mục phải sống khả tín và khả ái. 

- Khả tín: “Thật vậy, dù ơn Chúa ban có thể hoàn tất công trình cứu rỗi qua những thừa tác viên bất xứng, nhưng thường tình Thiên Chúa muốn tỏ ra những việc lạ lùng của Ngài qua những vị sẵn sàng đi theo sự thúc giục và hướng dẫn của Thánh Thần hơn, bằng kết hợp mật thiết với Chúa Kitô và bằng một đời sống thánh thiện” (PO, 12)

- Khả ái: “Người ta thường muốn được nhận biết và chăm sóc, vì chính trong tư thế gần gũi này mà họ có thể cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa một cách mạnh mẽ hơn” (Thư TNTT số 9). Linh mục phải làm hết cách để lòng thương xót của Thiên Chúa được sáng lên giữa những cử hành“Nghiêm nhặt quá làm cho dân chúng bị dằn vặt tháo lui. Dễ dãi qúa gây hiểu lầm và ngộ nhận. Đấng giải tội rập theo gương Chúa Chiên lành mà tha tội phải diễn đạt đúng mực thước lòng đã sẵn có và sự tha thứ hầu mang lại an bình và chữa lành” (Thư TNTT số 8). 

Nhân ngày lễ kính thánh Gioan Maria Vianney (ngày 4 tháng 8), đọc lại nét tiêu biểu cuộc đời thánh nhân nơi tòa giải tội. Như người ta đã nói: phép lạ lớn nhất của cha Vianney thánh thiện là tòa giải tội của ngài bị bao vây suốt ngày đêm. Cũng có thể nói cách khác: phép lạ tiêu biểu của ngài là sự hoán cải của những người tội lỗi. Các Linh mục noi gương cha thánh thực thi sứ vụ khó khăn và cao đẹp này. Mỗi lần ban ơn xá giải là Linh mục thấy mình được cộng hưởng trên đường nên thánh.



Thứ Năm, 2 tháng 8, 2012

40giayloichua.net : Chúa Nhật XVIII Thường Niên - Năm B


Chúa Nhật XVIII Thường Niên - Năm B

Sunday XVIII in Ordinary Time - Year B


Nguồn: 40giayloichua.net

LỜI CHÚA MỖI NGÀY THỨ SÁU TUẦN XVII THƯỜNG NIÊN năm II





LỜI CHÚA MỖI NGÀY
THỨ SÁU TUẦN XVII THƯỜNG NIÊN năm II
Bài đọc: Jer 26:1-9; Mt 13:54-58
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ :
Sự thật thường bị bóp méo.
Con người thường không muốn nghe và chấp nhận sự thật vì “sự thật mất lòng!” Chẳng hạn, các dân biểu sẽ không muốn nghe các linh mục nói tới công bằng khi họ đang đối xử bất công để tước đoạt quyền lợi của dân nghèo. Để che đậy tội lỗi của mình, con người thường bóp méo sự thật bằng cách thêm vào hay bớt đi những lời dạy của Thiên Chúa, của các ngôn sứ, hay của các đối thủ của họ.
Các bài đọc hôm nay nêu bật những lý do làm con người không muốn chấp nhận sự thật. Trong bài đọc I, Đức Chúa truyền cho ngôn sứ Jeremiah phải cẩn thận loan báo cho nhà Judah tất cả những gì Ngài truyền và ông đã làm như thế; nhưng họ không những không muốn nghe những lời ông loan báo, mà còn xúm lại bắt ông vì dám tuyên bố những thiệt hại sẽ xảy đến cho Đền Thờ. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu về Nazareth để dạy dỗ dân chúng những sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Dân chúng tuy nhận ra sự khôn ngoan tiềm ẩn nơi Ngài; nhưng vì kiêu ngạo và thành kiến, họ đã chối bỏ những gì Ngài dạy dỗ.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Hãy tìm hiểu Sự Thật

1.1/ Sự thật đến từ Đức Chúa qua tiên tri Jeremiah: Để tìm hiểu đâu là sự thật, chúng ta hãy cẩn thận xem xét những gì Chúa truyền cho tiên tri Jeremiah nói và những gì tiên tri đã loan báo:
- Lời Chúa phán: “Hãy đứng ở tiền đình Nhà Đức Chúa và ngươi sẽ loan báo cho mọi người của Judah và những người đang đến cầu nguyện trong Nhà Đức Chúa.Hãy loan báo cho chúng mọi lời Ta truyền cho ngươi, đừng bớt lời nào. Có lẽ chúng sẽ nghe và quay trở lại, mỗi người từ con đường xấu xa của mình, và Ta sẽ ngưng những tai hoạ mà Ta đang định giáng trên chúng vì những hành vi gian ác của chúng đã làm.” Ngươi hãy bảo chúng: “Đức Chúa phán như sau: Trừ phi các ngươi chịu nghe Ta mà sống theo Lề Luật Ta đã thiết lập trước các ngươi, và vâng nghe những lời dạy bảo của các ngôn sứ, tôi tớ của Ta, những người Ta sai đến với các ngươi mỗi sáng sớm, Ta đã sai nhưng các ngươi đã chẳng chịu nghe Ta; Ta sẽ đối xử với nhà này như với Shiloh, còn thành này Ta sẽ cho trở nên lời nguyền rủa cho mọi Dân Ngoại khắp nơi trên trái đất.”
- Sau đó, bài đọc I tường thuật: “Các tư tế, các ngôn sứ giả và toàn dân đã nghe ông Jeremiah loan báo những lời này trong nhà Đức Chúa.” Điểm đáng chú ý ở đây là Chúa đã cẩn thận dặn Jeremiah: “Hãy loan báo cho chúng mọi lời Ta truyền cho ngươi, đừng bớt lời nào.”

1.2/ Sự thật Shiloh: Trước khi hòm bia của Thiên Chúa được Vua David di chuyển về Jerusalem, hòm bia của Thiên Chúa được giữ lâu năm ở Shiloh. Trong sách I Samuel, từ chương 4 đến chương 6 có thuật lại lịch sử tại sao hòm bia Thiên Chúa bị di chuyển khỏi Shiloh: Khi quân Israel bị quân Philistine đánh bại ở Êben-ha-Ezer, các kỳ mục của Israel cố vấn cho dân chúng: “Hãy đi lấy hòm bia Thiên Chúa ở Shiloh đặt ở giữa ta để cứu ta khỏi tay quân thù,” và họ đã đi lấy hòm bia. Tuy nhiên, họ đã bị bại trận ngày hôm đó và hòm bia của Thiên Chúa đã rơi vào tay quân thù. Quân Philistines mang hòm bia về Ashdod về đặt bên cạnh đền thờ của họ là Dagon. Cứ mỗi sáng họ thấy thần Dagon nằm xấp mặt trước hòm bia Thiên Chúa của Israel, còn đầu và hai tay của Dagon bị quăng nơi thềm cửa. Chúa còn giáng hoạ trên dân chúng Ashdod bị sưng hạch khiến họ sợ phải gọi người Israel để trả lại hòm bia. Từ Ashdod hòm bia được di chuyển tới Bet-Shemesh, và ở lại Kiriat-Yearim một thời gian lâu trước khi được Vua David di chuyển hòm bia về Jerusalem.

1.3/ Sự thật bị bóp méo bởi người nghe: Sau khi ông Jeremiah đã nói mọi điều Đức Chúa đã truyền cho ông phải loan báo cho mọi người, thì các tư tế, các ngôn sứ giả, và toàn dân túm lấy ông mà bảo: ‘Ông sẽ phải chết!’ vì ông đã dám nhân danh Đức Chúa mà tuyên sấm rằng: ‘Nhà này sẽ nên như Shiloh, còn thành này sẽ ra điêu tàn, không ai cư ngụ!’
Nếu chúng ta cẩn thận đối chiếu những gì Chúa đã truyền cho tiên tri Jeremiah phải nói và những gì toàn dân đã tố cáo ông, chúng ta nhận ra những điều sau:
- Họ đã không đá động gì đến vế đầu của sấm ngôn: “Trừ phi các ngươi chịu nghe Ta mà sống theo Lề Luật Ta đã thiết lập trước các ngươi, và vâng nghe những lời dạy bảo của các ngôn sứ, tôi tớ của Ta, những người Ta sai đến với các ngươi mỗi sáng sớm, Ta đã sai nhưng các ngươi đã chẳng chịu nghe Ta;” mà chỉ chú trọng đến hậu quả của sấm ngôn, “Ta sẽ đối xử với nhà này như với Shiloh, còn thành này Ta sẽ cho trở nên lời nguyền rủa cho mọi Dân Ngoại khắp nơi trên trái đất.”
- Ngay cả việc lặp lại các hậu quả họ cũng đã bóp méo sự thật. Chúa nói: “thành này Ta sẽ cho trở nên lời nguyền rủa cho mọi Dân Ngoại khắp nơi trên trái đất,” trong khi họ nói “thành này sẽ ra điêu tàn, không ai cư ngụ!”
- Tại sao họ không chịu đá động gì đến vế đầu của lời sấm ngôn? Có thể vì họ không nhận ra tội lỗi của họ hay không muốn ai tố cáo tội lỗi của họ. Có thể vì họ ghét Jeremiah đến độ chỉ muốn tìm sơ hở của những gì ông nói để có cớ kết tội ông!

2/ Phúc Âm: Sự Thật bị chết ngạt vì thành kiến và kiêu ngạo

2.1/ Tại sao người đồng hương của Chúa Giêsu không nhận ra sự thật?
(1) Sự thật được hiểu bởi người cùng quê hương Chúa: Chính những người cùng quê hương với Chúa đã nhận ra ngay từ đầu sự khôn ngoan và uy quyền của Chúa khi họ sửng sốt và nói: “Bởi đâu ông ta được khôn ngoan và uy quyền như thế?” Điều họ muốn tìm ra là “bởi đâu” Chúa học được khôn ngoan và uy quyền như vậy?
(2) Sự thật bị gạt bỏ vì kiêu ngạo và thành kiến: Thay vì tìm cho ra nguồn gốc “bởi đâu” để tin vào Chúa họ lại bị kiêu ngạo và thành kiến che khuất để không còn nhìn ra sự thật. Họ kiêu ngạo vì họ không muốn ai hơn mình, và thành kiến vì thói quen khinh thường những người họ đã từng biết và chung sống với. Họ nói: “Ông không phải là con bác thợ mộc sao? Mẹ của ông không phải là bà Maria, anh em của ông không phải là các ông James, Joseph, Simon vàJudah sao? Và chị em của ông không phải đều là bà con lối xóm với chúng ta sao?”

2.2/ Hậu quả của việc chống lại sự thật:
Thay vì tìm hiểu bằng cách hỏi Chúa để được Ngài cho biết lý do bởi đâu Ngài có được khôn ngoan và uy quyền như thế, họ đã để kiêu ngạo và thành kiến che khuất sự thật; và phải lãnh nhận hậu quả do chính họ gây nên. Thay vì “một người làm quan trăm họ được nhờ,” họ đã vấp ngã vì Người. Chúa Giêsu đã nói với họ: “Không có tiên tri nào được hưởng danh dự ở quê hương và trong gia đình mình.” Và Chúa Giêsu rời họ đi chỗ khác vì họ cứng lòng tin.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúng ta hãy luôn khiêm nhường đi tìm sự thật trước hết. Chúng ta đừng bóp méo sự thật vì bất cứ lý do gì; nếu không, chúng ta phải lãnh nhận những hậu quả tai hại
- Chúng ta đừng để bất cứ thành kiến nào che lấp sự thật. Hãy can đảm bênh vực và sống cho sự thật, vì sự thật sẽ giải thoát.
Lm. An-tôn Đinh Minh Tiên, OP.

Thánh Gioan Maria Vianey


 
Thánh Gioan Maria Vianey

Tác giả:  Trầm Thiên Thu

Hồi thiếu niên, tôi được biết Thánh Gioan Maria Vianney qua các tập truyện hạnh các thánh, và tôi đã rất “ấn tượng” với vị thánh “không giống ai” này. Việc Chúa làm quá kỳ lạ! Quả thật, “điều gì là không thể với loài người thì vẫn có thể đối với Thiên Chúa” (x. Mt 19:26).
Ngày 4-8 hằng năm là lễ Thánh Gioan Tẩy giả Maria Vianney (1786-1859), cha sở họ Ars (curé d’Ars), bổn mạng các linh mục. Ngài là người sống khiêm nhường và thánh thiện khác thường.
Ngài dâng mình vì vinh danh Thiên Chúa và cứu các linh hồn. Ngài chấp nhận phải thánh thiện từ nhỏ, và điều đó đã hoàn tất nơi ngài. Mọi lời ngài nói ra đều được nói bằng tâm tình sùng kính. Thành công của ngài khó ai có thể bắt chước. Ảnh hưởng của ngài không thể bỏ qua, và kết quả không thể tranh luận.
Mẹ của Thánh Gioan Vianney là một phụ nữ rất sùng đạo, bà cho con trai biết đạo rất sớm. Thánh Gioan Vianney nói: “Tôi mắc nợ mẹ tôi, các nhân đức của mẹ tôi dễ dàng đi vào lòng con cái, và con cái sẵn sàng làm những gì được nhìn thấy”. Ngài có bản chất tốt, với đôi mắt xanh và tóc nâu. Về sau, ngài nói: “Khi tôi còn nhỏ, tôi không biết điều xấu. Tôi quen như thế nơi tòa cáo giải, từ miệng của các hối nhân”.
Sau nhiều gian truân, Thánh Gioan Vianney mới được chấp nhận trở thành linh mục. Lúc 20 tuổi, ngài rất khó khăn để học làm linh mục. Mathias Loras, có thể là người thông minh nhất của ngài trong chủng viện, được phân công giúp ngài học, và cũng rất nóng tính. Một hôm, hết chịu nổi khả năng của Gioan Vianney, Mathias Loras (12 tuổi) đã bạt tai Gioan Vianney trước mặt các chủng sinh khác. Mathias Loras thấy nóng mặt, nhưng cậu vẫn quỳ xuống trước mặt Gioan Vianney để xin lỗi. Mathias Loras có một trái tim vàng. Gioan Vianney cảm thấy buồn và bật khóc, rồi ôm lấy Mathias Loras đang quỳ dưới chân mình. Việc này bắt đầu một tình bạn khăng khít. Mathias Loras về sau làm nhà truyền giáo tại Hoa Kỳ, rồi làm giám mục giáo phận Dubuque, nhưng không bao giờ quên kỷ niệm xưa.
Thánh Gioan Vianney là người có cách nhìn vượt qua mọi trở ngại và có những hành vi tưởng chừng như không thể. Ngài khao khát làm linh mục, nhưng ngài phải cố vượt qua sức học yếu kém của mình, không đủ điều kiện vào chủng viện.
Ngài không học nổi tiếng Latin nên buộc ngài phải dừng bước. Nhưng mơ ước làm linh mục trong ngài khiến ngài tự tìm thầy dạy riêng. Sau thời gian dài vật lộn với sách vở, ngài được thụ phong linh mục.
Lúc còn là chủng sinh, Gioan Vianney học rất chậm. Một ngày kia, một giáo sư thần học thừa lệnh Đức Giám mục đến khảo sát Vianney xem có đủ khả năng học vấn để tiến tới chức linh mục không. Tuy đã cố hết sức học hành, Vianney vẫn không thể trả lời được câu nào cho trôi chảy. Nổi nóng, vị giáo sư đập bàn nói: “Vianney, anh dốt đặc như con lừa! Với một con lừa như anh, Giáo hội hy vọng làm nên trò trống gì”?
Gioan Vianney khiêm tốn bình tĩnh trả lời: “Thưa cha, ngày xưa Samson chỉ dùng một cái xương hàm con lừa mà đánh bại 3.000 quân Philitinh. Vậy với cả con lừa này, Thiên Chúa không làm được việc gì sao?”.
Và “con lừa” Gioan Vianney đã làm nên trò trống là làm rạng danh Thiên Chúa và mưu ích cho Giáo hội. Cùng với Catherine Lassagne và Benedicta Lardet, ngài lập La Providence (Chúa quan phòng), một nhà dành cho các cô gái. Ngài tín thác Thiên Chúa sẽ ban các điều cần cho tinh thần và thể lý của những người coi nhà “Chúa Quan Phòng” là nhà của mình.
Những việc “bất khả thi” luôn ám ảnh ngài. Tài mọn, học kém, nhưng ngài vẫn được “đặc cách” thụ phong linh mục năm 1815. Sau 3 năm ở Ecully, ngài được bổ nhiệm về xứ Ars. Khi quản nhiệm xứ Ars, ngài gặp nhiều người lạnh nhạt và sống khá thoải mái. Ngài muốn giúp họ ăn chay nghiêm ngặt và ngủ ít ban đêm: Một số quỷ chỉ có thể bị xua đuổi bằng việc cầu nguyện và ăn chay.
Lm Gioan Vianney cố gắng đạt được điều mà nhiều linh mục ước muốn, nhưng đó là điều khó. Không thể làm trong một sớm một chiều, mà phải kiên nhẫn thay đổi từng chút. Đây là một xứ nhỏ nhưng “rắc rối” đủ chuyện. Khi đến nơi, Lm Gioan Vianney quỳ xuống hôn đất và cầu nguyện. Hành động đặc biệt này đã được Chân phước GH Gioan Phaolô II noi gương mỗi khi ngài đến nơi nào đó. Thánh Gioan Vianney nói: “Nếu một linh mục không muốn mất linh hồn, thì ngay khi giáo xứ gặp rắc rối, linh mục đó phải vượt qua mọi toan tính của con người, không sợ bị khinh thường và bị thù ghét. Linh mục đó không cần phải biện hộ, dù bị sát hại. Mục tử muốn làm sứ vụ thì luôn phải cầm gươm trong tay. Chính Thánh Phaolô đã nói với giáo đoàn Corintô: Phần tôi, tôi rất vui lòng tiêu phí tiền của, và tiêu phí cả sức lực lẫn con người của tôi vì linh hồn anh em. Phải chăng vì yêu mến anh em nhiều hơn mà tôi được yêu mến ít hơn?”. (*)
Trong các bài giảng đầu tiên, Thánh Gioan Vianney đã phản đối các thói hư tật xấu của dân xứ Ars: Báng bổ, nguyền rủa, coi thường ngày Chúa nhật, tụ tập ăn nhậu và múa hát ở các quán xá, những bài hát trơ trẽn và ăn nói tục tĩu. Ngài nói: “Quán xá là cửa hàng của ma quỷ, là trường học của hỏa ngục, là thị trường buôn bán các linh hồn, là nơi làm tan vỡ các gia đình, là nơi làm cho sức khỏe bị hao mòn, là nơi xảy ra các cuộc cãi vã và giết người”.
Thánh Gioan Vianney không bao giờ nghĩ xứ Ars sẽ thay đổi cho đến khi có 200 người sống theo Mười Điều Răn của Chúa, Sáu Điều Răn của Giáo hội và hoàn tất nhiệm vụ trong cuộc sống. Điều này có đòi hỏi quá nhiều để đổi lấy Nước Trời?  Chúa Giêsu nói: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?” (Mt 16:26; Mc 8:34; Lc 9:22). Nếu chúng ta hỏi họ làm gì trong ngày Chúa nhật, có thể họ sẽ trả lời:  “Tôi bán linh hồn cho ma quỷ và đóng đinh Chúa Giêsu... Tôi đã được tiền định xuống hỏa ngục...”.  Đó có thể là lời được nói ra hoặc chỉ được nói thầm trong lòng!
Thánh Gioan Vianney phải mất 10 năm mới có thể thay đổi dân xứ Ars. Không còn làm việc ngày Chúa nhật, nhà thờ càng ngày càng đông người, không còn say xỉn. Cuối cùng, các quán rượu đóng cửa vì không có khách, và các cuộc cãi vã trong gia đình cũng hết. Lòng chân thật trở nên tính cách chung. Thánh Gioan Vianney viết: “Xứ Ars không còn là xứ Ars nữa”, vì cả xứ đã thay đổi tận gốc rễ. Cả xứ Ars trở nên một cộng đoàn đạo hạnh. Ngài vui mừng dạy giáo lý cho trẻ em và dạy chúng làm bổn phận.
Thánh Gioan Vianney thánh hóa mình trong công việc và luôn sống trong thế giới siêu nhiên, nhưng vẫn hoàn thành nhiệm vụ của một con người và một linh mục. Ngài nói: “Thật tốt đẹp biết bao khi làm mọi việc đều kết hiệp với Thiên Chúa nhân lành! Hồn tôi ơi, hãy can đảm! Nếu ngươi làm việc với Thiên Chúa, ngươi sẽ thực sự làm việc, và Ngài sẽ chúc lành cho công việc. Ngươi sẽ bước đi và Ngài sẽ chúc lành cho những bước chân. Mọi thứ đều được ghi công. Hãy dâng mọi đau khổ nhỏ lên cho Chúa. Tốt đẹp biết bao nếu biết dâng mình, dâng ngày, dâng mọi sự cho Chúa!”.
Trong thư an ủi người anh em họ là Lm Chalovet, Thánh Gioan Vianney viết: “Tôi vội viết những dòng này để nói anh đừng bỏ đi, dù có những thử thách mà Chúa muốn anh chịu đựng. Hãy can đảm! Nước Trời đủ để làm phần thưởng cho anh. Hãy nhớ rằng ma quỷ trong thế giới này muốn giành lấy các Kitô hữu tốt lành. Anh đang trong hành trình tử đạo. Nhưng phúc thay nếu anh là người tử đạo vì bác ái! Đừng để mất triều thiên vinh hiển đó. Chính Chúa Giêsu đã nói: ‘Phúc cho ai chịu bách hại vì Ta’. Xin chào tạm biệt. Hãy kiên trì và chúng ta sẽ gặp lại nhau trên Nước Trời... Hãy can đảm lên, hỡi người anh em! Chúng ta sẽ sớm thấy Thiên đàn vinh quang. Sẽ không còn thập giá cho chúng ta! Thật là thiên phúc! Chúa Giêsu đã yêu chúng ta quá nhiều và Ngài sẽ làm cho chúng ta hạnh phúc!”.
Từ nhỏ, Thánh Gioan Vianney đã yêu mến Đức Mẹ. Khi là linh mục, ngài luôn cố gắng truyền bá lòng sùng kính Đức Mẹ. Các gia đình trong xứ Ars đều có tượng Đức Mẹ trước nhà, và trong nhà nào cũng có ảnh Đức Mẹ với chữ ký “M. le Curé” (Cha sở Maria, tức là Lm Gioan Maria Vianney). Năm 1814, ngài cho dựng tượng Đức Mẹ Vô Nhiễm tại nhà thờ xứ. Tám năm trước đó, ngày 1-5-1836, ngài đã dâng xứ Ars cho Đức Mẹ Vô Nhiễm. Những ngày lễ Đức Mẹ, giáo dân rước lễ rất đông, và nhà thờ không bao giờ vắng người. Chiều các ngày lễ Đức Mẹ, không ai muốn bỏ lỡ các bài giảng của ngài về Đức Mẹ. Người nghe rất phấn khởi khi nghe ngài nói về sự thánh thiện, sức mạnh và tình yêu của Đức Mẹ.
Giáo dân xứ Ars nói với nhau: “Cha xứ của chúng tôi luôn làm những điều ngài nói và thực hiện những điều ngài giảng. Không bao giờ thấy ngài nghỉ ngơi thoải mái”. Ngài ăn chay nghiêm ngặt, đến nỗi chỉ còn da bọc xương. Ngài ngủ ít, mà chỉ nằm trên chiếc chiếu giản dị, và việc ăn uống của ngài cũng rất sơ sài, có khi chỉ là mấy củ khoai. Thánh Gioan Vianney đọc sách nhiều, và thường đọc hạnh các thánh. Ngài ấn tượng với cách sống thánh thiện của các thánh, ngài muốn chính ngài và người khác cũng noi theo những tấm gương đạo đức đó. Cách sống của ngài khiến chúng ta phải thẳng thắn tự xét mình rất nhiều!
Ngài nói: “Nếu chúng ta không là thánh bây giờ, thật bất hạnh cho chúng ta, vì thế mà chúng ta phải nên thánh ngay bây giờ. Trong lòng chúng ta không có tình yêu thì chúng ta sẽ không bao giờ có thể làm thánh”.
Từ năm 1827, bắt đầu có nhiều người đổ về xứ Ars. Khách hành hương đến từ Pháp, Bỉ, Anh và từ Mỹ châu. Động lức chính của khách hành hương là muốn xưng tội với vị thánh sống và nghe lời khuyên của cha sở thánh thiện của xứ Ars. Tất cả là hồng ân Chúa, việc Chúa làm, chứ ngài không bao giờ xía vào chuyện riêng của người khác. Ngài hoàn toàn không tò mò, thọc mạch, hoặc chỉ trích giáo dân. Cũng như Thánh Giám mục Phanxicô Salê, ngài có biệt tài “thấy những cái mà người khác không thấy”. Khi giải tội, ngài thực sự thương yêu các hối nhân, đến nỗi ngài thường khóc ngay tòa giải tội. Người ta hỏi sao ngài khóc thì ngài trả lời: “Tôi khóc vì bạn không khóc”.
Người ta nói rằng “phép lạ vĩ đại của cha sở xứ Ars là tòa cáo giải”, vì ngài giải tội suốt ngày suốt đêm. Cũng có người nói rằng “phép lạ vĩ đại nhất của cha sở xứ Ars là hoán cải tội nhân”. Một hôm, có người tới xưng tội, người này chỉ đến nhà thờ vào ngày lễ Giáng sinh và Phục sinh. Thánh Gioan Vianney hỏi: “Ông xưng tội bao lâu rồi?”. Người này trả lời: “Bốn mươi năm rồi”. Ngài ngạc nhiên: “Bốn mươi năm?”. Người này nói: “Dạ, đúng là bốn mươi năm”. Và rồi người đàn ông này đã trở lại và chết tốt lành.
Ngày 4-8-1859, Lm Gioan Vianney trút hơi thở cuối cùng để về với Chúa. Ngài làm cha sở xứ Ars được 41 năm. Ngài được Giáo hội phong thánh năm 1925. Ngày nay, mỗi năm có hơn 500.000 lượt người đến thăm giáo xứ nhỏ bé Ars để kính viếng thi-hài-không-hư-nát của một Đại thánh nhân của Giáo hội Công giáo. Cuộc đời Thánh Gioan Vianney là câu chuyện dài về sự thánh thiện và đức khiêm nhường, ngài có trí thông minh kém cỏi nhưng rất thông minh về Thiên Chúa. Ngài chỉ thành công khi trở thành linh mục, ngài đã hoán cải cuộc đời rất nhiều tội nhân và ảnh hưởng mọi lớp người.
Suốt đời linh mục, ngài rất coi trọng việc giải tội vì ngài muốn giải hòa người ta với Thiên Chúa. Có những ngày ngài giải tội khoảng 12 giờ vào mùa Đông, và 16 giờ vào mùa Hè. Ngài không hề nghĩ tới việc nghỉ hưu. Khi nhiều người biết đến ngài, ngài dành thêm thời gian để phục vụ Thiên Chúa, thậm chí ngài có ít thời gian để ngủ vì thường xuyên bị ma quỷ “quấy rầy”.
Ngài sinh tại Dardilly và qua đời tại Ars, Pháp. Ngài được ĐGH Piô X phong chân phước, và được ĐGH Piô XI phong thánh. Ngài được tôn phong là bổn mạng các linh mục, nhưng nhiều linh mục chưa thực sự noi gương ngài để trở thành khí cụ như Ý Chúa!
Cuộc đời Thánh Gioan Vianney đã hoàn tất theo Ý Chúa: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20:28; Mc 10:45).
Có quy-trình-trao-đổi thế này: Nếu linh mục là vị Thánh, giáo dân sẽ thánh thiện; nếu linh mục thánh thiện, giáo dân sẽ tốt lành; nếu linh mục tốt lành, giáo dân sẽ tử tế; nếu linh mục tử tế, giáo dân sẽ vô tín ngưỡng. Chân phước Mẹ Teresa Calcutta ghi một bảng chữ ở phòng áo nhà nguyện thế này: “Xin các linh mục hãy dân thánh lễ sốt sắng như thánh lễ đầu tiên và như thánh lễ cuối cùng”. Mẹ Teresa rất sâu sắc và thánh thiện, vì cử hành thánh lễ là cử hành bí tích, rất quan trọng!
Thánh Gioan Vianney đang nhắc nhở chúng ta nhiều điều lắm!
Lạy Thánh Gioan Vianney, xin cho chúng con biết noi gương thánh thiện của ngài, và xin nguyện giúp cầu thay cho chúng con để chúng con có thể mau mắn hoán cải và sống theo lệnh truyền của Chúa Giêsu: “Hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48).
TRẦM THIÊN THU
(*) 2 Cr 12:15.

Nguồn: thanhlinh.net

LỜI CHÚA MỖI NGÀY THỨ NĂM TUẦN XVII THƯỜNG NIÊN năm II



LỜI CHÚA MỖI NGÀY
THỨ NĂM TUẦN XVII THƯỜNG NIÊN năm II
Bài đọc: Jer 18:1-6; Mt 13:47-52
GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ :
Cần biết mình trong mối tương quan với Thiên Chúa.

Khi con người càng giàu có và tiến bộ văn minh, con người càng xa Thiên Chúa; ngược lại, ở những nước nghèo khổ và chậm phát triển, con người dễ tin tưởng vào Thiên Chúa hơn. Một ví dụ dẫn chứng: Đức Giáo Hoàng Benedict đã hơn một lần cảnh cáo các nước Âu Châu đang mất dần đi đức tin, gia sản Kitô giáo của mình; đang khi đó ở Phi Châu và Á Châu, số tín hữu và linh mục lại gia tăng rất nhiều. Lý do nào đã đưa con người xa Thiên Chúa khi họ trở nên giàu có và thụ hưởng một nếp sống văn minh hơn? Có phải khi con người giàu có và tiến bộ, Thiên Chúa không còn chỗ đứng trong cuộc đời của họ nữa?
Các bài đọc hôm nay cho chúng ta một cái nhìn xác thực về vấn đề này. Trong bài đọc I, ngôn sứ Jeremiah được Thiên Chúa mặc khải sự khôn ngoan khi ông chứng kiến người thợ gốm làm việc. Như nắm đất sét trong tay thợ gốm, ông có thể nặn ra những chiếc bình khác nhau; nếu có chiếc bình nào không đúng ý, ông có thể loại bỏ hoặc sửa lại cho vừa ý. Thiên Chúa cũng thế, Ngài có thể sáng tạo nên những con người khác nhau; nếu một người trở nên không đúng ý Thiên Chúa, Ngài có thể loại bỏ hay sửa chữa cho hợp với thánh ý của Ngài. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đưa ra hai hình ảnh để mời gọi con người suy nghĩ. Thứ nhất, như chiếc lưới thả xuống biển và bắt lên mọi cá tốt cũng như cá xấu, người ngư phủ ngồi lựa cá tốt cho vào giỏ, cá xấu quăng đi; thiên thần của Thiên Chúa cũng gom nhặt tất cả mọi người, người công chính cho vào Nước Trời, trong khi những người xấu nết bị quăng ra ngoài. Thứ hai, như một quản gia tích trữ trong kho cả những cái cũ lẫn cái mới, Nước Trời cũng bao gồm cả cái cũ lẫn cái mới, chứ không phải chỉ có những cái mới mà thôi.
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Đất sét ở trong tay người thợ gốm thế nào, các ngươi ở trong tay Ta cũng như vậy.
Mặc khải của Thiên Chúa cho con người không chỉ bằng lời nói, nhưng còn bằng hình ảnh, vì chúng giúp con người dễ cảm nhận hơn. Những thị kiến các ngôn sứ nhìn thấy, không nhất thiết phải từ trời; nhưng có thể từ những kinh nghiệm nhìn thấy hằng ngày. Thiên Chúa ban ơn linh hứng cho các ngôn sứ, để ông có thể hiểu một chân lý cao sâu đàng sau những gì đang thấy, trước khi loan truyền lại cho dân chúng.

1.1/ Hình ảnh đất sét ở trong tay người thợ gốm: Trình thuật hôm nay muốn diễn tả: Đất sét chỉ là chất liệu. Nó không thể đòi người thợ gốm tạo thành chiếc bình thay vì cái nồi. Óc sáng tạo là ở nơi người thợ gốm, ông có thể nặn lên bất cứ hình ảnh nào ông muốn. Khi nặn một đồ vật bị hỏng, ông có thể vứt đi, hoặc nhồi đất sét để nặn lại. Đất sét không có một chút uy quyền gì đối với người thợ gốm.
Bàn xoay (obnayim) chỉ tìm thấy ở đây, là hai cối đá được nối kết với nhau bằng một trục đứng. Cối đá ở dưới được điều khiển bằng chân; trong khi cối đá ở trên được điều khiển bằng tay (Sir 38:29-30). Chiếc bình bị hỏng vì nhiều lý do, nhưng lý do chính yếu là nó không theo đúng ý của người thợ gốm. Khi thấy không hợp ý, người thợ gốm có quyền vứt đi để nặn chiếc bình khác hay sửa chữa cho đúng ý. Đây chính là ý chính của thị kiến.

1.2/ Con người ở trong tay Thiên Chúa.
Trình thuật hôm nay có ý muốn nói: Thiên Chúa chính là người thợ gốm. Israel chính là đất sét trong tay Ngài. Thiên Chúa có thể (yasar), có nghĩa “nặn” hay “sáng tạo” nên những con người khác nhau. Ý tưởng con người là đất sét rất phổ thông trong vùng Cận Đông, và nguồn gốc của nó liên quan với thợ gốm.
Ý chính của trình thuật là con người hoàn toàn tùy thuộc vào Thiên Chúa cho sự hiện hữu của họ. Thiên Chúa có thể làm cho con người trở thành một thọ tạo tốt đẹp nhất, như người thợ gốm làm một chiếc bình đẹp nhất. Chiếc bình không thể nói với thợ gốm: Tự tôi làm ra chiếc bình đẹp này. Như đất sét không thể truyền cho người thợ gốm nặn mình thành cái gì mình muốn hay đừng nặn những gì mình không muốn; con người cũng không thể yêu cầu Thiên Chúa tạo họ thành những gì họ muốn, và họ cũng không thể trở thành những gì mà Thiên Chúa không muốn.
Trong thực tế, khi vật chất tương đối đầy đủ hay hưởng thụ các văn minh tiến bộ, con người thường có khuynh hướng kiêu hãnh: coi như tất cả những gì mình sở hữu là do chính mình tạo nên. Vì quên nguồn gốc nên họ coi họ như chủ nhân và làm bất cứ điều gì họ muốn. Họ khinh thường những điều răn Chúa dạy và coi những điều này như là dây xích giới hạn sự tự do của họ.

2/ Phúc Âm: Nước Trời giống như lưới cá thả xuống biển gom được đủ thứ cá.

2.1/ Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính.
Chúa Giêsu dùng hình ảnh người ngư phủ ngồi lựa cá để nhắc nhở cho dân chân lý này: Chẳng có ngư phủ nào dại dột bỏ chung cá tốt với cá xấu. Trái lại, ông sẽ ngồi chọn lựa: cá tốt bỏ vào giỏ, cá xấu quăng ra ngoài. Cũng vậy, trong Ngày Phán Xét, Chúa sẽ sai các thiên thần của Ngài lựa những người tội lỗi ra khỏi những người công chính, và quăng họ vào lò lửa, ở đó họ sẽ phải khóc lóc và nghiến răng! Nếu con người biết họ sẽ không thể vào Nước Trời nếu cứ mang trong mình đủ mọi tội lỗi, họ phải biết ăn năn trở lại và tập sống thành người tốt hơn.

2.2/ Nước Trời giống như chủ nhà kia lấy ra từ trong kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ.
Chúa dùng hình ảnh của người luật sĩ đã được học hỏi thông thạo về Nước Trời: Ông giống như người quản gia, mang ra từ kho tàng của mình cả cái mới lẫn cái cũ. Qua hình ảnh này, Chúa cho dân chúng thấy Nước Trời không chỉ toàn cái cũ, cũng không chỉ toàn cái mới; mà là cả cũ lẫn mới. Nếu hiểu Nước Trời là chính Chúa Giêsu, từ nơi Ngài tập trung cả cái cũ lẫn cái mới, cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Ngài đến để làm trọn những gì Cựu Ước đã nói về Ngài.
Một trong những thái độ vô cùng nguy hiểm của con người thời đại là thái độ “có mới nới cũ.” Những người này chủ trương phải đạp đổ hay ít nhất xét lại tất cả quá khứ và xây dựng lại từ đầu. Họ quên đi rằng không phải tất cả những gì cũ là dở và những gì mới đều hay; chưa chắc cái mới đã tốt bằng cái cũ, và rất nhiều lần cái mới là kiện toàn của cái cũ. Những tiến bộ của khoa học không nên làm con người xa Thiên Chúa; nhưng phải là lý do để con người tiến gần Chúa hơn, vì Thiên Chúa đã cho con người có khôn ngoan để khám phá ra những trật tự mà Thiên Chúa đã cho tiềm ẩn trong thế giới.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Con người do Thiên Chúa tạo dựng và điều khiển. Chúng ta không bao giờ được kiêu hãnh coi mình trên Thiên Chúa hay không cần đến Ngài. Trái lại, chúng ta cần khiêm nhường nhìn nhận mình chỉ là loài thụ tạo trước mặt Chúa và không thể sống thiếu Ngài.
- Chúng ta sẽ chết và bị phán xét trong Ngày Tận Thế. Ngày Tận Thế không phải do trí tưởng tượng nhưng do chính Con Thiên Chúa đã mạc khải. Trong ngày này, chúng ta sẽ phải trả giá tất cả các việc mình đã làm khi còn sống nơi thế gian, và sẽ được vào Nước Trời hay bị quăng ra ngoài là do hậu quả của các việc làm này.
- Vì những chân lý này mà chúng ta phải sống rất khôn ngoan đang khi còn sống trên thế gian. Chúng ta phải cẩn thận tuân giữ luật Chúa, càng văn minh bao nhiêu càng cần giữ luật nghiệm nhặt bấy nhiêu. Chúng ta đừng sống như không có nguồn gốc và cũng đừng sống như không có ngày mai.
Lm. An-tôn Đinh Minh Tiên, OP.