Trang

Thứ Ba, 2 tháng 9, 2014

VUI HỌC THÁNH KINH THÁNH GRÊGÔRIÔ CẢ Giáo hoàng, tiến sĩ

VUI HỌC THÁNH KINH
THÁNH GRÊGÔRIÔ CẢ
Giáo hoàng, tiến sĩ
Tin Mừng thánh Mátthêu 16,13-19
Ngày 3 tháng 9




Tin Mừng

13 Khi Đức Giêsu đến vùng kế cận thành Xê-da-rê Phi-líp-phê, Người hỏi các môn đệ rằng: "Người ta nói Con Người là ai? "14 Các ông thưa: "Kẻ thì nói là ông Gio-an Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Ê-li-a, có người lại cho là ông Giê-rê-mi-a hay một trong các vị ngôn sứ."15 Đức Giêsu lại hỏi: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? "16 Ông Si-môn Phê-rô thưa: "Thầy là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống."17 Đức Giêsu nói với ông: "Này anh Si-môn con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.18 Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.19 Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy."

13  When Jesus went into the region of Caesarea Philippi he asked his disciples, "Who do people say that the Son of Man is?"

14 They replied, "Some say John the Baptist, others Elijah, still others Jeremiah or one of the prophets."

15 He said to them, "But who do you say that I am?"

16 Simon Peter said in reply, "You are the Messiah, the Son of the living God."

17 Jesus said to him in reply, "Blessed are you, Simon son of Jonah. For flesh and blood  has not revealed this to you, but my heavenly Father.

18 And so I say to you, you are Peter, and upon this rock I will build my church, and the gates of the netherworld shall not prevail against it.

19 I will give you the keys to the kingdom of heaven. Whatever you bind on earth shall be bound in heaven; and whatever you loose on earth shall be loosed in heaven."


 HÌNH TÔ MÀU

I


* Chủ đề của hình này là gì?
… … … … … … … … … … … … …

* Bạn hãy viết câu TM thánh Mátthêu 16,19
… … … … … … … … … … … … …
… … … … … … … … … … … … …
… … … … … … … … … … … … …
… … … … … … … … … … … … …

II. TRẮC NGHIỆM

A.
a1. Đây là những nhân vật người ta nói về Con Người là ai? (Mt 16,13-14)
a. Ông Giêrêmia
b. Ông Êlia
c. Ông Gioan tẩy giả
d. Cả a, b và c đúng.

a2. Ai đã tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống? (Mt 16,16)
a. Ông Gioan
b. Ông Philipphê
c. Ông Tôma
d. Ông Simon Phêrô

a3. Ai dã mạc khải cho ông Simon Phêrô biết Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống? (Mt 16,17)
a. Ông Môsê
b. Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời
c. Tổ phụ Ápraham
d. Ngôn sứ Êlia

a4. Đức Giêsu sẽ xây dựng Hội Thánh của Thầy trên Tảng Đá và quyền lực của ai sẽ không thắng nổi? (Mt 16,18)
a. Chính trị
b. Tử thần
c. Vua chúa
d. Xã hội.

a5. Đức Giêsu trao cho ai chìa khóa Nước Trời? (Mt 16,19)
a. Ông Giacôbê
b. Ông Phêrô
c. Ông Gioan
d. Ông Tôma


B.

b1. Thánh Grêgôriô Cả  sinh năm 540 tại đâu?

a. Giêrusalem

b. Contantinop

c. Ai cập

d. Rô ma

 

b2. Thánh Grêgôriô Cả đã cai trị Giáo hội suốt mười bốn năm. Thánh nhân là một trong những vị giáo hoàng vĩ đại nhất của Giáo hội Công giáo. Thánh Grêgôriô là nhà giảng thuyết lừng danh và ngài cũng viết rất nhiều tác phẩm. Ngài chăm lo cho mọi người trên khắp cả thế giới. Thánh Grêgôriô Cả có lòng yêu thương và quan tâm đặc biệt đến những ai ?

a. Người nghèo khổ

b. Người vô gia cư

c. Các hiệp sĩ thập tự quân

d. Chỉ có a và b đúng.

 

b3. Thời Đức Giáo Hoàng Pêlagiô II, thánh Grêgôriô được đặt làm gì để phụ trách một phần thành Rôma?

a. Giám mục

b. Linh mục

c. Phó tế miền

d. Tu viện trưởng


b4. Những việc mà Thánh Grêgôriô Cả đã làm :
a. Canh tân phụng vụ
b. Canh tân luật giáo sĩ
c.  Gởi Giám mục Augustinô và 40 tu sĩ sang truyền giáo ở Anh
d. Cả a, b và c đúng

b5. Thánh Grêgôriô qua đời ngày 12/3/604, và xác được đem vào Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô. Bia mộ của  ngài đã gọi người là “Vị Tổng Tài của Thiên Chúa”. Ngài được phong thánh liền sau đó. Năm 1298, Đức Giáo hoàng nào đã tôn phong ngài lên bậc tiến sĩ Hội Thánh?
a. Đức Giáo Hoàng Bonifaciô VIII
b. Đức Giáo Hoàng Piô IX
c. Đức Giáo Hoàng Ubanô VIII
d. Đức Giáo Hoàng Lêô XIII


III.  Ô CHỮ



Những gợi ý

01. Ông Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là ai? (Mt 16,16)(Mt 16,16)

02. Ông Simon Phêrô tuyên xưng ai là Đấng Kitô, con Thiên Chúa hằng sống? (Mt 16,16

03. Trên Tảng Đá là Phêrô, Đức Giêsu sẽ xây dựng điều gì của ngài? (Mt 16,18) 

04. Đức Giêsu trao cho ông Phêrô chìa khóa Nước Trời : dưới đất, anh cầm buộc điều gì, thì ở đâu cũng sẽ cầm buộc như vậy? (Mt 16,19) 

05. Đức Giêsu nói với ông Phêrô: Thầy sẽ xây dựng Hội Thánh của Thầy và quyền lực của ai sẽ không tháng nỗi? (Mt 16,18) 

06. Đức Giêsu đã trao cho ông Phêrô chìa khóa gì? (Mt 16,19) 06. Nước Trời (Mt 16,19)

07. Đây là 1 trong những nhân vật mà người ta nghĩ về Con Người là ai? (Mt 16,14) 

08. Ông Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con của ai? (Mt 16,16)

09. Đức Giêsu gọi ông Simon là Phêrô, nghĩa là gì? (Mt 16,18) 

Hàng dọc: Chủ đề của ô chữ này là gì?

IV. CÂU THÁNH KINH HỌC THUỘC LÒNG

"Thầy là Đấng Kitô,
Con Thiên Chúa hằng sống."
Tin Mừng thánh Mátthêu 16,16

Lời giải đáp
VUI HỌC THÁNH KINH
THÁNH GRÊGÔRIÔ CẢ
Giáo hoàng, tiến sĩ
Tin Mừng thánh Mátthêu 16,13-19
ngày 3 tháng 9


I. HÌNH TÔ MÀU

* Chủ đề :
Thánh Grêgôriô Cả, Giáo Hoàng

* Tin Mừng thánh Mátthêu 16,19:

“Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy."

II. Lời giải đáp TRẮC NGHIỆM
A.
a1. d. Cả a, b và c đúng (Mt 16,13-14)
a2. d. Ông Simon Phêrô (Mt 16,16)
a3. b. Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời (Mt 16,17)
a4. b. Tử thần (Mt 16,18)
a5. b. Ông Phêrô (Mt 16,19)

B.

b1. d. Rô ma

b2. d. Chỉ có a và b đúng.

b3. c. Phó tế miền

b4. d. Cả a, b và c đúng
b5. a. Đức Giáo Hoàng Bonifaciô VIII


III.  Ô CHỮ

01. Đấng Kitô (Mt 16,16)
02. Đức Giêsu (Mt 16,16)
03. Hội Thánh (Mt 1618)
04. Trên trời (Mt 16,19
05. Tử thần (Mt 16,18)
06. Nước Trời (Mt 16,19)
07. Êlia (Mt 16,14)
08. Thiên Chúa (Mt 16,16)
09. Tảng Đá (Mt 16,18)

Hàng dọc : Giáo Hoàng

NGUYỄN THÁI HÙNG


 

Ngày 03/9:

Thánh Grêgôriô cả,

Giáo hoàng, tiến sĩ Hội Thánh



Sau khi người cha qua đời, thánh Grêgôriô lãnh nhận tất cả gia tài trong đó có cả tu viện Andreas và tài sản ở Sicile gồm 5 tu viện khác. Ngài trở thành tu sĩ ở tu viện Andreas. Không bao lâu, Giáo triều cử ngài làm sứ thần Tòa Thánh tại Constantinople từ năm 579-585. Sau đó được gọi về Rôma giữ nhiều chức vụ quan trọng và vào năm 590 được bầu lên ngôi Giáo hoàng.

Ngài được gọi là Grêgôriô cả vì những công tác đại sự của mình:

-                                   Canh tân phụng vụ
- Canh tân luật giáo sĩ
- Phát triển luật dòng Biển Đức
- Gởi Giám mục Augustine và 40 tu sĩ sang truyền giáo ở Anh
- Cố gắng liên lạc với các man dân đã tiêu diệt đế quốc La Mã, lo lắng cho họ vào đạo. Thành công trong việc truyền đạo cho người Lombard
- Đối đầu với việc ly khai của anh em Đông Phương.
-                                    
Ngài được tôn phong là tiến sĩ Hội Thánh. Chúng ta còn giữ được 854 lá thư của ngài gởi cho đủ hạng người. Trong lập trường thần học và chính trị tôn giáo, ngài chịu ảnh hưởng của Thánh Augustine rất nhiều.

Ngài đã có công trả tất cả gia sản tinh thần của các giáo phụ cho thời đại mới sau thời di dân, mà chúng ta gọi là thời Trung Cổ. Ngài qua đời ngày 12 thánh 3 năm 604.

Nhờ công nghiệp và lời chuyển cầu của thánh Grêgôriô, xin Chúa cho mỗi người Kitô hữu hãy biết đem khả năng và sức lực của mình để phụng sự Chúa và chăm lo cho phần rỗi các linh hồn.



HƯỚNG VỀ THƯỢNG HỘI ĐỒNG THẾ GIỚI VỀ GIA ĐÌNH

HƯỚNG VỀ THƯỢNG HỘI ĐỒNG THẾ GIỚI VỀ GIA ĐÌNH


Ngay khi lên ngôi giáo hoàng, Đức Phanxicô đã cho biết hai chương trình lớn mà ngài muốn thực hiện ngay: 

• Cải tổ Giáo Triều và các cơ quan phụ thuộc, trong đó có ‘ngân hàng Vatican’.

• Tìm cách đáp ứng những thách đố về gia đình hầu đẩy mạnh việc loan báo Tin Mừng.

Ở đây chúng ta chỉ đề cập đến vấn đề thứ hai, tức là chủ đề về ‘Mục Vụ Gia Đình’. Theo Đức Phanxicô, đây là ‘chủ đề mục vụ rất quan trọng, liên hệ đến toàn bộ sinh hoạt mục vụ của Giáo Hội’, nên ngài quyết định:

• THĐ thứ 13, tháng 10. 2014 năm nay (từ 5-10), chỉ nhằm mục đích thẩm định và đào sâu các dữ kiện do các HĐGM hay các Giáo Hội địa phương gửi về.

• THĐ thứ 14,, tháng 10. 2015 năm sau, sẽ đề ra những đường hướng thực hành cho mục vụ gia đình.

Do đó, hôm nay tôi chỉ trình bày với quý vị một số điểm tương quan đến THĐ 13, từ 5 đến 10. 10. 2014 tới. 

A. TÀI LIỆU CHUẨN BỊ VÀ TÀI LIỆU LÀM VIỆC.

1. Tài liệu thăm dò và tài liệu làm việc.

• Trước tiên Ban chuẩn bị THĐ đã soạn thảo một tài liệu thăm dò (Lineamenta) với 39 câu hỏi, gửi đến các Hội Đồng Giám Mục và Công Nghị của các Giáo Hội Đông Phương, cũng như các Cơ Quan Trung Ương Tòa Thánh. Hạn chót trả lời là 31.01.2014. 

• Sau đó, một Hội Đồng gồm 15 Hồng Y và giám mục với sự trợ giúp của Văn Phòng Tổng Thơ Ký THĐ và các chuyên gia đã dựa vào các tài liệu từ bốn phương gửi về, soạn thảo một tài liệu làm việc (Instrumentum laboris) dài 75 trang chia thành 159 đoạn. Tài liệu này sẽ được dùng làm căn bản để thảo luận trong các buổi hội của THĐ tháng 10 tới. Tài liệu này đã được gửi đến các nghị phụ sẽ tham dự THĐ, và đã được giới thiệu với báo chí ngày 26.6.2014 vừa qua.

2. Tài liệu làm việc gồm 3 phần.

• Phần I: Nói về việc ‘thông truyền Tin Mừng trong gia đình hiện nay’ và chia làm 4 chương. - Ch 1, ‘Ý định của Thiên Chúa về hôn nhân và gia đình’. – Ch. 2, Sự hiểu biết và đón nhận Kinh Thánh và các văn kiện về hôn nhân - Ch. 3, Tin Mừng về gia đình và luật tự nhiên. – Ch. 4, Gia đình và ơn gọi của con người trong Chúa Kitô.

• Phần II: Nói về ‘mục vụ gia đình trước các thách đố hiện nay’ và gồm 3 chương. – Ch. I, Trước tiên là các đề nghị liên quan đến mục vụ gia đình. – Ch. 2, Những thách đố về mục vụ gia đình hiện nay. – Ch. 3, Những hoàn cảnh khó khăn trong mục vụ gia đình.

• Phần III : Bàn về ‘sự cởi mở đón nhận sự sống và trách nhiệm giáo dục’ và gồm 2 chương: - Ch. 1, Những thách đố mục vụ đối với việc cởi mở đón nhận sự sống. – Ch. 2, Giáo Hội và gia đình đứng trước thách đố giáo dục.

B. NHỮNG NGUYÊN NHÂN TẠO NÊN KHÓ KHĂN VÀ NHỮNG ĐIỂM NÓNG CỦA MỤC VỤ HÔN NHÂN HIỆN NAY.

Chúng ta không thể đi vào chi tiết của mỗi chương của ba phần tóm lược ở trên. Chúng ta chỉ dừng lại ở hai điểm sau đây: 

• Những nguyên do tạo nên các khó khăn trong sinh hoạt mục vụ gia đình ngày nay, nhất là sự ít hiểu biết và ít đón nhận giáo huấn của Giáo Hội.

• Mấy vấn đề nóng bỏng.

I. Những nguyên do …

Dưới đây là tóm lược những nhận xét, những đề nghị, đôi khi là những than phiền của các HĐGM khắp nơi gửi về Ban chuẩn THĐGM.

1. Biết và hiểu về các văn kiện của Giáo Hội.

• Chỉ những người chuyên môn trong lãnh vực thần học và luân lý gia đình ….

• Rất ít ỏi giáo dân biết đến… Nhiều giáo dân coi những giáo huấn đó xa vời cuôc sống thực tế của họ…

• Ngay các linh mục, vì không được chuẩn bị, nên các ngài gặp nhiều khó khăn trong việc dẫn giải cho giáo dân. Nội dung của văn kiện nhiều khi khó nắm bắt. 

2. Cần có những linh mục và thừa tác viên được chuẩn bị.

• Theo sự phán đoán của một số giáo dân thì nhiều khi chính các mục tử không hiểu rõ các vấn đề hôn nhân gia đình trong các văn kiện, và cũng không có những tài liệu để khai triển những văn kiện này.

• Chính các mục tử tự cảm thấy mình không thích hợp và không được chuẩn bị để bàn về các vấn đề liên quan đến tính dục, sự thai ngén và sinh sản…

• Người ta hoang mang và phàn nàn về : thái độ dửng dưng, những ý kiến bất đồng giũa các mục tử … về giáo huấn luân lý của Giáo Hội…

• Cần chuẩn bị kỹ lưỡng cho các linh mục, phó tế và một số giáo dân có trách nhiệm mục vụ, nắm vững và biết cắt nghĩa văn kiện của Giáo Hội về hôn nhân và gia đình.

3. Giáo dân đón nhận không đồng đều các giáo huấn của Giáo Hội.

• Nhiều HĐGM nhận xét: Nơi nào mà phương tiện truyền thông của Giáo Hội hay thái độ ‘tốt lành’ của nhà nước về phạm vi truyền thông, thì giáo huấn của Giáo Hội về hôn nhân được phổ cập nhiều hơn, phần lớn giáo dân hồ hởi đón nhận… với tinh thần đức tin, vì sự tốt lành và giá trị luân lý của giáo huấn hơn vì tò mò muốn biết Giáo Hội nghĩ gì về tính dục…

• Tùy theo hoàn cảnh văn hóa, phong tục, luân lý của mỗi địa phương … mà giáo dân đón nhận ‘với mức độ khác nhau’ các giáo huấn của Giáo Hội, đặc biệt về các vấn đề: ngừa thai, ly dị, tái hôn, đồng tình luyến ái, đa thê … 

• Nói riêng về ảnh hưởng của các kỹ thuật mới, về chủ nghĩa ‘duy khoái lạc’, ‘tưong đối’, ‘trào lưu tục hóa’, ‘một xã hội buông thả’ …

• Riêng giáo huấn của Giáo Hội về phẩm giá và sự kính trọng sự sống thì được giáo dân đón nhận rộng rãi…

4. Để cổ võ sự hiểu biết và đón nhận giáo huấn của Giáo Hội về hôn nhân và gia đình.

• Cần thiết phải tìm ra những phương thức mới để truyền đạt giáo huấn của Giáo Hội.

• Cần xét lại những truyền thống không hợp thời, cần tạo sức năng động, và vận động khả năng tài chánh cho việc phổ biến.

• Cần đào tạo nhận sự (linh mục, phó tế, giáo dân) cách thích đáng…, cần thiết lập các ủy ban cấp giáo phận và cấp quốc gia vừa quy củ vùa hiệu lực…

• Cần tổ chức những khóa học hỏi cho giáo dân có gia đình, đặc biệt trong chương trinh chuẩn bị hôn phối….

II. Ba vấn đề nóng bỏng…

Trong phần II, tài liệu làm việc nói nhiều về những thách đố trong mục vụ gia đình hiện nay, cách riêng về những tình trạng không hợp giáo luật, mà nổi bật nhất là ‘những người ly dị tái hôn dân sự’ – và ‘những người đồng tình luyến ái’. 

1. Những người ly dị và tái hôn dân sự.

• Có hai loại người với hai tâm trạng bất mãn: 1) Đa số sống ‘bất cần’ đối với Giáo Hội, không thèm nghĩ đến việc lãnh bí tích hòa giải và việc rước lễ nữa. 2) Một số nhỏ khác ‘cảm thấy bị gạt ra khỏi Giáo Hội’ và tự hỏi ‘tại sao những tội khác được thứ tha mà tội ly dị tái hôn thì không’, họ cảm thấy việc Giáo Hội cấm lãnh nhận các bí tích như một hình phạt, một hình thức loại trừ.

• Nhiều HĐGM yêu cầu có những phương thế mới để có thể thực thi lòng từ bi, khoan dung và ân xá đối với những vụ tái hôn như thế.

• Tuy đã có những trường hợp linh mục có thể cho phép lãnh nhận các bí tích trong một giới hạn nào đó. Tuy thế, người ta vẫn cảm thấy không được chấp nhận công khai trong đời sống Giáo Hội, và vẫn là ‘tín hữu bị loại trừ’.

• Nhiều HĐGM đề nghị đơn giản hóa thủ tục ‘việc cứu xét tuyên bố hôn nhân vô hiệu’ (có cần sự đồng thuận của cả hai cấp bậc tòa án?).

• Cần tăng thêm số tòa án hôn phối, cần đào tạo những người vừa có khả năng giáo luật, vừa có tinh thần và kinh nghiệm mục vụ’ làm việc trong các tòa án.

• Tài liệu làm việc nêu rõ rằng: trong những trường hợp khó khăn, Giáo Hội không được có thái độ quan tòa lên án, nhưng là thái độ của một người mẹ luôn đón nhận con cái mình và nhấn mạnh rằng: ‘sự kiện không được lãnh nhận các bí tích không có nghĩa là bị loại khỏi đời sống Kitô và quan hệ với Thiên Chúa’.

• Các linh mục, đặc biệt các cha sở phải biết vui vẻ tiếp đón và ân cần giúp đỡ những người ly dị tái hôn… 

• Có thể khuyến khích họ đi tham dự các ‘khóa gặp gỡ chuyên biệt’ cho những người ly dị và tái hôn.

2. Những người đồng tình luyến ái.

• Tất cả các HĐGM đều chống lại việc ban hành luật lệ cho phép ‘hôn nhân đồng tình luyến ái’ cũng như cho phép ‘nhận con nuôi’. 

• Tuy nhiên phải có thái độ tôn trọng và không phán đoán đối với những người đồng tình luyến ái. 

• Cần có một chương trình mục vụ thích hợp cho những người đồng tình luyến ái.

• Nếu họ xin rửa tội cho trẻ em, thì phải đón nhận, dịu dàng… và chăm sóc chúng như mọi đứa trẻ Công Giáo khác.

3. Cởi mở đối với sự sống và trách nhiệm giáo dục.

• Đây là nội dung của phần III trong tài liệu làm việc gồm 2 chương. 

• Ch. I, Cởi mở đón nhận sự sống, đạo lý này của Giáo Hội ít được đôi vợ chồng ý thức đến chiều sâu của nó. 

• Ch II, Thách đố mục vụ: - Người ta cho rằng ‘giáo huấn của Giáo Hội xen vào đời sống riêng của vợ chồng, và hạn chế quyền tự quyết của lương tâm của vợ chồng… - Họ cho rằng các phương pháp ngừa thai tự nhiên không ‘hiệu lực’, không ‘thực tế’. Túi cao su thực tế để tránh bệnh liệt kháng… - Thậm chí các chính quyền không chấp nhận, giới truyền thông chế nhạo lập trường của Giáo Hội… 

• Kết luận của phần III: Mong Giáo Hội cho những câu trả lời có nền tảng, đi xa hơn là ‘lời kết án chung chung’… Các linh mục phải được học hỏi kỹ lưỡng về các vấn đề này.

Paris, ngày 31 tháng 08 năm 2014

Lm Giuse Mai Đức Vinh

-----------------------

Cần đọc và tham khảo:

1. Thánh Kinh: Hôn nhân được thiết lập theo ý muốn của Thiên Chúa: - St. 1,27-28; - St 2,18-25. – Tb 8,6-7; - Mt 19,3-9; - Mc 10,1-12; - 1Cr 6,16; - 1Tm 4,3.

2. Hiến chế Niềm Vui và Hy Vọng (GS): Phẩm giá của Hôn Nhân và Gia Đình, ss 47- 52.

3. Giáo Luật : Bí tích Hôn Nhân, Đ 1055-1057, - Săn sóc mục vụ Đ 1063-1067.

4. Sách Giáo Lý Công Giáo: Ý muốn của Thiên Chúa, s.372 – Hôn nhân trong ý định củ Thiên Chúa ss 1601-1602, Trong trật tự sáng tạo, 1603-1605, Nhất phu nhất phụ và bất khả phân ly: 1610, 1616-1617.

5. Tài liệu khác: Hôn nhân giữa hai người đồng phái, một xúc phạm đến chương trình của Thiên Chúa.

Thần học, hạnh phúc và tuổi trẻ

Thần học, hạnh phúc và tuổi trẻ

Adam M. Green là giáo sư dạy môn giáo dục tôn giáo tại Trung Học Walsh của Dòng Tên tại Cuyahoga Falls, Ohio. Ông có thạc sĩ thần học tại Trường Thần Học và Thừa Tác Vụ của Cao Đẳng Boston. Theo ông, các học sinh trung học ít chú trọng tới môn học này, nhất là khi gọi nó là thần học, như trường ông dạy vốn gọi. Vì các em vốn có cái nhìn khá tiêu cực về thần học.

Từ kinh nghiệm giảng dạy của riêng ông, ông nhận thấy khi rút gọn môn tôn giáo học vào việc truyền đạt kiến thức hay thông tri, nó sẽ khiến học sinh 1) cảm thấy tệ hơn về chính chúng chứ không tốt hơn, 2) làm các em xa Chúa hơn là gần Chúa và 3) khiến các em nghĩ rằng đức tin là chuyện vớ vẩn và phản lý trí, hơn là khiến chúng suy nghĩ hay mang lại sự sống. 

Thật ra thần học hay tôn giáo học không đơn thuần chỉ có thế. Lấy thí dụ, các em trung học là tuổi khao khát hạnh phúc. Nhưng các em đâu ngờ Thánh Tôma Aquinô chủ trương rằng hạnh phúc là một trong các đặc tính nền tảng của việc tâm trí ta thuận tình với Thiên Chúa, và dưới ánh sáng này, thần học hay tôn giáo học chính là môn học nhờ đó, ta không những hiểu hạnh phúc mà cuối cùng còn đạt tới hạnh phúc nữa. 

Xem ra lý do các em có những trải nghiệm tiêu cực về thần học là do hai cực đối lập nhau sau đây. Đối với nhiều em, tôn giáo học một đàng quá mây khói và mơ hồ, đàng khác quá độc đoán chuyên quyền. Mây khói, trên mây, vì giáo dục tôn giáo được mô tả như có mục đích cực kỳ mơ hồ là “để gần Thiên Chúa hơn”. Với cách tiếp cận này, thần học trở thành môn học “dễ hạng A” trong đó những câu như “Chúa Giêsu là tình yêu” hay “Thiên Chúa là Đấng tốt lành” đủ để được coi là xuất sắc. Dù những câu đó không sai, nhưng chúng không giúp đào sâu giống những câu như “Tại sao Thiên Chúa tốt lành?”, “Thiên Chúa tốt lành như thế nào?” hay “ ‘tốt lành’ nghĩa là gì?”.

Ở đầu kia của phổ hệ, giáo dục tôn giáo thường được biện minh bằng các luận điểm của thẩm quyền và truyền thống. Ở thái điểm này, nhà giáo dục tôn giáo thường thuyết phục học sinh học thần học “vì đó là điều các trường tôn giáo vốn dạy” hay các em “cần học để thích ứng trong Giáo Hội”. Các đòi hỏi phải vâng lời và sống theo này cuối cùng chỉ tạo ra được các liên hệ giả tạo, kiểu người máy, giữa học sinh và Thiên Chúa. Điều bất hạnh hơn nữa là nhiều khi những cái cực bề ngoài xem ra mâu thuẫn giữa lỏng lẻo trí thức và vâng lời mù quáng này lại chung sống đề huề ngay trong một trường học hay một lớp học. 

Nhưng những lối biện minh và trải nghiệm giáo dục tôn giáo nói trên thật quá xa mục tiêu thực sự của thần học, đặc biệt là nền thần học của Thánh Tôma Aquinô. Nhà bình luận theo trường phái Tôma là Thomas O’Meara, Dòng Đa Minh, viết trong cuốn Thomas Aquinas: Theologian (Thánh Tôma Aquinô: Thần Học Gia) rằng “đời sống nhận thức, đức tin và yêu thương có mục đích chuyên biệt không phải là vâng lời tôn giáo mà là hạnh phúc”. Dù câu này đúng, nhưng nếu để nó đứng một mình ta sẽ liều mình rơi vào cái thứ mơ hồ như trên đã nói. Nếu muốn cho việc giáo dục tôn giáo trở nên một trải nghiệm tích cực và có ý nghĩa đối với học sinh ngày nay, ta nên giải thích lại tại sao phải dạy thần học. Muốn vậy, ta phải cố gắng trả lời câu hỏi quan trọng mà câu tuyên bố của Cha O’Meara nêu ra, một câu hỏi mà chính cha đã vắn tắt viết sau đó mấy dòng: “Nhưng hạnh phúc thực là gì?”

Nhiều ngả đường lầm lẫn

Hữu thức hay vô thức, mọi thiếu niên đều vật lộn với câu hỏi này mỗi ngày. Khi đụng tới việc dùng giờ rảnh ra sao, tại sao phải học hành và các em dự tính điều gì cho đời mình sau lớp học, học sinh nào cũng cho biết mình đi tìm hạnh phúc. Tuy nhiên, việc vật lộn này thường không sâu xa bao nhiêu. Chịu ảnh hưởng của nền văn hóa và truyền thông đại chúng, học sinh thường lầm lẫn về điều thực sự đem chúng tới hạnh phúc lâu dài. Thành thử không ngạc nhiên gì khi thấy Thánh Tôma Aquinô, người hiểu bản chất con người hết sức sâu xa, quả có rõ ràng nói với các thiếu niên của thế kỷ 21, dù trước tác của ngài đã có từ 500 năm nay. 

Thực vậy, tiểu phần thứ nhất của Phần Thứ Hai trong Summa Theologiae, cho đến nay, vẫn là một hướng dẫn bậc thầy cho tất cả những ai tìm cách đi xa trên con đường hạnh phúc cả ở đời này lẫn ở đời sau.

Trước nhất, Thánh Tôma chi tiết cho thấy hạnh phúc không phải là gì: nó không phải là giầu có, khoái lạc, danh tiếng, vinh dự hay quyền lực. Không những các điều này tự chúng không phải là hạnh phúc, mà chúng thường trở thành chướng ngại vật đối với hạnh phúc đích thực nữa vì chúng lừa người tìm kiếm chúng bằng những vui hưởng cuối cùng chỉ mau qua và không làm họ thỏa mãn. Thánh Tôma giải thích rằng giầu có không thể chứa đựng hạnh phúc vì giá trị thực sự của giầu có là dùng để mua những cái khác (I.II.2.1). Thí dụ, một thiếu niên muốn giầu có để mua quần áo hàng hiệu hợp thời trang. Nếu thế, vì mục đích của giầu có là một điều gì khác, trong trường hợp này là quần áo, nên các đồ vật mà giầu có mua đáng ước ao hơn chính sự giầu có. Vì giầu có không phải là bước sau cùng của cuộc tìm kiếm hạnh phúc, nên ta không thể nói giầu có là hạnh phúc. 

Trên một bình diện, Thánh Tôma nhấn mạnh rằng khoái lạc cũng không thể tự nó là hạnh phúc (I.II.2.6). Lý do chủ yếu là khoái lạc tùy thuộc các giác quan. Thức ăn ngon khoái khẩu là nhờ khứu giác, những trang sức đẹp gây sảng khoái là nhờ thị giác, vui khoái tính dục là nhờ xúc giác. Tự chúng, các khoái cảm này không tối cao cũng không vĩnh viễn. Nói một cách tích cực, muốn có khoái cảm về một gì đó đẹp đẽ hay ngon ngọt, bạn phải có thị giác và vị giác tốt. Nếu bạn mù hay không có quan năng tốt về mùi vị, bạn đâu có thấy hạnh phúc bao nhiêu ở những vật thể này. Bởi thế, dù những vật thể này đôi khi mang tới khoái cảm, nhưng ta không thể coi nó như hạnh phú được.

Sau đó, Thánh Tôma cho thấy hạnh phúc không chứa đựng nơi vinh dự vì vinh dự hay danh tiếng được dành cho một ai đó, vì các thành tựu hay phẩm chất bản thân của họ (I.II.2.2). Như thế, thành tựu hay phẩm chất mới đứng hàng đầu vì nó đem lại vinh dự, giống như một đồ vật có được nhờ giầu có thì nó đứng đầu so với sự giầu có. Cũng vậy, Thánh Tôma cho rằng cả danh tiếng (I.II.2.3) lẫn quyền lực (I.II.2.4) đều không chứa đựng hạnh phúc. Lý do là vì cả danh tiếng lẫn quyền lực đều tạm thời và cũng không độc lập. Cũng thế, khó có người có quyền lực mà giữ được nó mãi mãi. Ta có thể cho học sinh xem một tờ báo hay một tờ tạp chí xuất bản cách nay một thập niên hoặc ngay cả vài tháng trước đây, để minh họa điểm vừa nói: từ các vận động viên chuyên nghiệp tới những thần tượng của văn hóa bình dân và các chính trị gia, không thiếu những người đạt tới tột đỉnh vinh dự, danh tiếng và quyền lực để rồi nay chỉ còn là một bóng mờ hoặc bị nguyền rủa. 

Đến chỗ kết luận phần nói về hạnh phúc không phải là điều gì, Thánh Tôma quả quyết rằng hạnh phúc không thể hiện hữu trong bất cứ sự thiện tạo dựng nào vì đối tượng sau cùng cho các hoài mong của ta là sự chân và sự thiện tối cao và vĩnh viễn, chỉ một mình Thiên Chúa mới có mà thôi: “Vì hạnh phúc là sự thiện hoàn hảo, chỉ có sự thiện này mới thoả mãn được sự thèm thuồng của ta; nếu không, nó không phải là cùng đích, nếu vẫn còn điều gì đó để ta thèm muốn” (I.II.2.8).

Một tìm kiếm bất toàn

Giải thích điều không phải là hạnh phúc như thế quả có dài dòng. Tuy nhiên, mục đích của ta không tránh né câu hỏi lúc ban đầu. Thực vậy, trở ngại lớn nhất để học sinh trung học tiến tới hạnh phúc hình như là họ tin rằng họ đã tìm thấy nó ở các phạm trù đã kể trên đây; việc họ tìm cách hiểu hạnh phúc đã chấm dứt ở đấy vì họ bắt đầu hối hả đi tìm những điều họ cho là sẽ đem lại hạnh phúc cho họ. Tuy nhiên, sau khi đã loại bỏ các chỉ dẫn sai lầm ấy, giờ đây, ta có thể lưu ý một cách tích cực hơn để biết hạnh phúc là gì. Thánh Tôma nói rằng xét cho cùng có hai loại hạnh phúc: hạnh phúc bất toàn và hạnh phúc hoàn toàn (I.II.4.5). Ta có thể có hạnh phúc bất toàn, điều mà thuật ngữ thần học gọi là felicitas, ngay ở đời này bằng cách càng ngày càng biết Chúa hơn nhờ “hoạt động của trí hiểu”. Hạnh phúc hoàn toàn, tứcbeatitudo, là được “ thấy Thiên Chúa” (I.II.4.5), điều mà theo Thánh Tôma không tùy thuộc thân xác. Cái nhìn này không có nghĩa cái nhìn theo nghĩa đen, vì nó không lệ thuộc mắt ta; đúng hơn nó là một tri giác (perception) vượt trên mọi giác quan. Điều này khiến hạnh phúc hoàn toàn trở thành tối cao vì nó không lệ thuộc bất cứ điều gì ngoài Thiên Chúa. Ta có thể mất hết mọi điều ta từng biết, ngay cả chính thân xác ta, nhưng hạnh phúc được ở với Thiên Chúa sẽ còn mãi. 

Tiến thêm một bước, vì hạnh phúc là được thấy Thiên Chúa trọn vẹn và thần học là khoa học về Thiên Chúa, nên thần học góp phần tạo nên hạnh phúc, hệt như việc học được gì về người bạn hay người yêu đều giúp ta phát triển và thâm hậu hóa tình thân mật của ta với họ. Khi được dạy và được hiểu cho đúng, thần học sẽ đóng góp cho cả hạnh phúc bất toàn, qua hoạt động của trí hiểu, lẫn hạnh phúc hoàn toàn vào cuối cuộc sống của mỗi người trên trần gian. Đây là những mục tiêu đầy tham vọng. Đã đành, nếu chỉ quả quyết các mục tiêu này lúc bắt đầu khóa học về thần học thì không nhất thiết thay đổi được chính chủ đề của vấn đề. Tuy nhiên, nói lại cho rõ, cho thật minh nhiên và trực tiếp các mục tiêu này ít nhất ta cũng hy vọng chỉnh sửa được xu hướng của học sinh và nhiều nhất ta cũng làm tăng được sự quan tâm và các cố gắng của họ. 

Theo kinh nghiệm của Green, ba bước cụ thể sau đây có thể được sử dụng trong cố gắng nói lại cho rõ này. Thứ nhất, nói với các học sinh rằng xét cho cùng, trọng điểm việc học thần học là để được hạnh phúc, rồi cho các em thấy điều này được trình bày ra sao trong nội dung khóa học. Làm thế nào việc hiểu Thánh Kinh, văn thể của nó, các sắc thái của nó, các phương tiện văn chương và sứ điệp của nó lại có thể đóng góp vào hạnh phúc của các em? Làm thế nào việc hiểu sự lớn lên, sự phát triển và đôi lúc sự thụt lùi của Giáo Hội trong dòng lịch sử lại gia tăng việc học sinh tự nhận diện mình với đức tin của chúng? Làm thế nào việc hiểu đạo đức học vượt xa việc chỉ biết “tuân theo lề luật” và trở thành phương thế sống cuộc sống hạnh phúc? Sau đó, giải thích tại sao nhiều quan niệm thông thường về hạnh phúc có thể “làm ta hạnh phúc” theo nghĩa khoái cảm, nhưng hạnh phúc thực ra là về một điều gì đó sâu sắc hơn, ít lệ thuộc hơn, lâu dài hơn, và bắt nguồn từ Thiên Chúa.

Sau cùng, tuy điều chủ yếu là giúp học sinh thảo luận các vấn đề về hạnh phúc trên bình diện cụ thể qua việc sử dụng các tình thế và điển hình từ chính các trải nghiệm của các em, ta cũng nên khuyến khích việc suy tư và chiêm niệm bản thân để đẩy nhận thức bằng ý niệm vào lãnh vực cầu nguyện, vì như Cha O’Meara từng nói, “Xét cho cùng Thiên Chúa giáo huấn không qua hiển hiện (epiphay) mà qua hiện diện”. Khi học sinh hiểu lớp thần học không phải là “cung cấp các câu trả lời” mà đúng hơn là “học cách tìm ra các câu trả lời ấy”, thì các em sẽ tới lớp một cách vui lòng hơn để dấn thân một cách công khai và có suy nghĩ đối với đức tin và truyền thống Công Giáo.

Vũ Văn An8/31/2014(vietcatholic)

Thánh Ghêgôriô Cả, giáo hoàng, tiến sĩ Hội Thánh. Lễ nhớ.

Thứ Tư sau Chúa Nhật 22 Quanh Năm
Thánh Ghêgôriô Cả, giáo hoàng, tiến sĩ Hội Thánh. Lễ nhớ.



* Thánh nhân sinh quãng năm 540 tại Rôma. Người theo con đường công danh, nhưng đã từ chối chức thái thú Rôma. Người gia nhập đan viện và sau khi làm phó tế, người nhận nhiệm vụ sứ thần Công-tăng-ti-nốp. Ngày 3 tháng 9 năm 590, người được chọn làm người kế vị thánh Phêrô suốt mười bốn năm phục vụ Hội Thánh (590-604). Dầu sức khỏe không dồi dào, người đã tận tụy chu toàn bổn phận, giúp đỡ người nghèo, củng cố và truyền bá đức tin. Người đã biên soạn nhiều tác phẩm về luân lý và thần học. Hoạt động của người được nuôi dưỡng nhờ chiêm niệm. Người qua đời ngày 12 tháng 3 năm 604.
Bài Ðọc I: (Năm II) 1 Cr 3, 1-9
"Chúng tôi là những người phụ tá của Thiên Chúa, còn anh em là cánh đồng của Thiên Chúa, là toà nhà của Thiên Chúa".
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, tôi không thể nói với anh em như với những người thiêng liêng, nhưng với những người xác thịt, những trẻ nhỏ trong Ðức Kitô. Tôi đã cho anh em uống sữa, chứ không cho của ăn, vì bấy giờ anh em chưa ăn được, nhưng cả bây giờ, anh em cũng chưa ăn được, vì hãy còn là người xác thịt. Bởi chưng ở giữa anh em, có sự ghen tương và tranh giành, thì anh em không phải là xác thịt, và sống như người phàm đó sao? Vì khi còn có người nói rằng: "Tôi thuộc về Phaolô". Kẻ khác nói: "Tôi thuộc về Apollô", thì anh em không phải là người phàm đó sao?
Vậy Apollô là gì? Phaolô là gì? Tất cả chỉ là những người giúp việc, mỗi người tuỳ theo ơn Chúa đã ban, nhờ họ mà anh em đã tin. Tôi trồng, Apollô tưới, nhưng Thiên Chúa cho mọc lên. Vì thế, kẻ trồng chẳng là gì cả, người tưới cũng chẳng là gì cả, nhưng chỉ Thiên Chúa, Ðấng làm cho mọc lên, mới đáng kể. Kẻ gieo và người tưới đều là một. Mỗi người sẽ lãnh công theo sự khó nhọc của mình. Vì chúng tôi là những người phụ tá của Thiên Chúa: còn anh em là cánh đồng của Thiên Chúa và là toà nhà của Thiên Chúa.
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 32, 12-13. 14-15. 20-21
Ðáp: Phúc thay dân tộc mà Chúa chọn làm cơ nghiệp riêng mình (c. 12b).
Xướng: 1) Phúc thay quốc gia mà Chúa là Chúa tể, dân tộc mà Chúa chọn làm cơ nghiệp riêng mình. Tự trời cao Chúa nhìn xuống, Người xem thấy hết thảy con cái người ta. - Ðáp.
2) Tự cung lâu của Người, Người quan sát, hết thảy mọi người cư ngụ địa cầu. Người đã tạo thành tâm can họ hết thảy, Người quan tâm đến mọi việc làm của họ. - Ðáp.
3) Linh hồn chúng tôi mong đợi Chúa, chính Người là Ðấng phù trợ và che chở chúng tôi. Bởi vậy lòng chúng tôi hân hoan trong Chúa, chúng tôi tin cậy ở thánh danh Người. - Ðáp.
  
Alleluia: 2 Tm 1, 10b
Alleluia, alleluia! - Ðấng Cứu Chuộc chúng ta là Ðức Giêsu Kitô, đã dùng Tin Mừng tiêu diệt sự chết, và chiếu soi sự sống. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 4, 38-44
"Ta còn phải rao giảng Tin Mừng cho các thành khác, bởi chính vì thế mà Ta đã được sai đến".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu chỗi dậy ra khỏi hội đường, Người đến nhà Simon. Nhạc mẫu ông Simon phải cơn sốt nặng, và người ta xin Người chữa bà ấy. Người đứng bên bà, truyền lệnh cho cơn sốt, và cơn sốt biến khỏi bà. Tức thì bà chỗi dậy, và dọn bữa hầu các ngài. Khi mặt trời lặn, mọi người có bệnh nhân đau những chứng bệnh khác nhau, đều dẫn họ đến cùng Người. Người đặt tay trên từng bệnh nhân, và chữa họ lành. Các quỷ xuất khỏi nhiều người và kêu lên rằng: "Ông là Con Thiên Chúa". Nhưng Người quát bảo không cho chúng nói, vì chúng biết chính Người là Ðức Kitô.
Ðến sáng ngày (hôm sau), Người ra đi vào hoang địa, dân chúng liền đi tìm đến cùng Người, họ cố cầm giữ Người lại, kẻo Người rời bỏ họ. Người bảo họ rằng: "Ta còn phải rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa cho những thành khác, bởi chính vì thế mà Ta đã được sai đến". Và Người giảng dạy trong các hội đường xứ Giuđêa.
Ðó là lời Chúa.


Suy Niệm: Chữa Trị Bệnh Tật
"Chúng ta hãy làm một cái gì tốt đẹp cho Thiên Chúa" đó là lời phát biểu của Mẹ Têrêsa Calcutta để gián tiếp chấp nhận lời yêu cầu của một số ký giả và những người làm phim muốn làm một cuốn phim tài liệu trình bày những công việc từ thiện do Mẹ và các Nữ tu Dòng Thừa sai bác ái thực hiện. Từ mấy chục năm nay, tinh thần và tình yêu của Mẹ Têrêsa đối với những người đau khổ bệnh tật đã được lan ra khắp nơi trên thế giới, như một tiếp tục công tác chính Chúa Giêsu đã thực hiện mà chúng ta có thể đọc thấy trong Tin Mừng hôm nay.
Thuật lại biến cố Chúa Giêsu chữa bệnh bà mẹ vợ ông Simon và nhiều người khác, thánh sử Luca ghi lại: "Lúc mặt trời lặn, tất cả những ai có người nhà đau yếu mắc đủ thứ bệnh hoạn, tật nguyền, đều đưa tới Ngài. Ngài đặt tay trên từng bệnh nhân và chữa lành họ". Những dòng kế tiếp cho thấy Chúa Giêsu có uy quyền trên sự dữ. Ở đây sự dữ xuất hiện dưới hai hình thức: bệnh tật và ma quỉ. Chúa Giêsu ra lệnh và quở mắng để chế ngự, nhưng Ngài không tiêu diệt chúng. Ngoài ra, trong nhiều cơ hội khác, Chúa Giêsu làm gương bằng sự ân cần của Ngài đối với các bệnh nhân, kể cả những người mang chứng bệnh khiếp sợ nhất lúc bấy giờ là bệnh phong cùi.
Trong giáo huấn của Ngài, Chúa Giêsu còn đi xa hơn: Ngài đồng hóa mình với những người bệnh tật, những người nghèo đói, những kẻ sa cơ lỡ bước, những người bị cầm tù. Ngài nói: "Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta". Qua cuộc khổ nạn và cái chết trên Thập giá, Chúa Giêsu đã đem lại cho đau khổ và bệnh tật ý nghĩa và giá trị cứu rỗi.
Xin cho công trình giải phóng và cứu rỗi của Chúa được nhiều người quảng đại dấn thân tiếp tục. Xin cho đôi mắt đức tin chúng ta sáng suốt để nhận ra Chúa nơi những người đang cần được giúp đỡ.
Veritas Asia


Lời Chúa Mỗi Ngày
Thứ Tư Tuần 22 TN2
Bài đọc: 1 Cor 3:1-9; Lk 4:38-44.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Lối sống theo Thánh Thần và lối sống theo xác thịt.
Kinh Thánh không chỉ dạy những gì cao siêu khó hiểu nhưng còn liên quan đến những sinh họat bình thường hằng ngày, không chỉ dạy những gì thuộc lãnh vực tinh thần mà còn cả những gì thuộc lãnh vực thể xác. Nói tóm, không có một vấn nạn nào liên quan tới con người mà không được đề cập đến. Bài đọc I nói về những tật xấu; trong khi Phúc Âm đề cao những tính tốt của con người.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
1/ Bài đọc I: Lối sống theo Thánh Thần và lối sống theo xác thịt.
Thánh Phaolô trong thư gởi Corintô phân biệt rõ ràng hai lối sống: lối sống theo Thánh Thần và lối sống theo xác thịt. Lối sống thứ nhất đẹp lòng Thiên Chúa, lối sống thứ hai cần phải sửa đổi để con người có thể ngày càng kiện toàn hơn. Bài đọc hôm nay đề cập nhiều đến lối sống theo xác thịt, ít nhất là 2 điểm chính:
(1) Ghen tương cãi cọ: Khi thấy người khác hơn mình hay khi người ta có được những cái mình không có, con người thường nói xấu để hạ bệ nhau hay tranh cãi để tố cáo nhau. Khi làm những điều này là con người đang để cho tính xác thịt chi phối làm chia rẽ gia đình và cộng đoàn. Bao lâu còn sống theo tính xác thịt, con người không thể tiếp thu những bài học để sống theo Thánh Thần. Thánh Phaolô chỉ cho thấy những điều này đang xảy ra giữa các tín hữu của ngài: “Thưa anh em, về phần tôi, tôi đã không thể nói với anh em như với những con người sống theo Thánh Thần, nhưng như với những con người sống theo tính xác thịt, như với những trẻ nhỏ trong Đức Kitô. Tôi đã cho anh em uống sữa chứ không cho dùng thức ăn, vì anh em chưa chịu nổi. Nhưng bây giờ anh em cũng vẫn còn không chịu nổi, vì anh em còn là những con người sống theo tính xác thịt. Bao lâu giữa anh em có sự ghen tương và cãi cọ, thì anh em chẳng phải là những con người sống theo tính xác thịt và theo thói người phàm sao?”
(2) Vây cánh kéo bè: Một khi không đạt được những ham muốn xác thịt trên bằng cố gắng cá nhân, con người có khuynh hướng chọn những người cùng ham muốn những điều đó về phe của mình, rồi cùng tìm cách làm sao để có thể đạt được những ham muốn thấp hèn đó. Một trong những thủ đọan là dồn phiếu bầu cho một người và người này sau khi đắc cử phải tìm cách để thỏa mãn những đòi hỏi của họ. Thánh Phaolô khiển trách: “Khi người này nói: "Tôi, tôi thuộc về ông Phaolô," và người khác: "Tôi, tôi thuộc về ông Apollo," thì anh em chẳng là người phàm tục sao?” Nếu một cộng đòan bị tính xác thịt chi phối như thế, làm sao có thể tồn tại và làm những gì Thánh Thần muốn?
Thánh Phaolô chỉ cho họ một lối sống cao hơn theo Thánh Thần: Điều quan trọng nhất phải làm trong cuộc đời là làm sao cho mọi người có được niềm tin vào Thiên Chúa, và làm cho đức tin này ngày càng phát triển mạnh; chứ không phải sống để vơ vét cho mình những danh vọng, uy quyền, và các mối lợi vật chất. Mỗi người lãnh đạo hay rao giảng chỉ là khí cụ của Chúa dùng trong một thời gian hay một hòan cảnh nhất định để góp phần trong công cuộc rao giảng Tin Mừng. Người cần thiết nhất làm cho đức tin lớn mạnh là chính Thiên Chúa. Thay vì tập họp thành bè đảng để chọn người lãnh đạo làm theo ý riêng mình, họ phải để Thánh Thần hướng dẫn để lựa chọn những người có khả năng để hướng dẫn cộng đoàn, rồi chính họ cũng phải tích cực cộng tác với người lãnh đạo, trong sứ vụ rao truyền và củng cố đức tin cho Dân Chúa.
2/ Phúc Âm: Mọi người đều góp phần trong việc chữa lành những tật bệnh trong cuộc sống.
(1) Gương sáng của Chúa Giêsu: Ngài vất vả từ sáng đến tối để chữa lành cả phần hồn lẫn phần xác của mọi người. Vừa hoàn tất việc giảng dạy để mở mang kiến thức cần thiết cho cuộc sống phần hồn trong hội đường, Ngài về nhà Simon với mục đích để kiếm gì ăn và nghỉ ngơi phần xác; nhưng của ăn không thấy mà trước mắt bà nhạc của Simon và bao nhiêu người bệnh đang chờ để quấy rầy Ngài. Thay vì nổi nóng trước những điều trái ý, Ngài chữa bệnh cho Bà nhạc và tất cả mọi người. Và khi đám đông tìm Ngài và muốn giữ Ngài lại kẻo Ngài bỏ họ mà đi, Ngài nói với họ: "Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, vì tôi được sai đi cốt để làm việc đó."
(2) Gương sáng của Bà nhạc mẫu của Simon: Chỉ với hai câu tường thuật ngắn ngủi đã dạy cho chúng ta bài học phải làm khi đã thọ ơn: “Lúc ấy, bà mẹ vợ ông Simon đang bị sốt nặng. Họ xin Người chữa bà. Đức Giêsu cúi xuống gần bà, ra lệnh cho cơn sốt, và cơn sốt biến mất. Tức khắc bà trỗi dậy phục vụ các ngài.” Bà không nấu ăn cho Chúa, cho con và các môn đệ được là vì Bà đang bị sốt. Nhưng sau khi đã được Chúa chữa lành, Bà đã không nại lý do mới lành bệnh cần được nghỉ ngơi cho lại sức; nhưng lập tức chỗi dậy để phục vụ Chúa và các môn đệ. Bà là gương sáng cho mọi người noi theo vì tất cả mọi người đều có bổn phận phải đóng góp thì cuộc sống gia đình và cộng đoàn mới bình an ổn định được. Cuộc sống sẽ xáo trộn và thiệt thòi nếu Chúa Giêsu vừa lo giảng dạy, vừa chữa lành, vừa nấu ăn, vừa phục vụ!
(3) Gương sáng của mọi người: Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ. Dân chúng xin Ngài chữa bệnh cho Bà nhạc Simon, và lúc mặt trời lặn, tất cả những ai có người đau yếu mắc đủ thứ bệnh hoạn, đều đưa tới Người. Tuy không chữa bệnh được nhưng đám đông có công tìm thầy và mang những người bệnh tới cho Chúa để được chữa lành. Trong cuộc sống hằng ngày, con người cần có thái độ đoàn kết này để giúp nhau vượt qua những trở ngại. Đừng ích kỷ quay đi trước những đau khổ của tha nhân, vì “nay người mai ta.” Nếu mình quay đi trước những khổ đau của đồng loại, ai là người sẽ giúp mình trong những lúc mình phải đương đầu với đau khổ?

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
- Chúng ta không những cần biết chế ngự các tật xấu mà còn phải phát huy những tính tốt trong đời sống hằng ngày.
- Nếu đã thọ ơn Chúa và thánh Phaolô trong việc nhận ra những giá trị tinh thần và được chữa lành, đừng ích kỷ quay đi, nhưng phải tiếp tục làm ơn cho người mình đã thọ ơn hay cho người khác.
- Đức tin phải là điều quan trọng nhất của chúng ta khi còn sống ở đời này. Đừng hy sinh đức tin cho những lợi lộc thấp hèn như danh vọng, uy quyền, những lợi lộc vật chất để kéo bè làm chết ngạt sự phát triển đức tin của mình cũng như của tha nhân.
Linh mục Anthony Đinh Minh Tiên, OP



HẠT GIỐNG NẨY MẦM - MÙA QUANH NĂM - TUẦN 22
Lc 4,38-44

A. Hạt giống...
Luca tiếp tục tường thuật một ngày hoạt động bận rộn của Chúa Giêsu : sau khi giảng và chữa một người bị quỷ ám trong hội đường, Ngài đến nhà nhạc mẫu của Simon Phêrô và chữa bệnh sốt cho bà. Chiều đến, người ta vẫn còn mang tới rất nhiều bệnh nhân, Chúa Giêsu “đặt tay trên từng bệnh nhân” và cứu chữa họ. Sáng hôm sau dân chúng lại tìm Ngài. Nhưng Ngài đành phải ra đi vì “còn phải rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho những thành khác”.

B.... nẩy mầm.
1. Khi có người nào đó giống Chúa Giêsu biết quan tâm cứu giúp những người đau khổ, thì những người đau khổ vây quanh bám lấy người ấy như một đám đông gần chết đuối bám lấy chiếc phao duy nhất.
Tội nghiệp cho nhân loại khốn khổ. Xin cho có nhiều người mang tâm hồn bao la như Chúa, trong số đó cũng có con.
2. Phần cuối của bài Tin Mừng này khiến tôi hơi thất vọng : những người khốn khổ vẫn bám theo Chúa Giêsu, “họ cố cầm giữ Ngài lại”, nhưng Ngài bỏ họ mà đi, vì “còn phải rao giảng Tin Mừng cho những thành khác”.
Nhưng tôi đã hiểu : Chúa không nhắm cứu hết tất cả những đau khổ phần xác (bởi vì đã mang thân xác tất phải chịu khổ đau. Trần gian là thế !), nhưng Ngài nhằm đem cho nhân loại Tin Mừng, một thứ thuốc tiên giải thoát những đau khổ tinh thần.
3. “Đến sáng ngày, Ngài ra đi vào hoang địa” : đó là lúc Chúa Giêsu múc lấy nguồn lực cho tất cả những hoạt động rộn rịp suốt cả ngày. Ngài múc lấy nguồn lực từ việc cầu nguyện. Nơi Chúa Giêsu, cầu nguyện và hoạt động được phối hợp rất quân bình. Không phải vì bận việc mà Ngài bỏ cầu nguyện. Trái lại, càng làm việc nhiều thì Ngài càng cầu nguyện nhiều hơn.
4. “Chúa Giêsu nói với dân chúng : Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, vì tôi được sai đi cốt để làm việc đó” (Lc 4,43)
Tại một xứ nhỏ ở miền quê nước Pháp, có một người đàn ông ngoài 50 tuổi bị chứng bất toại. Chân không đi đứng gì được và hai tay cũng không làm gì được hơn. Suốt ngày ông chỉ biết than thân trách phận. Mặc dù ông không phải là người công giáo nhưng cha sở thỉnh thoảng đến thăm ông và mời gọi nhiều người đến thăm, chia sẻ và giúp đỡ ông. Mỗi tuần có một bác sĩ tình nguyện đến chăm sóc ông. Mỗi chúa nhựt có một thiếu nhi đến đọc truyện cho ông nghe, kể chuyện vui cho ông bớt cô đơn. Sau một thời gian, ông xin lãnh bí tích Thánh Tẩy. Ông nói : “Thưa cha, trước đây con không tin có Chúa, nhưng từ ngày con được cha đến thăm, được bác sĩ giúp đỡ, các em giúp vui, con cảm thấy như mình đã gặp được Thiên Chúa, và chính Chúa đã gởi cha, bác sĩ và các em đến với con và bày tỏ tình thương đối với con. Con tin như thế”.
Lạy Chúa, xin cho con biết đem niềm vui của Tin Mừng đến với mọi người, luôn cảm thấy được thôi thúc, được sai đi. Xin cho con biết sẵn sàng lên đường khi được Chúa mời gọi. (Hosanna)
Lm. Carolo HỒ BẶC XÁI – Gp. Cần Thơ