Trang

Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2016

VUI HỌC THÁNH KINH CHÚA NHẬT 15 TN C

VUI HỌC THÁNH KINH
CHÚA NHẬT 15 TN C
Tin Mừng thánh Luca 10, 25-37


TIN MỪNG

Điều răn lớn
25 Và này có người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”


26 Người đáp: "Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào? "27 Ông ấy thưa: "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình."28 Đức Giê-su bảo ông ta: "Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống."

Dụ ngôn người Sa-ma-ri tốt lành
29 Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giê-su rằng: "Nhưng ai là người thân cận của tôi? "30 Đức Giê-su đáp: "Một người kia từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-khô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết.31 Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi.32 Rồi cũng thế, một thầy Lê-vi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi.33 Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương.34 Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc.35 Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: "Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác."36 Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp? "37 Người thông luật trả lời: "Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy." Đức Giê-su bảo ông ta: "Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy."


25 There was a scholar of the law who stood up to test him and said, "Teacher, what must I do to inherit eternal life?"

26 Jesus said to him, "What is written in the law? How do you read it?"

27 He said in reply, "You shall love the Lord, your God, with all your heart, with all your being, with all your strength, and with all your mind, and your neighbor as yourself."

28 He replied to him, "You have answered correctly; do this and you will live."

29 But because he wished to justify himself, he said to Jesus, "And who is my neighbor?"

30 Jesus replied, "A man fell victim to robbers as he went down from Jerusalem to Jericho. They stripped and beat him and went off leaving him half-dead.
31 A priest happened to be going down that road, but when he saw him, he passed by on the opposite side.

32 Likewise a Levite came to the place, and when he saw him, he passed by on the opposite side.

33 But a Samaritan traveler who came upon him was moved with compassion at the sight.

34 He approached the victim, poured oil and wine over his wounds and bandaged them. Then he lifted him up on his own animal, took him to an inn and cared for him.

35 The next day he took out two silver coins and gave them to the innkeeper with the instruction, 'Take care of him. If you spend more than what I have given you, I shall repay you on my way back.'36 Which of these three, in your opinion, was neighbor to the robbers' victim?"

37 He answered, "The one who treated him with mercy." Jesus said to him, "Go and do likewise."


I. HÌNH TÔ MÀU


* Chủ đề của hình này là gì?
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
* Bạn hãy viết câu TM thánh Luca 10,37
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

II. TRẮC NGHIỆM


01. Ai đã hỏi Đức Giêsu “Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp”?
a. Các thượng tế
b. Người thông luật (Lc 10,25)
c. Các ngoại kiều
d. Các môn đệ

02. Sách luật viết ‘Người phải yêu mến Thiên Chúa của ngươi’ thế nào ? (Lc 10,27)
a. Hết lòng, hết sức lực
b. Hết linh hồn
c. Hết trí khôn
d. Cả a, b và c đúng

03. Sách luật viết ‘Yêu người thân cận’ như thế nào? (Lc 10,27)
a. Như thầy yêu trò
b. Như vợ yêu chồng
c. Như cha mẹ yêu con cái
d. Như chính mình

04. Người bị nạn đi từ Giêrusalem xuống đâu? (Lc 10,30)
a. Bêlem
b. Giêrikhô
c. Emmau
d. Nadarét

05. Ai đã giúp đỡ nạn nhân? (Lc 10,33)
a. Thầy Lêvi
b. Thầy tư tế
c. Người Samaria
d. Cả a, b và c đúng


III. Ô CHỮ 


Những gợi ý

01. Sách Luật viết với Thiên Chúa ngươi phải làm gì? (Lc 10,27)

02. Người bị nạn đi từ Giêrusalem xuống đâu? (Lc 10,30)

03. Sách gì viết: “Ngươi phải yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn ngươi”? (Lc 10,27)

04. Ai đã giúp đỡ nạn nhân? (Lc 10,33)

05. Ai đã kẻ dụ ngôn người Samaria nhân hậu? (Lc 10,20-37)

06. Yêu người nào như chính mình? (Lc 10,27)

Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì?




IV. CÂU THÁNH KINH  HỌC THUỘC LÒNG

"Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy."
Tin Mừng thánh Luca 10,37




Lời giải đáp VUI HỌC THÁNH KINH
CHÚA NHẬT 15 TN C

I. HÌNH TÔ MÀU

* Chủ đề :
Người thân cận

* Tin Mừng thánh Luca 10,37

"Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy."

II. Lời giải đáp TRẮC NGHIỆM

01. b. Người thông luật (Lc 10,25)
02. d. Cả a, b và c đúng (Lc 10,27)
03. d. Như chính mình (Lc 10,27)
04. b. Giêrikhô (Lc 10,30)
05. c. Người Samaria (Lc 10,33)

III. Lời giải đáp Ô CHỮ 

01. Yêu mến (Lc 10,27)
02. Giêrikhô (Lc 10,30)
03. Sách Luật (Lc 10,27)
04. Samaria (Lc 10,33)
05. Đức Giêsu (Lc 10,20-37)
06. Thân cận (Lc 10,27)

Hàng dọc : Yêu mến

GB. NGUYỄN THÁI HÙNG


Tác giả: 


CN XV TN C
Đnl 30,10-14 ; Cl 1,15-20 ; Lc 10,25-37
AI LÀ NGƯỜI THÂN CẬN ?

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Lc 10,25-37

(25) Và này có người thông luật kia đứng lên hỏi Đức Giê-su để thử Người rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp? (26) Người đáp: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?” (27) Ông ấy thưa: “Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và người thân cận như chính mình” (28) Đức Giê-su bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống”. (29) Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giê-su rằng: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?” (30) Đức Giê-su đáp: “Một người kia từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-khô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. (31) Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. (32) Rồi cũng thế, một thầy lê-vi đi tới chỗ ấy cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. (33) Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy và chạnh lòng thương. (34) Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy, và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. (35) Hôm sau ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”.(36) Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” (37) Người thông luật trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy”. Đức Giê-su bảo ông ta: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy”.

2. Ý CHÍNH:

Bài Tin mừng hôm nay gồm hai phần: Phần một là người thông luật hỏi Đức Giê-su về điều kiện để được sống đời đời. Ông cũng kể ra được hai điều căn bản của Luật dạy là “mến Chúa hết lòng và yêu người thân cận như yêu mình”. Đức Giê-su đã khen ông đã hiểu đúng và dạy ông hãy làm như Luật dạy thì sẽ được sống đời đời. Phần hai là nhà thông luật hỏi Đức Giê-su về người thân cận mà ông phải yêu kia là ai? Đức Giê-su đã kể ra dụ ngôn về người Sa-ma-ri nhân hậu để dạy ông noi gương bằng cách bỏ qua những điều tùy phụ của Lề Luật để thực hiện điều chính yếu là quên mình phục vụ người bị nạn đang cần được trợ giúp.

3. CHÚ THÍCH:

- C 25-28: + Người thông luật: Từ này ám chỉ các Kinh sư Do thái, là những nhà thông thái hiểu biết về Luật Mô-sê và có nhiệm vụ giải thích Lề luật cho dân chúng tại các hội đường Do thái. + Đứng lên hỏi Đức Giê-su để thử Người: Các người thông luật thường tự cao, nghĩ mình là giỏi và không cần phải hỏi ai cả. Ở đây họ hỏi Đức Giê-su chỉ nhằm thử thách và gài bẫy để có dịp bắt bẻ Người mà thôi.+ Làm gì để được sống đời đời?: Người thông luật thuộc phái Pha-ri-sêu, là phái tin có đời sau và có sự kẻ chết sống lại, nên ông đã đặt ra câu hỏi này, trái với các người phái Sa-đu-xê-ô không tin kẻ chết sống lại (x. Cv 23,6-8).+ Trong Luật đã viết gì?: Người Do thái gọi 5 cuốn sách đầu trong bộ Thánh kinh Cựu ước là các sách Luật Mô-sê vì do chính Mô-sê và các đồ đệ của ông đã viết ra. 5 cuốn sách đó là: Sáng thế ký, Xuất hành, Lê-vi, Dân số và Đệ nhị luật. + Ông đọc thế nào?: Đức Giê-su trả lời bằng một câu hỏi, buộc người đối thoại phải tỏ rõ lập trường của mình ra trước. + Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa...: Người thông luật đã đọc kinh Shê-ma là lời cầu nguyện hằng ngày của dân Do thái. Kinh này gồm hai câu rút ra từ 2 sách Luật là Đệ nhị luật (Đnl 6,5) và Lê-vi (Lv 19,18). Điều đó cho thấy Cựu ước đã chuẩn bị trước cho Tân ước. + Đức Giê-su bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm...”: Để được sống đời đời thì phải sống yêu thương. Lòng mến Thiên Chúa và yêu người thân cận luôn phải đi đôi với nhau.

- C 29-30: + Ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý: Người thông luật muốn chứng tỏ mình thực tâm muốn tìm hiểu. Ông ta mở rộng vấn đề bằng một câu hỏi khác bên ngoài bộ Luật và độ khó nhiều hơn so với câu hỏi trước đã có sẵn đáp án trong Luật. + “Ai là người thân cận của tôi?”: Câu hỏi này mở đường cho Đức Giê-su bày tỏ quan điểm mang tính cách mạng của Người, khác với quan niệm cổ truyền hẹp hòi của các nhà thông luật của dân Do thái về đối tượng phải yêu mến. Đó là phải yêu cả kẻ thù của mình nữa! + Con đường từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-khô: Con đường này dài gần 25 cây số, băng ngang hoang địa Giu-đa, thời đó có nhiều băng trộm cướp ẩn núp hoạt động.

- C 31-33: + Thầy tư tế đi xuống: Tư tế là người thuộc dòng dõi A-ha-ron có nhiệm vụ dâng chiên bò sát tế trong Đền thờ. Vị này đi xuống Giê-ri-khô vì thành này dành cho gia đình các tư tế ở. + Thầy Lê-vi­: hay trợ tế, thuộc dòng dõi Ghéc-sôn, là một trong ba ngành lớn của dòng họ Lê-vi (x. St 46,11). Các thầy trợ tế Lê-vi có nhiệm vụ đàn hát trong các buổi thờ phượng tại Đền thờ. + Một người Sa-ma-ri kia: Sa-ma-ri là một miền đất nằm ở giữa hai miền Bắc (Ga-li-lê) và miền Nam (Giu-đê) của nươc Do thái. Dân miền này bị người Do thái coi là một giống dân lai căng và khinh thường họ. Vì trong cuộc lưu đày vào năm 721, một số người Do thái ở miền này đã không bị đi lưu đày. Họ ở lại và dựng vợ gả chồng lẫn lộn với dân Ni-ni-vê từ Ba-tư kéo xuống. Dân Sa-ma-ri này thờ Đức Chúa tại núi Ga-ri-dim, và không hành hương lên Đền thờ Giê-ru-sa-lem như người Do thái. Họ cũng có thái độ thiếu thân thiện như không cho những người Do thái đi hành hương Giê-ru-sa-lem vào ở trọ trong làng của họ (x. Ga 4,20 ; Lc 9,53).

- C 34-35: + Lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương: Người Sa-ma-ri này đã làm động tác sơ cấp cứu theo y học sơ đẳng thời bấy giơ, là dùng dầu để làm giảm đau và dùng rượu để rửa sạch vết thương. + Hai quan tiền: Tương đương với lương hai ngày công lao động thời đó (x Mt 20,9).

- C 36-37: + “Ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?”: Như vậy, chúng ta sẽ trở thành thân cận của người gặp nạn kia nếu chúng ta yêu thương và sẵn sàng giúp đỡ họ. + Hãy làm như vậy: Đức Giê-su chấp nhận lối xử thế của người Sa-ma-ri. Người đề nghị ông thông luật hãy đi và làm giống như người Sa-ma-ri. Tình thương Ki-tô giáo không biên giới, không cần biết người cần giúp đỡ có cùng chủng tộc, tôn giáo với mình hay không.

4. CÂU HỎI: 1- Lòng tin về mầu nhiệm kẻ chết sống lại của hai phái tôn giáo thời Đức Giê-su là Pha-ri-sêu và Sá-đu-xê-ô khác nhau thế nào? 2- Sách Luật Mô-sê gồm có mấy cuốn và là những sách mào? 3- Hằng ngày người Do thái ngoan đạo phải cầu nguyện bằng việc đọc kinh Shê-ma, kinh này được rút ra từ sách nào? Lời kinh ấy nhắc đến hai bổn phận phải làm là những bổn phận gì? 4- Đức Giê-su dạy người Pha-ri-sêu hãy làm theo gương của ai trong ba người trong bài dụ ngôn người Sa-ma-ri nhân hậu? Tại sao?

II. SỐNG LỜI CHÚA:

1. LỜI CHÚA: “Ông hãy đi, và cũng làm như vậy”.

2. CÂU CHUYỆN:

Cách đây ít hôm trang mạng Telegraph và các trang mạng khác ở Trung Quốc và trên thế giới đều đồng lọat phát đi một đọan video clip và bình luận về tai nan tại thành phố Phật Sơn tỉnh Quảng Đông mà nan nhân là một bé gái 2 tuổi tên Duyệt Duyệt (Yue Yue) đang đi ngòai đường tại khu chợ ổ gần nhà và đã bị một chiếc xe tải nhỏ đụng phải. Đoạn video clip từ một máy quay bảo vệ an ninh tại hiện trường cho thấy viên tài xế xe tải sau khi đụng bé Duyệt Duyệt ngã ra đường, đã chỉ dừng lai một chút rồi lại tiếp tục chạy khiến bánh sau chiếc xe cán qua người bé lần thứ 2. Tuy nhiên, sự việc không dừng lại ở hành động phi nhân tính của gã tài xế. Chính thái độ thờ ơ của những người qua đường sau đó mới khiến người Trung Quốc băn khoăn tự hỏi không biết tương lai đất nước của họ sẽ đi về đâu ?

Thực vậy: trong suốt 7 phút từ lúc bé Duyệt Duyệt gặp nạn, lần lượt đã có tới 18 người đi ngang qua nơi cô bé bị nạn nằm trên đường, nhưng chẳng một ai quan tâm giúp đỡ. Người đầu tiên là một thanh niên mặc áo phông trắng và quần thể thao đi qua bé gái nằm sõng soài trên đường, máu túa ra trên mặt, nhưng anh ta đã ngó lơ. Tiếp theo là một người đi xe đạp thấy em đã vòng qua để đi. Anh ta đã ngóai lại xem có phải một người bị nạn đang nằm ở đó hay không, rồi lại thản nhiên đạp xe đi tiếp. Khi máu tuôn ra nhiều hơn, một người đi xe đạp nữa xuất hiện. Người này không chút quan tâm tới số phận của đứa trẻ. Ba con người vô cảm vừa nói đã không giúp đỡ bé Duyệt Duyệt đáng thương, dù chỉ làm một việc đơn giản là kéo cô bé vào bên vệ đường. Sự thờ ơ của họ đã dẫn tới sự kiện một tài xế xe tải khác đi tới, do đang nói chuyện diện thọai không nhìn thấy bé Duyệt Duyệt trên đường nên đã cán xe lên người em. Sau lần bị xe đè này, bé Duyệt Duyệt đã không còn cử động nữa. Liên tiếp sau đó, rất nhiều người đi xe đạp và cả một số người đi xe chở hàng qua khu vực nạn nhân nằm vẫn không hề quan tâm tới bé Duyệt Duyệt. Cũng có một người phụ nữ dắt theo đứa con đi qua, thấy bé Duyệt Duyệt bị nạn lại rảo chân bước nhanh hơn ngang qua em...

Chỉ tới khi một nữ lao công quét đường 58 tuổi đi tới, thì bé Duyệt Duyệt mới được cứu giúp. Bà này vội hạ túi đồ xuống và lôi đứa trẻ sang một bên đường để tránh cho bé khỏi bị xe cán tiếp. Rồi bà tri hô lên yêu cầu được trợ giúp. Bấy giờ mẹ đứa trẻ nghe thấy hớt hải từ trong nhà chạy ra và vội mang con đi cấp cứu tại một bệnh viện gần đó. Tuy nhiên, sự can thiệp đã trở nên quá muộn. Các bác sĩ nói rằng bé Duyệt Duyệt do bị chảy máu nhiều nên bị suy hô hấp và còn bị chấn thương sọ não nghiêm trọng không được cấp thời cứu chữa nên khó có cơ hội hồi phục lại được.

3. SUY NIỆM:

1) Phải làm gì để được sự sống đời đời ?”: Người thông luật đã hỏi Đức Giê-su va sau đó đã tự tìm ra đáp án trong Luật: “Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và người thân cận như chính mình”. Đức Giê-su đã khen câu trả lời của người thông luật và bảo ông ta rằng: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống”.

2) “Ai là người thân cận của tôi?” : Người thông luật lại hỏi Đức Giê-su: “Ai là người thân cận của tôi?” Thay vì trả lời, Đức Giê-su đã kể dụ ngôn về người Sa-ma-ri tốt lành: Một khách bộ hành đi từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-cô, bị bọn cướp đánh nhừ tử, trấn lột, rồi bỏ nằm nửa sống nửa chết bên lề đường. Đang khi hai thầy tư tế và Lê-vi “tránh qua bên kia mà đi”, thì người Sa-ma-ri ngoại đạo lại dừng chân, băng bó vết thương, đem nạn nhân về nhà trọ săn sóc và sẵn sàng trả thêm tốn phí săn sóc nạn nhân cho chủ quán. Qua đó cho chúng ta câu trả lời: người thân cận của chúng ta là hết những ai đang cần đến sự trợ giúp của chúng ta, là người gặp nạn được chúng ta dừng lại, cúi xuống và phục vụ tận tình. Cần nhắc lại: Không phải vì đó là người thân nên chúng ta mới phục vụ, nhưng là bất cứ ai mà khi tận tình phục vụ họ là chúng ta đã trở thành người thân cận của họ.

Người thân cận không phải đâu xa mà có thể là người cùng sống chung nhà, cùng nhóm sinh họat, cùng khu xóm. Có thể là bà hàng xóm, là cô bạn đang ở chung phòng, là người thân bên cạnh mà chúng ta đang phải chịu đựng thói hư. Tóm lại là tất cả những ai đã và đang gây ra đau khổ cho chúng ta… Tất cả đều có thể được chúng ta yêu thương và trở nên người thân cận của chúng ta. Chỉ cần chúng ta dừng lại, cúi xuống phục vụ là một người xa lạ hay đáng ghét lập tức trở thành thân quen, một kẻ thù liền hóa thành bạn hữu của chúng ta.

3) “Kẻ đã thực thi lòng thương xót”:  Thánh Au-gút-ti-nô đã dạy: “Hay yêu đi rồi muốn làm gì thì làm”. Quả thực: Khi đã yêu rồi chúng ta sẽ biết mình phải làm gì cho tha nhân trong bất cứ tình huống nào. Chúng ta sẽ có sáng kiến để hiến thân phục vụ mọi người, nhất là những người nghèo khổ bất hạnh bên cạnh. Khi đã yêu rồi, chúng ta sẽ biết cách làm cho một kẻ xa lạ trở thành người thân, kẻ thù địch trở nên bạn hữu… Vi chỉ cần làm theo người Sa-ma-ri là thực thi lòng thương xót: Dừng lại và cúi xuống phục vụ người lâm cảnh khó khăn bất hạnh đang cần đến sự tích cực trợ giúp của mình.

4) “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy”:

Qua dụ ngôn này Đức Giê-su muốn dạy nha thông luật và các tín hữu chúng ta hôm nay bài học: hãy yêu thương bằng việc làm cụ thể. Sở dĩ hai thầy tư tế và Lê-vi “tránh qua bên kia mà đi” là vì các thầy sợ bị ô uế theo Luật khi đụng vào xác chết, sợ bọn cướp có thể quay lại, sợ bị phiền hà... Nhiều người trong chúng ta cũng không dám ra tay giúp đỡ tha nhân khi họ đang cần là do chúng ta cũng sợ sẽ bị tốn công sức, thời gian, tiền bạc... Đang khi người Sa-ma-ri trong bài dụ ngôn đã dám vượt qua những sự sợ hãi ấy.

Tình yêu là một phép mầu, chỉ cần bước tới, xích lại và cúi xuống phục vụ là người xa lạ lập tức hóa nên thân quen, kẻ thù trở thành bạn hữu... Tình yêu thực sự cũng đòi cụ thể: sẵn sàng bị lấm lem chân tay, quần áo, sẵn sàng gặp những rắc rối nguy hiểm có thể xảy ra... Thế giới hôm nay vẫn có quá nhiều những người bất hạnh nửa sống nửa chết, những người nghèo đói bệnh tật và đang bị bỏ rơi. Thế giới vẫn đang cần những người Sa-ma-ri là các tín hữu chúng ta dám dừng lại, cúi xuống và tận tình phục vụ. Đã có khi nào bạn làm giống như người Sa-ma-ri nói trên hay chưa ?

4. THẢO LUẬN: 1) Bài Tin mừng mời chúng ta xét mình: “Tôi thường cư xử thế nào đối với những kẻ đang gặp hòan cảnh khó khăn? 2)Tôi cần làm gì khi gặp một người bị tai nạn trên đường hay đang lâm vào hòan cảnh bất hạnh trong cuộc sống để vừa thi hành được đức bác ái, lại vừa khôn ngoan tránh bị người khác hiểu lầm đã gây ra tai nạn?

5. NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin cho mắt chúng con nhìn thấy được nỗi đau khổ trong ánh mắt kẻ khác, đặc biệt là của những người thân trong gia đình chúng con. Xin cho tai chúng con biết lắng nghe tiếng khóc của kẻ khác, nhất là của những kẻ cùng chung huyết nhục với chúng con. Xin cho chúng con biết lưu tâm thương xót những ai đang khốn khó, đặc biệt những người thân yêu của chúng con.

- LẠY CHÚA. Xin cho chúng con đủ khiêm tốn để đừng bao giờ gặp người đau khổ mà phớt lờ bỏ đi vì ngại vất vả cực nhọc, vì sợ bị nghi ngờ và nói xấu, hay sợ bị những kẻ gian lừa dối... Xin cho chúng con biết đề nghị để được giúp đỡ họ: “Này anh, tôi có thể giúp gì được cho anh hay không?”

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.-Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

LM ĐAN VINH - HHTM







VUI HỌC THÁNH KINH CHÚA NHẬT 14 TN C


VUI HỌC THÁNH KINH
CHÚA NHẬT 14 TN C
Tin Mừng thánh Luca 10,1-12.17-20


TIN MỪNG

Đức Giê-su sai bảy mươi hai môn đệ đi giảng (Mt 11: 20 -24 )

1 Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến.2 Người bảo các ông:

3 Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói.4 Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường.5 Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: "Bình an cho nhà này! "6 Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ ở lại với người ấy; bằng không thì bình an đó sẽ trở lại với anh em.7 Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia.8 Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em.9 Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: "Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông."10 Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói:11 "Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần."12 Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn thành đó."

17 Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói: "Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con."18 Đức Giê-su bảo các ông: "Thầy đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống.19 Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em.20 Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời."

1 After this the Lord appointed seventy (-two) others whom he sent ahead of him in pairs to every town and place he intended to visit.

2 He said to them, "The harvest is abundant but the laborers are few; so ask the master of the harvest to send out laborers for his harvest.

3 Go on your way; behold, I am sending you like lambs among wolves.

4  Carry no money bag, no sack, no sandals; and greet no one along the way.

5 Into whatever house you enter, first say, 'Peace to this household.' 6 If a peaceful person lives there, your peace will rest on him; but if not, it will return to you.

7 Stay in the same house and eat and drink what is offered to you, for the laborer deserves his payment. Do not move about from one house to another.

8 Whatever town you enter and they welcome you, eat what is set before you,9 cure the sick in it and say to them, 'The kingdom of God is at hand for you.'10 Whatever town you enter and they do not receive you, go out into the streets and say,11 'The dust of your town that clings to our feet, even that we shake off against you.' Yet know this: the kingdom of God is at hand.

12 I tell you, it will be more tolerable for Sodom on that day than for that town.

17 The seventy (-two) returned rejoicing, and said, "Lord, even the demons are subject to us because of your name."

18 Jesus said, "I have observed Satan fall like lightning 8 from the sky.

19 Behold, I have given you the power 'to tread upon serpents' and scorpions and upon the full force of the enemy and nothing will harm you.

20 Nevertheless, do not rejoice because the spirits are subject to you, but rejoice because your names are written in heaven."



I. HÌNH TÔ MÀU



* Chủ đề của hình này là gì?
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
* Bạn hãy viết câu TM thánh Luca 10,1b
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

II. TRẮC NGHIỆM

01. Đức Giêsu sai các môn đệ như chiên con đi vào đâu? (Lc 10,3)
a. Giữa xã hội
b. Giữa rừng hoang
c. Giữa bầy sói
d. Giữa đồng cỏ xanh

02. Đây là những thứ mà các môn đệ có thể cầm đi theo mình: (Lc 10,4)
a. Bao bị
b. Giầy dép
c. Túi tiền
d. Cả a, b và c đều sai

03. Khi vào bất cứ nhà nào, câu đầu tiên anh em nói là gì? (Lc 10,5)
a. Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng
b. Bình an cho nhà này
c. Anh em hãy ăn năn hối cải
d. Anh em hãy trở lại cùng Thiên Chúa

04. Đây là những quyền năng Đức Giêsu ban cho các môn đệ khi sai các ông đi: (Lc 10,19)
a. Chữa những người đau yếu
b. Khuất phục ma quỷ
c. Đạp lên rắn rết, bò cạp và mọi thế lực kẻ thù
d. Cả a, b và c đúng
                                         
05. Đức Giêsu nói anh em hãy vui mừng vì điều gì? (Lc 10,20)
a. Vì nhiều người nghe anh em mà trở lại
b. Nhiều bệnh nhân đau được chữa lành
c. Nhiều người ngoại được biết Thiên Chúa
d. Tên anh em đã được ghi trên trời



III. Ô CHỮ 




Những gợi ý

01. Đức Giêsu sai các môn đệ như chiên con đi vào đâu? (Lc 10,3)

02. Lúa chín đầy đồng mà điều gì lại ít?  (Lc 10,2)

03. Đức Giêsu sai bao nhiêu môn đệ đi rao giảng? (Lc 10,1)

04. Thành nào sẽ được xử khoan hồng hơn thành không nghe lời các môn đệ: (Lc 10,12)

05. Đây là thứ các môn đệ không được mang theo: (Lc 10,4)

Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì?

IV. CÂU THÁNH KINH HỌC THUỘC LÒNG

Anh em hãy mừng
vì tên anh em đã được ghi trên trời."
Tin Mừng thánh Luca 10,20b


Lời giải đáp VUI HỌC THÁNH KINH
CHÚA NHẬT 14 TN C

I. HÌNH TÔ MÀU

* Chủ đề :
Các môn đệ Chúa Giêsu

* Câu Tin Mừng thánh Luca 10,1b
Chúa Giêsu sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến.

II. Lời giải đáp TRẮC NGHIỆM

01. c. Giữa bầy sói (Lc 10,3)
02. d. Cả a, b và c đều sai (Lc 10,4)
03. b. Bình an cho nhà này (Lc 10,5)
04. d. Cả a, b và c đúng (Lc 10,19)
05. d. Tên anh em đã được ghi trên trời (Lc 10,20)


III. Lời giải đáp Ô CHỮ 

01. Bầy sói (Lc 10,3)
02. Thợ gặt (Lc 10,2)
03. Bảy mươi hai (Lc 10,1)
04. Xơđôm (Lc 10,12)
05. Túi tiền (Lc 10,4)

Hàng dọc : Sai đi

GB. NGUYỄN THÁI HÙNG

Tác giả: 


CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN C
Is 66,10-14c ; Gl 6,14-18 ; Lc 10,1-12.17-20
LOAN BÁO TIN MỪNG TRONG THẾ GIỚI HÔM NAY

     I.    HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Lc 10,1-12.17-20

(1) Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. (2) Người bảo các ông: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”. (3) Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. (4) Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. (5) Vào bất cứ nhà nào, thì trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này!” (6) Nếu ở đó có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ đến đậu trên người ấy. Bằng không, thì bình an đó sẽ quay về với anh em. (7) Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. (8) Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. (9) Hãy chữa những người đau yếu trong thành và nói với họ: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”. (10) Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói: “Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên, các ông phải biết điều này: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”. (12) Thầy nói cho anh em hay: Trong ngày ấy, thành Xơ-đom còn được xử khoan hồng hơn thành đó”. (17) Nhóm Bảy Mươi Hai trở về hớn hở nói: “Thưa Thầy, nghe đến Danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con”. (18) Đức Giê-su bảo các ông: “Thầy đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống. (19) Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bò cạp và mọi thế lực kẻ thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. (20) Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em. Nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời”.

2. Ý CHÍNH:

Đức Giê-su chỉ định bảy mươi hai người làm môn đệ và sai họ từng hai người đi thực tập truyền giáo. Các ông làm theo lời Thầy dạy và đã đạt được kết quả mỹ mãn. Đó là ma quỷ đã phải khuất phục trước các ông.

3. CHÚ THÍCH:

- C 1-2: + Chúa chỉ định bảy mươi hai người: Số bảy mươi hai ở đây ám chỉ dân ngoại. Có hai truyền thống về con số này: Truyền thống Do thái (Hip-ri) ghi bảy mươi, đang khi truyền thống Hy-lạp lại ghi bảy mươi hai. Lu-ca ghi theo truyền thống Hy-lạp. + Sai các ông cứ từng hai người một đi trước: Đi hai người để dễ dàng trợ giúp cho nhau (x. Gv 4,-12). Thời Giáo hội sơ khai, các Tông đồ đã đi truyền giáo từng hai người: Ba-na-ba đi với Sao-lô (x. Cv 13,2); Giu-đa đi với Xi-la (x. Cv 15,27); Ba-na-ba đi với Mác-cô; Phao-lô với Ba-na-ba (x. Cv 15,35); Ti-mô-thê với Ê-rát-tô (x. Cv 19,22). +Phân biệt hai chức vụ Tông đồ và Môn đệ: MÔN ĐỆ là những người nhận Đức Giê-su làm Thầy và đi theo để nghe Người giảng và sống theo Lời Người. Có bảy mươi hoặc bảy mươi hai môn đệ. Các ông cũng được Đức Giê-su sai đi trước đến những nơi mà chính Người sẽ tới (x. Lc 10,1). Khi Đức Giê-su rao giảng ở đâu, các môn đệ tụ tập đến nghe, rồi sau đó lại trở về với gia đình vợ con của mình. Còn TÔNG ĐỒ là 12 người được Đức Giê-su chọn trong số 72 môn đệ (x. Lc 6,13). Và cũng được sai đi rao giảng Tin mừng (x. Lc 9,2). Các ông phải bỏ mọi sự mà đi theo Đức Giê-su (Lc 18,28). Các ông được chứng kiến các phép lạ Người làm (x. Lc 7,11); Được tham dự bữa Tiệc ly (x. Mt 26,26-29); Cùng trải qua biến cố Tử Nạn và Phục Sinh với Người (x. Lc 24,36-43); Được Người trao quyền cầm buộc và tháo cởi (x. Mt 16,19), quyền chăn chiên (x. Ga 21,15-17); Sẽ được đồng bàn trong Vương quốc với Người, và được ngồi trên 12 tòa mà xét xử 12 chi tộc Ít-ra-en (x. Lc 22,30); Cuối cùng các ông còn được sai đi làm chứng nhân cho Đức Giê-su đến tận cùng thế giới (x. Mt 28,19; Cv 1,8). +Lúa chín đầy đồng: Các Ngôn sứ trong Cựu ước đã từng miêu tả ngày phán xét như là một ngày gặt hái (x. Is 41,15; Gr 51,33). Ông Gio-an Tẩy giả đã kể ra việc phán xét của Đấng Thiên Sai trong ngày tận thế tương tự như các động tác của người nông dân sau mùa gặt lúa (x. Lc 3,17). Ở đây, Đức Giê-su cho môn đệ tham dự vào công trình của thời Cánh chung của Người bằng sự cầu nguyện và rao giảng Tin mừng.

- C 3-6: + Như chiên giữa bầy sói: Các môn đệ của Đức Giê-su sẽ đi vào trần gian đầy những kẻ thù đang tìm cách bách hại. Nhưng các ông phải đi với bàn tay không mang theo vũ khí, tâm hồn đầy nhân từ và hiền lành như con chiên. Các ông phải đặt trọn niềm cậy trông vào Chúa quan phòng. +Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường: Vì người Do thái và các dân vùng Trung Đông gặp nhau thường chào hỏi hàn huyên lâu giờ. Đức Giê-su muốn các môn đệ đừng để các việc trần thế chi phối khi đi rao giảng. Trong các sách của Lu-ca, các sứ giả của Tin mừng đều đi như chạy: Đức Ma-ri-a chạy đi thăm bà Ê-li-sa-bét, các mục đồng chạy đến máng cỏ, Phi-líp-phê chạy để đuổi kịp chiếc xe của một người Ê-thi-ô-pi (x. Cv 8,3). + “Bình an cho nhà này”: Lu-ca lấy lại cách chào hỏi thông thường của Cựu ước (1 Sm 25,6). Đây là một lời cầu chúc phúc lộc an khang, một lời chúc lành. Bình an là mức sung mãn của sự sống, là món quà cao quý nhất mà Đấng Mê-si-a ban tặng (x. Lc 1,79). +Có ai đáng hưởng bình an: Đó là người tin và đón nhận sự bình an của Thiên Chúa.

- C 7-9: + Người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó: Đây là một sự cởi mở của Đức Giê-su. Người cho phép các môn đệ được ăn mọi thức ăn do người ta dọn cho, mà không cần bận tâm xem chúng là thức ăn tinh khiết hay ô uế theo Luật Mô-sê (x. Cv 10,9-15). + Làm thợ thì đáng được trả công: Ăn những thức người ta dọn cho không phải là ăn của bố thí, nhưng là một thứ lương bổng do sự công bằng đòi buộc, tương xứng với Tin mừng cao quý mà các ông đem đến. Trách nhiệm của Cộng đoàn Hội thánh là phải lo phương tiện sống và hoạt động cho các người rao giảng Tin mừng. Sau này thánh Phao-lô cũng nói rằng: “Quả vậy Kinh thánh có nói: Đừng bịt mõm con bò đang đạp lúa, và làm thợ thì đáng được trả công: (1 Tm 5,18; Mt 10,10; Đnl 25,4). Nơi khác Ngài còn nói: “Một khi chúng tôi đã gieo của thiêng liêng cho anh em, thì nếu chúng tôi có gặt của vật chất nơi anh em, thì đâu có phải là chuyện quá đáng” (1 Cr 9,11). Tuy nhiên thánh Phao-lô lại từ chối quyền gặt hái của cải vật chất ấy cho bản thân ngài (x. 1 Cr 9,12-14 ; 2 Cr 11,7-9). + Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia: Người Tông đồ phải tránh lo lắng tìm sự tiện nghi ăn ở cho mình, nhưng cần chuyên tâm chu tòan sứ vụ. + “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”: Các môn đệ đi trước dọn đường cho Đức Giê-su sắp đến. Người chính là hiện thân của Nước Thiên Chúa.

- C 10-12: + Vào bất cứ thành nào mà người ta không đón tiếp...: Đức Giê-su cảnh báo cho các môn đệ biết họ sẽ bị người ta từ chối đón nhận Tin mừng. Bấy giờ các ông vẫn phải cho họ biết: Dù họ có muốn hay không, một ngày kia, Thiên Chúa sẽ hiển trị. Đó là ngày Phán xét. Nếu họ cố tình chối từ, họ sẽ bị loại ra khỏi Nước Thiên Chúa. + Thành Xơ-đom: Là một địa danh thời Tổ phụ Ap-ra-ham. Thành này đã bị phạt vì đã phạm quá nhiều tội lỗi (St 10,19).

- C 17-20: + Nghe đến Danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con: Ma quỷ phải chịu xuất ra khỏi người bị chúng ám khi các môn đệ ra lệnh nhân Danh Đức Giê-su (x. Cv 16,18). + Xa-tan từ trời sa xuống: Xa-tan là cái tên ám chỉ ma quỷ, kẻ đối lập và thù ghét Thiên Chúa. Do đó, khi Nước Thiên Chúa xuất hiện, thì quyền lực của Xa-tan sẽ bị lật đổ. + Quyền năng để chà đạp lên rắn rết...: Các loài vật kể ra ở đây là khí giới của Xa-tan. Đức Giê-su chiến thắng Xa-tan thì cũng tước đoạt hết khí giới của chúng và bắt chúng phải phục quyền (Rm 8,37-39 ; Ga 12,31). + Mừng vì tên được ghi trên trời: Ở đây là cuốn sách trường sinh, trong đó có ghi tên những người được ơn cứu độ (x. Đnl 12,1; Kh 3,5).

4. CÂU HỎI: 1) Đức Giê-su sai bao nhiêu môn đệ đi truyền giáo ? 2) Tại sao môn đệ phải đi từng hai người một ? 3) Có bao nhiêu Tông đồ ? 4) Tông đồ khác với môn đệ thế nào ? 5) Tại sao Đức Giê-su lại truyền cho môn đệ đừng chào hỏi ai dọc đường và chúc bình an cho nơi mà các ông đến ở trọ ? 6) Hãy cho biết lý do các môn đệ lại được quyền ăn mọi thứ người ta dọn cho dựa theo Lời Chúa trong Thánh kinh ? 7) Thành Xơ-đom là thành nào ? 8) Khi nào thì quyền lực của Xa-tan hòan tòan bị sụp đổ ?

II.    SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ gặt lúa về” (Lc 10,2):

2. CÂU CHUYỆN: CHỨNG NHÂN GIỮA ĐỜI THƯỜNG

Tại Thủ đô Ma-ni-la nước Phi-líp-pin, có trường Đại học Công giáo A-ta-di-ô do các cha dòng Tên sáng lập, tọa lạc trên một ngọn đồi. Đây là một trường cung cấp rất nhiều nhân tài cho đất nước Phi. Dưới chân trường Đại học này là một khu lao động nghèo, trong đó có một Cộng đoàn tu sĩ Tiểu đệ. Đa số các tu sĩ ở đây đã từng ở Việt nam.

Một hôm, một vị linh mục dòng Tên người Mỹ, là Giáo sư Đại học A-ta-di-ô tình cờ đi lạc vào khu lao động ấy và giữa đường gặp được một tu sĩ Tiểu đệ người Bỉ. Sau khi làm quen, vị linh mục người Mỹ đã hỏi tu sĩ người Bỉ: “Thầy làm gì ở khu lao động này ?” Tu sĩ người Bỉ kia trả lời: “Hằng ngày tôi đi chợ, nấu ăn, giặt quần áo, đi làm thuê làm mướn cho những ai cần”. Nghe thế, vị linh mục người Mỹ rất lấy làm tiếc về sự hy sinh lãng phí của tu sĩ trí thức người Bỉ kia. Ông cũng cho biết công việc của ông ở đây là: Dạy học cho các sinh viên, đi thuyết trình đó đây nhằm rao giảng Tin mừng qua việc đào tạo thêm những nhà trí thức phục vụ Giáo hội Phi.

3. SUY NIỆM:

- Cuộc đối thoại giữa vị linh mục dòng Tên người Mỹ và vị tu sĩ dòng Tiểu đệ người Bỉ trong câu chuyện trên cho chúng ta thấy có nhiều cách truyền giáo trong Hội thánh: Vị linh mục dòng Tên đại diện cho đông đảo các nhà truyền giáo trên khắp thế giới, ngày đêm rao giảng Tin mừng bằng khả năng tri thức và các phương tiện sẵn có. Nhưng bên cạnh đó, còn có các tu sĩ âm thầm sống giữa những người nghèo, chia sẻ sự lao động chân tay cực nhọc với những người nghèo khác... mà tu sĩ Tiểu đệ người Bỉ trong câu chuyện trên là một bằng chứng. Đây là những chứng nhân truyền giáo trong âm thầm, lấy cuộc sống chia sẻ để làm chứng cho Chúa. Cả hai đường lối truyền giáo ấy đều có giá trị và thực sự đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp cho Hội thánh.

- Khi sai các môn đệ đi truyền giáo, Đức Giê-su đã căn dặn họ phải sống hiền lành như con chiên và phải sống đơn giản: “Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường”. Như vậy, một cuộc sống siêu thoát, không lệ thuộc vào của cải đời này, không phí thời giờ vào những chuyện không đâu, trông cậy vào Chúa quan phòng, khiêm tốn đón nhận sự giúp đỡ về nhà ở, cơm ăn... Tôn trọng tự do của tha nhân, chấp nhận có thể bị từ chối xua đuổi... đó chính là những điều mà những ai muốn làm chứng cho Nước Trời cần lưu tâm thực hiện.

- Hiện nay dân số Á châu chiếm gần hai phần ba thế giới. Nhưng số người nhận biết Chúa chưa được 3 phần trăm. Á châu chính là cánh đồng lúa chín đang cần thợ gặt. Là thành phần của Hội thánh, mỗi tín hữu chúng ta cũng phải thi hành sứ vụ tông đồ. Chúng ta phải sống thế nào để những người khác phải bỡ ngỡ giống như người Do thái khi nhìn vào Cộng đoàn Hội thánh sơ khai đã phải thốt lên: “Xem kìa, họ thương nhau là dường nào !”. Ki-tô giáo không phải là một lý thuyết nhưng là chính sức sống của Đức Giê-su. Sống đạo là sống sức sống của Chúa và truyền đạo là truyền sức sống ấy sang cho người mình tiếp xúc.

- Gần đây hội nghị các Giám mục Á châu đã liệt kê một số điều mà các tín hữu cần học hỏi nơi các dân tộc châu Á như sau: Học tập cách cầu nguyện ăn chay và bố thí của người Hồi giáo. Học tập cách chiêm niệm nơi người Ấn giáo. Học tập sự từ bỏ của cải và tôn trọng sự sống nơi người Phật tử. Học cách xây dựng gia đình và xã hội có trật tự nơi Khổng giáo. Học sống đơn sơ khiêm tốn nơi Lão giáo... Càng học, ta càng nhận ra giáo lý Đức Giê-su tiềm ẩn trong giáo lý các tôn giáo đó và nhờ hiểu biết họ, ta sẽ gây được thiện cảm với họ để dễ dàng giới thiệu Đức Giê-su cho họ hơn.

4. THẢO LUẬN: 1)Thế giới đã nhận biết và ca ngợi điều gì trong cuộc sống và hoạt động của Mẹ Tê-rê-sa Can-quýt-ta ? 2)Ngày nay, muốn làm tông đồ truyền giáo hữu hiệu cho đồng bào Việt nam, chúng ta phải làm gì ?

5. NGUYỆN CẦU

- LẠY CHÚA GIÊ-SU, Xưa Chúa đã sai các môn đệ đi truyền giáo trong tư thế nhẹ nhàng và thanh thoát, không dựa vào thế lực của tiền bạc hay các phương tiện vật chất. Nay xin Chúa cũng cho chúng con biết chia sẻ Tin mừng với niềm vui của người mục tử khi tìm thấy con chiên lạc. Cho chúng con biết nói về Chúa với sự xác tín và kèm theo những dấu chỉ tình yêu. Xin ban cho chúng con góp phần đẩy lùi văn hóa sự chết, là sự dữ, bất công và sa đọa. Xin giúp chúng con biết lau khô những giọt lệ của bao người đang đau khổ cả về thể xác cũng như tinh thần.

- LẠY CHÚA, thế giới thật bao la và vòng tay của chúng con lại quá bé nhỏ. Xin dạy chúng con biết nắm chặt tay nhau, nhẹ nhàng và thanh thoát. Xin cho chúng con biết hợp tác với những người thiện chí dù họ không cùng niềm tin với chúng con, để mọi người cùng nhau đẩy lùi các tệ nạn xã hội, xây dựng một xã hội mới công bình và nhân ái hơn, đúng như ý Chúa muốn.
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A..- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

LM ĐAN VINH- HHTM





Gđpv : Tại sao người Tin lành không dùng Thánh giá có hình Chúa Kitô chịu đóng đinh?

Giải đáp phụng vụ: Tại sao người Tin lành không dùng Thánh giá có hình Chúa Kitô chịu đóng đinh?
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Sau bài trả lời của chúng tôi ngày 10-5 về hình Chúa Kitô Phục Sinh và cây thánh giá, một độc giả viết: "Tôi xin hỏi tại sao người Tin Lành nói là phải dùng cây Thánh giá không có hình Chúa Kitô chịu đóng đinh, vì Chúa đã sống lại rồi?”

Đáp: Có nhiều câu trả lời cho câu hỏi này. Không phải tất cả người Tin Lành từ chối việc sử dụng cây Thánh giá có hình Chúa Kitô chịu đóng đinh. Thánh giá có hình Chúa Kitô chịu đóng đinh cũng được sử dụng bởi nhiều Giáo Hội Đông phương, mặc dù ít hơn so với người Công Giáo La tinh chúng ta.

Như chúng ta đã thấy trong bài viết trước, cả cây Thánh giá có hình Chúa Kitô chịu đóng đinh và cây thánh giá thường đã được sử dụng từ thế kỷ thứ V trở về sau, và không có khó khăn lớn trong việc sử dụng cả hai thánh giá.

Thánh giá có hình Chúa Kitô chịu đóng đinh phục vụ như là một sự nhắc nhở về sự hy sinh và đau khổ của Ngài; thánh giá không có tượng Chúa, đặc biệt là khi được trang trí phong phú, phục vụ như là một sự nhắc nhở về chiến thắng của Chúa thông qua thập giá. Như Thánh Phaolô đã viết: "Nhưng chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ" (1 Cr 1:23, bản dịch Việt ngữ của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ).

Cả cây Thánh giá có hình Chúa Kitô chịu đóng đinh và cây thánh giá không có hình Chúa đều không phủ nhận việc Chúa sống lại - ít nhất cũng giống như việc sử dụng Máng Cỏ Noel không có ý nói là Chúa không lớn lên thành người lớn. Thật vậy, việc sử dụng hai hình dạng Thánh giá sẽ không có ý nghĩa nếu không có việc Chúa sống lại, vì chính sự sống lại biến đổi biểu tượng của thánh giá thành dấu hiệu của sự chiến thắng. Một lần nữa, Thánh Phaolô tuyên bố: "Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em" (1 Cr 15:17, bản dịch như trên). (Zenit.org 31-5-2016)

Nguyễn Trọng Đa

Đừng bao giờ nói với cha mẹ mình 10 câu nói sau...

Đừng bao giờ nói với cha mẹ mình 10 câu nói sau...


 
Dù cho mẹ có là người nuôi dưỡng bạn hay không thì ít nhất mẹ cũng là người đã mang thai gần 10 tháng trời và sinh ra bạn trên cõi đời này. Có thể chứng kiến tất cả mọi điều xảy ra trên thế giới này, cái đẹp cái xấu, cái thiện cái ác, tất cả đều là do Thượng đế và cha mẹ đã ban cho bạn. Đừng làm những việc sẽ khiến bạn sau này phải hối hận, hãy đối xử tốt với cha mẹ của mình. Đừng để đến khi họ mất đi rồi lúc đó mới thấy quý tiếc, bởi vì khi ấy hết thảy mọi thứ đều không còn kịp nữa rồi.
Hãy nhớ kỹ đừng bao giờ nói với cha mẹ mình 10 câu nói sau:
1. “Được rồi! Được rồi! Con biết rồi! Thật là dài dòng!” (Với cha mẹ sự “dài dòng” đó lại là môt loại hạnh phúc).
2. “Có việc gì không ạ? Không có việc gì à? Vậy thì con cúp máy nhé!” (Cha mẹ gọi điện thoại cũng chỉ muốn nói chuyện, chúng ta nên hiểu tâm ý của cha mẹ và đừng vội vàng cúp máy!)
3. “Đã nói rồi mà mẹ vẫn không hiểu, mẹ đừng hỏi nữa!” (Cha mẹ chỉ muốn nói chuyện với chúng ta thôi mà).
4. “Đã nói mẹ bao nhiêu lần rồi là đừng có làm, đã làm không được rồi mà còn cứ làm.” (Một số cha mẹ đã không còn đủ sức lực để làm việc gì đó, chúng ta vì lo lắng cho cha mẹ mà ngăn lại, nhưng đừng khiến cho cha mẹ cảm thấy họ trở nên vô dụng!).
5. “Cha mẹ đã lỗi thời rồi!” (Ý kiến của cha mẹ có thể không còn tác dụng với chúng ta, nhưng chúng ta cũng không nên đối đáp như thế).
6. “Bảo mẹ đừng thu dọn phòng của con, mẹ xem, bây giờ đồ đạc nào tìm cũng không thấy!” (Chúng ta nên tự thu dọn phòng mình, nếu không thu dọn cũng tránh làm phật ý cha mẹ)
7. “Con muốn ăn cái gì con tự biết rồi, mẹ đừng gắp nữa!” (Cha mẹ ngóng trông chúng ta trở về nhà, đều mong muốn chúng ta có bữa ăn no và ngon miệng, chúng ta nên hiểu và vui vẻ tiếp nhận)
8. “Con đã bảo mẹ đừng ăn những thức ăn thừa này rồi, sao mẹ không nghe à?” (cả đời cha mẹ đều có thói quen tiết kiệm, rất khó sửa đổi, nói cha mẹ mỗi lần làm thức ăn, làm ít một chút là được)
9. “Con tự biết cân nhắc rồi, mẹ đừng nói nữa, thật là phiền phức.”
10. “Những đồ vật này con đã nói là không cần dùng rồi, mẹ chất đống ở đây để làm gì?”
Đột nhiên nghĩ về cha mẹ của mình, tôi không khỏi nhói lòng mà rơi lệ, đột nhiên rất cảm động, vì để con được vui vẻ khỏe mạnh trưởng thành, cha mẹ đã phải mất bao nhiêu công sức… Thế nhưng mà chúng ta đã thực sự làm nhiều việc vì cha mẹ chưa?
Bạn đã quan tâm đến cha mẹ của mình chưa?
Nếu như có một ngày, bạn phát hiện ra hoa cỏ, cây cối trong vườn của cha mẹ mình đã hoang tàn.
Nếu như có một ngày, bạn phát hiện sàn nhà và tủ quần áo thường xuyên bám đầy bụi bẩn.
Nếu như có một ngày, bạn phát hiện ra mẹ mình nấu đồ ăn quá mặn rất khó ăn.
Nếu như có một ngày, bạn phát hiện ra mẹ của mình thường quên tắt ga.
Nếu như có một ngày, bạn phát hiện ra một số thói quen của cha mẹ mình đã thay đổi, giống như là họ đã không còn muốn tắm rửa hàng ngày nữa.
Nếu như có một ngày, bạn phát hiện ra cha mẹ của bạn đã không còn thích ăn những loại quả giòn cứng.
Nếu như có một ngày, bạn phát hiện ra cha mẹ bạn chỉ ăn những món ăn được nấu chín nhừ nát.
Nếu như có một ngày, bạn phát hiện ra cha mẹ bạn muốn ăn cháo.
Nếu như có một ngày, bạn phát hiện ra cha mẹ bạn đi trên đường hay các phản ứng đều chậm lại.
Nếu như có một ngày, bạn phát hiện ra cha mẹ mình trong lúc ăn ho không ngừng, đừng nghĩ rằng họ chỉ đang bị cảm lạnh.
Nếu như có một ngày, bạn phát hiện ra cha mẹ mình không hề muốn đi ra cửa…
Nếu như có một ngày như vậy, tôi muốn nói với bạn rằng, bạn phải thật cảnh giác bởi vì cha mẹ bạn đã già rồi! Các cơ quan bộ phận đã thoái hóa đến mức cần người khác chăm sóc rồi.
Nếu như bạn không thể chăm sóc họ, bạn nên tìm người chăm sóc họ, bạn nên thường xuyên thăm nom họ, đừng để cha mẹ bạn cảm thấy mình bị bỏ rơi.
Tất cả ai rồi cũng sẽ già, cha mẹ chỉ là già trước chúng ta, chúng ta phải dùng trái tim yêu thương để chăm sóc cha mẹ, như thế mới có thể nhẫn nại, mới không nói những lời ca thán. Khi cha mẹ không thể tự chăm sóc bản thân, làm con phải luôn chú ý, cha mẹ có thể sẽ làm rất nhiều việc không hay, ví dụ như trong phòng có mùi khó chịu, có thể họ cũng không thể ngửi thấy, xin hãy đừng chê họ bẩn, phận làm con hãy dọn giúp cha mẹ mình. Cũng xin hãy luôn luôn duy trì sự yêu thương, kính trọng đối với họ.
Khi cha mẹ không còn muốn tắm rửa, xin hãy bớt chút thời gian lau rửa cho họ, bởi vì cho dù là họ tự tắm rửa được thì cũng không thể tắm rửa sạch sẽ được. Khi chúng ta thưởng thức đồ ăn, xin hãy chuẩn bị cho họ một phần đồ ăn lớn nhỏ phù hợp, một bát nhỏ sẽ dễ dàng ăn hơn. Bởi vì họ không thích ăn có thể là do hàm răng đã không thể cắn và nhai được nữa rồi.
Từ khi chúng ta cất tiếng khóc chào đời, mẹ là người cho chúng ra bú sữa, thay tã lót hằng đêm và còn không ngủ nghỉ để chăm sóc khi chúng ta ốm đau. Cha mẹ là người dạy cho chúng ta những kỹ năng sinh sống cơ bản đầu đời, cho chúng ta đi học, ăn uống, vui chơi và tập thói quen, luôn quan tâm không ngừng nghỉ.
Nếu như đến một ngày, cha mẹ đã không thể nhúc nhích được nữa, chẳng phải bạn nên chăm sóc cha mẹ mình sao?
Làm phận con hãy nhớ lấy, “xem cha mẹ chính là bản thân mình trong tương lai” mà hiếu thuận kịp thời, đừng để đến khi “cây muốn lặng mà gió chẳng dừng”, “con muốn phụng dưỡng mà cha mẹ không còn”.
AT. Sưu tầm

Thứ Năm, 2 tháng 6, 2016

Gđpv : Lịch sử các nữ phó tế

Giải đáp phụng vụ: Lịch sử các nữ phó tế

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Cha có thể vui lòng giải thích lý do tại sao trong lịch sử, Giáo Hội đã từng chấp nhận phụ nữ làm phó tế, và kể từ thế kỷ thứ II chức này đã được dừng lại? Giáo Hội Anh giáo cho phép phụ nữ làm linh mục, và số lượng các giáo sĩ của Giáo Hội này đã gần như tăng gấp đôi trong năm năm. Xét rằng Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã cho phép người đàn ông đã lập gia đình vào chức linh mục Công Giáo để mở cửa cho Anh giáo, liệu điều này có thể không được xem là một chìa khóa cho quy tắc phương Tây về đời sống độc thân được nới lỏng trong tương lai chăng? - T. B., Salford, Vương Quốc Anh.


Đáp: Bạn thân mến, có nhiều vấn đề trong một câu hỏi đây. Các quyết định của Giáo Hội Anh giáo về vấn đề này không liên quan gì đến Giáo Hội Công Giáo. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã thực sự khép lại cuộc tranh luận này, với một tuyên bố rằng Giáo Hội không có quyền truyền chức linh mục cho phụ nữ.

Quyết định của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI cho phép giáo sĩ Anh giáo đã lập gia đình được truyền chức linh mục Công Giáo (mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã cho phép một cách thức nhiều hạn chế) không cho thấy sự nới lỏng về các quy tắc sống độc thân, vì các qui định hiện nay nói trước rằng các tân linh mục của các giáo hạt tòng nhân, gồm người từ Anh giáo chuyển qua, sẽ sống độc thân.

Có lẽ câu hỏi chủ yếu liên quan đến các nữ phó tế trong Giáo Hội. Đức Thánh Cha Phanxicô đã đồng ý với một đề xuất thành lập một ủy ban để nghiên cứu vấn đề này. Vấn đề này đã được đề cập đến trong năm 2002 trong một văn bản của Ủy ban Thần học Quốc tế: "Từ diakonia của Chúa Kitô đến diakonia của các Tông Đồ". Toàn bộ tài liệu có sẵn trên trang web của Vatican, và là đáng đọc vì có bản văn đầy đủ về phần liên quan đến các nữ phó tế, mà chúng tôi xin trích ra dưới đây:

"Trong thời đại tông đồ, các hình thức khác nhau của sự trợ giúp của phó tế, được cung cấp cho các Tông Đồ và các cộng đoàn bởi nhiều phụ nữ, dường như đã là định chế. Do đó, thánh Phaolô gửi gắm cho cộng đoàn ở Rôma 'chị Phê-bê (Phoebe), người chị em của chúng tôi, là nữ trợ tá [he dikonos] Hội Thánh Ken-khơ-rê (Cenchreae)’ (xem Rm 16: 1-4). Mặc dù dạng giống đực của diakonos được sử dụng ở đây, nhưng không vì đó mà kết luận rằng từ ngữ đang được sử dụng để chỉ định chức năng cụ thể của một "phó tế"; trước hết, là bởi vì trong văn mạch này chữ diakonos vẫn có nghĩa là người trợ tá trong nghĩa chung chung, và thứ hai, bởi vì từ ngữ "người phục vụ" không đưa ra một hậu tố giống cái, nhưng trước đó có một mạo từ giống cái. Điều rõ ràng là rằng Phê-bê (Phoebe) thực hiện một việc phục vụ được nhìn nhận trong cộng đoàn Ken-khơ-rê, phụ thuộc vào thừa tác của các Tông Đồ. Ở những nơi khác trong các thư của thánh Phaolô, chính quyền là người thừa hành (diakonos) của Thiên Chúa (Rm 13: 4), và trong 2 Cr 11: 14-15, ngài nói “Vậy có gì là khác thường khi kẻ phục vụ (diakonoi) nó đội lốt người phục vụ sự công chính”.

"Các nhà chú giải chia rẽ nhau về chủ ngữ của câu 1 Tm 3:11. Việc đề cập đến 'các bà' sau khi nhắc đến các phó tế có thể gợi ý là nữ phó tế (do qui chiếu song song), hoặc vợ của phó tế vừa được đề cập trước đó. Trong thư này, các chức năng của phó tế không được mô tả, nhưng chỉ có các điều kiện để tiếp nhận họ. Người ta nói rằng phụ nữ không được phép giảng dạy, hay thống trị đàn ông, trái lại họ phải thinh lặng (1 Tm 2: 8-15). Nhưng các chức năng quản trị và giảng dạy là trong bất kỳ trường hợp nào đều dành cho Giám mục (1 Tm 3: 5) và cho các linh mục (1 Tm 5:17), chứ không dành cho phó tế. Các bà góa thành lập một nhóm được công nhận trong cộng đoàn, và họ nhận được hỗ trợ của cộng đoàn để đổi lấy cam kết của họ là sống khiết tịnh và cầu nguyện. 1 Tm 5: 3-16 nhấn mạnh các điều kiện để họ có thể được ghi vào danh sách các góa phụ nhận được cứu trợ từ cộng đoàn, và không nói gì thêm về bất kỳ chức năng nào mà họ có thể có. Sau đó, họ đã chính thức 'được thiết lập' nhưng 'không truyền chức’; họ tạo thành một 'dòng' trong Giáo Hội, và sẽ không bao giờ có bất cứ nhiệm vụ nào khác ngoài gương tốt và cầu nguyện.

"Vào đầu thế kỷ thứ II, một lá thư của Pliny the Younger, thống đốc của Bithynia, đề cập đến hai phụ nữ được mô tả bởi các Kitô hữu như là ministrae, rất có thể là từ tương đương của từ ngữ Hi Lạp diakonoi (10, 96-97). Mãi cho đến thế kỷ thứ III, các từ ngữ Công Giáo diaconissa hoặc diaconal xuất hiện.

"Từ cuối thế kỷ thứ III trở đi, ở một số vùng của Giáo Hội (chứ không phải tất cả), một thừa tác Giáo Hội đặc biệt được chứng thực trên một phần của giới phụ nữ, được gọi là nữ phó tế. Điều này diễn ra ở Đông Syria và Constantinople. Khoảng năm 240, đã xuất hiện một bộ sưu tập phụng vụ-giáo luật đặc biệt, gọi là Didascalia Apostolorum (DA, Giáo huấn các Tông đồ), vốn không là chính thức trong tính cách. Sách này gán cho Giám mục các đặc tính của một thượng phụ Kinh Thánh toàn năng (xem DA 2, 33-35, 3). Ngài là đầu của một cộng đoàn nhỏ, mà ngài cai trị chủ yếu với sự giúp đỡ của các phó tế và nữ phó tế. Đây là lần đầu tiên, các nữ phó tế xuất hiện trong một tài liệu của Giáo Hội. Trong một loại hình được vay mượn từ thánh Inhaxiô thành Antiôkia, Giám mục giữ vị trí của Chúa Cha, phó tế giữ vị trí của Chúa Con, và nữ phó tế giữ vị trí của Chúa Thánh Thần (chữ ‘ThánhThần' là giống cái trong các ngôn ngữ Semitic), trong khi linh mục (những người ít được đề cập) đại diện cho các Tông đồ, và các quả phụ đại diện cho bàn thờ (DA 2, 26, 4-7). Không có tài liệu nhắc đến việc truyền chức cho các thừa tác viên này.

"Sách Didascalia đã nhấn mạnh đến vai trò từ thiện của phó tế và nữ phó tế. Thừa tác phó tế xuất hiện như là "một hồn trong hai xác”. Mô hình của nó là diakonia của Chúa Kitô, Đấng rửa chân cho các môn đệ (DA 3, 13, 1-7). Tuy nhiên, không có sự song song chặt chẽ giữa hai nhánh của chức phó tế, liên quan đến các chức năng mà họ thực hiện. Các phó tế đã được lựa chọn bởi Giám mục 'để lo toan về nhiều cái cần thiết’, và chỉ có nữ phó tế 'phục vụ người nữ' (DA 3, 12, 1). Niềm hy vọng được bày tỏ rằng ‘số lượng các phó tế có thể tương ứng với số lượng của cộng đoàn dân Giáo Hội' (DA 3, 13, l). Các phó tế quản lý tài sản của cộng đoàn nhân danh Giám mục. Cũng giống như Giám mục, họ đã được nâng đỡ về vật chất cần thiết. Các phó tế được gọi là tai và miệng của Giám mục (DA 2, 44, 3-4). Đàn ông trong cộng đoàn nên gặp phó tế trước khi đến với Giám mục, còn phụ nữ nên đi gặp nữ phó tế (DA 3, 12, 1-4). Một phó tế giám sát các nơi Giám mục đến gặp gỡ, trong khi một vị khác giúp Gíám mục cử hành Thánh lễ (DA 2, 57, 6).

"Các nữ phó tế nên thực hiện việc xức dầu cho phụ nữ trong nghi thức rửa tội, dạy các phụ nữ tân tòng, và thăm viếng các nữ giáo hữu, đặc biệt là bệnh nhân, tại nhà họ. Họ bị cấm tự ý rửa tội, hay giữ vai trò nào trong việc cử hành Thánh lễ (DA 3, 12, 1-4). Các nữ phó tế đã thay thế các quả phụ. Giám mục vẫn có thể thiết lập nhóm các góa phụ, nhưng họ không được dạy giáo lý hoặc tiến hành rửa tội (cho phụ nữ), nhưng chỉ cầu nguyện mà thôi (DA 3, 5, 1-3, 6, 2).

"Cuốn Constitutiones Apostolorum, xuất hiện tại Syria khoảng năm 380, sử dụng và suy diễn sách Didascalia, sách Didache và Traditio Apostolica (Truyền thống Tông đồ). Cuốn Constitutiones đã có một ảnh hưởng lâu dài trên kỷ luật truyền chức ở phương Đông, mặc dù nó chưa bao giờ được coi là một bộ sưu tập kinh điển chính thức. Bộ sưu tập dự kiến việc đặt tay với kinh khẩn cầu Thánh Linh, không chỉ cho các Giám mục, linh mục và phó tế, mà còn cho các nữ phó tế, phụ phó tế và người đọc sách nữa (x CA 8, 16-23). Khái niệm kleros được mở rộng cho tất cả những người thực hiện một chức vụ phụng vụ, họ được hỗ trợ bởi Giáo Hội, và được hưởng lợi từ những đặc quyền trong luật dân sự của Đế quốc dành cho giáo sĩ, nên các nữ phó tế được tính là thuộc hàng giáo sĩ, trong khi các góa phụ đã được loại ra. Giám mục và các linh mục là như thầy cả thượng phẩm và các tư tế trong Cựu Ước, trong khi người Lê-vi là như tất cả các thừa tác viên khác và bậc sống khác: 'phó tế, thầy đọc sách, ca viên, người giữ cửa, nữ phó tế, góa phụ, trinh nữ và trẻ mồ côi' (CA 2, 26, 3; CA 8, 1, 21). Phó tế được đặt 'làm phục vụ Giám mục và các linh mục’ và không đụng chạm đến các chức năng của linh mục. Phó tế có thể loan báo Tin Mừng và dẫn dắt việc cầu nguyện của cộng đoàn (CA 2, 57, 18), nhưng chỉ có Giám mục và các linh mục thuyết giảng (CA 2, 57, 7). Các nữ phó tế giữ các chức vụ của mình qua một epithesis cheirôn hay việc đặt tay, vốn ban Thánh Thần, như các thầy đọc sách làm (CA 8, 20, 22). Giám mục đọc lời nguyện sau đây: "Lạy Chúa Cha vĩnh cửu, Cha của Chúa Giêsu Kitô chúng con, Đấng tạo dựng người nam người nữ, Cha ban đầy Thánh Thần cho Myriam, Deborah, Anna và Hulda; Cha không thấy là không xứng đáng cho Con của Cha, Người con Độc nhất, được sinh ra bởi một người phụ nữ; Cha ở trong lều của nhân chứng và trong đền thờ đã lập nên phụ nữ làm người gác cửa đền thánh của Cha, xin hãy đoái nhìn tôi tớ của Cha qùy trước Cha đây, được đề cử cho chức phó tế: Xin ban Thánh Thần cho người này và thanh tẩy người này khỏi mọi phiền não của xác thịt và tinh thần, để người này nên xứng đáng với phận vụ được giao phó, cho vinh quang của Cha và ca tụng Chúa Kitô, nhờ Người mọi vinh quang và sự tôn thờ đến với Cha, trong Chúa Thánh Thần, đến muôn thuở muôn đời. Amen".

"Các nữ phó tế được xướng tên trước các phụ phó tế, và đến lượt mình, phụ phó tế nhận một cheirotonia như thầy phó tế (CA 8, 21), trong khi các trinh nữ và quả phụ không được 'truyền chức' (8, 24-25). Sách Constitutiones nhấn mạnh rằng các nữ phó tế không có chức năng phụng vụ (3, 9, 1-2), nhưng họ dành cho chức năng của họ trong cộng đồng là "phục vụ cho các phụ nữ' (CA 3, 16, 1) và như là người trung gian giữa các phụ nữ và Giám mục. Người ta nói rằng họ đại diện cho Chúa Thánh Thần, nhưng họ ‘không làm gì mà không có phó tế’ (CA 2, 26, 6). Họ nên đứng ở lối vào của phụ nữ trong các tập họp (2, 57, 10). Chức năng của họ được tóm tắt như sau: ‘Nữ phó tế không ban phép lành, không làm phép, và không thực hiện bất cứ điều gì mà linh mục và phó tế làm, nhưng nữ phó tế trông coi cửa và tham dự với linh mục trong lễ rửa tội của phụ nữ, vì sự đoan chính' (CA 8, 28, 6).

"Điều này được lặp lại bởi sự nhận xét cùng thời của Epiphanius thành Salamis trong cuốn Panarion của ngài, khoảng năm 375: "Chắc chắn trong Giáo Hội có phẩm trật của nữ phó tế, nhưng nó không tồn tại để thực hiện các chức năng của một linh mục, họ cũng không có bất kỳ cam kết nào với họ, nhưng vì sự đoan trang của giới nữ lúc họ chịu rửa tội’. Một luật của Theodosius ngày 21-6-390, được thu hồi ngày 23-8 cùng năm, ấn định tuổi để nhận vào thừa tác nữ phó tế là 60 tuổi. Công đồng Chalcedon (điều luật 15) giảm tuổi xuống còn 40 tuổi, và cấm họ kết hôn sau này.

"Ngay cả trong thế kỷ thứ IV, lối sống của nữ phó tế là rất giống với lối sống của các nữ tu. Tại thời điểm đó, người phụ nữ phụ trách một cộng đoàn tu viện nữ được gọi là một nữ phó tế, như được làm chứng bởi thánh Grêgôrio thành Nyssa và nhiều người khác. Là nữ đan viện trưởng được tấn phong của tu viện nữ tu, nữ phó tế mặc maforion, hoặc tấm màn hoàn hảo. Cho đến thế kỷ thứ VI, họ vẫn giúp đỡ các phụ nữ ở giếng rửa tội và xức dầu. Mặc dù họ không phục vụ tại bàn thờ, họ có thể cho phụ nữ nằm bệnh rước lễ. Khi việc thực hành xức dầu toàn thân tại lễ rửa tội đã bị xóa bỏ, các nữ phó tế chỉ đơn giản là trinh nữ hiến thánh với lời khấn trinh khiết. Họ sống hoặc trong các tu viện hay ở nhà. Điều kiện được chọn là trinh nữ hay người góa chồng, và hoạt động của họ là giúp đỡ từ thiện và sức khỏe cho phụ nữ.

"Ở Constantinople, nữ phó tế nổi tiếng nhất trong thế kỷ thứ IV là Olympias, bề trên của một tu viện nữ tu, một người được che chở bởi Thánh Gioan Kim Khẩu và đã đưa tài sản của mình để phục vụ Giáo Hội. Bà đã được 'truyền chức' (cheirotonein) nữ phó tế cùng với ba bạn đồng hành của mình bởi thượng phụ. Điều 15 của Công đồng Chalcedon (451) dường như xác nhận sự việc rằng nữ phó tế thực sự được 'truyền chức' bởi việc đặt tay (cheirotonia). Thừa tác của họ được gọi là leitourgia, và sau khi được truyền chức, họ không được phép kết hôn nữa.

"Ở Byzantium thế kỷ thứ VIII, Giám mục vẫn còn đặt tay lên đầu một nữ phó tế, trao cho cô một orarion hay dây các phép (cả hai đầu của nó được đeo ở phía trước, cái này trên cái kia); ngài trao cho cô chén thánh, mà cô đặt trên bàn thờ và không cho ai rước lễ cả. Các nữ phó tế được truyền chức trong một cử hành Phụng vụ Thánh Thể, trong cung thánh, như các phó tế vậy. Mặc dù có nhiều điểm tương đồng giữa các nghi thức truyền chức, các nữ phó tế không có quyền đến bàn thờ hay làm bất kỳ thừa tác phụng vụ nào. Các việc truyền chức này được nhắm chủ yếu cho các bề trên của tu viện nữ tu.

"Cần nói lên rằng ở phương Tây không có dấu vết của bất kỳ nữ phó tế nào trong năm thế kỷ đầu tiên. Sách Statuta Ecclesiae Antiqua (Qui chế xưa của Giáo Hội) nói rằng việc dạy giáo lý cho phụ nữ dự tòng và chuẩn bị cho họ rửa tội đã được giao phó cho các quả phụ và các nữ tu 'được chọn cho việc giúp rửa tội các phụ nữ’ ( ad ministerium baptizandarum mulierum). Một số Công đồng của các thế kỷ thứ IV và V từ chối mọi thừa tác nữ giới (feminae ministerium) và cấm việc truyền chức nữ phó tế. Theo cuốn Ambrosiaster (sáng tác tại Rôma vào cuối thế kỷ thứ IV), chức phó tế phụ nữ là một sự bổ sung của lạc giáo Montanist ('Cataphrygian'). Trong thế kỷ thứ VI, phụ nữ được nhận vào nhóm các góa phụ, đôi khi được xem như là nữ phó tế. Để ngăn chặn bất kỳ sự nhầm lẫn nào, Công đồng Epaone cấm 'các việc truyền chức cho các bà góa tự gọi mình là nữ phó tế’. Công đồng Orleans II (533) đã quyết định loại trừ khỏi sự hiệp thông các phụ nữ 'đã nhận được phúc lành cho chức phó tế bất chấp các điều luật cấm việc này, và những người đã tái hôn'. Các nữ đan viện trưởng, hoặc người vợ của phó tế, cũng được gọi là diaconissae, tương tự với presbyterissae, hoặc thậm chí với episcopissae.

"Tổng quan lịch sử hiện nay cho thấy rằng một thừa tác nữ phó tế đã thực sự tồn tại, và nó được phát triển không đồng đều ở các phần khác nhau của Giáo Hội. Rõ ràng rằng thứa tác này không được coi là đơn giản tương đương với chức nam phó tế. Ít nhất, đó là một chức năng Giáo Hội, thực hiện bởi phụ nữ, đôi khi được đề cập cùng với chức phụ phó tế trong danh sách các thừa tác Giáo Hội. Liệu thừa tác này được ban bởi việc đặt tay có thể sánh với việc Giám mục đặt tay trên các linh mục và nam phó tế không? Văn bản của cuốn Constitutiones Apostolorum dường như cho thấy điều này, nhưng nó là thật sự nhân chứng duy nhất, và sự giải thích đúng đắn của nó là chủ đề của nhiều cuộc tranh luận. Liệu việc đặt tay trên các nữ phó tế được coi là tương tự như việc đặt tay trên các nam phó tế không, hoặc ít là nó tương tự như việc đặt tay trên các phụ phó tế và thầy đọc sách không? Thật là khó để giải quyết các câu hỏi trên cơ sở dữ liệu lịch sử mà thôi. Trong các chương tiếp theo, một số yếu tố sẽ được làm rõ, và một số câu hỏi sẽ vẫn mở ngỏ. Đặc biệt, một chương sẽ được dành cho việc xem xét chặt chẽ hơn làm thế nào Giáo Hội thông qua thần học và Huấn Quyền đã trở nên ý thức hơn, về thực tại bí tích của bí tích Truyền Chức Thánh và ba phẩm trật của nó. Nhưng trước tiên thật là thích hợp để xem xét các nguyên nhân dẫn đến sự biến mất của chức phó tế vĩnh viễn trong đời sống của Giáo Hội".

Các tài liệu ở giai đoạn sau mô tả sự biến mất của các nữ phó tế:

"Sau thế kỷ thứ X, các nữ phó tế chỉ được gọi tên trong sự kết nối với các tổ chức từ thiện. Một tác giả phái Jacobite của thời kỳ này ghi nhận: "Trong thời cổ đại, các nữ phó tế đã được truyền chức. Chức năng của họ là chăm sóc phụ nữ để họ không cần phải bộc lộ bản thân trước mặt Giám mục. Nhưng khi tôn giáo lan truyền rộng rãi hơn và Giáo Hội quyết định cử hành lễ rửa tội cho trẻ sơ sinh, thì chức năng này đã bị bãi bỏ". Chúng tôi tìm thấy câu tương tự trong cuốn Pontifical (Sách Nhi thức) của Thượng phụ Michael thành Antiôkia (1166-1199). Khi nhận xét về luật số 15 của Công đồng Chalcedon, Theodore Balsamon, vào cuối thế kỷ thứ XII, nhận xét rằng ‘chủ đề của điều luật này đã hoàn toàn rơi vào không sử dụng. Vì ngày nay nữ phó tế không còn được truyền chức, mặc dù tên của các nữ phó tế được đưa ra một cách sai lầm cho những người thuộc về cộng đoàn khổ tu’. Các nữ phó tế đã trở thành nữ tu. Họ sống trong các tu viện, không còn thực hành công việc của diakonia, trừ trong lĩnh vực giáo dục, chăm sóc y tế, hoặc phục vụ giáo xứ.

"Sự hiện diện của các nữ phó tế vẫn được chứng thực ở Rôma vào cuối thế kỷ thứ VIII. Trong khi các nghi lễ Rôma không nhắc đến các nữ phó tế trước đó, Sách bí tích Hadrianum, được Đức Giáo Hoàng gửi cho Hoàng đế Charlemagne, và nhờ ông sách phổ biến khắp thế giới Frankish, bao gồm một Oratio ad diaconam faciendum (lời nguyện phong phó tế). Thực sự đó là lời chúc lành, được đặt như là một phụ lục trong các nghi thức khác của việc thiết định đầu tiên. Các văn bản Carolingian thường kết hợp nữ phó tế và nữ đan viện trưởng. Công đồng Paris năm 829 đưa ra lệnh cấm chung cho phụ nữ là không thực hiện bất cứ chức năng phụng vụ nào. Các giáo lệnh tập của Pseudo-Isidore không đề cập đến các nữ phó tế; và cuốn Bavarian Pontifical ở tiền bán thế kỷ thứ IX cũng không hề nhắc đến nữ phó tế. Một thế kỷ sau, trong cuốn Pontifical Romano-Germanique (Sách nghi thức Rôma-Đức) ở Mainz, lời nguyện Ad diaconam faciendum được tìm thấy sau phần ordinatio abbatissae (tấn phong nữ đan viện trưởng), giữa consecratio virginum (tận hiến các trinh nữ) và consecratio viduarum (tận hiến các góa phụ). Một lần nữa, đây chỉ là lời chúc lành, kèm theo việc Giám mục đặt dây các phép và mạng che cho người ấy, cũng như chiếc nhẫn cưới và vương miện. Giống như các góa phụ, nữ phó tế hứa sống khiết tịnh. Đây là lần nhắc cuối cùng đến 'các nữ phó tế' được tìm thấy trong các nghi lễ Latinh. Thật ra, cuốn Pontifical của Guillaume Durand vào cuối thế kỷ thứ XIII nói về các nữ phó tế chỉ với tham chiếu đến quá khứ mà thôi.

"Trong thời Trung cổ, các dòng nữ tu điều dưỡng và giáo dục thực thi thật sự các chức năng của diakonia mà không được truyền chức cho thừa tác ấy. Danh hiệu, không có thừa tác phù hợp, được trao cho các người phụ nữ đã được thiết định là góa phụ hoặc nữ đan viện trưởng. Đúng là cho đến thế kỷ XIII, các nữ đan viện trưởng đôi khi được gọi là nữ phó tế".

Cuối cùng, sau khi phân tích thần học của các mức độ khác nhau của bí tích truyền chức thánh, tài liệu đi đến kết luận sau đây:

"Đối với việc truyền chức phó tế cho phụ nữ, cần lưu ý rằng có hai dấu hiệu quan trọng nổi lên từ những gì đã được nói đến thời điểm này:

"1. Các nữ phó tế được đề cập trong truyền thống của Giáo Hội cổ xưa - như bằng chứng bởi nghi thức thiết định và chức năng mà họ thực hiện - là không hoàn toàn đơn giản và tương đương với các nam phó tế;

"2. Sự thống nhất của bí tích Truyền Chức Thánh, trong sự phân biệt rõ ràng giữa các thừa tác của vị Giám mục và các linh mục một bên, và thừa tác phó tế một bên, được nhấn mạnh mạnh mẽ bởi truyền thống Giáo Hội, đặc biệt là trong giáo huấn của Huấn Quyền.

"Trong ánh sáng của các yếu tố này, vốn đã được đặt ra trong tài liệu nghiên cứu lịch sử-thần học hiện nay, nó gắn liền với thừa tác phân định, mà Chúa thiết lập trong Giáo Hội của Ngài để tuyên bố một cách uy quyền về vấn đề nảy".

Các tài liệu của Ủy ban thần học quốc tế là có thẩm quyền, nhưng không phải là huấn quyền. Bất kỳ ủy ban tương lai nào chắc chắn sẽ phải quan tâm nhiều đến việc nghiên cứu và xem xét kết luận của mình. (Zenit.org 31-5-2016)

Nguyễn Trọng Đa