Trang

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2016

Bài 27 CẦU NGUYỆN CÁ NHÂN

Phần IV – Bài 27 CẦU NGUYỆN CÁ NHÂN






        Trước khi đọc tiếp, bạn hãy suy nghĩ và hoàn tất hai câu sau đây:

1.      Nếu phải diễn tả đời sống cầu nguyện của tôi như thế nào, thì tôi sẽ diễn tả như sau: …

2.      Một số lý do tại sao tôi muốn học hỏi thêm để biết cầu nguyện hơn, đó là…

CẦU NGUYỆN

        
Một cậu bé chăm chú nhìn vị huyền sĩ Ấn-độ cầu nguyện bên bờ sông.  Chờ cho huyền sĩ cầu nguyện xong, cậu bé thưa:  “Xin ngài dạy tôi cầu nguyện!”  Huyền sĩ liền nắm đầu cậu bé gìm xuống nước khoảng một phút.  Cậu bé vùng lên để thở và càu nhàu:  “Ngài làm như thế có nghĩa gì?”  Huyền sĩ trả lời:  “Ta vừa dạy cậu bài học đầu tiên về cầu nguyện.  Bao giờ cậu thực sự muốn cầu nguyện như là lúc cậu thực sự muốn thở ở dưới nước, thì lúc ấy tôi mới có thể dạy cậu.”
       
 Vị huyền sĩ ấy thật chí lý.  Bao lâu chúng ta chưa thực sự muốn cầu nguyện, thì chúng ta sẽ không kiên trì trong cầu nguyện.  Cầu nguyện rất giống với việc kiêng ăn cho bớt mập. Chúng ta có thể biết tất cả lý thuyết về việc ấy, nhưng cái biết đó sẽ chẳng lợi ích gì cho chúng ta nếu chính chúng ta không muốn làm cho mình bớt mập.

Tại sao người ta cầu nguyện?

       
 Người ta có rất nhiều lý do để cầu nguyện.  Thí dụ, cầu nguyện khiến họ được bình an;  cầu nguyện giúp họ đương đầu với cuộc sống;  cầu nguyện giúp họ tìm thấy ý nghĩa.  Thiên Chúa nghe lời người ta cầu nguyện.  Những lý do trên đều đích đáng, nhưng không thể là những lý do chính để cầu nguyện.  Trong cuốn sách Như bánh được bẻ ra (As Bread That Is Broken), Peter van Breemen giải thích tại sao người ta cầu nguyện.  Ông ghi rằng không thể thẩm định cầu nguyện qua kết quả của nó.  Bởi vì ngày nào đó có thể “kết quả” của cầu nguyện xem ra tan vỡ.  Thí dụ cầu nguyện không đem lại bình an nữa.  Hoặc hình như Thiên Chúa không nghe lời chúng ta cầu nguyện.  Nếu xảy ra như vậy thì cầu nguyện có vẻ là vô dụng và chúng ta sẽ thôi không cầu nguyện nữa.
        
Lý do chính để cầu nguyện:  cầu nguyện là cách biểu lộ tình yêu.  Biểu lộ tình yêu đối với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần để chúng ta được sống đời đời với các Ngài.
        
Như thế cầu nguyện có thể có nhiều mục đích.  Nhưng lý do chính để cầu nguyện là để yêu mến.  Cầu nguyện là một hành vi yêu mến để liên kết chúng ta gần gũi hơn với Chúa là tình yêu.

NHỮNG THỂ THỨC CẦU NGUYỆN

       
 Một học sinh trung học viết như sau trong bài làm của em:  “Một ngày kia, sau khi chơi bóng rổ ở ngoài công viên, tôi đi tới một vòi nước uống công cộng để uống nước.  Nước mát thật là ngon và tôi cảm thấy khỏe khoắn, không còn mệt nữa.  Bỗng nhiên tôi nghĩ:  ‘Chúng ta cần nước để uống.  Nhưng nước từ đâu tới?’  Tôi nghĩ là từ mây.  ‘Nhưng mây từ đâu mà có?’  Là từ nước bốc thành hơi.  Rồi câu hỏi cứ tiếp tục cho đến khi tôi không trả lời được nữa, hoặc nói đúng hơn, cho đến khi tôi chỉ còn một câu trả lời:  Từ Thiên Chúa mà đến.  Sau đó một ít phút, tôi nằm dài trên mặt cỏ, nhìn lên trời, thắc mắc không hiểu Thiên Chúa tựa như thế nào.  Rồi tôi nói với Thiên Chúa một chút bằng ngôn từ của mình.  Sau đó tôi về nhà.”
        
Cảm nghiệm tuyệt đẹp của cậu học sinh ấy cho thấy ba thể thức cầu nguyện:  suy niệm, chiêm niệm và tâm sự.
        
Suy niệm là khám phá ý nghĩ về Thiên Chúa.  Sự hiện diện của Thiên Chúa trong thế giới cũng tựa như sự hiện diện của tín hiệu truyền hình trong không gian.  Những tín hiệu này cần một máy TV để được đưa lên màn ảnh.  Cũng thế, sự hiện diện của Thiên Chúa cần sự suy niệm như phương tiện để được đưa vào tụ điểm.
        
Chiêm niệm là vui hưởng sự hiện diện của Thiên Chúa.  Chúng ta được khích động do ý nghĩ về sự hiện diện của Thiên Chúa đến nỗi nói không nên lời.  Chúng ta chỉ còn biết thinh lặng và vui hưởng sự hiện diện ấy như vui hưởng một khúc nhạc hoặc cảnh hoàng hôn tuyệt vời.
        
Tâm sự là bày tỏ với Thiên Chúa cảm nghĩ của chúng ta.  Chúng ta nói với Thiên Chúa từ con tim và bằng ngôn từ hoặc tư tưởng của chúng ta.
        
Tóm lại, cầu nguyện thường có ba thể thức:
       
 -  Suy niệm:         khám phá bằng tâm trí,
       
 -  Chiêm niệm:      vui hưởng trong tâm hồn, và
       
 -  Tâm sự:          bày tỏ từ trái tim.
        
Thường những thể thức cầu nguyện này móc nối với nhau trong cùng một kinh nguyện, tựa như những sợi giây nhỏ trong một sợi giây thừng.  Khó mà tách chúng ra được.

CHUẨN BỊ CẦU NGUYỆN

        
Trước khi cầu nguyện, chúng ta cần chuẩn bị.  Việc chuẩn bị gồm bốn bước căn bản:
       
 -  Chọn một chỗ để cầu nguyện,
       
 -  Ấn định giờ giấc để cầu nguyện,
       
 -  Chọn lựa một thế để cầu nguyện, và
       
 -  Tạo một bầu khí để cầu nguyện.
        
Trước hết là nơi chốn.  Có những người cầu nguyện đang khi ngồi trên xe buýt hoặc đi bộ đến nơi làm việc.  Nhưng muốn cầu nguyện mà không bị ngắt quãng, chúng ta cần một chỗ riêng.  Đức Giê-su đã làm như vậy.  Sách Tin Mừng nói rằng Ngài “đi lên núi để cầu nguyện” (Lc 6:12).  Sách cũng kể “Ngài đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó” (Mc 1:35).  Điều quan trọng về nơi chốn là nó giúp chúng ta cầu nguyện.  Muốn biết đâu là chỗ thích hợp để cầu nguyện thì tốt nhất phải thử xem.
        
Thứ hai là giờ giấc.  Với một số người cầu nguyện lúc ban sáng là thích hợp.  Nhưng có người lại ưa cầu nguyện vào buổi tối. Chúa Giê-su cầu nguyện vào cả hai lúc.  Sách Tin Mừng nói:  “Sáng sớm Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó” (Mc 1:35).  Hoặc:  “Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa” (Lc 6:12).  Cũng vậy, muốn biết giờ giấc nào tốt nhất cho mình để cầu nguyện, cần phải thử nghiệm.
        
Thứ ba là tư thế.  Có người ngồi cầu nguyện là tư thế tốt nhất.  Người khác lại thích quỳ cầu nguyện.  Đức Giê-su cầu nguyện với nhiều tư thế.  Sách Tin Mừng ghi lại:  “Người quỳ gối, cầu nguyện…” (Lc 22:41).  Hoặc:  “Sấp mặt xuống, Người cầu nguyện” (Mt 26:39).

Bước cuối cùng là quan trọng nhất

        
Bước quan trọng nhất trong việc cầu nguyện là tạo một bầu khí hoặc khung cảnh thích hợp để cầu nguyện.  Sách Tin Mừng không cho chúng ta biết Đức Giê-su đã làm điều này như thế nào, có lẽ vì khung cảnh cuộc sống của Ngài luôn luôn thích hợp để Ngài có thể cầu nguyện.  Nhưng chúng ta thì không giống như vậy;  chúng ta cần phải tạo một khung cảnh thích hợp.  Đây là một cách.
        
Sau khi chọn tư thế cầu nguyện, bạn hãy để cho toàn thân thoải mái.  Bắt đầu để cho những thớ thịt trên mặt giãn ra, dần dần xuống tới vai, ngực, bụng và chân.
        
Khi đã hoàn toàn thoải mái, bạn hãy nhắm mắt lại và thở theo một nhịp đều hòa.  Vận động nhịp thở cho tới khi thấy thinh lặng bao trùm.  Lúc bạn cảm thấy mình gặp được con người nội tậm của mình thì bạn cố gắng tiếp xúc với Chúa, Đấng đang ở trong bạn là đền thánh của Người (1 Cr 6:19).  Cách đơn giản để thực hiện điều này là hãy chú tâm cầu nguyện: “Lạy Chúa, Chúa ở gần với con còn hơn cả chính hơi thở của con.  Ước gì mỗi hơi thở đều nhắc nhớ cho con biết Chúa đang hiện diện sâu thẳm nơi con người nội tâm của con.”
        
Cầu nguyện xong, bạn hãy dừng lại trong một tư thế mở lòng cho Chúa.  Nếu Chúa cho bạn cảm nhận được sự hiện diện của Người, như thỉnh thoảng vẫn xảy ra, thì bạn hãy sống với sự hiện diện ấy.  Đừng vội vã tiếp tục;  nhưng hãy quên đi chương trình định sẵn của bạn, mà cứ mở lòng cho Chúa.  Việc nghỉ ngơi trong sự hiện diện đầy yêu thương và có sức chữa lành của Chúa là một hình thức cầu nguyện tuy đơn sơ nhưng thật tuyệt diệu.
        
Bây giờ chúng ta hãy trở lại với chính việc cầu nguyện.

CÁCH THỨC CẦU NGUYỆN


        Hầu hết người ta theo những cách thức để cầu nguyện.  Một cách thức chỉ là một khuôn mẫu hoặc một đường lối để giúp cho việc cầu nguyện của chúng ta diễn tiến trôi chảy.  Sau đây là một số cách thức người ta thấy rất hữu ích:
        -  cầu nguyện bằng cuộc sống,
        -  cầu nguyện bằng Kinh Thánh, và
        -  cầu nguyện bằng những kinh nguyện đã có từ lâu.

Cầu nguyện bằng cuộc sống gồm có ba bước

        
Cách thức cầu nguyện bằng cuộc sống thì đơn giản và thực tế.  Cách này lý tưởng cho việc cầu nguyện vào buổi tối.  Ba bước đó gồm:  bước thứ nhất hướng về Chúa Cha;  bước thứ hai hướng về Chúa Con;  và bước thứ ba hướng về Chúa Thánh Thần.  Mỗi bước đều có suy niệm, chiêm niệm và tâm sự.  Mỗi bước khoảng hai hoặc ba phút.
       
 Bước thứ nhất -   Ôn lại ngày sống của bạn.  Chọn một điểm cao nhất – một việc tốt bạn đã làm hoặc một điều tốt đã đến với bạn.  Tâm sự với Chúa Cha về điểm đó.  Rồi cảm tạ Người.
        
Bước thứ hai -   Tiếp tục ôn lại ngày sống.  Lần này chọn một điểm thấp nhất – một điều xấu bạn đã làm.  Tâm sự với Chúa Con về điều ấy.  Xin ơn tha thứ.
        
Bước thứ ba -   Hướng về ngày mai, về một khó khăn bạn sẽ phải đương đầu.  Tâm sự với Chúa Thánh Thần về điều này.  Xin ơn trợ giúp.

        
Thí dụ sau đây cho thấy cách thức cầu nguyện diễn tiến thế nào.

Bước thứ nhất:  “Lạy Cha, Cha biết con thiếu kiên nhẫn như thế nào.  Nhưng hôm nay Cha đã giúp con biết kiên nhẫn.  Con cảm tạ Cha.”

Bước thứ hai:  “Lạy Chúa Giê-su, Chúa dạy chúng con phải yêu mến.  Xin Chúa tha thứ cho con, vì con đã không tỏ lòng yêu thương đối với một người thực sự cần tình thương, một người đang sống trong hoàn cảnh gia đình không mấy tốt đẹp.”

Bước thứ ba:   “Lạy Chúa Thánh Thần, con muốn làm điều gì là đúng.  Nhưng con không biết rõ phải làm gì.  Xin Chúa giúp con biết phải đối xử thế nào với một người đang bực bội và rượu say bí tỉ.”

Cầu nguyện bằng Kinh Thánh có bốn bước

        
Nếu cầu nguyện bằng cuộc sống thích hợp cho cầu nguyện buổi tối thì cầu nguyện bằng Kinh Thánh rất thích hợp vào ban sáng.  Nó đòi hỏi nhiều cố gắng hơn và hữu hiệu hơn khi bạn còn đang khỏe khoắn.  Bạn hãy lấy một đoạn Tin Mừng và dành chừng hai hoặc ba phút cho mỗi bước.
        
Bước 1 -   Đọc đoạn Kinh Thánh chậm chậm.  Hãy tưởng tượng bạn là một trong những nhân vật trong đoạn Kinh Thánh ấy.  Thỉnh thoảng dừng lại để nhìn hoặc nghe những gì nhân vật ấy đã thấy hoặc đã nghe.
        
Bước 2 -   Hãy suy nghĩ về đoạn Kinh Thánh.  Tưởng tượng những gì đang xảy ra trong tâm trí nhân vật bạn chọn.  Điểm nào đã được nói lên trong đoạn Kinh Thánh?
        
Bước 3 -   Hãy nói với Chúa Giê-su.  Tưởng tượng ra những gì nhân vật ấy nói với Chúa Giê-su, không kể những gì đã được ghi lại trong đoạn Kinh Thánh.
        
Bước 4 -   Hãy lắng nghe Chúa Giê-su.  Tưởng tượng những gì Chúa Giê-su có thể nói với nhân vật trong đoạn Tin Mừng, không kể những gì đã đọc thấy trong đoạn Kinh Thánh ấy.
        
Kết thúc bằng cách nói với Chúa Giê-su tất cả những điều ấy sẽ áp dụng như thế nào vào trường hợp cá nhân bạn.

        Sau đây là một thí dụ cụ thể về cách thức cầu nguyện bằng Kinh Thánh, với đoạn Mt 9:9-12.

Bước 1 -  (Tưởng tượng ra bạn là Mát-thêu đang khi đọc đoạn Tin Mừng này).  “Đức Giê-su đi ngang qua trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Mát-thêu đang ngồi ở đó.  Người bảo ông:  ‘Anh hãy theo tôi!’  Ông đứng dậy đi theo Người.”  (Dừng để suy nghĩ:  Gương mặt của Chúa Giê-su có nét nào đặc biệt lúc ấy khiến cho Mát-thêu đứng lên đi theo Chúa?)  “Đức Giê-su đang dùng bữa trong nhà, thì kìa, nhiều người thu thuế và người tội lỗi kéo đến, cùng ăn với Người và các môn đệ.”  (Dừng để suy nghĩ:  Thử nhận ra những nét biểu lộ nào trên mặt những người tội lỗi đang lắng nghe Chúa.)  “Thấy vậy, những người Pha-ri-sêu nói với các môn đệ Người rằng: ‘Sao Thầy các anh lại ăn uống với bọn thu thuế, và quân tội lỗi như vậy?’ Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói:  ‘Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.’”  (Dừng để suy nghĩ:  Nói những lời này, giọng nói của Chúa Giê-su như thế nào?  Ngài ám chỉ ai khi nói những lời này?)

Bước 2 -  (Hãy tưởng tượng Mát-thêu nghĩ gì)  “Bây giờ tôi biết tại sao Đức Giê-su đã gọi tôi rồi!  Tôi cần thầy thuốc.  Tôi đau ốm nhiều lắm.  Nhưng tôi thiết nghĩ Đức Giê-su đã gọi tôi vì một lý do nào khác nữa.  Tôi muốn biết lý do ấy là gì.”

Bước 3 -  (Hãy tưởng tượng Mát-thêu nói gì với Chúa Giê-su)  “Lạy Chúa, con biết Chúa đã gọi con vì con đau ốm.  Nhưng còn lý do nào khác không?  Có phải Chúa thấy ở nơi con một điều gì chính con không thấy được?  Điều đó là gì?”

Bước 4 -  (Hãy tưởng tượng Chúa Giê-su nói gì với Mát-thêu)  “Mát-thêu, Thầy đã gọi anh vì một lý do đặc biệt.  Thực sự Thầy nhận thấy một cái gì đặc biệt nơi anh.  Hiện giờ thì cứ kiên nhẫn.  Ngay bây giờ, anh cứ theo Thầy!”

Kết thúc -  Cách tốt nhất để kết thúc cầu nguyện là hãy nói với Chúa Giê-su về đoạn Tin Mừng này áp dụng cho bạn như thế nào.

Cách thức cầu nguyện cổ truyền đơn giản nhất


        Cách thức cầu nguyện cổ truyền là suy niệm về một kinh quen thuộc.  Cách làm như sau:  mỗi lần lấy một ý hay một câu.  Dừng lại sau mỗi ý hay mỗi câu để tâm sự với Chúa.  Thí dụ cầu nguyện bằng kinh Lạy Cha.

“Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển.”
       
 “Lạy Cha, xin giúp con ý thức Cha là Cha “của chúng con,” nên chúng con là anh chị em với nhau.  Trước hết xin Cha giúp con biết đối xử với người khác như anh chị em.”

“Triều đại Cha mau đến.”
       
 “Lạy Cha, xin ban cho con ơn can đảm để biết sử dụng tài năng mà xây dựng Nước Cha.  Xin cho con đừng ích kỷ và bất xứng với Nước Cha, khi Con Cha trở lại trong ngày sau hết.”

“Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.”
        
“Lạy Cha, xin giúp con biết bắt chước Chúa Giê-su trong Vườn Dầu.  Ngài nói: ‘Xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha.’  Lạy Cha, điều ấy không phải dễ làm, nhưng thật là khó.”

“Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày.”
        
“Lạy Cha, biết bao anh chị em hôm nay đang đói.  Họ đói thể xác và phần hồn.  Con có thể làm được gì để giúp họ?”

“Xin tha tội cho chúng con, như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con.”
        
“Lạy Cha, Cha biết con không phải là một người dễ tha thứ cho anh chị em.  Đó là điều con cần được chữa lành.  Xin Cha đưa bàn tay chữa lành của Cha mà chạm tới con.”

“Xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. A-men.”
       
 “Lạy Cha, thánh Phao-lô viết:  ‘Thiên Chúa là Đâáng trung tín:  Người sẽ không để anh em bị thử thách quá sức;  nhưng khi để anh em bị thử thách, Người sẽ cho kết thúc tốt đẹp, để anh em có sức chịu đựng’ (1 Cr 10: 13).  Xin Cha giúp con biết tin vào lời thánh Phao-lô – và tin vào tình yêu vô biên cùng lòng nhân từ của Cha.”
(Về các kinh nguyện quen đọc, xin xem bài 31, “Tiếp tục hành trình.”)

ĐỌC VÀ SUY NIỆM KINH THÁNH


-  Kẻ xấu nhưng lại biết cầu nguyện   Lu-ca 18:9-14              

-  Lời nguyện của hoàng đế    2 Sử biên niên 1:7-12    

-  Đừng lải nhải nhiều lời        Mát-thêu 6:5-15           

-  Đánh thức bạn dậy       Lu-ca 11:5-13              

-  Quấy rầy Thiên Chúa                   Lu-ca 18:1-8       

THẢO LUẬN


        1.  Tại sao khi cầu nguyện cần phải chọn thời giờ, nơi chỗ và tư thế thích hợp?

        2.  Thế nào là tạo một “trạng thái thích hợp” để cầu nguyện?  Bạn thường làm thế nào để có sự chuẩn bị gần ấy?

        3.  Cách thức cầu nguyện là gì?  Trong ba cách thức (bằng cuộc sống, Kinh Thánh và kinh nguyện đã có sẵn), bạn thường sử dụng cách nào nhiều nhất?  Hoặc cả ba?  Tại sao?

CHIA SẺ

       
 1.  Thảo luận những tư tưởng sau đây:
               
 *  “Cầu nguyện một đàng rồi sống một nẻo là không tốt.”  (Henry Ward Beecher)
               
 *  “Tôi đã sống để cảm tạ Chúa vì mọi lời cầu nguyện của tôi đã không được nhậm lời.”  (Jean Ingelow)
               
 *  “Kẻ nào không còn tiếp xúc với Chúa nữa thì cũng đang sống trong ngõ cụt cùng với kẻ chối bỏ Chúa.”  (Milton A. Marcey)
                
*  “Thiên Chúa nghe con tim chúng ta, chứ không nghe tiếng chúng ta nói.”  (Thánh Cyprianô)
        
2.  Đâu là tư tưởng của Max Handel khi ông nói:  “Cầu nguyện giống như là bật nút điện.  Nó không tạo nên dòng điện, mà chỉ cung cấp một mạch điện để qua đó dòng điện có thể lưu chuyển”?
        
3.  Mẹ Tê-rê-xa có ý gì khi nói:  “Cầu nguyện làm cho trái tim chúng ta lớn lên cho đến lúc nó có thể chứa đựng được cả chính Thiên Chúa”?
        
4.  Trong cuốn The Seven Storey Mountain, Thomas Merton kể lại rằng hồi còn niên thiếu, có một đêm bất chợt tu sĩ cảm thấy “quá hãi sợ” trước mọi sự dữ trong cuộc đời.  Merton viết:  “Tôi khiếp sợ trước những gì tôi đã thấy…  Và tôi nghĩ đó cũng là lần đầu tiên trong đời tôi thực sự bắt đầu cầu nguyện…  bằng tất cả cuộc sống và con người của tôi…  cầu nguyện với Thiên Chúa, Đấng tôi đã chẳng bao giờ biết, xin Người từ nơi bóng tối cúi xuống trên tôi và giúp tôi được giải phóng khỏi trăm ngàn điều khủng khiếp đang cột quấn ý chí tôi trong vòng nô lệ.  Tôi đã khóc thật nhiều trong lần cầu nguyện này.”  Cũng như Merton, bạn hãy kể lại lần nào đó bạn đã cầu nguyện “hết mình” với tất cả cuộc sống và con người bạn.

Tác giả: Mark Link, S.J. Chuyển ngữ: Lm Trần đình Nhi
Nguồn: The Catholic Vision IV – 27

Bế mạc Công đồng, Giáo hội Chính thống gửi sứ điệp cho thế giới

Bế mạc Công đồng, Giáo hội Chính thống gửi sứ điệp cho thế giới
WHĐ (02.07.2016) – Sau một tuần thảo luận giữa mười Giáo hội Chính thống tại Kriti, Công đồng Toàn Chính thống đã bế mạc hôm Chúa Nhật 26-06 với một sứ điệp mang cung giọng ngôn sứ.

Những cuộc tranh cãi dông dài diễn ra đến tận phút chót. Nhưng vào chiều tối thứ bảy 25-06, các chuyên viên của “Đại Công đồng thánh Chính thống” nhóm họp tại Kriti từ đầu tuần đã dốc sức hoàn thành hai bản văn: một thông điệp và một sứ điệp kết thúc, ngắn hơn nhiều, gửi đến “các tín hữu Chính thống và mọi người thiện chí”, trong nghi thức bế mạc vào Chúa Nhật 26 tháng 6 tại Nhà thờ Thánh Phêrô và Thánh Phaolô ở Chania.

Theo nguồn tin thân cận từ uỷ ban soạn thảo, chính vị giáo chủ rất có uy tín của Giáo hội Albania là Tổng Giám mục Anastasios Tirana đã thúc đẩy để Giáo hội Chính thống có thể trao cho thế giới một sứ điệp mang tính “ngôn sứ” trong một ngôn ngữ “rõ ràng và đơn giản”. Kết quả là một bản văn dài năm trang cho thấy các Giáo hội Đông phương không phải không muốn biết đến những thách đố của một thế giới đầy hỗn loạn, mặc dù một chương trình nghị sự rất eo hẹp và các cuộc thảo luận có khi khiến cho người ta nghĩ ngược lại.

Những trục trặc trong việc tổ chức


Chắc hẳn, đã chỉ có mười trong số mười bốn Giáo hội của Chính thống giáo (gồm 300 triệu tín hữu) thực sự tham dự Công đồng. Thậm chí chính Giáo hội Chính thống Nga (với 150 triệu tín hữu) – không tham dự Công đồng – đã áp đặt các điều kiện của mình khi dời sự kiện này từ trung tâm của Istanbul, nơi đặt Toà Thượng phụ Constantinopolis, đến Kolymbari, một ngôi làng yên tĩnh ven biển ở cực tây của đảo Kriti...

Những trục trặc trong việc tổ chức, sự biệt lập của các đoàn đại biểu trong một khu vực hoàn toàn đóng kín, sự nhiệt tình của các nhà tổ chức – là những người Mỹ thân cận với Toà Thượng phụ Constantinopolis – nhằm giữ cho công chúng và các nhà báo không đến gần, cả trong các buổi lễ… tất cả những điều ấy khiến cho sự kiện này bị giới hạn dẫu cho đã được trình bày như là một sự kiện lịch sử.

Một thành công cho Thượng Phụ Constantinopolis

Kể từ khi ly khai với Roma vào năm 1054, chưa bao giờ tất cả các Giáo hội tự trị nhóm họp với nhau. Ngoài ra, tiến trình chuẩn bị Công đồng này, đã bắt đầu từ hơn nửa thế kỷ nay theo bước Công đồng Vatican II ở phương Tây, hẳn là để gửi đến cho thế giới một dấu chỉ sự hiệp nhất đức tin của Chính thống giáo.

Liệu Đức thượng phụ Bartholomaios của Constantinopolis có thành công trong vụ đánh cược này hay không? Một chuyên viên của một phái đoàn nhận định: “Dù sao chúng tôi vẫn có thể nói đến một thành công. Chẳng ai đóng sập cửa lại ở dọc đường và sáu văn bản đưa ra để bỏ phiếu cuối cùng đã được thông qua.” (*)

“Tầm quan trọng đặc biệt” của cuộc đối thoại với các Kitô hữu khác


Quả vậy, chính bản văn về đại kết đã kết tinh phần cốt yếu của các thảo luận, các giám mục bảo thủ nhất không muốn nhìn nhận các hệ phái Kitô giáo khác là những Giáo hội đích thực. Được dẫn dắt bởi các giám mục Hy Lạp, cuối cùng các giám mục này đã chấp nhận. Thế là “Tầm quan trọng đặc biệt” của cuộc đối thoại với các Kitô hữu khác đã được khẳng định ngay từ các các đoạn đầu tiên của sứ điệp cuối cùng.

Tiếp theo đó là một lời mạnh mẽ gửi đến “những quyền lực mạnh mẽ trên trái đất”, kêu gọi hãy ngừng lại “việc bành trướng bạo lực quân sự”. Đặc biệt các Giáo hội Chính thống đòi hỏi phải bảo vệ các Kitô và các nhóm thiểu số bị đàn áp tại Trung Đông. Cuộc khủng hoảng người tị nạn vốn gây chia rẽ châu Âu và liên hệ đến nhiều quốc gia Chính thống giáo cũng là trung tâm của những mối quan tâm.

Một quan điểm của Chính thống giáo mang tính toàn cầu

Nhưng ngoài những cấp bách hiện nay, sứ điệp còn đề cập đến một vấn đề lớn của Chính thống giáo ở đầu thế kỷ XXI này: tính độc lập của Giáo hội đối với chính quyền. Công đồng tuyên bố “Giáo hội Chính thống không xen vào chính trị”, tuy nhiên, Giáo hội Chính thống không chấp nhận “chủ nghĩa thế tục” vốn “coi ảnh hưởng thiêng liêng của Giáo hội là bảo thủ một cách võ đoán”. Một trong những nhà soạn thảo sứ điệp nhấn mạnh rằng “có một ý muốn rõ rệt, muốn tách Chính thống giáo ra khỏi bức biếm hoạ mô tả tôn giáo này”.

Việc thiết lập mối liên hệ giữa khủng hoảng sinh thái và khủng hoảng thiêng liêng, và cả những rủi ro mà một nền kinh tế “trở thành mục đích tự tại” đem đến cho con người, hay một khoa học thoát khỏi mọi đạo đức, đó là quan điểm toàn cầu của Giáo hội Chính thống lần đầu tiên được sứ điệp này nêu ra. “Toàn văn sứ điệp đã đạt được đồng thuận để bốn Giáo hội vắng mặt ở Kriti cũng có thể ký”, nguồn tin trên nói tiếp. Cũng như Giáo hội Công giáo, công cuộc canh tân của Chính thống giáo cũng sẽ không thể thực hiện trong ngày một ngày hai.

(Samuel Lieven, La Croix)

–––––––––––––––––––

(*) Các cộng đồng sống tản mác, công cuộc đại kết, vấn đề tự trị của các Giáo hội, việc ăn chay, hôn nhân, sứ vụ của Giáo hội Chính thống trong thế giới.
 
Minh Đức
Nguồn: WHĐ

Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2016

Lòng tốt

Lòng tốt
Lòng tốt là những việc làm cao đẹp nhằm giúp đỡ người khác. Lòng tốt đã tồn tại nơi con người từ khi họ xuất hiện trên trái đất, như một thuộc tính được Thượng Đế phú bẩm. Nhờ lòng tốt, con người quan tâm và sống tình liên đới với tha nhân. Trong một xã hội hiện đại, lòng tốt càng ngày càng hiếm và trở thành một thứ “xa xỉ phẩm”. Những hành động tự nó là đơn giản, nhằm giúp đỡ người khác trong mối tương quan người với người đã trở thành “hành động lạ” và hiếm hoi. Gần đây, một số báo điện tử đưa tin và hình ảnh anh lái xe taxi đã dừng xe để đưa một cụ già sang đường ở Hà Nội. Hành động này lập tức được coi là một “hành động lạ”, được nhiều người tán dương và bình luận với những ý kiến rất tích cực. Giúp đỡ người cao tuổi là lời khuyên của ông bà cha mẹ đối với trẻ em khi chập chững vào đời và là bài học thời “vỡ lòng” mà nay được coi như một nghĩa cử anh hùng! Bởi lẽ những hành động này rất ít thấy trong cuộc sống, do nhiều nguyên nhân khác nhau: hoặc người ta quá bận rộn, không có thời gian, hoặc con người đã trở nên vô cảm dửng dưng đối với người khác. Cũng có khi lòng tốt bị nghi ngờ, dẫn đến hậu quả là “làm phúc phải tội”, từ đó nảy sinh tình trạng “cháy nhà hàng xóm bình chân như vại”.

Từ bao đời nay, cuộc sống ở nông thôn vẫn được coi là thân thiết, nặng tình nặng nghĩa. Hàng xóm láng giềng tắt lửa tối đèn có nhau, vui buồn cùng chia sẻ. Tuy nhiên, cuộc sống an bình này cũng đang thay đổi. Do phong trào thành thị hoá nông thôn, tình làng nghĩa xóm đang dần trở nên khô khan, cách biệt. Cùng với những bức tường ngăn cách mỗi gia đình để bảo đảm an ninh và thiết lập một không gian riêng, những người láng giềng vốn gắn bó bỗng trở nên xa cách, theo kiểu “đèn nhà ai nấy rạng”. Lòng tốt trở nên càng ngày càng hiếm.

Trong bối cảnh xã hội còn tồn tại nhiều tiêu cực, niềm tin đã bị đánh cắp. Đã có nhiều cá nhân và tổ chức nhân danh “từ thiện” để trục lợi bất chính. Đây là những hành động vô luân trái với đạo đức, vì họ lợi dụng người nghèo hoặc nỗi đau của những bệnh nhân để kiếm tiền. Thời gian qua, nở rộ những công ty, những văn phòng huy động vốn với danh nghĩa “giúp người nghèo vượt khó”, nhưng thực chất là lừa đảo, làm cho người nông dân đã nghèo nay thêm khốn đốn vì nợ nần chồng chất chưa biết đến bao giờ mới có khả năng trả nợ. Đơn cử trường hợp Trung tâm hỗ trợ người nghèo ở huyện Thiệu Hoá, tỉnh Thanh Hoá (x. bài viết trên Báo điện tử Lao Động, ngày 21-6-2016). Nạn nhân là những người nông dân ít học, dễ tin và ôm ấp giấc mơ nhanh chóng đổi đời, nhưng niềm tin của họ đã bị trao nhầm chỗ.

Vào thời bùng nổ thông tin như hiện nay, một số phương tiện truyền thông có khuynh hướng chú trọng đến những tin tức giật gân, thu hút sự tò mò của độc giả, thính giả. Mỗi khi vào các báo điện tử, những tin tức được đọc nhiều nhất thường là những vụ giết người cướp của, những cuộc tình tay ba tay tư, những vụ đánh ghen hoặc những bê bối liên quan đến giới nghệ sĩ, người mẫu, trong khi những người tốt việc tốt ít được đề cập. Thực ra, giữa một xã hội có nhiều bóng tối, vẫn có nhiều lắm những người hy sinh âm thầm phục vụ tha nhân, trong số đó, phải kể đến những bác sĩ tâm huyết cứu người; những thày cô giáo âm thầm mang cái chữ lên vùng cao cho trẻ em thiểu số; những tu sĩ phục vụ trong các trại phong, hoặc trung tâm chăm sóc bệnh nhân SIDA hay khuyết tật; những bạn trẻ thiện nguyện miệt mài tham gia những phong trào làm cho cuộc sống xanh sạch đẹp, những lái xe taxi tuy nghèo nhưng tìm trả lại tiền của khách để quên; những em sinh viên nhặt được của rơi tìm trao lại cho người đánh mất… Họ là những đốm lửa bừng sáng trong đêm đen, đem niềm vui cho cuộc đời và góp phần làm lan toả hương thơm của lòng nhân ái.

Thực thi những nghĩa cử tốt đẹp để giúp người khác là nét đẹp truyền thống của người Việt Nam chúng ta. Trong kho tàng văn hoá của dân tộc, tình tương thân tương ái được thể hiện qua những câu ca dao tục ngữ, những làn điệu dân ca, những lời ru ầu ơ của mẹ và những lời dạy của các bậc thánh hiền. Những lời dạy đơn sơ mà phong phú ấy đã góp phần làm nên tâm thức “thương người như thể thương thân” của con Lạc cháu Hồng. “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Đối với những người Việt sống xa quê, tình tương thân tương ái vẫn ghi sâu nơi tiềm thức của họ và được cụ thể hoá qua những nghĩa cử nhân ái, quảng đại giúp đỡ người nghèo.

Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến lòng tốt trong mối tương quan huynh đệ giữa con người với nhau. Người dạy: “Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7,12). Người cũng dạy, hãy cho đi một cách vui vẻ mà không cần tính toán. Một tấm lòng quảng đại, quan tâm đến người khác sẽ được chính Thiên Chúa đền bù và trọng thưởng: “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người ta sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy” (Lc 6,38). Qua dụ ngôn người Samari nhân hậu, Chúa Giêsu đã ca ngợi lòng tốt của một “người ngoại”. Người này đã cảm thương và cứu giúp người bị nạn không hề quen biết, đồng thời chăm sóc chu đáo tận tình. Bài học rút ra từ câu chuyện dụ ngôn này là lời khuyên: “Hãy đi và làm như vậy!” (x. Lc 10,29-37).

Lòng tốt của Thiên Chúa là một điểm nhấn quan trọng trong giáo huấn của Thánh Kinh. Thiên Chúa là Đấng Tốt Lành. Lòng Tốt của Ngài được diễn tả bằng nhiều danh xưng khác nhau: sự thánh thiện, lòng nhân hậu, lòng thương xót, lòng kiên nhẫn, lòng bao dung tha thứ. Lòng tốt của Ngài là mẫu mực cho con người, như đích điểm mà con người phải phấn đấu để đạt tới: “Anh em hãy nên hoàn thiện như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện (Mt 5,48). Nên hoàn thiện, trước hết là những cố gắng loại bỏ khiếm khuyết nơi bản thân, và sau đó là thể hiện lòng tốt qua những nghĩa cử cao đẹp đối với những người xung quanh. Đức ái là điều răn quan trọng nhất của những ai tin Chúa, đến nỗi khi thi hành đức ái là họ đã chu toàn Lề Luật (x. Rm 13,10). Khi thực thi lòng tốt với tha nhân, người tín hữu tin rằng họ đang phản ánh lòng nhân hậu của Thiên Chúa, bởi lẽ, Thiên Chúa là Đấng “chậm giận và giàu tình thương” (Tv 102,8).

“Lòng tốt là thứ ngôn ngữ mà người điếc có thể nghe và người mù có thể thấy” (Mark Twain, nhà văn người Mỹ 1835-1019). Lòng tốt đích thực không dựa trên những “lời có cánh”, nhưng xuất phát từ trái tim và làm cho người khác dễ dàng cảm nhận. Lòng tốt toả hương thơm như đoá hoa, không ồn ào gây chú ý, không giả tạo lấy tiếng khen, nhưng chân thành và hướng tới tha nhân với tâm tình yêu thương trìu mến.

Ai trao tặng lòng tốt thì chính mình sẽ được nhận lại. Rainer Maria Rilke, nhà thơ người Áo (1875–1926), đã viết: “Có điều kỳ diệu xảy đến với những người thực sự biết yêu thương: họ càng cho nhiều, họ càng có nhiều”. Thánh Phanxicô thành Axidi khẳng định với chúng ta: “Chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh; chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân”. Chắc chắn ai trong chúng ta cũng đã hơn một lần cảm nghiệm được điều kỳ diệu này trong cuộc sống: khi cho đi là chúng ta nhận lại. Người châu Phi có câu ngạn ngữ: “Lòng tốt như ngọn lửa, càng cho đi, càng lan rộng và lớn mãi”. Bạn và tôi, ngày hôm nay, chúng ta hãy cố gắng để thực hiện một nghĩa cử tốt đẹp, dù rất nhỏ bé và đơn sơ, đối với những người chúng ta gặp gỡ. Những lời nói tốt đẹp thân thiện nhằm động viên khích lệ người đang buồn bã bi quan, hay sự giúp đỡ người cô thế cô thân về tinh thần hoặc vật chất, rất cần thiết trong mối tương quan với đồng loại. Có thể sự giúp đỡ ấy chẳng làm được gì lớn lao hay không mang tham vọng thay đổi thế giới, nhưng chắc chắn một điều, Bạn và tôi, chúng ta cảm nhận được niềm vui vì được góp phần diễn tả lòng tốt của Thiên Chúa trong cuộc đời.
 
Gm. Giuse Vũ Văn Thiên
Nguồn: WHĐ

Gợi ý mục vụ trong Năm Thánh Lòng Thương Xót - Đề tài 8

Gợi ý mục vụ trong Năm Thánh Lòng Thương Xót - Đề tài 8
Sống Năm Thánh Lòng Thương Xót
với việc Tân Phúc-Âm-hoá Đời sống xã hội
Đề tài 8. Tân Phúc Âm hoá môi sinh văn hoá
Văn hoá phải là lãnh vực ưu tiên cho sự hiện diện và dấn thân của Hội Thánh và cá nhân các Kitô hữu. Công đồng Vatican II nhận thấy sự tách rời của đức tin Kitô giáo và đời sống hằng ngày là một trong những sai lạc trầm trọng nhất của thời đại chúng ta[1].[…] Cần phải ghi nhớ rằng “nhờ văn hoá, con người, với tư cách là người, sẽ trở thành người hơn, và một khi ‘là’ người hơn như thế, thì cũng làm cho sự hiện hữu có giá trị hơn”[2].
1. Các thách thức văn hoá
– Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Trong nền văn hoá đang thịnh hành, thế thượng phong được dành cho cái bề ngoài, cái trực tiếp, cái có thể thấy được, cái nhanh nhẩu, cái phù phiếm và tạm bợ. Cái thật nhường chỗ cho cái ảo.” (Evangelii Gaudium, 62). Có thể thấy được sự góp phần rất lớn của các phương tiện truyền thông xã hội hiện đại cho thực tế này. Có một nguy cơ là gốc rễ văn hoá truyền thống các nước đang bị xâm nhập thường xuyên bởi các lối suy nghĩ và hành động của các nền văn hoá khác “tiến bộ hơn” về mặt kinh tế nhưng yếu kém hơn về đạo đức. Các mẫu hành vi mới đang xuất hiện như là kết quả của việc chịu ảnh hưởng quá nhiều vào các phương tiện truyền thông xã hội. Hậu quả là các khía cạnh tiêu cực của các công nghệ truyền thông và giải trí đang đe dọa các giá trị truyền thống, đặc biệt đe dọa sự thánh thiêng của hôn nhân và sự bền vững của gia đình (x. Ibid., 6).
– Ngày nay nở rộ các phong trào tôn giáo, một số có khuynh hướng cực đoan trong khi một số khác đề nghị một linh đạo không có Thiên Chúa. Trong hoàn cảnh văn hoá đậm nét cá nhân chủ nghĩa, các trào lưu tôn giáo này có thể phần nào lấp đầy khoảng trống do chủ nghĩa duy lý thế tục để lại. Phải nhìn nhận rằng, sở dĩ một số Kitô hữu chạy theo các trào lưu đó là vì một đàng do thiếu ý thức thuộc về Hội Thánh, đàng khác do tại các giáo xứ và cộng đoàn của chúng ta thiếu cơ cấu và bầu khí thân thiện, do tính quan liêu trong xử sự các vấn đề trong đời sống các tín hữu, do phương thức quản trị lấn át phương thức mục vụ, do tập trung vào việc ban các bí tích tách rời với các hình thức truyền giáo khác (x. Ibid., 63).
– Tiến trình tục hoá giản lược đức tin và Hội Thánh vào phạm vi cá nhân riêng tư. Não trạng thế tục hoá, phủ nhận Đấng siêu việt, làm cho đạo đức ngày càng xuống cấp, ý thức về tội lỗi của cá nhân và tập thể suy yếu dần, và chủ nghĩa duy tương đối ngày càng lan rộng. Tình trạng này làm con người mất phương hướng, nhất là ở lứa tuổi thanh thiếu niên vốn dễ bị tổn thương trước những thay đổi (x. Ibid., 64)
2. Chiều kích đạo đức của nền văn hoá là thiết yếu
Niềm tin vào Đức Giêsu Kitô, Đấng diễn tả chính mình như “là con đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6), thúc bách các Kitô hữu ngày nay dấn thân cách kiên quyết và mới mẻ để xây dựng một nền văn hoá chính trị xã hội được gợi hứng từ Tin Mừng. “Sự toàn hảo của con người và phúc lợi của toàn xã hội là những cứu cánh thiết yếu của văn hoá: vì thế chiều kích đạo đức của văn hoá là một ưu tiên của người tín hữu trong hoạt động xã hội chính trị. Không chú ý đến chiều kích này sẽ dễ dàng biến văn hoá thành một công cụ làm nghèo nàn nhân loại”[3].
3. “Sinh thái toàn diện” phản ánh nền “văn minh của Tình Thương”
Đức giáo hoàng Phanxicô kêu gọi chú tâm đến “nền sinh thái văn hoá” nhằm bảo vệ các kho tàng văn hoá của nhân loại. “Văn hoá là cái gì còn hơn cả những gì chúng ta đã thừa hưởng từ quá khứ; nó cũng là, và trên hết là một thực tại sống động, năng động và hiện hữu thông dự, là điều không thể bị loại trừ khi chúng ta nghĩ lại về mối quan hệ giữa con người và môi trường”[4].
Sự suy thoái đạo đức và văn hoá đi kèm theo với sự làm hỏng môi sinh buộc chúng ta tự chất vấn những câu hỏi cơ bản về cuộc sống: “Đâu là mục đích của cuộc sống chúng ta trên thế giới này? Tại sao chúng ta ở đây? Đâu là mục đích của việc chúng ta đang làm và tất cả những nỗ lực của chúng ta nhằm tới cái gì? Trái đất cần gì từ chúng ta?
Đức Giáo hoàng kêu gọi theo đuổi một nền sinh thái toàn diện biết xem xét các vấn đề trong thế liên kết hỗ tương về mọi phương diện: môi trường, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, và đạo đức. Một nền sinh thái như thế đòi hỏi tầm nhìn nghĩ đến các giải pháp toàn diện cho cả khủng hoảng về môi sinh và nhân văn.
Để làm cho xã hội nhân bản hơn, xứng đáng hơn với con người, phải đem một giá trị mới cho tình yêu vào trong đời sống xã hội – bao gồm chính trị, kinh tế và văn hoá – bằng cách làm cho tình yêu đó trở thành một chuẩn mực vững bền và cao nhất cho mọi hoạt động. Chỉ có tình yêu bao gồm lòng nhân từ gọi là “lòng thương xót”, mới có thể hoàn toàn biến đổi con người. “Bác ái là điều răn mang tính xã hội cao cả nhất. Bác ái tôn trọng người khác và các quyền lợi của họ. Bác ái đòi buộc thực thi công lý và chỉ có bác ái mới làm cho ta có khả năng đạt tới điều đó. Bác ái gợi hứng cho ta một cuộc sống tự hiến: ‘Ai tìm cách giữ mạng sống mình thì sẽ mất, nhưng ai liều mất mạng sống mình sẽ bảo tồn được mạng sống ấy.’ (Lc 17,33)”[5]. Chỉ khi nào “nền văn minh tình yêu” ngự trị thì nhân loại mới có thể hưởng một nền hoà bình chân chính và vững bền.”[6]
Câu hỏi chia sẻ và thảo luận
1. Đâu là những thách thức về văn hoá đáng chú ý nhất tại thành phố, vùng miền của anh chị?
2. Những bạn trẻ Kitô hữu của giáo xứ, giáo phận của anh chị chịu ảnh hưởng bởi văn hoá du nhập có ý thức và phản ứng như thế nào trước những làn sóng thế tục đang xâm thực đức tin từng giờ từng ngày?
3. Theo anh chị người Kitô hữu cần làm gì để làm cho tình yêu mang một giá trị mới trong đời sống văn hoá xã hội hôm nay?
–––––––––––––––––––––––––––––––––––
[1] x. Gaudium et spes, 43.
[2] Gioan Phaolô II, Gửi cho UNESCO (23.06.1980), 7 : L’Osservatore Romano, bản dịch Anh Ngữ (23.06.1980), tr. 9. x. HĐTT về Công lý và Hoà bình, Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo, 554.
[3] x. HĐTT về Công lý và Hoà bình, Tóm lược Học thuyết Xã hội của Giáo hội Công giáo, 556.
[4] Phanxicô, Laudato Si’, 143.
[5] GLHTCG, 1889.
[6] x. Gioan Phaolô II, Thông điệp Ngày Thế giới Hoà bình năm 2004, 10. Id., Dives in Misericordia,14; GLHTCG, 2212.
 
Văn phòng HĐGMVN
Nguồn: WHĐ

Đức Thánh Cha: Lòng thương xót không có việc làm là "chết"

Đức Thánh Cha: Lòng thương xót không có việc làm là "chết"
VATICAN - Trong buổi tiếp kiến chung sáng 30-6-2016, ĐTC nhắc nhở cho các tín hữu rằng "lòng thương xót nếu không có việc làm thì tự nó chết".

Hôm qua là buổi tiếp kiến chung được thêm vào trong Năm Thánh và là buổi cuối cùng trước mùa hè. Trong tháng 7, ĐTC ngưng các buổi tiếp kiến.

Trong bài huấn dụ về đề tài "Các công việc từ bi thương xót" trước sự hiện diện của 30.000 tín hữu trong đó có khoảng 50 tín hữu hành hương người Việt, ĐTC nhấn mạnh đến sự cần thiết phải bày tỏ lòng thương xót qua các công việc cụ thể. Điều làm cho lòng thương xót sinh động chính là động thái liên lỉ đi đáp ứng nhu cầu và sự cần thiết của những người nghèo khổ về tinh thần và vật chất. Lòng thương xót có mắt để thấy, có tai để nghe, có đôi tay để nâng đỡ.

ĐTC mời gọi các tín hữu đặc biệt quan tâm nhận ra tình trạng đau khổ và túng thiếu của bao nhiêu anh chị em. Nhiều khi chúng ta đứng trước những tình trạng nghèo khổ bi thảm nhưng dường như chúng ta không cảm thấy xúc động. Tất cả diễn ra như thể không hệ gì, trong một sự dửng dưng, đến độ làm cho chúng ta trở nên giả hình và lãnh đạm, không còn tâm hồn nhạy cảm nữa, và cuộc sống không còn mang lại hoa trái.

ĐTC nhắc đến bao nhiêu khía cạnh của lòng thương xót của Thiên Chúa đối với chúng ta và ngài nói: "Cũng vậy, bao nhiêu người tìm đến chúng ta để được lòng từ bi thương xót. Ai đã cảm nghiệm trong cuộc sống của mình lòng thương xót của Chúa Cha thì không thể không nhạy cảm trước những nhu cầu của anh chị em mình... Những công việc từ bi thương xót không phải là những đề tài lý thuyết, nhưng là những chứng tá cụ thể, đòi chúng ta phải xắn tay áo lên để xoa dịu những đau khổ của nhân loại."

Trong bài huấn dụ, ĐTC nhận xét rằng trong thế giới hoàn cầu hoá, một số nạn nghèo đói vật chất và tinh thần gia tăng, vì thế chúng ta cần có tinh thần sáng tạo về đức bác ái để đề ra những hình thức hành động mới. Nhờ đó con đường thương xót sẽ luôn trở nên cụ thể hơn.

Trong phần thứ hai của bài huấn dụ tại buổi tiếp kiến dưới trời nắng, ĐTC nhắc đến cuộc viếng thăm mục vụ ngài mới thực hiện tại Armeni, quốc gia đầu tiên đã theo Kitô giáo, hồi đầu thế kỷ thứ 4. Armeni, một dân tộc, qua dòng lịch sử dài, đã làm chứng cho đức tin Kitô bằng sự tử đạo. Ngài nồng nhiệt cám ơn Tổng thống, Đức Tổng Thượng phụ Karekin II, Đức Thượng phụ, các GM Công giáo và toàn dân Armeni đã đón tiếp ngài.

ĐTC thông báo: "Trong vòng 3 tháng nữa, nếu Chúa muốn, tôi sẽ đến thăm Cộng hoà Georgia và Azerbaigian, hai nước cùng thuộc vùng Caucase. Tôi nhận lời viếng thăm hai nước này vì 2 lý do: một đàng là để đề cao giá trị của những căn cội Kitô kỳ cựu tại miền ấy, luôn ở trong tinh thần đối thoại với các tôn giáo và các nền văn hoá khác; đàng khác là để khích lệ những hy vọng và những con đường hoà bình. Lịch sử dạy chúng ta rằng con đường hoà bình đòi phải kiên nhẫn rất nhiều và có những bước liên tục, bắt đầu từ những bước nhỏ, và dần dần tăng trưởng thêm, đi gặp gỡ người khác. Chính vì thế, tôi cầu chúc tất cả và từng người đóng góp phần của mình cho sự hoà giải." (RG 30-6-2016)

 
G. Trần Đức Anh OP
Nguồn: RV

THIẾU NIÊN và GIỚI TÍNH

Tác giả: 
 Trầm Thiên Thu


THIẾU NIÊN và GIỚI TÍNH

Thiếu niên thắc mắc: “Tôi lẫn lộn về giới tính. Người ta luôn cảnh báo rằng ‘làm chuyện ấy’ là tồi tệ.Nhưng phim ảnh, quảng cáo, và ngay cả cảm giác của tôi, lại nói với tôi rằng điều đó tốt. Sự thật như thế nào?”.

Với các tin tức về bệnh AIDS và các bệnh lây lan qua đường tình dục, mang thai tuổi thiếu niên, ngoại tình, ly dị, phá thai, phim ảnh “đen”, quấy rối tình dục, hãm hiếp, tội phạm liên quan tình dục và các bi kịch khác, cho thấy rằng tình dục là tồi tệ.

Nhưng tình dục lại không tồi tệ. Nó xấu vì người ta làm cho nó xấu. Người ta bóp méo và lạm dụng nó vì tính ích kỷ. Chẳng hạn, một số người đối xử với người khác như dụng cụ mua vui. Họ làm méo mó nhân phẩm và làm tổn thương người khác.

Hãy nhớ rằng không ai có thể tạo nên giới tính. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể. Thiên Chúa tạo nên chúng ta có nam và có nữ, cài đặt trong chúng ta hai điều căn bản: Thứ nhất, sự giao hợp làm cho người nam và người nữ thề hứa chung thủy trong hôn nhân để chứng tỏ tình yêu dành cho nhau qua cách thức vui vẻ và phấn khởi; thứ hai, tình dục làm cho phép người nam và người nữ chia sẻ công việc của Thiên Chúa là tạo nên sự sống mới. Vì hai lý do này, tình dục là điều tốt, rất tốt!

Bạn nên tạ ơn Chúa về tặng phẩm quý giá là tình dục. Nhưng bạn cũng nên ghi nhớ bài học mà bạn thường nghe: Giao hợp là tặng phẩm được thiết kế dành riêng cho vợ chồng kết hôn mà thôi. Hãy nghĩ về điều này: Tình dục rất giống lửa. Bên trong lò sưởi, nó ấm nóng; brong lò lửa, nó nấu chín thực phẩm mà chúng ta cần cho cơ thể. Bên ngoài lò sưởi hoặc lò lửa, nó phá hủy mọi thứ, gây nguy hại.

Bí quyết là kiểm soát “lửa ham muốn tình dục” trong những năm tuổi thiếu niên để không buông thả. Bạn sẽ có sự thúc đẩy mạnh mẽ, nhưng đừng hành động theo chúng. Hãy nhớ rằng không ai chết vì thiếu tình dục. Cũng vậy, hãy cố gắng làm cho 4 nguyên tắc này trở thành kế hoạch sống đúng đắn trong lĩnh vực tình dục:

     ● Hãy giữ liên lạc với Chúa Giêsu qua việc cầu nguyện. Ngài sẽ luôn hỗ trợ bạn giữ lửa đó ở trong lò.
     ● Hãy chia sẻ với bạn bè về các giá trị sống.
     ● Hãy tiếp nhận Chúa Giêsu qua Bí tích Thánh Thể.
     ● Nếu bạn sa ngã trong lĩnh vực tình dục, hãy cầu xin Thiên Chúa tha thứ qua Bí tích Hòa Giải. Hãy nhớ rằng Chúa Giêsu đến để cứu thoát các tội nhân (x. Lc 5:30-32). Bí tích Hòa Giải là phương cách hữu hiệu mà Chúa Giêsu để lại vì lợi ích của bạn.

Cuối cùng, đừng đánh mất viễn cảnh về tình dục. Nó không là tất cả nhưng nó cũng không chấm dứt cuộc đời bạn. Điều quan trọng là chính bạn là loại người nào. Nếu bạn phát triển tình yêu dành cho Thiên Chúa, tha nhân, và chính mình, bạn sẽ thấy rằng cảm giác tình dục mạnh mẽ sẽ được hướng dẫn theo hướng tích cực để giúp bạn trở nên con người mà Thiên Chúa muốn.

TRẦM THIÊN THU

MÔI SINH VĂN HÓA THẤM ĐẪM TÌNH YÊU – LÒNG THƯƠNG XÓT

Tác giả: 
 JM. Lam Thy ĐVD.


MÔI SINH VĂN HÓA THẤM ĐẪM TÌNH YÊU – LÒNG THƯƠNG XÓT

Chủ đề Mục vụ tháng 7/2016 là: “Tân Phúc-Âm-hóa để môi sinh văn hóa thấm đẫm Tình Yêu – Lòng Thương Xót” (xc. “Gợi ý Mục vụ trong Năm Thánh Lòng Thương Xót”). Thử tìm hiểu xem Tân Phúc-Âm-hóa là gì và vì sao cần “Tân Phúc-Âm-hóa để môi sinh văn hóa thấm đẫm Tình Yêu – Lòng Thương Xót”.

I. Khái niệm về Tân Phúc-Âm-hóa: 

1- Phúc-Âm-hóa:  Phúc-Âm-hóa là làm cho tinh thần của Phúc Âm được thấm nhuần trong mọi lãnh vực của cuộc sống. Nói cách khác, Phúc-Âm-hóa là phương cách biến đổi con người theo Phúc Âm. Chính cuộc đời người Ki-tô hữu phải được biến đổi, phải được củng cố và làm mới lại đức tin của bản thân, nhiên hậu giúp những anh chị em đã xa rời đức tin tái khám phá vẻ đẹp và ánh sáng đức tin. Thư Chung 2013 của HĐGMVN (số 3) đã giải thích: “Mục tiêu của Phúc-Âm-hoá là dẫn mọi người vào cuộc gặp gỡ cá vị với Đức Giê-su Ki-tô, trong Thánh Thần, nhờ đó gặp gỡ Thiên Chúa Cha của Người, cũng là Cha của chúng ta, và để đời sống mình được biến đổi theo tinh thần Phúc Âm.”

Như vậy, “Phúc Âm hóa” là sứ vụ Truyền giáo, cũng tức là làm “muối, men và ánh sáng cho trần gian” như chính Lời dạy của Đức Ki-tô: “Chính anh em là muối cho đời… Chính anh em là ánh sáng cho trần gian…” (Mt 5, 13-16). Người muốn các môn đệ làm “muối” ướp cho đời, “muối” phải biết chấp nhận hoà tan, biến mình đi trong chất mặn vị kỷ, để hiến dâng cho đời hương vị thơm ngon, mặn nồng của quảng đại, vị tha. Là ánh sáng cho trần gian cũng tức là phải tỏa sáng trung thực “Ánh sáng Đức Ki-tô”. Cụ thể hơn, phải làm sao cho mình được trở nên “đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô” (Pl 3, 10) – “Đấng là ánh sáng cứu dộ trần gian” để “tôn vinh Cha, Đấng ngự trên trời” (Mt 5, 16). Hơn thế nữa, Đức Ki-tô còn dùng dụ ngôn “Men trong bột” (chỉ cần một nắm men nhỏ cũng làm cho cả thúng bột dậy men – Lc 13, 20-21) để nói về Nước Trời mà Người muốn các môn đệ rao giảng.

            Dụ ngôn “muối, men, ánh sáng” không gì khác hơn là những tư tưởng, hành động mà Đức Giê-su mong muốn các môn đệ thực thi trong sứ vụ do Người sai đi. Đó chính là: “Ðược Thiên Chúa sai đến muôn dân để nên “bí tích cứu độ phổ quát”, Giáo hội, vì những đòi hỏi căn bản của công giáo tính và vì mệnh lệnh của Ðấng Sáng Lập, nhất quyết loan báo Phúc Âm cho hết mọi người. Thực vậy, chính các Tông Ðồ, nền tảng của Giáo hội, đã theo chân Chúa Ki-tô, “rao giảng lời chân lý và khai sinh các giáo đoàn”. Do đó, những người kế vị các Tông Ðồ có nhiệm vụ tiếp tục công việc này, để “Lời Chúa được lan tràn và sáng tỏ” (2Tx 3, 1), nước Chúa được công bố và thiết lập khắp trần gian.” (Sắc lệnh Truyền giáo “Ad Gentes”, số 1).

2- Tân Phúc-Âm-hóa: Phúc-Âm-hóa là hoạt động đem các giá trị Phúc Âm thấm nhuần vào các thực tại trần thế như muối, men và ánh sáng, để biến đổi mọi sự cho phù hợp với tinh thần Phúc Âm. Trong một thế giới luôn biến động, con người cũng luôn thay đổi theo trào lưu tiến hóa chung của xã hội, vì thế, công cuộc Phúc-Âm-hóa cũng luôn đòi hỏi phải được cải tiến sao cho phù hợp với thời đại văn minh tiến bộ. Việc cải tiến đó chính là việc làm mới lại (canh tân) đời sống chứng nhân, đổi mới phương cách rao truyền Phúc Âm. Nói gọn lại thì đó chính là công cuộc Tân Phúc-Âm-hóa vậy.

Với tiêu đề “Canh tân các sứ giả Tin Mừng để phục vụ công cuộc Tân Phúc-Âm-hóa tại châu Á”, Sứ điệp “Hội nghị toàn thể lần thứ X của Liên Hội đồng Giám mục châu Á” (16/12/2012), đã viết nơi phần mở đầu: “Chính Thần khí đã từng thúc đẩy Công đồng Vatican II nay cũng đang hiệu triệu chúng ta thành những sứ giả được đổi mới của Tin Mừng để phục vụ công cuộc Tân Phúc-Âm-hóa… Để trở nên những thừa sai mới, chúng ta phải đáp lại Thần khí đang hoạt động tích cực trong thế giới, trong sâu thẳm hiện hữu của chúng ta, trong các dấu chỉ thời đại và trong tất cả những gì thực sự thuộc về con người. Chúng ta cần phải sống linh đạo Tân Phúc-Âm-hóa.”

Như vậy, “Tân Phúc-Âm-hoá” là đổi mới công cuộc loan báo Tin Mừng, chủ yếu là “mới về lòng nhiệt thành, mới trong phương pháp, và mới trong cách diễn tả”. Mới về lòng nhiệt thành là làm mới lại tương quan giữa bản thân chúng ta với Đức Giê-su Ki-tô, để mối tương quan ấy hướng dẫn toàn bộ đời sống chúng ta. Mới trong phương pháp là biết vận dụng những phương pháp thích hợp để đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng của thời đại về nhiều mặt, văn hoá, xã hội cũng như kỹ thuật. Mới trong cách diễn tả là cố gắng nghiên cứu và sử dụng những cách diễn tả phù hợp, để con người hôm nay có thể hiểu và lĩnh hội được sứ điệp Phúc Âm.” (Thư Chung của HĐGMVN – 2013, số 4)

II. Tân Phúc-Âm-hóa môi sinh văn hóa:

1- Môi sinh văn hóa là gì? Theo từ nguyên thì “Văn hóa” mang ý nghĩa: Thành quả chung của quá trình phát triển sáng tạo của loài người trong lịch sử; bao quát các phương diện tôn giáo, đạo đức, nghệ thuật, khoa học v.v… Nói một cách giản dị thì văn hóa là tất cả những yếu tố vật chất, tinh thần đặc trưng cho một cộng đồng xã hội, được cộng đồng đó chấp nhận, sử dụng và gìn giữ nó theo thời gian. Văn hóa là yếu tố đã được cả cộng đồng dân cư lựa chọn. Một yếu tố chỉ được coi là văn hóa của một cộng đồng khi nó "sống" và tồn tại với cộng đồng đó trong một khoảng thời gian nhất định. Ngoài ra, còn một đặc tính quan trọng khác đó là văn hóa có thể thay đổi, bổ sung và phát triển theo thời gian, cùng với sự thay đổi và phát triển của xã hội.

Hiến chế Vui mừng và Hy vọng “Gaudium Et Spes” (số 53) cũng giải thích: “Theo nghĩa tổng quát, chữ "văn hóa" chỉ tất cả những gì con người dùng để trau giồi và phát triển các năng khiếu đa diện của tâm hồn và thể xác; cố gắng chế ngự cả trái đất bằng trí thức và lao động; làm cho đời sống xã hội, đời sống gia đình cũng như đời sống chính trị trở thành nhân đạo hơn, nhờ sự tiến bộ trong các tập tục và định chế; sau hết, diễn tả, thông truyền và bảo tồn trong các công trình của mình, những kinh nghiệm tinh thần và hoài bão lớn lao của các thời đại, để giúp cho nhiều người và toàn thể nhân loại tiến bộ hơn. Vì vậy, văn hóa nhân loại thiết yếu mang tính cách lịch sử và xã hội, và chữ "văn hóa" thường mặc thêm một ý nghĩa xã hội học cũng như dân chủng học.”

2- Tân Phúc-Âm-hóa đời sống xã hội: Thiên Chúa đã dựng nên con người không phải để sống riêng rẽ nhưng để tạo nên sự liên kết xã hội. Ngay từ khởi thủy, khi dựng nên con người, Thiên Chúa đã dựng nên có nam có nữ và phán: “Hãy sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất” (St 1, 28). Khi loài người sa vòng tội lỗi, Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu rỗi loài người cách riêng rẽ, thiếu liên kết, nhưng Ngài muốn qui tụ họ thành một dân tộc để họ nhận biết chính Ngài trong chân lý, và phụng sự Ngài trong thánh thiện.

Tính chất cộng đoàn này nhờ công nghiệp của Đức Giê-su Ki-tô được kiện toàn và hoàn tất. Chính Ngôi Lời Nhập Thể đã muốn chia sẻ tình liên đới nhân loại. Người đã hiện diện tại tiệc cưới Cana, đã vào nhà Da-kêu, đã ăn uống với những người thu thuế và những người tội lỗi. Người đã mạc khải tình yêu thương của Chúa Cha và sứ mệnh cao cả của Người khi nhắc tới những điều hết sức thông thường trong xã hội và dùng những kiểu nói bình dân cũng như sử dụng những hình ảnh hoàn toàn thuộc cuộc sống thường nhật. Tự ý tuân phục những luật lệ trong một quốc gia trần thế (It-ra-en), Người đã thánh hóa những mối liên hệ của con người, nhất là những liên hệ thuộc về gia đình là nguồn gốc phát sinh những liên hệ xã hội. Người đã muốn sống cuộc sống của những thợ thuyền với người đương thời nơi quê hương Người (Na-da-ret).

Hiến chế “Lumen Gentium” (số 9) đã giải thích rõ ràng về tính cách xã hội hóa của cộng đồng Dân Chúa: “Thiên Chúa triệu tập tất cả những người tin kính và mong đợi Chúa Ki-tô, Ðấng ban ơn cứu độ và hiệp nhất, nguyên lý của sự hòa bình; Ngài thiết lập họ thành Giáo hội để Giáo hội trở nên bí tích hữu hình của sự hiệp nhất cứu độ ấy cho toàn thể và cho mỗi người. Cũng như dân Israel theo xác thịt, khi đang lữ hành trong sa mạc, đã được gọi là Giáo hội của Thiên Chúa (x. 2Esd 13,  1; Ds 20, 4; Dnl 23, 1tt), dân Israel Mới tiến bước trong thời đại này đang tìm về thành thánh tương lai bất diệt (x. Dt 13, 14) cũng được gọi là Giáo hội Chúa Ki-tô (x. Mt 16, 18). Thực vậy, chính Người đã lấy máu mình mà chuộc lấy Giáo hội đó (x. Cv 20, 28), Người đổ tràn Thánh Thần và ban các phương thế thích hợp để kết hiệp thành một xã hội hữu hình.”

Tân Phúc-Âm-hóa đời sống xã hội là đòi hỏi tất yếu của sứ vụ, bởi lẽ người Ki-tô hữu không sống đức tin trong cõi trừu tượng nào đó, nhưng ở đây, giữa lòng xã hội, với những tương quan đa chiều của đời sống. Chính ở đó, người môn đệ Chúa Giê-su được mời gọi đem tinh thần Phúc Âm thấm nhập vào những tương quan và môi trường mình đang hiện diện, sinh sống, làm việc. Để thực hiện đường hướng Tân Phúc-Âm-hóa xã hội, “các Ki-tô hữu, công dân của cả hai đô thị (Trần thế - Thiên quốc), hãy nỗ lực chu toàn cách trung thành những bổn phận trần thế của họ và chu toàn dưới sự hướng dẫn của tinh thần Phúc Âm. Theo gương Chúa Giê-su đã sống như một người thợ, các Ki-tô hữu hãy vui mừng vì có thể thi hành mọi hoạt động trần thế mà đồng thời có thể liên kết trong một tổng hợp sống động duy nhất, các cố gắng nhân loại, gia đình, nghề nghiệp, khoa học hay kỹ thuật với các giá trị tôn giáo.” (Hiến chế “Gaudium Et Spes”, số 43).

3- Tân Phúc-Âm-hóa môi sinh văn hóa: Có thể coi “Phúc-Âm-hóa đời sống xã hội” là Phúc-Âm-hóa những nền văn hóa của loài người. Nói cách cụ thể thì đó là hành trình đi từ con người và lại quy về những tương quan giữa con người với con người và giữa con người với Thiên Chúa. Như vậy Giáo hội phải dồn mọi nỗ lực để tiến tới sự Phúc-Âm-hóa một cách rộng rãi, nhằm mục đích Phúc-Âm-hóa mọi nền văn hóa. “Như thế, Phúc-Âm-hóa các nền văn hóa phải được thực hiện một cách sống động sâu xa cho tới tận gốc rễ, chứ không theo một cách trang trí như lớp sơn bóng ngoài mặt. Chúng phải được cải hóa nhờ tiếp xúc với Tin Mừng, nhưng sẽ không có tiếp xúc nếu Tin Mừng không được công bố.” (Tông huấn Loan Báo Tin Mừng “Evangelii Nuntiandi”, số 20). Điều tất yếu là toàn bộ môi sinh văn hóa rất cần được làm mới lại việc Phúc-Âm-hóa, nhằm mục đích tối hậu là chiếu tỏa Lòng Thương Xót của Thiên Chúa cho đến tận cùng trái đất.

III. Tân Phúc-Âm-hóa để môi sinh văn hóa thấm đẫm tình yêu – Lòng Thương Xót:

Tông chiếu Dung Mạo Lòng Thương Xót “Misericordiae Vultus” (số 12) đã khẳng định: “Giáo hội có sứ mạng  công bố về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, công bố con tim đang sôi sục của Tin Mừng. Nhờ đó, Lòng Thương Xót sẽ đạt tới được con tim và khối óc của con người. Hiền thê của Chúa Ki-tô biến hành động của Con Thiên Chúa thành hành động của mình, và đi đến với tất cả mọi người cũng như không loại trừ bất cứ ai. Trong thời đại chúng ta, mà trong đó Giáo hội đã dành cho việc tái loan báo Tin Mừng, điều này có ý nghĩa như là việc mang đề tài Lòng Thương Xót với niềm hăng hái mới cũng như với một công cuộc mục vụ được canh tân, tiến về phía trước.”

“Công bố lòng thương xót” chính là công cuộc loan báo Tin Mừng, là sứ vụ nhất quán của Giáo hội: Truyền giáo. Nói cách cụ thể là Giáo hội có trách nhiệm đem tình yêu của Thiên Chúa đến cho muôn dân, bởi “Chân lý đầu tiên của Giáo Hội là tình yêu của Chúa Ki-tô. Giáo Hội biến mình thành một người đầy tớ của tình yêu này và làm trung gian của tình yêu ấy cho tất cả mọi người: một tình yêu tha thứ và thể hiện bản thân nó như sự trao ban chính mình.” (Tông chiếu “Misericordiae Vultus”, số 12). Vì thế, Giáo hội nhắc nhở mọi tín hữu: “Hãy có lòng xót thương như Chúa Cha. Vị Thánh Sử nhắc nhở chúng ta về giáo huấn của Chúa Giê-su, Đấng đã phán: “Hãy thương xót như Cha các ngươi có lòng thương xót” (Lc 6, 36).” (ibid, số 13). Rõ ràng mục đích tối hậu của công cuộc canh tân sứ vụ Truyền giáo không gí khác hơn là “Tân Phúc-Âm-hóa để môi sinh văn hóa xã hội thấm đẫm Tình Yêu – Lòng Thương Xót”.

Kết luận: 

Tóm lại, “Ðặc điểm của một nhân vị là chỉ đạt tới nhân tính đích thực và trọn vẹn nhờ văn hóa, nghĩa là nhờ việc trau giồi những ưu phẩm và giá trị của bản tính. Vì vậy, mỗi khi đề cập đến cuộc sống nhân loại, bản tính và văn hóa liên kết với nhau hết sức chặt chẽ.” (Hiến chế “Gaudium Et Spes”, số 53). Cũng vì tính cách đặc biệt của bản tính con người liên kết chặt chẽ với văn hóa, nên khi Phúc-Âm-hóa đời sống xã hội chính là đem Tình Yêu Thiên Chúa đến cho xã hội, tác động vào môi trường văn hóa, để từ đó làm cho xã hội ngày một tốt đẹp văn minh hơn.

Công cuộc Tân Phúc-Âm-hóa đời sống xã hội nhắm đến mục tiêu duy nhất là đổi mới công cuộc rao giảng Tin Mừng, đem đến cho môi trường văn hóa xã hội Tình Yêu của Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót. Ý thức vấn đề như vậy, người Ki-tô hữu hãy canh tân sứ vụ Truyền giáo (Tân Phúc-Âm-hóa) làm sao để bản thân thực sự trở thành “muối, men và ánh sáng” trong môi trường văn hóa giữa lòng xã hội, “để môi sinh văn hóa xã hội thấm đẫm Tình Yêu – Lòng Thương Xót”. Ước được như vậy. Amen.

JM. Lam Thy ĐVD.