Trang

Thứ Bảy, 5 tháng 8, 2017

Ơn linh hứng Kinh Thánh

Ơn linh hứng Kinh Thánh

Giuse Nguyễn Tất Trung, OP
Lời Thiên Chúa đã thành xác phàm. Lời Thiên Chúa cũng đã thành chữ viết. Nhập Thể là sự kết hợp của tính Thiên Chúa với tính loài người. Kinh Thánh là tác phẩm của Thiên Chúa và cũng là của con người. Nhập Thể và Kinh Thánh, cả hai đều thuộc về kế hoạch của Thiên Chúa nhằm cứu độ thế gian, “nhiều lần, nhiều cách” như thư Hr 1,1 đã nói.
Ở đây ta tìm hiểu khía cạnh thiên linh của Kinh Thánh, tức là yếu tố làm cho một tác phẩm của con người cũng thực sự là tác phẩm của Thiên Chúa. Yếu tố ấy quen được gọi là ơn đoàn sủng linh hứng.
Phần một
SỰ KIỆN LINH HỨNG
Trước khi dẫn lời Kinh Thánh để chứng minh Kinh Thánh được linh hứng, cần chú ý : ta không dẫn Kinh Thánh với tính cách đó là Lời Thiên Chúa, nhưng với tính cách là tài liệu lịch sử. Vì nếu dẫn Kinh Thánh với tính cách là Lời Thiên Chúa thì hóa ra ta đi vào vòng luẩn quẩn : giả thiết Kinh Thánh là Lời Thiên Chúa rồi lại dựa vào đó để chứng minh Kinh Thánh là Lời Thiên Chúa. Vì thế, ta chỉ coi Kinh Thánh là tài liệu đáng tin cậy nhờ đó mà biết Đức Giêsu và các Tông Đồ, tức là những vị dạy điều phải tin phải sống, đã xác quyết Kinh Thánh là Lời Thiên Chúa, do Chúa Thánh Thần linh hứng.
I. TRONG KINH THÁNH
1. Cựu Ước
Trong Cựu Ước, không có chỗ nào nói rõ toàn bộ hay một cuốn sách nào trong Cựu Ước được Thiên Chúa linh hứng. Chỉ thấy có những xác quyết đơn giản như : “Sách của Đức Chúa”, “Sách Thánh”, “Kinh Thánh”. Tuy nhiên, cũng có nhiều đoạn văn ám chỉ sự kiện linh hứng như :
- Khi ông Môsê được lệnh Chúa truyền ghi lại cuộc chiến thắng quân Amaléc (Xh 17, 14) và tập sách Giao ước (Xh 24, 4 tt ; 34,27).
- Đặc biệt là trường hợp các ngôn sứ. Các ông được lệnh Chúa truyền chép lại hay đọc cho người khác chép những thị kiến... vd. ông Isaia được lệnh Đức Chúa truyền ghi lại tên tượng trưng của người con thứ hai của ông là Maher shalal khash baz (Is 8,1) và viết một lời sấm (30,8). Ngoài ra, trong Is 34,16 còn nói đến một cuốn sách được gọi là ”Sách của Đức Chúa”. Không rõ là sách nào, có lẽ là một tập lời sấm.
- Khi ông Giêrêmia được Đức Chúa truyền viết những Lời Đức Chúa phán với ông vào một cuốn sách (Gr 30,2 ; x. 25,13 ; 45,1 ; 51,60). Nhưng điển hình nhất là trường hợp ch. 36. Ở đây, tác giả mô tả cụ thể việc soạn cuốn sách được linh hứng. Đức Chúa truyền cho ngôn sứ Giêrêmia chép vào một cuốn sách những Lời Đức Chúa đã phán với ông (c.2). Ông đọc cho thư ký (ông Barúc) viết những Lời của Đức Chúa (cc. 4.6). Ông Barúc đem tập đó đọc cho dân chúng trong Đền Thờ như là “Lời của Chúa” (c.8). Tập đó đến tay vua Xítkigia và bị vua đốt đi, nhưng Chúa truyền cho ngôn sứ Giêrêmia viết lại (c. 28) cùng với nhiều lời khác nữa (c.32).
- Khi ngôn sứ Khabacúc được lệnh viết các thị kiến của ông lên những tấm bảng đá (Kb 2,2).
- Ông Edras từ Babylone lưu đày trở về mang theo một cuốn Luật, ông đã đọc cho dân nghe (Er 7,1-26). Sau thời lưu đày, người Israel dần dà có thái độ kính tôn đặc biệt đối với một số sách. Đến thời anh em Macabê, những sách ấy đã được thu thập lại (2 Mcb 2, 13-15) và, lần đầu tiên trong văn chương Kinh Thánh, được gọi là ”các Sách Thánh”, là nguồn an ủi cho dân trong lúc ngặt nghèo, quí giá hơn cả sự liên minh với dân Sparthes (1 Mcb 12,9), là nơi thỉnh ý Thiên Chúa trước khi đưa ra những quyết định quan trọng (1 Mcb 3,48), trước khi giao chiến (2 Mcb 8,23).
- Bài tựa sách Huấn ca trong bản dịch Hy lạp (quãng 130 trước CCT) chia các sách ấy thành ba nhóm : Luật, các Ngôn sứ và các tác phẩm. Đây là một lối chia cổ điển trong truyền thống Israel, vẫn còn cho đến nay. Người ta coi lời các ngôn sứ được ghi lại cũng có giá trị ngang hàng với lời các ngài giảng.
- Những từ ngữ, những kiểu nói cũng có sự tiến triển dần dần : ”Sách” (Xh 17,24), “các Sách” (Đn 9,2), “Sách Giao ước” (Xh 24,7 ; 2 V 23,2-21...), “Sách Luật” (Đnl 28,61 ; 30,10 ; 31,26), “Sách của Đức Chúa” (Is 34,15), ”Sách Luật của Thiên Chúa” (Gs 24,26), ta biblia (2 Mcb 2,13) ta biblia ta hagia (1 Mcb 12,9), hê hiera biblos (2 Mcb 8,23).
2. Truyền thống Israel
Theo hướng đi từ lời Đức Chúa phán đến Sách Thánh : trước khi có Sách Thánh, Thiên Chúa đã ban lời dạy dỗ dân Người rồi, vì đó việc ”Thiên Chúa nói với ông Ápraham, với ông Ixaác, với ông Giacóp” là một sự kiện măïc khải trước khi được ghi chép thành sách.
Người Israel coi việc những sự kiện măïc khải được ghi chép lại là một trong nhiều hoạt động của Thiên Chúa để giáo dục đức tin cho dân (pôlumêros kai pôlutropos Hr 1,1). Muốn hiểu thái độ của người Israel đối với Sách Thánh, cần phải đặt niềm tin của họ vào trong toàn bộ măïc khải : ban đầu là Lời Thiên Chúa nói với các Tổ phụ, sau đó với các ngôn sứ, cuối cùng những lời đó được ghi chép thành sách gọi là Sách Thánh.
Một số tác phẩm đã nói lên thái độ của người Israel đối với Sách Thánh, như :
- Mishna (Yadayim III 5c) : “Mọi sách thánh làm tay dơ bẩn” kiểu nói không có ý bảo Sách Thánh làm cho tay ra dơ bẩn, nhưng có ý nói đừng động đến vì nó có tính cách linh thánh (kôl kitbê haqqôdesh metammêim et-hayyadaim). Ngày Sabbat phải nghỉ việc nhưng nếu “các Sách Thánh” bị hỏa hoạn thì phải lo cứu chữa (Mishna, Sabbat XVI, 1).
- Thư của Pseudo-Aristée : làm chứng sự kiện : cộng đoàn Do-thái kiều ước ao có một bộ Ngũ Thư và các sách khác vẫn đọc ở Giêrusalem, nhưng bằng ngôn ngữ của mình (x. 2 Mcb 2,15 ; tựa sách Hc) ; làm chứng niềm tin : Thiên Chúa can thiệp trong việc ban tặng các Sách Thánh ; vua Ptolémée II nhìn nhận Ngũ Thư là theou logia (x 177).
- 4 Esdras (14, 23-27) cho biết Thiên Chúa đọc cho Esdras viết 40 ngày đêm 204 cuốn sách, nhưng chỉ có 60 cuốn được xuất bản.
- Fl. Josèphe khi nói về Ngũ Thư hay các sách Kinh Thánh nói chung, vẫn dùng kiểu nói hai hierai bibloi, ta hiera grammata.
- Philon dùng những kiểu nói : hiera grammata, hierai graphai, theoi chresmoi, theocresta logia, hieros logos, logos theios.
3. Tân Ước
Giáo Hội của Đức Giêsu và các Tông Đồ cũng đã chia sẻ quan niệm của người Israel về Sách Thánh.
- Người Israel coi Sách Thánh là nguồn mạch và là qui luật của chân lý. Vì thế thánh Phaolô phải dựa vào Kinh Thánh để giải thích cho người Israel ở Thêxalônica biết Đức Giêsu chịu đau khổ, rồi phục sinh và làm Đấng Kitô (Cv 17, 2-3). Những người Israel ở Bêrêa dùng Kinh Thánh để chứng thực lời giảng của thánh Phaolô là thực hay hư (Cv 17,11). Mọi tranh luận giữa người Israel phải dựa trên nền tảng là Sách Thánh (Cv 18,28). Tóm lại, có thể nói giữa hai thời Cựu Ước và Tân Ước không có dấu vết gì cho thấy có sự đánh giá Kinh Thánh khác nhau.
- Đức Giêsu chia sẻ suy nghĩ của đồng bào Israel của Người về Sách Thánh. Người sử dụng Kinh Thánh trong sinh hoạt phượng tự của dân tộc, không loại trừ một phần nào : Luật : Mc 7,10 (x. Lv 20,9) các Ngôn sứ : Mc 4,12 (x. Is 6,9 tt) ; Mc 7,6 (x. Is 29,13) ; Mt 11,4-5 (x. Is 42,18) ; Mt 21,44 (x. Đn 2,34.44.45) ; Mt 9,13 (x. Hs 6,6) Mc 13,12 (x. Mk 7,6). Các tác phẩm, đặc biệt là các Thánh vịnh Mt 21,16 (Tv 8,2) ; Mc 151,34 (Tv 23,2) ; Mt 5,8 (Tv 24,4) ; Mc 14,26 (Tv 115-118). Người coi lời Sách Thánh có một thế giá đặc biệt (x. Mt 21,13) có giá trị cao nhất chấm dứt mọi tranh luận (x. Mt 4, 4-10), là nguồn mạch chân lý (Mt 22,29 // Mc 12, 24-27). Hơn thế nữa, Người còn coi Sách Thánh là những lời ngôn sứ nói về Người (Ga 5,39) ; Người có sứ mạng hoàn tất lời Sách Thánh (Mt 1,22 ; 13,48) ; và nếu Người không bộc lộ thì người ta không thể hiểu biết ý nghĩa sâu sắc nhiệm mầu của Sách Thánh (Lc 24, 27.32.45 ; Ga 2,22 ; x. Ga 10,35).
- Các Tông Đồ kế thừa quan niệm chung đó theo gương Đức Giêsu, các ngài đồng hóa Sách Thánh Cựu Ước với Lời Thiên Chúa (Mt 29,31 ; x. Mc 12,26). Thánh Phaolô coi các sách Cựu Ước là Lời Chúa Nhập Thể, Thiên Chúa ủi an ta nhờ các sách đó (Rm 15,4-5) ; nhân cách hóa Sách Thánh ; “Sách Thánh nói” cũng có nghĩa là ”Thiên Chúa nói”... Các ngài gọi bộ sách là ”Sách” (hê graphê, dịch sát là ”tài liệu viết” : Gl 3,8-22 ; 1 Pr 2,6 ; 2 Pr 1,20), ”các Sách”, ”các Sách Thánh” (hai graphai, Mt 21,42 ; 22,29 ; Rm 15,4 ; hagiai graphai, Rm 1,2).
Nhưng có hai đoạn văn đặc biệt nói lên nguồn gốc thiên linh của Sách Thánh, đó là : 2 Tm 3,15-16 và 2 Pr 1,20-21.
- Trong 2 Tm 3,15-16, thánh Phaolô nói với ông Timôthê : ”Từ bé anh đã biết các Sách Thánh (hiera grammata), là những sách có phương dạy khôn anh để được ơn cứu độ nhờ bởi tin vào Đức Giêsu Kitô. Kinh Thánh tất cả đã được thần hứng (pasa grâphê theopneustos) và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, cải thiện và đào tạo trong đường công chính”.
“Kinh Thánh tất cả” (hoặc ”mỗi sách Kinh Thánh” là các Sách Cựu Ước đã nói tới ở c.15.
“Theopneustos” (trong cả Kinh Thánh chỉ gặp ở chỗ này) là một động tính từ ghép bởi danh từ theos : “Thiên Chúa, thần minh” và động từ pneuoâ : “thở, thổi (gió thổi, thổi kèn), gợi hứng cho” cũng như những động tính từ khác có -tos ở cuối, theopneustos có thể có nghĩa :
- chủ động : (“thở ra Thiên Chúa”) nghĩa là tiết phát ra các thiên linh gợi ra những ý nghĩ về Thiên Chúa.
- thụ động (“do Thiên Chúa thổi”), trong các bản văn Hy lạp có trước Kitô giáo, từ này luôn có nghĩa thụ động. Ngoài ra theo văn mạch chỗ này và văn mạch các quan niệm Tân Ước nói trên, theo các bản dịch cổ, các Giáo phụ Hy lạp và hầu hết các nhà chú giải hiện nay, thì từ theopneustos hiểu theo nghĩa thụ động, nghĩa là “được Thiên Chúa thổi, gợi hứng cho, được thần hứng”.
- 2 Pr 1,20-21 cũng nói đến nguồn gốc thiên linh của Kinh Thánh, nhưng còn nhắc thêm về vai trò của con người nữa. Trong đoạn này, tác giả nói rằng giáo huấn về ngày Quang lâm của Chúa Kitô không phải là chuyện hoang đường. Vì uy linh của Thiên Chúa đã xuất hiện khi Chúa biến hình (c.16) ; hơn nữa giáo huấn này còn dựa trên những lời sấm Cựu Ước (c.19) ; tác giả viết tiếp, “Trước tiên, anh em hãy biết rằng : không lời ngôn sứ nào trong Kinh Thánh, người ta lại được quyền giải thích theo ý kiến riêng. Vì không bao giờ lời ngôn sứ đã do ý muốn người phàm đem ra ; nhưng là có những người được Thánh Thần dun dủi, phêrômênoi, đã dựa quyền Thiên Chúa mà nói lên”.
“Lời ngôn sứ” theo văn mạch, là toàn thể Cựu Ước hoặc các Sách ngôn sứ trong Cựu Ước, nhất là những lời nói về Chúa Kitô.
“phêrôâmênoi” là ”được đưa đi” (trong Cv 27,15-17, động từ này được dùng để chỉ con tàu được/bị gió hay dòng nước đưa đi). Như vậy ở đây có ý nói đến yếu tố nhân loại, nhưng yếu tố này hoàn toàn tùy thuộc quyền năng Thiên Chúa.
Ngay từ thời các Tông Đồ, Giáo Hội đã nhìn nhận Cựu Ước là những tài liệu có uy tín của Thiên Chúa, được Thiên Chúa linh hứng cho các tác giả viết ra. Tất cả các đoạn văn vừa kể trên đều nói về ơn linh hứng của các sách Cựu Ước ; còn về ơn linh hứng của các sách Tân Ước thì không thấy bản văn nào nói rõ, trực tiếp. Chỉ có một số chỗ nói cách gián tiếp.
- Trong 1 Tm 5,18, tác giả dùng công thức “Kinh Thánh nói”, để trưng dẫn một câu trong Đnl 25,4 và một lời của Đức Giêsu trong Lc 10,7 : “Làm thợ thì đáng lãnh công”. Như vậy khi đó có lẽ Tin Mừng Lc (hay một tác phẩm tiền Luca) đã được coi như Sách Thánh ? Hay cũng có thể hiểu là ở Lc 10,7, Đức Giêsu dẫn một câu tục ngữ quen thuộc và tác giả 1 Tm cũng dẫn câu ấy sau Đnl 25,4 vì có nghĩa giống nhau chứ không hẳn ông coi đó là Kinh Thánh.
- 2 Pr 3,15-16 đặt các thư thánh Phaolô ngang hàng với các sách Kinh Thánh. Rất có thể lúc đó các thư thánh Phaolô đã được kể vào thư mục Sách Thánh ? Và như vậy, ngoài Cựu Ước ra, Giáo Hội đã có một số các tác phẩm riêng, cũng mang tính cách linh thiêng như các sách Cựu Ước.
- Khải Huyền (1,1-3 ; 22,7.10.18-19) cho mình có nguồn gốc từ Thiên Chúa nên có thế giá như lời Thiên Chúa. Những lời đe dọa ai thêm bớt vào sách ấy có ý cho thấy sách này cũng có thế giá ngang với các tác phẩm của các ngôn sứ trong Cựu Ước.
- Theo Ga 20,30-31 tác giả sách Tin Mừng Ga (hoặc đồ đệ của ông) ý thức rằng lời mình viết ra có giá trị đem lại đức tin và ơn cứu độ.
 
II. TRONG TRUYỀN THỐNG GIÁO PHỤ
Giáo hội tin Cựu Ước và Tân Ước là các sách được Thiên Chúa linh hứng, nên có tính cách linh thánh. Niềm tin ấy đã khởi đi từ đầu truyền thống các Giáo phụ. Ởû đây ta chỉ nêu tóm tắt một vài vị làm điển hình :
- Các Giáo phụ cổ kính nhất (thế kỷ II) dùng những kiểu nói : “Sách Thánh”, “Kinh Thánh”... và gọi Kinh Thánh là “oracula Dei”. Các ngài bảo Kinh Thánh đã được Chúa Thánh Thần “đọc chính tả” ; Chúa Thánh Thần sử dụng các soạn giả thánh như là “những dụng cụ” (cây bút, cây đàn) trong tay Người (x. Didakhê 14,3 ; th. Clêmentê Roma, Justinô, Théophilô Antiôkhia, Irênê...).
- Các Giáo phụ thế kỷ III và IV coi Chúa Thánh Thần là “tác giả” Kinh Thánh và quả quyết rằng cả Cựu Ước lẫn Tân Ước đều đã được Người linh hứng. Thánh Augustinô coi đó là một tín thư từ trời. Thánh Giêrônimô cho rằng mọi văn sĩ thánh là dụng cụ của Thiên Chúa. Thánh Grêgôriô Cả đi xa hơn, quả quyết tác giả Sách Thánh là Chúa Thánh Thần, nhưng lại ít lưu ý đến tác giả loài người.
Tuy nhiên không phải các ngài hoàn toàn bỏ qua vai trò của soạn giả thánh. Truyền thống vẫn coi các soạn giả thánh cũng là tác giả của Sách Thánh : Thiên Chúa là tác giả chính, con người cũng chịu trách nhiệm về tư tưởng, thể văn, cách sắp đặt... Thánh Cyrillô Giêrusalem khen thánh Phaolô đặt câu hay, thánh Gioan viết diễn từ giỏi...
- Người ta còn nhiều lần gặp – dưới nhiều hình thức – những quả quyết của Giáo phụ về tính tuyệt đối không sai lầm của Kinh Thánh. Nhưng có hai điểm chính cần ghi nhớ trong cái nhìn của các Giáo phụ về Sách Thánh
1. Soạn giả thánh là dụng cụ của Thiên Chúa
Kinh Tin Kính công đồng Constantinople (381) nhấn mạnh đến vai trò của Chúa Thánh Thần : “Người đã dùng các ngôn sứ mà phán dạy”. Các Giáo phụ nói : chính Thiên Chúa nói ra và gợi lên, đã đọc cho các soạn giả viết những điều cần phải truyền lại cho ta. Các vị cũng ví các soạn giả như cây bút của Thiên Chúa, như cây đàn mà Chúa Thánh Thần là miếng phím gảy đàn. Những hình ảnh ấy đề cao vai trò chính yếu của Chúa Thánh Thần trong việc soạn Kinh Thánh, nhưng cũng có thể đưa đến quan niệm quá máy móc về ơn linh hứng và hạ giá vai trò của con người (gần như một dụng cụ vô tri vô giác). Ta sẽ nói về vấn đề này khi nói về bản chất của ơn linh hứng.
2. Thiên Chúa là tác giả Kinh Thánh
Kiểu nói “Thiên Chúa là tác giả của Sách Thánh” được dùng trước tiên trong cuộc tranh luận chống thuyết nhị nguyên của Manikê (thế kỷ III, cho rằng vũ trụ bị hai nguyên lý, một tốt, một xấu chi phối), để nhấn mạnh rằng Cựu Ước cũng như Tân Ước đều được Thiên Chúa linh hứng.
 
III. TRONG HUẤN QUYỀN CỦA GIÁO HỘI
Tiếp nối truyền thống Giáo phụ là một chuỗi những tuyên bố chính thức của Giáo Hội nhằm xác định, triển khai nội dung của truyền thống.
- Cho tới thế kỷ V, Giáo Hội vẫn dành nhiều nỗ lực để làm sao xác định nội dung và ý nghĩa của Lời Thiên Chúa trước những khó khăn do các lạc giáo nêu lên, đồng thời trả lời những lạc thuyết của Manikê và Marcion (thế kỷ II, phân biệt Tạo Hóa trong Cựu Ước với Thiên Chúa tốt lành trong Tân Ước). Giáo Hội nhấn mạnh duy mình Thiên Chúa là tác giả cả Cựu lẫn Tân Ước đồng thời thiết lập danh mục các tác phẩm được coi là Sách Thánh.
- Từ thế kỷ VI đến thế kỷ XIII, Giáo Hội không ngừng nhắc đi nhắc lại rằng sở dĩ các sách đó được gọi là Sách Thánh là vì có Thiên Chúa là tác giả.
- Công đồng Florence (1441) viết : “Giáo Hội tuyên xưng rằng, cũng một Thiên Chúa duy nhất là tác giả của Cựu ước và Tân Ước... vì các thánh của Cựu Ước và Tân Ước đã nói ra do ơn của cũng một Thánh Thần linh hứng” (EB 47 ; Dz 1334).
- Công đồng Trentô (1546) và Vaticanô I đã nhắc lại giáo huấn trên. Nhưng Vaticanô I chỉ xác định cách tiêu cực về ơn linh hứng, nghĩa là chỉ tuyên bố linh hứng không phải là thế này, không phải là thế kia...chứ không nói là thế nào.
- Đến thông điệp Providentissimus Deus của Đức giáo hoàng Lêô XIII (18.11.1893) mới có một định nghĩa tích cực về ơn linh hứng. Sau đó các thông điệp Spiritus Paraclitus của Đức giáo hoàng Bênêđictô XV và Divino afflante Spiritu của Đức giáo hoàng Piô XII triển khai thêm một số khía cạnh.
- Sau cùng là Hiến chế Dei Verbum của Công đồng Vaticanô II. Trong chương III, số 11 có nói đến sự kiện Kinh Thánh được Chúa Thánh Thần linh hứng và, do đó, có thế giá của Thiên Chúa. Hiến chế cũng nhắc rằng Kinh Thánh chứa đựng “thực tại được Thiên Chúa linh hứng” (Divinitus revelata, quae in Sacra Scriptura litteris continentur et prostant, Spirito Sancto afflante consignata sunt) và đề cao tự do của con người được Thiên Chúa chọn làm dụng cụ soạn thảo Sách Thánh (In sacris vero libris conficiendis Deus homines elegit, quos facultatibus ac viribus suis utentes adhibuit).
 
IV. TRONG TỔ CHỨC PHỤNG VỤ CỦA GIÁO HỘI
Giữa việc tôn kính Sách Thánh và mầu nhiệm Thánh Thể xem chừng không có khác biệt. Cần có tư tưởng về “hai cuộc Nhập Thể” để thấy rằng Kinh Thánh và Thánh Thể là hai dạng thức biểu lộ sự hiện diện của Chúa Kitô. Người Kitô hữu lo tìm Thánh Thể làm lương thực nuôi dưỡng linh hồn thế nào, thì cũng ân cần tìm lương thực cho tâm hồn nơi Sách Thánh thế ấy.
Lời Thiên Chúa và Bí Tích là hai hình thức cử hành việc phụng tự. Vì đó có thể đọc Kinh Thánh thay vì cử hành Thánh Thể khi, vì một vài lý do nào đó, không thể cử hành Thánh Thể được.
Thái độ cung kính đối với Sách Thánh khi cử hành phụng vụ nói lên niềm xác tín Sách Thánh là Lời Thiên Chúa (lex orandi lex credendi). Người ta long trọng rước cuốn sách lên bàn thờ, tung hô trước và sau khi đọc Tin Mừng, xông hương sách Tin Mừng, hôn kính sách Tin Mừng…. Tất cả cho thấy thái độ cung kính trước sự hiện diện của Thiên Chúa làm người, hiện diện qua Lời của Người.
Trong các Công đồng, sách Tin Mừng luôn được dành cho một địa vị danh dự. Truyền thống đó bắt đầu từ Công đồng Êphêxô (431) và vẫn còn được duy trì cho tới Công đồng Vaticanô II.
(Còn nữa)
Giuse Nguyễn Tất Trung, OP
 

Lectio divina và sự thân mật vợ chồng

Lectio divina và sự thân mật vợ chồng

Vũ Văn An
Tập san America số ngày 9 tháng Ba năm nay có một bài của cặp vợ chồng Patrick J. McDonald and Claudette McDonald (1) viết về tác động của phương thức cầu nguyện bằng thánh kinh mà ta quen gọi là lectio divina đối với cuộc sống thân mật vợ chồng.
 
Cặp vợ chồng này cho hay họ rất may mắn có được một cuộc sống phu phụ tốt đẹp, đem lại cho họ nhiều phúc lộc. Và dù đã trải qua 34 năm chung sống, cuộc sống phu phụ ấy vẫn tiếp tục chín mùi, tăng trưởng. Nghiệm ra, họ thấy tuy cuộc sống phu phụ ấy có phong thái, tập chú và tầm nhìn hiện đại, nhưng các chiều kích sâu sắc hơn của nó lại được thúc đẩy bởi một thực hành rất xưa, đó là phương thức cầu nguyện bằng thánh kinh lectio divina.
 
Cặp vợ chồng này cũng là những nhà chuyên nghiệp trị liệu hôn nhân, chuyên giúp đỡ các cặp vợ chồng khác tìm kiếm một cuộc sống hôn nhân lành mạnh hơn. Nên họ không ngần ngại hướng dẫn các cặp vợ chồng này để họ hiểu biết các phúc lộc của phương pháp cầu nguyện hết sức đặc biệt này, được họ coi như một nền linh đạo chắc chắn không những đem lại một tình yêu tươi mới đối với Thiên Chúa mà còn thâm hậu hóa được cuộc sống thân mật của vợ chồng. Đôi khi họ có cảm giác như đang lạc điệu thời gian khi dính cứng vào lối cầu nguyện xưa cũ này. Tuy nhiên, sự chú tâm của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới gần đây về Lời Chúa khiến họ mạnh dạn hơn trong việc cổ vũ áp dụng phương thức cầu nguyện này vào cuộc sống phu phụ.
 
Lectio divina là cách gặp gỡ Chúa qua việc đọc Thánh Kinh cách to tiếng, cung kính và có suy nghĩ. Một cách đặc trưng, các đoạn Thánh Kinh này thường ngắn thôi; người đọc dừng lại sau khi đã đọc xong đoạn ấy, để người nghe thấm nhập từ từ tinh thần và nội dung Lời Chúa. Bài đọc này có thể được lặp đi lặp lại nhiều lần theo ý nguyện của người nghe, sau đó, các tham dự viên được mời gọi chia sẻ các phản ứng của mình. Có khi từ đó phát sinh ra lời cầu nguyện, có khi không.
 
Như thế, Lectio diễn tiến như cách suy niệm Lời Chúa và những gì Lời ấy cung hiến cho người nghe. Mọi trao đổi sẽ lên xuống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, trong khi người nghe nhận được những thông tuệ đầy ngạc nhiên cũng như những trực giác mạnh mẽ về địa vị của Chúa trong việc khai triển cuộc sống bản thân của họ.
 
 
Khía cạnh nhân bản của hôn nhân
 
Vốn là sản phẩm của nhu cầu nhân bản muốn được thuộc về, nên mọi cuộc hôn nhân đều chịu ảnh hưởng nặng nề bởi rất nhiều động lực nhân bản, cụ thể là hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố dục, cái thất tình nhân bản chi phối cuộc sống của đôi vợ chồng. Bởi thế, cuộc sống phu phụ đầy rẫy những cơ hội cho mọi dằng kéo rối rắm về xúc cảm cũng như hiểu lầm sâu xa. Cuộc sống nhàm chán hàng ngày, những căng thẳng liên tục mà hai vợ chồng luôn luôn gặp phải, những cố gắng thăng trầm trong việc tìm ra ý nghĩa cho tình nghĩa vợ chồng, tất cả những điều ấy buộc họ phải luôn canh tân, đổi mới.
 
Nhiều cặp vợ chồng đến thổ lộ với ông bà McDonald rằng họ cảm thấy họ bị khía cạnh nhân bản của hôn nhân trói tay, nên họ muốn đi tìm một cách thế nào đó để vượt lên trên các lầm lỗi và giới hạn của bản thân mình. Phương thức Lectio chính là phương thế giúp họ tìm ra cơ sở sâu xa hơn cho tình yêu, một cơ sở chắc chắn sẽ thăng tiến và hỗ trợ các cố gắng của họ trong việc phát triển cuộc sống thân mật vợ chồng đúng nghĩa của họ. Lời Chúa thúc đẩy họ phá vỡ các trói buộc chật hẹp trong tác phong phu phụ và mở ra một tầm nhìn mới mẻ đối với tương lai của cuộc sống thân mật ấy.
 
Lectio divina giúp họ ý thức rằng hôn nhân là một thực tại lớn hơn chính hai người phối ngẫu. Thiên Chúa trở thành nền tảng sâu xa của mọi hành động qua lại giữa họ với nhau. Nhờ đọc, lắng nghe, đối thoại và cầu nguyện, sự hiện diện của Thiên Chúa trở nên mỗi lúc mỗi hiện thực hơn. Cũng thế, hai vợ chồng cũng sẽ trở nên chân thực với nhau hơn vì Thiên Chúa mời gọi họ phải đặt mình trên cơ sở các sự thật thánh. Lòng kính trọng nhau cũng sâu sắc thêm, và với thời gian, một tình thân mật tươi mới cũng sẽ bắt đầu lộ diện. Một nền linh đạo chung cũng sẽ được khai triển. Vợ chồng sẽ tìm lại được một cảm thức mới về toàn diện tính của người kia và sẽ bớt không còn chú mục tới những vấn đề liên bản ngã vốn khiến họ mè nheo nhau. Việc thực hành lectio divina lại không đòi nhiều qui luật khó khăn. Ở đây, ông bà McDonald trình bày những điều ông bà cho là hữu dụng đối với ông bà và đề nghị ra một số bước đơn giản cho những ai muốn thực hành phương pháp cầu nguyện này.
 
 
Bốn bước
 
Tìm một chỗ thinh lặng. Vì chỗ thinh lặng là điều chủ yếu đối với bất cứ hình thức suy niệm nghiêm chỉnh nào, nên các cặp vợ chồng nên khởi sự bằng cách tạo ra một chỗ như thế cho riêng mình. Hãy tránh xa nơi có điện thoại. Tìm một lúc các con đang nghỉ ngơi hoặc thinh lặng. Tắt máy truyền hình hay máy truyền thanh đi. Sáng sớm là lúc thuận tiện nhất, trước khi các nhu cầu của cuộc sống hàng ngày khiến mình tất bật. Thường nên thu mình vào một góc trên lầu hay tại phòng gia đình, nơi có ánh sáng ban mai nhắc ta nhớ đây là lúc bắt đầu một ngày mới để ta tự ý thức mình là ai và Chúa đứng ở đâu trong cuộc sống mình.
 
Thở đều trước mặt Chúa. Một khung cảnh tương xứng về vật lý cần cho việc tạo thanh thản bên trong thế nào, thì ít phút thở chậm cũng tạo ra sự thanh thản ấy như vậy. Tâm trí ta bắt đầu tinh trong khi cơ thể lắng đọng từ từ và hơi thở lúc đó sẽ đưa ta trở vào với cõi thánh thiêng trong nội tâm. Bạn có thể hình dung mình thở đều trước mặt Chúa khi đang tiếp tục lắng đọng và dọn mình để Chúa đến viếng thăm. Khi đã cảm thấy cái bồn chồn lăng xăng của cuộc sống hàng ngày êm hẳn, mỗi người chúng ta sẽ kính mời Thần Trí Thiên Chúa đến ở với chúng ta trong 20 phút sắp tới. Và đấy là lúc để ta lắng nghe Lời Chúa.
 
Tập chú vào một đoạn Thánh Kinh ngắn. Vợ chồng hãy chọn một đoạn Sách Thánh ngắn và lần lượt đọc cho nhau nghe, một cách chậm rãi và tôn kính. Bước kế tiếp là mở lòng mình đón nhận sức mạnh của Lời Chúa. Ta lắng nghe trong khi Chúa dạy dỗ. Lời Chúa làm thông sáng đầu óc ta và mở rộng tâm hồn ta. Các cảm nghiệm của ta có thể diễn biến từ say sưa qua tỉnh táo, đôi lúc có thể buồn tẻ và ngay cả nhàm chán nữa. Tuy thế, Thần Trí Thiên Chúa không khi nào lại không đánh động ta cách này hay cách khác.
 
Có thể lấy một đoạn trong phúc âm Gioan làm điển hình. Vợ hoặc chồng có hể đọc to: “Nếu các con yêu Ta, thì các con sẽ giữ lời Ta và Cha Ta sẽ yêu các con và Chúng Ta sẽ đến với các con và cư ngụ trong các con” (Ga 14:23). Khi ta để lòng mình lắng xuống và lắng nghe lời Chúa hứa đến cư ngụ trong ta, sự thinh lặng sẽ làm các ý nghĩ và xúc cảm của ta sống dậy. Các hoài niệm của ta cũng sẽ trở nên sống động, cả hai vợ chồng cùng được nuôi dưỡng bằng những hoài niệm về lòng trung thành bền bỉ của Chúa đối với cuộc đồng hành dài lâu của mình.
 
Vợ chồng cũng sẽ hiểu ra rằng việc Thiên Chúa cư ngụ trong ta được cảm nghiệm nhiều cách khác nhau, vượt quá cả dự ứng của mình: trong những lúc khó khăn, khi mình không hiểu nhau, hay khi đang đi tìm một cơ sở sâu sắc hơn sau một biến cố đau lòng.
 
Đôi khi thay đổi nhau để cùng đọc đoạn văn đó. Các dị biệt trong giọng nói và ngắt quãng đôi khi làm sống dậy một ý thức nào đó trong mỗi người chúng ta; rồi ta lại để lòng mình lắng đọng một lần nữa. Ta có thể không hiểu hết các hệ lụy của việc đọc này, nhưng ta biết chắc ta đang được biến đổi cách nào đó trong thẩm sâu linh hồn, ở một bình diện nơi Thần Trí Thiên Chúa đang làm việc. Mà nếu một trong chúng ta đã thay đổi cách này hay cách khác, dù rất nhỏ nhoi, thì cuộc hôn nhân của chúng ta cũng sẽ thay đổi theo. Ta hiểu ra rằng việc Thiên Chúa làm cho ta bao giờ cũng tế vi và êm đềm, và do đó cách ta đối xử với nhau cũng sẽ phản ánh cùng một sự tế vi và êm đềm ấy.
 
Không sợ chia sẻ. Chia sẻ các tâm tư tình cảm chân thực có thể tạo ra lo âu bất ổn. Nói về các cảm nghiệm ở tầng sâu bao giờ cũng khiến vợ chồng trở nên dễ bị thương tổn hơn, và ai cũng thấy ngại ngùng về điều ấy. Tuy nhiên, trong những giây phút cứu độ này, vợ chồng phải cố gắng làm sao để chia sẻ với nhau một cách càng trung thực bao nhiêu càng tốt. Chúa luôn hiện diện ở đấy để nâng đỡ và hướng dẫn họ. Cầu nguyện từ trong tim có lẽ là điều dễ cho thấy điểm yếu hơn cả cho nên ngần ngại không muốn chia sẻ bình diện ấy là điều dễ hiểu. Cặp vợ chồng mà ông bà McDonald từng giúp đỡ đã cho ông bà hay: sự trung thực trong bình diện này quả đã khơi dậy cả một diễn trình học hỏi và trưởng thành liên tục. Họ nhanh chóng khám phá ra điều được ông bà McDonald mô tả là hình thức tối hậu của tình thân mật phu phụ: hồn với hồn.
 
Cuối cùng, lectio divina đem lại cho ta chính điều thuật ngữ này bao hàm: một cảm nghiệm học hỏi sâu xa, một bài học. Với thời gian, vợ chồng sẽ học được cách thở, cách sống và cách cư xử qua lại với nhau với ý thức rằng: Thiên Chúa thực sự là cơ sở dấu kín cho tình yêu của họ. Phong thái cư xử với nhau và cách thế họ chăm sóc lẫn nhau sẽ phản ánh mọi yếu tố của một tình yêu vô điều kiện: tha thứ, cơi mở, ân cần, nhậy cảm, kiên trì và mềm dẻo.
 
Sau buổi cầu nguyện buổi sáng, vợ chồng sẽ trở nên cởi mở để tiếp cận nhau một cách khác hẳn: kính trọng và tốt với nhau hơn nhiều. Họ có quyết tâm sẽ sống với nhau cách kiên nhẫn hơn, vì biết rõ Thiên Chúa luôn kiên nhẫn với họ. Suốt những giây phút còn lại trong ngày, qua nhiều cư xử muôn hình muôn dạng với nhau, vợ chồng luôn được nhắc nhớ tới tính thánh thiêng của hôn nhân. Sự nhắc nhớ ấy hiển nhiên là công việc của Thần Trí Thiên Chúa đang cư ngụ trong ta. Lòng tôn kính sẽ bắt đầu thắng lướt sự chỉ trích; sự an bình sẽ bắt đầu thắng thế bồn chồn bất an. Kiên nhẫn sẽ mỗi ngày một nhất quán hơn.
 
Nhiều cặp vợ chồng từng được ông bà McDonald chỉ dẫn cho hay lectio divina giúp họ khám phá ra căn bản mới cho tình thân mật của họ. Họ không còn thấy mình hoàn toàn chỉ biết dựa vào tài nguyên của mình nữa; trái lại, nay họ đã biết làm việc với Chúa để cổ vũ một óc sáng tạo mới cho cuộc sống chung của họ. Đôi khi, thực hành lectio này quá đơn giản đối với họ. Tuy nhiên, khi ta chịu để Thiên Chúa làm cơ sở dấu kín cho tình yêu của ta, thì cuộc hôn nhân của ta nhất định sẽ trở nên tỉnh táo đối với mọi thách đố và thành tựu của mối tình kia.
 
_______________________________________________________________________
(1) Patrick J. McDonald và Claudette McDonald là hai nhà trị liệu hôn nhân và gia đình, tại Des Moines, Iowa, và là hai tác giả cuốn “Marital Spirituality: The Search for the Hidden Ground of Love (Paulist Press) (Linh Đạo Hôn Nhân: Đi Tìm Cơ Sở Dấu Kín Của Tình Yêu). 

Nguồn: 
 VietCatholic News (27 Apr 2009 08:04)

Các mối tương quan và các giá trị của gia đình theo Thánh Kinh

Các mối tương quan và các giá trị của gia đình theo Thánh Kinh

Lm. Raniero Cantalamessa
Người chuyển dịch: 
 Đức Ông Linh Tiến Khải
Bài nói chuyện của tôi chia làm 3 phần. Trong phần thứ nhất, tôi sẽ xin minh hoạ kế hoạch khởi thủy của Thiên Chúa trên Hôn Nhân và Gia Đình và cách thức mà kế hoạch nầy được thực hiện trong lịch sử dân Israel. Trong phần thứ hai, tôi sẽ xin nói về việc tóm tắt do Chúa Kitô thực hiện và về cách thức việc nầy đươc giải thích và được sống trong lòng cộng đồng Kitô giáo Tân Ước. Trong phần thứ ba, tôi sẽ cố gắng xem xét những gì mạc khải Kinh Thánh có thể mang lại giải đáp cho những vấn đề hiện nay về Hôn Nhân và Gia Đình.
 
 
PHẦN THỨ NHẤT
 
HÔN NHÂN và GIA ĐÌNH :
KẾ HOẠCH CỦA THIÊN CHÚA VÀ NHỮNG ĐIỀU CON NGƯỜI THỰC HIỆN
TRONG CỰU ƯỚC
1. KẾ HOẠCH CỦA THIÊN CHÚA
Người ta biết rằng Sách Sáng Thế Ký chứa đựng hai trình thuật cuộc Tạo dựng câp con người đầu tiên,trở ngược về hai truyền thống khác niệt nhau : Truyền thống Ya-vê (thê kỷ 10 trước CN) và truyền thống gần đây hơn (thế kỷ 6 trước CN).
Trong truyền thống tư tế (St 1,26 – 28), ngừơi nam và người nữ được dựng nên cùng một lúc, chứ không phải kẻ trước người sau ; một tương quan được nảy sinh giữa « là người nam và người nữ » và « là hình ảnh của Thiên Chúa » : « Thiên Chúa đã dựng nên con người theo hình ảnh Người ; giống hình ảnh Thiên Chúa,Người dựng nên con người ; người nam và người nữ,Người dựng nên họ ». Ở đây tính cứu ácnh đầu tiên của sự kết hợp giữa người nam và người nữ là sinh sôi nẩy nở và tràn đầy mắt đất.
Trong truyền thống Ya-vê (St 2, 18 – 25), người nữ được rút ra từ người nam ; việc dựng nên hai giới tính được xem như một phương thuốc cho sự cô đơn (« người nam ở một mình thì không tốt . Ta phải làm cho nó một trợ thủ xứng hợp với nó »). Dấn nhấn trước tiên không được đặt trên nhân tố sinh đẻ,nhưg là trên nhân tố kết hợp (« Người nam gắn bó với vợ mình và họ trở nên một xương thịt »). Mỗi người vó tự do trước giới tínch của roêng mình và giới tính của người khia : »Cả hai đều trần truồng, người đàn ông và vợ mình, và họ không thấy mắc cở trước mặt nhau ».
Không có nơi nào trong hai văn bản làm ta iên tưởng đến sự lệ thuộc của người nữ vào người nam, trước khi phạm tội : cả hai người đều trên bình diện bình đẳng với nhau, ngang hàng với nhau tuyệt đối, cho dù theo như trong truyền thống Ya-vê, khởi đầu từ người nam.
Cách giải th1ich thuyêt phục nhấtvề lý do tại sao của việc Thiên Chúa « can thiệp » phân biệt thành hai giới tính nầy, tôi đã tìm thấy được không phải nơi một nhà chú giải,mà là nơi một nhà thơ,Paul Claudel :
« Kẻ kiêu căng nầy : không có cách gì khác làm cho nó hiểu được người lân cận, làm cho nó vào sâu trong da thịt. Không còn cách nào khác làm cho nó hiểu sự phụ thuộc vào nhau, sự cần thiết và nhu cầu, một người khác trên nó, luật lệ trên nó của hữu thế khác biệt ấy chẳng vì lý do nào khác ngoài lý do nó hiện hữu »(P.Claudel, Le soulier de satin, a. III. sc.8 (éd. La Pléiade, II, Parigi 1956, p. 804)
« Mở ra cho phái tính khác là bước đầu để mở ra cho người khác, tức là người lân cận, cho đến Người Khác viết hoa,tức là Thiên Chúa. Hôn nhân ra đời dưới dấu hiệu khiêm nhường. Nó là sự thừa nhận sự lệ thuộc của nó và do đó, sự lệ thuộc của thân phận ạto vật của nó. Yêu một người nữ hoặc một người nam tượng trưng cho hành vi khiêm tốn căn bản nhất. Đó là làm cho mình nên người ăn xin và nói với người kia : « Anh/em không còn đủ cho chính mình nữa. Anh/em cần đến em/anh, cần đến hữu thể của em/anh ». Theo như Schleimacher suy nghĩ, nếu bản chất của tôn giáo trong « cảm giác lệ thuộc » (Abhaengigheisgefuehl) ở trước mặt Chúa, thì giới tính con người là trường học tôn giáo đầu tiên.
Cho tới nay là kế hoạch của Thiên Chúa. Nhưng người ta không thể giải thich đựơc đoạn tiếp của Kinh Thánh nếu như cùng lúc với trình thuât cuộc tạo dựng, chúng ta không để ý tới sự sa ngã, nhất là những gì đã đựơc nói về người nữ : “Ta sẽ nhân lên những đau đớn khi ngươi mang thai và ngươi sẽ sinh con trai trong đau đớn . Lòng tham của ngươi sẽ đẩy ngươi về phía chồng người và nó sẽ thống trị ngươi » (St 3,16). Ưu thế của người nam trên người nữ là môt phần của tội lỗi con người, không phải trong kế hoạch của Thiên Chúa. Thiên Chua loan báo điều nầy với những lời ấy.Người không chuẩn y điều đó.
 
2. NHỮNG ĐIỀU CON NGƯỜI THỰC HIỆN
Kinh Thánh là một cuốn sách của Thiên Chúa và con người, bởi vì tác giả của nó là Thiên Chúa và con người, nhưng cũng vì nó mô tả, hoà trộn vào nhau, sự trung thành của Thiên Chúa và sự bất trung của con người ; không chỉ qua chủ thể nó tả lại,mà còn qua đối tượng của Sách Thánh. Điều đó đặc biệt đập vào mắt khi người ta so sánh kế hoạch của Thiên Chúa về Hôn Nhân và Gia Đình với việc áp dụng cụ thể trong lịch sử dân riêng.
Tưởng cũng nên nêu lên những điểu ngu đần ngớ ngẫn và những lầm lạc của con người để khỏi phải quá ngạc nhiên bởi những gì đang xảy ra chung quanh chúng ta ; và cũng bởi vì đó là chứng cứ cho thấy hôn nhân và gia đình là những cơ chế, ít ra là trong thực hành, tiến hoá theo thời gian như tất cả mọi khía cạnh khác của đời sống xã hội và tôn giáo. Vẫn ở trong Sách Sáng Thế, ta đã thấy Lamech,con của Cain vi phạm chế độ một vợ một chồng khi lấy hai vợ. Ông Noê cùng với gia đình dường như là một ngoại lệ giữa sự thối nát chung ở thời đại ông sống. Chính các tổ phụ Abraham và Giacóp cũng có những con cái từ nhiều bà vợ. Môsê cho phép thực hành ly dị. David va Salomon có cả một hậu cung hùng hậu.
Nhưng người ta quan sát những lệch lạc nầy, như vẫn thường làmn như thế, ở chóp đỉnh xã hội giữa các thủ lãnh, hơn là ở cấp độ bình dân, mà với họ ý tưởng hôn nhân một vợ một chồng nguên thủy phải thành luật, không có ngoại lệ. Các Sách Khôn Ngoan – Thánh Vịnh, Châm Ngôn, Siracide (Giáo Sĩ) – hơn là các sách lịch sử (đề cập đến các thủ lãnh) cho phép chúng ta có được hình ảnh về những quan hệ và giá trị gia đình được cân nhắc suy xét và được sống ở Israel. : trung thành trong hôn nhân; giáo dục con cái; tôn kính cha mẹ. Giá trị cuối cùng nầy cấu thành một trong mười giới răn:” hãy thảo kính cha mẹ”.
Còn hơn là những vựơt rào vi phạm cụ thể ở mức độ cá thể, sự rời xa lý tưởng nguyên thủy hiện rõ trong khái niệm căn bản mà người ta có về hôn nhân ở Israel. Việc làm cho hoá ra tối tăm chính liên quan tới hai điểm chủ yếu : Điểm thứ nhất là hôn nhân, từ cứu cánh,trở thành phương tiện. Cựu Ước,trong tổng thể của nó, coi hôn nhân như “một cấu trúc quyền bính theo kiểu gia trưởng,chủ yếu để làm cho bộ tộc tồn tại mãi. Chính trong ý nghĩa nầy mà ta phảu hiểu việc thành lập tộc Lêvi (Đnl 25, 5 -10), lập ra việc lấy vợ lẽ (St 16) và chế độ đa thê tạm thời. Lý tưởng một sự hiệp thông đời sống giữa người nam và người nữ, đặt nền tảng trên tương quan ác nhân và lẫn nhau không bị bỏ quên,nhưng bị đặt xuống hàng thứ yếu sau lợi ích của con cái.
Việc làm cho hoá ra tối tăm thứ hai và sâu xa được nối kết với thân phận người phụ nữ: từ người bạn đời của ngươi đàn ông, được phú cho một phẩm giá bình đẳng, người phụ nữ ngày càng tỏ ra lệ thuộc đàn ông và theo ý đàn ông. Người ta có thể nhìn thấy điều đó tận trong lời ca tụng người phụ nữ trong Sach Châm Ngôn: “Tìm đâu được người đàn bà…Nàng qúy hơn châu ngọc…” (Cn 31,10 tt). Lời ca tụng nầy hoàn toàn là theo ý người đàn ông. Kết luận là : phúc thay ngừơi đàn ông nào có được một người vợ như thế! Nàng dệt cho ông những y phục đẹp đẽ, làm cho nhà cửa của ông danh giá, làm ông nở mặt nở mày với bạn bè. Tôi không tin rằng các phụ nữ ngày nay sẽ phấn khởi vì lòi ca tụng nầy.
Các tiên tri, đặc biệt là tiên tri Ôsê,Isaia và Giêrêmia, đã đóng một vai trò quan trọng khi đem ra lại ánh sáng kế hoạch nguyên thủy của Thiên Chúa về hôn nhân. Với việc nhìn nhận trong sự kết hợp của người nam và người nữ sự tượng trưng cho giao ước giữa Thiên Chúa và Dân Người, một cách gián tiếp các tiên tri nầy đặt lại ở vị trí hàng đầu những giá trị của tình yêu lẫn nhau,của sự trung thành và sự không thể chia lìa vốn là đặc trưng thái độ của Thiên Chúa đối với Israel. Tất cả các giai đoạn và những sự thăng trầm của tình yêu vợ chồng được gợi lên và được sử dụng trong mục đích nầy : sự say đắm của tình yêu thời kỳ chớm nở trong đính hôn (Gr 2,2); niềm vui tròn đầy ngày tiệc vui thành hôn (Is 72,5); bi kịch đổ vỡ (Is 2,4 tt) và cuối cùng sự tái sinh đầy tràn hy vọng của tình xưa nghĩa cũ (Os 2,16;Is 54,8).
Tiên tri Malakia chỉ cho thấy nhữngẩanh hưởng có lợi mà thông điệp tiên tri có thể đem đến cho hôn nhân con người và nhất là cho thân phận người phụ nữ. Thông điệp viết :” Đức Chúa là chứng nhân giữa anh và người nữ thời trai trẻ của anh, mà anh đã phản bội,mặc dầu nàng đã là bạn trăm năm của anh và là người phụ nữ giao ước của anh. Chẳng phải đã là một hữu thể duy nhất,có xương thịt và hơi thở sự sống? Và hữu thể duy nhất nầy, nó kiếm tìm điều gì? Một hậu duệ mà Thiên Chúa ban cho! Hãy tôn trọng đối với cuộc đời anh và ngừơi vợ thời trai trẻ của anh, chớ phản bội nàng!”(Mk 2,14 – 15)
Chính dưới ánh sáng của truyền thống tiên tri nầy mà thích hợp cho vệic đọc Sách Nhã Ca. Nó tượng trưng cho sự tái sinh nhãn quan hôn nhân như là sự hấp dẫn lẫn nhau, như eros, như niềm say mê của người nam trước người nữ ( trong trường hợp nầy,, cũng là niềm say mê của người nữ trước người nam);một nhãn quan hiện diện trong trình thuật cũ xưa nhất cuộc tạo dựng.
Mặt khác, một khoa chú giải hiện đại nào đó sẽ lầm lẫn khi giải th1ich Nhã Ca chỉ bằng những từ ngữ nói về tình yêu nhân loại giữa một người nam là một người nữ. Tác giả Sách Nhã Ca tự đặt mình ở tâm lịch sử tôn giáo của dân ông, nơi tình yêu con người đã được các tiên tri coi như là một ẩn dụ cua giao ước giữa Thiên Chúa và dân tộc Người. Tiên tri Osê đã biến câu chuyện hôn nhân của chính mình thành một ẩn dụ các quan hệ giữa Thiên Chúa và Israel. Làm sao tưởng tượng được rằng tác giả Sách Nhã Ca lại có thể bỏ tất cả những điều đó đi đươc chứ? Đọc sách Nhã Ca huyền bí, vốn rất được truyền thống của Israel và Giáo Hội yêu thích, do vậy không phải là một cấu trúc thượng tầng đến sau, mà một cách nào đó đã mặc nhiên có trong sách. Thay vì rút đi bất cứ điều gì trong sự tán dương tình yêu con người, sách còn phong ban cho tình yêu con người một nét huy hoàng và nét đẹp mới mẻ.
 
 
 
PHẦN THỨ HAI
 
HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG TÂN-ƯỚC
 
1. TÓM TẮT HÔN NHÂN TRONG CHÚA KITÔ
Thánh Irênê giảo thích “sự tóm tắt mọi sự nầy - anakephalaiosis” được thực hiện trong Chúa Kitô (Ep 1,10) như là một “lấy lại mọi sự từ đầu để dẫn chúng tới sự thành toàn của chúng”. Khái niệm nầy bao hàm đồng thời một tính liên tục và một tính mới lạ khi có liên quan đến hôn nhân, được thực hiện một cách gương mẫu trong công trình của Chúa Kitô.
1.1 Tính liên tục
 
Chương 19 Phúc Âm theo Thánh Matthêu tự nó cũng đã đủ để minh hoạ hai khía cạnh của viêc tóm tắt nầy. Trước hết chúng ta hãy xem Chúa Giêsu lấy lại mọi sự từ khởi đầu như thế nào.
“Những người Biệt phái đến gần Người và hỏi Người để thử thách Người : “Có được phép rẩy vợ mình vì bất kỳ lý do gì chăng?” .Người đáp :”Các ông đã không đọc thấy rằng Đấng Tạo Hoá,ngay từ khởi thủy, đã dựng nên họ người nam và người nữ [St 1,27] và Chúa nói với họ : Vì thế người nam sẽ bỏ cha mẹ mình để gắn bó với vợ mình và cả hai chỉ còn là một xác thịt duy nhất,sao? [ St 2,24]. Ví vậy họ không còn là hai, nhưng là một huyết nhục mà thôi. Vậy thì! Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, con người không được tách nó ra” (Mt 19, 3 – 6).
Chúa Giêsu trả lời cho các đối thủ vốn chỉ biết suy luận trong lãnh vực bị bó hẹp của một khoa ngụy biện thuộc trường phái (quanh quẩn ở việc có được phép rẩy vợ mình vì bất cứ lý do gì hay là vần phải có một lý do rõ ràng và nghiêm túc) bằng việc lấy lại vấn đề ở gốc rễ, từ khởi đầu. Trong các trích dẫn của Người, Chúa Giêsu tham chiếu hai trình thuật về việc thiết lập hôn nhân, lấy các yếu tố của cả trình thuật nầy lẫn trình thuật khi và khởi từ đó, như chúng ta đã thấy, Người đưa ra ánh sáng khía cạnh hiệp thông những con người.
Bản văn tiếp theo, về vấn đề ly dị, cũng đi theo chiều hướng nầy. Chúa Giêsu tái khẳng định sự trung thành và sự không thể phân ly của mối dây liên kết hôn nhân, vượt qua cả thiện ích của lời mà qua đó chế độ đa thê và ly dị đã được biện minh trong quá khứ.
Những người Biệt-phái bắt bẻ Người :”Tại sao Ông Môsê đã truyền dạy cấp giấy ly dị mà rẫy vợ - Người bảo họ :”Vì các ông lòng chai dạ đá,nên ông Môsê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu không phải như vậy. Tôi nói cho các ông biết : ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ mình mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình” (Mt 19, 7 – 9).
Bản văn song song của Mác-cô cho thấy làm sao, theo Chúa Giêsu, trong trưìơng hợp ly dị, người nam và người nữ được đặt trên một bình diện bình đẳng tuyệt đối :” Ai rẫy vợ mình và cưới một phụ nữ khác làm vợ, thì phạm tội ngoại tình với vợ mình; va nếu một người vợ ly dị chồng mình và lấy một người khác làm chồng, thì người nữ đó phạm một tội ngoại tình”.
Tôi không ngừng lại ở câu “ngoại trừ khi phạm tội ngoại tình” (porneia)bởi vì như mỗi người đều biết, các Giáo Hội Chính Thống và Tin Lành giải thích câu nầy một cách khác biệt với Gíao Hội Công giáo. Đúng ra phải nhấn mạnh “nền tảng bí tích mặc nhiên của hôn nhân” đựôc trình bày trong câu trả lời của Chúa Giêsu. Những lời “điều gì Thiên Chúa đã kết hợp” khẳng định rằng hôn nhân không phải à một thực tại đơn thuần thế tục chỉ do kết quả ý muốn của con người. Ở đây có một chiều kích linh thánh đi lên tận đến Thánh ý Chúa.
Việc nâng hôn nhân lên hàng “ bí tích’ do vậy không dựa trên lý lễ yếu ớt về sự hiện diện của Chúa Giêsu tại tiệc cưới Cana và trên đoạn 5 thư gửi tín hữu Êphêsô. Một cách nào đó nó bắt đầu với Chúa Giêsu ở dưới đất. Đức giáo hàong Gioan-Phaolô II có lý khi Người định nghĩa hôn nhân “là bí tích cũ xưa nhất”.
 
1.2 Nét mới mẻ.
Cho tới nay, chúng ta đã gợi lên tính liên tục. Nhưng tính mới lạ thì gồm những gì vậy? Một cách nghịch lý, sự mới lạ hệ tại ở sự tương đối hoá hôn nhân. Hãy cùng nghe bản văn của Thánh Mat-thêu sau đây:
“Các môn đệ nói với Người : “Nếu làm chồng mà phải như thế đối với vợ,thì thà đừng lấy vợ còn hơn”. Người nói với họ :”Không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy,nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu,mới hiểu được. Quả vậy,có những người không kết hôn vì từ khi lọt lòng mẹ họ đã không có khả năng; có những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn;lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu” (Mt 19, 10 12).
Qua những lời nầy,Chúa Giêsu thiết lập một trạng thái cuộc sống thứ hai,biện minh cho nó bằng việc Nươc Trời đến trên trần gian. Điều nầy không thủ tiêu khả năng kia,- hôn nhân- nhưng tương đối hoá nó.. Điều nầy xảy ra giống như ý tưởng quốc gia trong lãnh vực chính trị : nó không bị bải bỏ,nhưng được tương đối hoá một cách căn bản trong việc mạc khải sự hiện diện cùng thời,trong lịch sử, của một vương quốc Thiên Chúa.
Để được công nhận có giá trị, sự tiết dục tự nguyện do vậy không cần người ta phải phủ nhận hoặc coi thường hôn nhân (một số tác giả xưa,trong các bài viết về đức trinh khiết, đã rơi vào sai lầm nầy). Đức trinh khiết,trái lại, chỉ có ý nghĩa nhờ sự khẳng định đồng thời của sự thiện hảo hôn nhân. Việc thiết lập luật độc thân và đức trinh khiết vì Nước Trời làm tăng giá trị hôn nhân,vì nó làm cho hôn nhân trở thành một chọn lựa,một ơn gọi chứ không còn chỉ là một nghĩa vụ đạo đức luân lý, mà ở [xã hội] Israel không ai được miễn trừ mà lại không bị tố cáo là vi phạm giới răn Đức Chúa Trời.
Cần phải lưu ý một điều mà người ta thừơng hay quên. Luật độc thân và đức trinh khiết có nghĩa là từ bỏ hôn nhân, chứ không phải là từ bỏ giới tính vẫn luôn mang đầy ý nghĩa phong phú, ngay cả khi giới tính được sống thao cách khác. Người nam nào đã chọn sống độc thân và ngừơi nữ nào đã chọn sống trinh khiết cũng trải nghiệm được nét quyến rủ và do vậy trải nghiệm đựơc sự phụ thuộc so với giới kia và chính đó là cái làm cho sự chọn lựa đức khiết tịnh của họ có ý nghĩa và chính vì thế mà nó qúy giá.
 
1.3 Chúa Giêsu, kẻ thù của gia đình?
 
Giữa nhiều luận điểm được đưa ra những năm gần đây nhất trong lãnh vực “nghiên cứu thứ ba về Chúa Giêsu lịch sử”, có luận đề về một Giêsu được coi là đã rẩy bỏ gia đình tự nhiên và tất cả mọi liên hệ thân thích họ hàng của Người, lấy danh nghĩa là đã thuộc về một cộng đồng khác biệt, nơi đó Thiên Chúa là Cha và các môn đệ tất cả đều là anh chị em, đề ra cho các môn đệ Người một cuộc đời nay đây mai đó, giống như cácc triết gia phái khuyển nho cũng làm như vậy bên ngoài Israel.
Thoạt nhìn đã thấy có những lời nói gây bối rối trong các Phúc Âm. Chúa Giêsu đã nói :”Ai theo Ta mà không ghét cha,mẹ,vợ con,anh chị em và cho đến cả mạng sông mình, thì không thể làm môn đệ của Ta” (Lc 14,26). Những lời nói cứng rắn hết sức ấn tượng, chắc chắn rồi, nhưng thánh sử Matthêu vội vàng giải thích ý nghĩa của từ “ghét” : “Ai yêu mến cha hoặc mẹ mình hơn Ta,thì không xứng vớiTa. Ai yêu con trai hoặc con gái mình hơn Ta,thì không xứng với Ta” (Mt 10,37). Chúa Giêsu do vậy không đòi phải ghét cha mẹ hoặc con cái, nhưng là không được yêu mến hơn đến mức từ chối đi theo Người vì họ.
Một đoạn khác gây bối rối. Một hôm Chúa Giêsu nói với một người : “Hãy theo Ta”. Ngừơi ấy thưa :”Cho phép con trước hết đi chôn cất cha con đã”.Nhưng Người nói với ngừơi ấy :”Hãy để kẻ chết chôn người chết của họ; còn anh, anh hãy đi loan báo Nước Thiên Chúa” (Lc 9,59 tt). Đối với một số người chỉ trích, trong đó có gíao sĩ Do Thái người Mỹ Jacob Neusner mà Đức Biển Đức XVI đối thoại với ông trong cuốn sách Chúa Giêsu Nazaret của Người, thì đó là một đòi hỏi xúc phạm, một sự không vâng lời Thiên Chúa là Đấng ra lệnh chăm sóc cha mẹ, một vi phạm hiển nhiên các bổn phận gia đình.
Người ta có thể đồng ý một điều với giáo sĩ Neusner : những lời nầy của Chúa Kitô không giải thích được nếu người ta chỉ coi Người như một con người, dù là ngừơi ngoại lệ. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể đòi hỏi người ta yếu mến Người hơn là một người cha và rằng để đi theo Người, người ta còn phải từ bỏ cả việc có mặt dự chôn cất người đó. Đối với các tín hữu, thêm một bằng chứng cho thấy Chúa Giêsu là Thiên Chúa; với Neusner, đó là lý do khiến người ta không thể đi theo Người.
Trước những đòi hỏi nầy của Chúa Giêsu, sự bối rối cũng phát sinh từ sự việc người ta không để ý đến sự khác biệt giữa những gì Người đòi hỏi nơi mọi người một cách không rõ ràng phân biệt và những gì Người chỉ đòi hỏi nơi một số người được gọi để chia sẻ đời sống trọn hiến cho Nước Trời, như vẫn còn xảy ra ngày nay trong Giáo Hội. Người ta cũng phải nói điều tương tự về việc từ bỏ hôn nhân : Người không áp đặt đềiu nầy và không đề nghị với mọi người không ph6n biệt, nhưng chỉ đề nghị với những ai chấp nhận nên giống như Người, phục vụ trọn vẹn Nước Trời (x. Mt 19,10 12).
Tất cả những nghi ngờ về thái độ của Chúa Giêsu đối với gia đình và hôn nhân rơi rụng,nếu chúng ta để ý đến những đoạn Phúc Âm khác. Chúa Giêsu là người nghiêm khắc nhất trong hêt mọi ngừơi về những gì liên quan đến sự không thể chia lìa của hôn nhân và nhắc nhở mạnh mẽ điều răn tôn kính cha mẹ mình. Người lên án việc viện cớ tôn giáo mà không thực hành bổn phận giúp đỡ cha mẹ (x. Mc 7, 11 – 13). Biết bao phép lạ Chúa Giêsu đã thực hiện để làm dịu đau khổ của các ông bố (ông Gia-irô, ông bố người bất toại), của các bà mẹ (phụ nữ xứ Canaan,bà goá Naim) hoặc của các người anh và các bà chị (các chị của Lazarô) và do vậy, để tôn vinh những mối liên hệ họ hàng thân thuộc. Hơn một lần, Người chia sẻ đau khổ của các bậc cha mẹ đến nỗi khóc cùng họ.
 
Ở một thời đại như ngày nay khi mà mọi sự dường như muốn làm suy yếu các mối liên hệ và các giá trị gia đình, chỉ còn thiếu một nỗi là Chúa Giêsu và Phúc Âm liên minh nhau chống lại gia đình! Chúa Giêsu đến đem lại cho hôn nhân vẻ đẹp nguyên thủy, để củng cố hôn nhân,chứ không làm nó suy yếu.
 
2. HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TRONG GIÁO HỘI THỜI CÁC TÔNG ĐỒ
 
Như chúng ta đã làm đối với kế hoạch nguyên thủy của Thiên Chúa và về sự tóm tắt do Chúa Kitô thực hiện, bây giờ chúng ta hãy tìm xem có được đón nhận và sống thế nào trong cuộc sống và trong giảng dạy giáo lý của Giáo Hội, được gắn liền lúc nầy với Giáo Hội thời các tông đồ. Ở đây Thánh Phaoô là nguồn thông tin chính cho chúng ta, bởi vì Ngài đã phải đương đầu vơi vấn nạn nầy trong một số thư của Ngài,nhất là trong thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô.
Thánh Tông Đồ phân biệt những gì đến trực tiếp từ Chúa Giêsu,từ những áp dụng đặc biệt mà Ngài làm trong bối cảnh mới mà Phúc Âm được rao giảng. Trong trường hợp thứ nhất, chính tính chất không thể phân ly của hôn nhân được đề cập :”Còn với những ngừơi đã kết hôn,tôi ra lệnh nầy, không phải là tôi,mà là Đức Chúa : vợ không được bỏ chồng;mà nếu đã bỏ chồng,thì phải ở độc thân hoặc phải làm hòa với chồng; và chồng cũng không được rẫy vợ” (I Cor 7,10 11). Trong trường hợp thứ hai, chúng ta nhìn thấy những cỉ dẫn Ngài ban khi có hôn nhân giữa ngừơi có Đạo và người ngoài Đạo; và những bố trí liên quan đến những người sống độc thân và trinh nữ :”Còn với những người đã kết hôn,v..v…Vế vấn đề độc thân,v..v…” (x. I Cor 7,10 – 11 ;I Cor 7,25). Từ thời Chúa Giêsu, Giao Hội thời các Tông Đồ cũng đã tiếp nhận một sự mới mẻ, như chúng ta đã thấy, hệ ở sự thiếp lập một tình trạng đời sống thứ hai : Độc thân và trinh khiết vì Nước Trời. Với những người ấy, Thánh Phaolô - bản thân Ngài cũng không lập gia đình – dành phần cuối chương 7 thư của Ngài. Căn cứ vào câu :”Tôi mong ước mọi người đều như tôi;nhưng mỗi người đón nhận từ Thiên Chúa đặc sủng riêng,kẻ thế nầy,người thế khác” (I Cor 7,7), một số người nghĩ rằng Thánh Tông Đồ xem hôn nhân và sự tring khiết như hai đặc sủng. Không đúng như vậy! Các trinh nữ đã đón nhận đặc sủng đức trinh khiết, còn những người vợ chồng có được những đặc sủng khác (hiểu ngầm : không phải là đặc sủng đức trinh khiết). Thật có ý nghĩa khi thần học Giáo Hội luôn coi đức trinh khiết như một đặc sủng, chứ không phải là một bí tích và coi hôn nhân như một bí tích, chứ không phải là một đặc sủng.
Văn bản thư gửi tín hữu Êphêsô có một trọng lượng đáng kể trong tiến trình sẽ dẫn tới (khá lâu sau đó) việc công nhận tính chất bí tích của hôn nhân :”Chính vì vậy ngừơi đàn ông sẽ lìa cha mẹ để gắn bó với vợ mình; và cả hai sẽ thành một xương một thịt: Mầu Nhiệm nầy thật cao cả: tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh” (Ep 5, 31 – 32). Đây không phải là một lời khẳng định đơn độc hoặc ngẫu nhiên,do việc dịch không rõ ràng từ “mầu nhiệm” (mysterion) sang tiếng la-tinh bí tích (sacramentum). Hôn nhân như biểu tượng quan hệ giữa Chúa Kitô và Giáo Hội đặt nền tảng trên toàn thể một loạt những lời được loan báo và những dụ ngôn, trong đó Chúa Giêsu đã áp dụng cho chính mình danh hiệu hôn phu, mà các tiên tri đã gán cho Thiên Chúa.
Trong khi công đồng Công giáo lớn lên và dần dà nên vững chắc, người ta thấy triển nỡ cả một mục vụ và một linh đạo về gia đình. Những văn bản ý nghĩa nhất cho chủ đề nầy là các thư gửi tín hữu Côlôsê và Êphêsô. Hai mối quan hệ căn bản cấu thành gia đình được đưa ra ánh sáng ở trong hai thư ấy : tương quan vợ - chồng và tương quan cha mẹ - con cái. Về tương quan thứ nhất [ vợ - chồng], Thánh Tông Đồ viết: “Vợ chồng hãy phục tùng nhau trong sự kính sợ Chúa Kitô. Ước gì người vợ phụ tùng người chồng như Giáo Hội phục tùng Chúa Kitô;các bà vợ cũng phải phục tùng các người chồng trong mọi sự. Hỡi những người chồng, hãy yêu thương vợ mình như Chúa Kitô yêu thương Giáo Hội : Người đã phó nộp mình vì Giáo Hội”.
Thánh Phaolô nhắn nhủ người chồng “yêu thương” vợ mình ( điều nầy bình thường với chúng ta), nhưng tiếp sau đó Ngài nhắn nhủ người vợ “phục tùng”chồng mình và đềiu ấy dường như không thể chấp nhận được trong một xã hội ý thức mạnh mẽ về sự bình đẳng giữa các giới. Về điểm nầy, Thánh Phaolô, ít là một phần, chịu ácc đềiu kiện tập tục thời đại Ngài sống. Dù vậy cũng phải xem lại khó khăn nầy bằng vệic lưu ý tới câu ở đầu thư : “Vì lòng tôn kính Chúa Kitô, hạy phục tùng lẫn nhau”, thiết lập một tương quan lẫn nhau trong sự phục tùng cũng như trong tình yêu.
Về mối tương quan cha mẹ - con cái, Thánh Phaolô nhắc lại những lời khuyên răn truyền thống của văn chương sách khôn ngoan :” Hỡi con cái, hãy vâng lời cha mẹ, trong Đức Chúa: đó là đìêu ch1inh đáng. Hãy tôn vinh cha ngươi và mẹ ngươi. (Cn 6,20), đó là giới răn đầu tiên nối liền với một lời hứa : để ………(Xh 20,12). Hỡi các bậc làm cha làm mẹ, đừng làm cho con áci tức giận;nhưng hãy giáo dục chúng thay mặt Chúa bằng cách khuyên răn và sửa dạy” (Ep 6, 1 – 4).
Các thư mục vụ, đặc biệt là Thư gửi Titô, cho thấy những chi tiết cho mỗi phạm trù những con người :những người vợ,những người chồng, các giám mục và linh mục, những người cao tuổi, những thanh thiếu niên, các bà goá, các ông chủ, những người nô lệ ( x. Tt 2, 1 – 9).Quả thật, ngay cả các nô lệ cũng làm thành phần gia đình trong quan niệm mở rộng về gia đình.
 
Ngay cả trong Giáo Hội tiên khởi, lý tưởng hôn nhân được Chúa Giêsu đề xuất lại, sẽ không được thực hiện mà không gặp những bóng tối hoặc chống cự. Nhu cầu mà các Tông Đồ cảm nhận phải nhấn mạnh lên khía cạnh nầy của cuộc sống Kitô giáo làm chứng cho điều ấy, tất nhiên không tính đến trường hợp loạn luân ở Côrintô (x. I Cor 8,1 tt). Nhưng xét tổng thể, các Kitô hữu đã giới thiệu cho thế giới một kiểu mẫu gia đình mơi tỏ cho thấy đó là một trong những nhân tố công cuộc rao giảng Tin Mừng.
Tac giả thư gửi Diognète ở thế kỷ thứ 2 khẳng định rằng các Kitô-hữu “lập gia đình như mọi người, cũng có con cái,nhưng không bỏ rơi con cái mới sinh của họ. Họ chia sẻ cùng một bàn ăn,nhưng không chung một giường nằm” (V, 6 – 7). Trong cuốn Apologies, Justin đưa ra lý lẽ rằng chúng ta,các Kitô hữu ngày nay,lẽ ra pảhi có thể đối thoại với các nhà cầm quyền chính trị. Ông nói như sau : Các Ngài, hỡi những hoàng đế La Mã, các Ngài nhân lên các luật lệ về gia đình,nhưng chúng chio thấy không hiệu quả để tránh cho gia đình đổ vỡ. Hãy đến mà xem gia đình của chúng tôi và các Ngài sẽ xác tín rằng Kitô hữu là những đồng minh tốt nhất của cuộc cải cách xã hội,chứ không phải là kẻ thù của các Ngài. Kết thúc,sau ba thế kỷ bách hại, vị hoàng đế đã tiếp nhận kiểu mẫu Kitô giáo về gia đình trong luật pháp của ông.
 
THUYẾT-TRÌNH VỀ GIA ĐÌNH CỦA CHA RANIERO CANTALAMESSA
Đại Hội Thế Giới Lần thứ VI về Gia Đình (Mexico 14.01.2009)
(còn tiếp một kỳ)

Thứ Tư, 2 tháng 8, 2017

GĐPV : Có thể mang áo các phép không phải màu trắng không?

Giải đáp phụng vụ: Có thể mang áo các phép không phải màu trắng không?
Nguyễn Trọng Đa8/1/2017


Nói thêm về Bánh Thánh được lưu giữ.

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi 1: Con được biết rằng một số linh mục trong giáo phận đã ra lệnh cho các người giúp lễ mang áo các phép (surplice) màu xanh hoặc màu đỏ. Con tin rằng điều đó là không đúng với biểu tượng và sự phát triển lịch sử của áo các phép. Vậy xin cha cung cấp cho chúng con một lời giải thích rõ ràng về lý do tại sao áo các phép phải luôn là màu trắng. - J. D., thành phố Caloocan, Philippines.


Đáp: Theo Qui chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma:

"336. Phẩm phục cho mọi thừa tác viên có chức thánh hay có thừa tác vụ thuộc bất cứ cấp bậc nào là áo trắng dài (alba) có dây thắt lưng, ngoại trừ áo được may dính liền với thân thể nên không cần dây. Trước khi mặc áo alba, nếu nó không che kín áo thường xung quanh cổ, thì dùng khăn vai. Không được thay thế áo alba bằng áo các phép, cũng không được mặc một áo dài tới gót thay cho áo alba, khi phải mặc áo lễ hay áo phó tế, hoặc, theo luật, chỉ mang có dây stola mà không có áo lễ hay áo phó tế.

"339. Thầy giúp lễ, đọc sách, và các người giúp giáo dân khác có thể mặc áo alba hay áo nào khác được Hội Ðồng Giám Mục chấp thuận hợp pháp cho từng miền (xem số 390)” (Bản dịch Việt ngữ của linh mục Phanxicô Xavier Nguyễn Chí Cần, Giáo phận Nha Trang).

Đây là quy tắc chung cho giáo sĩ và thừa tác viên có chức thánh.

Mặc dù các sách phụng vụ xác định khi nào một áo trắng dài hoặc áo lễ phải được sử dụng, nhưng sách không thực sự định nghĩa hoặc thậm chí mô tả áo như thế nào. Có vẻ như luật giả định rằng mọi người biết áo trắng dài là gì và áo các phép là gì, hình thức nào của chúng là truyền thống và hình thức nào là không truyền thống.

Đối với giáo sĩ và các thừa tác viên có chức thánh, áo trắng dài là luôn màu trắng, như được nêu ra bởi tên của nó từ tiếng Latinh là màu trắng: albus, alba, album (trắng).

Áo các phép có lẽ có nguồn gốc thời Trung cổ ở Pháp, tại đó trong mùa đông khắc nghiệt, các ca viên ca đoàn thường chống rét bằng mang thêm da động vật. Bởi vì điều này là ít thanh lịch, nên một chiếc áo rộng đã được phát triển, mang choàng trên da (từ Pháp cổ sourpelis, từ tiếng Latinh Trung cổ superpellicium, từ chữ super ‘trên’ và pellicia ‘áo da thú’). Theo thời gian, chiếc áo rộng này, mặc ngoài áo dòng, được phép thay thế cho áo trắng dài, trong các buổi lễ không đòi hỏi phải mặc áo lễ hoặc áo phó tế. Vì vậy, nó đã trở nên khá phổ biến trong các dịp Rửa tội hoặc chầu Thánh Thể. Vì nó thay thế cho áo trắng dài, nên áo các phép luôn là màu trắng.

Đã có nhiều thay đổi về kiểu cách qua các thế kỷ, và trong khi vẫn là trắng hoặc trắng nhạt, cả áo trắng dài và áo các phép đều được trang trí với các hình ren và thêu thùa khác nhau.

Đối với các người giúp lễ, đặc biệt là trẻ em, các tập tục về áo các phép hoặc áo dòng (cassock) của ngưởi giúp lễ đã phần nào là linh hoạt hơn, và cho phép một số màu sắc và hình thức khác nhau. Thí dụ, ở Ý, một số nơi sử dụng "áo Tarcissian". Đây là một loại áo trắng dài nhạt, với hai sọc đỏ chạy từ trên vai xuống sát đất, do đó gợi lên chiếc áo khoác thời Rôma cổ đại. Áo này không đi kèm với áo các phép.

Ngoài ra, ở một số quốc gia Bắc Âu, như Ba Lan và các nước vùng Baltic, áo các phép màu trắng được mang bên ngoài y phục thông thường, không có áo dòng, thường được xem như một lễ phục thích hợp cho các người giúp lễ.

Ở các nơi khác, ít nhất là trong các dịp lễ trọng, một tấm vải màu choàng vai cũng được dùng trên chiếc áo dòng, có thêm hoặc không có áo các phép màu trắng.

Các qui định chính thức, ở nơi nào chúng tồn tại, có xu hướng đưa ra các nguyên tắc chung, và không đưa ra chi tiết quá mức.

Do đó, Ủy ban Phụng vụ của Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ đã ban hành các qui định như sau:

"1. Mặc dù việc thiết định thừa tác viên Giúp lễ được dành riêng cho phái nam, Giám mục giáo phận có thể cho phép các chức năng phụng vụ của thừa tác viên Giúp lễ được thực hiện bởi các người giúp lễ, đàn ông hay đàn bà, thiếu niên nam hay thiếu nữ. Những người như vậy có thể thực hiện tất cả các chức năng được liệt kê ở số 100 (trừ việc cho Rước Lễ), các số 187-190, và số 193 của Qui chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma.

"Việc xác định rằng phụ nữ và thiếu nữ có thể hoạt động như người giúp lễ trong phụng vụ nên được thực hiện bởi Giám mục ở cấp giáo phận, để có thể có một chính sách giáo phận đồng nhất.

"2. Không có sự phân biệt giữa các chức năng được thực hiện trong khu vực cung thánh bởi đàn ông và thiếu niên nam, và các chức năng bởi phụ nữ và thiếu nữ. Thuật ngữ "người giúp lễ" nên được sử dụng cho các người thực hiện chức năng của thừa tác viên Giúp lễ.

"3. Các người giúp lễ nên đủ chín chắn để hiểu được trách nhiệm của mình, và thực hiện chúng thật tốt và với sự kính trọng hợp lý. Họ cần là người đã rước lễ lần đầu, và thường Rước lễ mỗi khi họ tham dự phụng vụ.

"6. Các thừa tác viên Giúp lễ, người giúp lễ, người đọc sách, và các thừa tác viên giáo dân khác có thể mang áo trắng dài, hoặc lễ phục phù hợp, hoặc y phục thích đáng hoặc trang nghiêm khác. (Qui chế tổng quát Sách Lễ Rôma, số 339). Tất cả các ngưởi giúp lễ mang lễ phục phụng vụ tương tự".

Các điều này đã được phản ánh trong các hướng dẫn của một số Giám mục địa phương. Chúng tôi xin cung cấp bốn thí dụ từ các khu vực khác nhau của Hoa Kỳ:

- "Y phục: Trong các hoàn cảnh bình thường, các người giúp lễ nên mang y phục. Điều này là nằm trong truyền thống của Giáo Hội, và ngăn ngừa các khó khăn liên quan đến lễ phục phù hợp cho các thừa tác viên này. Lễ phục thích hợp cho các người giúp lễ là áo trắng dài, tốt nhất là màu trắng. (Trong các giáo xứ nào mà người giúp lễ mang áo dòng và áo các phép, các hướng dẫn này không ngụ ý rằng giáo xứ ấy phải ngay lập tức thay thế áo dòng và áo các phép bằng áo trắng dài. Tuy nhiên, khi nào trang phục hiện tại cần được thay thế, lễ phục thích hợp là vải màu trắng)".

- "Lễ phục - Tại các giáo xứ sử dụng lễ phục, một áo trắng dài đơn giản phản ánh gốc rễ rửa tội của mọi thừa tác. Nó nên được sạch sẽ, vừa khít, với vớ phù hợp và giày nên được mang. Áo dòng vả áo các phép, gợi nhớ bậc giáo sĩ, không nên được mang bởi các thừa tác viên giáo dân. Tất cả các ngưởi giúp lễ nên mang lễ phục giống nhau".

- "Các giáo xứ có thể xem xét một số kiểu áo trắng dài nhạt để sử dụng cho các người giúp lễ, hoặc họ có thể mang áo dòng và áo các phép. Phong cách doanh nhân của y phục có thể được coi là thích hợp cho các người lớn giúp lễ, nhưng tất cả mọi người nên xem là cần thiết để ăn mặc nghiêm chỉnh xứng đáng, vốn là phù hợp với cử hành Thánh Thể. Tại tất cả các buổi lễ, các người giúp lễ phải là gọn gàng, sạch sẽ, và ăn mặc đơn giản để không thu hút sự chú ý vào họ".

- "Các người lớn giúp lễ nên có trang phục phù hợp với việc cử hành Thánh lễ. Một phong cách ăn mặc chuyên nghiệp là thích hợp, hoặc có thể mang một áo trắng dài. Nếu cả người lớn và thiếu niên cùng giúp lễ, tất cả đều nên có trang phục giống nhau, phù hợp với thừa tác này. Thiếu niên Giúp lễ nên mặc áo trắng dài hoặc áo dòng, và áo các phép. Cho dù lựa chọn là như thế nào, cần phải có nhiều kích cở của áo, để mọi người giúp lễ có y phục phù hợp với mình cho bất cứ buổi phụng vụ nào. Tại tất cả các buổi lễ, các người giúp lễ phải là gọn gàng, sạch sẽ và ăn mặc đơn giản".

Một giáo phận lớn của Mêxicô có qui định sau đây.

"Về người giúp lễ, y phục của họ nên là khác biệt với lễ phục phụng vụ. Đúng là phải có áo dài tới chân và có màu khác với áo dòng đen của giáo sĩ, phù hợp với truyền thống, vốn đề xuất việc sử dụng áo dòng màu đỏ, với áo các phép cho các người giúp lễ trẻ tuổi. Đối với người trưởng thành giúp lễ, họ chỉ cần ăn mặc một cách trang nghiêm, sao cho phù hợp với sự tham gia của họ trong việc cử hành phụng vụ. Điều này cũng áp dụng cho các ca viên, người xướng Thánh vịnh và các thừa tác viên giáo dân".

Tôi đã không có điều kiện để tìm thấy các qui chế đặc biệt ở Philippines.

Từ những gì chúng ta đã thấy, có một số nguyên tắc tổng thể vốn cung cấp sự linh hoạt rộng rãi. Tuy nhiên, chúng tôi không thể nêu ra bất kỳ qui định chính thức nào, vốn có thể nói rằng áo các phép màu sắc là bị cấm.

Chúng ta có thể khẳng định với sự tự tin rằng màu trắng hoặc trắng nhạt là màu thích hợp, vì áo các phép thay thế áo trắng dài.

Tương tự như vậy, chúng ta có thể nói rằng về mặt lịch sử, cho dù người giúp lễ mang áo dòng màu sắc nào cũng được, nhưng áo các phép luôn là màu trắng.

Do đó, việc giới thiệu áo các phép màu sắc là một sự đổi mới, nhưng trong khi không có luật phổ quát nào cấm dùng nó, việc này không có nền tảng trong truyền thống phụng vụ Công Giáo, và phải được coi là một thứ mốt nhất thời, hay sự mới lạ.

Hỏi 2: Sau khi tôi trả lời về việc lưu giữ Bánh Thánh, trong bài ngày 5-7-2017, một độc giả từ Birmingham, Anh Quốc, viết: "Câu trả lời của cha khiến cho con đặt câu hỏi khác. Con nhận thấy rằng nhiều linh mục, để làm điều này, các ngài lưu giữ Bánh Thánh được truyền phép trong Thánh lễ hôm nay, vả cho giáo dân Rước Mình Thánh được truyền phép trong Thánh lễ ngày trước đó. Thưa cha, có luật nào nói về việc này không, bởi vì con cảm thấy rằng mọi người nên rước Mình Thánh được truyền phép trong Thánh lễ mà họ đang tham dự? Vấn đề là rằng một số Bánh Thánh, thường là nhiều, có thể được lưu giữ trong nhà tạm lâu hơn hai tuần, mà cha đã đề cập đến.

Đáp: Tôi sẽ nói ngay rằng có lẽ không có giải pháp nào là hoàn hảo cả. Ngay cả ở những nơi như các tu viện, nơi mà số người Rước Lễ được biết khá chính xác, sẽ luôn cần ít nhất một số Bánh Thánh để dành cho của ăn đàng, hoặc Bánh Thánh lớn để chầu Thánh Thể.

Cách thức thích hợp nhất để đổi mới Bánh Thánh là cho tín hữu Rước Bánh Thánh đã được lưu giữ.

Do đó, mặc dù lý tưởng là Rước Bánh Thánh được truyền phép trong cùng một Thánh Lễ, sẽ luôn có một số dịp mà các tín hữu sẽ Rước Bánh Thánh được truyền phép trong Thánh lễ trước. Mặc dù là kém hoàn hảo về quan điểm của dấu hiệu, không có sự khác biệt nào trong sự hiện diện của Chúa Kitô, và mỗi sự Rước lễ lả sự tham dự vào hy tế của Chúa Kitô.

Trong hoàn cảnh giáo xứ, một nỗ lực cần làm là khuyến khích thành thói quen cho càng nhiều người Rước lễ trong cùng một Thánh lễ, tính toán lượng Bánh lễ cao hơn thực tế một chút là tốt nhất.

Số lượng Bánh Thánh được lưu giữ cần phải tương ứng với nhu cầu của người bệnh, nhưng không nhiều quá mức. Bằng cách này, có thể đổi mới Bánh Thánh thường xuyên, bằng cách cho tín hữu Rước Bánh Thánh từ nhà tạm vào một số ngày nào đó, không đều đặn mỗi ngày, và không cho mọi tín hữu trong một ngày. (Zenit.org 1-8-2017)

Nguyễn Trọng Đa

CHÂN DUNG ĐÍCH THỰC CỦA CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ

CHÂN DUNG ĐÍCH THỰC CỦA CHÚA GIÊ-SU KI-TÔ

 "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.
Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !"

CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN NĂM A (06/08/2017)
[LỄ CHÚA HIỂN DUNG]

I. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG TIN MỪNG MÁT-THÊU (Mt 17,1-9)

1 Sáu ngày sau, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. 2 Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. 3 Và bỗng các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người. 4 Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng: "Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay ! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a." 5 Ông còn đang nói, chợt có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và có tiếng từ đám mây phán rằng: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !" 6 Nghe vậy, các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất. 7 Bấy giờ Đức Giê-su lại gần, chạm vào các ông và bảo: "Chỗi dậy đi, đừng sợ!" 8 Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Đức Giê-su mà thôi.

 9 Đang khi thầy trò từ trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông rằng: "Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy."

II. TÌM HIỂU VÀ SUY NIỆM LỜI CHÚA

2.1 Đức Giê-su là Thiên Chúa làm người. Một trong những nhiệm vụ lớn của Người trong cuộc sống trần gian là tỏ mình ra cho các môn đệ và dân Ít-ra-en. Đọc các Sách Tin Mừng, chúng ta thấy Đức Giê-su đã nhiều lần tỏ mình ra cho những người xung quanh. Ví dụ khi Người đàm đạo với các vị chức sắc đền thờ Giê-ru-sa-lem dù mới 12 tuổi (Lc 2,46-50) và khi Người chữa bệnh và trừ quỷ (Lc 5,40-41). Nhưng nổi bật nhất là khi Người chịu phép rửa bởi tay Gio-an (Mt 3,21-22) và khi Người hiển dung (Mt 17,1-9). Hôm nay chúng ta tìm hiểu và suy niệm về  biến cố hiển dung trong Tin Mừng Màt-thêu.

2.2 Biến cố Đức Giê-su hiển dung có ý nghĩa sâu sắc với chính Thiên Chúa (Cha) và bản thân Đức Giê-su cũng như với các môn đệ và dân chúng.

a) Đức Giê-su là Con Thiên Chúa được sai đến trần gian với hai sứ mạng cao trọng là mặc khải về Cha và cứu độ nhân loại. Mặc khải về Cha là Đức Giê-su nói về Cha của Ngài. Nhưng Đức Giê-su còn mặc khải về Cha khi Người để cho Cha Ngài tự tỏ mình cho mọi người. “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” là lời mạc khải tuyệt vời nhất của Chúa Cha.

b) Đức Giê-su là Thiên Chúa nhưng cũng là người. Là Thiên Chúa thì Đức Giê-su không cần sự công bố công khai của Chúa Cha. Nhưng là con người thì Đức Giê-su cần sự công nhận của Chúa Cha và của các tiền nhân cũng như cần sự tự tỏa sáng của chính mình. Vì thế trong sự kiện hiển dung của Đức Giê-su chúng ta thấy hội tụ cả 3 yếu tố quan trọng:

một là chân dung chói lòa, hai là sự hiện diện của ông Mô-sê (tượng trưng cho Lề Luật) và của ông Ê-li-a (tượng trưng cho Ngôn Sứ) và ba là lời công bố long trọng của Chúa Cha:

“Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người.”

c) Từ ngày xuất hiện công khai để rao giảng Nước Trời, Đức Giê-su Na-da-rét đã làm cho các môn đệ và dân chúng đi theo Người háo hức muốn biết rõ hơn nữa về Người. Chắc chắn là thế. Người đã rao giảng một cách lôi cuốn hấp dẫn và sâu sắc. Người đã chữa lành nhiều người tật nguyền bệnh hoạn. Người đã trừ quỷ và thậm chí Người đã làm cho kẻ chết sống lại. “Ông Giê-su này là ai?” mọi người đều nêu thắc mắc tự hỏi. Như để đáp lại sự chờ đợi ấy của các môn đệ và dân chúng Chúa Cha đã long trọng công bố: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người !"

III. THỰC THI LỜI CHÚA

3.1 Đúng như Thánh Giê-rô-ni-mô đã nói: “Không biết Thánh Kinh là không biết Đức Ki-tô”  Càng sống lâu và càng học hỏi và suy gẫm nhiều về Thánh Kinh, nhất là Tân Ước, thì tôi càng hiểu biết, yêu mến và ngưỡng mộ Đức Giê-su Na-da-rét nhiều hơn. Chịu ảnh hưởng của Chân Phước Charles de Foucauld tôi luôn bị cuốn hút bởi lối sống ẩn dật, khiêm nhường, tự hạ và tự hiến của Đức Giê-su Ki-tô.

3.2 Nhưng điếu quan trọng nhất đối với tôi cũng như đối với các Ki-tô hữu khác không phải là hiểu biềt, yêu mến và ngưỡng mộ Đức Giê-su Ki-tô mà là vâng nghe lời Người như chính Thiên Chúa (Cha) đã ra lệnh: “Các ngươi hãy vâng nghe lời Người.”Vâng nghe lời Đức Giê-su là thi hành giới răn riêng của Người, là noi gương bắt chước cách sống của Người, là nên “đồng hình đồng dạng” với Người như Thánh Phao-lô đã khuyên nhủ.

3.3 Tôi phải đấm ngực ăn năn mỗi khi nhìn lại mình. Trong cuộc sống không biết bao nhiêu lần tôi đã không thực thi mệnh lệnh hay giới răn yêu thương, tôi đã không từ bỏ những thứ tôi quyến luyến, tôi đã không hy sinh thời gian, công sức, tiền của cho anh chị em cần đến tôi.   

IV CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA

Lạy Thiên Chúa là Cha của Đức Giê-su Ki-tô, con xin dâng lời ngợi khen, cảm tạ và biết ơn Chúa, vì qua biến cố hiển dung, Chúa đã cho con nhận ra chân dung đích thực của Con Một Chúa và đã cho con biết con phải vâng nghe Lời Người.

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô là Lời của Thiên Chúa, con xin Chúa tha thứ cho con vì con đã nhiều lần không vâng nghe Lời Người.

Lạy Chúa Thánh Thần là Thần Khí của Chúa Ki-tô, con xin Chúa ban cho con sức mạnh để con dũng cảm và ngoan ngoãn vâng nghe Lời Người. Amen.

Sài-gòn ngày 01 tháng 08 năm 2017

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

27 Giáo Hội Công Giáo Dưới Cái Nhìn của Một Ký Giả Hoa Kỳ (bài 27)

Giáo Hội Công Giáo Dưới Cái Nhìn của Một Ký Giả Hoa Kỳ (bài 27)

Tác giả: 
 Vũ Văn An

Đâu là ý kiến của giáo dân về ngừa thai?

Có lẽ chưa có việc san định nền đạo đức học tính dục Công Giáo nào lại bị nhiều chỉ trích và tranh luận thần học gây khó chịu suốt 50 năm qua hơn giáo huấn về ngừa thai. Nhà thần học luân lý người Mỹ, linh mục Charles Curran, bị gặp rắc rối lớn ở Đại Học Công Giáo America cuối thập niên 1960 vì đã nghi vấn giáo huấn của Giáo Hội về ngừa thai. Ngài thực sự bị sa thải năm 1967, và chỉ được tái bổ nhiệm sau đó nhờ có cuộc đình công của sinh viên. Tuy nhiên, ngài bị sa thải vĩnh viễn năm 1986 vì đã không chịu rút lại việc bất đồng đối với một số học lý luân lý, nổi nhất là việc ngăn cấm ngừa thai.

Cùng với nhiều nhà thần học khác, Cha Curran, người tiếp tục giảng dạy tại Đại Học Methodist Miền Nam, thách thức tính “duy thể lý” (physicalism) và tính “duy sinh lý” (biologism) trong giáo huấn chính thức của Công Giáo; ngài nói rằng: nó dành quá nhiều quan trọng cho cấu trúc thể lý của hành vi tính dục ngược với các giá trị của trật tự cao hơn như thiện ích của con người hay thiện ích của vợ chồng. Cha Curran lý luận rằng về các vấn đề luân lý khác, Giáo Hội không dành cùng một tầm quan trọng tuyệt đối như thế cho hành vi thể lý. Thí dụ, Giáo Hội phân biệt việc “giết người” với việc “tự vệ” dù hành vi thể lý lấy đi mạng sống con người y như nhau trong hai trường hợp. Cho đến nay, quan điểm này đã trở thành gần như túi khôn hợp qui ước nơi nhiều thần học gia Công Giáo, và được nhiều tín hữu giáo dân chia sẻ một cách rộng rãi.

Ở phía kia của giải liên tục Công Giáo, một số tiếng nói có tính truyền thống sâu xa không những chỉ coi việc ngừa thai nhân tạo, mà cả việc kế hoạch hóa gia đình cách tự nhiên, một điều được chính thức nhìn nhận, gần như là lạc giáo. Trong hình thức nhẹ hơn, lời chỉ trích này thường nhắm vào các thực hành và chính sách mục vụ hiện đại; họ cho rằng các thực hành và chính sách này khuyến khích việc kế hoạch hòa gia đình cách tự nhiên mà không lưu ý điều này: theo giáo huấn chính thức, cặp vợ chồng phải có “lý do chính đáng” mới nên dùng nó, và phải luôn “đại lượng” qua việc sẵn lòng đem con cái vào đời.

Trong hình thức mạnh hơn, phe chỉ trích duy truyền thống cho rằng việc kế hoạch hóa gia đình cách tự nhiên thực sự không khác gì bao cao su hay thuốc ngừa thai, ở điểm nó nguyên tuyền là chuyện kiểm soát sinh đẻ bằng phương thế khác mà thôi. Oái oăm thay, đây là chỗ ý kiến Công Giáo xoay đủ một vòng, vì một số nhà phê bình cấp tiến cũng có cùng một luận điểm như thế về giáo huấn của Giáo Hội. Richard Ibranyi, một tác giả thuộc phe “trống ngôi” (sedevacantist, nghĩa là phe cho rằng sau Đức Piô XII, tòa Phêrô trống ngôi, tất cả các vị giáo hoàng sau ngài đều là ngụy giáo hoàng), phát biểu thế này: “Tất cả những ai dùng phương pháp kế hoạch hóa gia đình cách tự nhiên đều phạm tội trọng cả. Trong trái tim mọi người đều có luật tự nhiên, và việc thực hành kế hoạch hóa gia đình cách tự nhiên đã vi phạm luật tự nhiên này. Không có ngoại lệ, cho dù linh mục hay giám mục của bạn nói rằng có thể dùng nó”.

Giáo Hội có quan điểm gì về việc phá thai? 

Giáo huấn Công Giáo về phá thai đặt tiền đề trên xác tín cho rằng sự sống con người bắt đầu từ lúc thụ thai, khi các tế bào tinh trùng và trứng kết hợp với nhau. Thoạt đầu, chủ trương này bắt nguồn từ sinh học của Aristốt; nền sinh học này cho rằng bản sắc được lên khuôn nhờ việc giao thoa của chất thể và mô thức. Các nhà lãnh đạo Công Giáo ngày nay nhấn mạnh rằng chủ trương này được khoa bào thai học và khoa học di truyền hiện đại nâng đỡ; các khoa này đã chứng minh rằng bào thai mang theo nó khuôn di truyền rõ rệt ngay từ lúc thụ thai trở đi. Do đó, giáo huấn của Giáo Hội chủ trương rằng từ giây phút hiện hữu đầu tiên, hữu thể nhân bản đã có đủ quyền lợi của một ngôi vị, với quyền căn bản nhất là được sống.

Dĩ nhiên, các nhà lãnh đạo Công Giáo thừa nhận rằng bào thai, ở các giai đoạn đầu tiên, không có đủ mọi chức năng nhân bản, như hệ thần kinh hay thân não. Thế nhưng các ngài lý luận rằng các nạn nhân của tai nạn hay những người sinh ra bất thường về di truyền thường cũng không có đủ các chức năng nhân bản, nhưng điều này đâu có gây thiệt hại gì đối với nhân phẩm của họ.

Theo các số thống kê thường được trích dẫn nhiều nhất, hàng năm có tới 44 triệu vụ phá thai được tiến hành khắp thế giới, trong đó, vào khoảng từ 800,000 tới 1 triệu 2 diễn ra tại Hoa Kỳ. Nếu bạn coi mỗi vụ này là một vụ giết người vô tội, thì việc các nhà tranh đấu phò sự sống cảm thấy vấn đề phá thai khẩn trương về luân lý đến thế đâu có gì là khó hiểu.

Dù đôi khi người ta cho rằng việc Công Giáo chống đối phá thai chỉ có từ khi có phán quyết Roe v. Wade năm 1973 của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ, thực ra, việc chống đối này đã có từ buổi khởi đầu của Đạo. Phá thai và sát nhi rất thường xẩy ra trong Đế Quốc Rôma cổ thời, và việc chống lại các thực hành này là đặc điểm thuộc bản sắc của Kitô Giáo tiên khởi. Một trong các bản văn Kitô Giáo cổ xưa nhất, ngoài Thánh Kinh ra, tên là Didache, được coi như chứa đựng giáo huấn trực tiếp truyền từ các tông đồ, có lời cấm này “Ngươi không được giết bào thai bằng cách phá thai và không được gây cho trẻ sơ sinh phải chết”.

Trong Bộ Giáo Luật, “cộng tác theo mô thức” vào việc phá thai bị coi như một vi phạm đặc biệt trầm trọng đến nỗi bị phạt tuyệt thông. Theo thần học luân lý Công Giáo, cộng tác theo “mô thức” (formal) có nghĩa có ý phạm một hành vi xấu. Cộng tác theo “chất thể” (material) xẩy ra khi không nhằm đối tượng vô luân trong hành vi của người khác, tuy nhiên can dự vào như một nguyên nhân gây hậu quả (causal way). Thí dụ, một bệnh viện cho một bác sĩ thuê chỗ để thực hiện một vụ phá thai, tuy không ủng hộ việc này, bị coi là cộng tác “theo chất thể” vào hành vi. Giáo huấn của Giáo Hội dạy rằng mạng sống người vô tội cũng phải được luật dân sự bảo vệ và việc bảo vệ quyền sống là thước đo căn bản nhất đối với sợi chỉ xuyên suốt của bất cứ xã hội nào. Thành thử, các nhà lãnh đạo Giáo Hội không chỉ khuyến khích người Công Giáo đừng phá thai; mục tiêu tối hậu của các ngài là được thấy nhà nước đặt thực hành này ra ngoài vòng pháp luật.

Có sự đa dạng ý kiến nào về phá thai không? 

Khó mà kiếm được nhà tư tưởng hay nhà tranh đấu Công Giáo nghiêm túc nào dám ca ngợi phá thai là một sự thiện luân lý, hay nghĩ rằng một xã hội công chính phải là một xã hội thực hiện nhiều vụ phá thai hơn. Hầu như mọi nhà thần học luân lý Công Giáo, và tuyệt đại đa số người giáo dân Công Giáo đều ít nhất coi phá thai là điều đáng tiếc và đáng lo ngại, và coi việc hạn chế con số các vụ phá thai là một tiến bộ luân lý đáng kể. Bởi thế, cuộc tranh luận trong các giới Công Giáo thực sự không phải là để nói “có” hay “không” đối với việc phá thai. Mà đúng hơn, là xoay quanh 3 câu hỏi gây tranh cãi nhiều nhất sau đây:

• Giáo huấn chính thức có quá cứng rắn không khi từ chối nhìn nhận rằng trong một số trường hợp, như đe dọa tới mạng sống hay sức khỏe người mẹ, phá thai có thể ít xấu hơn trong hai cái xấu?

• Chiến dịch biến việc phá thai thành bất hợp pháp có dẫm chân lên biên giới giữa Giáo Hội và nhà nước không, nhất là trong một nền văn hóa đa nguyên trong đó, không hề có sự đồng thuận đối với vấn đề này?

• Phá thai có được quá nhấn mạnh không, đến độ gây thiệt hại cho các vấn đề khác? Lời phàn nàn thường được nghe từ giới hoạt động công bằng xã hội là: Giáo Hội nên dành cùng một lượng năng lực để bảo vệ một đứa trẻ đang chết vì đói như lúc bảo vệ một đứa trẻ chưa sinh, còn ở trong bụng mẹ.

Với mỗi người Công Giáo cho rằng hàng giáo phẩm quá cứng rắn đối với việc phá thai, thường lại có một người Công Giáo khác nghĩ rằng các ngài quá buông lỏng. Thí dụ, các người phò sự sống đầy xác tín thường phàn nàn rằng các vị giám mục không xông xáo trong việc thẳng tay đối phó với các chính trị gia Công Giáo không chịu có cùng đường hướng với các ngài về vấn đề phá thai. Đầu năm 2010, chẳng hạn, một phái đoàn Công Giáo phò sự sống, dẫn đầu bởi nhà tranh đấu Randall Terry, đã tổ chức một cuộc biểu tình tại Vatican, đòi chế tài Đức Hồng Y Donald Wuerl của Washington D.C., vì ngài đã không công khai bác bỏ quyền rước lễ của chủ tịch quốc hội Nancy Pelosi trong tổng giáo phận của ngài. (Năm 2004, một nhóm nhỏ các giám mục Hoa Kỳ tuyên bố rằng các ngài sẽ không cho ứng cử viên tổng thống John Kerry rước lễ vì chủ trương phò phá thai của ông này, làm nổ ra cuộc tranh luận về việc ai được ai không được rước lễ, một cuộc tranh luận được nhiều người nhạo gọi là “cuộc chiến bánh lễ”). Đầu thế kỷ 21, không quyết định nào của các giám mục Công Giáo ở Hoa Kỳ gây nhiều tranh cãi bằng việc cho phép một chính trị gia Công Giáo có thành tích bỏ phiếu phò phá thai được nói chuyện tại một cơ sở Công Giáo, nhận bất cứ vinh dự nào của Giáo Hội, hay rước lễ tại giáo xứ địa phương của họ.

Tại sao Giáo Hội có đường lối tiêu cực đối với việc đồng tính luyến ái? 

Tại tòa án công luận ở đầu thế kỷ 21, có lẽ không có lời tố cáo nào chống lại Giáo Hội Công Giáo bị công kích bằng lời tố cáo cho rằng Giáo Hội này “bài đồng tính luyến ái”. Tri cảm này đặc biệt khiến các nhà lãnh đạo Công Giáo tức giận vì các ngài nhấn mạnh rằng các ngài không chống đối việc đồng tính luyến ái cho bằng nhiệt tâm trình bày một viễn kiến tích cực về tình yêu, về tính dục nhân bản, và về gia đình. Hơn nữa, theo các ngài, giáo huấn Công Giáo phân biệt rõ ràng giữa việc chỉ trích tác phong đồng tính về phương diện luân lý và bổn phận luân lý phải biểu lộ yêu thương đối với những người đồng tính, giống như đối với bất cứ ai khác.

Giáo huấn Công Giáo chủ trương rằng các hành động đồng tính là vô luân cách nặng, một phần dựa vào Thánh Kinh. Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo trưng dẫn chương thứ nhất thư của Thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma; chương này dạy rằng sự lệch lạc về tính dục là hậu quả của bất trung và thờ ngẫu thần: “Bởi thế, Thiên Chúa đã để mặc họ buông theo dục tình đồi bại. Đàn bà không quan hệ theo lẽ tự nhiên, mà lại làm điều trái tự nhiên. Đàn ông cũng vậy, không quan hệ với đàn bà theo lẽ tự nhiên, mà lại đem lòng thèm muốn lẫn nhau: đàn ông bậy bạ với đàn ông”. Ngoài ra, giáo huấn chính thức cũng coi các hành vi đồng tính trái ngược với luật tự nhiên. Nếu mọi hành vi tính dục phải mở cửa chào đón việc truyền sinh, thì các liên hệ đồng tính dĩ nhiên nằm ngoài phạm vi các tác phong được chấp nhận về luân lý. Điểm mấu chốt ở đây là: người Công Giáo đồng tính nào muốn trung thành với giáo huấn của Giáo Hội, thì cần phải sống độc thân suốt đời.

Giáo huấn Công Giáo cũng coi gia đình tự nhiên của con người, đặt căn bản trên việc kết hợp suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà và sẵn sàng chào đón con cái, là viên đá căn bản để xây dựng xã hội, đồng thời là lò luyện trong đó diễn ra việc đào tạo nền tảng về luân lý nhân bản và đức tin tôn giáo. Lòng kính trọng của Công Giáo đối với gia đình đã được chứng tỏ qua thuật ngữ “Giáo Hội tại gia” dùng để chỉ về nó. Chính vì thế, các nhà lãnh đạo Công Giáo chống lại bất cứ chính sách công nào nhằm tái định nghĩa bản chất của hôn nhân, hay coi các sắp xếp khác có giá trị như nó; điều này khiến các ngài mạnh mẽ chống lại bất cứ sự nhìn nhận pháp lý nào đối với hôn nhân đồng tính hay các cuộc kết hợp dân sự.

Xin nói rõ: việc kết án có tính luân lý của Công Giáo chỉ nhắm tác phong đồng tính, chứ không nhắm người đồng tính. Khi nói tới đồng tính luyến ái, nhiều người Công Giáo trích dẫn câu châm ngôn xưa, vốn được gán cho Thánh Augustinô: “Yêu người tội lỗi, ghét điều tội lỗi”. Sách Giáo Lý thì dạy thế này: người đồng tính “không chọn tình cảnh của họ” và “đối với phần đông họ, đây là một cơn thử thách”. Sách cũng cho hay: người đồng tính “phải được chấp nhận một cách tôn trọng, cảm thương, và nhậy cảm” và “phải tránh mọi dấu hiệu kỳ thị bất công đối với họ”. (Chữ chủ yếu ở đây là “bất công”. Tháng 7 năm 1992, Vatican cho rằng có những phạm vi trong đó không phải là kỳ thị bất công khi dựa vào xu hướng tính dục, thí dụ việc trao trẻ em làm con nuôi hay được dưỡng nuôi, tuyển dụng thầy giáo hay huấn luyện viên, và trong việc tuyển quân).

Dù giáo huấn Công Giáo không coi xu hướng đồng tính là tội lỗi, vì nó không nhất thiết được chọn lựa, điều này không có nghĩa Giáo Hội coi xu hướng này trung lập về luân lý. Trong một văn kiện được Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, sau đó là Đức Bênêđíctô XVI, ký năm 1996, Tòa Thánh tuyên bố rằng : “Mặc dù xu hướng đặc thù của người đồng tính không phải là một tội, nó ít nhiều vẫn là một khuynh hướng mạnh mẽ hưóng người ta về một sự xấu luân lý nội tại; và do đó, phải coi khuynh hướng này như một rối loạn khách quan”.

Còn tiếp