Thứ Bảy, 1 tháng 9, 2018
VHTK Thánh Phêrô Nguyễn Văn Tự, linh mục Ngày 05 tháng 9
Ngày 05 tháng 9 Con không còn ở trong thế gian nữa, nhưng họ, họ ở trong thế gian; phần con, con đến cùng Cha. Khi còn ở với họ, con đã gìn giữ họ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con. Con đã canh giữ, và không một ai trong họ phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng, để ứng nghiệm lời Kinh Thánh. Bây giờ, con đến cùng Cha, và con nói những điều này lúc còn ở thế gian, để họ được hưởng trọn vẹn niềm vui của con. Con đã truyền lại cho họ lời của Cha, và thế gian đã ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian. Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian.Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật. Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến. And now I will no longer be in the world, but they are in the world, while I am coming to you. Holy Father, keep them in your name that you have given me, so that they may be one just as we are. When I was with them I protected them in your name that you gave me, and I guarded them, and none of them was lost except the son of destruction, in order that the scripture might be fulfilled. But now I am coming to you. I speak this in the world so that they may share my joy completely. I gave them your word, and the world hated them, because they do not belong to the world any more than I belong to the world. I do not ask that you take them out of the world but that you keep them from the evil one. They do not belong to the world any more than I belong to the world. Consecrate them in the truth. Your word is truth. As you sent me into the world, so I sent them into the world. And I consecrate myself for them, so that they also may be consecrated in truth.* Chủ đề của hình này là gì ?………………………………………………….* Bạn hãy viết câu Tin mừng thánh Gioan 17,15 ………………………………………………….………………………………………………….………………………………………………….…………………………………………………. Khi Đức Giêsu còn ở với các môn đệ, Người đã làm gì họ trong Danh Cha mà Cha đã ban cho Người ? (Ga 17,12)a. Dạy dỗb. Hướng dẫnc. Gìn giữd. Chúc phúc Ai đã ghét các môn đệ ? (Ga 17,14)a. Thế gianb. Vua chúac. Ma quỷd. Cả a, b và c đúng Đức Giêsu xin Cha làm gì cho các môn đệ khỏi ác thần? (Ga 17, 15)a. Gìn giữb. Đe dọa ma quỷc. Xua trừ ác thầnd. Cầu nguyệnĐức Giêsu xin Cha lấy sự thật mà làm gì cho họ ? (Ga 17,17) a. Nâng đỡb. Cầu bầuc. Che chởd. Thánh hiến. Đức Giêsu nói : Con đã canh giữ, và không 1 ai trong họ phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng, để ứng nghiệm lời gì ? (Ga 17,12) a. Thiên Chúa nói với mọi ngườib. Kinh Thánhc. Các tông đồd. Thánh Phaolô Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Tự, Sinh năm 1796 tại Ninh Cường, Bùi Chu, dòng Ða Minh, chịu tử đạo dưới triều vua nào ?a. Vua Tự Đức (1847-1883)b. Chúa Trịnh Sâm (1767-1782)c. Vua Minh Mạng (1820-1841)d. Vua Cảnh Thịnh (1782-1802) Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Tự chịu tử đạo thế nào ?a. Bị xử giảo b. Bị xử trảmc. Bị thiêu sống d. Bị xử lăng trì Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Tự chịu tử đạo tại Bắc Ninh vào năm nào ?a. Năm 1773 b. Năm 1838c. Năm 1859 d. Năm 1862 Linh mục Phêrô Nguyễn Văn Tự được Đức Giáo Hoàng nào tôn phong lên bậc chân phước (1900) ?a. Đức Giáo hoàng Piô Xb. Đức Giáo hoàng Lêô XIIIc. Đức Giáo hoàng Piô XIId. Đức Giáo hoàng Gioan XXIII Thánh Phêrô Nguyễn Văn Tự được mừng kính vào ngày nào ?aNgày 21 tháng 12 b. Ngày 11 tháng 10c. Ngày 05 tháng 9 d. Ngày 26 tháng 5 Đức Giêsu đã gìn giữ các môn đệ trong sự gì của Cha ? (Ga 17,12). Đức Giêsu nói : Con đã canh giữ, và không 1 ai trong họ phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng, để ứng nghiệm lời gì ?(Ga 17,12)Đức Giêsu xin Cha làm gì cho họ khỏi ác thần ?(Ga 17,15)Đức Giêsu xin Cha lấy sự thật mà làm gì cho họ ? (Ga 17,17) Đức Giêsu xin Cha làm gì cho họ khỏi ác thần ? (Ga 17,15)06. ... ... ... sự thật.(Ga 17,17) Đức Giêsu cầu nguyện : Con không xin Cha cất họ khỏi đâu nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần ? (Ga 17,15) Lời Cha là gì ? (Ga 17,17) Đức Giêsu đã canh giữ và không 1 ai trong các môn đệ phải thế nào ? (Ga 17,12)Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì ?Tin Mừng thánh Gioan 17,15+++++++++++++++++++++++ * Chủ đề Thánh Phêrô Nguyễn Văn Tự* Tin mừng thánh Gioan 17,15 “Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian,nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần”.a1. c. Gìn giữ (Ga 17,12)a2. a. Thế gian (Ga 17,14)a3. a. Gìn giữ (Ga 17, 15)a4. d. Thánh hiến (Ga 17,17)a5. b. Kinh Thánh (Ga 17,12)b1. c. Vua Minh Mạng (1820-1841)b2. b. Bị xử trảmb3. b. Năm 1838b4. b. Đức Giáo hoàng Lêô XIIIb5. c. Ngày 05 tháng 901. Danh (Ga 17,12)02. Kinh Thánh (Ga 17,12)03. Gìn giữ (Ga 17,15) 04. Thánh hiến (Ga 17,17) 05. Gìn giữ (Ga 17,15)06. Lời Cha là (Ga 17,17) 07. Thế gian (Ga 17,15)08. Sự thật (Ga 17,17)09. Hư mất (Ga 17,12)Hàng dọc : ++++++++++++++++++++++++++++Phêrô Nguyễn Văn Tự, Sinh năm 1796 tại Ninh Cường, Bùi Chu, Linh mục dòng Ða Minh, bị xử trảm ngày 5/09/1838 tại Bắc Ninh dưới đời vua Minh Mạng. Đức Lêo XIII đã suy tôn cha Phêrô Nguyễn Văn Tự, linh mục dòng Thuyết Giáo lên bậc Chân Phước ngày 27.05.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh. Lễ kính vào ngày 5/09."Thưa quan tôi kính Thiên Chúa như Thượng Phụ, kính vua như Trung Phụ, và kính Song Thân như Hạ Phụ. Không thể nghe lời cha ruột để hại vua, tôi không vì vua mà phạm đến Thượng Phụ là Thiên Chúa được".Vị tử đạo đã có những lời phân tích mạch lạc quan niệm về trung hiếu của các giáo hữu Việt Nam như trên là một linh mục dòng Thuyết Giáo : cha Phêrô Nguyễn Văn Tự.Sinh quán tại Ninh Cường, huyện Nam Chân, phủ Thiên Trường, tỉnh Nam Định năm 1796. Cậu Phêrô Tự đã dâng mình cho Chúa từ niên thiếu. Năm 1826, thày thụ phong linh mục, sau đó xin vào dòng Đaminh và được cha chính Amandi Chiêu nhận lời khấn ngày 04.01.1827. Suốt 12 năm đời linh mục, cha Phêrô là một tu sĩ gương mẫu và là cha truyền giáo nhiệt thành. Hồ sơ phong thánh ghi nhận cha luôn tận tụy với công việc, không quản ngại khó khăn, luôn đối xử hòa nhã và rất mực yêu thương mọi người.Năm 1838, cha Tự được cử phụ trách xứ Đức Trai còn gọi là Kẻ Mốt, thuộc tỉnh Bắc Ninh. Lúc này cuộc bách hại của vua Minh Mạng khá gay cấn, nên cha phải thi hành tác vụ của mình lén lút. Một thân hào tên Quang đã cho cha đến trú ẩn tại vườn nhà ông. Mỗi sáng cha dâng lễ ngay trong vườn đó. Ngày 29.06, khi quân lính kéo đến bào vây làng Kẻ Mốt để bắt cha Tự, thì ngài được anh em tín hữu đưa lánh qua làng bên. Nhưng quân lính sau khi lục soát, tìm thấy áo lễ và chén lễ của cha, đến lượt ông lang Ninh mới bị dọa đánh đã khai ra chỗ cha đang ẩn trốn. Cùng bị bắt với cha Tự có thày giảng Đaminh Úy, dòng ba Đaminh, 26 tuổi, một trợ tác đắc lực của ngài.Khi bị giải về huyện Lương Tài, quan huyện ngỏ ý đòi vị linh mục nộp tiền chuộc, nhưng cha bình tĩnh trả lời : "Đối với tôi, bị bắt vì đạo là một hồng ân Chúa ban, tiền bạc thì tôi không có, còn phiền giáo hữu thì tôi không muốn chút nào". Đến ngày 03.07, sau khi bắt thêm được bốn ông Trùm ở bốn giáo xứ và một giáo hữu trong vùng, quan cho áp giải tất cả về Ninh Thái (Thị xã Bắc Ninh ngày nay).Sáng hôm sau, quan cho gọi cha Phêrô ra hỏi. Ông lịch sự cho mời cha vào nhà, cho ngồi chiếu tử tế, rồi với giọng ngọt ngào, quan yêu cầu cha khai tên các giáo sĩ giáo phận. Cũng bằng giọng điệu lịch sự không kém, cha thong thả kể tên hai Đức cha và sáu linh mục, những người đã bị bắt rồi, thế cũng đủ làm viên quan gật gù ra vẻ đắc ý lắm. Một tuần sau, phải lại cho mời cha đến và yêu cầu cha cắt nghĩa về các đồ thờ, áo lễ, chén lễ của cha mà họ tịch thu. Cha được dịp giảng đạo lý Công Giáo cho các quan nghe, bác bỏ những tin đồn bịa đặt về đạo, về các nghi lễ, cũng như về các giáo hữu.Trong thời gian bị giam tại huyện, bất ngờ cha Tự thấy trong sổ sách của mình bị tịch thu, có cuốn sổ ghi tên tất cả các giáo hữu ở Kẻ Mốt, ngài liền tìm cách để hủy nó đi, nhưng làm sao bây giờ ? Vì quân lính canh gác kỹ quá. Cha liền bày kế xin họ một cái chiếu, lấy cớ đắp cho đỡ muỗi, rồi nằm trong chiếu, cha nhẩn nha nhai và nuốt cuốn sổ ấy. Dĩ nhiên "món ăn" này không hợp khẩu vị chút nào, nên mơi ăn được hai phần, cha đã thấy rát cả cổ, không thể nuốt nổi nữa, thế là cha đành nhai cho nát rồi ném dưới gầm phản.Điều làm cha đau lòng nhất là thấy nhiều người bị bắt với cha đã đạp Thánh Giá để được về. Cha không ngưng nhắc nhở lời Chúa xưa : "Ai chối Thày trước mặt người đời, Thày sẽ chối kẻ ấy trước mặt Cha Thày, Đấng ngự trên trời" (Mt. 10,33). Cha nói tiếp : "Trời đất qua đi, nhưng lời Chúa chẳng qua" (Mt. 5,18), "Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, kẻo sa ngã trước thử thách" (Mt. 26,41)… Nhưng cha vẫn được an ủi vì sự kiên trung của hai thày giảng Phanxicô Mậu, Đaminh Úy và bốn giáo dân Giuse Cảnh, Tôma Đệ, Agustinô Mới và Stêphanô Vinh. Tất cả đều là hội viên dòng Ba Đaminh, sau này được phúc tử đạo (19.12.1839).Ngày 27.7.18, Tổng đốc Bắc Ninh đệ án về triều đình xin xử gảo cha Phêrô và ông Trùm Cảnh, còn năm người kia, đánh mỗi người 100 roi, rồi phát lưu họ vào Bình Định. Nhưng vua phúc đáp yêu cầu cho tra hỏi lại, nếu bỏ đạo thì ân xá, nếu cố chấp thì xử chém hai vị trên và xử giảo hai vị còn lại.Ngày 09.8 quan đòi bẩy vị ra tòa. Khi thì dọa dẫm, khi thì ngọt ngào, quan dụ dỗ các vị đạp lên Thánh Giá. Trước hết, quan lịch sự mời cha Tự làm gương. Ông nói thực tình muốn tha cho cha. Nhưng cũng bằng lời nói khiêm tốn tinh tế, vị linh mục nói với ông về Thượng Phụ, Trung Phụ và Hạ Phụ, cũng như trật tự kính trọng đối với ba vị đó của mình. cha tiếp : "Người tướng cầm quân đánh giặc, dù binh lính mình chạy hết, tướng cũng không được phép hàng giặc. Tôi là linh mục, dù giáo dân bị tan tác, vẫn phải một lòng trung thành với Thiên Chúa". Sau lời khẳng khái của cha, quan biết nói thêm cũng vô ích, nên ra lệnh giam cha vào ngục.Biết ngày xử án sắp tới, cha Tự nhờ một giáo hữu mời linh mục Phương xứ Kẻ Roi đến giải tội. Từ hôm đó, cha tỏ ra vui vẻ khác thường, mong chờ ngày hạnh phúc. Sáng ngày 05.9, bản án về tới Bắc Ninh, cha và ông Trùm Giuse Cảnh bị điệu đi xử. Hai vị cười cười nói nói, tạm biệt các đồng bạn. Cha lấy tu phục ra mặc, cụ Cảnh cũng khoác tấm áo dòng ba. Thấy cha rạng rỡ trong bộ áo trắng, quan thắc mắc về ý nghĩa bộ áo, cha giải thích : "Đây là áo dòng tu lớn trong Giáo Hội mà tôi hân hạnh là phần tử. Mầu trắng tiêu biểu cho đức khiết tịnh mà tôi hết lòng gìn giữ…"Rồi cầm lấy Tượng Chịu Nạn, cha nói tiếp : "Đây là chúa cứu thế, đã chịu đóng đinh vì tội thiên hạ. Xin quan cho phép tôi được mang áo dòng và cầm Thánh Giá này khi đi xử".Quan không nói gì cả, hiểu ngầm là đồng ý. Bấy giờ dân chúng hiếu kỳ chen lẫn nhau ùa đến xem, cha xin phép quan nnói đôi lời. Thế là trong gần một giờ đồng hồ, cha giảng về Chúa Giêsu, và ơn cứu độ, về mọi người là anh em con cùng một Cha trên Trời.Trên đường ra pháp trường, lính xếp hàng đi hai bên, cha Tự và cụ Cảnh đi ở giữa, vừa đi vừa sốt sắng đọc kinh Cầu Các Thánh. Pháp trường là một ngọn đồi nhỏ, ở ngoài thành Kinh Bắc. Đến nơi, hai vị quỳ xuống hai chiếu đã trải sẵn. Theo tiếng trống lệnh, lý hình thi hành phận sự, chém rồi tung đầu hai vị lên cho mọi người trông thấy. Tức thì nhiều người, trong đạo cũng như ngoại đạo, xô nhau chạy vào để thấm máu các ngài. Một người về sau chuộc được ảnh Thánh Giá của cha, trao lại cho dòng Đaminh. Trong hồ sơ phong thánh, người ta thuật lại nhiều ơn lạ Chúa đã thực hiện nhờ các di tích này.Vị chứng nhân áo trắng đã về trời với tấm lòng son ngày 05.09.1838. Thi hài cha được lệnh chôn ngay gần đó, giáo hữu phải bỏ tiền chuộc đưa về an táng tại họ Nghĩa Vũ, huyện Yên Dũng, cũng thuộc tỉnh Bắc Ninh.Đức Lêo XIII đã suy tôn cha Phêrô Nguyễn Văn Tự, linh mục dòng Thuyết Giáo lên bậc Chân Phước ngày 27.05.1900. Ngày 19-06-1988, Đức Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.Nguồn từ thư viện Đa MinhLinh mục Phêrô Nguyễn Văn TựNăm Bính Thìn (1796) vinh dự minh cườngVào dòng Ðaminh thân thươngHằng ngày giảng đạo huyện đường bắt giamCha Nguyễn Tự gian nan không ngạiTại Bắc Ninh bách hại gắt gaoCó ông Quang một thân hào Ðưa Cha trú ẩn, trốn vào vườn ôngSáng Cha dâng lễ, không kịp nghỉLính tới vây, dân chỉ Cha điLàng bên lánh nạn tức thìBọn chúng lục soát, chúng nghi nơi nàyLính kiếm được đúng ngay áo lễChén Thánh kia, đang để trong nhàTập trung dân chúng khảo traNhiều người từ chối, nói là không hayÐến người chót, ông này bị dọaLà Lang Ninh, thưa đã nộp ChaBắt luôn Thầy Úy nữa màCha khai làm bếp, coi nhà giúp tôiLính áp giải vào ngồi thị trấnTại nơi đây phỏng vấn cung khaiTruy tìm các vị Thừa saiSong Cha chẳng nói, dông dài mà chiMột bội giáo, hắn thì xấc láoÔng phải khai, ta bảo ăn đònCha mắng lại, mày chó conGặp quan tao nói, hết còn tuy toeTôn tức giận vỉa hè ngồi nắngTrả thù Cha, đã mắng chửi anhKhi quan đến đã mời nhanhVào nhà tham luận, chân thành đổi traoQuan lại hỏi, có bao giáo sĩCha Tự ngồi, ngẫm nghĩ đã khaiCó hai Giám mục thưa ngàiBảy nhà truyền giáo, giỏi tài tuổi tênQuan mừng lắm không quên cảm tạBé cái lầm toàn đã bắt rồiBiết ra quan đã hỡi ôiRa tòa lần khác, sẽ thời biết taQuan lại hỏi chuyển qua chuyện khácCác đồ thờ, cho các quan ngheÁo lễ chén Thánh đây nèCha liền rao giảng, chẳng che giấu gìQuan liền báo ta thì cho biếtHai ngày sau đặc biệt ra ròaGiáo dân bị bắt khảo traBước qua Thập Giá, để mà được tha Ðược tin ấy thì Cha buồn thảmVề ngục giam can đảm nhủ khuyênHai ngày cầu nguyện triền miênKhông đem kết quả, buồn phiền xảy raBốn Trùm xứ mất ba còn mộtCụ bảy lăm rất tốt lương yLệnh vua thay đổi tức thìTập trung phòng lớn, bảng ghi rõ ràngMột bên Thánh Giá ngang mặt đấtCòn bên kia đủ tất khổ hìnhKhi thì mềm dẻo nghĩa tìnhKhi thì đe doạ, thình lình nổi lênCha Nguyễn Tự gọi tên để bướcNgài trả lời, sao được phản ThầyGiêsu là Chúa tôi đâyÔng quan lại nói, việc này tùy ôngÐến pháp trường rất đông binh línhCha con một cũi dính chung nhau Ðọc kinh sốt sắng nguyện cầuÐường dài dẫn giải, khá lâu pháp trườngTới nơi xử khẩn trương trải chiếuCha con quỳ theo kiểu nguyện kinhQuan hiệu lệnh hai lý hìnhChém đều một lúc, thân mình đầu rơiDân xô lại tận nơi thấm máuCùng họ hàng con cháu lo chônLương dân gây khó làm ồnXác Cha phải chuộc, nghe đồn khá toSáu mươi lạng bạc, lo để chuộcGặp cái eo, bắt buộc phải tuânNghĩa vụ chôn táng mộ phầnChứng nhân tử đạo, hồng ân Nước TrờiPhúc tử đạo sáng ngời Mậu Tuất (1838)Chết tuyên xưng chẳng khuất phục quanRoma Toà Thánh lệnh banSuy tôn Canh Tý (1900) hân hoan đón mừng Quan huyện ngỏ ý đòi tiền chuộc, nhưng cha Tự bình tĩnh trả lời: "Ðối với tôi bị bắt vì đạo là một hồng ân Chúa ban, tiền bạc thì tôi không có, còn phiền giáo hữu thì tôi không muốn chút nào"..cha nói tiếp: "Người tướng cầm quân đánh giặc, dù binh lính mình chạy hết, tướng cũng không được phép hàng giặc. Tôi la linh mục, dù giáo dân bị tan tác, vẫn phải một niềm trung thành với Thiên Chúa".
Biên niên sử của Giáo hội Công giáo Việt Nam
Biên niên sử của Giáo hội Công giáo Việt Nam
1. Thế kỷ 16
1533: Theo dã sử, vào tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ I (1533), một người Âu Châu tên Inekhu lén đến truyền giáo ở làng Ninh Cường, huyện Nam Chân và làng Trà Lũ, huyện Giao Chỉ thuộc Giáo phận Bùi Chu, tỉnh Nam Định ngày nay (Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, q. XXXIII, tập II, tr. 301, Viện Sử học, NXB. Giáo dục 1988).
1550: Cha Gaspar da Santa Cruz, dòng Đaminh từ Malacca đến Hà Tiên truyền giáo, thời đó Hà Tiên thuộc Cambodia.
1580 – 1586: Cha Louis da Fonseca và Cha Gregoire de la Motte dòng Đaminh đến truyền giáo tại Quảng Nam.
1583: Các Cha Bartolomew Ruiz, Pedro Ortis, Francis de Montilla và bốn trợ sĩ dòng Phanxicô từ Philippines đến truyền giáo tại miền Bắc.
1591: Cha Pedro Ordoñez de Cevallos Rửa tội cho công chúa Mai Hoa (Maria Flora). Bà là chị của vua Lê Thái Tông.
2. Thế kỷ 17
1615: (18/01) Đoàn truyền giáo đầu tiên của dòng Tên đến cửa Hàn, Đà Nẵng, do Cha Francois Buzomiand dẫn đầu, cùng với Cha Diego Carvalho và 3 trợ sĩ: Antonio Dias, Joseph, và Paulo Saito.
1624: Cha Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ), dòng Tên (1593 - 1660) đến Hải Phố để học Tiếng Việt với Cha F. de Pina. Ngài cũng chứng kiến Bí tích Rửa tội cho bà Minh Đức Vương Thái Phi, vợ lẽ của Chúa Nguyễn Hoàng. Bà lấy tên thánh là Maria Madalena.
1625: Tháng 12, Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên ra sắc chỉ cấm người Công giáo Việt Nam không được mang trên mình hoặc treo trong nhà thánh giá và các ảnh tượng.
1628: (18/06) Trịnh Tráng ra lệnh cấm người Việt không được tiếp xúc với các thừa sai (Tây Dương Đạo Trưởng). Lúc này tại Đàng Ngoài (Miền Bắc) đã có hơn 1.600 tín hữu Công giáo.
1630: Tháng 4, Cha Đắc Lộ và các thừa sai bị trục xuất khỏi Đàng Ngoài. Một tín hữu tên thánh Phanxicô, phu khiêng cáng ở triều đình, bị chém đầu vì tội chôn xác chết. Ông là chứng nhân đức tin đầu tiên ở Đàng Ngoài.
1639: Miền Bắc đã có 82.000 tín hữu Công giáo (căn cứ trên hồ sơ rửa tội). Miền Trung có khoảng 15.000 giáo dân Công giáo.
1644: (26/07) thầy Anrê Phú Yên chịu tử đạo tại Quảng Nam. Thầy là chứng nhân đức tin đầu tiên của Đàng Trong. Cha Đắc Lộ mạo hiểm ở lại Miền Trung nên bị bắt, bị cầm tù và sau đó bị trục xuất.
1651: Tại Rôma, Cha Đắc Lộ cho xuất bản 3 tác phẩm quốc ngữ đầu tiên do chính Cha biên soạn và nhà xuất bản Đa Ngữ Thánh Bộ Truyền Giáo ấn hành:
- Ngày 05/02/1651: Từ điển Việt - Bồ - La
- Ngày 05/02/1651: Sách Văn Phạm Việt Nam
- Ngày 02/10/1651: Sách song ngữ Phép Giảng Tám Ngày.
1659: Đức Thánh Cha Alexander III ban sắc lệnh thành lập 2 giáo phận truyền giáo đầu tiên tại Việt Nam.
1960: Cha Đắc Lộ muốn trở lại truyền giáo tại Việt Nam nhưng không thành. Cha đã được sai sang truyền giáo tại Batư (1654) và yên nghỉ tại Ispahan (05/11/1660).
1663: (12/11) Những vị thừa sai dòng Tên cuối cùng bị trục xuất, chấm dứt thời kỳ khai phá của dòng Tên tại Đàng Ngoài.
1665: Tháng 2, tất cả các vị thừa sai dòng Tên đều bị trục xuất, chấm dứt thời kỳ khai phá của dòng Tên tại Đàng Trong.
1668: Tại chủng viện Ayutthaya, Thái Lan, bốn linh mục Việt Nam đầu tiên được Đức cha Lambert de la Motte thụ phong linh mục: Cha Giuse Trang và Luca Bền (Đàng Trong, được thụ phong vào tháng 3); Cha Bênêdictô Hiền và Gioan Huệ (Đàng Ngoài, được thụ phong vào tháng 6).
1670: Tháng 2, Đức cha Lambert de la Motte họp Công đồng Đàng Ngoài tại Phố Hiến. Ngài cũng thành lập dòng Mến Thánh Giá vào năm này.
1672: (19/01) Đức cha Lambert de la Motte họp Công đồng Đàng Trong tại Hội An (Hải Phố).
1679: Giáo phận Đàng Ngoài được chia thành 2 giáo phận mới: Đông Đàng Ngoài (từ sông Hồng ra biển) do Đức cha Deydier cai quản và Tây Đàng Ngoài (từ sông Hồng đến biên giới Lào) do Đức cha J. de Bourges coi sóc.
3. Thế kỷ 18
1704: Chúa Minh (Nguyễn Phúc Chu) đình chỉ việc cấm đạo vì quý mến một số giáo sĩ dòng Tên người Tây Ban Nha, Cha Juan Antonio Arnedo. Ngài là nhà thiên văn giỏi và là nhà thầy thuốc riêng của chúa tại kinh đô.
1771: Đức cha Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) làm đại diện tông tòa tại Đàng Trong (1771 – 1799).
4. Thế kỷ 19
1802: Vua Nguyễn Ánh thắng nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước, lấy niên hiệu là Gia Long và chọn Phú Xuân (Huế) làm kinh đô. Vì nhớ đến công ơn của Đức cha Bá Đa Lộc, vua Gia Long không bách hại đạo, nhưng cũng không nâng đỡ. Tuy nhiên, Giáo hội Việt Nam được một thời gian ngắn sống bình an và phát triển.
1825: Vua Minh Mạng ra sắc chỉ cấm đạo gồm hai điểm: (1) Cấm các giáo sĩ ngoại quốc theo tàu buôn vào Việt Nam; (2) Tập trung các giáo sĩ ngoại quốc vào những điểm được chỉ định để kiểm soát.
1841: Vua Minh Mạng qua đời, vua Thiệu Trị lên nối ngôi và ra lệnh ân xá cho tất cả các tù nhân Công giáo được trở về quê hương. Nhà vua không bắt đạo gắt gao nhưng cũng không hủy bỏ những chỉ dụ cấm đạo.
1844: Đức Thánh Cha chia Giáo phận Đàng Trong thành hai giáo phận mới: Giáo phận Đông Đàng Trong (Quy Nhơn) và Giáo phận Tây Đàng Trong (Sài Gòn) gồm lục tỉnh Nam Kỳ và Cao Miên.
1846: Giáo phận Tây Đàng Ngoài được chia làm hai: Giáo phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội) và Giáo phận Nam Đàng Ngoài (Vinh, Nghệ An).
1848: Vua Tự Đức ra chiếu chỉ cấm Gia Tô tả đạo.
1850: Tòa Thánh chia Giáo phận Đông Đàng Trong thành hai giáo phận: Giáo phận Bắc Đàng Trong (một phần của tỉnh Quãng Bình, Quãng Trị và Thừa Thiên) và Giáo phận Đông Đàng Trong (từ Đà Nẵng, Quy Nhơn đến Phan Thiết); Giáo phận Tây Đàng Trong được chia làm hai: Giáo phận Tây Đàng Trong (từ Đồng Nai đến Vĩnh Long) và Giáo phận Nam Vang (nước Campodia và các tỉnh phía Nam Hậu Giang của Việt Nam).
1856: Tàu Pháp bắn phá cảng Đà Nẵng. Vua Tự Đức nổi giận, ra chiếu chỉ cấm đạo lần thứ tư (1858). Các Tây Dương Đạo Trưởng bị bắt sẽ phải chịu chém, bêu đầu ba ngày ở những nơi công cộng và quăng xác xuống biển.
1861: Pháp chiếm thành Kỳ Hòa, mở rộng vùng kiểm soát tới Biên Hòa, Tây Ninh, Mỹ Tho và Vĩnh Long. Tình hình chính trị và ngoại giao càng bất ổn, triều đình càng căm thù và ra tay giết các tín hữu Công giáo. Các tín hữu tại Ba Giồng, Hữu Đạo, Biên Hòa, Bà Rịa bị sát hại tập thể.
1862: Hòa ước Nhân Tuất có khoản quy định về tự do tôn giáo nhưng vua Tự Đức vẫn duy trì việc cấm đạo. Những cuộc sát hại tập thể tiếp tục diễn ra ở Nam Định, Hưng Yên và Biên Hòa.
1895: Giáo phận Hưng Hóa được thiết lập gồm các tỉnh Sơn Tây, Yên Bái, Hòa Bình và Lai Châu.
Tóm kết: Dưới thời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, Việt Nam có hơn 40.000 tín hữu Công giáo minh chứng cho đức tin Công giáo. Dù trải qua nhiều cuộc bắt đạo, nhưng đến năm 1890, Việt Nam vẫn có 708.000 tín hữu Công giáo.
5. Thế kỷ 20
1925: (20/05) Lập tòa Khâm Sứ Tòa Thánh tại Việt Nam (gồm cả Thái Lan, Cambodia và AiLao) tại Huế, sau đó dời ra Hà Nội (1951) và dời vào Sài Gòn (1959).
1933: (11/06) Việt Nam có giám mục tiên khởi người bản xứ: Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng. Đức cha được tấn phong giám mục tại đền thờ thánh Phêrô, Vatican.
1934: Công đồng Đông Dương tiên khởi họp tại Hà Nội.
1945: Cách mạng tháng 8 thành công và nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời.
1954: Sau hiệp định Geneve, Việt Nam bị chia đôi từ vĩ tuyến 17 và cuộc di cư của gần 1.000.000 người từ Bắc vào Nam.
1960: (24/11) Thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam. Các giáo phận hiệu tòa trở thành chánh tòa với 3 tòa Tổng giám mục: Hà Nội, Huế và Sài Gòn.
1975: Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra đời.
1980: (24/04 - 1/05) Đại Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đầu tiên họp tại Hà Nội. HĐGM đã ra thư chung “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”.
1987: Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn được mở cửa trở lại sau 5 năm tạm ngưng.
1988: (09/06) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II truyên phong 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam.
1989: (01-13/07) Đức Hồng Y Roger Etchegaray đến thăm Việt Nam. Đây là lần đầu tiên một viên chức cao cấp của Tòa Thánh đến thăm Việt Nam kể từ năm 1975.
1991: (25/09) Mẹ Teresa Calcutta đến thăm Việt Nam.
1993: (18/10) Hội nghị Thường Niên của Hội Đồng Giám Mục họp lần đầu tiên tại Tp. HCM.
1998: Khi mạc Thượng Hội Đồng Giám mục Á Châu ở Rôma. Đây là Thượng hội đồng có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam. Ngày 24 tháng 6, Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận được bổ nhiệm làm chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình.
6. Thế kỷ 21
2000: Năm thánh: Tôn vinh Chúa Ba Ngôi và Bí tích Thánh Thể. Thầy giảng Anrê Phú Yên được tôn phong chân phước.
2002: (14-23/01) Đoàn Giám mục Việt Nam, 24 vị, đi “ad limina”
2003: Đức Thánh Cha bổ nhiệm Sứ Thần Tòa Thánh người Việt Nam đầu tiên tại Togo và Benin (Phi Châu): Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Tốt.
2005: (22/11) Thành lập Giáo phận Bà Rịa. Việt Nam bắt đầu chính thức có 26 giáo phận. Đức Hồng Y Crescenzio Sepe, Tổng trưởng Thánh Bộ Loan Báo Tin Mừng đến thăm Việt Nam (28/11- 05/12).
2010: Năm thánh kỷ niệm 350 năm thàng lập hai Giáo phận: Đàng Ngoài và Đàng Trong; kỷ niệm 50 năm thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam.
2011: Ngày 13/11 Tổng Giám mục Leopondo Girelli được đặt làm Đại diện Tòa Thánh không thường trú tại Việt Nam.
2012: (10-16/12) Liên HĐGM Á Châu (FABC) lần thứ X được tổ chức tại Gp. Xuân Lộc và Tp. HCM.
2015: (4/1) Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn được chọn làm Hồng y. Đây là vị Hồng y thứ sáu của GHCGVN.
1533: Theo dã sử, vào tháng 3 năm Nguyên Hòa thứ I (1533), một người Âu Châu tên Inekhu lén đến truyền giáo ở làng Ninh Cường, huyện Nam Chân và làng Trà Lũ, huyện Giao Chỉ thuộc Giáo phận Bùi Chu, tỉnh Nam Định ngày nay (Sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, q. XXXIII, tập II, tr. 301, Viện Sử học, NXB. Giáo dục 1988).
1550: Cha Gaspar da Santa Cruz, dòng Đaminh từ Malacca đến Hà Tiên truyền giáo, thời đó Hà Tiên thuộc Cambodia.
1580 – 1586: Cha Louis da Fonseca và Cha Gregoire de la Motte dòng Đaminh đến truyền giáo tại Quảng Nam.
1583: Các Cha Bartolomew Ruiz, Pedro Ortis, Francis de Montilla và bốn trợ sĩ dòng Phanxicô từ Philippines đến truyền giáo tại miền Bắc.
1591: Cha Pedro Ordoñez de Cevallos Rửa tội cho công chúa Mai Hoa (Maria Flora). Bà là chị của vua Lê Thái Tông.
2. Thế kỷ 17
1615: (18/01) Đoàn truyền giáo đầu tiên của dòng Tên đến cửa Hàn, Đà Nẵng, do Cha Francois Buzomiand dẫn đầu, cùng với Cha Diego Carvalho và 3 trợ sĩ: Antonio Dias, Joseph, và Paulo Saito.
1624: Cha Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ), dòng Tên (1593 - 1660) đến Hải Phố để học Tiếng Việt với Cha F. de Pina. Ngài cũng chứng kiến Bí tích Rửa tội cho bà Minh Đức Vương Thái Phi, vợ lẽ của Chúa Nguyễn Hoàng. Bà lấy tên thánh là Maria Madalena.
1625: Tháng 12, Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên ra sắc chỉ cấm người Công giáo Việt Nam không được mang trên mình hoặc treo trong nhà thánh giá và các ảnh tượng.
1628: (18/06) Trịnh Tráng ra lệnh cấm người Việt không được tiếp xúc với các thừa sai (Tây Dương Đạo Trưởng). Lúc này tại Đàng Ngoài (Miền Bắc) đã có hơn 1.600 tín hữu Công giáo.
1630: Tháng 4, Cha Đắc Lộ và các thừa sai bị trục xuất khỏi Đàng Ngoài. Một tín hữu tên thánh Phanxicô, phu khiêng cáng ở triều đình, bị chém đầu vì tội chôn xác chết. Ông là chứng nhân đức tin đầu tiên ở Đàng Ngoài.
1639: Miền Bắc đã có 82.000 tín hữu Công giáo (căn cứ trên hồ sơ rửa tội). Miền Trung có khoảng 15.000 giáo dân Công giáo.
1644: (26/07) thầy Anrê Phú Yên chịu tử đạo tại Quảng Nam. Thầy là chứng nhân đức tin đầu tiên của Đàng Trong. Cha Đắc Lộ mạo hiểm ở lại Miền Trung nên bị bắt, bị cầm tù và sau đó bị trục xuất.
1651: Tại Rôma, Cha Đắc Lộ cho xuất bản 3 tác phẩm quốc ngữ đầu tiên do chính Cha biên soạn và nhà xuất bản Đa Ngữ Thánh Bộ Truyền Giáo ấn hành:
- Ngày 05/02/1651: Từ điển Việt - Bồ - La
- Ngày 05/02/1651: Sách Văn Phạm Việt Nam
- Ngày 02/10/1651: Sách song ngữ Phép Giảng Tám Ngày.
1659: Đức Thánh Cha Alexander III ban sắc lệnh thành lập 2 giáo phận truyền giáo đầu tiên tại Việt Nam.
- Giáo phận Đàng Trong: Từ sông Gianh vào Nam, gồm Chiêm Thành và Cao Miên, do Đức cha Pierre Lambert de la Motte làm Đại diện tông tòa.
- Giáo phận Đàng Ngoài: Từ sông Gianh trở ra Miền Bắc và Miền Nam Trung Hoa, do Đức cha Francois Pallu cai quản.
1960: Cha Đắc Lộ muốn trở lại truyền giáo tại Việt Nam nhưng không thành. Cha đã được sai sang truyền giáo tại Batư (1654) và yên nghỉ tại Ispahan (05/11/1660).
1663: (12/11) Những vị thừa sai dòng Tên cuối cùng bị trục xuất, chấm dứt thời kỳ khai phá của dòng Tên tại Đàng Ngoài.
1665: Tháng 2, tất cả các vị thừa sai dòng Tên đều bị trục xuất, chấm dứt thời kỳ khai phá của dòng Tên tại Đàng Trong.
1668: Tại chủng viện Ayutthaya, Thái Lan, bốn linh mục Việt Nam đầu tiên được Đức cha Lambert de la Motte thụ phong linh mục: Cha Giuse Trang và Luca Bền (Đàng Trong, được thụ phong vào tháng 3); Cha Bênêdictô Hiền và Gioan Huệ (Đàng Ngoài, được thụ phong vào tháng 6).
1670: Tháng 2, Đức cha Lambert de la Motte họp Công đồng Đàng Ngoài tại Phố Hiến. Ngài cũng thành lập dòng Mến Thánh Giá vào năm này.
1672: (19/01) Đức cha Lambert de la Motte họp Công đồng Đàng Trong tại Hội An (Hải Phố).
1679: Giáo phận Đàng Ngoài được chia thành 2 giáo phận mới: Đông Đàng Ngoài (từ sông Hồng ra biển) do Đức cha Deydier cai quản và Tây Đàng Ngoài (từ sông Hồng đến biên giới Lào) do Đức cha J. de Bourges coi sóc.
3. Thế kỷ 18
1704: Chúa Minh (Nguyễn Phúc Chu) đình chỉ việc cấm đạo vì quý mến một số giáo sĩ dòng Tên người Tây Ban Nha, Cha Juan Antonio Arnedo. Ngài là nhà thiên văn giỏi và là nhà thầy thuốc riêng của chúa tại kinh đô.
1771: Đức cha Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) làm đại diện tông tòa tại Đàng Trong (1771 – 1799).
4. Thế kỷ 19
1802: Vua Nguyễn Ánh thắng nhà Tây Sơn, thống nhất đất nước, lấy niên hiệu là Gia Long và chọn Phú Xuân (Huế) làm kinh đô. Vì nhớ đến công ơn của Đức cha Bá Đa Lộc, vua Gia Long không bách hại đạo, nhưng cũng không nâng đỡ. Tuy nhiên, Giáo hội Việt Nam được một thời gian ngắn sống bình an và phát triển.
1825: Vua Minh Mạng ra sắc chỉ cấm đạo gồm hai điểm: (1) Cấm các giáo sĩ ngoại quốc theo tàu buôn vào Việt Nam; (2) Tập trung các giáo sĩ ngoại quốc vào những điểm được chỉ định để kiểm soát.
1841: Vua Minh Mạng qua đời, vua Thiệu Trị lên nối ngôi và ra lệnh ân xá cho tất cả các tù nhân Công giáo được trở về quê hương. Nhà vua không bắt đạo gắt gao nhưng cũng không hủy bỏ những chỉ dụ cấm đạo.
1844: Đức Thánh Cha chia Giáo phận Đàng Trong thành hai giáo phận mới: Giáo phận Đông Đàng Trong (Quy Nhơn) và Giáo phận Tây Đàng Trong (Sài Gòn) gồm lục tỉnh Nam Kỳ và Cao Miên.
1846: Giáo phận Tây Đàng Ngoài được chia làm hai: Giáo phận Tây Đàng Ngoài (Hà Nội) và Giáo phận Nam Đàng Ngoài (Vinh, Nghệ An).
1848: Vua Tự Đức ra chiếu chỉ cấm Gia Tô tả đạo.
1850: Tòa Thánh chia Giáo phận Đông Đàng Trong thành hai giáo phận: Giáo phận Bắc Đàng Trong (một phần của tỉnh Quãng Bình, Quãng Trị và Thừa Thiên) và Giáo phận Đông Đàng Trong (từ Đà Nẵng, Quy Nhơn đến Phan Thiết); Giáo phận Tây Đàng Trong được chia làm hai: Giáo phận Tây Đàng Trong (từ Đồng Nai đến Vĩnh Long) và Giáo phận Nam Vang (nước Campodia và các tỉnh phía Nam Hậu Giang của Việt Nam).
1856: Tàu Pháp bắn phá cảng Đà Nẵng. Vua Tự Đức nổi giận, ra chiếu chỉ cấm đạo lần thứ tư (1858). Các Tây Dương Đạo Trưởng bị bắt sẽ phải chịu chém, bêu đầu ba ngày ở những nơi công cộng và quăng xác xuống biển.
1861: Pháp chiếm thành Kỳ Hòa, mở rộng vùng kiểm soát tới Biên Hòa, Tây Ninh, Mỹ Tho và Vĩnh Long. Tình hình chính trị và ngoại giao càng bất ổn, triều đình càng căm thù và ra tay giết các tín hữu Công giáo. Các tín hữu tại Ba Giồng, Hữu Đạo, Biên Hòa, Bà Rịa bị sát hại tập thể.
1862: Hòa ước Nhân Tuất có khoản quy định về tự do tôn giáo nhưng vua Tự Đức vẫn duy trì việc cấm đạo. Những cuộc sát hại tập thể tiếp tục diễn ra ở Nam Định, Hưng Yên và Biên Hòa.
1895: Giáo phận Hưng Hóa được thiết lập gồm các tỉnh Sơn Tây, Yên Bái, Hòa Bình và Lai Châu.
Tóm kết: Dưới thời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, Việt Nam có hơn 40.000 tín hữu Công giáo minh chứng cho đức tin Công giáo. Dù trải qua nhiều cuộc bắt đạo, nhưng đến năm 1890, Việt Nam vẫn có 708.000 tín hữu Công giáo.
5. Thế kỷ 20
1925: (20/05) Lập tòa Khâm Sứ Tòa Thánh tại Việt Nam (gồm cả Thái Lan, Cambodia và AiLao) tại Huế, sau đó dời ra Hà Nội (1951) và dời vào Sài Gòn (1959).
1933: (11/06) Việt Nam có giám mục tiên khởi người bản xứ: Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng. Đức cha được tấn phong giám mục tại đền thờ thánh Phêrô, Vatican.
1934: Công đồng Đông Dương tiên khởi họp tại Hà Nội.
1945: Cách mạng tháng 8 thành công và nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời.
1954: Sau hiệp định Geneve, Việt Nam bị chia đôi từ vĩ tuyến 17 và cuộc di cư của gần 1.000.000 người từ Bắc vào Nam.
1960: (24/11) Thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam. Các giáo phận hiệu tòa trở thành chánh tòa với 3 tòa Tổng giám mục: Hà Nội, Huế và Sài Gòn.
1975: Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra đời.
1980: (24/04 - 1/05) Đại Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đầu tiên họp tại Hà Nội. HĐGM đã ra thư chung “Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”.
1987: Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn được mở cửa trở lại sau 5 năm tạm ngưng.
1988: (09/06) Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II truyên phong 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam.
1989: (01-13/07) Đức Hồng Y Roger Etchegaray đến thăm Việt Nam. Đây là lần đầu tiên một viên chức cao cấp của Tòa Thánh đến thăm Việt Nam kể từ năm 1975.
1991: (25/09) Mẹ Teresa Calcutta đến thăm Việt Nam.
1993: (18/10) Hội nghị Thường Niên của Hội Đồng Giám Mục họp lần đầu tiên tại Tp. HCM.
1998: Khi mạc Thượng Hội Đồng Giám mục Á Châu ở Rôma. Đây là Thượng hội đồng có ảnh hưởng lớn đến Việt Nam. Ngày 24 tháng 6, Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận được bổ nhiệm làm chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng về Công lý và Hòa bình.
6. Thế kỷ 21
2000: Năm thánh: Tôn vinh Chúa Ba Ngôi và Bí tích Thánh Thể. Thầy giảng Anrê Phú Yên được tôn phong chân phước.
2002: (14-23/01) Đoàn Giám mục Việt Nam, 24 vị, đi “ad limina”
2003: Đức Thánh Cha bổ nhiệm Sứ Thần Tòa Thánh người Việt Nam đầu tiên tại Togo và Benin (Phi Châu): Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Tốt.
2005: (22/11) Thành lập Giáo phận Bà Rịa. Việt Nam bắt đầu chính thức có 26 giáo phận. Đức Hồng Y Crescenzio Sepe, Tổng trưởng Thánh Bộ Loan Báo Tin Mừng đến thăm Việt Nam (28/11- 05/12).
2010: Năm thánh kỷ niệm 350 năm thàng lập hai Giáo phận: Đàng Ngoài và Đàng Trong; kỷ niệm 50 năm thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam.
2011: Ngày 13/11 Tổng Giám mục Leopondo Girelli được đặt làm Đại diện Tòa Thánh không thường trú tại Việt Nam.
2012: (10-16/12) Liên HĐGM Á Châu (FABC) lần thứ X được tổ chức tại Gp. Xuân Lộc và Tp. HCM.
2015: (4/1) Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn được chọn làm Hồng y. Đây là vị Hồng y thứ sáu của GHCGVN.
Trích từ Niên Giám GHCG VN năm 2005
Tác giả: Maria Ngô Thị Nhật
Tác giả: Maria Ngô Thị Nhật
Câu hỏi 59: Ân sủng là gì, và tại sao chúng ta cần đến ân sủng?
Câu hỏi 59: Ân sủng là gì, và tại sao chúng ta cần đến ân sủng?
Ân sủng là một quà tặng đến từ Thiên Chúa. Nó không thuộc về bản tính con người của chúng ta, và do đó, nó được gọi là siêu nhiên, hay vượt trên bản tính tự nhiên của chúng ta. Nó thuộc về Thiên Chúa. Nói một cách đơn giản, ân sủng chính là sự sống của Thiên Chúa ở trong bạn. Nguồn gốc của ân sủng là Thiên Chúa – một cách đặc biệt nhất, đó là công trạng của Đức Giêsu Kitô trên thập giá – và ân sủng là tuyệt đối cần thiết để đạt được sự sống. Ân sủng giúp chúng ta đạt được cùng đích tối hậu của cuộc đời chúng ta. Ân sủng luôn sẵn có cho mọi người vì ý muốn cứu độ phổ quát của Thiên Chúa: giáo lý cho rằng Thiên Chúa ban cho mỗi người cơ hội và khả thể được cứu độ. Dầu vậy, mỗi người sẽ lên thiên đàng hay xuống hoả ngục hoàn toàn phụ thuộc vào những quyết định và hành động cá nhân trong đời sống của họ. Thiên Chúa ban cho con người ân sủng đủ (hay “túc sủng”, “sufficient grace”) để được cứu độ, nhưng nó trở nên hữu hiệu (hay “hiệu sủng”, “efficacious grace”) đối với ai tự do đón nhận và hợp tác với ân sủng đó. Không ai bị tiền định phải sa hoả ngục hay bị kết án. Thiên Chúa vui thích khi mọi người được lên thiên đàng, nhưng vì chúng ta có ý chí tự do, nên Ngài tôn trọng quyết định của chúng ta ngay cả khi chúng ta khước từ Ngài, từ khước ân sủng của Ngài và thiên đàng, khi sống trong tội là chúng ta chọn làm như vậy.
Chúng ta phụ thuộc vào Thiên Chúa trong mọi sự. Chính hơi thở của chúng ta là một quà tặng từ Thiên Chúa. Lẽ dĩ nhiên, những khả năng cao hơn như tri thức, cũng phụ thuộc vào Thiên Chúa. Như các em thiếu nhi trong lớp giáo lý, chúng ta đã học từ thửa bé rằng chúng ta được tạo dựng để nhận biết, yêu mến và phụng sự Thiên Chúa và để chuẩn bị mình trong đời sống này để ở với Ngài trong đời sống vĩnh hằng. Khả năng này đòi hỏi quà tặng siêu nhiên của ân sủng để chúng ta có thể nắm bắt được chân lý vĩnh cửu về Thiên Chúa và về kế hoạch cứu độ của Người cho chúng ta. Vì tội nguyên tổ và vì bản tính nhân loại đã bị sa ngã và tổn thương, chúng ta không thể yêu mến như chúng ta được tạo dựng, vì thế khả năng yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự là một quà tặng siêu nhiên của ân sủng. Tội nguyên tổ đã làm tổn thương bản tính nhân loại, nó làm mù tối trí năng, suy nhược ý chí, và làm lệch lạc những đam mê và cảm xúc của chúng ta. Điều này làm cho chúng ta trở nên yếu đuối trước tội lỗi và cám dỗ. Ân sủng của Thiên Chúa đền bù sự Sa Ngã của Adam và Eva, và ân sủng này thực sự đã chữa lành bản tính nhân loại đã bị tổn thương bằng cách soi sáng trí năng, củng cố ý chí và kiểm soát cảm xúc và đam mê của chúng ta. Sự thật, ngay cả khả năng làm sự thiện và các việc bác ái cũng phụ thuộc vào quà tặng của ân sủng Thiên Chúa. Cuối cùng, khả năng thoát ly khỏi tội lỗi, để được tha thứ, tuân giữ các giới răn, và ngay cả tránh tội, tất cả đều phụ thuộc vào ân sủng.
Thánh Tôma Aquinô, một thần học gia Công Giáo thế kỷ thứ 13, nói rằng ân sủng được xây dựng trên tự nhiên và hoàn thiện tự nhiên. Để sống trong sự hiện diện của Chúa, để tránh tội và để bền tâm vững chí, chúng ta cần ân sủng, nhưng vì ý chí tự do của chúng ta, chúng ta thường đánh mất ân sủng. Nhờ ân sủng, chúng ta trở nên nghĩa tử của Thiên Chúa, chi thể của thân thể mầu nhiệm của Người là Giáo Hội và thừa hưởng ngôi báu nước trời. Ân sủng nâng bản tính của chúng ta lên, giúp chúng ta chia sẻ một cách mật thiết đời sống của Thiên Chúa. Chính yếu nhờ bí tích rửa tội mà chúng ta trở thành đền thờ của Ba Ngôi Chí Thánh, và nhân tính của chúng ta được nâng lên.
Ân sủng tuyệt đối quan trọng vào phút cuối đời. Ân sủng chuẩn bị linh hồn cho Thiên Chúa. Để được cứu độ, chúng ta cần phải có ân sủng để bền chí đến cùng. Đức Giêsu nói với chúng ta trong các Phúc Âm rằng: “Kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát”. Trong nền đạo đức Kitô giáo, thánh Giusu là bổn mạng của những kẻ chết lành, vì ngài bầu cử cùng Thiên Chúa cho chúng ta, để bền chí đến cùng trong giây phút chuyển tiếp cuối cùng từ cuộc đời này.
Chuyển ngữ: Nhóm Maiorica, Học viện Dòng Tên
Nguồn: Rev. John Trigilio JR., Ph.D., and Rev. Kenneth D. Brighenti, Ph.D., The Catholicism Answer Book- The 300 Most Frequently Asked Question, (Naperville, Illinois: Sourcebooks, Inc., 2007), 87-88.
Câu hỏi 58. Bí tích là gì?
Câu hỏi 58. Bí tích là gì?

Bí tích là một dấu chỉ bên ngoài (một điều gì đó có thể đụng chạm bởi các giác quan) do Đức Giê-su thiết lập để chuyển ban ân sủng. Các bí tích là con đường chính yếu mà Ngài thông truyền sự sống mình cho chúng ta. Ví dụ, trong bí tích Rửa Tội, dấu chỉ bên ngoài là nước được đổ trên đầu ba lần nhân danh Ba Ngôi. Trong bí tích Thánh Thể, dấu chỉ bên ngoài là bánh và rượu trở nên thân thể, máu, linh hồn và thiên tính của Đức Giê-su nhờ lời truyền phép. Trong bí tích Thêm Sức, dấu chỉ bên ngoài là dầu; khi dầu được xức trên trán với lời cầu nguyện thánh hoá đặc biệt, Chúa Thánh Thần sẽ được trao ban. Trong bí tích Truyền Chức Thánh, chính việc đặt tay và xức dầu thánh tấn phong một người nam trở thành một linh mục. Trong bí tích Hôn Nhân, việc trao đổi lời hứa giữa người nam và người nữ kết hợp họ nên vợ nên chồng. Trong bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, chính là dầu được xức trên trán và lòng bàn tay của người bệnh. Cuối cùng, bí tích Hoà Giải, hối nhân xứng thú tội lỗi của mình và những lời xá giải của linh mục mang lại ơn tha thứ.
Để các bí tích được cử hành một cách hợp luật, phải có sự kết hợp của chất thể, mô thể và ý hướng. Thừa tác viên phải có ý hướng làm điều Giáo Hội làm. Chất thể của bí tích là hành động bên ngoài của thừa tác viên. Mô thể của bí tích là lời được sử dụng. Cuối cùng, thừa tác viên cử hành bí tích phải là người được trao năng quyền. Ví dụ, đối với bí tích Thánh Thể, Thêm Sức, Hoà Giải và Xức Dầu Bệnh Nhân để cử hành một cách thành sự, thừa tác viên phải là một linh mục có năng quyền do đức giám mục ban để cử hành các bí tích này. Trong bí tích hôn phối, đôi phối ngẫu là người cử hành bí tích, nhưng bí tích này phải được thực hiện trước sự hiện diện của một vị phó tế, linh mục hay giám mục được thụ phong một cách thành sự. Phó tế và linh mục phải được ủy quyền từ cha xứ hay giám mục địa phận. Trong trường hợp thụ phong, chỉ có giám mục mới có năng quyền này. Cuối cùng, với bí tích Rửa Tội, thừa tác viên thông thường là phó tế, linh mục hay giám mục. Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp, bất cứ ai cũng có thể cử hành bí tích Rửa Tội nếu họ làm theo điều Giáo Hội muốn bằng cách dùng nước và rửa tội theo công thức Ba Ngôi, đồng thời đổ nước trên đầu. Giám mục có năng quyền cử hành tất cả bảy bí tích vì ngài là thừa tác viên thông thường của mọi bí tích.
Mục đích của các bí tích là thánh hoá đời sống người tín hữu. Đời sống được xem là một cuộc hành hương có một khởi đầu và một kết thúc đặc biệt. Với người Công Giáo, đời sống thiêng liêng bắt đầu từ bí tích Rửa Tội và được đạt đến sự viên mãn trọn vẹn trên thiên đàng nơi Bí Tích Căn Nguyên (Primordial Sacrament) là chính Đức Ki-tô. Các bí tích nuôi dưỡng đời sống người tín hữu trong suốt hành trình này ngõ hầu họ không bị lạc lối.
Chuyển ngữ: Nhóm Maiorica, Học viện Dòng Tên
Nguồn: Rev. John Trigilio JR., Ph.D., and Rev. Kenneth D. Brighenti, Ph.D., The Catholicism Answer Book- The 300 Most Frequently Asked Question, (Naperville, Illinois: Sourcebooks, Inc., 2007), 86-87.
Đức Maria, Vị Ngôn Sứ Vĩ Đại
Đức Maria, Vị Ngôn Sứ Vĩ Đại

Môn học: Ngôn sứ
Giáo sư: Cao Gia An, S.J.
Học viên: Trần Thiên Kính, S.J.
Sau khi cẩn thận đối chiếu, so sánh và làm rõ một số đặc nét trong cuộc đời của một ngôn sứ với cuộc đời của Đức Maria như: người của đặc sủng, người được linh hứng, người của công chúng, trình thuật ơn gọi và sứ điệp, người viết tiến xa hơn khi làm rõ những khía cạnh trổi vượt nơi Mẹ trong những đặc nét ấy. Từ đó cho thấy thực sự Đức Maria không chỉ là một ngôn sứ, nhưng là một ngôn sứ vĩ đại.
Chắc hẳn khi nói Đức Maria là vị ngôn sứ, hơn nữa là vị ngôn sứ vĩ đại, sẽ không khỏi gây ngạc nhiên cho nhiều người Kitô hữu, vì bản thân người viết chưa nghe ai nói về Mẹ như thế cả. Trong bài viết này, người viết sẽ cố gắng minh chứng lập trường của mình qua việc tìm hiểu một số đặc nét ngôn sứ nơi Đức Maria, từ đó thấy được sự vĩ đại của Mẹ trong tư cách là một vị ngôn sứ được Thiên Chúa đặc tuyển. Để thực hiện điều này, trước hết người viết sẽ trình bày về các đặc tính ngôn sứ của Đức Maria, thứ đến là ơn gọi ngôn sứ của Mẹ và cuối cùng là sứ điệp của Mẹ.
1. Những Đặc Tính Ngôn Sứ Của Đức Maria
Trước hết, Đức Maria là người của đặc sủng. Theo Kinh Thánh, Mẹ có họ hàng với dòng họ của tư tế Dacaria và Elisabét; Mẹ đã đính hôn với Giuse và cư ngụ ở làng Nadarét miền Galilê xứ Palestine (x.Lc 1:26). Mẹ sống trong cảnh khó nghèo của những người dân thường; vì là phụ nữ, Mẹ cũng phải gánh chịu thiệt thòi và thái độ khinh miệt của xã hội Do Thái thời bấy giờ. Tuy vậy, Mẹ đã được Thiên Chúa đặc tuyển giữa bao người xuyên suốt bao thế hệ. Đặc ân ngôn sứ Thiên Chúa dành cho bất cứ ai ở bất cứ địa vị xã hội nào; Đức Maria đã được lãnh nhận đặc ân đó từ chính Thiên Chúa ngang qua biến cố truyền tin.
Nơi biến cố truyền tin, Đức Maria đã đón nhận trực tiếp Lời của Thiên Chúa hay Ngôi Lời ngay khi Mẹ thưa tiếng “Xin Vâng.” Do đó, Đức Maria là người của Lời. Ngôn sứ là người của Lời, truyền đạt Lời đó cho dân và cho họ một định hướng để sống. Việc Đức Maria là người của Lời khác với tất cả mọi ngôn sứ khác, Mẹ không chỉ là người của Lời thuần túy vốn Lời được mặc khải từ Thiên Chúa, nhưng còn là người của Lời vốn là Ngôi Lời-Ngôi Hai Thiên Chúa. Điều này cho thấy sự vĩ đại của Mẹ. Mẹ vĩ đại ở nơi chính bản thân mình-Mẹ được Thiên Chúa ban đặc ân Vô nhiêm nguyên tội (tất cả các ngôn sứ khác điều nhiễm nguyên tội và mang tội riêng), và nhất là vĩ đại ở nơi chính Ngôi Lời mà Mẹ được trao phó để trao ban cho toàn thể nhân loại. Chính Ngôi Lời sẽ dạy dỗ toàn dân bằng Lời hằng sống để họ được sống dồi dào, và thậm chí Ngôi Lời còn chết đi [và phục sinh] để cứu độ họ.
Thứ hai, Đức Maria là người được linh hứng. Biến cố truyền tin có thể được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa đen, thực sự một thiên thần của Thiên Chúa đã đến truyền tin cho Mẹ; nghĩa bóng, nhờ đời sống cầu nguyện và chiêm niệm mà Đức Maria được Thiên Chúa mặc khải ý định của Người. Vậy nên, dù hiểu theo nghĩa nào thì Đức Maria là người được Thiên Chúa linh hứng để Mẹ có thể biết được ý định của Ngài và thưa tiếng “Xin Vâng!”
Ngôn sứ là người có kinh nghiệm về Thiên Chúa, Đức Maria cũng thế. Không dừng lại ở biến cố truyền tin, đời sống của Đức Maria cho thấy Mẹ là người có một đời sống chiêm niệm sâu xa; đời sống nội tâm của Mẹ được Kinh Thánh diễn tả bằng việc “suy đi nghĩ lại trong lòng” (x. Lc 2:19 2:51). Nhờ là người chiêm niệm mà Đức Maria trở nên người có kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa, kinh nghiệm về Thiên Chúa:“Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả” (x. Lc 1,49a). Mẹ nghiệm thấy rằng bàn tay Chúa hoạt động trong cuộc đời Mẹ. Qua chiêm niệm, Mẹ đã lắng nghe, nhận định, học hỏi, đọc ra ý nghĩa của dấu chỉ hay thánh ý của Thiên Chúa.
Thứ ba, Đức Maria là người của công chúng. Trước hết, ngôn sứ được chọn là vì dân; tất cả các ngôn sứ thời Cựu ước được chọn là để loan báo Lời Thiên Chúa cho một hoặc một số dân tộc cụ thể trong một thời đại cụ thể. Đức Maria còn hơn thế nữa; Mẹ được chọn là vì mọi dân mọi người trong mọi thời đại. Đây là một ý tưởng thần học mà Karl Ralner đã khẳng định như sau:
“Việc nhận chức làm Mẹ Thiên Chúa không phải chỉ là biến cố cá nhân, riêng tư cho tiểu sử Maria. Đây là biến cố một người phàm được mời gọi làm Mẹ Thiên Chúa, Đấng xuống cứu chuộc trần gian, và do đó liên quan tới toàn thể trần gian, toàn thể nhân loại.”[1]
Hơn nữa, ngôn sứ là người trung gian chuyển cầu cho dân và biện hộ cho dân trước Thiên Chúa. Trong Kinh Thánh, Mẹ chưa bao giờ đi rao giảng Lời cho dân chúng cũng như biện hộ cho họ trước Thiên Chúa. Chỉ trong tiệc cưới Cana, khi thấy hết rượu, Mẹ đã làm trung gian giữa những người hầu và Chúa Giêsu. Một cách nào đó Mẹ “chuyển cầu” và “biện hộ” cho bên nhà trai thoát khỏi “bẽ mặt”. Tuy nhiên, xét về mặt thần học, hơn ai hết Mẹ là đấng trung gian có thần thế nhất trước mặt Thiên Chúa để bầu cử cho toàn thể nhân loại. Bao lâu còn có con người bấy lâu Mẹ vẫn còn phải vất vả không ngơi để chuyển cầu và biện hộ cho họ, như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI viết trong Hiến chế tín lý về Hội Thánh, số 69, như sau:
“Ước gì mọi tín hữu kiên trì khẩn cầu Mẹ Thiên Chúa, cũng là Mẹ nhân loại, để như thuở ban đầu cận kề Hội Thánh với lời cầu xin của mình, thì nay, khi được tôn vinh trên mọi thần thánh nơi thiên quốc, Mẹ hợp cùng chư thánh khẩn cầu lên Con mình, cho đến khi mọi gia đình dân tộc, dù họ có mang danh Kitô hữu hay dù chưa nhận biết Đấng Cứu Độ, được quy tụ thành dân duy nhất của Thiên Chúa…”[2]
Cuối cùng, Đức Maria là người bị đe doạ, là người chịu bách hại. Sau khi đón nhận lời truyền tin, ngay lập tức Mẹ nhận thấy những đe dọa rình rập mình. Đe dọa có thể đến từ những người mình yêu dấu: những nghi vấn từ người thân trong gia đình, nhất là Giuse, vị hôn phu của mình, có thể tố cáo về bào thai Mẹ đang mang. Nếu gia đình hay Giuse tố cáo là Mẹ đã ngoại tình, thì chắc chắn Mẹ không thể thoát khỏi án tử; đây là cái giá mà Mẹ có thể phải trả vì mang Lời Thiên Chúa. Đe dọa lớn nhất xảy đến với Đức Maria từ Hêrôđê, ông muốn tiêu diệt Ngôi Lời đang trong vòng tay của Mẹ; may thay Thiên Chúa đã can thiệp kịp thời để giải cứu (x. Mt 2, 13-14). Cuộc đời của Mẹ và Ngôi Lời chưa hết khỏi những mối đe dọa về thể lý lẫn tâm hồn nhất là lúc Mẹ đứng bên thập giá trên đồi Gôngôtha. Lời tiên tri của ông Simêon đã minh chứng điều đó.
“Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; và như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2, 34-35).
Những đặc điểm trên phần nào minh chứng Đức Maria quả thực là vị ngôn sứ vĩ đại. Để có thể hiểu sâu hơn nữa, chúng ta tìm hiểu hai đặc điểm trọng yếu không thể tách rời khỏi một ngôn sứ đó là ơn gọi và sứ điệp. Ơn gọi của Đức Maria được thể hiện cụ thể qua trình thuật truyền tin và sứ điệp của Mẹ được thể hiện cách sống động ngang qua con người của Đức Giêsu-Ngôi Lời nhập thể.
2. Ơn Gọi
Đối với Habel, trình thuật về ơn gọi ngôn sứ của một số thủ lãnh hay ngôn sứ trong Cứu Ước thường có một khuôn mẫu đặc thù, diễn tiến của trình thuật ơn gọi ngôn sứ diễn ra qua sáu bước: (1) Diện kiến Thần linh, (2) Lời giới thiệu, (3) Trao sứ mạng, (4) Sự phản ứng, (5) Tái khẳng định và (6) Dấu chỉ.[3] Khi so sánh trình thuật truyền tin với khuôn mẫu ơn gọi ngôn sứ, ta thấy có một sự trùng khớp đáng ngạc nhiên.
(1) Diện kiến Thần linh: “Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a. (Lc 1, 26-27). Khi thời gian đã mãn, Thiên Chúa thực hiện chương trình cứu độ của mình bằng việc đến và ngỏ lời cùng Đức Maria. Đức Maria đã có một cuộc diện kiến với thần linh. Đây là một kinh nghiệm gặp gỡ ngoại thường với Thiên Chúa ngang qua hình ảnh một Thiên Thần, kinh nghiệm này có thể được hiểu theo hai nghĩa như đã phân tích ở trên.
(2) Lời giới thiệu. “Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: ‘Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.’” (Lc 1, 28). Đây là một lời chào, một lời giới thiệu đặc biệt, nên đã làm cho Maria bối rối và tự hỏi lời chào ấy có nghĩa gì. Phản ứng này của Mẹ là rất tự nhiên, bởi thông thường người Do thái gặp nhau không chào như thế bao giờ mà bằng lời chào “Bình an”(Shalom). Một điểm đáng lưu ý là phản ứng của Mẹ không phải là về diện mạo của vị thiên thần mà là về lời chào. Điều này cho thấy rằng thiên thần không xuất hiện trong diện mạo của thần linh uy nghi, sáng láng hay có đôi cánh như nhiều người vẫn tưởng tượng, nhưng có thể trong diện mạo của một người thường.
(3) Trao sứ mạng: “Sứ thần liền nói: ‘Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su.’” (Lc 1, 30-31). Sau khi trấn an Đức Maria, thiên thần đã tỏ lộ sứ mạng cho Mẹ, là cưu mang, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu (nghĩa là Thiên Chúa cứu). Người con này không như những người con bình thường của loài người, mà là Con Đấng Tối Cao, là Ngôi Hai Thiên Chúa, là Ngôi Lời và là Đấng Cứu Độ toàn dân.
(4) Phản ứng: Đức Maria đã thưa với Thiên Thần rằng: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” Phản ứng của Mẹ không phải là một phản ứng tiêu cực, chống đối hay khước từ sứ mạng như một số ngôn sứ khi được trao phó sứ mạng, như trường hợp của Môsê (vị ngôn sứ mà đối với người Do thái là vĩ đại nhất) (x. Xh 3,11), Giêrêmia (x. Gr 1, 6), hay ngay cả với Isaia lúc đầu ông mau mắn đón nhận sứ mạng nhưng sau đó ông cũng phản ứng tiêu cực.[4] Phản ứng của Đức Maria là rất tích cực. Đứng trước một sứ mạng vượt sức tưởng tượng của Mẹ: làm sao một người phàm thấp hèn lại có thể cưu mang và hạ sinh Con Thiên Chúa, Đấng vô cùng cao cả được? Tuy vậy, Đức Maria đã tin vào lời của Thiên Thần, Mẹ chỉ thắc mắc về cách thức thực hiện vì Mẹ chưa đủ điều kiện bình thường để cưu mang một người con, tức là phải có một người nam.
(5) Tái khẳng định: Thiên Thần đã khẳng định chắc chắn về cách thức Thiên Chúa sẽ thực hiện cho Đức Maria: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. (Lc 1, 35). Đây là cách thức mà Thiên Chúa sẽ thực hiện nếu như Mẹ nhận lời. Thiên Chúa sẽ làm cho Mẹ cưu mang người Con một cách diệu kỳ.
(6) Dấu chỉ: Để mình chứng và đảm bảo cho chân lý của lời truyền tin của mình, Thiên Thần đã đưa ra một dấu chỉ rõ ràng về người chị họ Elisabét của Mẹ: “Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng.” Đây là công trình của Thiên Chúa chứ không phải của người phàm, mà “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” Một dấu chỉ mời gọi và làm Đức Maria tin tưởng tuyệt đối vào bàn tay quan phòng của Thiên Chúa.
Qua những điều trên, ta có thể đi đến một kết luận rằng trình thuật truyền tin có thể được hiểu như là một trình thuật về ơn gọi ngôn sứ của Đức Maria. Hơn nữa trong trình thuật này Đức Maria còn có một số nét trổi vượt hơn các ngôn sứ thời xưa trong việc đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa.
3. Sứ Điệp
Mẹ là người mang sứ điệp cho toàn thể nhân loại. Sứ điệp của Mẹ không chỉ nằm trong lời truyền tin, lời kinh Manificat, không chỉ dừng ở những ngôn từ của Mẹ hay đời sống của Mẹ, mà chính là con người Chúa Giêsu-Chúa Giêsu là một Sứ Điệp của mọi sứ điệp, Sứ Điệp viết hoa. Sứ điệp luôn gắn liền với sứ mạng, việc thực hiện để trao ban Sứ Điệp cho nhân loại chính là sứ mạng của Đức Maria.
Đức Maria thực hiện sứ mạng một cách thật tuyệt diệu. Lời “xin vâng” khởi đầu cho sứ mạng của Mẹ, nói lời xin vâng trong tự do là bất chấp những thách đố, những hiểm nguy xảy đến. Mẹ cũng phải cưu mang Sứ Điệp Giêsu chín tháng mười ngày như bao phụ nữ khác. Khi thời gian đã mãn, qua biến cố giáng sinh, Đức Maria “công bố” Sứ Điệp hay Lời Giêsu cho toàn thể nhân loại dù cho lúc đó chỉ có một số người được diễm phúc đại diện để chứng kiến. Sau khi Lời Giêsu được công bố, tiếp theo là một chuỗi những ngày dài vất vả của Mẹ để dưỡng nuôi Lời lớn lên, dạy dỗ Lời cho đến ngày Lời trưởng thành, ra đi thực thi sứ mạng của mình. Bởi Sứ Điệp của Đức Maria là Ngôi Lời làm người, nên đến ngày Ngôi Lời ra đi thực hiện chương trình của mình; Mẹ không còn có thể có quyền trên Lời nữa, giờ đây tự Lời tỏ hiện quyền năng của mình: Lời giảng dạy, Lời an ủi, Lời mang hi vọng, Lời yêu thương và Lời cứu độ…
Đức Maria đã phải trải qua những thăng trầm trong cuộc đời của một ngôn sứ khi thi hành sứ mạng. Khi thực thi sứ mạng Đức Maria có được niềm vui chứng kiến Sứ Điệp của mình sinh hoa kết quả. Sứ Điệp được Giuse đón nhận, được Elisabet, Simêon, Anna ca ngợi; các đạo sĩ từ phương xa đến chúc mừng; Gioan Tẩy giả giới thiệu cũng như rất nhiều người đón nhận, lắng nghe Sứ Điệp Giêsu. Tuy vây, Đức Maria cũng chứng kiến Sứ Điệp mình gặp nhiều khó khăn đe dọa hay thậm chí bị khước từ. Ban đầu Giuse nghi hoặc và định tâm lìa bỏ Mẹ và Sứ Điệp Mẹ đang cưu mang; những khó khăn khi hạ sinh Lời mà Mẹ phải đối diện: không nơi cư ngụ, phải ở nơi hang bò lừa; Sứ Điệp bị Hêrôđê tìm cách tiêu diệt, phải trốn chạy sang Ai Cập; và chứng kiến cảnh Sứ Điệp bị nhiều người khước từ và giết chết. Quả thực, dù người ta đón nhận hay khước từ Sứ Điệp, Mẹ vẫn phải công bố; ngôn sứ là như vậy.
Đức Maria công bố Lời Giêsu cho các đối tượng khác nhau: người giàu cũng như kẻ nghèo, người có quyền thế hay kẻ vô danh, người hiền cũng như kẻ dữ,… Trong biến cố thăm viếng Mẹ mang Lời Giêsu đến với gia đình ông bà Dacaria, Elisabét và Gioan (x. Lc 1, 39-45). Biến cố giáng sinh là lúc Mẹ công bố Lời cho các mục đồng nghèo (x. Lc 2, 1-20). Sau đó là Ba vua thậm chí có thể ngầm hiểu qua trung gian họ, Mẹ cũng công bố Lời cho Vua Hêrôđê và dân thành Giêrusalem (x. Mt 2, 112). Đến ngày thanh tẩy theo Luật Môsê, Đức Maria dâng tiến Lời Giêsu lên Thiên Chúa, Mẹ đã công bố Lời cho ông Simêon và bà Anna, cũng như với những đang mong đợi ngày Thiên Chúa cứu độ qua miệng bà nói về Lời (x. Lc 2, 21-38). Trong đám cưới Cana, Đức Maria giới thiệu Lời cho đám giai nhân (x. Ga 2, 1-12). Cuối cùng, dưới chân thập giá, có thể nói Mẹ đã công bố Lời Giêsu một cách hùng hồn nhất cho toàn thể nhân loại về một Ngôi Lời đã hoàn tất sứ mạng của mình nơi trần gian để cứu độ mọi người (x. Ga 19, 25-27).
Hơn nữa, Sứ điệp của Đức Maria mang tính vượt thời gian. Sứ Điệp của Mẹ không chỉ nằm trong một giai đoạn lịch sử cách đây 2000 năm, mà Sứ Điệp vẫn được công bố, đụng chạm, thách đố và cứu độ hàng tỷ người trên thế giới trong suốt 21 thế kỷ qua cũng như biết bao nhiêu người sẽ đến trong tương lai. Đặc biệt ngày hôm nay, con người đang sống trong một thời đại với nhiều biến động, khủng hoảng trên mọi bình diện của con người – tôn giáo, chính trị, kinh tế, xã hội, gia đình,…- họ cần lắm được lắng nghe Sứ Điệp của Đức Maria để sống dồi dào hạnh phúc ở đời này và đời sau. Như vậy, phạm vi đối tượng mà Sứ Điệp Đức Maria công bố thật rộng lớn, nhiều hơn bất cứ ngôn sứ nào trong thời Cựu Ước.
Kết Luận
Qua những phân tích trên chúng ta có thể kết luận rằng Đức Maria có đầy đủ các đặc tính của một ngôn sứ, trình thuật truyền tin là trình thuật về ơn gọi ngôn sứ của Mẹ. Đặc biệt, nếu chỉ xét trên bình diện con người (nghĩa là ngoại trừ Đức Giêsu Kitô với hai bản tính), thì Đức Maria quả thực là vị ngôn sứ vĩ đại nhất trong tất cả các ngôn sứ từ cổ chí kim. Mẹ vĩ đại trong chính con người và sứ điệp của mình. Về con người, Mẹ được Thiên Chúa thánh hóa và tuyển chọn; về sứ điệp, Sứ điệp là Ngôi Lời-Chúa Giêsu Kitô, là Thiên Chúa và là Đấng cứu độ. Hơn nữa, phạm vi ảnh hưởng của Sứ Điệp là hết sức lớn lao. Chúng ta cần nhìn nhận vai trò ngôn sứ cao cả của Mẹ, để từ đó học lấy cung cách của Ngôn sứ Maria trong việc thi hành sứ mạng: Đón nhận Sứ Điệp, cưu mang Sứ Điệp, suy gẫm về Sứ Điệp, lắng nghe Sứ Điệp và công bố Sứ Điệp; nhờ thế, được Sứ Điệp biến đổi và cứu độ. Đây là mục đích tối hậu mà Ngôn sứ Maria chờ đợi nơi mỗi người chúng ta.
Tài liệu tham khảo
- Bản dịch của Lm. Aug. Nguyễn Văn Trinh, Huấn Quyền về Đức Maria (Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2007).
- Fitzmyer, J. A., S.J., The Gospel according to Luke I-IX: Introduction, translation, and notes (New Haven; London: Yale University Press, 2008).
- Habel, Norm, The Form and Significance of the Call Narratives, ZAW 77 (1965): 297-323.
Rahner, Karl, S.J., Maria-Kẻ đã tin (Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2004).
[1] x. Karl Rahner, Maria-Kẻ đã tin (Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2004), trang 29-30.
[2] Bản dịch của Lm. Aug. Nguyễn Văn Trinh, Huấn Quyền về Đức Maria (Hà Nội: NXB Tôn giáo, 2007), trang 22.
[3] x. Norm Habel, The Form and Significance of the Call Narratives, ZAW 77 (1965): 297-323.
[4] x. Norm Habel, The Form and Significance of the Call Narratives. ZAW 77 (1965): 297-323, trang 10.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)