Trang

Thứ Tư, 2 tháng 9, 2020

Giám mục Bá Đa Lộc: Một con người không di chuyển và một guồng máy đang chuyển động

 

Giám mục Bá Đa Lộc: Một con người không di chuyển và một guồng máy đang chuyển động

 
  •  
  •  


GIÁM MỤC BÁ ĐA LỘC: MỘT CON NGƯỜI KHÔNG DI CHUYỂN & MỘT GUỒNG MÁY ĐANG CHUYỂN ĐỘNG

Khổng Thành Ngọc

WHĐ (1.9.2020) – Ngày 9-10-1799, Đức cha Pigneau de Béhaine (phiên âm tiếng Việt là Bá Đa Lộc), Đại diện Tông tòa Đàng Trong, qua đời tại Quy Nhơn, thọ 58 tuổi.

Đức cha Bá Đa Lộc là một gương mặt nổi bật của Giáo hội tại Việt Nam thế kỷ 18. Ngài là vị Đại diện Tông tòa thứ bảy của giáo phận Đàng Trong. Các Giám mục Đại diện Tông tòa tiền nhiệm gồm:

1. Đức cha Pierre Lambert de la Motte, M.E.P.[1] (1659 - 1669)

2. Đức cha Guillaume Mahot, M.E.P. (1680 - 1684)

3. Đức cha François Perez (1687 - 1728)

4. Đức cha Alexandre de Alexandris, B. (1728 - 1738)

5. Đức cha Arnaud-François Lefèbvre, M.E.P. (1741 - 1760

6. Đức cha Guillaume Piguel, M.E.P. (1762 - 1771).

Đức cha Bá Đa Lộc là Đại diện Tông tòa Đàng Trong từ năm 1771 đến năm 1799, khi đang có mặt tại Quy Nhơn, bên cạnh Chúa Nguyễn Phúc Ánh, trong chiến dịch do quân của Chúa Nguyễn tiến hành, nhằm tấn công thành Chà Bàn (Quy Nhơn) của quân Tây Sơn, đời vua Quang Toản, tức Cảnh Thịnh (1793 - 1802).

Bài viết này như một chia sẻ hướng đến việc chuẩn bị kỷ niệm 60 năm thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam (1960-2020), qua việc ôn lại lịch sử với một nhân vật đã ghi dấu ấn trong thế kỷ 18: Đức cha Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc), tức Giám mục Adran. Việc ‘ôn cố’ này xin được giới hạn trong phạm vi nhắc lại đôi nét hành trạng và cảm nhận về hai bài văn tế của chúa Nguyễn Phúc Ánh và thái tử Cảnh trong tang lễ Đức cha Bá Đa Lộc tại Sài Gòn năm 1799.

PIGNEAU DE BÉHAINE – BÁ ĐA LỘC

Đức cha Pigneau de Béhaine, tức Bá Đa Lộc, hoặc được gọi theo hiệu tòa là Đức cha Adran, sinh ngày 2-11-1741, tại làng Origny-en- Thiérache, hạt Aisne, vùng Hauts-de-France, Pháp.

Ngài học chủng viện ở quê nhà, rồi chủng viện thuộc Hội Thừa sai Paris (M.E.P.). Năm 24 tuổi (1765), ngài chịu chức linh mục, và ngay sau đó, lên đường sang Đàng Trong (tức miền Nam Việt Nam, từ sông Gianh, Quảng Bình, trở vào) truyền giáo, không cho gia đình hay biết, chỉ viết thư báo cho cha mẹ biết mình đã lên tàu vào tháng 9-1765, rời Lorient (hải cảng ở tây nam nước Pháp), sang Việt Nam.

Tới Đàng Trong vào tháng Ba 1767, ngài được bổ nhiệm làm giáo sư, rồi mấy tuần sau, làm giám đốc Chủng viện Hòn Đất ở Hà Tiên.

Đầu năm 1770, do tình hình tại Hà Tiên bất ổn, cha Bá Đa Lộc được lệnh đưa Chủng viện Hòn Đất sang Pondichery (Ấn Độ).

Đang ở Pondichery, ngày 24-09-1771, cha Bá Đa Lộc được Tòa Thánh bổ nhiệm làm giám mục hiệu tòa Adran, Đại diện Tông tòa Đàng Trong.

Ngày 24-02-1774 (cách nay đúng 245 năm), Đức cha Bá Đa Lộc được tấn phong giám mục tại Pondichery, do Đức cha Bernardo de São Caetano, O.S.A. (Dòng Thánh Augustinô), giám mục São Tomé Meliapore (Ấn Độ) chủ phong. Năm tháng sau khi được tấn phong, tân giám mục đáp tàu đi Macao để vào Đàng Trong thi hành chức vụ Đại diện Tông tòa.

Kể từ khi chịu chức linh mục năm 1765, rồi đặt chân tới Đàng Trong năm 1767, cho đến ngày qua đời, 9-10-1799, Đức cha Bá Đa Lộc đã hoạt động truyền giáo tổng cộng 34 năm. Như vậy, vị mục tử này đã dành trọn đời làm linh mục rồi giám mục cho Đàng Trong, vùng đất truyền giáo của Hội Thừa sai Paris.

Có thể tóm tắt cuộc đời hoạt động truyền giáo của ngài qua các giai đoạn:

- Giám đốc Chủng viện Hòn Đất (1766 - 1770)

- Tạm lánh ở Ấn Độ, Cao Miên, chờ cơ hội trở về Đàng Trong. Tại Ấn Độ, nhận được bổ nhiệm làm giám mục, Đại diện Tông tòa giáo phận Đàng Trong (1771 - 1778)

- Từ Ấn Độ về đến Việt Nam, trú ngụ tại Tân Triều (Biên Hòa), thực thi sứ vụ Đại diện Tông tòa, đặc biệt công cuộc truyền giáo tại giáo phận Đàng Trong (1778 - 1782)

- Giúp chúa Nguyễn Phúc Ánh trong công cuộc chống nhà Tây Sơn: đưa thái tử Cảnh, con trai trưởng của chúa Nguyễn Phúc Ánh sang Pháp cầu viện; thay mặt Nguyễn Ánh ký hiệp ước Versailles (1787) với triều đình Pháp; sau đó giúp chúa Nguyễn xây dựng lực lượng, chuẩn bị đánh quân Tây Sơn (1783 - 1789)

- Sát cánh với chúa Nguyễn Phúc Ánh trong công cuộc khai sinh cơ đồ nhà Nguyễn cho đến khi qua đời (1789 - 1799).

Như vậy, ngoài việc cai quản giáo phận, Đức cha Bá Đa Lộc đã góp công rất lớn trong việc giúp chúa Nguyễn phản công Tây Sơn, giành đất đai, và sau khi ngài qua đời, Nguyễn Phúc Ánh đã thu giang sơn về một mối vào năm 1802, sau khi đánh chiếm Thăng Long.

Vì thế, suốt ba tháng Đức cha Bá Đa Lộc lâm trọng bệnh, từ tháng Bảy đến tháng Mười 1799, giữa lúc quân chúa Nguyễn vây hãm thành Quy Nhơn, chúa Nguyễn Phúc Ánh và thái tử Cảnh hết lòng săn sóc. Hai người thường xuyên đến thăm viếng và tìm mọi cách chữa trị. Và ngày 9 tháng Mười 1799, Đức cha qua đời, Nguyễn Phúc Ánh đã gửi một cỗ quan tài bằng gỗ quý để tẩm liệm. Hôm sau, ngày 10-10, chúa Nguyễn đã truyền đưa thi hài của Đức cha về Sài Gòn trên một chiếc tàu chiến.

Khi về đến Sài Gòn, thi hài Đức cha Bá Đa Lộc được quàn tại trụ sở Đại diện Tông tòa của ngài để giáo hữu và khách tới kính viếng. Thái tử Cảnh, người đã thụ huấn Đức cha, đã theo lễ nghĩa nho phong, cho dựng một ngôi nhà bên cạnh để thọ tang thầy.

Về tang lễ Đức cha Bá Đa Lộc, linh mục thừa sai Le Labousse thuật lại:

“Lễ an táng được cử hành ngày 16 tháng Mười Hai. Giáo hội và triều đình đã phối hợp với nhau để bày tỏ những sự tôn kính đối với Giám mục Adran như vai vế của ngài đáng được trong Giáo hội và trong Vương quốc. Nhà vương đã giao cho hoàng tử con mình dẫn đầu đám tang. Người ta khởi sự từ hai giờ đêm. Quan tài, được phủ bằng tấm vóc lộng lẫy và đặt trong cái khung hai tầng có 25 cây nến thắp sáng, đặt trên cái cáng dài 20 bộ, do 80 người khiêng, một phương du thêu chỉ vàng bao trùm lên tất cả…

Một đám đông thanh niên Công giáo… tay cầm nến, với các thầy giảng đáng kính nhất của mỗi họ đạo, đi theo cáng và kiệu. Tất cả đội thị vệ của nhà vương gồm 12.000 người, đó là chưa kể đội thị vệ của hoàng tử, mang vũ khí và sắp thành hai hàng, đi đầu là cỗ đại bác. Một trăm hai mươi thớt voi với phục dịch và quản tượng đi hai bên. Trống kèn, nhạc điệu Việt và Miên, pháo thăng thiên, pháo bông v.v. Không thiếu thứ gì: hơn hai trăm lá cờ đủ cỡ, ngoài ra còn vô số đuốc và nến soi sáng cho đám đi bi ai này; ít nhất cũng khoảng 40.000 người, Công giáo và không Công giáo, đi theo xe tang. Nhà vương cũng có mặt với tất cả các quan thuộc nhiều bộ phận khác nhau; và điều lạ lùng nữa là cả thái hậu, hoàng tỷ, hoàng hậu, phi tần, các hoàng tử và tất cả các cung nữ đều cho rằng đối với một con người phi thường, phải bỏ tất cả mọi luật lệ thông thường: tất cả đều đã đi đến tận nơi an táng.”[2]

Phần mộ của Đức cha đặt tại nơi về sau gọi là Lăng Cha Cả[3]. Trên bia mộ đề chữ Hán, dịch là: “Năm Kỷ Mùi tòng chinh ở phủ Quy Nhơn, ngày 11 tháng Chín[4] thì mất ở cửa Thị Nại, thọ 57 tuổi”.

Đặc biệt, trong lễ an táng, có bài văn tế của chúa Nguyễn Phúc Ánh. Trong tuần cúng tế tiếp theo, thái tử Cảnh cũng đọc một bài văn tế. Cả hai bài đều do Đặng Đức Siêu[5] soạn thảo. Đây là một trong những vinh dự lớn chúa Nguyễn dành cho Đức cha Bá Đa Lộc, người được nhà vương phong tước Bi Nhu Quận Công[6].

Bài văn tế Đức cha Bá Đa Lộc của chúa Nguyễn Phúc Ánh:

“NGƯỜI NƯỚC KHÁC MÀ DẠ LÒNG CHẲNG KHÁC”

Chúa Nguyễn Phúc Ánh đã viếng Đức cha Bá Đa Lộc với bài văn tế sau:

“Hỡi ơi!
Người nước khác mà dạ lòng chẳng khác, công non sông thẻ lụa đương cài;
Ân nghĩa tròn mà báo đáp chưa tròn, đường sống thác sớm chầy khó liệu!

Êm giấc hoè, hồn đó thanh thanh;
Nhớ ơn trước, sầu đây triều triệu!

Thủa ta mới quyền trao Nguyên soái, bạn tóc răng vui nghĩa sơ giao;
Ngày ngươi vừa làm khách viễn phương, lòng vàng đá phỉ nguyền tương chiếu.

Nghĩ lúc lưng gầy bước ngặt, đình Nam Vang, bầu Tân Lữ, phiêu lưu cho khỏi kẻ bạo tàn;
Tưởng khi mặt ủ gan phiền, trời cố quốc, bến Hậu Giang, tìm hỏi chẳng từ nơi hiểm yếu.

Cực đến nỗi cha con không giữ, gởi gia nhi, trao quốc bảo, trời Tây phương muôn hộc ai hoài;
May nhờ đâu nhà nước mới về, đưa ấu tử, cầu lương bang, đất Đông phố một đoàn vĩnh hiếu.

Công giáo dưỡng mấy thu khẩn khẩn, phước ta nhiều gần sánh tam vương;
Nghiệp tổ tông ngàn thuở miên miên, công gã giúp ngõ toàn cửu miếu...

Đạo Tây vực một niềm riêng giữ, chẳng cậy ai quốc tử hoàng tôn;
Nạn Nam bang trăm chước mưu lo, dựa thế sức mưu mầu chước diệu.

Nhà Thái học chia ngôi tây tịch, trải tín thành đòi buổi huân đao;
Dặm cô thành hộ giá đông cung, thêm khẳng khái mấy lần thượng biểu.

Mưu tế quốc kinh luân dạ đỏ, từng hay liệu địch chia đồn;
Phép dùng binh thao lược mắt tường, chi quản xông tên đạn pháo.

Chế hoả xa, bày trái phá, dẹp loài loạn tặc thủa long đong;
Đoàn thiết tử, tán hoa ngân, giúp vận nước nhà khi thốn thiếu.

Ân nặng đó mười phần công của, trước sau trọn nghĩa tiên thi;
Lẽ cùng ta ngàn thủa tôn vinh, đây đó phỉ nguyền hậu báo.

Mấy thu trấn biên thành Diên Khánh, tặc đảng đồn mất vía kinh hồn;
Một trận hàng hiểm địa Quy Nhơn, cố nhơn sớm phân bào chia áo.

Ôi!
Núi Nhạc về thần;
Trời Nam để dấu.

Giọt đồng long ô yết dễ đành;
Luỵ lạp chúc sụt sùi khôn ráo!

Trăng tối chợt ngờ nhan sắc, mở rèm đãi khách gia tân;
Mây chiều ngắm tưởng phong nghi, thiết ỷ mong người cố lão.

Chữ “Đạo đồng sinh, dưỡng” chế tâm tang con chút đáp ân;
Câu “Vinh cập một, tồn” tặng Thái phó ta đưa tình thảo.

Theo ý chúng giỏi nghi lề ngoại quốc, cuộc tống chung xác cất hồn cầu;
Hết lòng thành lấy lễ Trung Hoa, cơn tử biệt bài văn lễ điếu.

Trước sống đã suy tình bằng hữu, lòng thành lo sự nghiệp trung hưng;
Nay thác rồi nhớ nghĩa quân thần, linh xin giúp cơ đồ tái tạo.

Hỡi ơi! Thương thay!
Hỡi ơi! Tiếc thay
[7]

Được chúa Nguyễn Phúc Ánh ủy thác, Đặng Đức Siêu viết bài văn tế trên.

Văn tế là một thể văn xưa, đọc trong tang lễ, kể lại công đức và bày tỏ lòng thương tiếc đối với người đã khuất. Sử dụng hình thức Đường phú, bài văn tế Đức cha Bá Đa Lộc của chúa Nguyễn Phúc Ánh, do Đặng Đức Siêu chấp bút, đã diễn tả mối thâm tình giữa Đức cha Bá Đa Lộc và chúa Nguyễn Phúc Ánh, cũng như lòng biết ơn của nhà vương đối với vị giám mục.

Mở đầu bài văn tế, phần Lung khởi, Nguyễn Phúc Ánh bày tỏ mối quan hệ giữa nhà vương và vị giám mục quá cố. Một mối tương quan đầy “ân nghĩa” mà người còn sống nhận thấy mình chưa báo đáp đủ đối với người vừa khuất: “ân nghĩa tròn mà báo đáp chưa tròn”. Đáng chú ý, bậc ân nhân kia lại là người nước ngoài, không cùng nòi giống, vậy mà, tấm thịnh tình đối với nhà vương thật lớn lao, rất thịnh tình: “Người nước khác mà dạ lòng chẳng khác”.

Giữa lúc tiễn biệt vị đại ân nhân, chúa Nguyễn Ánh bồi hồi nhớ lại hơn 20 năm mối tương giao với biết bao tình nghĩa. Thật là một chặng đường chồng chất nguy nan, có khi đe dọa đến tính mạng.

Chặng đường đó khởi sự từ năm 1776, khi Đức cha Bá Đa Lộc đang tá túc ở Cao Miên, chờ cơ hội vào Việt Nam, đã che chở và cứu mạng chúa Nguyễn Ánh đang bị quân Tây Sơn dồn vào thế đường cùng. Linh mục thừa sai Louvet thuật lại trong quyển “Tiểu sử Đức cha Pigneau” (1896):

“Lúc quân Tây Sơn, nhờ nội phản, bắt được Huệ vương bất hạnh đang trốn ở làng Cao Giang, gần Long Xuyên, họ muốn bủa lưới bắt tất cả các gia đình hoàng tộc cùng một lúc, trong đó có Nguyễn Ánh, là người từ khi cha mất vẫn sống trong cung như một nhà tù sơn son thiếp vàng. Nguyễn Ánh lúc đó mới 17 tuổi, sau khi Huệ Vương mất, là đại diện duy nhất của nhà Nguyễn và được quyền tổ tiên để lại cho cai trị trên xứ Đàng Trong. Đức giám mục Adran là người có lẽ đã để ý tới Nguyễn Ánh trước và ở cách đó không xa, đã tạo dịp cho ông thoát khỏi tay của kẻ thù và giúp ông trốn một thời gian trong nhà mình ở Cao Miên. Lúc này chưa phải là lúc đem ông lên ngôi mà là giúp ông thoát chết. sau khi trốn một tháng trong nhà của vị giám mục, Nguyễn Ánh cùng với mẹ và một vài thủ hạ tới một đảo hoang vắng trong vịnh Thái Lan. Lúc này vào khoảng tháng 11-1776, người ta có thể nói là toàn bộ Đàng Trong đã nằm trong tay Tây Sơn”[8].

Như vậy, ân nghĩa đầu tiên của Đức cha Bá Đa Lộc dành cho Nguyễn Ánh là công cứu mạng. Do đó, nhà vương không thể không nhắc đến cùng với những ân sâu nghĩa dày tiếp đó:

Nghĩ lúc lưng gầy bước ngặt, đình Nam Vang, bầu Tân Lữ, phiêu lưu cho khỏi kẻ bạo tàn;
Tưởng khi mặt ủ gan phiền, trời cố quốc, bến Hậu Giang, tìm hỏi chẳng từ nơi hiểm yếu.

Cực đến nỗi cha con không giữ, gởi gia nhi, trao quốc bảo, trời Tây phương muôn hộc ai hoài;
May nhờ đâu nhà nước mới về, đưa ấu tử, cầu lương bang, đất Đông phố một đoàn vĩnh hiếu.

Công giáo dưỡng mấy thu khẩn khẩn, phước ta nhiều gần sánh tam vương;
Nghiệp tổ tông ngàn thuở miên miên, công gã giúp ngỏ toàn cửu miếu...”

Quả thật, làm sao Nguyễn Ánh có thể quên biết bao gian khó của đoạn đường 23 năm vừa trải qua (1776-1799): những lần bôn tẩu tránh Tây Sơn, cuộc “hộ giá đông cung” cầu viện Pháp, việc xây dựng cơ sở kháng Tây Sơn. Chính vì thế, Nguyễn vương thốt lên: “phước ta nhiều gần sánh tam vương” và “công gã giúp ngõ toàn cửu miếu”.

Đối với Nguyễn vương, những giúp đỡ của giám mục Pigneau de Béhaine chính là “phước”, là phúc lành nhận được từ Pigneau. Và công của Pigneau sánh tựa “tam vương”, tức ba vị vua tiên khởi của lịch sử Trung Hoa: Phục Hy, Nữ Oa và Thần Nông, cũng là Thiên Hoàng, Nhân Hoàng và Địa Hoàng (theo Tư Mã Thiên, trong “Sử Ký”).

Sự giúp đỡ của giám mục Pigneau không chỉ có ý nghĩa sống còn đối với cá nhân Nguyễn Ánh, mà còn đối với cơ nghiệp của nhà Nguyễn: “công gã giúp ngõ toàn cửu miếu”.

Cửu miếu, nghĩa là chín đời chúa Nguyễn (Nguyễn Ánh là vị vương thứ chín). Xét bối cảnh năm 1799, khi Đức cha Bá Đa Lộc mất, thành Quy Nhơn của Tây Sơn phải ít lâu nữa mới thuộc về Nguyễn Ánh, nhưng nhà vương như đã thấy trước triển vọng “ngõ toàn cửu miếu” rồi. Âu cũng nhờ công lao xây dựng chiến lược của giám mục Bá Đa Lộc vậy.

Chính vì thế, Nguyễn Ánh nêu cao ân nghĩa của người đã khuất. Ân nghĩa ấy gồm công sức và tiền của. Công sức xây dựng cơ đồ nhà Nguyễn. Tiền của huy động từ nhiều nguồn ân nhân, giúp xây dựng lực lượng và thế mạnh chính trị, ngoại giao, quân sự:

“Ân nặng đó mười phần công của, trước sau trọn nghĩa tiên thi;
Lẽ cùng ta ngàn thủa tôn vinh, đây đó phỉ nguyền hậu báo.

Mấy thu trấn biên thành Diên Khánh, tặc đảng đồn mất vía kinh hồn;
Một trận hàng hiểm địa Quy Nhơn, cố nhơn sớm phân bào chia áo”.

Đồng thời, theo niềm tin cổ nhân truyền lại, nhà vương xin vị giám mục quá cố phù hộ:

Trước sống đã suy tình bằng hữu, lòng thành lo sự nghiệp trung hưng;
Nay thác rồi nhớ nghĩa quân thần, linh xin giúp cơ đồ tái tạo.

Trong lời ước nguyện trên, người tế ngầm tỏ bày mối tương giao độc đáo của mình và người quá cố. Vừa là “bằng hữu”, vừa là “quân thần”.

Bằng hữu rất thắm thiết: “bạn tóc răng vui nghĩa sơ giao” và thủy chung “lòng vàng đá phỉ nguyền tương chiếuCòn nghĩa quân thần thì đầy lòng tin cậy, đến mức “gởi gia nhi, trao quốc bảo, trời Tây phương muôn hộc ai hoài”, đồng thời sủng ái, ngưỡng mộ: “Hết lòng thành lấy lễ Trung Hoa, cơn tử biệt bài văn lễ điếu”.

Quả thật, bài văn tế đã cho thấy lòng tri ân của Nguyễn Ánh đối với Đức cha Bá Đa Lộc, đồng thời, qua đó còn toát lên phẩm cách của vị giám mục qua cái nhìn của vị vương này.

Nguyễn Ánh tỏ lòng tôn trọng tín ngưỡng và sứ mạng của vị giám mục trong phận sự tôn giáo của ngài: “Đạo Tây vực một niềm riêng giữ”. Điều đáng nói, nhà vương rất quý trọng sự chân thật nơi nhân cách của vị giám mục Công giáo: “Người nước khác mà dạ lòng chẳng khác”.

Phải chăng, cốt cách “Người nước khác mà dạ lòng chẳng khác” chính là thứ ánh sáng khác thường chúa Nguyễn Phúc Ánh nhận ra giữa cơn “Nạn Nam bang trăm chước mưu lo” đầy xáo trộn và mịt mù?

Bài văn tế Đức cha Bá Đa Lộc của thái tử Cảnh:

‘GIỮ TÍNH TRỜI MONG HÓA DÂN TRỜI”

Thái tử Nguyễn Phúc Cảnh đã khóc thầy mình - Đức cha Pigneau de Béhaine, như sau:

“Hỡi ôi!
Mấy năm dư tri ngộ, tính chưa rồi trong cuộc chinh tru;
Năm mươi lẻ xuân thu, sao nỡ rẽ ngoài vòng cực lạc.

Lấy ai nhờ giúp dựng việc nhà;
Lấy ai cậy lo chung việc nước.

Nhớ đức Thượng sư xưa: Suốt giải kiền khôn;
Khỏi trên muôn vật.

Học kinh thánh mảng theo đạo thánh, từ Tây thiên chẳng đoái công danh;
Giữ tính trời mong hóa dân trời, qua Đông thổ vui niềm nhân đức.

Trải năm lạnh thu sương nhiều thuở, đứng trơ cứng tiết bách tùng;
Rửa cột phàm nước trí một bầu, đâu có nghiêng lòng quỳ hoắc.

Duyên giải cấu liền vầy cửa Bắc, yến gia tân từng ngâm ngợi lộc minh;
Vận trung hưng chăm giúp triều Nam, cơ liệu định đã sẵn sàng hỗ lược.

Tục người khác mà tấm lòng chẳng khác, chia vàng đã rõ bạn tương tri;
Thù nước riêng mà tấc dạ chẳng riêng, rèn đá quyết vá trời Việt quốc.

Ngỡ thấy nhà Lưu vận ách, đất Hứa Xương rộng rãi, đã khó khăn giặc quỷ Tào Man;
Từng than thế Hán thiếu binh, nơi Tân Dã hẹp hòi, lại khôn dụng đồ chim Gia Cát.

Cùng thuyền hà việt, dìu dắt đưa lá ngọc cành vàng;
Kể nỗi gian truân, nhục nhằn trải non xanh bến bạc.

Ra Thổ Châu, vào Phú Quốc, giặc sau lưng theo đuổi, cùng nhau hầu khôn chước giải nguy;
Đồ khôi phục, liệu tá binh, con dưới gối lìa trao, muôn việc đã đành lòng ký thác.

Vì người mưu hết sức, ngừng lệ phân tiệc khách đông nam;
Hiềm sự cả khác lòng, rắp mình ẩn góc trời tây bắc.

Thức nhắp lo toàn Triệu Bích, mảng tai nghe yên đảng nguy lâm;
Hôm mai nuôi dưỡng Hán Sử, rắp cánh nhẹ trông miền tử khuyết.

Một nhà tương khánh, ơn lão trượng xiết bao;
Thuở nước huân đào, điểm tiền tinh sáng quắc.

Ra công giúp của, khi loạn ly từng đỡ ngặt nước nhà;
Nói gót rỉ tai, việc triều chính đã tin nhau gan mật.

Nhổ cơm trên cảm tình Cao đế, trí cả đành giúp một cánh tay;
Nắm gạo từng làm núi Phục Ba, thế giặc thấy rõ đôi con mắt.

Dải Duyên Khánh bốn bề sa mạc, lòng bền dạ gắng giúp Đông cung khoẻ sức chống thành;
Thu Quy Nhơn một luỹ Đồ Bàn, thẻ vận màu che, khiến Tây tặc cúi đầu quay bước.

Ra Bến Đá dưa nên bệnh quỷ, bệnh lại thêm dủ nhật dủ tăng;
Về Kỳ Sơn cầu chuộc thuốc tiên, thuốc khôn giúp tư nhân tư tật.

Ôi!
Tôn khách băng chừng;
Thiên đường nhẹ bước.

Sao khách Tử Lăng sớm xế, đoái nhìn lệ luống mông mênh;
Toà nhà Quan Vũ đeo sầu, chạnh tưởng lòng càng thổn thức.

Chép miệng ngẫm được thành Nhạc Bối, song thành kia dễ tạo, tuy rằng mừng chẳng lấy làm mừng;
Vỗ vế than chếch bạn tây song, tưởng bạn ấy khôn cầu, vậy nên tiếc khôn nguôi nỗi tiếc.

Ngày sáu khắc mảng lo chấp chính, vậy càng ngây mắt Thuấn mày Nghiêu;
Đêm năm canh chợt nhớ cố nhân, chẳng êm dựa gối loan nệm hạc.

Cảm là cảm một mai đại cử, ngõ dùng mưu giết giặc, ai hầu cùng ngồi chốn ốc duy;
Thương là thương muôn dặm viễn phương, vì tính việc cho ta, chết chẳng được về nơi quê vực.

Mồ tha hương luống gởi, chập chùng gò đất bi ai;
Tin cố lý chưa thông, bảng lảng phương trời phiêu lạc.

Nào thuở nước Lang Sa, thành Vọng Các, đường xa dặm thẳm, mấy thu trời ai được gặp nhau;
Bây giờ miền âm giới, cõi dương gian, kẻ mất người còn, ba tấc đất mà không thấy mặt.

Trăm mình khó chuộc, gác tía đà mất đấng trí năng;
Một giấc chẳng về, cung xanh lại không ai vũ dực.

Đổi con trẻ cho mà dạy đó, lối cổ nhân dấu hãy rành rành;
Đứt nghĩa này chẳng gác về đâu, trông thiên giới gót đà phảng phất.

Phận tân chủ sẻ chia hai ngả, bồi hồi xiết chạnh lòng đau;
Tả ân tình lao thảo một văn, điếu tế tạm dùng lễ bạc.

Công nặng đó, của thêm nặng đó, ngàn vàng chưa dễ đền bồi;
Còn tưởng nhau, chết cũng tưởng nhau, trăm thuở hãy còn ghi tạc.

Than ôi! Thương thay![9]

Nếu bài tế của chúa Nguyễn Phúc Ánh là tiếng khóc của vị vương chủ tiếc bậc quân thần, thì bài của thái tử Nguyễn Phúc Cảnh là dòng nước mắt của một môn sinh khóc vị tôn sư khả kính.

Có thể thấy khá rõ sự tương đồng giữa hai bài văn tế trong phần Thích thực (thuật lại công đức người quá cố). Tuy dị biệt về cách diễn đạt, văn liệu, nhưng ý tưởng khá gần nhau. Bài tế của thái tử Cảnh cũng nhắc lại công trạng của vị giám mục trong việc tạo lập cơ nghiệp nhà Nguyễn:

“Ra Thổ Châu, vào Phú Quốc, giặc sau lưng theo đuổi, cùng nhau hầu khôn chước giải nguy;
Đồ khôi phục, liệu tá binh, con dưới gối lìa trao, muôn việc đã đành lòng ký thác”.

rồi:

“Dải Duyên Khánh bốn bề sa mạc, lòng bền dạ gắng giúp Đông cung khoẻ sức chống thành;
Thu Quy Nhơn một luỹ Đồ Bàn, thẻ vận màu che, khiến Tây tặc cúi đầu quay bước”.

Nhất là những hy sinh lớn lao, khi phải lao tâm khổ tứ:

“Vì người mưu hết sức, ngừng lệ phân tiệc khách đông nam;
Hiềm sự cả khác lòng, rắp mình ẩn góc trời tây bắc”.

Cảm tấm thịnh tình của Đức Bá Đa Lộc, nên khi ngài lâm bệnh, cha con nhà vương hết lòng chăm sóc, chữa trị:

“Ra Bến Đá dưa nên bệnh quỷ, bệnh lại thêm dủ nhật dủ tăng;
Về Kỳ Sơn cầu chuộc thuốc tiên, thuốc khôn giúp tư nhân tư tật”
.

Nhưng bệnh tình ngài mỗi ngày một nặng (dủ nhật dủ tăng), và, khi vị giám mục qua đời, thái tử Cảnh bàng hoàng, thổn thức, tái tê:

Ôi! Tôn khách băng chừng;
Thiên đường nhẹ bước.

Sao khách Tử Lăng sớm xế, đoái nhìn lệ luống mông mênh;
Toà nhà Quan Vũ đeo sầu, chạnh tưởng lòng càng thổn thức.

Chép miệng ngẫm được thành Nhạc Bối, song thành kia dễ tạo, tuy rằng mừng chẳng lấy làm mừng;
Vỗ vế than chếch bạn tây song, tưởng bạn ấy khôn cầu, vậy nên tiếc khôn nguôi nỗi tiếc”.

Danh sĩ Đặng Đức Siêu cảm được những gì đang diễn ra trong lòng thái tử Cảnh, đã hạ bút viết những dòng tuyệt hay trong phần Ai vãn (tỏ lòng thương tiếc người quá cố):

“Ngày sáu khắc mảng lo chấp chính, vậy càng ngây mắt Thuấn mày Nghiêu;
Đêm năm canh chợt nhớ cố nhân, chẳng êm dựa gối loan nệm hạc”.

Sự ra đi của Đức cha Bá Đa Lộc, vị tôn sư, khiến môn sinh là thái tử Cảnh thấy cuộc sống nhung lụa trở nên vô nghĩa, dù “gối loan nệm hạc” cũng không dỗ được giấc ngủ, một khi lòng đau như cắt vì vừa mất đi người thầy đáng kính, và vĩnh viễn không thể tương phùng, hội ngộ:

Mồ tha hương luống gởi, chập chùng gò đất bi ai;
Tin cố lý chưa thông, bảng lảng phương trời phiêu lạc.

Nào thuở nước Lang Sa, thành Vọng Các, đường xa dặm thẳm, mấy thu trời ai được gặp nhau;
Bây giờ miền âm giới, cõi dương gian, kẻ mất người còn, ba tấc đất mà không thấy mặt”
.

Đáng nói hơn, thái tử Cảnh thấy chẳng riêng mình mất mát, mà cả một cơ đồ trước mặt sẽ chẳng thể tìm ra một bậc “trí năng”, và nhất là đáng tin cậy, để hợp đoàn, đồng tâm nhất trí, “vũ dực” (ăn cánh) như giám mục Pigneau:

Trăm mình khó chuộc, gác tía đà mất đấng trí năng;
Một giấc chẳng về, cung xanh lại không ai vũ dực.

Như vậy, trong lòng môn sinh Nguyễn Phúc Cảnh, ngời lên hình ảnh của Đức cha Bá Đa Lộc, một con người không những có “đôi con mắt” tinh tường việc đời, nhất là khi “thế giặc” đang bừng bừng uy vũ: “Nắm gạo từng làm núi Phục Ba, thế giặc thấy rõ đôi con mắt”, mà còn mang cả một niềm xác tín và nhiệt tâm:

Học kinh thánh mảng theo đạo thánh, từ Tây thiên chẳng đoái công danh;
Giữ tính trời mong hóa dân trời, qua Đông thổ vui niềm nhân đức
”.

Đó là niềm xác tín “mảng theo đạo thánh”, và nhiệt tâm thực thi sứ mệnh “giữ tính trời mong hóa dân trời” của Bá Đa Lộc.

Vâng, con người ấy rất say mê và xác tín lý tưởng “hóa dân trời” (giáo hóa, truyền bá Tin Mừng cho muôn dân).

Và như thế, có lẽ đời sau hẳn sẽ ghi nhớ hình ảnh say mê và xác tín vào lý tưởng truyền bá Tin Mừng của vị giám mục thừa sai này, phải chăng cũng là nhờ câu văn tế Đường phú “giữ tính trời mong hóa dân trời” của thái tử Cảnh?

Vậy đó, trong niềm thương nhớ thầy mình, Thái tử Cảnh đã nói lên được nét nổi bật và đặc sắc nhất nơi cốt cách con người giám mục Pigneau de Béhaine: “giữ tính trời mong hóa dân trời”.

*

Chính từ niềm nung nấu “mong hóa dân trời” - nghĩa là giáo hóa người dân xứ sở Đàng Trong, nên ngay khi vừa đặt chân tới đây, Đức cha Bá Đa Lộc đã chuyên chú học tiếng Việt, chữ Nôm và chữ Hán. Rồi chẳng bao lâu sau, ngài đã soạn xong bộ từ điển Việt-La “Dictionarium Anamitico-Latinum” (1772-1773)[10], và nhất là sách Giáo lý bằng chữ Nôm (in tại Quảng Đông năm 1774). Rõ ràng, cùng với nhiệt huyết truyền giáo, ngài sớm thấy được tầm quan trọng của sách báo trong công cuộc Phúc âm hóa. Trong thư gửi tổng thư ký Bộ Truyền giáo, ngày 15-05-1773, ngài viết:

“Tôi thâm tín rằng, về phương diện nhân loại, để làm cho đức tin phát triển rộng rãi hơn trong vương quốc này, không có gì hữu hiệu hơn là phổ biến, khắp các tỉnh thành và với nhiều ấn bản, những cuốn sách của các tác giả có giá trị nhất”.[11]

Đức cha Bá Đa Lộc quả là vị mục tử có trái tim nhiệt thành và đôi mắt tinh anh nhìn thấu nhiều lẽ của công cuộc truyền giáo. Do đó, cần tiếp cận nhân vật lịch sử này, không chỉ từ góc độ lịch sử- chính trị, mà còn từ lịch sử-truyền giáo.

Hai bài văn tế trên cho thấy: Đức cha Bá Đa Lộc đã khiến các tác giả, vốn là hai nhân vật lịch sử - chính trị, ấn tượng sâu đậm về một nhân cách đầy xác tín vào lý tưởng và phận sự tôn giáo của mình.

Về phần các thừa sai, cộng sự của Đức cha, chắc chắn nhiều người đã cảm nhận được nhiệt huyết tông đồ của vị bề trên. Từ nhiệt huyết tông đồ, giám mục Pigneau đã tận dụng mọi cơ hội vào kế hoạch truyền giáo. Trong đó có cơ hội tiếp cận Nguyễn Ánh. Dù cơ hội này có thể đẩy đến những bước phiêu lưu khôn lường. Nhưng có hề gì, “miễn là Đức Kitô được rao giảng” (Pl 1,18).

Và các vị thừa sai đã thấy được sự hy sinh của vị Đại diện Tông tòa khi chấp nhận tình thế phải can dự vào những hoạt động nhân loại.

Linh mục thừa sai Le Labousse đã cảm khái sự hy sinh của Đức Bá Đa Lộc, giám mục Adran, Đại diện Tông tòa Đàng Trong, khi dấn thân vào việc triều chính và binh bị của Nguyễn Ánh, và nhờ đó, công cuộc truyền giáo và hoạt động mục vụ của giáo phận trong vùng cai quản của Nguyễn Ánh được thuận lợi. Cha Le Labousse viết trong thư đề ngày 1-05-1800, bảy tháng sau khi Đức cha Bá Đa Lộc qua đời: 

“Đó là do công lao của vị giám mục đáng kính của chúng tôi: ngài làm lợi cho nhà vua, đồng thời cũng làm lợi cho Giáo hội; khi tái lập ngai vàng, ngài cũng tái lập bàn thờ mà cuộc chiến tranh tàn khốc và dai dẳng này đã làm sập ngã. Đúng là khi lo cho quyền lợi của nhà vua và giáo dục thế tử, ngài đã không đi ra được khỏi nhà, để thăm viếng giáo hữu; nhưng một mình ngài tự giam hãm, ngài làm cho chúng tôi được tự do. Mặc dầu ngài không đi đâu cả, nhưng chính ngài làm cho địa phận này được sống động và cứu rỗi, như một điểm tựa, không di chuyển nhưng làm cho cả guồng máy chuyển động”.[12]

Và đó là nét khắc sắc sảo chân dung vị Đại diện Tông tòa thứ bảy của giáo phận Đàng Trong: một con người “không di chuyển nhưng làm cho cả guồng máy chuyển động”.

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 111 (Tháng 3 & 4 năm 2019)



[1] M.E.P.: Missions Étrangères de Paris: Hội Truyền giáo nước ngoài Paris, quen gọi là Hội Thừa sai Paris.

[2] Lịch sử phát triển Công Giáo ở Việt Nam, tập I, Trương Bá Cần, HN, 2008, tr. 368-369.

[3] Năm 1980, chính quyền Việt Nam đã giải tỏa khu lăng mộ, thuộc phường 4, quận Tân Bình. Năm 1983, hoàn tất việc giải tỏa, chính quyền đã bàn giao hài cốt của ngài cho Tòa tổng lãnh sự Pháp tại Sài Gòn và được ông tổng lãnh sự Pháp Jean-François Parot (1946-2018), cũng là một nhà văn, đưa về Pháp. Sau đó, một phần hài cốt Đức cố giám mục được đặt trong nhà nguyện của Hội Thừa sai Paris (M.E.P.) tại Rue du Bac, Paris, phần còn lại được đưa về an táng tại quê nhà: làng Origny-en-Thiérache, miền bắc nước Pháp, vào ngày 2-10- 1983. Tại đây, trong nghi thức đặt hài cốt tại nơi an nghỉ mới ở quê nhà của Đức cha, ông tổng lãnh sự Jean - François Parot đã đại diện chính quyền Pháp đọc bài điếu văn vinh danh Đức cố giám mục Pigneau de Béhaine - Bá Đa Lộc.

[4] theo âm lịch, tức ngày 9 tháng Mười dương lịch.

[5] Đặng Đức Siêu (1751 – 1810) là danh thần, danh sĩ dưới thời chúa Nguyễn – Nhà Nguyễn

[6] Bi Nhu: phiên âm tên gọi Pigneau.

[7] Theo bản chụp của Thư viện Quốc gia, tại http://sach.nlv.gov.vn/sach?a=d&d=NFqCTCedXy1924.2.2.25, truy cập ngày 1.9.2020

[8] Lịch sử phát triển Công Giáo ở Việt Nam, tập I, tr. 291

[9] Theo bản chụp lại bài “Cuộc giảng diễn hai bài văn tế của quan thượng giáo dục Phạm Quỳnh” đăng trên báo Tràng An báo, Số 70, 29 Tháng Mười 1935.

[10] Giám mục Pigneau biên soạn quyển tự điển này trong thời gian tạm cư ở Pondichery, Ấn Độ (1771-1778), nhưng chưa gửi in. Bản thảo, khổ 0,345 x 0,240, gồm 732 trang, hiện được giữ trong Kho Lưu trữ của Hội Thừa sai Paris.

[11] Lịch sử phát triển Công Giáo ở Việt Nam, tập I, tr. 307.

[12] Lịch sử phát triển Công Giáo ở Việt Nam, tập I, tr. 360.

https://www.hdgmvietnam.com/chi-tiet/giam-muc-ba-da-loc-mot-con-nguoi-khong-di-chuyen-va-mot-guong-may-dang-chuyen-dong-40527

Đức Giêsu Kitô – Đường thinh lặng

 

Đức Giêsu Kitô – Đường thinh lặng

 
  •  
  •  


Chương Trình Mục Vụ Giới Trẻ 2020-2022
Mỗi tháng một hình ảnh hay tước hiệu Đức Giê-su Ki-tô (9)

Đức Giê-su Ki-tô
ĐƯỜNG THINH LẶNG
(Chủ đề học hỏi và suy niệm tháng 9 năm 2020)

Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Viên

Các bạn trẻ thân mến,

Tháng Tám vừa qua, chúng ta đã suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô – Đường Thánh Thiện. Tháng Chín này, chúng ta cùng nhau suy niệm chủ đề Đức Giê-su Ki-tô - Đường Thinh Lặng. Hành trình dương thế của Đức Giê-su cho chúng ta nhận thức rằng Người vừa là Thiên Chúa, Đấng Thinh Lặng, vừa là Lời Thiên Chúa và là Đường Thinh Lặng của Thiên Chúa giữa dòng đời. Sự thinh lặng mà chúng ta đề cập trong bài viết này chủ yếu không phải là sự thinh lặng môi miệng, mà là sự thinh lặng tâm hồn, đặc biệt, tâm hồn hiệp thông với Thiên Chúa.

Trong Kinh Thánh Cựu Ước, tác giả Thánh Vịnh thốt lên: "Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, không trung loan báo việc tay Người làm" (Tv 19,2). Quả thật, thế giới thụ tạo và mặc khải Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng thinh lặng là một cách nói của Thiên Chúa hay ngôn ngữ của Người là ngôn ngữ thinh lặng. Từ buổi ban đầu Thiên Chúa sáng tạo cho đến hôm nay và tới thời cánh chung, Thiên Chúa nói bằng lời quá ít so với Thiên Chúa nói bằng sự thinh lặng. Như thế, sự thinh lặng của Thiên Chúa cũng có giá trị như Thiên Chúa nói bằng lời vậy. Do đó, con người không chỉ quan tâm đến cách truyền thông của Thiên Chúa qua những gì Thiên Chúa nói và làm trong dòng lịch sử, mà còn qua sự thinh lặng của Người nữa.

Nhiều lúc, con người cảm thấy Thiên Chúa thinh lặng như thể 'ngoảnh mặt làm ngơ' trước những thảm họa thiên nhiên, đặc biệt, trước đau khổ, bất công, bạo lực, chết chóc của con người. Thực ra, Thiên Chúa không thinh lặng như con người lầm tưởng. Người luôn tỉnh thức, bởi vì, Người 'không bao giờ ngủ', "Đấng gìn giữ Ít-ra-en, lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành" (Tv 121,4). Người thinh lặng không có nghĩa Người không hiện diện, không hoạt động. Người luôn hiện diện, luôn hoạt động theo 'thì' của Người chứ không theo 'thì' của chúng ta. Con người thường mong muốn đường lối của Thiên Chúa giống đường lối của mình. Tuy nhiên, để hòa nhịp được với chương trình Thiên Chúa, đúng hơn, con người cần uốn nắn đường lối của mình theo đường lối của Thiên Chúa.

Hình ảnh Dân Do-thái rong ruổi bốn mươi năm trong sa mạc là bài học lớn cho chúng ta về sự thinh lặng, hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa. Đối với sự hiểu biết của con người, sa mạc là nơi không ai muốn đến, bởi vì, sa mạc thiếu nguồn nước, bóng cây, sức sống. Thế nhưng, từ sa mạc, Thiên Chúa đã biểu dương quyền năng và tình yêu đối với Dân Người. Sa mạc là nơi cằn cỗi, chết chóc, lại là nơi Thiên Chúa hiện diện và hoạt động cách mãnh liệt nhất. Điều đó cho chúng ta nhận thức rằng nơi con người bị yếu thế nhất, bất lực nhất, khổ đau nhất lại là nơi Thiên Chúa biểu dương tình yêu và quyền năng của Người. Nơi con người cho rằng 'vắng bóng Thiên Chúa' lại là nơi Thiên Chúa hiện diện để cứu giúp họ.

Nhờ tin tưởng vào Thiên Chúa và trung thành với sứ mệnh Người giao phó, trong cơn hoạn nạn, ngôn sứ Ê-li-a phải chạy trốn vua A-kháp và những người của vua. Ê-li-a đi bốn mươi đêm ngày lên núi Khô-rếp, núi của Thiên Chúa và nghỉ lại trong một cái hang. Nhiều biến cố ồn ào xảy ra trên núi, chẳng hạn như gió to, bão lớn, động đất, lửa cháy, nhưng Thiên Chúa không xuất hiện trong các biến cố đó. Tuy nhiên, khi có 'tiếng gió hiu hiu' hay 'tiếng thì thào êm nhẹ', Ê-li-a đã được 'diện kiến' Thiên Chúa và được trao sứ mệnh tiếp tục chương trình của Người. Điều này ngược với nhãn quan chung của các dân tộc Trung Đông thời đó cho rằng thần thánh hiện diện trong những biến cố ồn ào, náo động. Qua sự gặp gỡ với Thiên Chúa, Ê-li-a nhận ra rằng sứ mệnh của mình còn gặp nhiều bất trắc, đau khổ, nhưng luôn được sự nâng đỡ, phù trì của Người.

Trong Cựu Ước, tác giả sách Khôn Ngoan viết: "Khi vạn vật chìm sâu trong thinh lặng, lúc đêm trường chừng như điểm canh ba, thì từ trời cao thẳm, lời toàn năng của Ngài đã rời bỏ ngôi báu, ví tựa người chiến sĩ can trường xông vào giữa miền đất bị tru diệt, mang theo bản án không thể hủy của Ngài như lưỡi gươm sắc bén" (Kn 18,14-15). Thiên Chúa thinh lặng, trong môi trường vĩnh cửu, Thiên Chúa chỉ có một Lời thôi, Lời đó chính là Đức Giê-su Ki-tô. Nhờ Người và trong Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa tạo dựng muôn vật muôn loài và khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã 'nói Lời đó' trong môi trường thế giới thụ tạo. Lời đã làm người và ở giữa chúng ta (Is 7,14; Ga 1,1-18).

Giáng Sinh là biến cố thinh lặng. Ngôi Lời đến thế gian trong đêm tối, trong thinh lặng. Người đã không xuất hiện 'ồn ào' ở Giê-ru-sa-lem hay nơi phố phường đông đúc, nhộn nhịp, vội vã nào đó của đất nước Do-thái, nhưng đã xuất hiện 'kín tiếng' ở Bê-lem quê mùa. Lời bài hát nổi tiếng nhất trong dịp Giáng Sinh diễn tả rất đúng về Biến Cố này: Đêm thinh lặng, đêm thánh thiện, tất cả an bình (silent night, holy night, all is calm). Sự thinh lặng của Biến Cố Giáng Sinh là sự thinh lặng linh thiêng, sự thinh lặng nhiệm mầu, sự thinh lặng ban ơn cứu độ. Sự thinh lặng này giúp cho những ai thao thức tìm Người có thể nghe được lời chỉ dẫn để đến gặp Người.

Chúng ta nhận thức rằng đặc tính chung của mọi người trong Gia Đình Na-da-rét là thinh lặng. Thánh Giu-se thinh lặng, Đức Ma-ri-a thinh lặng, Đức Giê-su thinh lặng. Sự thinh lặng của Thánh Gia diễn tả sự thinh lặng của Gia Đình Thiên Chúa. Kinh Thánh Tân Ước chỉ có '7 lời' của Đức Ma-ri-a (Lc 1,34; Lc 1,38; Lc 1,40; Lc 1,46-55; Lc 2,48; Ga 2,3; Ga 2,5). Còn thánh Giu-se thì các tác giả Kinh Thánh Tân Ước không ghi lại lời nói trực tiếp nào của ngài. Đặc tính duy nhất diễn tả thánh Giu-se là 'công chính'. Trong bối cảnh Kinh Thánh, người công chính cũng chính là người thánh thiện, người thinh lặng, người luôn kết hợp với Thiên Chúa và thực thi thánh ý Người.

Đức Ma-ri-a không chỉ thinh lặng, mà còn 'ghi nhớ những điều đó và suy đi nghĩ lại trong lòng', nghĩa là trong môi trường thinh lặng (Lc 2,19.51). Sự thinh lặng của Đức Ma-ri-a chính là 'sự thinh lặng cộng tác vào chương trình của Thiên Chúa'. Đức Ma-ri-a đã học được ngôn ngữ Thiên Chúa và nói chuyện với Người bằng ngôn ngữ này. Sự thinh lặng của Đức Ma-ri-a là sự thinh lặng thánh thiện, bởi vì sự thinh lặng của Đức Ma-ri-a đồng nghĩa với việc suy niệm Lời Chúa, yêu mến Thiên Chúa, phụng thờ Thiên Chúa, tin tưởng vào Thiên Chúa, hy vọng vào Thiên Chúa, phó thác đường đời cho Thiên Chúa và ngạc nhiên trước mặc khải của Thiên Chúa trong công trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa.

Thánh Giu-se là người có đời sống thinh lặng đặc biệt. Khi được tin Đức Ma-ri-a, bạn đời của mình mang thai và chắc chắn rằng đó không phải là con ruột của mình, ngài có ý định lìa bỏ Đức Ma-ri-a cách kín đáo, cách thinh lặng. Tuy nhiên, trong giấc mơ, sứ thần truyền tin cho thánh Giu-se và trao ban sứ mệnh đón Đức Ma-ri-a về nhà mình. Không như những trường hợp khác, chẳng hạn, việc truyền tin cho Đức Ma-ri-a hay truyền tin cho Da-ca-ri-a đều diễn ra khi các ngài thức tỉnh, còn thánh Giu-se thì được truyền tin trong giấc mơ, trong thinh lặng. Tuy nhiên, thánh nhân đã trung tín thực thi thánh ý Thiên Chúa. Đức Giê-su được sinh ra và lớn lên với sự chăm sóc âm thầm và cần mẫn của thánh Giu-se. Như Đức Ma-ri-a, thánh Giu-se luôn ở lại với Thiên Chúa, lắng nghe Lời Thiên Chúa, tin tưởng vào Lời Thiên Chúa, hiệp thông với Lời Thiên Chúa và thực thi Lời Thiên Chúa cách trung tín nhất. Đặc biệt, thánh nhân đắm chìm trong mầu nhiệm Con Thiên Chúa xuống thế làm người và giữ vai trò quan trọng trong chương trình kỳ diệu này.

Người ta thường nói rằng 'con nhà tông không giống lông cũng giống cánh'. Đức Giê-su là Thiên Chúa, Đấng Thinh Lặng, tuy nhiên, trong thân phận con người, Đức Giê-su cũng học hỏi được đời sống thinh lặng từ Đức Ma-ri-a và thánh Giu-se. Cuộc đời trần thế của Đức Giê-su là cuộc đời thinh lặng. Ngoại trừ Biến Cố Giáng Sinh và sự việc xảy ra lúc Người mười hai tuổi ở Giê-ru-sa-lem, chúng ta không biết gì nữa về thời thơ ấu của Người cho đến khi Người bắt đầu sứ mệnh loan báo Tin Mừng. Trước các biến cố lớn trong hành trình loan báo Tin Mừng, Đức Giê-su luôn dành thời gian thinh lặng và cầu nguyện. Người đã vào sa mạc ăn chay, cầu nguyện và chịu ma quỉ cám dỗ bốn mươi đêm ngày. Sự kiện này gợi lên cho chúng ta biến cố Dân Do-thái rong ruổi trong sa mạc bốn mươi năm. Thay vì thinh lặng để đón nhận và thực thi thánh ý Thiên Chúa, họ đã nhiều lần to tiếng, than trách và phản nghịch chương trình Thiên Chúa. Trong khi đó, Đức Giê-su thinh lặng để gặp gỡ Thiên Chúa Cha, thinh lặng để nhận ra sứ mệnh của mình, thinh lặng để đón nhận sức mạnh chống trả ma quỉ, thinh lặng để cảm nhận sự đau khổ của thân phận con người, thinh lặng để nhận ra những bất cập gây nên bởi 'sự ô nhiễm tiếng ồn' trong xã hội loài người do tội lỗi gây nên.

Không nơi nào trong Tin Mừng cho thấy rằng Đức Giê-su dùng 'quá nhiều lời' khi giảng dạy dân chúng. Người dùng lời vừa đủ cho người nghe. Có những điều Người không giải thích dài dòng, nhưng dùng dụ ngôn để có thể giảm thiểu lời nói. Thánh Mác-cô trình thuật: "Người dùng nhiều dụ ngôn tương tự mà rao giảng lời cho họ, tùy theo mức họ có thể nghe. Người không bao giờ rao giảng cho họ mà không dùng dụ ngôn" (Mc 4,33-34). Có những lúc sau khi giải thích, Đức Giê-su nói với những người lắng nghe: "Ai hiểu được thì hiểu" (Mt 19,12). Rõ ràng, trong hành trình rao giảng, Đức Giê-su đề cao việc thinh lặng, lắng nghe và phân định của thính giả.

Khi Đức Giê-su chữa người vừa điếc vừa ngọng ở miền Thập Tỉnh, Người truyền cho những người chứng kiến không được kể lại chuyện đó (Mc 7,31-36). Tương tự như vậy, sau khi biến hình trên núi Ta-bo, từ trên núi xuống, Đức Giê-su nói với các môn đệ: "Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy" (Mt 17,1-8). Câu hỏi đặt ra là tại sao Đức Giê-su lại nói với các môn đệ như vậy? Thưa, tại vì Đức Giê-su muốn con người hiểu đúng hơn về sứ mệnh của Người giữa lòng nhân thế. Người muốn tất cả đều thinh lặng cho đến khi toàn bộ sự thật về chương trình dương thế của Người được biểu lộ cách trọn vẹn trong khổ nạn, chịu chết và phục sinh của Người. Người cũng muốn các môn đệ hiểu rằng một lời nói mà không hiểu được ý nghĩa, một lời tuyên xưng đức tin mà không đi kèm hành động và lối sống phù hợp, thì đó chỉ là những tiếng kêu trống rỗng, không chuyển tải sự thật.

Thánh Mát-thêu trình thuật rằng khi Đức Giê-su đi về miền dân ngoại (địa hạt Tia và Xi-đôn, ngày nay ở phía Nam đất nước Li-băng), một người phụ nữ Ca-na-an xuất hiện và xin Đức Giê-su trừ quỉ cho con gái của bà. Tuy nhiên, ban đầu, Đức Giê-su thinh lặng, không trả lời sự khẩn cầu của người phụ nữ. Sau đó là cuộc đối thoại ngắn và Đức Giê-su đã tán dương bà: "Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy" (Mt 15,28)Niềm tin và sự kiên nhẫn của bà đã được đền đáp bằng việc con bà được chữa khỏi. Như vậy, sự thinh lặng của Đức Giê-su đã đem lại hiệu quả lớn lao, đó là lòng thương xót của Thiên Chúa được biểu lộ và niềm tín thác của người phụ nữ được củng cố. Đọc Tân Ước, chúng ta có được nhận thức chung rằng, sau sự thinh lặng, Đức Giê-su thường mặc khải những điều lớn lao, kỳ diệu để cứu giúp mọi người.

Câu chuyện Đức Giê-su cho La-da-rô hồi sinh đáng để chúng ta quan tâm. Khi nghe tin La-da-rô, người được Đức Giê-su thương mến bị đau nặng, Người đã không trực tiếp đến thăm viếng ngay. Người đã thinh lặng trước cái chết của La-da-rô, còn La-da-rô thì thinh lặng trong mộ. Khi Người tới thì La-da-rô đã được chôn trong mộ bốn ngày, đã 'nặng mùi' rồi. Tuy nhiên, Đức Giê-su đã làm cho La-da-rô hồi sinh trước sự ngỡ ngàng của hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a cũng như những người thân thuộc. Sự thinh lặng, sự chậm trễ của Đức Giê-su được xem như chuẩn bị cho mặc khải lớn lao là hồi sinh kẻ chết. Trong biến cố này có bốn điểm quan trọng đáng để chúng ta quan tâm: (1) tình yêu của Đức Giê-su, (2) quyền năng của Đức Giê-su, (3) căn tính của Đức Giê-su là 'sự sống lại và là sự sống' (Ga 11,25), và (4) niềm hy vọng vào sự sống vĩnh cửu của mọi người được diễn tả và củng cố.

Trong vườn Ghết-sê-ma-ni, chúng ta thấy hai cảnh thinh lặng: (1) Đức Giê-su và (2) các môn đệ. Đức Giê-su 'thinh lặng cầu nguyện', còn các môn đệ thì 'thinh lặng ngủ nghỉ'. Chúng ta có thể gọi hai hình thức thinh lặng này là 'thinh lặng siêu nhiên' (Đức Giê-su) và 'thinh lặng tự nhiên' (các môn đệ). Cũng trong vườn Ghết-sê-ma-ni, thinh lặng siêu nhiên đưa đến sự tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa Cha và kết hợp với Người. Đức Giê-su đã thưa lên với Thiên Chúa Cha: "Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén này xa con. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà làm theo ý Cha" (Lc 22,42). Quả thật, trong thân phận con người, Đức Giê-su cảm nhận được sự cô đơn, đau khổ tột bậc. Nhưng Người luôn tin tưởng và vâng phục thánh ý Thiên Chúa Cha và đã trở nên căn nguyên cứu độ tất cả mọi người.

Thánh Lu-ca trình thuật rằng trong cuộc khổ nạn, khi Đức Giê-su bị bắt, "một người tớ gái nhìn Phê-rô chòng chọc và nói: Cả bác này cũng đã ở với ông ấy đấy! Ông liền chối: Tôi có biết ông ấy đâu, chị!" (Lc 22,56-57). Sau đó, một người khác nữa cũng quả quyết rằng Phê-rô ở với Đức Giê-su, Phê-rô chối phăng. Khi người thứ ba khẳng định Phê-rô ở với Đức Giê-su, Phê-rô vừa chối xong thì gà gáy. Đó là hệ quả của sự 'thinh lặng tự nhiên' từ phía các môn đệ trong vườn Ghết-sê-ma-ni. Sau đó, Đức Giê-su quay lại nhìn Phê-rô và Phê-rô nhớ lại lời Đức Giê-su: "Hôm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần" (Lc 22,61). Phê-rô đã ăn năn hối cải. Thánh Lu-ca không cho chúng ta biết ánh mắt của hai người sau có nhìn Phê-rô 'chòng chọc' như người tớ gái đầu tiên hay không, nhưng ánh mắt của những người đó đã làm cho trái tim của Phê-rô loạn nhịp và Phê-rô đã chối Thầy mình. Tuy nhiên, khi ánh mắt thinh lặng, ánh mắt nhân từ, ánh mắt tha thứ, ánh mắt trái tim của Đức Giê-su hướng về Phê-rô, vị tông đồ đã ăn năn hối cải. Từ đây, Phê-rô đã trung thành với ơn gọi và sứ mệnh của mình cho đến lúc bị treo ngược trên thập giá và tử đạo tại Rô-ma. Đây là hệ quả của sự 'thinh lặng siêu nhiên' xuất phát từ sự kết hiệp mật thiết với Đức Giê-su.

Tam Nhật Vượt Qua luôn là thời gian đặc biệt, thời gian quan trọng nhất, thời gian đỉnh điểm, thời gian trung tâm diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và con người. Trước cái chết, Đức Giê-su cảm nhận được sự thinh lặng nhiệm mầu của Thiên Chúa. Đức Giê-su đã thốt lên: "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?" (Mt 27,43). Với cái chết, Đức Giê-su đã xuống vực thẳm thinh lặng rùng rợn nhất của thân phận con người. Đức Giê-su đã tham dự vào sự thinh lặng đau thương của tất cả mọi người trong gia đình nhân loại. Người thông phần với sự thinh lặng này để ban ơn cứu độ cho tất cả mọi người. Như vậy, sự thinh lặng kỳ diệu nhất của Đức Giê-su trong hành trình nhân thế là sự thinh lặng trong nấm mộ. 'Vị Thiên Chúa chết', đó là sự kiện không những không thể tưởng tượng nổi đối với những người Hy-lạp hay Do-thái, mà còn không thể tưởng tượng nổi đối với tất cả mọi người trong các nền văn hóa từ cổ chí kim. Hôm nay, 'Vị Thiên Chúa chết' vẫn còn là nỗi ám ảnh cho biết bao người. Quả thực, nếu cuộc đời Đức Giê-su chỉ tới đó thì không còn gì để nói nữa. Tuy nhiên, Người đã tiêu diệt sự chết, Người đã sống lại. Sự chết mạnh, nhưng sự thinh lặng của Đức Giê-su trong sự chết còn mạnh hơn. Sự chết mạnh, nhưng tình yêu Thiên Chúa được thực hiện nơi Đức Giê-su còn mạnh hơn. Sự chết mạnh, nhưng sự sống lại của Đức Giê-su còn mạnh hơn. Sự chết mạnh, nhưng tiếng nói cuối cùng của con người và muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo không phải là tiếng nói của sự chết, nhưng là tiếng nói của Đấng Phục Sinh, Đấng Thinh Lặng, Đấng Hằng Sống. 

Những gì Đức Giê-su nói và làm trong hành trình dương thế minh chứng rằng Người từ Thiên Chúa mà đến, Người là Thiên Chúa. Tuy nhiên, con người thường quan tâm đến nhân tính của Đức Giê-su hơn là thần tính của Người. Thần tính của Người hầu như 'thinh lặng', ẩn dấu, bởi vì trong mọi sự, Đức Giê-su đều qui hướng về Thiên Chúa Cha, chứ không phải bản thân mình. Giáo Hội sơ khai cần đến gần năm thế kỷ để có được định tín cách đầy đủ hơn về Đức Giê-su, Thiên Chúa thật và con người thật với Công Đồng Can-xê-đô-ni-a (Chalcedon, 451). Những khai triển và học hỏi về Đức Giê-su vẫn tiếp tục trong khi Đức Giê-su vẫn thinh lặng.

Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta ngạc nhiên trước những gì mắt chúng ta thấy được, tai chúng ta nghe được và lòng chúng ta cảm nghiệm được. Chúng ta ngạc nhiên trước những khám phá của con người về những qui luật trong vũ trụ. Chúng ta ngạc nhiên trước những gì mà thế giới tự nhiên ban tặng để con người sống xứng đáng với phẩm giá của mình. Tuy nhiên, những gì mắt chúng ta không thấy, trí và tâm chúng ta không thể đụng chạm hay cảm nghiệm được lại còn kỳ diệu hơn. Chẳng hạn, có những hình thức tồn tại khác trong thế giới thụ tạo này mà con người không thể nào vươn tới hay giải thích được trong điều kiện hiện tại, chẳng hạn như năng lượng tối (dark energy) hay vật chất tối (dark matter). Bản chất đích thực của 'năng lượng tối là gì?' hay 'vật chất tối là gì?', chưa ai có thể biết và diễn tả cách đầy đủ được. Điều mà con người biết được là: Nếu không có năng lượng tối và vật chất tối thì vũ trụ khả giác, vũ trụ vật chất, vũ trụ cấu tạo bằng những 'viên gạch nguyên tử' không thể tồn tại được. Quả thật, những gì 'vô hình trong thế giới thụ tạo' luôn dồi dào và kỳ diệu hơn những gì hữu hình mà con người có thể cân đong đo đếm hay giải thích. Nói cách khác, 'những gì thinh lặng' thì kỳ diệu hơn, mạnh mẽ hơn, siêu việt hơn 'những gì ồn ào'. Trong thế giới thụ tạo, con người có thể cảm nghiệm được rằng 'thinh lặng là đỉnh cao của âm thanh'. Trong thinh lặng của tâm hồn và không gian, con người có thể nghe được tiếng nói của lương tâm, tiếng nói của vũ hoàn và tiếng nói của Đấng Sáng Tạo.

Trong lĩnh vực khoa học, nhiều trường hợp cho thấy những khám phá về các quy luật thiên nhiên, hoặc các phát minh kỳ diệu, lại là hệ quả của tiến trình thinh lặng. Câu chuyện Isaac Newton thấy trái táo rơi và đã khám phá ra định luật vạn vật hấp dẫn là câu chuyện giúp chúng ta hiểu được tầm quan trọng của thinh lặng. Chắc rằng Newton đã thinh lặng, đã tìm hiểu, đã ưu tư nhiều về sự thinh lặng của muôn vật muôn loài trong vũ trụ. Việc Newton khám phá ra định luật vạn vật hấp dẫn là hiệu quả, là hoa trái của tiến trình lâu dài, chứ không chỉ là sản phẩm của ngạc nhiên, may rủi. Nếu Newton không thinh lặng, không chú tâm đủ thì không bao giờ có được hoa trái mỹ mãn như vậy. Nhìn chung, những khám phá, sáng chế từ các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau đều đến từ những người có khả năng đi vào thế giới thinh lặng. Như vậy, những người biết thinh lặng, biết chuẩn bị mới có thể đọc được những gì xảy đến cách bất ngờ.

Chúng ta không chỉ được mời gọi lắng nghe tiếng nói của người này, người kia mà còn được mời gọi lắng nghe 'tiếng nói của thinh lặng'. Đặc điểm của các thánh trong lịch sử Giáo Hội là thực thi đời sống thinh lặng. Nói cách khác: Những người thánh thiện cũng là những người thinh lặng [sự thinh lặng của tâm hồn hiệp thông với Thiên Chúa] và ngược lại. Nhờ thinh lặng, các ngài có được kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa và diễn tả kinh nghiệm gặp gỡ đó bằng lời nói và hành động thánh thiện của mình. Đọc hạnh các thánh tử đạo, ai cũng ngạc nhiên về sự thinh lặng, sự bình an của các ngài khi phải đối diện với cái chết. Chúng ta cần ý thức rằng để có được sự thinh lặng, sự bình an như vậy, các ngài đã thực thi đời sống thinh lặng, đời sống bình an. Nói cách khác, các ngài đã chuẩn bị cho sự thinh lặng, sự bình an trước cái chết bằng cuộc đời thinh lặng, cuộc đời bình an gắn kết mật thiết với Đức Giê-su, Đường Thinh Lặng, Đường Bình An, được Thiên Chúa gửi đến cho nhân loại.

Theo gương Đức Giê-su, các nhà thần bí (mystics) là những người có kinh nghiệm đặc biệt về môi trường thinh lặng. Họ nhận ra rằng đời sống thinh lặng là đời sống lý tưởng để họ gặp gỡ Thiên Chúa và thỉnh vấn ý Người. Các ngài đã trở nên mẫu gương sống động cho chúng ta về sự hoán cải và qui hướng về Thiên Chúa, chẳng hạn như thánh Gio-an Tẩy Giả, Tê-rê-xa A-vi-la, Gio-an Thánh Giá. Họ là những nhân chứng mạnh mẽ nhất cho sự hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa, cũng như tình yêu của Người. Mẹ Tê-rê-xa Can-cút-ta nói: "Hoa trái của thinh lặng là cầu nguyện, hoa trái của cầu nguyện là niềm tin, hoa trái của niềm tin là tình yêu, hoa trái của tình yêu là phục vụ, hoa trái của phục vụ là bình an." Như vậy, thinh lặng là khởi đầu cho những hiệu quả tốt lành: Cầu nguyện, đức tin, tình yêu, phục vụ, bình an. Thực ra, theo một nghĩa nào đó thì 'bình an' cũng có nghĩa là 'thinh lặng' hay nói cách khác, môi trường bình an cũng là môi trường thinh lặng và ngược lại. Như vậy, 'thinh lặng' vừa là khởi đầu, vừa là kết thúc, vừa là khởi đầu mới.   

Thinh lặng là điều kiện cần thiết để chúng ta nhận ra Thiên Chúa, nhận ra bản thân mình. Trong tác phẩm Tự Thuật, thánh Au-gút-ti-nô viết: 'Thiên Chúa thân mật với tôi hơn tôi với chính mình' (Deus est intimior intimo meo) hay 'Thiên Chúa sâu thẳm trong tôi hơn tôi với chính mình và cao cả trong tôi hơn tôi với chính mình' (Deus est interior intimo meo et superior summo meo). Chắc chắn rằng, nhờ thinh lặng, thánh nhân đã có được kinh nghiệm quí giá đó và ngài đã truyền lại cho tất cả mọi người. Sứ điệp mà ngài muốn gửi đến là: Khi con người càng gần Thiên Chúa bao nhiêu, thì càng gần chính mình bấy nhiêu và ngược lại.

Người ta kể lại rằng trong đại chiến thế giới lần thứ hai (1939-1945), quân lính Đức lùng bắt tất cả những người Do-thái và tống vào các trại tập trung. Ở đây, họ phải chịu nhiều hình thức cực hình cho đến chết. Có một cô gái trẻ Do-thái thoát được và trốn trong một cái hang. Khi người ta tìm thấy xác cô, họ cũng phát hiện trên bức tường của hang đó cô gái viết mấy câu: "Tôi tin có mặt trời, ngay cả khi nó không chiếu sáng. Tôi tin vào tình yêu, ngay cả khi tôi đơn độc. Tôi tin vào Thiên Chúa, ngay cả khi Người thinh lặng." Với cô gái Do-thái này, khi con người không thấy mặt trời, không có nghĩa là mặt trời không hoạt động. Khi con người đơn độc, không có nghĩa là tình yêu không hiện hữu. Tương tự như thế, khi Thiên Chúa thinh lặng không có nghĩa là Người không hành động.

Thinh lặng, lời nói và hành động được xem là ba cột trụ căn bản trong đời sống con người. Trong đó, thinh lặng đóng vai trò quan trọng nhất. Thinh lặng chính là căn nguyên, là nền tảng và là môi trường khởi xuất lời nói và hành động. Nếu con người không có được sự thinh lặng đúng nghĩa, con người cũng không thể nói năng và hành động đúng được. Như vậy, vấn đề chính yếu mà chúng ta cần quan tâm là luôn tạo sự hòa hợp giữa thinh lặng, lời nói và hành động. Trong trường hợp không thể, ưu tiên phải là thinh lặng. Tuy nhiên, khi sự lên tiếng hay hành động của chúng ta đem lại bình an, sự thật, sự lành thì chúng ta cần phải thực thi. Còn người nào chỉ có nói mà không hành động tốt, thì họ không phải là người môn đệ thực thụ của Đức Giê-su (Mt 7,21-27). Thánh Phao-lô viết: "Hãy rao giảng lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ" (2 Tm 4,2).

Người Ni-giê-ri-a có câu ngạn ngữ: "Hãy lắng nghe và bạn sẽ nghe được bước chân của những con kiến." Chúng ta học hành và luyện tập nhiều thứ để chuẩn bị cho cuộc sống. Tuy nhiên, chúng ta ít luyện tập cho mình khả năng thinh lặng. Ai không có khả năng thinh lặng, người đó cũng không có khả năng lắng nghe tiếng lòng mình, và cũng không thể lắng nghe tiếng Thiên Chúa, bởi vì tiếng Thiên Chúa đến với những tâm hồn thinh lặng. Hơn nữa, thinh lặng là điều kiện cần thiết giúp chúng ta phân biệt đâu là tiếng Thiên Chúa và đâu là tiếng của ác thần. Tiếng Thiên Chúa thường là tiếng mời gọi sống bác ái, hoán cải, hướng tới sự lành. Tiếng ma quỉ thường là tiếng xui khiến, rủ rê, chia rẽ, tạo nghi ngờ lẫn nhau, đặc biệt, nghi ngờ về tình yêu Thiên Chúa hay sự hiện diện và hoạt động của Người.

Năng lực thinh lặng diễn tả căn tính, đời sống và sứ mệnh của chúng ta không phải tự nhiên mà có, trái lại, chúng ta cần không ngừng vun đắp mỗi ngày. Chúng ta cần tạo cho mình khả năng thinh lặng hơn là khả năng ồn ào, khả năng lắng nghe hơn là khả năng gào thét, khả năng thông cảm hơn là khả năng chỉ trích, khả năng nhìn nhận những điều tốt nơi người khác hơn là khả năng 'vạch lá tìm sâu' nơi họ, khả năng giúp người khác biến đổi hơn là khả năng trù dập, khả năng cởi mở hơn là khả năng đóng kín, khả năng trút bỏ hơn là khả năng sở hữu. Để có được những khả năng đó, chúng ta không có con đường nào khác ngoài Đường Thinh Lặng của Đức Giê-su.

Trước khi bước vào cuộc khổ nạn, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng họ ở giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian (Ga 15,18-19). Câu hỏi đặt ra là làm sao các môn đệ có thể không thuộc về thế gian được? Câu trả lời là các môn đệ ở giữa thế gian với muôn vàn tiếng động, tuy nhiên, các ngài có được sự thinh lặng hay sự bình an của Đức Giê-su, bình an mà thế gian không thể ban tặng (Ga 14,27). Tâm hồn các ngài được liên kết mật thiết với Đức Giê-su. Nhờ đó, các ngài vững tâm giữa muôn vàn bấp bênh, khốn khó và đau khổ của cuộc đời. Đồng thời, các ngài trở nên khí cụ hữu hiệu trong việc loan báo Đức Giê-su và Tin Mừng của Người cho anh chị em đồng loại.

Đường của Đức Giê-su là Đường Thinh Lặng, Đường giúp chúng ta gặp gỡ chính mình, gặp gỡ anh chị em chúng ta, gặp gỡ muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo, đặc biệt, gặp gỡ Thiên Chúa. Để đi Đường đó, chúng ta được mời gọi thinh lặng để chiêm ngắm Đức Giê-su trong máng cỏ, chiêm ngắm Đức Giê-su trong lúc trốn sang Ai-cập, chiêm ngắm Đức Giê-su trong Gia Đình Na-da-rét. Chúng ta được mời gọi thinh lặng để chiêm ngắm Đức Giê-su trong sa mạc bốn mươi đêm ngày, chiêm ngắm Đức Giê-su cúi xuống với những người bệnh tật, bị quỉ ám và muôn hình thức đau khổ khác, chiêm ngắm Đức Giê-su trên núi Ta-bo. Chúng ta được mời gọi để chiêm ngắm Đức Giê-su trên thập giá, chiêm ngắm Đức Giê-su chịu chết và chịu mai táng trong mộ, chiêm ngắm Đức Giê-su phục sinh vinh hiển. Đặc biệt, chúng ta được mời gọi thinh lặng để chiêm ngắm Đức Giê-su Thánh Thể, chiêm ngắm Đức Giê-su khi chia sẻ Lời Chúa, chiêm ngắm Đức Giê-su trong anh chị em mình.

Qua những gì được trình bày trên đây, chúng ta có thể xác quyết rằng Thiên Chúa là Đấng Thinh Lặng và Đức Giê-su đã đi Đường Thinh Lặng để đến với gia đình nhân loại. Cuộc đời Người trong hành trình trần thế đặt nền tảng trên sự thinh lặng. Là Thiên Chúa trong thân phận con người, Đức Giê-su trở nên mẫu gương cho chúng ta về đời sống thinh lặng, cầu nguyện, vâng phục, tin tưởng, lắng nghe và thực thi thánh ý Thiên Chúa. Trong Chúa Thánh Thần, Đức Giê-su luôn hiện diện với tất cả chúng ta. Giữa cảnh ồn ào, náo động của thế sự, Người luôn mời gọi tất cả chúng ta hãy đi Đường Thinh Lặng của Người để chúng ta có thể đạt được sự hòa hợp giữa các yếu tố trong đời sống cá nhân, hòa hợp với anh chị em, hòa hợp với muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo, và đặc biệt, hòa hợp với Thiên Chúa.

WHĐ (1.9.2020)

https://www.hdgmvietnam.com/chi-tiet/duc-giesu-kito-duong-thinh-lang-40526

Thứ Ba, 1 tháng 9, 2020

Những Kỷ Niệm Đẹp

 


Những Kỷ Niệm Đẹp

Gb. Nguyễn Thái Hùng

Tháng chín vào thu. Trời thu lành lạnh. Gió thu man mác. Lòng người chùng lại. Những nao nức của “Thời đi học” của Thanh Tịnh không còn. Buồn. Buồn vì sân trường không còn hoa phượng. Buồn vì Covid-19 đang lan khắp cộng đồng.

Tháng chín vào thu năm nay lại đến, đây cũng là lần giỗ thứ chín của Đức Cha Giuse Trịnh Chính Trực, một người cha nhân hậu, qua đời ngày 23 tháng 9 năm 2011.

Với ngài, tôi có khá nhiều kỷ niệm ... đẹp.

Năm 1972, ngài được bổ nhiệm làm giám đốc Tiểu Chủng viện Lê Bảo Tịnh, cũng năm “Mùa Hè Đỏ Lửa” này, tôi được bước chân vào mái trường Lê Bảo Tịnh thân yêu.

Thời gian đầu ở Tiểu Chủng viện, tôi chưa có ấn tượng gì về ngài. Tôi chỉ biết ngài với thân hình cao to, nhưng nhân hậu với tất cả mọi người. Cho tới những ngày đầu cuộc chiến năm 1975, ngài quyết định ở lại “giữ nhà” để tất cả mọi người đi “lánh nạn”. Từ đó, tôi bắt đầu để ý và yêu mến ngài hơn.

Chủng viện Lê Bảo Tịnh, trong những ngày sau chiến tranh rất khó khăn về mọi mặt. Nhất là những lần nhìn những học trò thân yêu phải trở về gia đình vào tháng 10 năm 1975, vào tháng 10 năm 1977, hay vào ngày 15 tháng 4 năm 1978 và lần cuối cùng, vào ngày 23 tháng 6 năm 1983. 16 người “trong sạch” còn lại cũng nối gót anh em ra khỏi Chủng viện Lê Bảo Tịnh, tọa lạc tại Tòa Giám Mục Giáo phận Ban Mê Thuột, 70 Phan Chu Trinh, tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đaklak. (1) Bao nhiêu nước mắt đã tuôn rơi!

Tôi may mắn là người nhỏ nhất (Lớp Têrêxa) được ở lại Chủng viện và cũng là người cuối cùng rời khỏi Chủng viện (Ngày 29 tháng 6 năm 1983).

Trong thời gian ở tại Chủng viện, cũng có khá nhiều kỷ niệm với ngài mà tôi không bao giờ quên.

Tôi còn nhớ, vì tôi hay nói ngọng nên có biệt danh là “mờ thì”. Để tập cho tôi có thể vượt qua khó khăn này, cứ mỗi tối, sau giờ ăn cơm, ngài gọi tôi lên phòng và trao cho tôi cuốn từ điển La-tinh và bắt đầu luyện giọng. Tiếng La-tinh cũng là môn học đầu tiên mà tôi được học với ngài từ năm đầu bước chân vào Chủng viện.

Tôi còn nhớ, cours “thần học” mà tôi được thụ giáo từ ngài là “Lịch Sử Ơn Cứu Độ”. Có lẽ, khi dạy Lịch Sử Ơn Cứu Độ, ngài đã nghiệm ra tình thương bao la của Thiên Chúa đổ xuống trên loài người và trên mỗi người, nên khi được bổ nhiệm làm giám mục vào ngày 19 tháng 6 năm 1981, ngài đã lấy khẩu hiệu “Dives In Misericordia” (Thiên Chúa giàu lòng xót thương) (2).



Tôi còn nhớ, khi lễ tấn phong diễn ra vào ngày 15 tháng 8 năm 1981, khi đó, tôi là Trưởng ban Phụng vụ Chủng viện Lê Bảo Tịnh, nên đã sắp xếp cho các thầy giúp lễ. Và trong đoàn rước, sau thánh giá, tôi được vinh dự giữ “chiếc nhẫn Giám mục” cho tới nghi thức trao nhẫn. Khi yên vị trên cung thánh, tôi nghe có nhiều tiếng lao xao sau lưng mình. Nhìn lại, tôi thấy nhiều người leo lên những bông cửa thông gió để được nhìn vào cung thánh, và bàn để lễ vật cùng “chiếc nhẫn Giám mục” long lanh đặt sát ngay những ô thông gió này.

Ngay lúc đó, tôi cảm thấy ớn lạnh, và một ý nghĩ thoáng qua: Nếu có một bàn tay nào đó “nhón” lấy chiếc nhẫn Giám mục long lanh thì chuyện gì sẽ xảy ra? Ai sẽ nghe tôi? Nhưng Chúa vẫn thương tôi. Và từ đó, tôi cẩn thận luôn giữ chiếc nhẫn trong tay mình.




Tôi còn nhớ, trong những ngày chiến tranh đang xảy ra, tôi  có “cơ duyên” được vinh hạnh giúp lễ tấn phong Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa. Sau những ngày vào rừng với quý cha và anh em, chúng tôi được trả về thành phố trong một buổi sáng tinh mơ, tại nghĩa trang Tàu - Phan Bội Châu. Chủng viện thì xa. Tòa Giám Mục thì gần. Anh em dự tính về Tòa Giám Mục với vị Cha chung yêu dấu, Giám mục Phêrô Nguyễn Huy Mai. Khi biết Ngài đang ở Dòng Nữ Vương Hòa Bình, trên một ngọn đồi, cuối đường Lê Văn Duyệt (nay là đường Xô Viết Nghệ Tĩnh), anh em đến chào Ngài. Hôm sau, tôi được hân hạnh tháp tùng Cha lội bộ đi thăm Nhà thờ cha Bianchetti (nay là Nhà thờ Mẫu Tâm). Ở đó, Cha thu dọn Mình Thánh Chúa và rước về Nhà Dòng. Khi trở lại, anh em đã về chủng viện. Một mình bơ vơ giữa Dòng nữ. Chiến tranh đang diễn ra nên Cha không dám để tôi một mình trở lại chủng viện. Trong thời gian ở tại Dòng Nữ Vương Hòa Bình, thánh lễ tấn phong Đức Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa đã diễn ra tại Nhà nguyện Dòng Nữ Vương Hòa Bình Ban Mê Thuột vào ngày 05 tháng 4 năm 1975 (3). Ít lâu sau, Cha trở về Tòa Giám Mục, tôi cũng đã theo Cha về đó. Tòa Giám Mục Ban Mê Thuột, 70 Phan Chu Trinh, cũng là hộ khẩu thường trú đầu tiên của tôi.  





 

Tôi còn nhớ, năm 2004, khi tuyển tập “Giữa Đời Thường Có Chút Gì để Nhớ” của Lớp Têrêxa - Banmêthuột do anh Trùng Dương Saviô Nguyễn Quốc Minh Đạo làm gần hoàn thành, anh nhờ tôi vào xin Đức Cha những lời nhắn nhủ, ngài đã ưu ái viết đôi dòng cảm tưởng như sau: “Những ghi nhớ trong Tập này vắn gọn và hữu ích, cũng là những lời mời gọi mọi thành phần trong Giáo phận Ban Mê Thuột tham gia vào công trình xây dựng Giáo Phận cùng phát triển trong những lãnh vực Đạo và Đời”(Ngày 10 tháng 6 năm 2004).

Tôi còn nhớ, trong những ngày làm đại diện Gia đình Lê Bảo Tịnh (2005-2012), tôi được hân hạnh gặp gỡ với ngài, được ngài hướng dẫn và bảo ban, nhất là khi hoàn thành tập Kỷ Yếu 40 năm Chủng Viện Lê Bảo Tịnh.

Trong những tháng ngày về hưu, qua những lần chuyện trò, ngài nói với tôi nhiều lần: “Anh hãy qui tụ những người yêu mến thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh”. Tôi không hiểu ý ngài lắm. Cho tới bây giờ, khi lễ giỗ ngài lần thứ 9 sắp đến, tôi vẫn chưa hiểu ý ngài trọn vẹn. Tôi không biết phải thực hiện như thế nào?

Một lần nữa, tôi đành lỗi hẹn với ngài.

Không biết đến bao giờ ý ngài mới được thực hiện trọn vẹn?

Và còn nhiều kỷ niệm khác nữa ...

Gb. Nguyễn Thái Hùng

Tháng 9 năm 2020

 

 

TIỂU SỬ

ĐỨC CHA GIUSE TRỊNH CHÍNH TRỰC




Sinh ngày: 25.10.1925, tại Giáo xứ Bút Đông, Hà Nội
Thuộc xã Trác Bút, huyện Duy Tiên, Hà Nam.

1939 – 1945: Học Tiểu chủng viện Hoàng Nguyên, Hà Nội.
1945 – 1948: Giúp xứ Hoàng Nguyên, Hà Nội.
1948 – 1954: Học Đại chủng viện Xuân Bích, Hà Nội.
Thụ phong Linh mục: 31.5.1954 tại Hà Nội do Đức Giám mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê.
Tấn phong Giám mục: 15.8.1981 tại Banmêthuột
do Đức Giám mục Phêrô Nguyễn Huy Mai.

Đã phục vụ:

1954 – 1955: Phục vụ Cô nhi viện Têrêxa tại Hà Nội và Banmêthuột.
1955 – 1959: Phó xứ Thánh Tâm Banmêthuột.
1960 – 1967: Quản xứ Châu Sơn Banmêthuột.
1967 – 1990: Tổng Đại diện Giáo phận Banmêthuột.
1967 – 1972: Quản xứ Thánh Tâm (Chính tòa Banmêthuột).
1972 – 1983: Giám đốc Chủng viện Lê Bảo Tịnh Banmêthuột.
1981 – 1990: Giám mục phó Giáo phận Banmêthuột.
1990 – 2000: Giám mục Chính tòa Giáo phận Banmêthuột.
Từ 2000: Hưu tại Tòa Giám mục Banmêthuột.

Được Chúa gọi về lúc 09g55, thứ sáu ngày 23 tháng 09 năm 2011 (Nhằm ngày 26 tháng 8 Tân Mão) (4).

+++++++++++++++++++++

 

Ghi chú

(1) http://gpbanmethuot.com/dong-nam/chung-vien-le-bao-tinh-40929.html

(2)https://vi.wikipedia.org/wiki/Giuse_Tr%E1%BB%8Bnh_Ch%C3%ADnh_Tr%E1%BB%B1c  

(3) http://www.betrenthuongcap.net/cao-pho-duc-cha-phaolo-nguyen-van-hoa-nguyen-giam-muc-giao-phan-nha-trang.html

(4)http://www.simonhoadalat.com/DIAPHAN/ThongBao/CaoPho/Nam2011/0923TieuSuDCChinhTruc.htm