Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn bài viết. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bài viết. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 3 tháng 5, 2026

“Tôi đã thấy nước …"



Khi linh mục rảy nước thánh và hát Vidi aquam, Giáo Hội nhắc lại Phép Rửa mà chúng ta đã được thanh tẩy và tái sinh, nước không chỉ rửa sạch, mà còn làm cho sống.

“Tôi đã thấy nước …”
 

“Tôi đã thấy nước …”


Câu “Tôi đã thấy nước từ bên phải đền thờ chảy ra…” (tiếng Latinh: Vidi aquam) là một trong những công thức phụng vụ rất cổ kính của Giáo Hội, được dùng đặc biệt trong mùa Phục Sinh khi rảy nước thánh thay cho nghi thức sám hối đầu lễ. Câu này không chỉ là lời ca, nhưng là một tuyên xưng đức tin mang chiều sâu Kinh Thánh và thần học rất phong phú.

1. Nguồn gốc Kinh Thánh:

Thị kiến của Ngôn sứ Êdêkien Ed 47, 1-12

1 Người ấy dẫn tôi trở lại phía cửa Đền Thờ, và này: có nước vọt ra từ dưới ngưỡng cửa Đền Thờ và chảy về phía đông, vì mặt tiền Đền Thờ quay về phía đông. Nước từ phía dưới bên phải Đền Thờ chảy xuống phía nam bàn thờ.2 Người ấy đưa tôi ra theo lối cổng bắc và dẫn tôi đi vòng quanh theo lối bên ngoài, đến cổng ngoài quay mặt về phía đông, và này: nước từ phía bên phải chảy ra.3 Người ấy đi ra phía đông, tay cầm dây đo, đo năm trăm thước rồi dẫn tôi đi qua nước: nước ngập đến mắt cá chân.4 Người ấy đo năm trăm thước nữa rồi dẫn tôi đi qua nước: nước ngập đến đầu gối. Người ấy lại đo năm trăm thước nữa rồi dẫn tôi đi qua nước: nước ngập đến ngang lưng.5 Người ấy còn đo năm trăm thước nữa: đó là một con sông, tôi không thể đi qua được vì nước đã dâng cao, khiến không thể đi qua mà chỉ bơi mới được thôi.6 Người ấy bảo tôi: "Ngươi có thấy không, hỡi con người? " Rồi người ấy dẫn tôi trở lại bờ sông.7 Khi tôi trở lại, thì này: có rất nhiều cây cối ở hai bên bờ sông.8 Người ấy bảo tôi: "Nước này chảy về miền đất phía đông, xuống vùng A-ra-ba, rồi đổ ra biển Chết và làm cho nước biển hoá lành.9 Sông chảy đến đâu thì mọi sinh vật lúc nhúc ở đó sẽ được sống. Sẽ có rất nhiều cá, vì nước này chảy tới đâu, thì nó chữa lành; sông này chảy đến đâu, thì ở đó có sự sống.10 Sẽ có nhiều ngư phủ sinh sống ở trên bờ. Từ Ên Ghe-đi cho tới Ên Éc-la-gim sẽ toàn là bãi phơi lưới. Cá ở đây cũng nhiều và đủ loại như cá ở Biển Lớn.11 Nhưng đầm lầy của nó sẽ không hoá ra lành mà chỉ dùng để lấy muối.12 Trên hai bờ sông sẽ mọc lên mọi giống cây ăn trái, lá không bao giờ tàn, trái không bao giờ hết: mỗi tháng các cây đó sẽ sinh trái mới nhờ có nước chảy ra từ thánh điện. Trái dùng làm lương thực còn lá để làm thuốc."
Ngôn sứ Êdêkien thấy nước chảy ra từ bên phải Đền Thờ. Dòng nước càng đi càng lớn trở thành dòng sông. Nơi nào nước chảy đến thì sự sống phát sinh, cây cối xanh tươi và biển chết trở nên lành. Đây là hình ảnh tiên báo ơn cứu độ từ Thiên Chúa tuôn trào, biến đổi thế giới chết chóc thành sự sống.

2. Thành tựu nơi Chúa Giêsu Kitô

31 Hôm đó là ngày áp lễ, người Do-thái không muốn để xác chết trên thập giá trong ngày sa-bát, mà ngày sa-bát đó lại là ngày lễ lớn. Vì thế họ xin ông Phi-la-tô cho đánh giập ống chân các người bị đóng đinh và lấy xác xuống.32 Quân lính đến, đánh giập ống chân người thứ nhất và người thứ hai cùng bị đóng đinh với Đức Giê-su.33 Khi đến gần Đức Giê-su và thấy Người đã chết, họ không đánh giập ống chân Người.34 Nhưng một người lính lấy giáo đâm vào cạnh sườn Người. Tức thì, máu cùng nước chảy ra. (Ga 19, 31-34)
 “Một người lính đâm cạnh sườn Người, tức thì máu và nước chảy ra.”

Giáo Hội đọc biến cố này như sự ứng nghiệm thị kiến của ngôn sứ Êdêkien. Đền Thờ mới chính là Đức Kitô. “Bên phải Đền Thờ” chính là cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Kitô. Nước chảy ra biểu tượng của Bí tích Rửa tội và Thánh Thần ban sự sống. Như vậy, nguồn mạch sự sống không còn ở một tòa nhà, mà nơi chính Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh.

3. Ý nghĩa

Khi linh mục rảy nước thánh và hát Vidi aquam, Giáo Hội nhắc lại Phép Rửa mà chúng ta đã được thanh tẩy và tái sinh, nước không chỉ rửa sạch, mà còn làm cho sống. Khác với mùa Thường niên, thường nhấn mạnh đến sám hối, mùa Phục Sinh nhấn mạnh niềm vui được cứu độ và được tái sinh trong Đức Kitô.

Khi rảy nước thánh không chỉ là nhắc nhớ tội lỗi được tha nhưng là a/ Tuyên xưng: tôi đã được tái sinh. b/ Cử hành: sự sống mới đang hoạt động nơi tôi. c/ Loan báo: ơn cứu độ lan tỏa như dòng nước.  

Vì thế mới có câu tiếp theo: “Và mọi kẻ được nước này chạm tới đều được cứu độ.”

Cử chỉ này mời gọi tín hữu sống lại ơn gọi đã nhận nơi giếng rửa tội và trở thành “dòng nước sống” cho người khác.

“Ai khát, hãy đến với tôi, ai tin vào tôi, hãy đến mà uống! Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống” (Ga 7, 38).

 

                                Gb. Nguyễn Thái Hùng 

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2026

Hôn Chân Chúa

 


    Nụ hôn của Giuđa cũng có thể ở trong mỗi người khi chúng ta nói yêu Chúa nhưng sống ngược lại, khi chúng ta giữ hình thức nhưng thiếu lòng thành. Khi đó chúng ta đang “hôn Chúa kiểu Giuđa”.
    Hôn Chân Chúa

    Hôn Chân Chúa

    Mỗi lần Tuần Thánh đến, tôi nhớ đến những đêm dài chực chờ để được ‘hôn chân Chúa’.



    Sau những nghi thức phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh kết thúc, quê tôi thường có rước tượng Chúa chịu nạn và mai táng Chúa trong mộ. Tượng Chúa to như người thật và được đặt trong quan tài bằng kính, để mọi người có thể thấy rõ các chi tiết hằn lên thân xác đau thương của Ngài. Và đôi chân thò ra để mọi người hôn kính. Điều đặc biệt hấp dẫn bọn trẻ con chúng tôi là chung quanh đôi bàn chân của Chúa có đầy cốm hoặc bỏng ngô. Mỗi lúc đến hôn chân Chúa, bọn tôi chẳng để ý gì đến những đau thương Chúa đã chịu mà chỉ nhớ mỗi lần hôn là hai tay bóc đầy những bỏng ngô và cốm ngọt. Lần này đến lần khác… cho đến khi miệng không còn thích thú nữa.

    Ôi tuổi nhỏ ngây thơ và khờ dại. Ngày ấy đã xa, xa quá rồi…


    Tôn Kính Thánh Giá

    Việc hôn chân Chúa, trong phụng vụ chính thức, nghi thức này được gọi là Tôn kính Thánh Giá (adoratio Crucis), bởi vì đối tượng tôn kính không phải là “bàn chân tượng Chúa” nhưng là Thánh Giá, dấu chỉ của hy tế cứu độ của Chúa Giêsu Kitô.

    Tuy nhiên, trong thực hành đạo đức bình dân, nhất là khi có tượng chịu nạn, giáo dân quen diễn tả bằng hôn chân Chúa.

    Khi hôn hoặc chạm vào Thánh Giá, người tín hữu bày tỏ lòng biết ơn vì Chúa đã chịu chết vì mình và đón nhận mầu nhiệm thập giá như nguồn ơn cứu độ. Như thế, chúng ta không phải tôn kính vật chất, mà là Đấng đã chịu đóng đinh.

    Cử chỉ này diễn tả sự hiệp thông của chúng ta với cuộc thương khó của Chúa và sẵn sàng “vác thập giá mình” trong đời sống, như Chúa mời gọi chúng ta: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo”(Mt 16, 24).


    Lịch Sử Của Nghi Thức

    Vào thế kỷ thứ IV, sau khi Constantinô Đại đế cho tự do tôn giáo (313), Thánh Giá thật được tôn kính tại nơi Chúa chịu đóng đinh. Điều này được một người nữ hành hương Egeria (năm 380) ghi lại: Các tín hữu tiến lên, cúi mình và hôn kính Thánh Giá.

    Nghi thức này đưa vào phụng vụ Rôma thế kỷ VII (600s). Dưới triều đại các Đức Giáo Hoàng thời đó, như Grêgôriô Cả, tiếp nhận nhiều yếu tố từ Đất Thánh, trong đó có nghi thức tôn kính Thánh Giá Thứ Sáu Tuần Thánh.

    Việc tôn kính Thánh Giá Thứ Sáu Tuần Thánh được phát triển và lan rộng trong thế kỷ VIII–IX và được chuẩn hóa trở thành một phần chính thức của Thứ Sáu Tuần Thánh.


    Nụ Hôn Tình Yêu



    Khi hôn chân Chúa, tôi nhớ đến người phụ nữ trong nhà ông Simôn.

    “Có người thuộc nhóm Pha-ri-sêu mời Đức Giê-su dùng bữa với mình. Đức Giê-su đến nhà người Pha-ri-sêu ấy và vào bàn ăn. Bỗng một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pha-ri-sêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên.

    Thấy vậy, ông Pha-ri-sêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng: “Nếu quả thật ông này là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi!”  Đức Giê-su lên tiếng bảo ông: “Này ông Si-môn, tôi có điều muốn nói với ông!” Ông ấy thưa: “Dạ, xin Thầy cứ nói.” Đức Giê-su nói: “Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người năm chục. Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thương tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn?” Ông Si-môn đáp: “Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn.” Đức Giê-su bảo: “Ông xét đúng lắm.”

    Rồi quay lại phía người phụ nữ, Người nói với ông Si-môn: “Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ô-liu, ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi. Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều (Lc 7, 36-47).

    Nụ hôn của người phụ nữ tại nhà ông Simôn người Pharisêu là một trong những cử chỉ đẹp và sâu sắc nhất trong Tin Mừng. Chúng ta biết, trong văn hóa Do Thái, hôn má là cách chào hỏi bình thường. Nhưng thánh Luca lại kể, chị hôn chân Chúa Giêsu và hôn liên tục. Điều này cho thấy đây không phải phép lịch sự mà là một hành vi phi thường.

    Chị khóc, lấy nước mắt rửa chân và hôn chân Chúa Giêsu. Đây là ngôn ngữ của một người ý thức tội lỗi và đang tìm kiếm ơn tha thứ. Vì vậy, nụ hôn trở thành một lời xin tha thứ không cần thốt ra bằng lời.

    Chúa Giêsu nói: “Tội chị rất nhiều, nhưng đã được tha, vì chị đã yêu mến nhiều”, nghĩa là không phải chị được tha vì hôn, nhưng nụ hôn biểu lộ  tình yêu phát sinh từ ơn tha thứ.

    Chị không dám nhìn lên, không dám chạm tay bình thường mà chỉ dám cúi xuống chân. Đây là tư thế khiêm hạ của người tội lỗi cũng là tư thế của người thờ phượng, như hai người lên đền thờ cầu nguyện (x. Lc 18, 9-14).

    Trong Kinh Thánh, hôn cũng có thể là cử chỉ tôn kính thờ phượg Thiên Chúa, như sau này các tư tế hôn bàn thờ.

    Khi hôn chân Chúa, tâm tình chị không chỉ là tình cảm mà là nhìn nhận Ngài là Đấng Thánh, trái ngược với sự lạnh lùng của chủ nhà.

    Chúa Giêsu nói với Simôn người Pharisêu: “Ông đã không hôn tôi … Còn chị này thì không ngừng hôn chân tôi”. Điều này cho thấy ông Simôn làm đúng luật nhưng thiếu tình yêu. Còn người phụ nữ tội lỗi nhưng đầy tràn yêu mến.

    Tóm lại, nụ hôn của chị không chỉ là một hành vi sám hối, mà còn là môt hành vi yêu mến, khiêm hạ và thờ phượng. Cho nên nụ hôn của chị không chỉ chạm vào chân Chúa, mà chạm đến trái tim của Thiên Chúa.

    Nụ Hôn Phản Bội

    Khi hôn chân Chúa, tôi cũng nhớ đến Giuđa Ítcariốt, một môn đệ thân tín của Chúa Giêsu.

     

    “Người còn đang nói, thì Giu-đa, một người trong nhóm Mười Hai, đã đến. Cùng đi với hắn, có cả một đám người đông đảo mang gươm giáo gậy gộc. Họ được các thượng tế và kỳ mục trong dân sai đến. Kẻ nộp Người đã cho họ một dấu hiệu, hắn dặn rằng: “Tôi hôn ai thì chính là người đó. Các anh bắt lấy!” Ngay lúc đó, Giu-đa tiến lại gần Đức Giê-su và nói: “Ráp-bi, xin chào Thầy!”, rồi hôn Người.” (Mt 26, 47-49). “Đức Giê-su bảo hắn: “Giu-đa ơi, anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao?” (Lc 22, 48).

    Giuđa Ítcariốt đã dùng nụ hôn để làm dấu chỉ cho lính bắt Chúa.

    Trong văn hóa Do Thái, môn đệ có thể hôn Thầy để tỏ lòng kính trọng. Vì thế, khi Giuđa đến và hôn Chúa Giêsu không ai thấy lạ, vì đó là dấu hiệu quen thuộc. Chính vì “bình thường” nên nó trở thành dấu hiệu phản bội hoàn hảo.

    Xét về bản chất, đây là sự đảo ngược của tình yêu. Nụ hôn vốn là dấu chỉ tình yêu và sự gần gũi, nhưng Giuđa dùng nó để chỉ điểm và trao nộp. Đây là điều làm nó trở nên khủng khiếp vì lấy cái đẹp để che giấu cái xấu.

    Giuđa là người đã sống gần Chúa, nên nụ hôn này nói lên sự phản bội của một trái tim đã từng yêu.

    Chúa Giêsu đau xót nhìn Giuđa và nói “Giuđa, anh dùng cái hôn mà nộp Con Người sao?” (Lc 22,48). Đây không phải lời kết án nặng nề, mà là một câu hỏi đau lòng, một lời đánh thức lương tâm.

    Nụ hôn của Giuđa cũng có thể ở trong mỗi người khi chúng ta nói yêu Chúa nhưng sống ngược lại, khi chúng ta giữ hình thức nhưng thiếu lòng thành. Khi đó chúng ta đang “hôn Chúa kiểu Giuđa”.

    Khi lên ‘hôn chân Chúa’ tôi đã ‘hôn’ thế nào?

    Nụ hôn nào dành cho Người/người?

    Nụ hôn nào dành cho tôi?
    Gb. Nguyễn Thái Hùng
    Thứ Sáu Tuần Thánh  2026


     

    Thứ Bảy, 10 tháng 10, 2020

    CHA TÔI, NGƯỜI THỢ MỘC

     

    CHA TÔI, NGƯỜI THỢ MỘC

     

     Nguyễn Thái Hùng

     


             Vào ngày 20 tháng 12 âm lịch hàng năm, những người làm nghề mộc đều dâng nén hương tưởng nhớ ông tổ của nghề là Nguyễn Công Nghệ.

     

    Vào thời chúa Trịnh, chàng trai trẻ 18 tuổi có tay nghề làm mộc nổi tiếng ở xứ Bắc được mời vào cung và giao nhiệm vụ tạo chiếc ngai vàng sao cho xứng tầm. Nhưng khi hoàn thành, chàng trai đã bị giam vào ngục tối vì đã nằm vắt vẻo lên ngai ngủ một cách ngon lành.

     

    Sau này, với tài nghệ khéo léo, cái tên Nguyễn Công Nghệ đã đi vào lịch sử của nghề mộc và ông cũng chính là ông tổ của nghề mà mọi người ai ai cũng kính trọng và luôn tưởng nhớ. Vì thế, tới vùng miền nào, ta cũng bắt gặp các làng nghề mộc quanh năm rộn ràng tiếng cưa đục. Các nghệ nhân dân gian đã đem những tinh hoa dân tộc hòa cùng ý tưởng dân dã vào từng thớ gỗ tạo nên những sản phẩm có giá trị, quý, bền đẹp, có độ tuổi hàng trăm năm.

     

    Ông tổ Nghề Mộc trên thế giới

     

    Lỗ Ban sinh ra ở nước Lỗ. Tên thật là Công Du Ban, còn gọi là Công Du Tử. Ông là một kỹ sư xây dựng nổi tiếng và thợ thủ công trong lịch sử Trung Quốc và từng làm quan trong bộ xây dựng.

     

    Lỗ Ban sinh vào ngày 7 tháng 5 năm 507 trước Công nguyên. Lúc ông được sinh ra, những con sếu tụ tập lại và một mùi thơm kỳ lạ lan tỏa khắp ngôi nhà. Tất cả những người dân đều ngạc nhiên. Đó là điềm lành chứng tỏ một vị Thần sắp chuyển sinh vào thân người. Khi ông còn trẻ, ông không thích đọc và viết. Thay vào đó, ông rất quan tâm đến những nghề thủ công mỹ nghệ như là điêu khắc. Khoảng 15 tuổi, ông nhận ra mục đích trong cuộc sống của mình và đi học với thầy Đoan Mộc. Sau nhiều tháng học hỏi thấu đáo, ông đã tinh thông nghề này.

     

              Một ngày nọ, ông tình cờ gặp Cựu Bao. Họ hàn huyên với nhau khá lâu. Cuối cùng, Lỗ Ban nhận Cựu Bao làm thầy và học điêu khắc và học vẽ. Lỗ Ban muốn mang đến một cách nhìn hoàn toàn mới cho văn hóa Trung Quốc. Lỗ Ban học tập với sự tập trung mạnh mẽ, học làm mộc, chạm đá, và những kỹ năng khác. Ông đã sáng tạo ra nhiều công cụ kỳ diệu và dạy nhiều học trò.

     

    Lỗ Ban cũng làm ra ngựa gỗ mà có thể tự đi bộ trên đất. Đây là một dạng thức sớm nhất của “xe máy” được ghi chép lại. Trong thời Tam Quốc, Gia Cát Lượng đã sử dụng những con ngựa của Lỗ Ban để vận chuyển lương thực. Tuy nhiên, kỹ thuật này sau đó đã mất.

     

    Lỗ Ban cũng làm ra nhiều công cụ mộc khác cho người Trung Quốc, ví dụ như móc khoan, máy xay đá, xẻng, dụng cụ đo góc, mudou và thước đo. Người ta nói rằng Lỗ Ban đã phát minh ra cái cưa sau khi tay của ông bị cắt bởi lá cỏ. Lỗ Ban cũng tạo ra thang phá thành trong chiến tranh và chín dụng cụ sử dụng trong chiến tranh. Ông cũng làm ra bản đồ đo vẽ địa hình 3 chiều từ sớm - Cửu Châu Đồ - được các hoàng đế Trung Quốc đáng giá cao trong lịch sử. Thông qua những phát minh của mình, Lỗ Ban đã mang lại những lợi ích to lớn cho người dân. (1) http://noithatducthien.com.vn/tin-tuc/tho-moc-va-lich-su-cua-nghe-moc.html

     

    Nghề Mộc Trong Thánh Kinh

     

    Trong Kinh Thánh, các thợ mộc có vị trí quan trọng, như ông Giu-se làm nghề mộc.

     

    Thánh Giu-se hay Yuse từ tiếng Ý Giuseppe, từ tiếng Anh Joseph, từ tiếng Do Thái: יוֹסֵף "Yosef"; tiếng Hy Lạp: Ἰωσήφ : nghĩa là xin Thiên Chúa thêm vào. Ông là con của Gia-cóp (Mt 1,16) hay Ê-li (Lc 3,23), cũng là “con cháu Đa-vít” (Mt 1,20). Tại Na-da-rét, ông làm nghề tektôn (x. Mt 13,55) có nghĩa là: thợ xây nhà, thợ làm gỗ, đá hay kim loại... Ông đính hôn với Ma-ri-a (Mt 1,18; Lc 1,27). Ông đón nhận Hài Nhi, hôn thê Ma-ri-a và đóng vai trò quan trọng trong Tin Mừng thời thơ ấu (Mt 1 & Lc 1-2); trong Phúc Âm ông được gọi là tektôn (thợ mộc), Đức Giê-su cũng được ông dạy và tinh thông nghề này (Mt 13,55).




              Theo phong tục của người Do-thái, những cậu bé trai bắt đầu được giáo dục lao động để làm việc từ khi còn nhỏ, thường là học làm công việc của cha mình. Sau khi đã tròn 12 tuổi, đứa trẻ được coi là đủ chín chắn để tự chủ và tự chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình, kể cả trong việc lựa chọn công việc của mình nữa.

     

    Chính vì thế khi mười hai tuổi, con trẻ Giê-su sau khi cùng cha mẹ từ nhà lên thành Giê-ru-sa-em để dự lễ Vượt qua đã muốn ở lại nơi Đền thờ để bắt tay vào làm công việc của Cha mình (x. Lc 2,41-52).

     

    Trong sách Mát-thêu, tác giả gọi Giê-su là con của một tekton (τέκτων) (Mt 13,55), còn Mác-cô thì gọi Giê-su chính là một tekton (Mc 6,3). Từ Hy-lạp tekton thường được dịch theo nghĩa hẹp là “thợ mộc”, nhưng nghĩa rộng hơn (tek là nguồn gốc các từ technicaltechnology chỉ kỹ thuật, công nghệ) có thể bao gồm những người chế tạo vật dụng từ nhiều vật liệu khác nhau không chỉ là gỗ; có thể bao gồm cả thợ xây, nhà điêu khắc, kiến trúc sư... (2) https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1nh_Giuse)

     

    Người thợ mộc cần có kiến thức, sức khỏe và kỹ năng cần thiết.

    Ông biết những tính chất của gỗ mà ông dùng. Ông có thể lấy gỗ từ các cây trồng ở địa phương như cây bách, sồi, tuyết tùng, sung dây và ôliu... Ông phải vào rừng, chọn những cây thích hợp, đốn xuống rồi kéo những khúc gỗ nặng về xưởng của mình.

     

    Những sản phẩm để xây nhà như cắt những cây xà để làm mái, làm bậc thang bên trong, cửa, cửa sổ và khung tường ...

     

    Những sản phẩm đồ nội thất như tủ, kệ hoặc cửa; ghế đẩu, ghế và bàn có kích thước lẫn hình dạng khác nhau; cái nôi. Để trang trí một số đồ nội thất, có lẽ ông khảm vào các họa tiết phức tạp. Để bảo trì và làm cho sản phẩm đẹp mắt, ông có thể phủ lên sáp ong, véc-ni hoặc dầu.

     



                Thợ mộc cũng làm những dụng cụ cho nhà nông: cái ách làm từ gỗ cứng cũng như cái chĩa, cái cào và xẻng. Cái cày phải cứng cáp vì các đầu sắt nhọn của nó sẽ cày những luống qua đất có nhiều đá. Ông làm xe ngựa, xe bò cùng với bánh xe gỗ đặc hoặc bánh xe có nan hoa.

     

    Trong thùng dụng cụ của thợ mộc có : Cái cưa với khung bằng gỗ, gắn lưỡi kim loại có răng để cưa theo chiều kéo xuống. Một thước vuông góc để định liệu công việc và một cái dọi để canh các bề mặt theo chiều dọc. Trong thùng dụng cụ còn có thước thăng bằng, một cây thước kẻ, một cái bàn bào lưỡi bén có thể điều chỉnh để bào nhẵn miếng gỗ xù xì và một cái rìu để đốn cây. Cái tiện tay và cái đục lỗ dùng để cắt và tạo hình những thanh gỗ. Một cái búa gỗ dùng để đóng các chốt hoặc để táng vào cái đục. Một cái cưa tay nhỏ, cái dao bào để tạo hình, và đinh. Một cái búa sắt và cái rìu để làm phẳng gỗ. Một con dao cũng như các cái đục có nhiều kích cỡ. Cái khoan tay hình cung. (3) (https://wol.jw.org/vi/wol/d/r47/lp-vt/2010570)

     

    Những đồ dùng của người thợ mộc cũng được các ngôn sứ đề cập đến trong các sứ điệp của các ngài.

     

    Thợ mộc thường có một xưởng làm việc và nhiều người còn có thể chế tác với những loại vật liệu khác như đá, sắt, đồng cũng như làm trên gỗ (2Sm 5,11; 1Sb 14,1; Mc 6,3).

     

    Ngôn sứ I-sai-a đề cập bốn loại công cụ của thợ mộc gồm: Thước dây, thước đo góc, cái bào gỗ và một cây rìu (x. Is 44,14).

     

    Cây rìu vừa được dùng để đẽo gỗ vừa để đốn cây. Rìu có một cái lưỡi bằng sắt được gắn chặt vào cái cán gỗ với sợi dây da. (Đnl 19,5 và 2V 6,5).

     

    Thời cổ đại, người ta dùng loại dụng cụ bằng đá lửa (flint : là một loại khoáng thạch trầm tích có rất nhiều ngoài thiên nhiên, khi cọ xát có thể tạo ra lửa, loại đá lửa này rất rắn và có cạnh sắc bén nên được người cổ đại dùng làm nhiều loại công cụ khác nhau) có hình dáng thuôn dài để làm cây cưa. Sau này, cưa được làm bằng dải kim loại gắn trong khung bằng gỗ.

     

    Cây cưa của thợ mộc cũng được đề cập trong Kinh Thánh ở 1V 7,9.

     

    Những cây búa được làm bằng đá hoặc kim loại và những cái vồ bằng gỗ. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a cũng có nhắc đến việc sử dụng búa và đinh (Gr 10,4).

     

    Việc sử dụng cây dùi cũng được đề cập trong Xh 21,6 và Đnl 15,17. Những công cụ dùng cho việc khoan, chạm khắc thường có cán cầm làm bằng xương thú. (4) (http://truongbuudiepapt.net/vung-niem-tin/tho-moc-doi-song-thoi-kinh-thanh.html)

     

    Chúa Giê-su không những là con bác thợ mộc (Mt 13,55) mà chính là anh thợ mộc lành nghề (Mc 6,3) được nhiều người yêu quý. 

               

    Khi ra mắt dân chúng và rao giảng Nước Thiên Chúa, Chúa Giê-su đã nói với đám đông : “Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không để ý tới? Sao anh lại nói với người anh em: “Hãy để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt bạn”, trong khi có cả một cái xà trong con mắt anh?”(Mt 7,3-4) Người thợ mộc biết cây đà làm  nhà lớn thế nào so với cái rác nhỏ bé!

           

    Khi có người xin đi theo nhưng lại xin phép từ biệt gia đình trước đã, Chúa Giê-su đã nói : “Ai đã tra tay cầm cày mà còn ngoái lại đàng sau, thì không thích hợp với Nước Thiên Chúa.” (Lc 9,62)

     

    Một trong những lời mời nồng ấm và dịu dàng của Chúa Giê-su liên quan đến một dụng cụ mà người thợ mộc làm. Ngài nói : “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.” (Mt 11.28-30).  Chắc chắn, Chúa Giê-su biết cách làm ách “dễ chịu”, tức vừa vặn, chứ không gây phồng giộp.

     

    Với kiến thức của một người thợ xây lành nghề, Chúa Giê-su mời gọi những ai đến với Ngài để trở thành những môn đệ chân chính đó là phải biết lắng nghe và đem ra thực hành Lời Ngài, “Người ấy ví được như một người khi xây nhà, đã cuốc, đã đào sâu và đặt nền móng trên đá. Nước lụt dâng lên, dòng sông có ùa vào nhà, thì cũng không lay chuyển nổi, vì nhà đã xây vững chắc. Còn ai nghe mà không thực hành, thì ví được như người xây nhà ngay mặt đất, không nền móng. Nước sông ùa vào, nhà sụp đổ ngay và bị phá huỷ tan tành.” (Lc 6,48-49).

     

              Cha Tôi, Người Thợ Mộc

     



             Trước năm 1975, tôi thấy ba hay làm đồ mộc. Làm không phải để bán, nhưng là để sử dụng trong gia đình. Lúc đó, ba tôi là một nhân viên của Ty Xã Hội.

     

    Sau năm 1975, với kiến thức nghề mộc, ba tôi vào làm cho Công ty quốc doanh Cao Su, trở thành một người thợ lặng lẽ bên công việc của mình. Và cũng để nuôi dưỡng ơn gọi cho 2 anh em.

     

    Năm nay, thu lại đến. Đây là giỗ lần thứ 8 của ba. Tôi mới viết về ba. Tên thánh của ba là Phêrô. Như Phêrô của Chúa. Thẳng thắn và cương nghị. Luôn ngửng cao đầu. Không chịu cúi lưng trước người khác. Luôn chia sẻ và cho đi. Cuộc sống đầy thứ tha.

     

    Nghề nghiệp lại là thợ mộc. Như thánh Giu-se. Dưỡng phụ của Chúa Giê-su. Âm thầm và lặng lẽ chu toàn thánh ý của Chúa.

     

    Tôi nghe kể rằng, sau ngày thống nhất đất nước, tỉnh lỵ Phước Long bình địa. Gia đình phải về Phước Vĩnh, nương tựa trong mảnh đất của Giáo xứ. Trước là để có nơi ở, sau là giữ Nhà Thờ Giáo xứ. Vì sợ hãi, mà nhiều giáo dân đã lấy đinh đóng cửa Nhà Thờ tránh bị chiếm lấy.

     

    Mảnh đất của gia đình tại đây hồi thập niên 60 đang bị một người lạ chiếm lấy. Những người hàng xóm bảo làm đơn xin lại, họ sẽ làm chứng cho. Nhưng cha tôi nói: “Họ ở rồi thì thôi vậy!.” Và lại bắt đầu làm việc từ đầu.

     

    Trong thập niên 70 và 80 của thế kỷ XX, trong những dịp nghỉ, tôi về phụ giúp gia đình. Giúp ba khai hoang đất đai. Nhiều mảnh đất sau này không thấy còn canh tác. Hỏi ra, ba đã cho người ta rồi.

     

    Chính tấm lòng rộng rãi của ba vẫn còn ảnh hưởng đến con cái chúng tôi hôm nay.

     

    Một lần, tôi nghe kể, căn nhà mà ba làm (2010) trước khi mất (2012) là căn nhà thứ mười ba.

     

    Tôi còn nhớ căn nhà tại Đức Bổn, nơi tôi sinh ra (1959), mái nứa, bốn bên thưng tre, trước mặt là con đương làng. Xa hơn một tí là giòng sông êm ả trôi. Có lẻ trước đó là một căn nhà tạm bợ, vì chúng tôi di dân từ An Du Bắc, Vĩnh Linh, Quảng Trị vào.

     

    Khi lên Phước Vĩnh, chắc chắn ba đã làm một căn nhà mới tạm bợ. Một căn nhà gỗ khang trang hơn được hoàn thành vào năm 1968. Mùa xuân này nó đã bị phá hủy.

     

    Một căn nhà mới khác xuất hiện ở Nhơn Hòa I khi gia đình chạy vào đó ẩn cư.

     

    Lại một căn nhà nữa được cất lên tại trung tâm tỉnh lỵ Phước Long. Nhà tôn, vách ván. Nhưng căn nhà này bị tiêu hủy hoàn toàn khi Phước Long được giải phóng vào ngày 6 tháng giêng 1975.

     

    Giữa những đau thương và mất mát, gia đình lại phải tìm về nơi chốn cũ để tìm cách sống sót. Phước Vĩnh là nơi chốn cũ, cùng nhiều bà con thân thuộc, và cũng có nhiều đất đai để khai hóa. Và ba tôi đã chọn nơi này và nương nhờ trên mảnh đất của giáo xứ, ở sát cạnh bên Nhà Thờ.

     

    Một căn nhà mái tranh được cất lên. Bốn bên thưng tre nứa. Ban đêm, ngồi đọc kinh, thấy có những con vật nhỏ rơi xuống trước mặt. Nhìn kỹ, chúng là những con bò cạp từ trên mái tranh rơi xuống.

     

    Khi khá lên, ba tôi đã thay ngôi nhà tranh vách nứa bằng ngôi nhà tôn vách ván.

     

    Năm 1991, khi có linh mục về làm quản xứ, gia đình đã trả lại đất cho giáo xứ, và di chuyển cách đó khoảng 300m. Một căn nhà khác đã xuất hiện.

     

    Chính tại nơi đây, năm 2010, ba tôi đã làm căn nhà thứ 13,  khang trang và thoáng mát. Và ba đã ra đi ngày 26 tháng 10 năm 2012.

     

    Trong lần giỗ thứ 8 này, chúng con quây quần bên ba/ông, với những lòi kinh thương nhớ, với những thánh lễ hy sinh ... tất cả đều nói lên rằng ba/ông vẫn còn mãi trong tâm hồn chúng con. Một di sản mà ba/ông để lại cho chúng con là : Sống yêu thương – luôn phó thác vào Thiên Chúa và yêu mến Mẹ Maria qua trang chuỗi Mân côi.

     

     Nhớ ba

    Nguyễn Thái Hùng

    Tháng 10 2020