Trang

Chủ Nhật, 2 tháng 1, 2022

Đức Giê-su Ki-tô – Đường giao ước mới

 

Đức Giê-su Ki-tô – Đường giao ước mới

 
  •  
  •  


ĐỨC GIÊ-SU KI-TÔ - ĐƯỜNG GIAO ƯỚC MỚI

Gm. Phêrô Nguyễn Văn Viên

WHĐ (01.01.2022) - Trong tiếng Do-thái, từ ‘בְּרִית (berith) có nghĩa là giao ước (covenant). Từ này tương đương với từ ‘διαθηκη’ (diatheke) của Hy-lạp. ‘Giao ước’ là chủ đề chính yếu của nội dung đức tin Ki-tô Giáo. Từ ‘giao ước’ xuất hiện hơn 300 lần trong Kinh Thánh. So với các sách khác trong bộ Tân Ước, tác giả thư gửi tín hữu Do-thái là người dùng từ giao ước (διαθηκη) nhiều nhất. Theo nghĩa thông thường, giao ước được hiểu như là sự ràng buộc giữa hai hay nhiều thực thể, bao gồm quyền lợi, trách nhiệm và chế tài liên quan. Xã hội loài người có nhiều loại giao ước, chẳng hạn như giao ước giữa hai bên có cùng vị thế, giao ước giữa một bên có vị thế cao hơn và một bên có vị thế thấp hơn hoặc giao ước hỗn hợp giữa nhiều bên với quyền lợi, nghĩa vụ và chế tài khác nhau.

Trong các giao ước thuộc mặc khải Ki-tô Giáo có những giao ước có điều kiện (conditional covenant) và những giao ước vô điều kiện (unconditional covenant). Giao ước có điều kiện là giao ước trong đó mỗi bên đều có nghĩa vụ đối với nhau, chẳng hạn như giao ước giữa Thiên Chúa với dân Do-thái qua trung gian Mô-sê là giao ước có điều kiện (Đnl 11,1-32). Giao ước có điều kiện đòi hỏi sự đáp ứng của các bên, nếu vi phạm, hiệu quả của giao ước sẽ không thể trở thành hiện thực. Còn giao ước vô điều kiện là giao ước dựa trên lời hứa của Thiên Chúa, chẳng hạn như giao ước giữa Thiên Chúa và Áp-ra-ham hay giao ước giữa Thiên Chúa và Đa-vít (St 17,7; 2 Sm 7,8-16). Thiên Chúa đã hứa với Áp-ra-ham cũng như Đa-vít và Người luôn giữ lời. Điều này có nghĩa rằng dù tình trạng đức tin, luân lý hay hành động của Áp-ra-ham và Đa-vít như thế nào đi nữa thì lời hứa của Thiên Chúa vẫn thành tựu viên mãn. Quả thực, Áp-ra-ham và Đa-vít đã nhiều phen lầm lỗi nhưng Thiên Chúa luôn yêu thương và chu toàn lời hứa của Người (St 12,10-20; St 16,1-6; 2 Sm 24,10-25).

Chúng ta biết rằng từ ‘giao ước’ không xuất hiện trong những chương đầu của sách Sáng Thế (St 1-3). Tuy nhiên, ‘lời hứa và chúc lành’ là tiền đề và cũng là cách thế mặc nhiên diễn tả giao ước. Các trình thuật sách Sáng Thế gợi lên trong chúng ta hình ảnh giao ước giữa Thiên Chúa và Nguyên Tổ loài người cả trước và sau khi Nguyên Tổ sa ngã. Chẳng hạn, trước khi sa ngã, trong cuộc đối thoại giữa con rắn và người đàn bà, con rắn hỏi: “Có thật Thiên Chúa bảo: Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?” (St 3,1). Người đàn bà đáp: “Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn. Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết” (St 3,2-3). Sau sa ngã, Thiên Chúa nói với con rắn: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3,15). Khi giao ước bị vi phạm cũng là khi Nguyên Tổ bị trục xuất khỏi vườn địa đàng. Tuy nhiên, sách Sáng Thế cho chúng ta biết rằng giao ước giữa Thiên Chúa với Nguyên Tổ không hoàn toàn bị triệt tiêu bởi vì hậu duệ của Nguyên Tổ được mời gọi thực thi thánh ý Thiên Chúa, chẳng hạn như Ca-in và A-ben vẫn phải tiến dâng lễ vật cho Thiên Chúa để diễn tả sự tùng phục và cầu xin ơn lành của Người. Khi sự ác của con cái gia đình nhân loại lên tới đỉnh điểm và bị trừng phạt nặng nề là đại hồng thủy, Thiên Chúa đã thiết lập giao ước với Nô-ê và mọi người trong gia đình ông: “Ta sẽ lập giao ước của Ta với ngươi; ngươi hãy vào tàu, ngươi cùng với các con trai ngươi, vợ ngươi và vợ của các con trai ngươi" (St 6,18).

Có nhiều hình thức giao ước trong Kinh Thánh, trong đó năm giao ước đáng để chúng ta quan tâm nhất là: (1) Giao ước giữa Thiên Chúa và Nô-ê (St 6,18; St 9,11); (2) Giao ước giữa Thiên Chúa và Áp-ra-ham (St 15,18; St 17,7); (3) Giao ước giữa Thiên Chúa và dân Do-thái qua trung gian là Mô-sê (Xh 19,5-8; Xh 34,27); (4) Giao ước giữa Thiên Chúa và Đa-vít (2 Sm 7,8-16; Tv 89,3-4); (5) Giao ước mới giữa Thiên Chúa và gia đình nhân loại qua Trung Gian là Đức Giê-su (Mt 26,28). Trong bốn giao ước thuộc Cựu Ước (kể từ Áp-ra-ham), giao ước giữa Thiên Chúa và dân Do-thái qua trung gian là Mô-sê đóng vai trò rất quan trọng. Đây là hình thức giao ước được diễn tả cách sống động và đầy đủ nhất, bởi vì giao ước này được Thiên Chúa ‘viết’, còn các giao ước khác thì Thiên Chúa ‘nói’. Đặc biệt, giao ước này có ảnh hưởng lớn đối với những người thuộc Do-thái Giáo, Ki-tô Giáo, Hồi Giáo cũng như nhiều người thành tín khác trong gia đình nhân loại.

Lịch sử tương quan giữa Thiên Chúa và dân Do-thái cũng là lịch sử diễn tả sự khoan hồng, nhân từ, nhẫn nại của Thiên Chúa đối với họ là những người ích kỷ, phản loạn, bất trung (Lv 26,14-17; Đnl 29,25; Gs 7,11). Biết bao lần Thiên Chúa tha thứ cho họ vì vi phạm giao ước nhưng họ vẫn ‘tật nào chứng đó’. Chẳng hạn, dân Do-thái đã bội ước bằng việc đúc bê vàng để thờ lạy, nghĩa là dân Do-thái tự định dạng và tạo thần thánh cho họ, bất tuân huấn lệnh của Thiên Chúa (Xh 32,1-6). Vì thế, Mô-sê đã đập vỡ các tấm bia Chứng Ước khi thấy cảnh dân Do-thái thờ ngẫu tượng. Tuy nhiên, sau đó, Mô-sê đã cầu xin Thiên Chúa tha thứ cho họ. Cuối cùng, Thiên Chúa truyền cho Mô-sê đẽo các bia đá giống như trước và Người ghi lại nội dung tương tự như được ghi trong những tấm bia mà Mô-sê đã đập vỡ (Đnl 4,13; Đnl 10,4). Việc vi phạm giao ước vẫn tiếp tục xảy ra dưới thời các vua (sau Sa-lô-môn) và hậu quả là vương quốc bị phân chia thành vương quốc Giu-đê-a ở phía Nam và vương quốc Ít-ra-en ở phía Bắc (928 tCN). Sau đó, vương quốc Ít-ra-en ở phía Bắc bị xâm chiếm bởi đế quốc đế quốc Át-sua (721 tCN). Đến lượt, vương quốc Giu-đa ở phía Nam cũng bị thôn tính và dân Do-thái phải lưu đày Ba-by-lon (587 tCN). Những đau khổ và bấp bênh của dân Do-thái trong lịch sử được xem là hậu quả tất yếu của việc vi phạm giao ước giữa họ với Thiên Chúa.

Dân Do-thái nhiều lúc sa đọa đến nỗi Thiên Chúa nói với ngôn sứ Giê-rê-mi-a: “Còn ngươi, ngươi đừng chuyển cầu cho dân này, đừng cất tiếng than vãn và dâng lời nguyện xin cho chúng, cũng đừng nài nỉ Ta, vì Ta sẽ chẳng nghe ngươi đâu” (Gr 7,16). Bởi vì, dân Do-thái không chỉ vi phạm giao ước một hay vài lần mà ‘vi phạm có hệ thống’. Đó là lý do tại sao Thiên Chúa lại nói với ngôn sứ Giê-rê-mi-a về dân Do-thái những lời nặng nề như vậy. Tuy nhiên, đó không phải là những lời cuối cùng của Thiên Chúa đối với dân này, bởi vì, “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giàu tình thương, chẳng trách cứ luôn luôn, không oán hờn mãi mãi” (Tv 103,8-9). Mặc dù dân Do-thái lắm phen bội ước, bất trung và vi phạm giao ước, Thiên Chúa vẫn luôn yêu thương, tha thứ và tương quan giao ước giữa Thiên Chúa với họ không bao giờ bị mai một.

Lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a minh chứng cho sự khoan hồng, quảng đại của Người qua việc thiết lập giao ước mới: “Này sẽ đến những ngày - sấm ngôn của Đức Chúa - Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en và nhà Giu-đa một giao ước mới, không giống như giao ước Ta đã lập với cha ông chúng, ngày Ta cầm tay dẫn họ ra khỏi đất Ai-cập; chính chúng đã huỷ bỏ giao ước của Ta, mặc dầu Ta là Chúa Tể của chúng - sấm ngôn của Đức Chúa. Nhưng đây là giao ước Ta sẽ lập với nhà Ít-ra-en sau những ngày đó - sấm ngôn của Đức Chúa. Ta sẽ ghi vào lòng dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng Lề Luật của Ta. Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng, còn chúng sẽ là dân của Ta. Chúng sẽ không còn phải dạy bảo nhau, kẻ này nói với người kia: Hãy học cho biết Đức Chúa, vì hết thảy chúng, từ người nhỏ đến người lớn, sẽ biết Ta - sấm ngôn của Đức Chúa. Ta sẽ tha thứ tội ác cho chúng và không còn nhớ đến lỗi lầm của chúng nữa” (Gr 31,31-34). Trong các sách Cựu Ước, Gr 31,31 là nơi duy nhất chúng ta tìm được hạn từ ‘giao ước mới’ (בְּרִ֥ית חֲדָשָֽׁה / διαθήκην καινήν). Dưới nhãn quan của người Do-thái, giao ước mới kiện toàn các giao ước cũ và được áp dụng cho họ chứ không phải muôn dân muôn nước. Tuy nhiên, mặc khải Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng giao ước mới chính là giao ước được Đức Giê-su thực hiện và giao ước này dành cho mọi người, trong mọi thời và khắp mọi nơi. Đỉnh điểm của giao ước mới được diễn tả nơi Biến Cố Thập Giá của Đức Giê-su mà Người loan báo trước khi bước vào cuộc khổ nạn: “Đây là máu Thầy, máu giao ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28). Có hai điều mà chúng ta cần quan tâm ở đây, đó là ‘máu giao ước’ và ‘tha tội’, không chỉ tội trong quá khứ, mà còn trong hiện tại và mai ngày, có nghĩa rằng tội của mọi người trong gia đình nhân loại từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế. Trong đoạn văn song song với Mt 26,28, thánh Lu-ca trình thuật lời của Đức Giê-su: “Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì anh em” (Lc 22,20). Tương tự, thánh Phao-lô trình thuật lời của Đức Giê-su: “Đây là chén máu Thầy, máu đổ ra để lập giao ước mới” (1 Cr 11,25).

Câu khởi đầu của Tin Mừng Đức Giê-su theo thánh Mát-thêu, cũng là câu khởi đầu của bộ Tân Ước, gợi lên trong tâm trí chúng ta hai giao ước gắn liền với hai nhân vật quan trọng bậc nhất của lịch sử Do-thái là Áp-ra-ham và Đa-vít. Thánh nhân viết: “Đây là gia phả Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham” (Mt 1,1…). Theo dòng lịch sử, Đức Giê-su ra đời sau Áp-ra-ham khoảng hai ngàn năm và sau Đa-vít khoảng một ngàn năm. Khi viết ‘Đức Giê-su Ki-tô, con cháu vua Đa-vít, con cháu tổ phụ Áp-ra-ham’, thánh Mát-thêu muốn nhắc nhở độc giả rằng Thiên Chúa đã thiết lập giao ước vô điều kiện với Áp-ra-ham và Đa-vít. Hơn nữa, Người giữ lời giao ước bằng việc sai Con của Người đến với hậu duệ của Áp-ra-ham và Đa-vít để thiết lập giao ước mới hầu cứu độ và giải thoát nhân loại khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết.

Khi thiết lập giao ước với Áp-ra-ham, Thiên Chúa nói với ông về tương quan giữa Người và dân Do-thái: “Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng” (St 17,8). Tương tự như vậy, trong hành trình về với Đất Hứa, khi đề cập giao ước với Mô-sê, Thiên Chúa nói: “Ta sẽ nhận các ngươi làm dân riêng của Ta, và đối với các ngươi, Ta sẽ là Thiên Chúa” (Xh 6,7). Điệp khúc ‘Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng và chúng sẽ là dân của ta’ vang vọng ở nhiều cuốn sách khác của bộ Cựu Ước, chẳng hạn như Gr 11,4; Ed 37,23; Dcr 8,8. Trong sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a, Thiên Chúa phán: “Ta sẽ lập với chúng một giao ước muôn đời: Ta sẽ không bỏ chúng nữa, sẽ tiếp tục theo dõi và không ngừng thi ân cho chúng, cũng như ban cho chúng lòng kính sợ Ta để chúng không xa rời Ta nữa. Ta lấy làm vui mà thi ân cho chúng, và đem hết sức hết lòng mà trồng chúng vững chắc trên đất này” (Gr 32,40-41). Trực tiếp hay gián tiếp, điệp khúc ‘Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng và chúng sẽ là dân của ta’ cũng được diễn tả trong Tân Ước, chẳng hạn như 1 Cr 15,28; Dt 8,10; Kh 21,1-8, nhưng dân của Thiên Chúa ở đây cần phải được hiểu theo nghĩa rộng là mọi người trong gia đình nhân loại.

Khi diễn giải Hiến Chương Nước Trời (Tám Mối Phúc), Đức Giê-su cho mọi người biết rằng Người đến trần gian để kiện toàn lề luật Mô-sê và lời các ngôn sứ (Mt 5,17). Điều này cũng có nghĩa rằng Người kiện toàn các giao ước trong quá khứ. Quả thực, ngay trong Biến Cố Truyền Tin, sứ thần Gáp-ri-en nói với Đức Ma-ri-a: “Người [Đức Giê-su] sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1,32-33). Sau Biến Cố Truyền Tin, Đức Ma-ri-a lên đường tới nhà chị họ là Ê-li-sa-bét. Tràn ngập niềm vui mừng, cảm tạ, Đức Ma-ri-a cất lên bài ca ‘Ngợi Khen’ (Magnificat), trong đó có đoạn: “Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người, như đã hứa cùng cha ông chúng ta, vì Người nhớ lại lòng thương xót dành cho tổ phụ Áp-ra-ham và cho con cháu đến muôn đời” (Lc 1,54-55)Chúng ta biết rằng với giao ước mới, Áp-ra-ham không chỉ là cha của dân Do-thái mà còn là cha của những ai đặt niềm tin vào Đức Giê-su và theo Đường Giao Ước Mới của Người (Rm 4,1-25; 1 Ga 2,6). Sách Sáng Thế cho chúng ta biết rằng bởi tin vào lời hứa của Thiên Chúa, Áp-ra-ham được kể là người công chính chứ không phải nhờ việc cắt bì (St 15,6; St 17,23-27). Khi diễn tả tương quan giữa sự công chính, niềm tin và việc cắt bì (như là dấu chỉ giao ước), thánh Phao-lô biện luận: “Áp-ra-ham được kể là người công chính khi nào? Trước hay sau khi ông được cắt bì? Không phải sau, mà là trước khi ông được cắt bì! Ông nhận được phép cắt bì như dấu hiệu chứng thực rằng: Nhờ tin mà ông được trở nên công chính, trước khi được cắt bì. Như vậy, ông là cha của mọi kẻ tin mà không được cắt bì, và vì tin nên được kể là công chính” (Rm 4,10-11). Qua những lời này, thánh Phao-lô muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của niềm tin vào Đức Giê-su hơn là những dấu chỉ bên ngoài, chẳng hạn như việc cắt bì của dân Do-thái (St 17,9-27).

Nội dung đức tin Ki-tô Giáo cho chúng ta nhận thức rằng giao ước mới không được khởi xướng bởi con người nhưng bởi sự quan phòng của Thiên Chúa. Đây là giao ước mà Đức Giê-su thực hiện bằng cách trút bỏ chính mình để đảm nhiệm và kiện toàn. Điều đáng để chúng ta quan tâm là giao ước mới mà Đức Giê-su thiết lập không làm cho các giao ước cũ vô giá trị, cũng không hoàn toàn thay thế các giao ước cũ. Điều đáng nói ở đây là tinh thần của giao ước Đức Giê-su thiết lập là tinh thần mới. Cách thức Đức Giê-su thiết lập là cách thức mới. Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ Giê-rê-mi-a rằng giao ước này không khắc trên bia đá nhưng trong lòng con người. Hơn nữa, Thiên Chúa lên án những người cắt bì nhưng sống giả tạo. Người đề cao việc ‘cắt bì trong lòng’ như là điều cần thiết để minh chứng mình thuộc về Thiên Chúa (Gr 4,4; Gr 9,24-25).

Tương quan trong giao ước được Đức Giê-su thiết lập đặt nền tảng trên ‘tình yêu tự hiến’ qua sự đau khổ, sự chết và phục sinh của Người. Nếu như giao ước cũ (nhất là giao ước Si-nai) đặt nền tảng trên lề luật và việc tuân giữ lề luật thì giao ước mới đặt nền tảng trên tình thương và ân sủng của Thiên Chúa. Điều chi phối con người trong giao ước mới không phải là lề luật (law) mà là tình yêu (love) và mục đích của lề luật và tình yêu là cho sự sống của con người (life). Giao ước mới của Đức Giê-su giúp con người nhận ra hai điều quan trọng: (1) Tội lỗi con người và hậu quả của tội lỗi; (2) Cách thức Thiên Chúa xóa bỏ tội lỗi con người và hiệu quả của cách thức này. Theo thánh Phao-lô: “Khi sai chính Con mình đến mang thân xác giống như thân xác tội lỗi chúng ta để đền tội chúng ta, Thiên Chúa đã lên án tội trong thân xác Con mình” (Rm 8,3). Như thế, giao ước Đức Giê-su gọi là giao ước mới vì được diễn tả bởi tình yêu mới, tình yêu vượt quá sự nhận thức của mọi người trong gia đình nhân loại. Máu giao ước mới là máu tẩy rửa con người sạch muôn vàn tội lỗi, kéo con người ra khỏi số phận phải chết đời đời bởi vì Đức Giê-su đã chết và tiêu diệt sự chết một lần cho tất cả. Theo tác giả thư gửi tín hữu Do-thái: “Chúng ta được thánh hóa nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ” (Dt 10,10).

Dưới nhãn quan của thánh Phao-lô và tác giả thư gửi tín hữu Do-thái, mỗi giao ước trong lịch sử Do-thái mang những đặc tính khác nhau. Điều các ngài quan tâm nhất là Mô-sê và Đức Giê-su đại diện cho hai giao ước: (1) Giao ước cũ qua trung gian là con người; giao ước mới qua Trung Gian là Con Thiên Chúa. (2) Giao ước cũ đề cao việc làm; giao ước mới đề cao niềm tin. (3) Lề luật của giao ước cũ được khắc vào bia đá; lề luật giao ước mới (là lề luật tình yêu) được khắc vào tâm hồn. (4) Giao ước cũ lệ thuộc vào không gian, thời gian; giao ước mới vừa diễn ra trong không gian, thời gian, vừa siêu vượt không gian, thời gian. (5) Giao ước cũ tạm thời; giao ước mới trường cửu. (6) Giao ước cũ liên quan đến một dân tộc (dân tộc Do-thái); giao ước mới liên quan đến mọi dân tộc. (7) Giao ước cũ đòi hỏi sự vâng phục của dân Do-thái; giao ước mới lại là sự vâng phục của Đức Giê-su, Con Thiên Chúa, nhân danh toàn thể nhân loại. (8) Mô-sê là mục tử chăn chiên (gia súc); Đức Giê-su là Mục Tử Nhân Lành của đoàn chiên là gia đình nhân loại. (9) Mô-sê có sứ mệnh đưa dân Do-thái vào Đất Hứa; Đức Giê-su có sứ mệnh đưa mọi người vào Quê Hương Vĩnh Cửu. (10) Giao ước cũ được thiết lập với lễ vật là máu dê bò; Giao ước mới được thiết lập với lễ vật là máu Đức Giê-su (Dt 9,12). (11) Mô-sê chết cách tự nhiên trong tuổi già; Đức Giê-su hy sinh tính mạng vì ơn cứu độ nhân loại (Ga 10,11-15; Ga 10,15).

Giao ước mới của Đức Giê-su là giao ước ân sủng như thánh Phao-lô diễn tả: “Chính do ân sủng và nhờ lòng tin mà anh em được cứu độ: Đây không phải bởi sức anh em, mà là một ân huệ của Thiên Chúa; cũng không phải bởi việc anh em làm, để không ai có thể hãnh diện” (Ep 2,8-9). Giao ước ân sủng giúp mọi người nhận biết Thiên Chúa, nhận biết chính mình, nhận biết muôn vật muôn loài cách tỏ tường hơn. Tác giả thư gửi tín hữu Do-thái trình bày về sự trổi vượt của giao ước mới, giao ước ân sủng, so với giao ước cũ bởi vì Đấng Trung Gian của giao ước mới trổi vượt hơn đấng trung gian của giao ước cũ bội phần. Theo ngài: “Đức Giê-su được một tác vụ cao trọng hơn, bởi vì Người là Trung Gian của một giao ước tốt đẹp hơn; giao ước này căn cứ vào những lời hứa tốt đẹp hơn. Thật vậy, giả như giao ước thứ nhất đã hoàn hảo rồi, thì chẳng cần phải tìm giao ước thứ hai để thay thế” (Dt 8,6-7) hay: “Anh em đã tới cùng vị Trung Gian giao ước mới là Đức Giê-su và được máu của Người rảy xuống, máu đó kêu thấu trời còn mạnh thế hơn cả máu A-ben” (Dt 12,24). Giao ước này không ghi trên bia đá, giấy tờ hay bất cứ hình thức vật chất nào nhưng ghi vào lòng trí con người để mọi người nhận biết Thiên Chúa. Hơn nữa, với giao ước này, Thiên Chúa sẽ tẩy rửa mọi người khỏi muôn vàn tội lỗi (Dt 8,10-12).

Tác giả thư gửi tín hữu Do-thái khẳng định rằng ơn cứu độ trước hết không hệ tại ở việc cử hành các nghi lễ hiến tế gia súc nhưng hệ tại ở sự tự hiến của Đức Giê-su, Người là Lễ Vật đẹp lòng Thiên Chúa: “Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con” (Dt 10,6-7). Như vậy, lễ vật để thực thi thánh ý Thiên Chúa không phải là gia súc nhưng là Đức Giê-su. Người tế lễ không phải là tư tế thuộc dòng tộc Lê-vi nhưng là Đức Giê-su. Bàn thờ hiến tế không làm bằng gỗ hay đá nhưng là Đức Giê-su. Nói cách khác, sự trổi vượt của giao ước mới so với giao ước cũ không hệ tại ở sự tự chủ của con người nhưng là sự tự hiến của Đức Giê-su, Con Thiên Chúa, là Tư Tế, Lễ Vật và Bàn Thờ của giao ước mới.

Các tư tế Do-thái đóng vai trò quan trọng trong việc cử hành các nghi thức để nhắc nhở mọi người về giao ước mà Thiên Chúa đã thiết lập với cha ông họ. Theo các học giả Kinh Thánh, việc nhìn nhận Đức Giê-su là Tư Tế như được diễn tả trong thư gửi tín hữu Do-thái là điều hoàn toàn mới mẻ của Tân Ước. Bởi vì, đối với dân Do-thái, tư tế phải là người phát xuất từ dòng tộc Lê-vi, trong khi đó Đức Giê-su phát xuất từ dòng tộc Giu-đa. Hơn nữa, các tư tế ít giao du với những người khác, nhất là những thành phần bất hảo trong xã hội. Họ cũng tách mình khỏi những thứ có thể ảnh hưởng không tốt đến việc tế tự, chẳng hạn như thầy tư tế gặp người bị nạn trên đường từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-khô đã không dừng lại giúp nạn nhân vì sợ ô uế việc thánh (Lc 10,29-37). Đức Giê-su thì ngược lại: “Người đã phải nên giống anh em mình về mọi phương diện, để trở thành một vị Thượng Tế nhân từ và trung tín trong việc thờ phượng Thiên Chúa, hầu đền tội cho dân. Vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách” (Dt 2,17-18). Thánh Phao-lô diễn tả rõ hơn về điểm này: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2 Cr 5,21). Nhờ vậy, Người trở thành hy lễ hoàn hảo dâng lên Thiên Chúa. Đây thật là điều lạ lùng không chỉ đối với tâm thức của những người Do-thái mà còn đối với muôn người qua mọi thời đại.

Tác giả thư gửi tín hữu Do-thái cho chúng ta biết rằng Đức Giê-su không chỉ là tư tế hay thượng tế như nhiều người khác theo truyền thống mà là Thượng Tế siêu phàm (Dt 4,14). Người là Thượng Tế muôn đời theo phẩm trật Men-ki-xê-đê chứ không theo phẩm trật Lê-vi (dựa vào huyết tộc). Người trở nên Thượng Tế “không phải do Lề Luật quy định việc cha truyền con nối, nhưng do sức mạnh của một đời sống bất diệt” (Dt 7,16). Tác giả thư gửi tín hữu Do-thái biện luận: “Chức vụ tư tế Lê-vi là nền tảng của Lề Luật Thiên Chúa đã ban cho Dân. Vậy giả như người ta đạt được sự hoàn thiện nhờ chức vụ tư tế đó rồi, thì còn cần chi phải đặt lên một tư tế khác theo phẩm trật Men-ki-xê-đê, thay vì theo phẩm trật A-ha-ron” [A-ha-ron thuộc chi tộc Lê-vi] (Dt 7,11). Hơn nữa, cũng theo tác giả thư gửi tín hữu Do-thái: “Vị tư tế nào cũng phải đứng trong Đền Thờ lo việc phụng tự mỗi ngày và dâng đi dâng lại cũng ngần ấy thứ lễ tế; mà những lễ tế đó chẳng bao giờ xóa bỏ được tội lỗi” (Dt 10,11). Đức Giê-su vừa nhân danh Thiên Chúa mà đến với con người, đồng thời, nhân danh con người để hiến dâng chính mình cho Thiên Chúa hầu đem lại ơn tha thứ và hòa giải cho mọi người. Hơn nữa, khi so sánh phẩm vị tư tế của Đức Giê-su và các tư tế thuộc dòng tộc Lê-vi, tác giả thư gửi tín hữu Do-thái còn khẳng định rằng các vị này trở thành tư tế mà không có lời thề. Còn Đức Giê-su thì có lời thề: “Đức Chúa đã thề ước, Người sẽ chẳng rút lời, rằng: Muôn thuở, Con là Thượng Tế” (Dt 7,21). Các tư tế Lê-vi ‘nay còn mai mất’ bởi vì họ phải chết, còn Đức Giê-su là Đấng hằng sống nên phẩm vị tư tế của Người muôn đời tồn tại. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, nhân loại được lãnh nhận ơn cứu độ, được đến cùng Thiên Chúa và chung hưởng sự sống vĩnh cửu với Người (Dt 7,22-25).

Chúng ta biết rằng máu là biểu tượng của sự sống. Các giao ước trong lịch sử thường đi liền với việc đổ máu gia súc (Xh 24,1-8). Trong bối cảnh Do-thái Giáo, khi tưởng nhớ giao ước, vị tư tế lấy một phần máu rảy trên bàn thờ và một phần máu rảy trên dân chúng. Giao ước mới được Đức Giê-su thiết lập cũng là giao ước đổ máu. Tuy nhiên, máu của giao ước mới không phải là máu chiên, máu bò hay bất cứ máu loài vật vô thức nào đó mà là máu châu báu của Đức Giê-su, Con Thiên Chúa xuống thế làm người (Mt 26,26-29; Mc 14,22-25; Lc 22,19-20; 1 Cr 11,23-25). Nói cách khác, cái chết đổ máu của Đức Giê-su làm phát sinh giao ước mới. Theo thánh Phao-lô: “Thiên Chúa đã đặt Người làm nơi xá tội nhờ máu của Người cho những ai có lòng tin” (Rm 3,25). Còn tác giả thư gửi tín hữu Do-thái thì viết: “Thưa anh em, nhờ máu Đức Giê-su đã đổ ra, chúng ta được mạnh dạn bước vào cung thánh. Người đã mở cho chúng ta một con đường mới và sống động qua bức màn, tức là chính thân xác của Người” (Dt 10,19-20). Như vậy, giao ước diễn tả bằng máu gia súc trong Cựu Ước như là dấu chỉ hướng về giao ước mới nhờ máu chảy ra từ cạnh sườn Đức Giê-su trên thập giá.

Trong Tân Ước, các tác giả Tin Mừng Nhất Lãm (Mát-thêu, Mác-cô, Lu-ca) không đề cập hạn từ ‘Chiên Thiên Chúa’ (Ἀμνὸς τοῦ Θεοῦ). Hạn từ này chỉ xuất hiện trong trình thuật Tin Mừng Đức Giê-su theo thánh Gio-an. Lần đầu tiên gặp Đức Giê-su, thánh Gio-an Tẩy Giả thốt lên: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29). Thánh Gio-an Tẩy Giả gọi Đức Giê-su là ‘Chiên Thiên Chúa’ và ‘Đấng xóa tội trần gian’ hầu giúp mọi người nhớ đến giao ước cũ mà Thiên Chúa thiết lập với cha ông họ. Theo đó, chiên hiến tế là dấu chỉ diễn tả tâm tình sám hối của dân chúng để xin ơn tha thứ tội lỗi và phúc lành của Thiên Chúa. Nghi thức của giao ước cũ gắn liền với việc giết chiên. Nghi thức của giao ước mới cũng gắn liền với việc giết chiên, nhưng đây là Chiên Thiên Chúa, Đức Giê-su, trong thân phận tôi tớ vâng phục Thiên Chúa, hiến dâng chính mình hầu đem lại ơn tha thứ và hòa giải cho muôn người.

Hành trình thực thi giao ước mới của Đức Giê-su luôn có sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần, chẳng hạn như Chúa Thánh Thần hiện diện trong Biến Cố Đức Giê-su nhập thể hay khi Người chịu phép rửa, trải qua bốn mươi đêm ngày chay tịnh trong sa mạc, khởi đầu loan báo Tin Mừng, chịu khổ nạn, chịu chết và sống lại (Lc 1,26-35; Lc 4,1-2; Lc 4,16-19; Ga 19,30; Ga 20,22-23). Viết thư cho tín hữu Cô-rin-tô, thánh Phao-lô quả quyết: “Đấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ giao ước mới, không phải giao ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí. Vì chữ viết thì giết chết, còn Thần Khí mới ban sự sống” (2 Cr 3,6). Dưới nhãn quan phụng tự, tác giả thư gửi tín hữu Do-thái diễn giải: “Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Ki-tô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. Máu của Người thanh tẩy lương tâm chúng ta khỏi những việc đưa tới sự chết, để chúng ta xứng đáng phụng thờ Thiên Chúa hằng sống” (Dt 9,14). Cũng theo tác giả thư gửi tín hữu Do-thái: “Quả thật, Người chỉ dâng hiến lễ một lần, mà vĩnh viễn làm cho những kẻ Người đã thánh hóa được nên hoàn hảo. Điều đó cả Thánh Thần cũng làm chứng cho chúng ta thấy” (Dt 10,14-15). Như vậy, một trong những điều quan trọng làm cho giao ước mới của Đức Giê-su trổi vượt hơn các giao ước trong lịch sử là giao ước này thấm đượm máu của Người cùng với sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Thần.

Trong sách Sáng Thế, Thiên Chúa nói với Áp-ra-ham: “Đây là giao ước của Ta với ngươi: Ngươi sẽ làm cha của vô số dân tộc... Ta sẽ làm cho ngươi thành những dân tộc, và vua chúa sẽ phát xuất từ ngươi… Đây sẽ là giao ước vĩnh cửu, do đó Ta sẽ là Thiên Chúa của ngươi và của dòng dõi ngươi sau này” (St 17,4-7). Lời của Thiên Chúa trở nên trọn vẹn nơi Đức Giê-su (Lc 1,55; Dt 13,20). Quả thực, Đức Giê-su không chỉ thiết lập giao ước mới mà còn là giao ước vĩnh cửu bởi vì giao ước này cho phép mọi người được kết hợp với Thiên Chúa là Đấng vĩnh cửu ngay trong hành trình trần thế này. Tác giả thư gửi tín hữu Do-thái viết: “Người là Trung Gian của một giao ước mới, lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ, và đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi quyền lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đã hứa” (Dt 9,15). Công Đồng Vatican II khẳng định: “Nhiệm cuộc Kitô giáo, vì là giao ước mới và vĩnh viễn, sẽ không bao giờ mai một. Chúng ta không phải chờ đợi một mạc khải chung [công] nào khác nữa trước khi Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta hiện đến trong vinh quang” (DV 4). Điều này có nghĩa rằng mặc khải của Thiên Chúa qua Biến Cố Đức Giê-su là mặc khải cao trọng, chung quyết, tròn đầy và chứa đựng những yếu tố cần thiết giúp mọi người có được bình an đích thực giữa biển đời đầy tăm tối và sóng gió trên hành trình về với Quê Hương Vĩnh Cửu.

Lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ I-sai-a đề cập đến giao ước bền vững giữa Người và dân Do-thái mà Giê-ru-sa-lem là biểu tượng: “Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi, giao ước hòa bình của Ta cũng chẳng chuyển lay” (Is 54,10). Quả thực, giao ước được Đức Giê-su thực hiện đem lại bình an cho mọi người, sự bình an mà thế gian không thể ban tặng (Ga 14,27). Điều này ứng nghiệm lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ Ê-dê-ki-en rằng: “Ta sẽ lập với chúng một giao ước bình an; đó sẽ là giao ước vĩnh cửu đối với chúng, Ta sẽ định cư chúng, cho chúng sinh sôi nảy nở ra nhiều và đặt thánh điện của Ta ở giữa chúng cho đến muôn đời. Nhà của Ta sẽ ở giữa chúng; Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng và chúng sẽ là dân của Ta” (Ed 37,26-27). Còn thánh Phao-lô thì khẳng định: “Nhờ máu Người [Đức Giê-su] đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1,20). Như vậy, giao ước Đức Giê-su thực hiện không chỉ đem lại bình an nội tâm cho mỗi người mà còn cho các hình thái xã hội của gia đình nhân loại cũng như muôn vật muôn loài. Khi con người có bình an của Đức Giê-su cũng là khi con người có được niềm hy vọng đích thực cho hành trình dương thế của mình.

Chúng ta biết rằng nói đến giao ước là nói đến hy vọng. Những nhân vật nổi bật trong Cựu Ước như Áp-ra-ham, Mô-sê, Đa-vít luôn đặt niềm hy vọng vào Thiên Chúa và lời hứa của Người. Theo tác giả thư gửi tín hữu Do-thái, hậu duệ của Áp-ra-ham hy vọng vào “một quê hương tốt đẹp hơn, đó là quê hương trên trời” (Dt 11,16) hay hy vọng vào “gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đã hứa” (Dt 9,15). Hơn ai hết, Đức Giê-su là Hy Vọng của gia đình nhân loại bởi vì Người vừa là Đấng quy tụ các hình thức hy vọng trong lịch sử, vừa diễn tả niềm hy vọng thâm sâu nhất của con người, vừa thiết lập giao ước mới để ban niềm hy vọng trường cửu cho muôn dân (1 Tm 1,1; 1 Pr 1,3-5). Giao ước mới cho phép con người hướng về một tương lai tốt đẹp hơn giữa Thiên Chúa và con người, giữa con người với con người và giữa con người với muôn vật muôn loài. Nhờ giao ước mới được Đức Giê-su thiết lập, mọi người trong gia đình nhân loại có được niềm hy vọng vững chắc vào sự vinh thắng của Thiên Chúa trên ma quỷ cũng như muôn hình thức tối tăm và sự dữ đang hoành hành trong thế giới thụ tạo.

Dưới nhãn quan của tác giả thư gửi tín hữu Do-thái, giao ước mới cũng là giao ước cánh chung. Điều này có nghĩa là Biến Cố Đức Giê-su ở trần gian, nhất là việc Người chịu đau khổ, chịu chết và sống lại là Biến Cố của ‘thời viên mãn’ (Dt 2,8; Dt 9,28; Dt 12,26-27; Dt 13,14). Tác giả sách Khải Huyền dùng hình ảnh hôn lễ Con Chiên để diễn tả tương quan giữa Đức Giê-su và dân giao ước mới trong cảnh ‘trời mới, đất mới, Giê-ru-sa-lem mới’: “Nào ta hãy vui mừng hoan hỷ dâng Chúa lời tôn vinh, vì nay đã tới ngày cử hành hôn lễ Con Chiên, và Hiền Thê của Người đã trang điểm sẵn sàng, nàng đã được mặc áo vải gai sáng chói và tinh tuyền” (Kh 19,7-8). Trong bối cảnh cánh chung, điệp khúc giao ước cũ và mới hòa quyện: “Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ” (Kh 21,3; Gr 31,31-34). Các thành phần của giao ước mới được chung hưởng hạnh phúc muôn đời với Thiên Chúa, bởi vì: “Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,4). Với tác giả sách Khải Huyền, quê hương cánh chung chính là quê hương đầy ánh sáng của Đức Giê-su, Đấng thiết lập giao ước mới (Kh 22,4-5).

Một trong những đòi hỏi của các hình thức giao ước là sự trung tín của các thực thể tham dự. Đối với Thiên Chúa, trung tín thuộc về bản tính của Người (1 Ga 1,9; 2 Tm 2,13; 2 Tx 3,3). Do đó, dù là giao ước có điều kiện hay vô điều kiện, Thiên Chúa luôn trung tín. Đối với con người, như đã được đề cập ở trên, con người thường bội ước với Thiên Chúa và chạy theo các hình thức ngẫu tượng. Để thiết lập giao ước mới, Đức Giê-su đã trở thành ‘Thượng Tế nhân từ và trung tín’ (Dt 2,17). Người trở thành mẫu gương cho mọi người trong việc thiết lập tương quan bền vững với Thiên Chúa và luôn có cảm thức bén nhạy với anh chị em mình, nhất là những người đau khổ, bị loại trừ hay bị bỏ rơi trong xã hội. Nhân từ và trung tín là hai đặc tính căn bản mà mọi người cần phải học hỏi, suy niệm và thực hành trong cuộc sống hằng ngày. Đặc biệt, những ai đã lãnh nhận Bí Tích Thanh Tẩy, được mặc lấy Đức Giê-su, được trở thành con cái ánh sáng và được tham dự thừa tác vụ tư tế, ngôn sứ và quản trị của Người, thì càng phải quan tâm hơn tới hai đức tính này.

Đức Giê-su đi Đường Giao Ước Mới để đến với nhân loại và Người mời gọi mọi người hãy đi trên Đường này trong hành trình trần thế của mình. Câu hỏi đặt ra là ‘con người đi trên Đường Giao Ước Mới bằng cách nào?’ Thưa, bằng cách cộng tác với Thiên Chúa, với Đức Giê-su trong việc biến đổi bản thân sao cho trái tim mình luôn chung nhịp với trái tim Đức Giê-su, trái tim quảng đại, tha thứ, yêu thương như Người diễn tả trong hành trình trần thế, đặc biệt trong Biến Cố Thập Giá. Lời của Thiên Chúa trong sách ngôn sứ Ê-dê-ki-en giúp chúng ta hiểu thêm về điều này: “Ta sẽ ban cho chúng một trái tim và đặt thần khí mới vào lòng chúng. Ta sẽ lấy khỏi mình chúng trái tim chai đá và ban cho chúng một trái tim bằng thịt, để chúng đi theo các thánh chỉ của Ta và tuân giữ cùng thi hành các quyết định của Ta. Lúc ấy, chúng sẽ là dân của Ta và Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng” (Ed 11,19-20). Biến đổi trái tim theo Đường Giao Ước Mới của Đức Giê-su vừa cho phép con người đón nhận ân sủng của Thiên Chúa, vừa nhận ra sự yếu đuối của bản thân mình, vừa ý thức hơn về việc đến với anh chị em mình theo cách thức mà Đức Giê-su diễn tả trong hành trình trần thế của Người. Điệp khúc giao ước ‘Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng và chúng sẽ là dân của Ta’ nhắc nhở dân Do-thái xưa kia cũng như mọi người hôm nay rằng để có thể là thành phần của giao ước mới, mọi người được mời gọi luôn ý thức về thân phận yếu đuối của bản thân và phải kết hợp mật thiết với Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh của đời sống. Bao lâu còn trong hành trình dương thế, bấy lâu con người cần cộng tác với Thiên Chúa, cộng tác với nhau trong việc biến đổi và làm mới tâm hồn mình cũng như các hình thức cộng đoàn nơi mình hiện diện và hoạt động.

Là môn đệ và tông đồ của Đức Giê-su, chúng ta không chỉ chiêm ngắm Đường Giao Ước Mới của Đức Giê-su mà còn sống và hành động theo Đường này nữa. Trong mọi hoàn cảnh, chúng ta hãy để Đức Giê-su luôn đồng hành và hướng dẫn chúng ta. Đặc biệt, chúng ta hãy ý thức hơn về việc luôn ở lại trong Người. Bởi vì, nếu không ở lại trong Người, tự thân, chúng ta sẽ không thể làm được bất cứ điều gì tốt đẹp như Người căn dặn các môn đệ thân tín trước khi bước vào cuộc khổ nạn: “Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5). ‘Ở lại trong Đức Giê-su để sinh hoa kết trái dồi dào’ trở thành phương châm sống động cho mọi người thuộc dân giao ước mới mà Đức Giê-su thiết lập.

Như đã được đề cập ở trên, với giao ước mới, Đức Giê-su đã thiết lập tương quan mới giữa Thiên Chúa và nhân loại. Tương quan này đặt nền tảng trên ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa mà chính Đức Giê-su đã loan báo và diễn tả bằng đời sống, sự đau khổ, sự chết và phục sinh của Người. Giao ước mới này chi phối mọi người như thánh Phao-lô quả quyết: “Bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô. Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô” (Gl 3,27-28). Khi chúng ta nhận thức rằng Đường Giao Ước Mới kiện toàn đường giao ước cũ cũng là khi chúng ta cần phải nỗ lực hơn nữa trong việc loan báo Đức Giê-su và Đường Giao Ước Mới của Người cho anh chị em đồng loại.

Những trình bày trên đây cho phép chúng ta kết luận rằng giao ước giữa Thiên Chúa và nhân loại là chủ đề căn bản của nội dung đức tin Ki-tô Giáo. Cựu Ước cho chúng ta biết một số hình thức giao ước, trong đó giao ước giữa Thiên Chúa với Nô-ê, với Áp-ra-ham, với Mô-sê, với Đa-vít đáng được chúng ta quan tâm nhất. Bởi vì, các giao ước này cung cấp ánh sáng cho chúng ta nhận thức rõ hơn về giao ước mới mà Đức Giê-su thiết lập. Đường của Đức Giê-su trong hành trình trần thế là Đường Giao Ước Mới. Đường này ứng nghiệm lời các ngôn sứ và kiện toàn các giao ước trong lịch sử. Đức Giê-su luôn mời gọi mọi người trong gia đình nhân loại hãy đi Đường Giao Ước Mới của Người để biến đổi bản thân hầu có thể sống tốt hơn mối tương quan với Thiên Chúa, với anh chị em và với muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo. Là thành phần của Giáo Hội (dấu chỉ, khí cụ và Thân Thể mầu nhiệm Đức Giê-su), chúng ta hãy chú tâm suy niệm, học hỏi và hành động theo Đường Giao Ước Mới trong mọi hoàn cảnh. Ước gì ‘lời chào cuối cùng’ của tác giả thư gửi tín hữu Do-thái luôn in đậm trong tâm hồn mỗi người chúng ta hôm nay và luôn mãi: “Thiên Chúa là nguồn mạch bình an đã đưa Đức Giê-su, Chúa chúng ta ra khỏi cái chết. Đức Giê-su là vị Mục Tử cao cả của đoàn chiên, là Đấng đã đổ máu mình ra để thiết lập giao ước vĩnh cửu. Xin Thiên Chúa ban cho anh em mọi ơn lành để có sức thi hành thánh ý Người. Xin Người thực hiện nơi anh em điều đẹp lòng Người, nhờ Đức Giê-su Ki-tô. Kính dâng Đức Ki-tô vinh quang đến muôn thuở muôn đời. A-men” (Dt 13,20-21).


https://www.hdgmvietnam.com/chi-tiet/duc-gie-su-ki-to-duong-giao-uoc-moi-44329

Thứ Bảy, 1 tháng 1, 2022

Tại sao Chúa để những sự dữ nghiêm trọng như thế này xảy ra?

 Tại sao Chúa để những sự dữ nghiêm trọng như thế này xảy ra?


Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ, gọi tắt là CDC, vừa đưa ra cảnh báo rằng Tháng Giêng này sẽ là tháng rất khó khăn vì biến thể Omicron đang lan nhanh như cháy rừng và nhiều cơ sở y tế đang ngấp nghé mức quá tải.

Đó là một tin không ai muốn nghe trong những ngày đầu xuân. Tính cho đến cuối ngày 31 tháng 12, số trường hợp nhiễm coronavirus đã lên đến 288,520,058 trường hợp nhiễm bệnh, trong đó có 5,453,188 trường hợp tử vong.

Câu hỏi nhiều người đặt ra trên các mạng xã hội là nếu Thiên Chúa là toàn năng và toàn thiện, tại sao Ngài lại để cho một sự dữ nghiêm trọng như thế xảy ra? Câu hỏi này đã nổi lên trong những ngày gần đây và lôi kéo sự tranh luận của nhiều nhà lãnh đạo tôn giáo cũng như giới truyền thông.

Bất cứ khi nào tai họa xảy ra, nhiều câu hỏi nổi lên về cách thế làm sao người ta có thể bào chữa sự tốt lành của Thiên Chúa và quyền lực của Ngài. Trong Thần Học có một ngành học gọi là theodicy - Thần Học Thiên Nhiên. Ngành học này nghiên cứu về sự hiện diện của Thiên Chúa dưới ánh sáng của lý trí tự nhiên, tách rời với mạc khải siêu nhiên. Thần Học Thiên Nhiên chú trọng đến sự tốt lành và sự quan phòng của Thiên Chúa trước những sự dữ tỏ tường trong vũ trụ.

Sau khi đại biến sóng thần xảy ra vào ngày 26 tháng 12, 2004 giết chết gần như tức khắc 227,898 người ở 14 quốc gia, Tổng Giám Mục Anh Giáo thành Cantebury, thủ lãnh Giáo Hội Anh Giáo, tiến sĩ Rowan Williams đã gây nên một cuộc tranh cãi chung quanh bài viết của mình được đăng trên tờ The Sunday Telegraph. Cái tựa đề của bài viết đã khiến cho nhiều người bực mình: “Cố nhiên điều này [tức đại biến sóng thần] làm ta hoài nghi sự hiện diện của Thiên Chúa”.

Tiến sĩ Rowan Williams, sau đó, đã đưa ra lời thanh minh và trách cứ tờ báo đã đặt cái tựa không phù hợp với ý kiến của mình. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng cái tựa đó không xa bao nhiêu với luận điểm của ngài. Trong bài báo này, Tổng Giám Mục Anh Giáo viết: “Mỗi cái chết ngẫu nhiên, bất ngờ là điều gì đó gây hoang mang cho một đức tin giới hạn trong những câu trả lời an ủi và dễ dàng. Đối diện với một thiên tai có tầm cỡ gây tê liệt như thế này, tự nhiên là chúng ta cảm thấy uất hận và bơ vơ”.

“Câu hỏi ‘Làm sao ta có thể tin vào Thiên Chúa, Đấng đã cho sự dữ kinh khủng này xảy ra?’ do đó nổi lên rất nhiều vào thời điểm này và thật là ngạc nhiên nếu không có những câu hỏi như thế - thậm chí chắc có cái gì đó không ổn nếu không có những câu hỏi như thế”.

Toàn bộ bài viết của Tổng Giám Mục Anh Giáo chỉ nêu vấn đề và không có lời giải đáp tại sao Chúa để một sự dữ nghiêm trọng như vậy xảy ra. Ngay lập tức, mục sư Albert Mohler, hiệu trưởng Southern Baptist Theological Seminary, lên tiếng chỉ trích Tổng Giám Mục Anh Giáo và cho rằng bài viết của ngài là một thí dụ tốt về cách thức “làm sao không đưa ra một câu trả lời Kitô Giáo”. Mục sư Mohler tuyên bố rằng ông hoàn toàn đồng ý với ý kiến của Tổng Giám Mục Anh Giáo tại Sydney, Phillip Jensen, người đã cho rằng tai họa này là lời cảnh cáo về ngày phán xét sắp xảy đến của Thiên Chúa.

Trong khi đó, tại Ottawa, Đức Hồng Y Jean Claude Turcotte của Công Giáo nói với tờ Le Devoir rằng ngài mạnh mẽ bác bỏ mọi nhận định cho rằng tai họa này là sự trừng phạt của Thiên Chúa và chỉ ra rằng đứng trước một tai ương nghiêm trọng như thế này việc đặt ra những câu hỏi là lẽ tự nhiên và dễ hiểu. Đức Hồng Y nhận định rằng con người luôn có ý muốn nổi loạn chống lại Tạo Hóa hay coi Thiên Chúa như tay sai của mình. Thiên Chúa không phải là bù nhìn kiểm soát các biến cố theo ý muốn của con người. Chúng ta không nên cầu nguyện cho một sự chữa lành có tính ảo thuật hay cho một sự can thiệp siêu tự nhiên, nhưng hãy cầu nguyện cho sức mạnh và lòng can đảm vượt qua những thử thách hay khó khăn trong cách thế mà Đức Giêsu đã thực hiện trong cuộc thương khó”.

Cha Richard Cote, giám đốc ủy ban thần học thuộc Hội Đồng Giám Mục Canada cho biết ngài quan tâm theo dõi cuộc tranh luận hiện nay trên thế giới về vấn đề này. Cha nhận định “Có một giao lưu sâu xa giữa tin vui và tin buồn, Đức Kitô đã không đến trong thế gian nếu nhân loại sa ngã này không có chuyện buồn.”

Đức Giám Mục Frederick Henry của giáo phận Calgary, Alberta chia sẻ ý tưởng này, ngài viết:

“Máng cỏ và thánh giá là những phần của mầu nhiệm nhập thể và từ Bethlehem đến đồi Calvê cũng không xa bao nhiêu. Đọc những lời tiên báo thanh bình của tiên tri Isaia trước Giáng Sinh và về việc các quốc gia xích lại gần nhau, lòng tôi ngập tràn một tinh thần suy tư và kinh ngạc trước cách thế tất cả các dân tộc đã hiệp sức với nhau đáp trả lại nhu cầu trước sự thống khổ của Đức Kitô nơi dân người”.

“Còn về tại sao điều này xảy ra ư? Tôi đã từng trả lời nhiều lần ‘Hãy hỏi các nhà khoa học’”.

Cha Richard Cote cũng cho rằng động đất là “một hiện tượng địa chấn tự nhiên”. Thiên Chúa đã tạo ra thế giới vật chất với những định luật về trọng lực và Ngài không can thiệp vào. “Thiên Chúa không áp lực tình yêu của Ngài lên chúng ta như sóng triều. Thiên Chúa của Kitô Giáo là Thiên Chúa dễ bị thương tổn. Cái nguy lớn nhất mà Thiên Chúa đã tự nhận lấy là yêu thương chúng ta vô điều kiện. Thiên Chúa mãi mãi chấp nhận hiểm nguy vì yêu ta.”

“Thiên Chúa đã nhập thể. Ngài đã đến với thế giới trong sự tình liên đới hoàn toàn với chúng ta. Ngài chia sẻ thân phận nhân loại với chúng ta để chứng tỏ rằng Ngài đã không lầm khi tạo ra bạn và tôi”

Vietcatholic News

Tại sao Chúa để nhiều người lầm đường lạc lối?

 Tại sao Chúa để nhiều người lầm đường lạc lối? Giải thích của Lm. Giáo sư Kinh Thánh Charles Pope

Thế Giới Nhìn Từ Vatican
 

Đứng trước một thực tế đáng âu lo là mỗi năm có hàng trăm ngàn tín hữu Công Giáo chính thức làm đơn lên tòa án tuyên bố bỏ đạo, để khỏi phải đóng thuế 9% thu nhập cho Giáo Hội, các Giám Mục tại Đức đã quyết định tiến hành cái gọi là tiến trình công nghị “có hiệu quả ràng buộc”. Mục tiêu của tiến trình này là xét lại hàng loạt các vấn đề về đạo lý và kỷ cương của Giáo Hội như luật độc thân linh mục, phong chức cho phụ nữ, thay đổi giáo huấn về tính dục để chúc lành cho các kết hiệp đồng tính. Ít nhất 12 Giám Mục Đức không đồng ý với đường hướng này trong phiên họp toàn thể kéo dài từ 23 đến 25 tháng Chín vừa qua. Tuy nhiên, các ngài chỉ là một thiểu số so với 51 Giám Mục còn lại, và một vị không có ý kiến.

Trước tiến trình công nghị “có hiệu quả ràng buộc” này, nhiều tiếng nói âu lo đã nổi lên. Chúng tôi xin gởi đến quý vị và anh chị em ý kiến của Đức Ông Charles Pope được đăng trên Catholic Standard. Ngài là giáo sư Kinh Thánh đang giảng dạy tại các chủng viện ở tổng giáo phận Washington DC và phụ trách một lớp Kinh Thánh tại Quốc Hội Hoa Kỳ.

Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây: “What Can Remnant Theology Teach Us about the Church Today?” - “Thần học về tàn dư có thể dạy chúng ta điều gì về Giáo Hội ngày nay?”. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.


What Can Remnant Theology Teach Us about the Church Today?
Charles Pope
Thần học về tàn dư có thể dạy chúng ta điều gì về Giáo Hội ngày nay?


Trong Bài Đọc thứ nhất ngày thứ Tư tuần thứ 25 Mùa Quanh Năm, tiên tri Ezra than thở về tội lỗi của dân đã dẫn đến cuộc lưu đày tại Babylon, nhưng ông cũng biết ơn Thiên Chúa giờ đây đã mở ra một cánh cửa cho dân trở về Đất Hứa và cho “tàn dư” trong dân tái thiết lại. Có một cái gì đó chúng ta cần phải học trong thần học Kinh Thánh về tàn dư.

Là một người Công Giáo và là một linh mục, tôi sững sờ trước sự suy giảm trong việc tham dự thánh lễ đã xảy ra trong suốt cuộc đời tôi. Khi tôi còn là một đứa trẻ, tôi nhớ các Thánh lễ đầy chật người: nếu bạn không đến đó sớm, bạn sẽ phải đứng. Vào những ngày đó (những năm 1960) nếu bạn dựng lên bốn bức tường, người Công Giáo sẽ tuôn đến lấp đầy bốn bức tường ấy. Có những danh sách chờ đợi dài xin học các trường học giáo xứ. Có rất nhiều nữ tu. Không chỉ có một cha phó hoặc một cha phụ tá; có hai, ba hoặc thậm chí bốn vị trong một giáo xứ.

Những ngày đó phần lớn không còn nữa. Mặc dù vẫn còn một số giáo xứ lớn ở khu vực ngoại ô, một số thậm chí vẫn còn phát triển, số người Công Giáo tham dự thánh lễ hàng tuần đã giảm từ khoảng 75 phần trăm xuống dưới 25 phần trăm kể từ thập niên 1950. Và mặc dù các ơn gọi đang bắt đầu hồi phục, nhưng tình hình ngày nay chủ yếu vẫn là những chủng viện và dòng tu trống rỗng. Nhiều nơi, người ta chưa từng được nghe nói đến danh từ cha phó, và ở một số vùng của đất nước này thậm chí không có cả một linh mục thường trú trong mỗi giáo xứ.

Không có cách nào để mô tả sự suy giảm này khác hơn là sững sờ. Tôi có thể nghe thấy tất cả những tranh luận thông thường về lý do tại sao quay cuồng trong trí của mình: phải chăng vì chúng ta đã từ bỏ truyền thống; phải chăng vì chúng ta không cấp tiến đủ; phải chăng vì chúng ta có quá nhiều quy tắc; hay phải chăng vì chúng ta đã từ bỏ tất cả các quy tắc. Mọi người đều có một lối giải thích riêng của mình, và có rất nhiều bất đồng.

Chúa có thể làm gì? Ngài có thể cho phép điều gì? Tôi biết rằng tôi đang trượt trên lớp băng mỏng khi cố gắng xem xét câu hỏi này, nhưng xin hãy yên tâm rằng tôi chỉ đang cân nhắc về điều đó, chứ không đề xuất một câu trả lời dứt khoát. Tôi thường hỏi Chúa, “Chuyện gì đang xảy ra với Giáo Hội? Chuyện gì đã xảy ra vậy?” Tôi không cho rằng tôi đã nhận được một then chốt từ thiên đàng cho câu trả lời này, trái lại tôi dần dần đi đến một kết luận rằng những gì chúng ta đang trải qua thực sự không có gì mới. Có một tiền lệ trong Kinh Thánh rằng Thiên Chúa thường thấy phù hợp để làm mỏng hàng ngũ của Ngài, để cắt tỉa và thanh tẩy dân Ngài. Các nhà thần học gọi đây là “remnant theology” - “thần học tàn dư”.

Thần học tàn dư được thấy cả trong Cựu Ước và Tân Ước. Trong những thời kỳ quan trọng, nhiều người theo Chúa (nếu không phải hầu hết) đã bỏ đi chỉ còn lại một phần những người trung tín đến cùng bắt đầu lại. Đây chỉ là một vài trong cơ man những ví dụ có thể tìm thấy trong Kinh thánh:

Các chi tộc Giuđa và Lêvi - Có mười hai chi tộc trong dân Israel, nhưng mười chi tộc trong số này (Mười Chi Tộc Lầm Lạc) đã lầm đường lạc lối trong cuộc chinh phạt của người Assyriô ở phía Bắc Israel vào năm 721 trước Chúa Giáng Sinh. Các tiên tri đã cảnh cáo những người phương Bắc này nhưng họ đã từ chối ăn năn và sự hủy diệt đã được báo trước. Những người không chết trong chiến tranh đã bị lưu đầy và bị đồng hóa vào các dân tộc xung quanh họ. Chỉ còn lại các chi tộc Giuđa và Lêvi, sống sót ở miền Nam.

Tàn dư của chi tộc Giuđa – Chi tộc Giuđa cũng trở nên độc ác và các tiên tri đã cảnh báo về sự hủy diệt của chi tộc này. Người Babylon sau đó đã tiêu diệt dân Giuđê và san bằng Giêrusalem, vào năm 587 trước Chúa Giáng Sinh, họ đã lưu đầy những người sống sót đến Babylon. Tám mươi năm sau, người Ba Tư đã chinh phục người Babylon và cho phép người Do Thái trở về Đất Hứa. Tuy nhiên, chỉ còn lại chút tàn dư; hầu hết đã chọn ở lại vùng đất lưu đầy, họ thích Babylon hơn vùng đất được Chúa hứa ban.

Quân đội của Giđêon - Giđêon có một đội quân 30,000 người và phải đối mặt với đội quân Mêđian tới 60,000 người, nhưng Chúa nói với ông rằng quân đội của ông đông quá, và ông nên cho về nhà những người lính nhát đảm. Vì thế, ông Giđêon nói với những người lính rằng nếu họ không nghĩ rằng họ sẵn sàng cho trận chiến này thì họ có thể bỏ đi; 20,000 người đã bỏ về. Đội quân của ông Giđêon chỉ còn có 10,000, nhưng Chúa nói với ông Giđêon rằng quân đội của ông vẫn còn đông quá và ông nên quan sát những người lính khi họ uống nước từ một con suối gần đó. Ba trăm trong số họ liếm nước bằng lưỡi như chó! Chúa bảo ông Giđêon hãy cho tất cả những người khác về nhà. Ông Giđêon đã chiến thắng trong ngày hôm đó với 300 người mà Chúa đã chọn. Đức Chúa Trời làm mỏng hàng ngũ của Ngài và chỉ chọn một tàn dư là những người lính thực sự của Ngài (xem Thẩm phán chương 6 và 7).

Chúa Giêsu và đám đông dân chúng - Một số câu nói khó nghe nhất của Chúa Giêsu đã xảy ra trước một đám đông dân chúng: Ngài đã dạy dân phải chống lại ly dị (Mt chương 5 và 19, Mc chương 10); Ngài tuyên bố rằng không ai có thể là môn đệ của Ngài trừ khi người ấy từ bỏ tài sản của mình, vác thập giá của mình và theo Ngài (chẳng hạn Lc chương 14); Ngài dạy về Bí tích Thánh Thể, khiến nhiều người bỏ đi và không đồng hành với Ngài nữa (Ga chương 6).

Con đường hẹp dẫn đến ơn cứu độ - Chúa Giêsu than thở rằng con đường hủy diệt thì rộng thênh thang và nhiều người đổ xô vào đó, trong khi con đường đến với ơn cứu rỗi thì hẹp và chỉ một số ít người tìm thấy con đường đó (x. Mt 7: 13-14). Vâng, chỉ một số ít, một tàn dư.

Tôi muốn trích dẫn một đoạn cuối từ sách Đacaria vì nó đi đến gốc rễ của những gì Chúa có thể làm trong thời đại của chúng ta, nếu linh cảm của tôi là chính xác.

Này gươm, hãy đứng dậy mà đánh mục tử của Ta, đánh đồng bào của Ta.
Sấm ngôn của ĐỨC CHÚA các đạo binh.
Hãy đánh mục tử, thì đàn chiên sẽ tan tác.
Cả những con bé nhỏ, Ta cũng trở tay đánh phạt.
Bấy giờ, trên toàn xứ, sấm ngôn của ĐỨC CHÚA,
hai phần ba sẽ bị huỷ diệt, bị tiêu vong,
còn một phần ba sẽ được để lại.
Ta sẽ đưa một phần ba này qua lửa,
sẽ luyện chúng như người ta luyện bạc,
và thử chúng như thử vàng.
Chính chúng sẽ kêu cầu danh Ta, và Ta, Ta sẽ đáp lời chúng;
Ta sẽ nói: “Chúng là dân của Ta”,
chúng thưa lại: “ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa của chúng tôi.”

(Đacaria 13: 7-9).

Đó là một đoạn chắc chắn gây choáng váng, nhưng nó cho thấy mục đích của Thiên Chúa trong việc làm giảm hàng ngũ của Ngài. Mặc dù chúng ta luôn có tự do ở lại hoặc bỏ đi, nhưng có một điều rất bí ẩn về lý do tại sao Chúa lại để cho nhiều người lầm đường lạc lối. Dường như có những thời trong đó Thiên Chúa cho phép nhiều người bỏ đi, thậm chí còn “khiến” họ ra đi, như đoạn Kinh Thánh này mô tả. Đó là một mầu nhiệm khó nuốt, nhưng tôi hiểu một khía cạnh của điều này khi tôi xem xét các bụi hoa hồng của tôi.

Tháng 11 là thời gian cắt tỉa ở vùng Đông Bắc. Những bụi hoa hồng hùng vĩ của tôi, một số cao tới tám feet [2.4 m], sẽ được cắt tỉa trở lại chỉ còn cách mặt đất một foot [0.3 m] và tôi cố tình làm điều đó! Nếu muốn cho hoa hồng của tôi phát triển mạnh vào năm tới, việc cắt tỉa phải được thực hiện. Những bông hồng không hiểu những gì tôi làm, nhưng tôi biết tại sao tôi làm điều đó. Mặc dù là đau đớn, nhưng cần thiết. Chúa cũng vậy, Ngài biết những gì Ngài đang làm và tại sao. Chúng ta không thể hiểu nhiều hơn những bụi hoa hồng của tôi có thể hiểu tại sao tôi cắt tỉa chúng. Trong đoạn văn trên, một phần ba còn lại cũng phải được thanh lọc, tinh luyện trong lửa. Khi điều đó được thực hiện, họ sẽ là vàng nguyên chất. Những người còn lại và chấp nhận thanh tẩy sẽ kêu cầu danh Chúa. Họ sẽ là một dân tộc, một Giáo Hội, theo đuổi trái tim của chính Ngài.

Đối với tôi có vẻ rõ ràng rằng Chúa đang cắt tỉa Giáo Hội của Ngài. Ngài đang chuẩn bị cho chúng ta một mùa xuân mới. Chúng ta đang thực sự chịu đựng một mùa đông khó khăn, nhưng chúng ta đang được thanh lọc, được thanh tẩy. Đây là những ngày khó khăn cho Giáo Hội, nhưng tôi đã có thể thấy những dấu hiệu của một mùa xuân tuyệt vời phía trước. Có nhiều phong trào giáo dân và nhiều lãnh vực tăng trưởng tuyệt vời trong Giáo Hội. Tôi rất có ấn tượng với những người nam đầy tài năng bước vào chức tư tế; họ yêu mến Chúa và Giáo Hội của Ngài và khao khát sâu sắc nói lên sự thật trong tình yêu. Trong tu viện của tôi, chúng tôi có hơn 25 nữ tu những Nữ Tì của Chúa, một dòng truyền giáo tương đối mới. Họ cũng yêu mến Chúa và Giáo Hội của Ngài và muốn truyền bá Tin mừng của Ngài.

Mặc dù số lượng người Công Giáo thực hành đạo đã giảm đi, tôi thấy sự nhiệt thành hơn ở những người còn lại. Trong giáo xứ của tôi có nhiều người hết lòng cầu nguyện, nghiên cứu Kinh Thánh và ngợi khen Chúa. Lòng đạo đức tôn sùng Thánh Thể mạnh mẽ hơn trong Giáo Hội ngày nay qua việc chầu Thánh Thể và Thánh lễ hàng ngày. Trên Internet có nhiều dấu hiệu phấn khởi và sốt sắng đối với đức tin. Nhiều blog và trang web tuyệt vời đang nổi lên để củng cố người Công Giáo. EWTN đang làm công việc tuyệt vời và nhiều đài phát thanh Công Giáo cũng đã bắt đầu.

Tôi có thể tiếp tục, nhưng tôi nghĩ rằng bạn đã nắm được. Thiên Chúa đã cắt tỉa chúng ta và đang thanh tẩy chúng ta. Tôi không nghi ngờ rằng phía trước vẫn còn một số ngày mùa đông khó khăn trước khi một mùa xuân trọn vẹn đến, nhưng Chúa không bao giờ thất bại. Ngài đang canh tân Giáo Hội của Ngài và chuẩn bị cho chúng ta những gì nằm ở phía trước.

Sẽ cần phải có một Giáo Hội mạnh mẽ và thuần khiết hơn để chịu đựng cơn sóng thần văn hóa đang diễn ra. Những đợt sóng đầu tiên xảy ra vào cuối những năm 1960 và những đợt tiếp theo sẽ còn tàn phá hơn nữa. Văn hóa phương Tây như chúng ta đã biết đang dần bị cuốn đi. Giáo Hội sẽ phải mạnh mẽ và trong sạch để chịu đựng những ngày sắp tới, để giải cứu những người chúng ta có thể giải cứu, và để giúp xây dựng lại sau khi những con sóng khủng khiếp đã gây ra những thiệt hại.


Source:Catholic Standard

Vietcatholic News

Bài Giảng của ĐTC trong thánh lễ Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa 1/1/2022

 Bài Giảng của Đức Thánh Cha trong thánh lễ Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa 1/1/2022

Bản dịch Việt Ngữ của J.B. Đặng Minh An
 
Thánh Lễ Mẹ Thiên Chúa và cũng là ngày hòa bình thế giới lần thứ 55 đã diễn ra lúc 10g sáng ngày đầu năm mới 1/1/2022 tại Đền Thờ Thánh Phêrô.

Năm ngoái, do bất ngờ bị đau thần kinh tọa gây ra đau đớn và khó khăn trong việc đi lại, Đức Thánh Cha đã không thể chủ tế Thánh Lễ này. Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, đã chủ tế thánh lễ thay cho ngài.

Ngày 4 tháng 10 năm 1965, trong diễn văn lịch sử đọc trước Đại hội đồng Liên hiệp quốc nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày thành lập của tổ chức này, Đức Phaolô VI đã long trọng nhắc lại sứ vụ khó khăn, nhưng là sứ mệnh cao quý nhất của Liên hiệp quốc: đó là “Hành động để nối kết các quốc gia, để liên kết nước này với nước khác, là nhịp cầu, là mạng lưới tương giao giữa các dân tộc, là kiến tạo tình huynh đệ không phải chỉ cho một số, mà cho tất cả các dân tộc…” và ngài tha thiết kêu gọi: “Đừng bao giờ có chiến tranh! Hòa bình phải hướng dẫn vận mệnh các dân tộc và của toàn thể nhân loại”.

Để biểu lộ quyết tâm của Giáo Hội đối với vấn đề công lý và hòa bình, năm 1967, Đức Phaolô VI thiết lập Hội đồng Giáo hoàng “Công lý và Hòa bình”. Kể từ năm 1968, ngài thiết lập thêm ngày “Hoà bình Thế giới”. Hằng năm theo thông lệ, vào ngày 01 tháng Giêng, các vị Giáo hoàng công bố một sứ điệp hòa bình với một chủ đề rõ ràng.

Chủ đề của Ngày Hòa Bình Thế Giới lần thứ 55 là “Đối thoại giữa các thế hệ, giáo dục và công ăn việc làm là các khí cụ để xây dựng hòa bình lâu dài”.

Trong bài giảng, Đức Thánh Cha nói:


Các mục đồng tìm thấy “Đức Maria, Thánh Giuse, và hài nhi nằm trong máng cỏ” (Lc 2:16). Đối với những mục đồng, máng cỏ là một dấu chỉ vui mừng: đó là sự xác nhận sứ điệp mà họ đã nghe từ thiên sứ (xem câu 12), và là nơi họ đã tìm thấy Đấng Cứu Rỗi. Đó cũng là bằng chứng về sự gần gũi của Thiên Chúa đối với họ, vì Ngài được sinh ra trong máng cỏ, một đồ vật mà họ biết rõ, như một dấu chỉ cho thấy sự gần gũi và thân thuộc của Ngài. Máng cỏ cũng là một dấu chỉ vui mừng cho chúng ta. Chúa Giêsu chạm đến trái tim chúng ta bằng cách sinh ra trong sự bé nhỏ và nghèo hèn; Ngài lấp đầy chúng ta bằng tình yêu, chứ không phải là sự sợ hãi. Máng cỏ tiên báo Đấng tự làm lương thực cho chúng ta. Sự nghèo khó của Ngài là một tin tốt lành cho tất cả mọi người, đặc biệt là những người bị gạt ra ngoài lề, những người bị từ chối và những người không được coi trọng trong mắt thế gian. Đó là cách Thiên Chúa đến: không chút ưu tiên, và thiếu ngay cả một cái nôi! Thật là một điều tuyệt vời khi nhìn thấy Ngài ở đó, nằm trong máng cỏ.

Tuy nhiên, điều đó không xảy ra với Đức Maria, Mẹ Thánh của Thiên Chúa. Mẹ đã phải chịu đựng “tai tiếng của máng cỏ”. Từ lâu trước những mục đồng, Mẹ đã nhận được thông điệp của một thiên sứ đã nói với Mẹ một cách long trọng về ngai vàng của Đavít: “Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người.” (Lc 1:31-32). Và bây giờ, Đức Maria phải đặt Ngài trong một cái máng dành cho gia súc. Làm sao Mẹ có thể dung hòa được ngai vàng của một vị vua và một máng cỏ thấp hèn? Làm thế nào Mẹ có thể dung hòa giữa vinh quang của Đấng Tối Cao và sự nghèo khổ cay đắng của một chuồng gia súc? Chúng ta hãy nghĩ đến sự đau khổ của Mẹ Thiên Chúa. Còn gì đau đớn hơn đối với một người mẹ khi chứng kiến cảnh con mình phải chịu cảnh bần hàn? Nó thực sự bẽ bàng. Chúng ta không thể đổ lỗi cho Đức Maria, nếu Mẹ lên tiếng phàn nàn về những rắc rối ngỡ ngàng đó. Tuy nhiên, Mẹ không ngã lòng. Mẹ không phàn nàn, nhưng giữ im lặng. Thay vì phàn nàn, Mẹ chọn một cách khác. Tin Mừng cho chúng ta biết: Về phần mình, Mẹ Maria “đã ghi nhớ tất cả những điều đó, suy đi nghĩ lại trong lòng” (x. Lc 2:19).

Đó không phải là điều mà những mục đồng và dân chúng làm. Những mục đồng kể cho mọi người nghe về những gì họ đã thấy: thiên thần hiện ra giữa đêm đen và những lời của sứ thần liên quan đến Hài Nhi. Và dân chúng, khi nghe những điều này, rất kinh ngạc (xem câu 18). Bàn tán và ngạc nhiên. Trái lại, Đức Maria trầm ngâm; Mẹ ghi nhớ tất cả những điều này, suy đi nghĩ lại trong lòng. Bản thân chúng ta cũng có thể có cùng hai phản ứng khác nhau đó. Câu chuyện do những mục đồng kể lại, và sự kinh ngạc của chính họ, nhắc nhở chúng ta về sự khởi đầu của đức tin, khi mọi thứ dường như dễ dàng và đơn giản. Chúng ta vui mừng trong sự mới mẻ về Thiên Chúa, Đấng bước vào cuộc sống của chúng ta và làm chúng ta đầy kinh ngạc. Trái lại, sự trầm ngâm của Đức Maria là biểu hiện của một đức tin trưởng thành, trưởng thành, chứ không phải một đức tin của những người mới bắt đầu. Không phải là một đức tin mới sinh, nhưng đúng hơn là một đức tin đã sinh hoa kết quả. Vì hoa trái thiêng liêng được phát sinh từ những gian truân và thử thách. Từ sự yên tĩnh của Nazareth và từ những lời hứa chiến thắng nhận được từ Thiên thần – nghĩa là từ những ngày đầu tiên - Đức Maria giờ đây thấy mình trong chuồng bò tối tăm của Bêlem. Tuy nhiên, đó là nơi Mẹ trao Chúa cho thế giới. Những người khác, trước tai tiếng của máng cỏ, có thể cảm thấy vô cùng đau khổ. Mẹ thì không: Mẹ ghi nhớ những điều ấy, suy đi nghĩ lại trong lòng.

Chúng ta hãy học nơi Mẹ Thiên Chúa cách thức để có cùng một thái độ: đó là ghi nhớ và suy ngẫm. Bởi vì chúng ta cũng có thể phải chịu đựng một số “vụ tai tiếng của máng cỏ”. Chúng ta hy vọng rằng mọi thứ sẽ ổn thỏa và sau đó, hết sức ngỡ ngàng, một vấn đề bất ngờ phát sinh. Những kỳ vọng của chúng ta đụng độ với thực tế một cách đau đớn. Điều đó cũng có thể xảy ra trong đời sống đức tin, khi niềm vui của Tin Mừng bị đem ra thử thách trong những hoàn cảnh khó khăn. Hôm nay Mẹ Thiên Chúa dạy chúng ta cách thu lợi từ cuộc đụng độ này. Mẹ cho chúng ta thấy điều đó là cần thiết: đó là con đường hẹp để đạt được mục tiêu, là thập giá, không có thập giá thì không thể có sự phục sinh. Giống như sự đau đớn của việc sinh nở, nó tạo ra một đức tin trưởng thành hơn.

Thưa anh chị em, tôi xin hỏi, làm thế nào để chúng ta thực hiện đoạn văn này, làm thế nào để giải quyết cuộc xung đột giữa lý tưởng và thực tế? Thưa: Bằng cách làm chính xác những gì Đức Maria đã làm, nghĩa là bằng cách ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng. Đầu tiên, Đức Maria “ghi nhớ”, tức là Mẹ giữ lấy những gì xảy ra; Mẹ không quên hoặc khước từ nó. Mẹ giữ trong tim tất cả những gì Mẹ đã thấy và nghe. Những điều đẹp đẽ, như những điều thiên thần và những mục đồng đã nói với Mẹ, nhưng cũng có những điều rắc rối: nguy cơ bị phát hiện có thai trước khi kết hôn và bây giờ là chuồng gia súc tồi tàn nơi Mẹ đã phải sinh con. Đó là những gì Đức Maria làm. Mẹ không chọn cái này cái kia; Mẹ ghi nhớ. Mẹ chấp nhận cuộc sống như nó đến, mà không cố gắng ngụy trang hay tô điểm nó; Mẹ giữ những điều đó trong tim mình.

Sau đó, thái độ thứ hai của Đức Maria là về cách Mẹ gìn giữ: Mẹ ghi nhớ và Mẹ suy ngẫm. Tin Mừng nói về việc Mẹ Maria “tập hợp lại”, so sánh, những trải nghiệm khác nhau của Mẹ và tìm ra những sợi dây tiềm tàng kết nối chúng lại với nhau. Trong thâm tâm, trong lời cầu nguyện của mình, Mẹ thực hiện chính xác điều đó: Mẹ gắn kết những điều đẹp đẽ và những điều khó chịu lại với nhau. Mẹ không giữ chúng tách biệt nhau, nhưng mang chúng lại với nhau. Chính vì lý do này mà người ta cho rằng Đức Maria là Mẹ của Đạo Công Giáo. Về điểm này, chúng ta có thể dám khẳng định rằng chính vì thế mà người ta nói Đức Maria là người Công Giáo, vì Mẹ hợp nhất, không chia rẽ. Và theo cách này, Mẹ nhận ra ý nghĩa to lớn hơn của chúng, từ quan điểm của Thiên Chúa. Trong lòng mình, Đức Maria nhận ra rằng vinh quang của Đấng Tối Cao xuất hiện trong sự khiêm nhường; Mẹ hoan nghênh chương trình cứu độ, theo đó Chúa phải nằm trong máng cỏ. Mẹ nhìn thấy Chúa Hài Đồng yếu đuối và run rẩy, và Mẹ chấp nhận sự giao thoa thần thánh kỳ diệu giữa sự vĩ đại và nhỏ bé. Đức Maria ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng.

Cách nhìn nhận mọi thứ một cách toàn diện này, vượt qua những căng thẳng bằng cách “gìn giữ” và “suy đi nghĩ lại”, là cách của những người mẹ, những người mà trong những khoảnh khắc căng thẳng, họ không chia rẽ, họ vẫn giữ và bằng cách này họ giúp cuộc sống phát triển. Đó là cách mà rất nhiều bà mẹ đón nhận những vấn đề của con mình. “Cái nhìn” từ mẫu không khuất phục trước căng thẳng; không bị tê liệt trước những vấn đề đó, mà nhìn chúng ở một góc độ rộng lớn hơn. Và đây là thái độ của Mẹ Maria: Mẹ gìn giữ và suy nghĩ cho đến tận đồi Canvê. Chúng ta có thể nghĩ đến khuôn mặt của tất cả những người mẹ chăm sóc đứa trẻ bị bệnh hoặc gặp khó khăn. Tình yêu tuyệt vời mà chúng ta nhìn thấy trong đôi mắt của họ! Ngay cả giữa những giọt nước mắt của họ, họ vẫn có thể khơi dậy hy vọng. Ánh mắt của họ là một cái nhìn có ý thức và thực tế, nhưng đồng thời mang đến cho người khác một bức tranh lớn hơn, một sự quan tâm và tình yêu mang đến hy vọng mới. Đó là những gì các bà mẹ làm: họ biết cách vượt qua những trở ngại và bất đồng, để truyền hòa khí. Bằng cách này, họ biến các vấn đề thành cơ hội để tái sinh và phát triển. Họ có thể làm được điều này bởi vì họ biết cách “gìn giữ”, cùng nhau nắm giữ những sợi dây cuộc sống. Chúng ta cần những người như vậy, có khả năng dệt những sợi dây của sự hiệp thông thay cho hàng rào thép gai của xung đột và chia rẽ. Các mẹ biết cách làm này.

Năm mới bắt đầu dưới sự chỉ dẫn của Thánh Mẫu Thiên Chúa, dưới sự chỉ điểm của Đức Mẹ. Cái nhìn của người mẹ là con đường dẫn đến sự tái sinh và lớn lên. Chúng ta cần những người mẹ, những người phụ nữ biết nhìn ra thế giới không phải để khai thác nó mà để nó có sự sống. Những người phụ nữ, nhìn bằng trái tim, có thể kết hợp những ước mơ và khát vọng với thực tế cụ thể, mà không bị trôi dạt vào những chủ nghĩa trừu tượng và thực dụng vô sinh. Và Giáo hội là Mẹ, đây là điều làm nên nữ tính của Giáo hội. Vì lý do này, chúng ta không thể tìm thấy một chỗ đứng cho phụ nữ trong Giáo hội nếu không để cho trái tim của Người Phụ nữ và Người Mẹ được tỏa sáng. Đây là nơi dành cho những người phụ nữ trong Giáo hội, một nơi tuyệt vời, từ đó phát sinh ra những nơi khác, cụ thể hơn và ít quan trọng hơn. Giáo hội là Mẹ, Giáo hội là phụ nữ. Và vì các bà mẹ ban tặng cuộc sống, và phụ nữ “gìn giữ” thế giới, tất cả chúng ta hãy nỗ lực hơn nữa để nâng đỡ các bà mẹ và bảo vệ phụ nữ. Biết bao nhiêu bạo lực nhắm vào phụ nữ! Đã quá đủ! Làm tổn thương một người phụ nữ là xúc phạm Thiên Chúa, Đấng từ một người phụ nữ đã mang lấy nhân tính của chúng ta. Ngài đã không làm điều đó thông qua một thiên thần; Ngài cũng không đến trực tiếp; Ngài đã làm điều đó thông qua một người phụ nữ. Giống như một người phụ nữ, Giáo hội Mẹ mang đến nhân tính cho những người con trai và con gái của mình.

Vậy thì vào đầu năm mới, chúng ta hãy đặt mình dưới sự che chở của người phụ nữ này, Mẹ Thiên Chúa, cũng là mẹ của chúng ta. Xin Mẹ giúp chúng ta gìn giữ và suy ngẫm mọi sự, không ngại thử thách và vui mừng tin chắc rằng Chúa là Đấng thành tín và có thể biến mọi thập tự giá thành sự Phục sinh. Hôm nay cũng vậy, chúng ta hãy kêu cầu Mẹ cũng như dân Chúa tại Êphêsô. Chúng ta hãy đứng lên và hướng về Đức Mẹ như D ân Chúa ở Êphêsô xưa, chúng ta hãy cùng nhau lặp lại ba lần danh hiệu Mẹ Thiên Chúa của Mẹ Maria: “Lạy Mẹ Thánh của Thiên Chúa, Lạy Mẹ Thánh của Thiên Chúa, Lạy Mẹ Thánh của Thiên Chúa”! Amen.

Source:Dicastero per la Comunicazione - Libreria Editrice Vaticana
 
Vietcatholic News

Các câu tweet của Đức Phanxicô tháng 12-2021

 Các câu tweet của Đức Phanxicô tháng 12-2021



Thiên Chúa sinh ra trong hình hài em bé nhỏ  để thúc giục chúng ta quan tâm đến người khác. Tình yêu không điều kiện của Ngài nhắc chúng ta nhớ, thời gian chúng ta có không phải để khóc cho số phận của mình, nhưng để an ủi giọt nước mắt của những người đau khổ. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 31 tháng 12-2021

Vào lễ Giáng Sinh, Thiên Chúa tỏ mình không phải là Đấng ở trên cao để thống trị, nhưng là Đấng hạ mình, nhỏ bé và nghèo khó để phục vụ: như thế để giống Ngài, con đường là con đường của khiêm tốn và phục vụ. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 30 tháng 12 năm 2021

Lạy Thánh Giuse, Đấng hiểu nỗi thống khổ của những người phải đi trốn để cứu mạng sống người thân yêu của mình, xin Thánh Giuse bảo vệ những ai phải chạy trốn vì chiến tranh, hận thù và đói khát. Xin hướng dẫn bước chân họ và xin mở rộng trái tim của những người có thể giúp họ. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 29 tháng 12 năm 2021

Những ông vua Hêrôđê thời nay là những người phá vỡ sự trong trắng của trẻ em dưới sức nặng của lao động nô lệ, của mại dâm và bóc lột, của chiến tranh và cưỡng bức di cư. Chúng ta cùng cầu nguyện và nâng đỡ cho các em bé này. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 28 tháng 12 năm 2021

Hôm nay chúng ta hãy ôm lấy Chúa Giêsu nơi những người nhỏ bé, yêu mến Ngài nơi người bé mọn, phục vụ Ngài nơi người nghèo khổ. Đó là những người giống Chúa Giêsu nhất, sinh ra trong khó nghèo. Và chính trong họ, Ngài muốn được tôn vinh. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 27 tháng 12 năm 2021

Và mỗi ngày, chúng ta cùng cầu nguyện một chút, để xin Chúa ban món quà bình an. Và tất cả chúng ta cùng cam kết – cha mẹ, con cái, xã hội dân sự, Giáo hội – hỗ trợ, bảo vệ và gìn giữ gia đình! Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 26 tháng 12 năm 2021

Những cặp vợ chồng trên toàn thế giới thân mến, nhân dịp Năm “Gia đình Amoris laetitia”, tôi xin bày tỏ tất cả tình cảm và sự gần gũi của tôi đến anh chị em trong thời điểm rất đặc biệt chúng ta đang sống hôm nay. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 26 tháng 12 năm 2021

Chúa Kitô “ngự” trong hôn nhân của anh chị em và Ngài luôn mong chờ chúng ta mở lòng ra đón nhận Ngài, để Ngài có thể nâng đỡ chúng ta bằng sức mạnh tình yêu của Ngài. Tình yêu của loài người chúng ta thật yếu, nó cần sức mạnh tình yêu trung thành của Chúa Giêsu. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 26 tháng 12 năm 2021

Lời loan báo Đấng Cứu Thế ra đời là nguồn cội của hòa bình thực sự vang dội khắp thế giới, chúng ta vẫn thấy nhiều xung đột, khủng hoảng và mâu thuẫn. Chúng ta cầu xin Chúa khơi dậy trong tâm hồn mỗi người ước muốn hòa giải và tình huynh đệ. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 25 tháng 12 năm 2021

Ngôi Lời đã trở nên người phàm để đối thoại với chúng ta. Chúa không muốn độc thoại nhưng đối thoại. Khi xuống thế gian, Ngôi Lời Nhập Thể đã chỉ cho chúng ta con đường gặp gỡ và đối thoại. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 25 tháng 12 năm 2021

Chúa Giêsu sinh ra gần những người bị lãng quên ở ngoại vi. Ngài đến để nâng cao phẩm giá của những người bị loại trừ và trước hết tỏ mình ra cho họ: không phải cho những nhân vật quan trọng, nhưng cho những người chăn cừu, những người lao động nghèo. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 25 tháng 12 năm 2021

Đây là những gì chúng ta cầu xin Chúa Giêsu cho lễ Giáng sinh: xin ơn nhỏ bé. “Lạy Chúa, xin dạy chúng con biết yêu thương điều nhỏ bé. Xin giúp chúng con hiểu đây là con đường thực sự dẫn đến điều cao cả. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 25 tháng 12 năm 2021

Anh chị em thân mến, cũng như ở Bêlem, bóng đêm bủa vây chúng ta, nếu các vết thương của anh chị em kêu lên: ‘Mình chẳng có giá trị gi’ thì tối nay Thiên Chúa trả lời chúng ta: ‘Các con như thế nào, cha yêu thương các con như thế đó. Cha trở nên nhỏ bé là để cho các con. Các con hãy tin tưởng vào Cha và mở lòng ra cho Cha’. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 24 tháng 12 năm 2021

Một ánh sáng đã sáng lên đêm nay. Đó là một ánh sáng dịu dàng và nhắc nhở chúng ta, trong sự nhỏ bé của mình, chúng ta là những đứa trẻ được yêu thương, những đứa trẻ của ánh sáng (1 Th 5: 5). Chúng ta cùng nhau vui mừng, vì sẽ không ai có thể dập tắt ánh sáng này, ánh sáng của Chúa Giêsu, ánh sáng chiếu trên thế giới đêm nay. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 24 tháng 12 năm 2021

Để thực sự là lễ Giáng sinh, chúng ta đừng quên điều này: Chúa đến ở giữa chúng ta và xin chúng ta chăm sóc anh chị em của mình, đặc biệt là những người nghèo nhất, yếu đuối nhất, mong manh nhất, những người mà đại dịch có nguy cơ bị gạt ra ngoài lề hơn nữa. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 24 tháng 12 năm 2021

Chúng ta hãy để cho mình được phúc âm hóa bằng lòng khiêm nhường của Giáng sinh, của máng cỏ, của sự khó nghèo và điều cốt yếu mà qua đó Con Thiên Chúa đã xuống thế. Chúng ta hãy để cho mình được phúc âm hóa bởi lòng khiêm nhường của Chúa Hài Đồng. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 23 tháng 12-2021

Đây là bài học của Lễ Giáng Sinh: khiêm nhường là điều kiện cao đẹp của đức tin, của đời sống thiêng liêng, của sự thánh thiện. Chúng ta xin Chúa ban cho chúng ta ơn này. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 23 tháng 12-2021

Huyền nhiệm Giáng sinh là huyền nhiệm Thiên Chúa, Đấng đến thế gian bằng con đường khiêm nhường. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 23 tháng 12-2021

Nhiều Giáo hội địa phương, các dòng tu và tổ chức công giáo sẵn sàng đón nhận và hỗ trợ người di cư để họ được hội nhập thành công. Chỉ cần mở ra một cánh cửa, cánh cửa của trái tim! Chúng ta đừng từ chối họ trong lễ Giáng Sinh này. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 22 tháng 12-2021

Chúa Giêsu là tên và khuôn mặt tình yêu Thiên Chúa xuống thế làm người giữa chúng ta. Tôi chúc mỗi người có khát khao đi tìm Ngài và có niềm vui tìm thấy Ngài trong lễ Giáng sinh này. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 22 tháng 12-2021

Chúng ta hãy thực hiện một cam kết cụ thể, dù nhỏ, phù hợp với hoàn cảnh cuộc sống chúng ta và thực hiện cam kết này để chuẩn bị

Lễ Giáng Sinh: gọi điện thoại cho người cô đơn, thăm người lớn tuổi hoặc người bệnh, làm điều gì đó cho người đang cần… Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 21 tháng 12-2021

Thời gian Mùa Vọng là thời gian để chúng ta dừng lại và suy nghĩ về cách chúng ta chuẩn bị lễ Giáng sinh. Chúng ta bận rộn với nhiều công việc chuẩn bị, với những món quà và những chuyện chóng qua. Nhưng chúng ta hãy tự hỏi mình xem chúng ta có thể làm gì cho Chúa Giêsu và cho người khác! Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 21 tháng 12-2021

Cây thông Noel là biểu tượng của sự tái sinh, là món quà của Thiên Chúa mà qua đó Ngài kết hợp với nhân loại mãi mãi. Ngài ban cho chúng ta sự sống của Ngài. Đèn của cây thông gợi lại ánh sáng của Chúa Giêsu, ánh sáng của tình yêu tiếp tục chiếu sáng trong màn đêm của thế giới. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 20 tháng 12-2021

Hành động bác ái đầu tiên chúng ta có thể làm cho người anh em, đó là mang đến cho họ khuôn mặt thanh thản và tươi cười. Đó là mang lại cho họ niềm vui của Chúa Giêsu, như Mẹ Maria đã làm với bà Êlisabét. (Lc 1: 39-45) Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 19 tháng 12-2021

Tôi xin bày tỏ sự gần gũi của tôi với người dân Phi Luật Tân đã bị cơn bão mạnh làm nhiều người thiệt mạng và nhiều ngôi nhà bị phá hủy. Xin Chúa Hài Đồng mang lại niềm an ủi và hy vọng cho những gia đình bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Câu tweet của Dức Phanxicô ngày 19 tháng 12-2021

Chúng ta hãy nhìn vào ánh mắt của những người bị từ chối mà chúng ta gặp, chúng ta hãy để mình xúc động bởi khuôn mặt của các em bé, con của những người di cư tuyệt vọng. Chúng ta hãy để mình rung động trước đau khổ của các em để phản ứng lại trước sự thờ ơ của chúng ta. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày18 tháng 12-2021 #MigrantsDay

Các biểu tượng Lễ Giáng sinh, đặc biệt là máng cỏ và cây thông được cắt tỉa đưa chúng ta về với xác tín tràn đầy bình an trong lòng, trở về với niềm vui vì Mầu nhiệm Nhập Thể, trở về với Thiên Chúa, Đấng trở nên gần gũi: Ngài ở với chúng ta, Ngài lấp đầy tháng ngày chúng ta với nhịp điệu của niềm hy vọng. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày16  tháng 12-2021

Trong những giờ gần đây, một vụ nổ đã xảy ra ở miền bắc Haiti làm cho nhiều người thiệt mạng, trong đó có nhiều trẻ em. Tôi xin gần gũi với gia đình các nạn nhân và những người bị thương. Chúng ta cùng cầu nguyện cho những anh chị em bị tổn thương nặng của chúng ta. Câu tweet của Dức Phanxicô ngày 15 tháng 12-2021

Khi đến gần lễ Giáng Sinh, chúng ta học từ Thánh Giuse để nuôi dưỡng khoảng không gian im lặng, nơi đó một Lời khác có thể xuất hiện: đó là lời của Chúa Thánh Thần, Đấng ngự trong lòng chúng ta. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 15 tháng 12-2021

Mùa vọng mời gọi chúng ta chuẩn bị Lễ Giáng sinh, đón nhận Chúa Giêsu mà không sợ hãi. Nếu chúng ta mở cánh cửa đời sống cho Ngài, mọi thứ sẽ có một ánh sáng mới, gia đình, công việc, nỗi đau, sức khỏe, tình bạn trở thành cơ hội để khám phá sự hiện diện an ủi của Ngài. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 14 tháng 12-2021

Cuộc sống là khoảng thời gian của những lựa chọn quyết định, những lựa chọn của cả một đời. Những lựa chọn tầm thường dẫn đến cuộc sống tầm thường, những lựa chọn cao cả dẫn đến cuộc sống cao cả. Trên thực tế, chúng ta trở thành những gì chúng ta chọn. Nếu chúng ta chọn Chúa, chúng ta lớn lên hàng ngày trong tình yêu của Chúa, và nếu chúng ta chọn yêu thương, chúng ta sẽ hạnh phúc. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 13 tháng 12-2021

“Chúng tôi phải làm gì đây ?” (Lc 3,10). Với câu hỏi này, Tin Mừng hôm nay nhắc chúng ta, cuộc sống có một trách vụ dành cho chúng ta. Cuộc sống là ơn Chúa ban cho chúng ta, cho chúng ta biết: hãy khám phá mình là ai và làm việc để thực hiện giấc mơ đời mình! Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 12 tháng 12-2021

Hôm nay, tôi xin gởi những lời chúc tốt đẹp nhất đến Caritas Quốc tế nhân kỷ niệm 70 năm thành lập. Xin anh chị em tiếp tục làm chứng và thể hiện tình yêu của Giáo hội dành cho người nghèo và những người dễ bị tổn thương nhất trên khắp thế giới! Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 12 tháng 12-2021 @iamcaritas

Chúa không bao giờ mệt mỏi khi chờ chúng ta. Khi chúng ta xa Ngài, Ngài đến tìm chúng ta, khi chúng ta ngã, Ngài nâng chúng ta lên, khi chúng ta quay về với Ngài sau khi đã mất tất cả, Ngài giang rộng tay chờ chúng ta. Tình yêu của Ngài luôn cho chúng ta can đảm để bắt đầu lại. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày  11 tháng 12-2021

Tất cả chúng ta được gọi để can đảm và dứt khoát đóng góp vào việc tôn trọng các quyền cơ bản của con người, đặc biệt quyền của những người bị xem là “vô hình”: những người đói khát, trần trụi, bệnh tật, những người khách lạ, những tù nhân, những người sống bên lề hoặc bị xã hội bỏ rơi. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 10 tháng 12-2021

Trong giai đoạn phục hồi này, không nên lo lắng cố gắng khôi phục những gì đã mất để đảm bảo và củng cố tăng trưởng, nhưng cam kết thúc đẩy sự phục hồi xã hội, đặc biệt qua cuộc chiến quyết liệt chống tham nhũng. Câu Tweet của Đức Phanxicô ngày 9 tháng 12-2021

Trong lòng khiêm nhường của Mẹ, Mẹ Maria biết Mẹ nhận tất cả mọi sự từ Thiên Chúa. Và đó là lý do vì sao Mẹ tự do với chính mình, hướng về Chúa và hướng đến người khác. Đức Mẹ Vô Nhiễm không chỉ nhìn Mẹ, đó là khiêm tốn đích thực: không nhìn mình, chỉ nhìn Thiên Chúa và người khác. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 8 tháng 12-2021

Tôi xin chân thành cám ơn anh chị em về sự chào đón tôi đã nhận được ở Sýp và Hy Lạp. Cám ơn tất cả những người đã cộng tác trong chuyến tông du! Tôi giữ anh chị em trong ký ức và trong lời cầu nguyện của tôi. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 6 tháng 12-2021

Có một câu châm ngôn sáng suốt trong tiếng Hy Lạp, “Bạn là một tôi khác”: o filos ine állos eaftós. Đúng, người khác là con đường để tôi tìm thấy chính tôi. Những quyết định tốt luôn bao gồm những người khác, không phải chỉ riêng mình. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 6 tháng 12-2021

Chúng ta cầu xin ơn để tin, với Chúa mọi thứ sẽ thay đổi,  Ngài chữa lành nỗi sợ, chăm sóc các tổn thương của chúng ta, biến những nơi khô cằn thành suối nước. Chúng ta cầu xin ơn hy vọng, để làm sinh động đức tin và thắp sáng đức ái. Câu Tweet của Đức Phanxicô ngày 5 tháng 12-2021

Không thiếu những khoảnh khắc trong cuộc sống khi chúng ta cảm thấy như mình đang ở trong sa mạc. Và đó chính là nơi Chúa hiện diện, những lời gần gũi, thương xót và dịu dàng: “Đừng sợ hãi, có Ta ở với Ngươi” (Is 41,10) Câu Tweet của Đức Phanxicô ngày 5 tháng 12-2021

Xin đừng làm cho nền văn minh bị chết chìm! Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 5 tháng 12-2021  #TravelApostolic

Chúng ta nhìn vào khuôn mặt của các em bé. Chúng chất vấn lương tâm chúng ta và hỏi chúng ta: “Thế giới nào ông bà muốn cho chúng con sống?”  Chúng ta đừng chạy trốn (…) những hình ảnh thực của những thân xác bé nhỏ nằm bất động trên bãi biển. Chúng ta hãy ngưng, đừng làm cho nền văn minh bị chết chìm! Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 5 tháng 12-2021  #TravelApostolic

Tương lai sẽ chỉ thịnh vượng nếu chúng ta hóa giải được với những người yếu nhất. Vì khi người nghèo bị khước từ, thì hòa bình cũng bị khước từ. Lịch sử đã dạy chúng ta, việc đóng cửa và các chủ nghĩa quốc gia gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 5 tháng 12-2021

Các anh chị em di cư, tôi ở Lesbos để nói với anh chị em tôi gần gũi với anh chị em. Để nhìn vào đôi mắt đầy sợ hãi và mong chờ của anh chị em, đôi mắt đã nhìn thấy bạo lực và nghèo đói, đôi mắt hằn lên vì quá nhiều nước mắt. Di dân là cuộc khủng hoảng nhân đạo mà mọi người phải quan tâm đến. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 5 tháng 12-2021

Đây là thái độ của người tông đồ đích thực: tin tưởng tiến về phía trước, chịu những tình huống bất ngờ hơn là thói quen lặp đi lặp lại. Sự can đảm này có từ lòng tin tưởng lớn lao vào Chúa, Đấng yêu thương làm việc qua sự thấp hèn của chúng ta. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 4 tháng 12-2021

Hôm nay Chúa Thánh Thần kêu gọi chúng ta chữa lành những tổn thương nhân loại bằng dầu bác ái. Người công giáo và chính thống giáo, chúng ta cùng nhau phát triển, hợp tác trong đức ái để phục vụ con người của thời chúng ta và mang đến an ủi của Tin Mừng đến. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 4 tháng 12-2021

Với tư cách là Giáo hội, nhờ ơn Chúa Thánh Thần, chúng ta được kêu gọi thành men ủ kiên nhẫn và ẩn mình trong bột của thế giới. Bí mật của Nước Trời chứa đựng trong những điều nhỏ bé, trong những gì thường là vô hình và không nhận thấy. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 4 tháng 12-2021

Tôi muốn kêu gọi một tầm nhìn cộng đồng về vấn đề di cư, quan tâm đến những người thiệt thòi nhất, để theo khả năng của từng nước, họ được đón nhận, được giúp đỡ và được hội nhập trong sự tôn trọng nhân quyền và phẩm giá của họ. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 4 tháng 12-2021

Đất nước này có thể được gọi là “ký ức của Châu Âu” và tôi rất vui khi được đến thăm đây. Từ chiếc nôi này của nền văn minh, một thông điệp đã nảy sinh và luôn nảy sinh, một thông điệp hướng chúng ta lên cao và hướng về người khác. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 4 tháng 12-2021

Chúa Giêsu đến với chúng ta nơi khuôn mặt của người anh em bị gạt ra ngoài lề xã hội, bị từ chối, nơi người di dân bị khinh miệt, bị loại trừ, bị nhốt trong lồng… Nhưng Ngài cũng đến nơi khuôn mặt của người di dân hướng tới một hy vọng, hướng tới một cuộc sống chung nhân bản hơn. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 3 tháng 12-2021 #TravelApostolic

Anh chị em bị khuyết tật thân mến, Giáo hoàng và Giáo hội gần gũi anh chị em một cách đặc biệt, bằng tình cảm và sự dịu dàng. Cùng nhau, tất cả chúng ta là Giáo hội vì Chúa Giêsu đã chọn làm bạn với chúng ta. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 3 tháng 12-2021

Giống như hai người mù, chúng ta là những kẻ lữ hành, thường chìm trong bóng tối cuộc đời. Việc đầu tiên chúng ta phải làm là đến gặp Chúa Giêsu. Chỉ một mình Ngài, ánh sáng đích thực soi sáng cho mọi người, ban cho chúng ta ánh sáng và tình yêu dồi dào, giải thoát tâm hồn chúng ta khỏi  sự dữ. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 3 tháng 12-2021

Chúng ta cần những tín hữu kitô sáng suốt, những người với cử chỉ và lời nói an ủi thắp lên tia hy vọng, gieo hạt giống Tin Mừng trong những cánh đồng khô cằn của cuộc sống hàng ngày, mang trìu mến đến trong cô đơn của đau khổ và nghèo đói. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 3 tháng 12-2021

Chúa Thánh Thần muốn chúng ta, người chính thống giáo và người công giáo đến với nhau trong khiêm tốn và tôn trọng. Ngài mời gọi chúng ta đừng cam chịu những chia rẽ trong quá khứ, để cùng nhau vun trồng cánh đồng Nước Trời, một cách kiên nhẫn, đều đặn và cụ thể. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 3 tháng 12-2021 #ApostolicJourney

Giáo hội chúng ta là người mẹ, một người mẹ luôn quy tụ con cái mình bằng sự dịu dàng. Chúng ta tin vào Mẹ Hội Thánh, Mẹ quy tụ tất cả chúng ta và với lòng kiên nhẫn, dịu dàng và lòng can đảm, Mẹ sẽ dẫn dắt chúng ta đi trên con đường của Chúa. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 3 tháng 12-2021#ApostolicJourney

Mối Phúc là hiến chế vĩnh cửu của kitô giáo, là kim chỉ nam dẫn đường cho tín hữu kitô khi đối diện với hành trình của cuộc đời. Sống Các Mối Phúc để Tin Mừng luôn tươi trẻ và làm xã hội của hy vọng được phong phú. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 2 tháng 12-2021

Tôi đến Sýp với mong muốn được như Tông đồ Ba-na-bê, để thấy ơn Chúa đang hoạt động trong Giáo hội và trong đất của anh em, để vui mừng với anh em vì những điều kỳ diệu Chúa đã làm và xin anh em luôn kiên trì, không bao giờ nản lòng. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 2 tháng 12-2021

Chúng ta là anh chị em của nhau, được Người Cha duy nhất yêu thương. Để xây dựng một tương lai xứng đáng, chúng ta phải cùng nhau làm việc, vượt qua các chia rẽ và vun đắp tình đoàn kết. Chúng ta cần đón nhận nhau, hội nhập nhau, cùng đi chung với nhau, để trở thành tất cả là anh chị em với nhau! Câu Tweet của Đức Phanxicô ngày 2 tháng 12-2021

Ngày mai tôi sẽ đến Síp và Hy Lạp để thăm các dân tộc thân yêu của những quốc gia giàu lịch sử, tâm linh và văn minh. Đây sẽ là cuộc hành trình  về nguồn cội đức tin tông đồ và tình huynh đệ giữa các tín hữu kitô của nhiều giáo phái khác nhau. Xin anh chị em cùng đồng hành với tôi trong lời cầu nguyện. Câu Tweet của Đức Phanxicô ngày 1 tháng 12-2021

Hôm nay Ngày Quốc tế chống Sida, chúng ta cùng cầu nguyện cho nhiều người bị mắc hội chứng này. Ở một số nơi trên thế giới, nhiều người trong số họ không có được các phương pháp điều trị cần thiết. Chúng ta cùng cam kết để đảm bảo việc chữa trị được công bằng và hiệu quả. Câu tweet của Đức Phanxicô ngày 1 tháng 12-2021

Chúng ta thường cảm thấy khó khăn khi đi từ tình yêu sét đánh qua tình yêu trưởng thành. Yêu không phải mong chờ cuộc sống phù với trí tưởng tượng của chúng ta, nhưng là chọn lựa hoàn toàn tự do, để có trách nhiệm với cuộc sống đến với chúng ta. Câu Tweet của Đức Phanxicô ngày 1 tháng 12-2021

 http://phanxico.vn/2022/01/01/cac-cau-tweet-cua-duc-phanxico-thang-12-2021/