Trang

Thứ Sáu, 2 tháng 6, 2023

Vui Học Thánh Kinh 38 Đuổi Hình Bắt Chữ *Tập 2

 

Vui Học Thánh Kinh 38 Đuổi Hình Bắt Chữ *Tập 2


Vui Học Thánh Kinh 38 Đuổi Hình Bắt Chữ *Tập 2
VUI HỌC THÁNH KINH 38
ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ * Tập 2
2014

NGUYỄN THÁI HÙNG



Tải về file PDF Vui Học Thánh Kinh 38 Đuổi Hình Bắt Chữ *Tập 2



Các bạn thân mến,
để hiểu biết và thêm lòng
yêu mến Thánh Kinh,
 chúng ta cùng vui học
qua trò chơi ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ.
Mọi trích dẫn và tên riêng
đều dựa trên bản dịch Thánh Kinh
Lời Chúa Cho Mọi Người 2007 
của Nhóm Phiên Dịch
 Các Giờ Kinh Phụng vụ.
Hình ảnh sưu tầm trên mạng Internet.
 Chúc các bạn có những giây phút
 vui và bổ ích.


081. ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ



* Ông Simêon đang bồng ai ?
A B C E G H H I I I M N S U
(Tin Mừng thánh Luca 2,33-35)  


082. ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ




* Thành Nadarét thuộc miền nào?
A B C D E G H I L L M R S U
(Tin Mừng thánh Luca 1,26-38)  



083. ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ




* Ông Môsê và ngôn sứ Êlia đàm đạo với Đức Giêsu về cuộc xuất hành của Người sắp hoàn thành tại đâu?
A B C E E G H I L M N R S U 
(Tin Mừng thánh Luca 9,28-37)  


084. ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ








* Ai đang cầu khẩn Đức Chúa
khấng nhận lễ vật?
A A B C E G H I I L N O S U
(1 Vua 18,20-40)



085. ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ










* Đức Giêsu ngồi bên bờ giếng làng nào?
A A B E E K H L M M R S X Y
(Tin Mừng thánh Gioan  4,1…)


086. ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ



* Ai đang làm bạn với sư tử?
A B C D E G H I M N N R S U
(Đanien 6,17-25)


087. ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ



* (Khi gặp Đức Giêsu) Ông Nathanaen nói: "Thưa Thầy, chính Thầy là Con Thiên Chúa, chính Thầy là … … …  ! "
A A B C E G H I N O R T U V   
(Tin Mừng thánh Gioan 1,49)

Còn tiếp ...

Vui Học Thánh Kinh 37 Đuổi Hình Bắt Chữ * Tập 1

 

Vui Học Thánh Kinh 37 Đuổi Hình Bắt Chữ * Tập 1


Vui Học Thánh Kinh 37 Đuổi Hình Bắt Chữ * Tập 1



VUI HỌC THÁNH KINH 37
ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ
Tập 1
2014
GB. NGUYỄN THÁI HÙNG



Tải về file PDF Vui Học Thánh Kinh 37 Đuổi Hình Bắt Chữ * Tập 1

Các bạn thân mến,
để hiểu biết và thêm lòng
yêu mến Thánh Kinh,
 chúng ta cùng vui học qua trò chơi
ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ.
Mọi trích dẫn và tên riêng
đều dựa trên bản dịch Thánh Kinh
của Nhóm Phiên Dịch
 Các Giờ Kinh Phụng vụ.
Hình ảnh sưu tầm trên mạng Internet.
 Chúc các bạn có những giây phút
 vui và bổ ích.


001. ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ





* “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít,
Người là… … … .”
A A C C D D G G H H I I K N N O O T U U
(Tin Mừng thánh Luca 2,11)

002. ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ




* "Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
bình an dưới thế cho loài người … … … ."
A C G H H I E M N O T T U U
(Tin Mừng thánh Luca 2,14)


003. ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ



* “Thưa cha, con thật … … … và với cha, chẳng còn đáng gọi là con cha nữa.”
A C D I I I O O O R S T T V
(Tin Mừng thánh Luca 15,22-24)


004. ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ





* Đức Giêsu kiện toàn điều gì?
A E H I L M N O R S T T U Y
(Tin Mừng thánh Mátthêu 5,17-19)


005. ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ





* Ông già ngồi tên là gì?
A A B D E G G I  K M N O T T U V
(Tb 11,1… )


006. ĐUỔI HÌNH BẮT CHỮ





* Binh lính cũng hỏi ông : "Còn anh em chúng tôi thì phải làm gì? " Ông bảo họ : "… … … , cũng đừng tống tiền người ta,
hãy an phận với số lương của mình."
A A C D E E H H H I I O P U
(Tin Mừng thánh Luca 3,14

Nguyễn Thái Hùng



Còn tiếp ....

Thứ Năm, 1 tháng 6, 2023

Nhân chứng: Đấng Đáng Kính Matteo Ricci

 Bài Giáo lý hàng tuần của Đức Phanxicô: Niềm đam mê truyền giáo: lòng nhiệt thành tông đồ của người tín hữu. Nhân chứng: Đấng Đáng Kính Matteo Ricci

Vũ Văn An
 

Theo tin Tòa Thánh, nhân buổi yết kiến chung tại Quảng trường Nhà thờ Thánh Phêrô, thứ Tư, ngày 31 tháng 5 năm 2023, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã tiếp tục loạt bài giáo lý nói về niềm đam mê rao giảng Tin mừng của ngài, nhấn mạnh tới chứng tá của Đấng Đáng kính Matteo Ricci. Sau đây là nguyên văn bài giáo lý của ngài, dựa vào bản tiếng Anh do Tòa Thánh công bố:



Anh chị em thân mến, chào anh chị em buổi sáng!

Chúng ta đang tiếp tục những bài giáo lý nói về lòng nhiệt thành tông đồ, nghĩa là, điều mà người Kitô hữu cảm thấy để thi hành việc loan báo Chúa Giêsu Kitô. Và hôm nay tôi muốn trình bày một mẫu gương tuyệt vời khác về lòng nhiệt thành tông đồ: chúng ta đã nói về Thánh Phanxicô Xaviê, Thánh Phaolô, lòng nhiệt thành tông đồ của những người nhiệt thành vĩ đại; hôm nay chúng ta sẽ nói về một người – người Ý, nhưng đã đến Trung Quốc: Matteo Ricci.

Xuất thân từ Macerata, thuộc vùng Marches, sau khi học tại các trường Dòng Tên và gia nhập Dòng Tên ở Rôma, ngài đã bị thu hút bởi những báo cáo của những nhà truyền giáo mà ngài đã lắng nghe và ngài trở nên nhiệt tình, giống như rất nhiều người trẻ khác cũng cảm thấy như vậy, và ngài xin được cử đi truyền giáo ở Viễn Đông. Sau nỗ lực của Thánh Phanxicô Xaviê, 25 tu sĩ Dòng Tên khác đã cố gắng vào Trung Quốc mà không thành công. Nhưng Ricci và một trong những người bạn của ngài đã chuẩn bị rất kỹ lưỡng, nghiên cứu kỹ về ngôn ngữ và phong tục của Trung Quốc, và cuối cùng, họ đã định cư được ở miền nam đất nước. Phải mất mười tám năm, với bốn giai đoạn qua bốn thành phố khác nhau, để đến Bắc Kinh, vốn là trung tâm. Với sự kiên trì và nhẫn nại, được truyền cảm hứng từ niềm tin không thể lay chuyển, Matteo Ricci đã có thể vượt qua khó khăn và nguy hiểm, ngờ vực và chống đối. Anh chị em hãy nghĩ xem, trong thời gian đó, đi bộ hay cưỡi ngựa, những khoảng cách như vậy… và ngài cứ thế tiếp tục. Nhưng đâu là bí quyết của Matteo Ricci? Lòng nhiệt thành của ngài đã thúc đẩy ngài bằng con đường nào?

Ngài luôn đi theo con đường đối thoại và tình bạn với tất cả những người mà ngài gặp gỡ, và điều này đã mở ra cho ngài nhiều cánh cửa để loan báo đức tin Kitô giáo. Tác phẩm đầu tiên của ngài bằng tiếng Trung hoa thực sự là một chuyên luận Về Tình Bạn, đã gây được tiếng vang lớn. Để hòa nhập vào cuộc sống và văn hóa Trung Quốc, đầu tiên ngài ăn mặc như các nhà sư Phật giáo, theo phong tục của đất nước, nhưng sau đó ngài hiểu rằng cách tốt nhất là đảm nhận lối sống và y phục của giới sĩ phu. Giới sĩ phu ăn mặc như giáo sư đại học, và ngài ăn mặc như vậy. Ngài đã nghiên cứu sâu sắc các bản văn cổ điển của họ, để có thể trình bày Kitô giáo trong cuộc đối thoại tích cực với óc khôn ngoan Nho giáo của họ và phong tục của xã hội Trung Quốc. Và điều này được gọi là thái độ hội nhập văn hóa. Nhà truyền giáo này đã có thể “hội nhập văn hóa” đức tin Kitô giáo, như các giáo phụ xưa đã làm khi đối thoại với văn hóa Hy Lạp, [trong những thế kỷ đầu tiên của Giáo hội].

Kiến thức khoa học tuyệt vời của ngài đã thu hút sự quan tâm và ngưỡng mộ của những người có văn hóa, bắt đầu từ bản đồ nổi tiếng của ngài về toàn thế giới như nó được biết đến vào thời điểm đó, với các lục địa khác nhau, lần đầu tiên tiết lộ cho người Trung Quốc thấy một thực tại ở bên ngoài Trung Quốc, rộng lớn hơn nhiều so với những gì họ nghĩ. Ngài cho họ thấy rằng thế giới thậm chí còn rộng lớn hơn cả Trung Quốc, và họ hiểu, vì họ thông minh. Nhưng kiến thức toán học và thiên văn học của Ricci và những người theo truyền giáo của ngài cũng góp phần tạo nên cuộc gặp gỡ hữu hiệu giữa văn hóa và khoa học của phương Tây và phương Đông, vốn đã trải qua một trong những thời kỳ hạnh phúc nhất, được đặc trưng bởi đối thoại và tình bạn. Thật vậy, công việc của Matteo Ricci sẽ không bao giờ có thể thực hiện được nếu không có sự cộng tác của những người bạn Trung Quốc tuyệt vời của ngài, chẳng hạn như “Bác sĩ Paul” (Xu Guangqi) nổi tiếng và “Bác sĩ Leon” (Li Zhizao).

Tuy nhiên, danh tiếng của Ricci như một nhà khoa học không nên che khuất động cơ sâu xa nhất trong mọi nỗ lực của ngài: tức là công bố Tin Mừng. Bằng đối thoại khoa học, với các nhà khoa học, ngài đi trước nhưng ngài làm chứng cho đức tin của mình, cho Tin Mừng. Tính khả tín có được nhờ đối thoại khoa học đã cho ngài quyền đề xuất chân lý đức tin và luân lý Kitô giáo, được ngài nói tới một cách rất sâu sắc trong các tác phẩm chính bằng tiếng Trung hoa của ngài, chẳng hạn như Ý nghĩa thực sự của Chúa Trời – như tên gọi của cuốn sách. Bên cạnh giáo lý, ngài còn làm chứng bằng đời tu, nhân đức và cầu nguyện: các thừa sai này cầu nguyện. Họ đi rao giảng, họ hoạt động tích cực, họ thực hiện các động thái chính trị, tất cả những điều đó; nhưng họ đã cầu nguyện. Đó là những gì đã nuôi dưỡng đời sống thừa sai, một đời sống bác ái; họ giúp đỡ người khác một cách khiêm tốn, hoàn toàn không quan tâm đến danh dự và giàu sang, điều này đã khiến nhiều môn đệ và bạn bè của ngài tiếp nhận đức tin Công Giáo. Bởi vì họ nhìn thấy một con người quá thông minh, quá khôn ngoan, quá sắc sảo – theo nghĩa tốt của từ này – trong việc hoàn thành công việc, và rất sùng đạo, nên họ nói, “Nhưng những gì ông ấy rao giảng đều đúng, bởi vì đó là một phần của một nhân cách biết làm chứng, ông ấy làm chứng cho những gì ông ấy rao giảng bằng chính cuộc sống của mình”. Đây là sự nhất quán của những người loan báo Tin Mừng. Và điều này áp dụng cho tất cả chúng ta, những Kitô hữu truyền giảng Tin Mừng. Chúng ta có thể đọc thuộc lòng Kinh Tin Kính, chúng ta có thể nói tất cả những gì chúng ta tin, nhưng nếu cuộc sống của chúng ta không nhất quán với điều này, thì cũng chẳng ích gì. Điều thu hút người ta là chứng tá của sự nhất quán: Kitô hữu chúng ta phải sống như chúng ta nói, và không giả vờ sống như Kitô hữu nhưng thực ra sống theo cách thế tục. Anh chị em hãy cẩn thận về điều này, hãy nhìn vào nhà truyền giáo vĩ đại này – và ngài là người Ý đấy nhé, phải không – nhìn vào những nhà truyền giáo vĩ đại này, hãy thấy rằng sức mạnh lớn nhất là sự nhất quán: họ đã nhất quán.

Trong những ngày cuối đời, với những người thân thiết nhất và hỏi xem ngài cảm thấy thế nào, “ngài trả lời rằng lúc đó ngài đang nghĩ đến việc điều nào lớn hơn: niềm vui và hân hoan ngài cảm thấy trong lòng khi nghĩ rằng mình đã gần đến ngày ra đi và được hưởng nhan Thiên Chúa, hay nỗi buồn khi phải rời xa những người bạn đồng hành của ngài trong toàn bộ sứ mệnh mà ngài vô cùng yêu thích, và sự phục vụ mà ngài vẫn có thể làm cho Thiên Chúa, Chúa chúng ta trong sứ mệnh này,” (S. De Ursis, Báo cáo về M. Ricci, Văn khố Lịch sử Dòng Tên Rôma.) Đây cũng là thái độ của Thánh Tông đồ Phaolô (x. Pl 1:22-24), người muốn đến với Chúa, tìm gặp Chúa, nhưng ở lại “để phục vụ anh em”.

Matteo Ricci qua đời ở Bắc Kinh năm 1610, ở tuổi 57, một người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sứ mệnh. Tinh thần truyền giáo của Matteo Ricci tạo thành một mô hình sống động có liên quan. Tình yêu của ngài đối với người Trung Quốc là một mô hình; nhưng con đường thực sự hợp thời là sự nhất quán của đời sống, của việc làm chứng cho niềm tin Kitô giáo của mình. Ngài đã đưa Kitô giáo đến Trung Quốc; ngài vĩ đại, vâng, bởi vì ngài là một nhà khoa học vĩ đại, ngài vĩ đại vì ngài can đảm, ngài vĩ đại vì ngài đã viết nhiều sách – nhưng trên hết, ngài vĩ đại vì ngài kiên định với ơn gọi của mình, kiên định với mong muốn theo Chúa Giêsu Kitô của mình. Thưa anh chị em, hôm nay chúng ta, mỗi người chúng ta, hãy tự hỏi nội tâm mình: “Tôi có nhất quán không, hay tôi hơi ‘đại khái’?”. Cảm ơn anh chị em.

Vietcatholic News

Ba Ngôi hằng ở cùng ta

 Ba Ngôi hằng ở cùng ta

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 
Suy Niệm Lễ Chúa Ba Ngôi Năm – A

(Ga 3, 16 - 18)

Sau Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Giáo hội cử hành Lễ Chúa Ba Ngôi. Phụng vụ Lời Chúa chỉ rõ, Chúa Cha là Đấng thống trị, từ bi nhân hậu, đầy nhân nghĩa tín thành (x. Xh 34, 4b-6.8-9) Chúa Con là Đấng ban ân sủng, Chúa Cha là nguồn suối tình yêu, Chúa Thánh Thần là Đấng hiệp nhất các tín hữu (x. 2 Cr 13,11-13); Chúa Cha yêu thế gian đến nỗi ban Chúa con cho nhân loại, không phải để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Người mà được cứu độ (x. Ga 3, 16-18). Đó là Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.

Ba Ngôi hằng ở cùng ta

Có thể nói mà không sợ sai lầm rằng, toàn bộ đời sống của người kitô hữu tràn ngập sự hiện diện của Thiên Chúa Ba Ngôi. Trước hết chúng ta được rửa tội nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi. Người rửa tội vừa đổ nước vừa đọc rằng, cha rửa con hoặc tôi rửa ông bà anh chị “Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần“. Vẫn Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần khi cử hành Bí tích Hôn nhân, người nam và người nữ được ràng buộc nên vợ nên chồng (A, hoặc E, hãy nhận chiếc nhẫn cưới này làm dấu chỉ tình yêu và lòng trung thành của A, hoặc E, Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần). Lời cầu nguyện vào cuối đời, chúng ta cầu nguyện rằng: Hỡi linh hồn, hãy lìa xa trần thế này, nhân Danh Thiên Chúa là Cha, Đấng đã tạo dựng, Chúa Con, Đấng đã cứu chuộc và Chúa Thánh Thần, Đấng đã thánh hóa với hy vọng rằng Thiên Chúa Ba Ngôi sẽ ban cho người qua đời được hưởng phúc trường sinh.

Ba Ngôi cứu chuộc ta

Chúa Cha là nguồn mạch của tình yêu trong tư cách là Cha, Ngài đã yêu Chúa Con và yêu chúng ta như thánh Gioan viết: “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để những ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16); “Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta” (Rm 8,32). Đây là tình yêu cứu chuộc, cao cả trong sáng tạo và thánh thiện trong trao ban.

Chúa Con là Đấng đón nhận tình yêu. Người được Chúa Cha yêu thương “trước khi thế gian được tạo thành” (Ga 17,24). Chúa Cha yêu Chúa Con, và Chúa Con đón nhận tình yêu của Chúa Cha trong công trình sáng tạo và cứu chuộc hiệp nhất với Chúa Thánh Thần.

Ngày truyền tin Con Thiên Chúa nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria, Chúa Thánh Thần rợp bóng trên Bà, Bà thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Khai mào sứ vụ công khai, Chúa Thánh Thần ngự trên Chúa Giêsu, Chúa Giêsu được đầy Thánh Thần do Cha xức dầu tấn phong và sai đi. Chính Thiên Chúa Cha đã làm cho Đức Giêsu sống lại (Cv 2,24). Trên Thập giá Chúa Con trao Thần Khí cho Chúa Cha, thì vào ngày Phục sinh, Chúa Cha ban lại Thần Khí cho Chúa Con, để trong Chúa Con, cùng với Chúa Thánh Thần đưa nhân loại vào trong sự hiệp thông Ba Ngôi Thiên Chúa.

Cứu chuộc là sáng kiến của Chúa Cha. Chính Ngài đã đặt Đức Giêsu làm “Con với tất cả quyền năng” sau khi Đức Giêsu đã “từ cõi chết sống lại nhờ Thánh Thần” (Rm 1,4). Vài dẫn chứng trên cho chúng ta thấy tình yêu cứu chuộc của Ba Ngôi.

Ba Ngôi thánh hóa đời ta

Chúng ta cũng thường nói, Chúa Thánh Thần là Đấng Thánh Hóa. Nhưng việc thánh hóa, không chỉ của Chúa Thánh Thần, nhưng cũng là công việc chung của Chúa Cha, Chúa Con. Vai trò của Chúa Thánh Thần cho thấy tình yêu Ba Ngôi là một tình yêu mở rộng và dâng hiến. Chính do sự dâng hiến này mà, trong nhiệm cục cứu độ, Thiên Chúa luôn xuất hiện trong Thánh Thần. Thánh Thần có mặt thuở tạo dựng (St 1,2), ngự xuống trên Đức Giêsu (Lc 1,35), ùa vào thân xác phục sinh của Đức Giêsu (Rm 1,4). Theo nghĩa này, Thánh Thần làm trọn chân lý tình yêu khi cho thấy tình yêu chân thật không đơn độc nhưng liên đới với Chúa Cha và Chúa Con.

Sự hiệp nhất của Ba Ngôi trong tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa là sự hiệp nhất trong tình yêu, với Đấng vì yêu mà trao nộp Con mình (Chúa Cha), Đấng vì yêu mà để mình bị trao nộp (Chúa Con), Đấng vì yêu mà tuôn tràn ngày Phục sinh để đưa con người vào trong tình yêu của Thiên Chúa (Chúa Thánh Thần).

Thực ra thì tất cả sứ mệnh và công trình của Đức Giêsu đều cho thấy sự hiệp nhất của Người với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Con Thiên Chúa, Đấng nhận và trao ban Thần Khí, là một với Chúa Cha (x.Ga 10,30), nhờ sự Phục sinh mà đặt nền móng cho sự hiệp nhất của con người trong sự hiệp nhất của Ba Ngôi (x.Ga 14,20; 17,21.23).

Xin dâng lời tôn vinh chúc tụng, Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Đức Phanxicô ca ngợi đức tính ‘nhất quán’ của Đấng đáng kính Matteo Ricci

 


Đức Phanxicô ca ngợi đức tính ‘nhất quán’ của Đấng đáng kính Matteo Ricci

Linh mục Dòng Tên Matteo Ricci là học giả Nho giáo
cath.ch, I.Media, 2023-05-31
“Tinh thần và phương pháp truyền giáo của Đấng đáng kính Matteo Ricci là tấm gương sống động và phù hợp,” Đức Phanxicô nói trong buổi tiếp kiến chung ngày 31 tháng 5 năm 2023. Ngài ca ngợi “chứng từ nhất quán” của tu sĩ Dòng Tên người Ý là tấm gương lâu dài không chỉ cho bất kỳ mối quan hệ nào giữa Giáo hội công giáo và Trung Quốc.”
Sau Thánh Phaolô và Thánh Phanxicô Xaviê, Đức Phanxicô tiếp tục chu kỳ giảng dạy về “lòng nhiệt thành truyền giáo”, ngài nêu tấm gương của linh mục Dòng Tên người Ý Matteo Ricci (1552-1610), nhà truyền giáo công giáo đầu tiên được phép sống ở Trung Quốc. Ngày 17 tháng 12 vừa qua, ngài đã chấp nhận việc công bố một sắc lệnh của bộ Phong thánh gởi, bước đầu tiên để được Giáo hội công nhận là một vị thánh.
Đức Phanxicô nhắc lại lòng nhiệt thành mà Matteo Ricci, một linh mục trẻ Dòng Tên từ Macerata ở Ý, đã xin được gởi đến Trung quốc bất chấp sự thất bại của Thánh Phanxicô Xaviê và 25 tu sĩ Dòng Tên khác. Để thành công, Ricci đã trang bị cho mình đức tính “bền bỉ và kiên nhẫn, được thúc đẩy bởi một niềm tin không lay chuyển”, ngài học ngôn ngữ, tìm hiểu phong tục và chờ đợi mười tám năm trước khi đến Bắc Kinh.
Bằng cách ăn mặc như người trí thức Trung Quốc và giành được sự tôn trọng của người dân địa phương nhờ kiến thức khoa học rất cao của ngài, Matteo Ricci đã biết cách “hội nhập văn hóa” đức tin công giáo theo cách tương tự với đức tin của các Giáo phụ của Giáo hội trong những thế kỷ đầu tiên. Đức Phanxicô nhấn mạnh: “Ngài luôn đi theo con đường đối thoại và hữu nghị, và do đó đã góp phần vào “sự gặp gỡ hiệu quả giữa văn hóa và khoa học của phương Tây và phương Đông”.
Nhưng uy tín linh mục Matteo Ricci đã có được ở Trung quốc “không làm lu mờ động lực sâu xa nhất trong mọi nỗ lực của ngài: loan báo Tin Mừng. Ngài hoàn toàn không quan tâm đến vinh hoa phú quý, lối sống khiêm tốn và bác ái của ngài đã làm  nhiều người Trung Quốc trở lại theo ngài.
Đức Phanxicô ca ngợi Đấng đáng kính Matteo Ricci “vĩ đại hơn hết vì ngài kiên định với ơn gọi của mình, kiên định với ý chí theo Chúa Giêsu Kitô. Kiên định là đặc điểm chung của tất cả những nhà truyền giáo vĩ đại, như Thánh Phaolô. Chúng ta có thể đọc thuộc lòng tất cả những điều chúng ta tin, nhưng nếu cuộc sống chúng ta không nhất quán, thì tất cả thật vô ích”.
Theo Đức Phanxicô, Đấng đáng kính Matteo Ricci là tông đồ của hội nhập văn hóa và gắn kết, tiền thân của tầm nhìn truyền giáo do Công đồng Vatican II thực hiện.
Thanh niên Nga và Ukraine
Trong phần chào hỏi sau bài giáo lý, Đức Phanxicô ngỏ lời với các bạn trẻ của nhóm “Rondine Cittadella della Pace” hiện diện tại Quảng trường Thánh Phêrô, ngài hy vọng sự tham gia của các bạn trẻ Ukraine, Nga và từ các quốc gia khác đang có chiến tranh có thể khơi dậy quyết tâm vì hòa bình cho tất cả mọi người, kể cả những người có trách nhiệm chính trị.
Ngài nói thêm: “Và điều này giúp chúng ta cầu nguyện nhiều hơn cho những người tử đạo Ukraine.” Kể từ cuộc xâm lược của quân đội Nga vào Ukraine tháng 2 năm 2022, Đức Phanxicô liên tục xin giáo dân đừng quên người dân của đất nước đau thương này.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm dịch
https://phanxico.vn/2023/06/01/duc-phanxico-ca-ngoi-duc-tinh-nhat-quan-cua-dang-dang-kinh-matteo-ricci/

Sứ điệp của ĐTC nhân dịp giới thiệu Hiệp ước Gia đình Toàn cầu

 

Sứ điệp của Đức Thánh Cha nhân dịp giới thiệu Hiệp ước Gia đình Toàn cầu

 
  •  
  •  


WHĐ (31.05.2023) – Hôm 30. 5. 2023, tại Văn phòng Báo chí Tòa Thánh, đã diễn ra cuộc họp báo trực tiếp và trực tuyến giới thiệu về Hiệp ước Gia đình Toàn cầu và Sứ điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân dịp ra mắt Hiệp ước.

Những diễn giả của cuộc họp báo gồm có: Nữ tu Helen Alford, OP, Chủ tịch Hàn lâm viện Tòa Thánh; Giáo sư Gabriella Gambino, Thứ trưởng Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống; Giáo sư Pierpaolo Donati, Nhà xã hội học và thành viên Hàn lâm viện Tòa Thánh. Vì không hiện diện, nên bài phát biểu của Đức hồng y Kevin Farrell, Bộ trưởng Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống do Giáo sư Gabriella Gambino đọc.

Trong phòng họp còn có sự hiện diện của Giáo sư Stefano Zamagni, Nguyên Chủ tịch Hàn lâm viện Tòa Thánh về Khoa học Xã hội, và Tiến sĩ Francesco Belletti, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Gia đình Quốc tế (CISF).

Dưới đây là nội dung Sứ điệp của Đức Thánh Cha:

SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA
NHÂN DỊP GIỚI THIỆU HIỆP ƯỚC GIA ĐÌNH TOÀN CẦU

Anh chị em thân mến!

Trong Tông Huấn Amoris Laetitia, tôi bày tỏ niềm xác tín rằng: “Thiện ích của gia đình là điều có tính quyết định đối với tương lai của thế giới và Giáo hội” (Số 31). Với niềm xác tín này, tôi mong muốn hỗ trợ Hiệp ước Gia đình Toàn cầu, một kế hoạch hợp tác nhằm đưa việc chăm sóc mục vụ gia đình vào cuộc đối thoại với các trung tâm học tập và nghiên cứu về gia đình hiện có trong các trường Đại học Công giáo trên khắp thế giới. Đây là một sáng kiến của Bộ Giáo dân, Gia đình và Sự sống và Hàn lâm viện Tòa Thánh về Khoa học Xã hội, xuất phát từ các nghiên cứu và tìm kiếm về sự liên quan giữa văn hóa và nhân học của gia đình cũng như về những thách thức mới mà gia đình đang phải đối diện.

Mục tiêu là sự Hiệp lực: nhằm giúp cho việc chăm sóc mục vụ gia đình tại các Giáo hội địa phương được hưởng lợi từ nghiên cứu và các chương trình giáo dục và đào tạo trong các trường đại học Công giáo. Cùng nhau, các trường đại học và việc chăm sóc mục vụ có thể cổ võ hiệu quả hơn một nền văn hóa gia đình và sự sống trong thời điểm bấp bênh và thiếu hy vọng này. Một nền văn hóa dựa trên nền tảng thực tế như vậy sẽ giúp các thế hệ mới biết trân trọng hôn nhân và đời sống gia đình với những nguồn lực và thách thức của nó cũng như vẻ đẹp của việc phát sinh và bảo tồn sự sống con người. Tóm lại, điều cấp thiết là có “một nỗ lực với sự quảng đại và trách nhiệm nhiều hơn để trình bày các lý do và các động cơ cho việc chọn lựa hôn nhân và gia đình, ngõ hầu giúp người ta sẵn sàng đáp trả hơn nữa ân sủng mà Thiên Chúa ban cho họ” (Amoris Laetitia, 35).

Các trường đại học Công giáo có nhiệm vụ phát triển các phân tích chuyên sâu về thần học, triết học, pháp lý, xã hội học và kinh tế về hôn nhân và gia đình, nhằm phát huy tầm quan trọng của chúng trong các hệ thống tư tưởng và hành động đương thời. Các nghiên cứu đã cho thấy bối cảnh khủng hoảng trong các mối tương quan gia đình, bị thúc đẩy bởi cả những khó khăn ngẫu nhiên lẫn những trở ngại mang tính cấu trúc, mà nếu không có sự hỗ trợ đầy đủ từ xã hội, sẽ khiến việc hình thành một đời sống gia đình yên ấm trở nên khó khăn hơn. Đây cũng là lý do tại sao nhiều người trẻ hướng tới những hình thức quan hệ tình cảm không bền vững và không chính thức thay vì lựa chọn kết hôn. Đồng thời, các cuộc khảo sát cũng nêu bật cách thức gia đình tiếp tục là nguồn gốc chính của đời sống xã hội và cho thấy sự tồn tại của những thực hành tốt xứng đáng được chia sẻ và phổ biến trên phạm vi toàn cầu. Theo nghĩa này, chính các gia đình có thể và phải là chứng nhân và nhân vật chính của tiến trình này.

Thật vậy, Hiệp ước Gia đình Toàn cầu không phải là một chương trình tĩnh, nhằm kết tinh một số ý tưởng nào đó, mà là một tiến trình, được chia thành bốn bước, cụ thể là:

1. Kích hoạt tiến trình đối thoại và hợp tác nhiều hơn giữa nghiên cứu đại học và các trung tâm nghiên cứu về các vấn đề gia đình, nhằm làm cho các hoạt động của những cơ quan này hiệu quả hơn, đặc biệt bằng cách tạo ra hoặc phục hồi mạng lưới của các viện đại học được truyền cảm hứng từ Học thuyết xã hội của Giáo hội.

2. Kiến tạo sự hợp lực lớn hơn về nội dung và mục tiêu giữa các cộng đồng Kitô và các trường đại học Công giáo.

3. Cổ võ văn hóa gia đình và đời sống xã hội, để đưa ra những đề xuất và mục tiêu hữu ích cho các chính sách công.

4. Phối hợp và hỗ trợ các đề xuất được trình bày, để việc phục vụ gia đình được phong phú và duy trì về mặt thiêng liêng, mục vụ, văn hóa, pháp lý, chính trị, kinh tế và xã hội.

Chính nơi gia đình mà hầu hết những giấc mơ của Thiên Chúa dành cho cộng đồng nhân loại đều trở thành hiện thực. Do đó, chúng ta không thể cam chịu sự suy tàn của gia đình nhân danh sự bấp bênh, chủ nghĩa cá nhân, và chủ nghĩa tiêu thụ, vốn hình dung một tương lai của những cá nhân chỉ nghĩ đến bản thân họ. Chúng ta không thể thờ ơ với tương lai của gia đình với tư cách là một cộng đồng của sự sống và tình yêu; một giao ước bất khả thay thế và bất khả phân ly giữa người nam và người nữ; một nơi gặp gỡ giữa các thế hệ, và một nguồn hy vọng của xã hội. Chúng ta hãy nhớ rằng gia đình có những tác động tích cực đối với mọi người, vì gia đình là nguồn tạo ra công ích. Các mối tương quan gia đình lành mạnh thể hiện sự phong phú vô song không chỉ đối với vợ chồng và con cái, mà còn đối với toàn thể cộng đồng giáo hội và dân sự.

Tôi cảm ơn tất cả những ai đã và sẽ tham gia Hiệp ước Gia đình Toàn cầu, và tôi mời anh chị em cống hiến hết mình với sự sáng tạo và tự tin cho mọi sáng kiến có thể góp phần đưa gia đình trở lại trung tâm của cam kết mục vụ và xã hội của chúng ta.

Rôma, Đền Thánh Gioan Latêranô, ngày 13 tháng 05 năm 2023

PHANXICÔ

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm
Chuyển ngữ từ: vatican.va (30.05.2023)


https://www.hdgmvietnam.com/chi-tiet/su-diep-cua-duc-thanh-cha-nhan-dip-gioi-thieu-hiep-uoc-gia-dinh-toan-cau-50954

Hai lời hứa của Chúa Kitô

 

Hai lời hứa của Chúa Kitô

 
  •  
  •  

Thomas Francis Dicksee (1819-1895), “Christ of the Cornfield” (ảnh: Public Domain)

HAI LỜI HỨA CỦA CHÚA KITÔ

Regis Martin

WHĐ (31.05.2023) – Trong Kinh thánh, có hai lời tuyên bố gây sửng sốt của Chúa Giêsu mà chúng ta cần phải đặc biệt ghi nhớ và biết ơn, mỗi lời tuyên bố đều được đặt ra trước thảm kịch lớn lao của sự phản bội và cái chết mà qua đó, Chúa Giêsu thể hiện sự vâng phục hoàn toàn đối với Chúa Cha.

Tất cả hạnh phúc của chúng ta, dù ở đời này hay đời sau, sẽ phụ thuộc vào sự thật của cả hai lời hứa này. Trong lời hứa đầu tiên, Chúa Giêsu thông báo rằng Người sẽ sớm chuẩn bị một chỗ cho chúng ta, để Người ở đâu thì chúng ta cũng có thể ở đó. Ở đây rõ ràng Thiên Chúa mời chúng ta đến một cuộc sống có niềm vui bất tận, ở đó, trong những cảnh vực của hạnh phúc vĩnh cửu, mọi đau đớn và phiền muộn sẽ tan biến không phải tình cờ.

Rồi sau đó, Chúa Giêsu đảm bảo với chúng ta rằng, ngay cả khi Người ra đi, rời khỏi trần thế này, đang khi chúng ta chờ đợi Parousia (sự trở lại lần thứ hai của Chúa Giêsu) đã được hứa ở bên kia của lịch sử, thì chúng ta sẽ không bị bỏ lại một mình, một sự dự phòng thực sự dành cho chúng ta đã được thực hiện khi Ngài vắng mặt. Do đó, Paraclete (Đấng Bảo trợ), là ân ban mà Chúa Giêsu đã hứa, sẽ hiện xuống và sẽ lấp đầy khoảng không giữa bây giờ và mai sau, giữa lịch sử và thiên đàng. 

Hai bản văn này, mỗi bản văn đều mang tính an ủi tuyệt vời, có thể được tìm thấy trong Tin mừng của Thánh Gioan, Chương 14 - chắc chắn là biểu hiện cao cả nhất của niềm hy vọng mà chúng ta có với tư cách là Kitô hữu, với tư cách là những môn đệ trung thành của Chúa Giêsu Kitô. Trên thực tế, toàn bộ chương này đánh trúng vào tâm điểm trọn vẹn nhất của tính liên tục giữa hai điều này, làm nên khung sườn cho hai chiều kích sóng đôi là thời gian và vĩnh cửu này. Tất cả chúng ta đều có kinh nghiệm về trạng thái căng thẳng cơ bản và liên tục nhất này giữa những gì đã xảy ra  chưa xảy ra. Biết bao lần chúng ta buồn bã khi được nhắc nhớ sự thật rằng, mặc dù Thiên Chúa cuối cùng sẽ hoàn tất mọi sự, nhưng không ai trong chúng ta có thể nắm giữ được sự hoàn tất đó trong cuộc đời này.

Vì vậy, đúng thế, sự cứu rỗi chắc chắn đã đến - thực sự, Chúa Kitô vẫn là sự hiện thực hóa tất cả những gì chúng ta hy vọng có được, là Nước Trời mà chúng ta đã được lôi kéo đến từ lâu rồi. Nhưng không phải thế, sự viên mãn của Nước Trời đó, than ôi, phải chờ đợi một Kết thúc - một sự viên mãn, vượt xa mọi hạnh phúc có thể tìm thấy được trên trần thế này. Bởi vì Thiên Chúa đã định sẵn cho chúng ta những điều lớn lao hơn nhiều, mà con người đơn thuần, trong cõi tạm này, giới hạn trong thời gian, đơn giản là sẽ không làm được.

Nhưng điều gì sẽ xảy ra khi mọi người, khi bạn và tôi, đã đánh mất tất cả niềm say mê hướng về vĩnh cửu - khi sự hứng thú với những gì nhiều hơn nữa lại không còn nữa? Khi niềm khao khát về Thiên Chúa đã không còn, và ngay cả ân sủng của Chúa Thánh Thần cũng không thể xua tan được những đám mây ngăn cản chúng ta nhìn thấy đường nét của Mầu nhiệm? Hoặc ngay cả khi thấy rõ ràng nhất những niềm vui được hứa ban, dù thoáng qua, người ta vẫn không quan tâm đến việc đi tìm chúng?

Như thể khi cha mẹ, hoặc người vợ/chồng, đau buồn khi được cho biết rằng những người thân yêu của họ dù đã chết nhưng giờ đây vẫn đang sống mãnh liệt trong vòng tay của Thiên Chúa hơn cả khi họ còn ở trong xác thịt, người ta vẫn cứ từ chối tin vào điều đó, vẫn chọn cách không chấp nhận hy vọng mà chấp nhận rơi vào một thứ cam chịu đầy tuyệt vọng, một kiểu cam chịu tuyệt vọng nói cho chúng ta biết rằng đó là tất cả những gì chúng ta có. Chúng ta đã có được một miếng ăn hoặc hai miếng, có thể là ba miếng. Như vậy đã đủ chưa? Chúng ta đừng quá tham lam một thứ vinh quang rốt cuộc có thể không hề có. Ý nghĩa duy nhất của cuộc sống là nó phải chấm dứt. 

Và thế là chúng ta, như Pascal nói, cắm đầu chạy “lơ đễnh lao xuống vực thẳm sau khi đặt một vật gì đó trước mặt để ngăn cản chính mình nhìn thấy vực thẳm đó.” Nói cách khác, sống cuộc sống của chúng ta cách vô nghĩa, như nhà thơ Eliot viết, “bị sự sao lãng làm cho sao lãng không còn chú ý đến chính tình trạng mình đang bị sao lãng.” 

Có vẻ như đây là điểm bùng phát của cuộc khủng hoảng mà chúng ta đang phải đối mặt; thực ra, chúng ta đã phải đối mặt với nó trong một thời gian rất dài rồi.

Frank Sheed viết: “Nếu tôi phải tổng kết những đám đông mà tôi đã nói chuyện với họ ở các góc phố trong 40 năm qua, thì tôi sẽ nói rằng thực tế không ai muốn lên Thiên đàng cả.” Ông ấy nói rằng hơn 40 năm về trước, trong một cuộc trò chuyện ông đã cố gắng giải thích tình trạng không còn bền chí khao khát Chúa, khao khát niềm hạnh phúc Chúa đã hứa đang chờ đợi những người yêu mến Ngài, tình trạng này chỉ ngày càng đậm sâu hơn, thậm chí còn di căn theo thời gian.

Người hay cật vấn thường phàn nàn: “Tất cả những chuyện nói về Hưởng kiến Hạnh phúc này nghe chẳng có nghĩa lý gì, chỉ là nói suông mà thôi! Bạn có thể tự thôi miên mình với những lời ấy, nhưng chúng chẳng có ý nghĩa gì với tôi cả.”

Vậy những lời đó có ý nghĩa gì với chúng ta? Chúng ta có bị khuấy động chút nào bởi những lời hứa quả quyết về sự bình an và niềm vui trên trời không? Chúng ta có giống như người đàn ông trong câu chuyện của Flannery O'Connor, mà sự khao khát thiên đàng của ông “quá lớn đến nỗi ông có thể ăn hết tất cả những ổ bánh mì và những con cá sau khi chúng được phép lạ hóa ra nhiều không?” Hay chứng chán ăn tâm linh mà chúng ta đang mắc phải mới chứng tỏ là trí mạng? Tâm hồn chúng ta không rung động dù chỉ một chút khi cùng đi với Chúa Giêsu trên đường Emmau sao?

Thánh Augustinô đã trình bày vấn đề này một cách tuyệt vời biết bao trong tác phẩm vĩ đại Thành phố của Thiên Chúa, nơi cuộc sống phúc thật được mô tả bằng những lời hết sức đơn giản: “Ở đó chúng ta sẽ nghỉ ngơi và chúng ta sẽ thấy; chúng ta sẽ thấy và chúng ta sẽ yêu; chúng ta sẽ yêu và chúng ta sẽ ca ngợi. Và đó là điều rốt cuộc sẽ xảy đến và sẽ không kết thúc.”

Làm sao mà người ta có thể khước từ được? Có trở ngại nào có thể chống lại một chung cuộc đẹp mê say như vậy? Thiên đàng, còn gì có thể không thích được cơ chứ? Và người ta phải sử dụng thứ cuồng bạo gì với chính mình để dập tắt một nhu cầu quá tự nhiên, quá thúc bách như thế?

Henri de Lubac nhắc nhở chúng ta trong tác phẩm Bí nhiệm của cõi siêu nhiên, trong số những tác phẩm có ảnh hưởng sâu xa của thần học Công giáo thế kỷ 20, “Niềm khát khao được nhìn thấy Thiên Chúa không thể bị chặn đứng, ngoại trừ một thứ đau khổ căn cốt … trên thực tế, đó chẳng phải là “sự đau khổ của những kẻ bị luận phạt đời đời” sao?[1] Nói tóm lại, Thiên Chúa sẽ không từ chối bất cứ ai sẵn sàng nói lời đồng ý với đề nghị của Ngài. Chỉ có kẻ bị luận phạt đời đời mới có thể gây ra tổn thất tột cùng như vậy.

Henri de Lubac tiếp tục: “Tầm quan trọng vô tận của nỗi khát khao mà Đấng Tạo Hóa đã gieo trồng vào tôi là những gì tạo nên tầm quan trọng vô tận của vở kịch về sự hiện hữu của con người”. Đó là cứu cánh duy nhất mà tôi sẽ có mãi mãi, nằm sâu trong bản thể con người tôi, được chính Thiên Chúa gieo trồng ở đó, điều đó có nghĩa là khước từ hành trình trở về với Chúa, khinh thường việc chiêm ngắm Thánh Nhan của Ngài, là tự đưa mình vào địa ngục mãi mãi.

Phêrô Phạm Văn Trung
Chuyển ngữ từ: ncregister.com (18.05.2023)



[1] Chú thích của người dịch: Henri de Lubac, The Mystery of the Supernatural, trang 54-55.

https://www.hdgmvietnam.com/chi-tiet/hai-loi-hua-cua-chua-kito-50953