Trang

Thứ Năm, 29 tháng 12, 2016

Ánh Sao Lạ

Ánh Sao Lạ


Như Ba Vua xưa
Theo ánh sáng sao lạ
Đến với Đấng Cứu Thế
Vua của muôn Vua.

Từ phương xa cách trở
Theo ánh sao chỉ đường
Vượt muôn ngàn gian khó
Đến mừng Đấng Cứu Tinh.

Vàng, nhủ hương, mộc dược
Quà tặng kính dâng lên
Vua muôn trùng cao cả
Đấng Cứu Độ nhân trần.

Ánh sao lạ chỉ đường
Soi Mặt Trời Công Chính
Hoàng Tử của Hòa Bình
Ngự trị giữa muôn dân.

Chúa, Mặt Trời Công Chính
Soi dẫn đời tối tăm
Kẻ mê lầm lạc lối
Về hưởng phúc thiên ân.

Giữa dòng đời vạn ngã
Chúa chính là Con Đường
Dẫn con người tiến bước
Trong hy vọng yêu thương.
Giáng Sinh 2016

Nguyễn Thái Hùng 

Dưới Chân Mẹ

Dưới Chân Mẹ


Con ngồi đây, dưới chân Mẹ bao yêu dấu
Nhìn lên Mẹ, muôn tin tưởng yêu thương
Dẫu cuộc đời ngập tràn bao cay đắng
Con vẫn luôn mong về với Mẹ luôn.

Mẹ ơi, Mẹ. Cuộc đời bao lầm lỗi
Những chua cay, những thất vọng chán chường
Trong đêm tối nhiều lần con ngã quỵ
Nhưng kìa có Mẹ làm ánh Sao Mai.

Mẹ có biết, bao tháng ngày mong đợi
Một chiều vàng ngồi dưới chân Mẹ yêu
Gió thu tàn, se lạnh của đông tới
Bao tâm tình thổn thức dâng Mẹ yêu.

Kính dâng Mẹ tâm hồn con cằn cỗi
Xin Mẹ thương biến đổi những cằn khô
Để con biết yêu thương và tha thứ
Một cuộc đời theo Mẹ bao ước mơ.
Mẹ Thác Mơ, Đông 2015

Nguyễn Thái Hùng 

Người Do Thái là ai? Tại sao họ thông minh nhất Thế giới?

Người Do Thái là ai? Tại sao họ thông minh nhất Thế giới?
 
Từ ngàn xưa, người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị cướp đoạt được.
 
Trong lịch sử, người Do Thái được biết đến là một sắc tộc tôn giáo có nguồn gốc từ Israel. Dù hiện nay người Do Thái sống rải rác tại nhiều quốc gia khác nhau, nhưng chỉ có Israel là quốc gia Do Thái duy nhất trên thế giới, người dân đa phần là người Do Thái và quốc đạo là Đạo Do Thái.
 
Dân số người gốc Do Thái trên thế giới hiện nay vào khoảng gần 13,8 triệu người (khoảng hơn 0,19% dân số thế giới – số liệu năm 2013), tức là cứ khoảng 517 người thì có 1 người Do Thái. Thế nhưng, vào khoảng giữa thế kỷ 19, 1/4 các nhà khoa học trên thế giới là người Do Thái, và tính đến năm 1978, hơn một nửa giải Nobel rơi vào tay người Do Thái. Như vậy, có đến 50% đóng góp cho sự tiến bộ của loài người chỉ do 0,19% dân số đảm nhiệm. Những tên tuổi lớn của thế kỷ 20 có thể kể đến như bộ óc thế kỷ Albert Einstein,Sigmund Freud,Otto Frisch… đều là người Do Thái.
 
Người Do Thái (tiếng Hebrew: יְהוּדִים ISO 259-3 Yehudim, phát âm [jehuˈdim]) là một sắc tộc-tôn giáo có nguồn gốc từ người Israel trong lịch sử vùng Cận Đông cổ đại.
 
Người Do Thái đã chịu một lịch sử lâu dài bị đàn áp và thảm sát trên nhiều vùng đất khác nhau, và dân số và phân bố dân số của họ thay đổi qua nhiều thế kỉ. Ngày nay, đa số các nguồn tin cậy đều đặt dân số Do Thái trong khoảng từ 12 tới 14 triệu. Theo như báo Jewish Agency, trong năm 2007 có 13,2 triệu người Do Thái trên toàn thế giới; trong đó 5,4 triệu (40,9%) ở Israel; 5,3 triệu (40,2%) ở Hoa Kỳ và số còn lại rải rác khắp thế giới.
 
Nguồn gốc của người Do Thái theo truyền thống là vào khoảng 1800 TCN với những câu chuyện ghi lại trong Kinh Thánh về sự ra đời của đạo Do Thái.
 
Merneptah Stele, có niên đại vào khoảng 1200 TCN, là một trong những tài liệu khảo cổ xưa nhất của người Do Thái sinh sống trong vùng đất Israel, nơi Do Thái giáo, tôn giáo độc thần đầu tiên được phát triển. Theo những câu chuyện chép lại trong Kinh Thánh, người Do Thái hưởng thụ những giai đoạn tự chủ đầu tiên dưới những quan tòa từ Othniel cho tới Samson, sau đó vào khoảng năm 1000 TCN, vua David thiết lập Jerusalem như là kinh đô của Vương quốc Israel và Judah Thống nhất và từ đó cai quản Mười hai chi tộc Israel.
 
Vào năm 970 TCN, con của vua David là vua Solomon trở thành vua của Israel. Trong vòng mười năm, Solomon bắt đầu xây dựng Đền thờ thiêng liêng được biết đến như là Đền thờ Đầu tiên. Khi Solomon chết (khoảng 930 TCN), mười chi tộc phía bắc tách ra để thành lập Vương quốc Israel. Vào năm 722 TCN người xứ Assyria chinh phục vương quốc Israel và làm người Israel phải sống lưu vong, bắt đầu một cộng đồng hải ngoại. Vào thời đại di chuyển và du hành khá hạn chế, người Do Thái trở thành những người dân tỵ nạn đầu tiên và dễ bị chú ý nhất. Ngày xưa cũng như bây giờ, dân di cư được đối xử với sự nghi ngờ.
 
Cho đến cuối thế kỉ 18, từ Do Thái và theo đạo Do Thái được xem là đồng nghĩa trong thực tế, và đạo Do Thái là yếu tố chính thống nhất người Do Thái mặc dù mức độ theo đạo đó có khác nhau. Trong thời kỳ của chủ nghĩa Khai sáng chuyên chế, một vị vua nổi tiếng của Vương quốc Phổ là Friedrich II Đại Đế đã tiến hành khoan dung tôn giáo và gia tăng quyền lợi của cộng đồng Do Thái. Vào năm 1750, ông ra Thánh chỉ phán rằng người Do Thái được quyền làm chủ các trường học, giáo đường và nhà nguyện của họ. Theo sau Thời đại Khai sáng và thời đại Haskalah tương ứng theo truyền thống Do Thái, một sự thay đổi dần dần đã diễn ra mà qua đó nhiều người Do Thái cho mình là thành viên của nước Do Thái là khái niệm khác biệt với theo đạo Do Thái.
 
Từ “Yehudi” (số nhiều Yehudim) trong tiếng Hebrew nguyên thủy được dùng để chỉ chi tộc Judah. Sau này, khi phần phía bắc của Vương quốc Israel Thống nhất tách khỏi phần phía nam, thì phần phía nam của Vương quốc bắt đầu đổi tên theo của chi tộc lớn nhất của họ, tức là thành Vương quốc Judah. Từ này ban đầu đề cập đến cư dân của vương quốc phương nam, mặc dù từ B’nei Yisrael (Israelite, người Israel) vẫn được sử dụng cho cả hai nhóm. Sau khi người Assyria chinh phục vương quốc phía bắc để lại mỗi vương quốc phía nam còn tồn tại, từ Yehudim dần dần được dùng để chỉ toàn thể những người theo Do Thái giáo, hơn là chỉ những người trong chi tộc hay là trong Vương quốc Judah. Từ Jew trong tiếng Anh được bắt nguồn từ Yehudi (xem #Thuật ngữ). Sử dụng đầu tiên trong Kinh thánh Tanakh để chỉ đến toàn bộ dân tộc Do Thái được tìm thấy trong Sách Esther.
 
Vậy tại sao các thế hệ người Do Thái lại có được trí tuệ như vậy (chỉ số IQ trung bình của người Do Thái là 110 so với chỉ số trung bình 100 của thế giới)? Trong cuốn “Bí mật người Do Thái dạy con làm giàu” có đưa ra lời giải thích cụ thể cho vấn đề này.
 
Vai trò của bà mẹ Do Thái
 
Bà mẹ Do Thái dạy con từ khi mang thai. Các bà mẹ thường nghe nhạc, chơi đàn, hát và… làm toán cho đến khi sinh con ra. Các thai phụ làm vậy vì tin rằng cách đó sẽ làm đứa bé sau này trở nên thông minh. Người mẹ chọn ăn hạnh nhân, chà là, uống dầu cá và ăn cá nhưng tránh ăn đầu cá vì tin rằng tất cả điều đó sẽ giúp cho con trở nên thông thái.
 
Từ lúc còn ẵm ngửa đứa bé, bà mẹ đã tạo cho con thói quen thích sách bằng cách dùng mẹo nhỏ vài giọt mật lên cuốn sách và cho bé liếm. Khi đó, trong nhận thức non nớt của đứa trẻ, sách là cái gì đó rất ngọt ngào, hấp dẫn.
 
Ủy ban công nghiệp thành phố New York (Mỹ) có cuộc điều tra nguồn nhân lực vào năm 1950 và nhận thấy có sự khác biệt lớn về việc đi làm công nhân giữa phụ nữ Ý với phụ nữ Do Thái. Phụ nữ Ý thường phải đi làm và còn bắt con nghỉ học để đi làm phụ cha mẹ, các bà mẹ Do Thái thì ngược lại. Dù kinh tế khó khăn, họ vẫn ở nhà để nuôi dạy con, dồn hết trách nhiệm kiếm sống cho chồng – người ban ngày đi làm nhưng tối về có nghĩa vụ học và dạy cho con học.
 
Nhờ sự chăm sóc, động viên của cha mẹ mà học sinh Do Thái nổi tiếng trong trường về thành tích học tập và tính chuyên cần, khác hẳn với học sinh nhiều dân tộc khác. Vào năm 1954, hệ thống trường công của thành phố New York thống kê được 28 học sinh có chỉ số IQ cực cao lên tới 170 điểm, thì trong đó 24 là học sinh Do Thái. Ngoài ra, những người này còn quan niệm điểm không quan trọng bằng cách học, mà đã học thì phải hỏi. Chính vì vậy, học sinh Do Thái được khuyến khích đặt thật nhiều câu hỏi cho giáo viên.
 
Cũng theo các nhà khoa học Do Thái, sự rung động của âm nhạc sẽ kích thích bộ não và đó là lý do vì sao có rất nhiều thiên tài người Do Thái…
 
Hệ thống giáo dục phổ thông
 
Từ lớp 1 đến lớp 6, những môn học ưu tiên trẻ em gồm kinh doanh, toán học, khoa học.Tất cả trẻ Do Thái đều tham gia vào các môn thể thao như bắn cung, bắn súng, chạy bộ vì họ tin rằng bắn cung và bắn súng sẽ rèn luyện cho bộ não trở nên tập trung vào cách quyết định và sự chính xác.
 
Ở trường trung học, học sinh sẽ giảm dần việc học khoa học mà sẽ học cách tạo ra sản phẩm, đi sâu vào những kiểu bài tập thực tế như vậy. Dù một số dự án/bài tập có vẻ nực cười và vô dụng, nhưng tất cả đều đòi hỏi sự tập trung nghiêm túc đặc biệt nếu đó là những môn thuộc về vũ khí, y học, kỹ sư, ý tưởng sẽ được giới thiệu lên các viện khoa học hoặc trường đại học.
 
Khoa kinh doanh cũng được chú trọng ưu tiên. Trong năm cuối ở trường đại học, sinh viên sẽ được giao một dự án và thực hành. Họ sẽ hoàn thành nếu nhóm của họ (khoảng 10 người/nhóm) có thể tạo ra lợi nhuận 1 triệu USD. Đừng ngạc nhiên, đây là thực tế và đó là lý do vì sao một nửa hoạt động kinh doanh trên thế giới là của người Do Thái.
 
Xã hội Do Thái từ rất sớm đã coi trọng việc xóa mù chữ, sách và người có học thức
 
Dân tộc Do Thái là dân tộc đầu tiên trên thế giới – từ năm 64 đầu Công nguyên – mà nhà thờ quy định tất cả nam giới phải biết đọc viết và tính toán; sang thế kỷ thứ 2 thì bắt buộc mọi đàn ông phải có nghĩa vụ dạy con trai mình đọc, viết, tính toán. Như vậy họ đã thực hiện phổ cập giáo dục cho nam giới trước các dân tộc khác mười mấy thế kỷ.
 
Israel cũng là nước đứng đầu thế giới về dân số từ 14 tuổi đọc sách, đứng đầu về số đầu sách xuất bản theo đầu dân. Không một người Do Thái thành đạt nào lại không tranh thủ thời gian để đọc, để học, để làm giàu hiểu biết.
 
Như vậy, từ ngàn xưa người Do Thái đã xem tri thức là loại vốn đặc biệt vì có thể sinh ra vốn và của cải, lại không bị cướp đoạt được. Và đây nhân tố quan trọng giúp người Do Thái đạt được trí thông minh vượt bậc so với phần còn lại của thế giới.

Thứ Hai, 26 tháng 12, 2016

Thông điệp Giáng Sinh Urbi et Orbi 2016 của Đức Thánh Cha Phanxicô

Thông đip Giáng Sinh Urbi et Orbi 2016 ca Đc Thánh Cha Phanxicô
J.B. Đng Minh An dch


“Anh chị em thân mến, Chúc mừng Giáng Sinh!

Hôm nay Giáo Hội một lần nữa trải nghiệm sự bỡ ngỡ của Đức Trinh Nữ Maria, Thánh Giuse và các mục đồng tại Bêlem, khi họ chiêm ngắm Hài Nhi mới sinh nằm trong máng cỏ là Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế.

Vào ngày chan hòa ánh sáng này, lời tiên tri loan báo lại được vang lên:

“Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta,

một người con đã được ban tặng cho ta.

Người gánh vác quyền bính trên vai,

danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh,

người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hoà bình.” (Is 9:5)

Quyền bính của hài nhi này, là Con Thiên Chúa và Con của Mẹ Maria, không phải là thứ quyền bính của thế gian, dựa trên sức mạnh và sự giàu có; nhưng là quyền bính của tình yêu. Đó là sức mạnh đã tạo dựng trời và đất, sức mạnh trao ban sự sống cho tất cả mọi loài thụ tạo: khoáng sản, thực vật và động vật; đó là sức mạnh thu hút người nam và người nữ đến với nhau, và làm cho họ thành một thân xác, một hữu thể duy nhất; đó là sức mạnh sinh ra sự sống mới, tha thứ lỗi lầm, hòa giải những kẻ thù, và biến đổi ác thành thiện. Đó là sức mạnh của Thiên Chúa. Sức mạnh của tình yêu này dẫn Chúa Giêsu Kitô đến việc từ bỏ vinh quang của Ngài và trở thành người phàm; và rồi dẫn Ngài đến chỗ hiến mạng sống của mình trên thập giá, để sống lại từ cõi chết. Đó là sức mạnh của sự phục vụ, khai mở trong thế giới của chúng ta Nước Thiên Chúa, một vương quốc của công lý và hòa bình.

Vì lý do này, sự ra đời của Chúa Giêsu đã được đi kèm với bài hát của các thiên thần khi họ loan báo:

“Vinh danh Thiên Chúa trên trời,

bình an dưới thế cho loài người Chúa thương.”(Lc 2:14).

Hôm nay thông điệp này vươn ra đến tận cùng trái đất để đến với tất cả các dân tộc, đặc biệt là những dân tộc đang mang những vết sẹo của chiến tranh và xung đột gay gắt, là những dân nước xem ra đang khao khát hòa bình mãnh liệt hơn cả.

Hòa bình cho những người nam nữ ở các vùng đất bị chiến tranh tàn phá của Syria, nơi quá nhiều máu đã đổ ra. Trên tất cả là ở thành phố Aleppo, địa điểm xảy ra các trận đánh khủng khiếp nhất trong những tuần gần đây, điều cấp thiết nhất là các trợ giúp và hỗ trợ cần phải được bảo đảm đến được với người dân đang kiệt quệ, luật nhân đạo phải được tôn trọng. Đây là thời điểm mà vũ khí cần phải bị câm nín mãi mãi, và cộng đồng quốc tế phải tích cực tìm kiếm một giải pháp thương thảo, sao cho việc chung sống dân sự có thể được phục hồi ở quốc gia này.

Hòa bình cho những người nam nữ của Thánh Địa thân yêu, miền đất đã được lựa chọn và ưa chuộng bởi Thiên Chúa. Cầu xin cho Israel và Palestine có can đảm và quyết tâm viết lên một trang sử mới, trong đó lòng thù hận và ước muốn trả thù trả oán nhường bước cho ý chí cùng nhau xây dựng một tương lai của sự hiểu biết và hòa hợp.

Cầu xin cho Iraq, Libya và Yemen - nơi người dân đang phải gánh chịu chiến tranh và sự tàn bạo của chủ nghĩa khủng bố - có khả năng tìm thấy sự đoàn kết và hòa hợp một lần nữa.

Hòa bình cho những người nam nữ ở các miền khác nhau của châu Phi, đặc biệt là ở Nigeria, nơi mà chủ nghĩa khủng bố cực đoan đang lợi dụng trẻ em thậm chí để gieo rắc kinh hoàng và chết chóc.

Hòa bình cho Nam Sudan và Cộng hòa Dân chủ Congo, để những chia rẽ có thể được chữa lành và tất cả mọi người thiện chí có thể phấn đấu để thực hiện con đường phát triển và chia sẻ, cũng như ưa chuộng nền văn hóa đối thoại hơn những não trạng xung đột.

Hòa bình cho những người nam nữ cho đến nay vẫn còn đang phải gánh chịu những hậu quả của cuộc xung đột ở Đông Ukraine, nơi đang có một nhu cầu cấp thiết của một mong muốn chung là xoa dịu khổ đau cho dân chúng và đưa vào thực hiện các cam kết đã được chấp nhận.

Chúng tôi cầu xin sự hài hòa cho người dân Colombia thân yêu, đang tìm cách bắt tay vào một con đường mới với can đảm đối thoại và hòa giải. Xin cho một lòng can đảm như thế cũng thúc đẩy đất nước thân yêu Venezuela thực hiện các bước cần thiết để chấm dứt căng thẳng hiện nay, và cùng nhau xây dựng một tương lai đầy hy vọng cho toàn dân.

Bình an cho tất cả những ai, tại các khu vực khác nhau, đang chịu đựng những đau khổ vì những mối hiểm nguy liên tục và những bất công dai dẳng. Cầu xin cho Miến Điện củng cố nỗ lực của mình để thúc đẩy việc sống chung hòa bình, và với sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, sẽ cung cấp sự bảo vệ cần thiết và các hỗ trợ nhân đạo cho tất cả những ai đang rất cần đến sự bảo vệ này một cách khẩn cấp. Xin cho bán đảo Triều Tiên vượt qua được những căng thẳng đang trải qua trong một tinh thần hợp tác.

Hòa bình cho những ai đã mất đi một người thân yêu vì các hành vi tàn bạo của chủ nghĩa khủng bố, và hòa bình cả cho những ai đã gieo sợ hãi và chết chóc vào con tim của rất nhiều quốc gia và thành phố.

Hòa bình - không phải thứ hòa bình chỉ trên môi miệng, nhưng là một nền hòa bình thực sự và cụ thể - cho những anh chị em của chúng ta đang bị bỏ rơi và loại trừ, cho những ai đang đói khát và cho tất cả các nạn nhân của bạo lực. Hòa bình cho những người lưu vong, những người di cư và tị nạn, cho tất cả những ai trong thời đại chúng ta đang là đối tượng của nạn buôn bán người. Hòa bình cho các dân tộc đang đau khổ vì những tham vọng kinh tế của một thiểu số, vì sự tham lam quá đáng và vì sự tôn thờ thần tiền, dẫn đến sự nô lệ. Hòa bình cho những ai chịu ảnh hưởng bởi tình trạng bất ổn xã hội và kinh tế, và cho những ai chịu đựng những hậu quả của các trận động đất hoặc các thảm họa thiên nhiên khác.

Bình an cho các trẻ em, vào ngày đặc biệt này khi Thiên Chúa đã trở thành một hài nhi, hòa bình trước hết cho những trẻ em bị tước đi những niềm vui của tuổi thơ vì đói khát, chiến tranh hay sự ích kỷ của người lớn.

Bình an dưới thế cho những người nam nữ thiện chí đang làm việc lặng lẽ và kiên nhẫn mỗi ngày, trong gia đình của họ và trong xã hội, để xây dựng một thế giới nhân bản và công chính hơn, một thế giới được dưỡng nuôi bởi xác tín rằng chỉ với hòa bình chúng ta mới có khả năng có được một tương lai thịnh vượng cho tất cả mọi người.

Anh chị em thân mến,

“Vì một hài nhi đã được sinh ra cho chúng ta, một người con đã được ban tặng cho chúng ta. Ngài là Hoàng tử của bình an”. Chúng ta hãy đón chào Ngài!

[Sau khi ban phép lành Urbi et Orbi, Đức Thánh Cha nói thêm]

Anh chị em thân yêu, là những người tụ họp tại quảng trường này từ tất cả các miền trên thế giới, và những ai ở các quốc gia khác nhau đang liên kết với chúng tôi qua các đài phát thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông khác, tôi gởi lời chào đến anh chị em.

Vào ngày vui mừng này, chúng ta tất cả đều được mời gọi chiêm ngắm Hài nhi Giêsu, Đấng đem lại hy vọng một lần nữa cho tất cả mọi người trên trái đất này. Nhờ ân sủng của Ngài, chúng ta hãy dùng tiếng nói và hành động của mình làm chứng cho tình đoàn kết và hòa bình. Giáng Sinh vui vẻ cho tất cả anh chị em!”

Chanukka và lễ mừng Chúa giáng sinh

Chanukka và l mng Chúa giáng sinh
Lm Đaminh Nguyn Ngc Long 

Hằng năm từ khi Hoàng đế Constantino đế quốc Roma công nhận đạo Công Giáo năm 313 sau Chúa giáng sinh, toàn thể Giáo Hội mừng sinh nhật Chúa Giêsu Kitô vào ngày 25. tháng 12. dương lịch.

Theo lịch sử ngày này là ngày thờ kính Thần mặt Trời theo tôn giáo của người Roma. Giáo Hội Công Giáo đã chọn ngày này là ngày mừng kỷ niệm sinh nhật Chúa Giêsu, Đấng là mặt trời công chính xuống trần thế làm người mang ơn cứu chuộc đến cho con người.

Nhưng ngày 25.12. còn có một nguồn gốc lịch sử cùng tôn giáo từ đạo Do Thái nữa: Chanukka.

1. Cuộc nổi dậy thanh tẩy đền thờ 

Vào năm 3597 lịch Do Thái ( năm 164 trước Chúa giáng sinh) phong trào Judas Maccabeus của người Do Thái đã nổi lên chống lại sự độ hộ thống trị của người Hy lạp và ngoại ngoại bang Seleukidien, như sách Kinh thánh Maccabeus, cũng như sử gia Flavius Joseph và sử sách Talmud của người Do Thái thuật kể lại.

Cuộc nổi dậy chống ngoại bang của Judas Maccabeus thành công chấm dứt chế độ đô hộ cai trị trên dân tộc Do Thái, nhất là chấm dứt sự phá hủy làm cho đền thờ Gierusalem của Do Thái giáo bị trở thành ô uế. Vì quân ngoại bang sau khi chiếm đất đai, đuổi dân đi ra ngoài cùng chiếm đền thờ Giêrusalem. Họ đã biến đền thờ để tôn thờ Thiên Chúa Giave bằng bàn thờ kính thần Zeus của người Hy Lạp ngay trong đền thờ. Đó là điều người Do Thái không thể chấp nhận nổi.

2. Ngọn đền bảy ngọn

Từ thời nô lệ trở về quê hương đất nước Chúa hứa, dân Do Thái đã có biểu tượng tôn giáo do chính Thiên Chúa truyền cho làm để thờ kính ngài. Biểu tượng này rất quan trọng với người Do Thái: cây đèn bảy ngọn. Thiên Chúa nói truyền cho Mose:


31 "Ngươi sẽ làm một trụ đèn bằng vàng ròng. Ngươi sẽ làm trụ đèn, chân đèn và nhánh đèn bằng vàng gò; đài hoa, nụ hoa và cánh hoa gắn liền với trụ đèn.32 Sáu nhánh đâm ra hai bên: ba nhánh bên này, ba nhánh bên kia.33 Trên nhánh bên này, có ba đài hoa hình hoa hạnh đào, với nụ và cánh hoa; trên nhánh bên kia, có ba đài hoa hình hoa hạnh đào, với nụ hoa và cánh hoa. Sáu nhánh từ trụ đèn đâm ra sẽ đều như thế.34 Ở thân trụ đèn, có bốn đài hoa hình hoa hạnh đào, với nụ hoa và cánh hoa.35 Một nụ hoa nằm dưới hai nhánh đầu gắn liền với trụ đèn, một nụ hoa nằm dưới hai nhánh giữa gắn liền với trụ đèn, và một nụ hoa nằm dưới hai nhánh cuối gắn liền với trụ đèn. Sáu nhánh từ trụ đèn đâm ra sẽ đều như thế.36 Các nụ hoa và nhánh đều gắn liền với trụ đèn; tất cả thành một khối bằng vàng gò, bằng vàng ròng.37 Rồi ngươi sẽ làm bảy cái đèn, đặt lên đó thế nào cho chúng toả ánh sáng ra phía trước trụ đèn.38 Kéo cắt bấc và đĩa đựng tàn sẽ bằng vàng ròng.39 Ngươi phải dùng đến ba mươi ký vàng ròng để làm trụ đèn và mọi đồ phụ tùng đó.40 Hãy nhìn xem và làm theo mẫu đã chỉ cho ngươi trên núi.“ ´(Sách Xuât hành 25,31-40)



Vì thế trong đền thờ Giêrusalem nơi cao trọng thờ kính Giave Thiên Chúa có ngọn đèn bảy ngọn hằng cháy chiếu sáng ngày đêm. Nhưng từ khi đền thờ bị phá, rồi bị thay thế bằng bàn thờ kính thần Zeus ngoại bang, cây đèn bảy ngọn đã bị dập tắt.

3. Ngọn đèn chín nhánh: Chanukka


Khi quân của phong trào Judas Maccabeus chiếm lại đền thờ, họ chỉ còn tìm thấy có một bình dầu đã làm phép còn lại, mà số lượng dầu này chỉ đủ đốt cháy cho một ngày thôi. Và để có dầu thánh mới cần tới tám ngày mới có. Nhưng qua nhờ phép lạ ngọn đèn vẫn cháy chiêu sáng tới 8 ngày, cho tới khi dầu mới được thánh hiến. Vì thế ngọn đèn được làm thành 8 nhánh đèn để nhắc nhớ lại phép lạ này, và có tên ngọn đèn Chanukka.

Ngọn đèn Chanukka có 9 nhánh đèn. Tám nhánh ngọn đèn nhớ đến phép lạ 8 ngày, và nhánh ngọn thứ 9. ở giữa chỉ về sứ vụ phục vụ, theo nghi thức chỉ từ lửa nơi ngọn nhánh 9. những 8 ngọn nhánh khác chung quanh được đốt lên chiếu sáng.

Việc thờ kính Thiên Chúa Giave trong đền thờ Giêrusalem được khôi phục lại. Các thần ngoại bang bị phá hủy tẩy trừ ném ra khỏi đền thờ. Ngọn đền Chanukka được ngày đêm đốt cháy chiếu sáng.

Từ ngày đó có lễ mừng Chanukka hằng năm theo Do Thái giáo. Đây là lễ mừng kỷ lần thứ hai đền thờ Giêrusalem được thánh hiến. Lễ này kéo dài 8 ngày từ năm 164 trước Chúa giáng sinh vào ngày 25. Tháng Kislew theo lịch Do Thái- tương đương vào tháng 12. lịch Tây phương.

Sách Maccabeus ( 1 Maccabeus 4,36-59, 2 Maccabeus 10,5-8, và phúc âm Thánh Gioan 10, 22) nói thuật về Chanukka lễ mừng thánh hiến đền thờ Giêrusalem. Lễ này được mừng kính cho tới năm 3830 theo lịch Do Thái - theo lịch Tây phương vào năm 70 sau Chúa giáng sinh - đền thờ bị đế quốc Roma chiếm phá hủy.

Đất nước tan hoang bị xâm chiếm, dân Do Thái phải đi sống lưu vong khắp nơi trên thế giới. Không còn đền thờ, nhưng người Do Thái vẫn kiên trì gìn giữ tập tục nếp sống lòng ái quốc, nhất là tín ngưỡng Do Thái thờ kính Thiên Chúa Giave. Nên lễ Chanukka vẫn được mừng ở nhà tư của họ, dù họ sinh sống nơi đâu. Chính điều này đã nung cháy lòng đạo đức tôn kính Giave Thiên Chúa, và lòng yêu mến quê hương tổ quốc mà Thiên Chúa đã ban cho tổ tiên dân tộc của họ.

Ngày 25. thánh 12, ngày mửng lễ Chanukka, lễ ánh sáng của người Do Thái nhắc nhớ đến dân Do Thái được tái sinh, ngày đền thờ Giêrusalem được tẩy rửa khôi phục trở lại việc thờ kính Thiên Chúa Giave.

4. Lễ mừng Chanukka và Chúa Giêsu

Lễ Chanukka là lễ mừng ánh sáng trong Do Thái giáo.

Chúa Giêsu đã khẳng định„ chính ngài là ánh sáng trần gian,. Ai đi theo ngài sẽ không phải đi trong tối tăm, nhưng có ánh sáng sự sống. ( Ga 8,12)

Nơi ngọn đèn Chanukka ở giữa có nhánh ngọn đèn phục vụ. Từ ngọn đèn này 8 nhánh ngọn đèn khác được đốt thắp lên.

Chúa Giêsu nói về chính mình đến để phục vụ con người, mang ánh sáng đến cho con người, để con người trở thành ánh sáng cho nhau. ( Marco 5,14)

Những Kitô hữu đầu tiên đã nhận ra sự tương quan giữa Chanukka và sự sinh ra của Đấng Cứu Thế: Chanukka là lễ mừng nơi ngôi nhà trên trần thế - Lễ mừng Chúa giáng sinh là lễ mừng ngôi đền thờ sống động của Chúa, Đấng từ trời cao sinh xuống làm người trên trần gian. Chúa Giesu đã nói về thân xác ngài là ngôi đền thờ: Phá hủy đền thờ này đi, và trong ba ngày ta sẽ xây dựng lại. ( Ga 2,19).

Sự kiện lịch sử Ba Vua tìm đến báo lạy hài nhi Giêsu như vị vua của các vua trên trần gian nói lên cách gián tiếp mối tương quan này ( Mattheus 2,2).

Các vị vua được xức dầu phong vương. Ngọn đèn Chanukka không chỉ dùng dầu thánh hiến để đốt thắp, nhưng chính Thiên Chúa đã ban tặng dầu qua phép lạ làm cho dầu còn lại dư đủ dùng đốt cháy tám ngày liên tiếp.

5. Lễ Chanukka và lễ mừng Chúa Giáng sinh

„ Tuần lễ từ ngày 25. đến 31. tháng 12. đồng thời là tuần lễ trước năm mới bắt đầu. Vì thế việc khôi phục trở lại còn có một ý nghĩa sâu xa nữa: Tuần lễ này trình bày về một khởi đầu công trình sáng tạo mới cho niềm hy vọng vào thời gian mới được sống trong tự do.

Vì thế vào thời gian những năm 100 trước Chúa giáng sinh, sự sinh ra đời của đấng Cứu Thế được trông mong chờ đợi.

Đấng cứu thế, như lòng tin tưởng trông mong, sẽ chỉ dẫn cho con người biết cung cách thờ kính Chúa thế nào cho đúng, và người dẫn đưa vào sống trong thời gian mới của tự do.

Vào thời Chúa Giêsu Kitô người ta đã mừng lễ ánh sáng như lời Ngôn sứ Isaia đã nói về viễn cảnh này: „ Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi.“ ( Isaia 9,1).

Thánh sữ Luca đã thuật lại lịch sử thời niên thiếu Chúa Giêsu trong ý nghĩa tràn đầy hình ảnh biểu tượng. Với những mốc niên đại lúc Chúa Giêsu sinh ra được sắp xếp diễn tả trong đêm ánh sáng tỏa lan, trùng hợp với lễ mừng Chanukka là lễ ánh sáng của Do Thái giáo, đã trở thành lễ mừng Chúa giáng sinh của Kitô giáo.

Thánh sử Luca chỉ muốn nhấn mạnh đến ý nghĩa lời ca tiếng hát của các Thiên Thần: Điều Judas Maccabeus chưa làm được như mong muốn thực hiện, Chúa Giêsu Kitô sinh ra trong trần thế đã thực hiện làm được.

Chúa Giêsu Kitô đã tẩy xóa hình ảnh những thần thánh ra khỏi trần gian. Ngài đã xây dựng đền thờ bằng chính thân thể mình. Ngài đã khôi phục lại sự yêu mến kính thờ Thiên Chúa.

Nơi nào con người tin theo Chúa Giêsu Kitô, họ cũng khởi đầu một đời sống con người mới xây dựng hòa bình, dù trần gian còn có tan hoang đổ nát. “ ( Joseph Ratzinger, Benedickt XVI.)



Chúc mừng lễ Chúa giáng sinh

Lm. Daminh Nguyễn ngọc Long

VUI HỌC THÁNH KINH CHÚA NHẬT 8 TN A



 
VUI HỌC THÁNH KINH
CHÚA NHẬT 8 TN A

Tin Mừng thánh Mátthêu 6,24-34
I. TIN MỪNG
"Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi Tiền Của được.
Tin tưởng vào Chúa quan phòng (Lc 12:22-31)
25 "Vì vậy Thầy bảo cho anh em biết: đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao?
26 Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao?27 Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay?28 Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi;29 thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Sa-lô-môn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy.
30 Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin!31 Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây?32 Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó.33 Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.34 Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.

24  "No one can serve two masters. He will either hate one and love the other, or be devoted to one and despise the other. You cannot serve God and mammon.
25  "Therefore I tell you, do not worry about your life, what you will eat (or drink), or about your body, what you will wear. Is not life more than food and the body more than clothing?26 Look at the birds in the sky; they do not sow or reap, they gather nothing into barns, yet your heavenly Father feeds them. Are not you more important than they?27 Can any of you by worrying add a single moment to your life-span? 28 Why are you anxious about clothes? Learn from the way the wild flowers grow. They do not work or spin.
29 But I tell you that not even Solomon in all his splendor was clothed like one of them.
30 If God so clothes the grass of the field, which grows today and is thrown into the oven tomorrow, will he not much more provide for you, O you of little faith?31 So do not worry and say, 'What are we to eat?' or 'What are we to drink?' or 'What are we to wear?'32 All these things the pagans seek. Your heavenly Father knows that you need them all.
33 But seek first the kingdom (of God) and his righteousness, and all these things will be given you besides.
34 Do not worry about tomorrow; tomorrow will take care of itself. Sufficient for a day is its own evil.
I. HÌNH TÔ MÀU
* Chủ đề của hình này là gì?
… … … … … … … … … … … …
* Bạn hãy viết câu Tin Mừng Mátthêu 6,28a-29:
… … … … … … … … … … … …
… … … … … … … … … … … …
… … … … … … … … … … … …
… … … … … … … … … … … …
II. TRẮC NGHIỆM
01. Vua nào dù vinh hoa tột bậc cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa? (Mt 6,33)
a. Vua Salômon
b. Vua Đavít
c. Vua Salem
d. Vua Hêrôđê
02. Đức Giêsu nói trước hết hãy tìm kiếm điều gì? (Mt 6,33)
a. Sự tha thứ của Thiên Chúa
b. Sự thật và sự công chính
c. Nước Trời
d. Nước Thiên Chúa và đức công chính
của Người
03. Đức Giêsu nói: “Anh em đừng lo lắng về ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào … … .. .”(Mt 6,34)
a. Có niềm vui của ngày ấy
b. Có cái khổ của ngày ấy
c. Có nỗi bận tâm của ngày ấy
d. Có sự lo lắng của ngày ấy
04. Đức Giêsu nói: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi … … … được”. (Mt 6,25)
a. Ma quỷ
b. Con người
c. Tiền của
d. Trần thế
05. Ai đã mặc đẹp cho hoa? (Mt 6,30)
a. Đức Giêsu
b. Con người
c. Trái đất
d. Thiên Chúa 
III. Ô CHỮ
Những gợi ý
01. Con gì không gieo không gặt, không thu tích vào kho, thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng? (Mt 6,26)
02. “Ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có … … của ngày ấy.” (Mt 6,34)
03. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và điều gì của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho? (Mt 6,33)
04. Đức Giêsu nói, chúng ta không thể vừa làm tôi Thiên Chúa , vừa làm tôi điều gì? (Mt 6,24)
05. Đức Giêsu đã nhắc tới hoa gì trong trình thuật này? (Mt 5,29)
06. Đức Giêsu ví vua nào dù vinh hoa tột bậc vẫn không mặc đẹp bằng bông hoa ấy? (Mt 6,29)
07. Với những người chủ yêu thích, người ta có thái độ gì? (Mt 6,24)
08. Ăn gì, uống gì, mặc gì là điều ai hay tìm kiếm? (Mt 6,31-32)
Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì?

IV. CÂU THÁNH KINH HỌC THUỘC LÒNG

“Trước hết hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa
và điều công chính của người,
còn tất cả những thứ kia,
Người sẽ thêm cho”.
Tin Mừng thánh Mátthêu 6,33

Lời giải đáp
VUI HỌC THÁNH KINH
CHÚA NHẬT 8 TN A
I. HÌNH TÔ MÀU
* Chủ đề:
Cây hoa huệ
* Tin Mừng thánh Mátthêu 6,28a-29:
Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi;29 thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Salômôn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy.
II. TRẮC NGHIỆM
01. a. Vua Salômon (Mt 6,33)
02. d. Nước Thiên Chúa  và đức công chính
của Người (Mt 6,33)
03. b. Có cái khổ của ngày ấy (Mt 6,34)
04. c. Tiền của (Mt 6,25)
05. d. Thiên Chúa  (Mt 6,30)
III. Ô CHỮ
01. Chim trời (Mt 6,26)
02. Cái khổ (Mt 6,34)
03. Đức công chính (Mt 6,33)
04. Tiền của (Mt 6,24)
05. Hoa huệ (Mt 5,29)
06. Vua Salômon (Mt 6,29)
07. Gắn bó (Mt 6,24)
08. Dân ngoại (Mt 6,31-32)
Hàng dọc : Tin tưởng
NGUYỄN THÁI HÙNG

VUI HỌC THÁNH KINH CHÚA NHẬT 7 TN A



VUI HỌC THÁNH KINH
CHÚA NHẬT 7 TN A

Tin Mừng thánh Mátthêu 5,38-48
Tin Mừng
Chớ trả thù (Lc 62:9-30)
38 "Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Mắt đền mắt, răng đền răng.39 Còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác, trái lại, nếu bị ai vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa.40 Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài.41 Nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm.42 Ai xin, thì hãy cho; ai muốn vay mượn, thì đừng ngoảnh mặt đi.
Phải yêu kẻ thù (Lc 6:27-28,32-36 )
43 "Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù.44 Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.45 Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính.46 Vì nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì anh em nào có công chi? Ngay cả những người thu thuế cũng chẳng làm như thế sao?47 Nếu anh em chỉ chào hỏi anh em mình thôi, thì anh em có làm gì lạ thường đâu? Ngay cả người ngoại cũng chẳng làm như thế sao?48 Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.

38 "You have heard that it was said, 'An eye for an eye and a tooth for a tooth.'39 But I say to you, offer no resistance to one who is evil. When someone strikes you on (your) right cheek, turn the other one to him as well.
40 If anyone wants to go to law with you over your tunic, hand him your cloak as well.
41 Should anyone press you into service for one mile, go with him for two miles.
42 Give to the one who asks of you, and do not turn your back on one who wants to borrow.
43 "You have heard that it was said, 'You shall love your neighbor and hate your enemy.'44 But I say to you, love your enemies, and pray for those who persecute you,45 that you may be children of your heavenly Father, for he makes his sun rise on the bad and the good, and causes rain to fall on the just and the unjust.
46 For if you love those who love you, what recompense will you have? Do not the tax collectors do the same?47 And if you greet your brothers only, what is unusual about that? Do not the pagans do the same? 48 So be perfect,  just as your heavenly Father is perfect.

I. HÌNH TÔ MÀU
* Chủ đề của hình này là gì?
………………………………………………….
* Bạn hãy viết câu Tin mừng thánh Mátthêu 9,44
………………………………………………….
………………………………………………….
………………………………………………….
………………………………………………….

II. TRẮC NGHIỆM
01. “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.” Đây là giáo huấn của ai? (Mt 5,43)
a. Đức Giêsu
b. Ông Môsê
c. Thánh Gioan
d. Thánh Phaolô
02. Đức Giêsu dạy: “Ai xin, thì hãy cho, ai muốn vay mượn, thì … … … . ” (Mt 5,42)
a. Hãy chấp nhận
b. Chớ từ chối
c. Tỏ lòng thương xót
d. Đừng ngoảnh mặt đi
03. Với kẻ thù, Đức Giêsu dạy hãy yêu thương, như vậy anh em mới được trở nên … … . (Mt 5,45)
a. Con cái Nước Trời
b. Con cái sự sáng
c. Sáng chói trước mặt thế gian
d. Con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời
04. Đức Giêsu nói: “Nếu anh em yêu thương kẻ yêu thương mình, thì … … … ” (Mt 5,46)
a. Được ích gì
b. Anh em nào có công chi
c. Cũng giống như mọi người dân ngoại
d. Như mọi người mà thôi
05. Đức Giêsu kêu gọi hãy hoàn thiện như ai? (Mt 5,48)
a. Như Thầy
b. Như Đức Maria
c. Như con cái của sự sáng
d. Như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện

III. Ô CHỮ

Những gợi ý
01. “Anh em đã nghe Luật dạy rằng: … … … đồng loại và hãy ghét kẻ thù.” (Mt 5,43)
02. “Ngươi phải yêu đồng loại như chính mình” được viết trong sách nào của Cựu ước? (Mt 5,43)
03. Thiên Chúa làm cho mặt trời mọc lên soi sáng kẻ xấu và những ai? (Mt 5,45)
04. “Thiên Chúa làm cho gì mọc lên soi sáng kẻ xấu và người tốt?” (Mt 5,45)
05. Thiên Chúa làm cho mưa xuống trên người công chính cũng như những ai? (Mt 5,45)
06. Thiên Chúa cho gì xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính? (Mt 5,45)
07. Đức Giêsu dạy: Ai muốn kiện anh để lấy áo trong của anh, thì hãy để cho nó lấy cả  gì nữa? (Mt 5,40)
08. Đức Giêsu kêu gọi anh em trở nên điều gì như Cha anh em trên trời ? (Mt 5,48)
09. “Yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những người ngược đãi mình”, là giáo huấn của ai? (Mt 5,44)
Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì ?

IV. CÂU THÁNH KINH HỌC THUỘC LÒNG

“Anh em hãy nên hoàn thiện,
như cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện”
Tin Mừng thánh Mátthêu 5,48


Lời giải đáp
VUI HỌC THÁNH KINH
CHÚA NHẬT 7 TN A
I. HÌNH TÔ MÀU
* Chủ đề :
Hãy yêu nhau
* Tin mừng thánh Mátthêu 9,44 :
Hãy yêu kẻ thù
và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em.
II. TRẮC NGHIỆM
01. a. Đức Giêsu (Mt 5,43)
02. d. Đừng ngoảnh mặt đi (Mt 5,42)
03. d. Con cái của Cha anh em, Đấng ngự
trên trời (Mt 5,45)
04. b. Anh em nào có công chi (Mt 5,46)
05. d. Như Cha anh em trên trời là Đấng
hoàn thiện (Mt 5,48)
III. Ô CHỮ
01. Hãy yêu (Mt 5,43)
02. Lêvi (Mt 5,43)
03. Người tốt (Mt 5,45)
04. Mặt trời (Mt 5,45)
05. Kẻ bất chính (Mt 5,45)
06. Mưa (Mt 5,45)
07. Áo ngoài (Mt 5,40)
08. Hoàn thiện (Mt 5,48)
09. Đức Giêsu (Mt 5,44)
Hàng dọc : Yêu thương
NGUYỄN THÁI HÙNG