Trang

Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2017

Thần học Kitô Giáo Châu Phi: Hoài Niệm và Sứ Mệnh đối với Thế Kỷ 21

Thần học Kitô Giáo Châu Phi: Hoài Niệm và Sứ Mệnh đối với Thế Kỷ 21


 
Tác giả: 
 Vũ Văn An

Đó là tên đặt cho một hội nghị quan trọng về Châu Phi đang diễn ra tại Rôma trong các ngày 22 tới 25 tháng này nhằm mục tiêu đánh đổ kiểu suy nghĩ dựa trên các phạm trù cổ điển tả hữu.

Đây là một hội nghị được coi là quan trọng hơn cả kể từ Thượng Hội Đồng Giám Mục về Châu Phi lần thứ hai tại Vatican năm 2009. Hội nghị này do Đại Học Notre Dame của Hoa Kỳ bảo trợ.

Hội nghị quy tụ nhiều thần học gia Châu Phi, nhiều học giả quốc tế về tôn giáo và xã hội, nhiều nhà lãnh đạo Giáo Hội. Các vị này sẽ cùng nhau suy nghĩ lại nền thần học Châu Phi và bản chất của nó và nó có thể đóng góp được gì cho các Giáo Hội và xã hội Châu Phi, cũng như cho thế giới nói chung.

Hội nghị có sự tham dự của những vị giáo phẩm nổi danh như các Đức Hồng Y Francis Arinze và John Onaiyekan; Đức Hồng Y Laurent Monsengwo, Tổng Giám Mục Kinshasa thuộc Cộng Hòa Dân Chủ Congo và là thành viên của Nhóm Hồng Y Cố Vấn cho Đức Phanxicô trong việc cải tổ Giáo Triều; và Đức Hồng Y Peter Turkson của Ghana, đứng đầu siêu thánh bộ Phát Triển Con Người Toàn Diện.

Như các Kitô hữu Châu Phi

Tài liệu của Hội Nghị cho rằng nền thần học Kitô Giáo Châu Phi xuất hiện như một ngành học chính thức trong Giáo Hội Công Giáo giữa thế kỷ 20 khi một số linh mục Châu Phi được huấn luyện tại Rôma và tại một số đại học Châu Âu.

Lúc đó, người Châu Phi bắt đầu tiếp cận đức tin như “các Kitô hữu Châu Phi” chứ không đơn giản chỉ như những người tiêu thụ cách hiểu đức tin Kitô Giáo theo Châu Âu.

Nhưng theo Cha Odozor, người đứng ra tổ chức Hội Nghị lần này, thì nền thần học Châu Phi hiện đang chịu ảnh hưởng càng ngày càng nhiều bởi những quan tâm vượt quá Tôn Giáo Cổ Truyền Châu Phi, vốn là điều chính yếu cách nay 50 năm. “Chủ nghĩa thực dân, nền độc lập, chiến tranh, nạn HIV/AIDS, và việc xuất hiện của chủ nghĩa cực đoan Duy Hồi Giáo đã thay đổi tận gốc cảnh giới của Châu Phi. Cũng thế, hoàn cầu hóa, cách mạng tình dục, và việc cùng một lúc có sự mở rộng Giáo Hội ở Nam Bán Cầu và sự co cụm của Giáo Hội tại Bắc Bán Cầu đã thay đổi cách Giáo Hội Châu Phi nghĩ về chính mình và vị trí của mình trên thế giới”.

Sự phát triển liên tục về dân số giúp thay đổi trọng tâm của Giáo Hội hoàn cầu từ Châu Âu và Bắc Mỹ qua Nam Bán Cầu, với Châu Phi càng ngày càng chiếm vị trí tự hào.

Theo Cơ Sở Dữ Liệu Kitô Giáo Thế Giới (World Christian Database), tới năm 2050, Châu Phi sẽ có hơn 450 triệu người Công Giáo, trở thành lục địa Công Giáo lớn nhất thế giới, trong khi người Công Giáo được dự kiến sẽ co giảm tại Châu Âu. Khỏang 30 năm nữa, dân số Công Giáo Châu Phi sẽ gần gấp đôi dân số ấy tại Châu Âu.

Giáo Hội ở Nam Bán Cầu không những gia tăng về số lượng, mà cả về ảnh hưởng nữa. Hiện có khoảng 24 thành viên trong Hồng Y đoàn, trong đó, 14 vị dưới 80 tuổi, nghĩa là có thể ứng cử chức vị giáo hoàng trong cơ mật viện tương lai. Các vị đại diện cho 12% các vị cử tri, không cách xa bao nhiêu tỷ lệ 12.63% người Công Giáo Châu Phi trong tổng số 1.3 tỷ người Công Giáo khắp thế giới.

Con số hiện nay so với 3 năm trước, do đó, đã tăng tới 7. Trong khi đó, Âu Châu hiện có phần giảm trong 3 năm ấy: thực vậy, 3 năm trước Âu Châu có 108 Hồng Y với 53 vị dưới 80, nay họ có 109 vị nhưng chỉ có 52 vị dưới 80 mà thôi.
Hai vị Hồng Y Châu Phi hiện đang nắm giữ các chức vụ quan trọng tại Giáo Triều: Đức Hồng Y Robert Sarah, người Guinea, đứng đầu Thánh Bộ Thờ Phượng Thiên Chúa và Kỷ Luật Bí Tích và Đức Hồng Y Turkson, đứng đầu siêu thánh bộ Phát Triển Con Người Toàn Diện.

Người Châu Phi cũng can dự vào nhiều sáng kiến cải tổ lớn của Đức Giáo Hoàng Phanxicô: Đức Hồng Y Monsengwo được cử vào “Nhóm C9” còn Đức Hồng Y Wilfrid Napier của Durban, Nam Phi, thì được cử làm thành viên của Hội Đồng Kinh Tế.

Các vị giáo phẩm Châu Phi không ngại phát biểu quan điểm của mình một cách lớn tiếng.

Thực vậy, trong Thượng Hội Đồng Giám Mục về Gia Đình năm 2014, không vị giáo phẩm Châu Phi nào được cử soạn thảo văn kiện cuối cùng. Một số vị phản đối việc này, thế là Đức Hồng Y Napier nhanh chóng được Đức Phanxicô cử vào ban soạn thảo.

Một năm sau, trong một Thượng Hội Đồng khác, 2 trong số 13 vị Hồng Y viết thư cho Đức Giáo Hoàng tỏ ý quan ngại về diễn trình của Thượng Hội Đồng là người Châu Phi: Napier và Sarah.

Kiểm hàng

Có thể nói: Giáo Hội tại Châu Phi đã trưởng thành. Nên trước khi xét đến việc mình có thể làm gì trong tương lai, hội nghị lần này muốn kiểm hàng xem mình đã làm được gì trong các lãnh vực thiết yếu như thần học, phụng vụ, vai trò nữ giới và chính trị.

Thần học 

Cha Bede Ukwuije, người Nigeria đã mở màn hội nghị bằng một tham luận nói tới nền thần học Công Giáo Châu Phi trong mấy thập niên qua.

Theo Cha, nền thần học ấy nở rộ trong mọi phạm vi, trong đó có phụng vụ, giải thích Thánh Kinh và đạo đức học theo cung cách Châu Phi. Nhìn về tương lai, Cha cho rằng một trong các thách đố là thích ứng các cơ cấu của Giáo Hội để mở ra một lối đi rộng rãi hơn cho việc hội nhập văn hóa và thích ứng với hoàn cảnh Châu Phi. Cha đưa ra ý niệm dành “nhiều tự lập hơn cho các hội đồng giám mục quốc gia hay miền”.

Đức Cha Tharcisse Tshibangu của Cộng Hòa Dân Chủ Congo, người Phi Châu duy nhất làm chuyên viên tại Vatican II, lớn tiếng kêu gọi một nền thần học Công Giáo trên lục địa vừa có tính Châu Phi chân chính vừa tham dự vào những cuộc đàm đạo có tính hoàn cầu rộng rãi hơn.

Đức Cha nói rằng “Chúng ta phải nắm được các nhu cầu của Châu Phi, phải nắm được linh hồn của Châu Phi, nhưng cũng phải là người hùn hạp vào tư duy hoàn cầu. Đây không phải là chỉ là vấn đề thần học Châu Phi cho người Châu Phi mà thôi, mà là một nền thần học có giá trị cho mọi người”.

Cha Charles Nyamiti, thuộc Đại Học Công Giáo Đông Châu Phi, dự hội nghị qua Skype từ Nairobi, đưa ra một luận điểm cho rằng ta có thể hiểu toàn bộ câu truyện của Chúa Kitô theo ngôn từ của nghi thức khai tâm truyền thống của Châu Phi. Nghi thức này hội nhập các thành viên mới vào các gia đình và các vòng họ hàng.

Cha Nyamiti đề nghị: loại khám phá thần học này cần được cổ vũ nơi các học giả Châu Phi, như một cách khám phá ra điểm giao thoa giữa đức tin và văn hóa của châu lục.

Cha Bonaventure Ikenna, thuộc Trường Thần Học Quốc Tế của Dòng Spiritan (Chúa Thánh Thần), thì nhấn mạnh rằng vì nền văn hóa tôn giáo đặt căn bản trên thần trí của phần lớn Châu Phi, nên một số tư tưởng gia Công Giáo Châu Phi đã đóng những vai trò dẫn đầu trong các khai triển gần đây về nền thần học Thần Khí.

Tuy nhiên, sự lớn mạnh về trí thức như trên không luôn được kèm theo bởi một nền thực hành mục vụ tương ứng. Cha Ikenna trích dẫn cuộc tranh luận nổ ra ở Nigeria trong thập niên 2000 về một phong trào có tên là “Ngọn Lửa Chúa Thánh Thần”, một kỹ thuật cầu nguyện có lẽ phát nguyên từ các giới Ngũ Tuần và du nhập vào Giáo Hội Công Giáo qua phong trào đặc sủng.

Cha nói rằng: “một số Kitô hữu bắt đầu cầu nguyện theo lối mới, tức là, cầu khẩn lửa Chúa Thánh Thần xuống trên kẻ thù của họ, thiêu rụi chúng và các kế hoạch xấu xa của chúng”.

Cha cho biết các mục tử và giám mục Công Giáo đã nhất trí nhấn mạnh rằng giáo huấn Công Giáo luôn coi Chúa Thánh Thần là nguồn yêu thương chứ không phải trả thù đối với kẻ thù của ta. Nhưng bất chấp các cố gắng của các ngài, phong trào trên vẫn lớn mạnh và tại một số giáo phận, các đấng bản quyền buộc phải chính thức kết án. Dù thế, sau đó, một số người Công Giáo vẫn ương ngạnh và kết cuộc đã xa lìa Giáo Hội.

Phụng vụ 

Cha Ukwuije nhận định rằng một yếu tố khác biệt của đời sống Công Giáo Châu Phi sau Công Đồng Vatican II là sự xuất hiện của những nét thờ phượng hết sức đặc trưng Châu Phi, nhất là trong việc tổng hợp các chuyển động và bước nhẩy đầy phong cách.

Ngài cho rằng các khai triển trên “đã cô đọng việc tìm tòi và các cuộc tranh luận vào việc hội nhập văn hóa”.

Ấy thế nhưng, cha cho rằng, cả ở đây nữa, cũng có những chuyện đau lòng. Thí dụ, một số thần học gia và giáo phẩm lo sợ rằng dùng nhiều khiêu vũ quá trong việc thờ phượng có thể xâm hại tới “cảm thức thánh thiêng”. Cha cảnh cáo rằng ngày nay, một số cộng đoàn có thể bị thúc đẩy theo hướng đó bởi áp lực cạnh tranh của Phái Ngũ Tuần ở khắp Châu Lục; phái này, với những cung cách thờ phượng chứa chan tình cảm và tự phát, đang có sức lôi cuốn rất mạnh đối với nhiều người Công Giáo.

Về phần ngài, theo tạp chí Crux, Đức Hồng Y Cardinal Francis Arinze, người Nigeria, một viên chức lâu năm tại Vatican, nay đã về hưu, cho hay: ngài hoài nghi việc thực sự có những điệu vũ cổ truyền Châu Phí thích hợp được dùng trong chính Thánh Lễ.

Ngài nói: “Chúng ta có điệu vũ chiến tranh cổ truyền. Có điệu vũ cổ truyền thông thường để tiêu khiển, mà ta có thể nhẩy ở phòng họp giáo xứ sau Thánh Lễ khi có đức giam mục tới kinh lý. Và rồi chúng ta có điệu vũ cho phụ nữ đang kiếm chồng, một điệu vũ khiêu gợi, vì họ đang kiếm chồng mà lị, mục đích của điệu vũ là thế.

“Các bạn thấy chả có điệu nào thích hợp cho Thánh Lễ cả vì lý do của Thánh Lễ là thờ phượng, cảm tạ, xin những điều cần thiết. Những điều này khó có thể thực hiện nếu có bất cứ điều gì gọi là vui nhộn trong Thánh Lễ”.

Nhưng Cha Ukwuije nhấn mạnh rằng các điệu múa sẽ được tiếp tục như một nét của việc thờ phương tại Châu Phi, chỉ cần làm đúng mà thôi. Cha bảo: “trước đây, ta dành giờ tranh cãi về việc liệu Giáo Hội có thể nhẩy hay không. Chuyện ấy qua rồi. Nay việc Giáo Hội nhẩy cần được suy tư về chính nó”.

Phụ nữ 

Ngay ngày đầu tiên của hội nghị, người ta đã liên tiếp nghe thấy từ các diễn giả lẫn cử tọa các lời yêu cầu phải lưu ý tới vai trò của phụ nữ trong đạo Công Giáo ở Châu Phi, và nhất là trong lãnh vực thần học Công Giáo Châu Phi.

Shawn Copeland, một nữ thần học gia Mỹ gốc Châu Phi tại Cao Đẳng Boston, nói rằng xét về nhiều phương diện, đã có sự tiến bộ rất lớn trong việc xuất hiện tiếng nói phụ nữ.

Copeland trích dẫn làm điển hình “Câu Lạc Bộ Nữ Thần Học Gia Châu Phi Đầy Quan Tâm”, một nhóm được thành lập năm 1988 bởi Mercy Amba Oduyoye, một thần học gia người Ghana của Giáo Hội Methodist. Ngay từ đầu, câu lạc bộ này đã có tính đại kết, và các phụ nữ Công Giáo đã nắm giữ nhiều vai trò nổi bật.

Bà nói với tạp chí Crux rằng: “các phụ nữ cho ta một mẫu mực làm người như thế nào. Phụ nữ cho ta một mẫu mực phải suy nghĩ với nhau ra sao”.

Mặt khác, Copeland cũng thừa nhận rằng tiến bộ nói trên chưa hoàn hảo, và “vai trò người đàn bà trong nền thần học Châu Phi cần được bàn luận nhiều hơn nữa”.

Đức Cha Godfrey Igwebuike Onah của Nsukka nói rằng một thách đố là tạo ra các điều kiện kinh tế nhờ đó, các phụ nữ có thể theo đuổi việc học cao hơn.

Ngài nói: “thông thường, nếu bạn yêu cầu một nữ giáo dân ở Châu Phi học thần học, câu hỏi kế tiếp sẽ là ‘tôi làm gì với thứ ấy đây? Nó có giúp tôi nuôi sống gia đình tôi không?’ và câu trả lời chắc chắn là không. Thành thử nữ giáo dân này sẽ làm một điều gì khác thế”.

Chính trị 

Ở phần lớn miền Châu Phi Hạ Sahara, các nhà lãnh đạo tôn giáo đóng một vai trò rất mạnh trong các vấn đề chính trị, một điều thường bị coi là quá trớn đối với tiêu chuẩn tách biệt giữa nhà nước và Giáo Hội của Tây Phương.

Trong số các tham dự viên hội nghị, có Đức Hồng Y Laurent Monsengwo của Congo, người có lần thực sự phục vụ như là quốc trưởng trên thực tế của quốc gia trong thời gian chuyển quyền từ chế độ độc tài của Mobutu Sese Seko.

Việc ấy thường xẩy ra vì ở một số xã hội Châu Phi, hệ thống chính trị bị coi là thối nát và phục vụ tư lợi, và ở một số xã hội khác, phe đối lập chính trị bị cảnh sát và lực lượng an ninh đàn áp để che chở bất cứ ai cầm quyền. Trong những hoàn cảnh như thế, các tổ chức và các nhà lãnh đạo tôn giáo đôi lúc được coi như những tiếng nói chân chính duy nhất của xã hội dân sự.

Đức Cha Matthew Kukah của giáo phận Sokoto, miền Bắc Nigeria, một vùng tập trung nhiều người Hồi Giáo nhất nước, tin rằng di sản là nguồn hãnh diện của Giáo Hội Công Giáo ở Châu Phi và cũng là một thách thức để tiến bước.

Ngài nói với tạp chí Crux: “chúng tôi phải làm nhiều hơn nữa. Chúng tôi không thể tự giới hạn mình vào các lời huấn giáo luân lý, vì điều đó không thể cứ tiếp tục như thế được”.

Dùng chính quê hương Nigeria làm điển hình, Đức Cha Kukah cảnh cáo rằng đất nước có thể đang ở bờ vực thẳm đi xuống liên hệ tới sự ngã lòng ngày càng gia tăng đối với điều người ta coi là thối nát và thất hứa. Ngài nói rằng tất cả những điều này còn bị cộng hưởng bởi các tệ nạn xã hội khác như nghèo kinh niên, di hại của HIV/AIDS và hậu quả của tranh chấp có vũ trang.

Ngài cho rằng giải pháp dài hạn đòi phải “huấn luyện các giáo dân Công Giáo để họ nắm giữ vị trí đúng đắn của họ trong sinh hoạt chính trị” theo giáo huấn xã hội Công Giáo.

Đức Cha nghĩ rằng điều mà các xã hội Châu Phi ngày nay rất cần là một cuộc nổi dậy tương tự như phong trào Đoàn Kết mà Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã gợi hứng tại Ba Lan, hay phong trào “Sức Mạnh Nhân Dân” ở Phi Luật Tân trong thập niên 1980 được Cố Hồng Y Jaime Sin nâng đỡ.

Đức Cha Kukah cho rằng điều mừng là ngay tại một số nơi ở Châu Phi, nơi dù Giáo Hội Công Giáo là một thiểu số rõ ràng, nhưng nó vẫn hưởng được một sự tôn trọng rộng rãi nhờ việc Giáo Hội đầu tư lớn lao vào giáo dục, chăm sóc y tế, và trợ giúp nhân đạo.

Ngài nói: “chúng tôi đã đặt nhiều vốn vào ngân hàng. Nay là lúc chúng tôi bắt đầu chi tiêu nó”.

Thứ Tư, 22 tháng 3, 2017

Marie - Dominique CHENU - Một nhà chiêm niệm về biến cố NHẬP THỂ

Marie - Dominique CHENU - Một nhà chiêm niệm về biến cố NHẬP THỂ





Năm 1913, lúc lên 18 tuổi, vào dòng thánh Đaminh, Marcel CHENU muốn sống ở đấy cuộc đời chiêm niệm. Đó là niềm mong đợi của ngài. 65 năm sau, chúng ta có thể chứng thực được rằng con đường đó đã mang lại kết quả. Những ai chỉ biết CHENU như là nhà nghiên cứu thời Trung cổ hoặc như vị chủ chăn là đã quên mất niềm hưng phấn sâu xa tự bên trong của một con người đã phát biểu: “Chiêm niệm là mảnh đất nuôi dưỡng thần học cũng như nuôi sống hoạt động tông đồ”.
Con người có cuộc sống tâm linh sâu sắc nầy đặc biệt có một khả năng phi thường trong suốt cả cuộc đời của mình là biết đánh thức những con người và các ý tưởng. CHENU đã đào tạo ra cả một thế hệ những nhà thần học. Có lẽ quả thực là CHENU đã chưa cho ra đời được công trình đồ sộ của đời mình như người ta có quyền chờ đợi ở ngài, nhất là trong lãnh vực sở trường của ngài: lịch sử các giáo thuyết, hoặc từ phía một nền thần học về biến cố Tạo thành. Nhưng, lý do cũng thật là đơn giản: nỗi ưu tư thường xuyên của CHENU trước tiên là gợi lên, gây hưng phấn, cho đi. Étienne GILSON đã có thể tuyên bố: “Cha CHENU, ngài đã để cho mình trôi đi theo giòng đời trong tư cách của một con người cùng tham dự.” Tất cả những ai đã có dịp gặp ngài đều không thể cưỡng lại được cái đồng cảm ngay tức khắc nầy, cái nhiệt tình tạo thông cảm nầy, cái thái độ lạc quan không thể nào cưỡng lại được nầy. Cần phải có một niềm tin mạnh mẽ vào Thiên Chúa.

Thái độ kiên nhẫn của người trí thức trong nỗi bứt rứt nôn nóng vì tình yêu.

Như tất cả mọi anh em trong Dòng mình, Marie-Dominique CHENU đã được cấu trúc hoá bởi giòng tư tưởng của Thánh THOMAS d’AQUIN. Vị tiến sĩ  thiên thần nầy đã cho phép CHENU luôn luôn biết nắm bắt lại các vấn đề ở nơi chính cội nguồn, đặt mình vào trong tình trạng thường xuyên là phải khám phá. Đàng sau cái thứ ngôn ngữ có vẻ mặt kỹ thuật chuyên môn bên ngoài đó, CHENU đã cảm nhận ra được một niềm cảm hứng của Tin mừng, niềm hứng cảm mà nếu như được làm giàu thêm bởi lịch sử và kinh nghiệm tông đồ, có thể có được một hiệu năng  kỳ diệu. Ở đây, chúng ta lại có thêm một bằng chứng nữa chứng tỏ rằng chỉ những con người bám rễ sâu vào trong một truyền thống sinh động mới là những tác nhân của tiến bộ.
Để có thể làm sáng tỏ được thái độ trung thành với truyền thống THOMAS nầy, chúng ta thử đan cử một thí dụ cũ rích đó là vấn đề sự gặp gỡ giữa đức tin và lý trí. Rất thường tình, sự ly dị nầy đã được phê chuẩn, đặc biệt từ phía anh em thệ phản. Thế mà, một đệ tử của Thánh THOMAS chỉ có thể tìm ra được sự nối kết giữa chúng với nhau trong một thái độ tin cậy quả cảm. “Một nền thần học xứng đáng với tên gọi nầy, đó chính là một nền tu đức đã tìm ra được những công cụ thuộc lý trí hoàn toàn tương ứng với kinh nghiệm tôn giáo của nó”. Đức tin không tương giao với trí khôn qua hệ thống cầu chì: đức tin làm cho chân lý thần linh nhập thể vào trong chính những đường chỉ dệt nên tấm vải là trí khôn của chúng ta.
Bám chắc trên mảnh đất chung sống hoà bình nầy, nhà thần học, như một đoá hoa, sẽ có thể nở rộ ra trong vườn hoa riêng biệt của mình là đời sống của Giáo hội, “sự hít thở bầu không khí Giáo hội”. CHENU nghi ngờ những nhà thông thái chỉ biết “vùi mình trong những cuốn sách khổ in-folio và những cuộc cãi vã kinh viện của họ”. CHENU sẽ không là “một nhà thần học ẩn mình trong buồng ghép kính”, vì sợ lây bệnh dịch bên ngoài. Dù có phải làm mếch lòng một số người, CHENU vẫn sẽ nhảy vào lửa, vẫn sẽ tiến lên hàng đầu với nỗi đam mê, hầu có thể biện biệt cho ra đâu là hành động của Thiên Chúa. Bởi vì, thần học bao giờ cũng thoát thai từ cơn “kích ngất” (choc) mà Lời Thiên Chúa gây ra ở trong Giáo hội và trên thế giới. Thần học chỉ ra công việc của Thiên Chúa trong lòng lịch sử. Ở nơi Marie-Dominique CHENU, sự thông thái không bóp nghẹt tính chiến đấu. Sự thông thái đã là điều kiện cho giá trị chân lý của cuộc đời chiến đấu.

Sự vận hành kỳ diệu của một chân lý đang tự hình thành.

Trong tư cách là giáo sư lịch sử các giáo thuyết, cha CHENU đã làm cho trường Saulchoir trở thành nổi tiếng. Nhưng, ngài vẫn tránh không coi Kitô-giáo như là một giáo thuyết: làm như thế, là giản lược Kitô-giáo thành một phát biểu ý thức hệ. Không, Kitô-giáo, trước nhất, là một “nhiệm cục” (économie), nghĩa là một loạt những biến cố qua đó chính Thiên Chúa được trầm mình vào trong lịch sử. Không thể nào có thể suy tư Tin mừng Kitô-giáo bên ngoài lịch sử, bên ngoài phạm trù biến cố.
Thật vậy, từ chủ chốt của nền thần học nầy của CHENU là “biến cố Nhập thể”. Cái logic thường hằng của kế đồ của Thiên Chúa được chứng thực nơi biến cố Đức YÊSU KITÔ nhập thể trong một khoảnh khắc không gian và thời gian nhất định. Thiên Chúa tự làm cho mình trở nên xác thịt để mọi xác thịt phục sinh trong Ngài. Vì thế, chính trong khi biến đổi vũ trụ, chúng ta đang sống thực trạng thần linh hoá con người. Bởi vì biến cố Nhập thể của Đức KITÔ vẫn đang gài “côn” để cho công việc của con người và công trình xây dựng thế giới cùng vận hành. Từ nay, ân sủng của Thiên Chúa làm cho toàn thể vũ trụ phát quang để biến dạng nó. Nhờ hoạt động của Thần Khí vẫn đang tiến hành trong thế giới, lịch sử là sự chuyển đẻ Đức KITÔ TOÀN THỂ. Trong nhãn giới nầy, “sự nhân hoá đã là một thứ khả năng thần linh hoá”.
Là chiều kích lịch sử của Thiên Chúa, Giáo hội góp hùn viên đá của mình vào cái công trường độc nhất nầy là lịch sử nơi số phận của nhân loại đang được định đoạt. “Kể từ nay, trong cái thực tại đang trở thành của biến cố Tạo thành được tiếp sức bởi biến cố Nhập thể, vấn đề đặt ra là phải cương quyết dấn thân vào trong cái quá trình vận hành đầy ngạc nhiên của một chân lý đang tự hình thành, và là cái chỉ còn là chân lý trong mức độ nó được kinh qua như là niềm hy vọng đã được thể nghiệm và đang tìm cách để trở thành hiện thực”. Giữa một CHENU và một Teilhard de CHARDIN không phải là không có cơ may để có thể gặp gỡ nhau.

Nhận ra những dấu chỉ của thời đại.

Tin mừng, vì thế, được sống trong thời gian. Thời gian nầy có thể là thời gian, hao tốn, của các linh mục thợ hoặc là thời gian, kích thích, của Vatican II. Nhưng, sinh hoạt của Giáo hội không được tách rời ra khỏi một thứ sinh hoạt rộng lớn hơn. Nỗ lực của Giáo hội là biện biệt ra cho được những thời điểm qua đó Thiên Chúa ngày hôm nay nói với tín hữu. Để có thể tiếp thu Lời Thiên Chúa nguyên chỉ đọc quyển sách Tin mừng thôi chưa đủ, mà còn phải sống cái thế giới loài người trong bước đi riêng tư của nó. “Sinh hoạt của Tin mừng diễn ra qua những vấn đề của con người”. Chính vì thế, cha CHENU sẽ không tiếc sức cộng tác với những tờ nhật báo, thí dụ, với tờ Témoignage chrétien. Cần phải có khả năng phản ứng nhạy bén với yêu cầu của biến cố.
Một thứ đột biến đặc biệt gây chú ý nhà quan sát: vấn đề xã hội hoá. Chúng ta đang ở trong “kỷ nguyên của những khối”, trong triều đại của đầu óc tập thể. Theo cha CHENU, lao động lúc bấy giờ xem ra là một nhân tố trụ cột quan trọng của công việc xã hội hoá nầy. Trong xã hội kỹ nghệ, lao động là môi trường xã hội hoá tuyệt hảo. Từ đó, phát xuất bản lược thảo “một thứ thần học về lao động” (une Théologie du travail): “Lao động là hành động nhờ đó con người sở hữu vật chất, biến đổi nó, hoàn thành nó hầu biến vật chất thành một công cụ của văn minh, của văn hoá và cuối cùng là của sự cứu độ”. Con người là người đối diễn (partenaire) với Thiên Chúa trong thực tại đang trở thành (devenir) của thế giới.
Sau cùng, để tiếp tục con đường của Thánh THOMAS, điều mà Marie-Dominique CHENU tìm kiếm đó là một nền nhân loại học khai mở đầy đủ, không què quặt. Chương trình của ngài thật rõ ràng: “chống lại tất cả mọi thứ chủ nghĩa duy linh, là tính thể toàn vẹn của con người; chống lại tất cả mọi thứ cá nhân chủ nghĩa, là tính thể mang xã hội tính; chống lại cái thứ hình ma lơ lửng bên ngoài vũ trụ (hors-cosmos), là con người, chủ của thế giới”. Nhà thần học của chúng ta bao giờ cũng sẵn sàng chống lại những thứ nhị nguyên ngụy tạo: hồn-xác, tinh thần-vật chất, bản tính-ân sủng, trần tục-thiêng liêng. Con người đến với Thiên Chúa với toàn thể thực tại tính thể của mình. Con người tự hoàn thành mình trong khi hoàn thành thế giới. Niềm hạnh phúc của con người sẽ chỉ đạt tới mức hoàn toàn thông qua nỗ lực thăng hoa vật chất. Bấy nhiêu cũng đủ để nói được rằng chúng ta vẫn chưa bao giờ rút ra hết được những hệ luận của biến cố Nhập thể. “Lịch sử, xã hội, vật chất, thực thể đồng chất không thể nào tách rời nhau ra được”.
Bruno CHENU.

Thiên Chúa thâm nhập vào lịch sử của thế giới”

(Vatican II)

Thiên Chúa muốn làm cho con người biết được Ngài để con người được hiệp thông với Ngài trong đời sống thần linh của Ngài. Làm cho mình được người ta biết đến hoặc, nói theo ngôn ngữ Thánh Kinh, tự mạc khải mình ra, tự vén màn xuất hiện. Để làm điều đó, theo trực giác của tất cả mọi thứ tình yêu, tìm mọi cách và sử dụng những phương tiện để sống với người mình yêu, Thiên Chúa tự làm người. Ngài đến trong thế giới. Ngài đi ra khỏi chính mình. Có thể nói rằng Ngài tước bỏ khỏi mình tính chất siêu việt của Ngài. Đó chính là biến cố nhân hoá Thiên Chúa (humanisation de Dieu).
Điều đáng ngạc nhiên, điều xem ra khó có thể là sự thật, không phải ở chỗ một con người, Đức YÊSU, con trai của một người phụ nữ tên là Maria, tự giới thiệu mình như là Thiên Chúa và chính là Thiên Chúa; nhưng ở chỗ Thiên Chúa là một con người. Bởi vì, nếu Thiên Chúa là Thiên Chúa, làm thế nào có thể lý niệm được rằng còn có một tính thể ở bên ngoài Ngài, trong đó có một thực tại hiện hữu khác?
Đấy mới chính là “huyền nhiệm”, và tính chất kỳ cục ở trong suy lý của nó đòi hỏi ở chúng ta điều mà chúng ta vẫn gọi là niềm tin, và đây không phải là một sự đồng tình có tính chất lý thuyết với một thứ chân lý trừu tượng, với một thứ ý thức hệ, nhưng là tham dự vào tính thể Thiên Chúa đang hiệp thông, đang cùng chung sống với chúng ta...
Nói tóm lại, Thiên Chúa của chúng ta không phải là vị Thiên Chúa-vì-Thiên Chúa (Dieu-Dieu), ngồi lỳ trong thực tại tuyệt đối không thể nào tương giao được của mình và bo bo giữ lấy cho mình tất cả mọi thứ quyền lực, ngủ yên trong vĩnh cửu của mình; mà là vị Thiên Chúa hướng về chúng ta, bởi vì Ngài yêu con người cách si mê, yêu cái thực tại tạo thành của Ngài mà Ngài thấy quả là tốt đẹp. Như bất cứ tình nhân nào, Thiên Chúa cũng mắc phải cái bệnh điên rồ là muốn trở thành như người khác: đó là con người. Thiên Chúa là Tình Yêu: điều nầy không phải chỉ là một trong muôn vàn thuộc tính, mà đó chính là tên gọi của Ngài, tính thể của Ngài. Thiên Chúa của chúng ta vì thế quả là khác xa vị Thiên Chúa của những nhà triết học, những người chỉ biết chăm chăm chú chú đi tìm một thứ nguyên nhân tối cao, và cũng khác xa vị Thiên Chúa của những kẻ mà người ta vẫn gọi là “những người duy thần” (déistes), theo một lối gọi mà cái ngữ vị “duy” (-isme) gán cho thể từ “Thiên Chúa” một giá trị tuyệt đối, lơ lửng ở đâu đâu chẳng biết lấy gì để mà tham chiếu. Thiên Chúa của chúng ta được định nghĩa nhờ tham chiếu với con người. Ngài là CON NGƯỜI - Thiên Chúa (Homme-Dieu). Thiên Chúa của chúng ta là một Con Người và chúng ta chỉ đạt tới được Thiên Chúa là qua Con Người nầy.
Than ôi! Đã biết bao nhiêu thế kỷ trôi qua, nhất là thế kỷ XIX, thế mà những người Kytô-hữu vẫn chỉ là “những người duy thần”, ngay cả những khi, trên môi miệng, đọc những cuốn sách giáo lý thảm thương của mình, họ vẫn nói về mầu nhiệm Nhập thể: Thiên Chúa không gì khác hơn là Đấng Toàn năng, nhà lập pháp tối cao đã đề ra một thứ lề luật vĩnh cửu khắc ghi trong một thứ bản tính không hề thay đổi; và như vậy, Ngài còn là người bảo đảm cho cái trật tự đã được thiết lập đó mà Ngài đã biến nó thành thánh thiêng trong một loại “ngân hàng chuyển ngân là tôn giáo” (un “transfert religieux”). Nhân đức cao cả nhất của con người, vì thế, là sự “lệ thuộc”, được biểu lộ qua một thái độ phục tùng, phó thác cho một sự quan phòng mà con người chỉ là người phải chấp hành mệnh lệnh. Cái ông Thiên Chúa “trưởng giả” của thế kỷ XIX nầy, như đã được VOLTAIRE định nghĩa trong cuốn tự điển triết học của ông ta, đã được BONAPARTE, vị tiền hô của cuộc Cách mạng bách chiến bách thắng, khi đến ký kết với Đức Giáo chủ một Thoả ước, tuyên dương trong cái thông tri nổi tiếng, như thế nầy: “Tôi, ông ta tuyên bố, chẳng cần quan tâm gì tới cái gọi là mầu nhiệm Nhập thể; nhưng tôi mời gọi các ngài, các giám mục, các linh mục, các quan chức, hãy giảng dạy cho người ta vị Thiên Chúa chủ soái và là Đấng tối cao dẫn dắt thế giới và các ngươi phải vâng lời Ngài, nếu không sẽ bị hình phạt hoả ngục đời đời.”
Đối với cái ông Thiên Chúa đó, tôi tự  tuyên bố mình là kẻ vô thần; và tôi đồng ý với lời phê phán của MARX, người khi đọc những khảo luận thần học đương thời, chỉ gặp thấy ở đấy một Thiên Chúa mà người ta đã ngụy tạo ra, thần tượng của một ý thức đã lỗi thời.
(Texte paru dans le collectif Communauté Saint-Sévérin-Saint-Nicolas, Le défi intégriste. Saint-Nicolas occupé, Paris, Centurion, 1977, pp. 171-173).

X      X
X

Tài liệu tham khảo:
Những tác phẩm của Marie-Dominique CHENU:
·          Une école de théologie, Le Saulchoir, hors commerce, 1937.
·      Introduction à l’étude de Saint Thomas d’Aquin, Paris, Vrin, 1954, 2e éd.
·      Pour une théologie du travail, Paris, Seuil, 1955.
·      La théologie au XIIe siècle, Paris, Vrin, 1957.
·      La théologie est-est une science?, Paris, Fayard, 1957, coll. “Je sais - Je crois”.
·      Saint Thomas d’Aquin et la théologie, Paris, Seuil, 1959.
Những bài viết của CHENU từ năm 1922 đến năm 1963 đã được gom lại thành 2 tập dưới tựa đề chung là La parole de Dieu: I. La foi dans l’intelligence; 2. L’Évangile dans le temps, Paris, Cerf, 1964. Chính tựa đề nói lên điều đó, 2 tập sách nầy chuyển dịch cách hoàn hảo hai khuynh hướng trong công trình của Marie-Dominique CHENU.
Để có thể có được một cái nhìn chung, bạn có thể đọc bài phỏng vấn do Jacques DUQUESNE thực hiện:
·          Jacques DUQUESNE interroge le Père CHENU, “Un théolo- gien en liberté”, Paris, Centurion, 1975.
Cho đến năm 1965, bạn có thể sử dụng tập sách nhỏ nầy:
·      Olivier de la BROSSE, Le Père CHENU. La liberté dans la foi, Paris, Cerf, 1969.
Ngắn gọn hơn là bài viết của Yves CONGAR trong Bilan de la théologie au XXe siècle, t.2, Tournai-Paris, Casterman, 1970, pp. 772 - 790.
Tác giả: Bruno CHENU - Lm Phêrô Nguyễn Thiên Cung chuyển ngữ
Nguồn: giaolyductin.org

Rudolf BULTMANN (1884 – 1976) Một nền thần học hiện sinh

Rudolf BULTMANN (1884 – 1976) Một nền thần học hiện sinh





Ròng rã suốt hơn 30 năm trời giảng dạy tại Đại học Marbourg (Đức), tuy nhiên, vị giáo sư nầy chắc hẳn sẽ chẳng được công luận biết đến, nếu như ông đã không làm bùng ra một luồng gió giật ào ào khủng khiếp là cái từ gây bão táp “giải huyền thoại” (démythologisation). “Thế giới Tân ước là thế giới có đặc tính huyền thoại”. Một bài viết năm 1941 của BULTMANN đã được bắt đầu như thế. Ngày nay, người ta cũng chỉ mới quen dần được với BULTMANN một phần nào đó mà thôi. Đằng sau cái vẻ ngổ ngáo ưa khiêu khích đó, BULTMANN quả thực muốn tiến hành cái nỗ lực dai dẳng và kiên tâm nầy là nhằm hướng Kitô-giáo vào cuộc đối thoại, chứ không có mục đích làm cho nó suy yếu đi.

Quét sạch đi cái gây xì căng đan không cần thiết.
Sinh năm 1884, BULTMANN đồng thế hệ với BARTH (1886), với TILLICH (1886) và với TEILHARD (1881), cả ba con người đều cùng có chung một niềm ưu tư: làm thế nào để giới thiệu Tin mừng với những con người của thời đại chúng ta? BULTMANN cùng chung với họ nỗi ưu tư nầy, nhưng chiến thuật áp dụng thì lại khác. Nhà thần học tin lành nầy, hơn bất cứ ai khác, đã gây nên những cuộc cãi vã chưa từng có, vì nhiều người có cảm tưởng BULTMANN hoàn toàn nhượng bộ con người thời nay và quét sạch khỏi Tin mừng cái gây xì-căng-đan của nó nhằm làm cho người ta dễ dàng chấp nhận Tin mừng. Giải thích BULTMANN như thế là phản bội lại với dự kiến của ông ta. Cũng như BARTH, BULTMANN muốn mình hoàn toàn trung thành với Lời của Thiên Chúa, nhưng, như TILLICH và TEILHARD, BULTMANN ý thức một cách sâu sắc mình liên đới với tâm thức của thời đại mình đang sống.
Nỗ lực của BULTMANN hoàn toàn không có một chút gì là phát xuất từ một sự ngẫu hứng. Là nhà chú giải, sử gia, nhà thần học, BULTMANN có thể chơi được trên nhiều loại dây đàn. Công trình chú giải bình luận của BULTMANN có giá trị của một công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc. Dựa trên cơ sở nghiên cứu về những hình thái và những truyền thống mà Kitô-giáo đã thâm nhập vào, BULTMANN đã du nhập được nhiều phương pháp phong phú và từ đó đã rút ra được những kết luận thần học mà những nhà thần học nghiêm túc ngày nay cũng phải đồng tình: các sách Tin mừng phản ánh về đời sống của Đức YÊSU thì ít mà về niềm tin của những tín hữu đầu tiên thì nhiều. Vì thế, cần phải đọc chúng như là những chứng tác của niềm tin nầy: “Đúng ra, đấy là một lời rao giảng hơn là một tường thuật” (GOGUEL).
BULTMANN không tự nhốt kín mình như một trí thức phòng trà. BULTMANN còn là nhà thuyết giảng và là mục sư, cháy bỏng vì một vấn đề cấp bách: làm sao rao báo Tin mừng để Tin mừng có được tiếng dội lại trong cuộc sống của con người? Trong khi BARTH băn khoăn từ góc độ của người thuyết giảng, BULTMANN, ngược lại, đứng từ phía thính giả để hạch hỏi mình. Nhưng, đối với BULTMANN, không có vấn đề làm sao thích nghi Lời Thiên Chúa cho phù hợp với thị hiếu thời trang, bằng cách giản lược Lời Thiên Chúa vào ý nghĩa chủ quan của con người. BULTMANN thẳng tay bác bỏ chiến thuật của những nhà thần học tự do của thế kỷ XIX. Ông muốn giữ cho Tin mừng mãi mãi có được sức mạnh sinh động của nó, nhưng đồng thời cũng muốn gạt ra khỏi nó tất cả những chướng ngại vật không cần thiết ngăn cản con người tìm đến với nó.
“Giải huyền thoại”, đó là từ chủ chốt. Nhưng, huyền thoại là gì? Đó là việc diễn tả những thực tại thuộc một chiều kích khác bằng những hình ảnh và những biểu tượng của thế giới chúng ta đang sống. Huyền thoại diễn đạt cái mà trên thực tế không thể nào đối tượng hoá được, bằng những ngôn ngữ loài người và như vậy cho phép con người có thể sử dụng được chúng. BULTMANN không có ý giản lược Tin mừng vào một thứ huyền thoại, nhưng ý đồ của BULTMANN là muốn giải phóng Tin mừng ra khỏi tất cả những gì là huyền thoại, nhằm hoàn toàn trả lại cho Tin mừng sức mạnh uyên nguyên và giá trị hiện sinh đích thực của nó. Là huyền thoại, thí dụ, một thế giới có phân cấp bậc, trong đó thiên thần cũng như ma quỷ tự do đi lại, việc sinh nở đồng trinh, vv... Nỗ lực bóc đi khỏi sách Tin mừng những lớp vỏ huyền thoại là một việc làm hết sức cần thiết, nhất là vì trên thực tế những trước tác của Tân ước đã là một công trình chuyển dịch sứ điệp đó trong một môi trường văn hoá nhất định, chứ không còn là môi trường mà chúng ta đang sống ngày nay và vì thế có thể tạo ra cho chúng ta một nguyên cớ gây xì-căng-đan không ích lợi gì. Giải huyền thoại là nhằm cởi ra khỏi Tin mừng cái áo mà Tin mừng đã mượn để mặc vào mình. Nó không phải là một sự thích nghi có thể miễn chước cho con người khỏi phải tin.

Tính chất tuyệt đối của Lời Chúa.
Giả như thần học có thể giúp vượt qua được khoảng cách so le văn hoá ngăn cách giữa con người thời nay và cái thế giới tinh thần ngày xưa nơi mà Tin mừng được bày tỏ, thì thần học vẫn sẽ không bao giờ đạt được tới chỗ hoàn toàn xoá nhoà đi được cái thực sự vẫn gây xì-căng-đan trong Kitô-giáo, đó là biến cố Thiên Chúa tự mạc khải mình ra và hành động nơi Đức KITÔ. Sự kiện Đức KITÔ nầy không thể vẽ vời nắn nót nên hình dạng được. Sự kiện đó đặt con người trước một quyết định phải chọn lựa có tính chất hiện sinh, chứ không phải đem lại cho con người điều kiện để có thể chiếm hữu đưọc nó theo cung cách thông thường của thực tại nhân loại, cũng chẳng tạo điều kiện để con người có thể tự ẩn náu mình đàng sau những lời bào chữa giả dối. Ở đây, người ta gặp lại một luận đề cải cách khá nổi tiếng là chỉ có Lời Chúa, được đón nhận trong đức tin, mới công chính hoá con người. Thần học không thể khấu trừ khỏi Lời nầy bất cứ điều gì hầu có thể làm cho Lời đó bớt phần triệt để đi.
Phải chăng như thế có thể nói là chúng ta bị kết cái án phải mang số phận niềm tin của dân thuyền chài? BULTMANN khá nhạy cảm với những đòi hỏi của lý trí con người. Lý trí muốn thông hiểu. Tin và hiểu đi đôi với nhau. Nhưng, không phải lý trí chinh phục Đức tin mà chính Đức tin rọi soi lý trí, biểu lộ ra cho con người cái bị che dấu, đem ra ánh sáng cái bị che khuất. Đức tin có thể hiểu được, vì Đức tin tiết lộ ý nghĩa. Nơi tất cả mọi người đều có một thứ “tiền thức” (précompré- hension) về Tin mừng mà con người rút ra được từ thực tế hiện sinh riêng tư của mình. Tri thức về Thiên Chúa thông qua tri thức về con người. “Biết Thiên Chúa, đối với con người, trước tiên, đó là một tri thức về chính bản thân của mình, về những giới hạn của mình. Thiên Chúa xuất hiện ra như là cái quyền lực bẻ gãy những giới hạn của con người và như vậy Ngài nâng con người đạt đến tình trạng đích thực của riêng nó”.
Dưới con mắt của BULTMANN, như vậy, là đã hình thành được một “thực tại đồng nhất” (identité) – một “thực tại tương đồng sinh động” (affinité vivante) – giữa con người trong cuộc, tự phát hiện ra mình là: “tính thể sinh ra để chết”, nói theo ngôn ngữ của HEIDEGGER, và Thiên Chúa, Đấng tự thông ban chính mình như Lời tình yêu, tha thứ, sự sống, như được chứng thực trong cái chết và sự phục sinh của Đức KITÔ. “tiền thức”, từ chìa khoá của tư tưởng của HEIDEGGER, nhằm chỉ cái tri thức mà con người có về chính mình, về tình trạng hữu hạn của mình và về tình trạng chưa đích thực của mình, nhưng, đồng thời cũng có nghĩa là khả năng nắm bắt ý nghĩa do Đức KITÔ trao ban.
Nhưng, thực tại đồng nhất nầy vẫn không loại trừ được cái gây xì-căng-đan, vì sự kiện Đức KITÔ không xếp được vào loại thực tại có thể đối tượng hoá được - nghĩa là thực tại mà người ta có thể nắm bắt được qua con đường suy luận hoặc những xác minh lịch sử (“Thiên Chúa chỉ hiện ra trong lịch sử cho người nào tự để mình cho lịch sử nghiền nát”). Sự kiện Đức KITÔ thuộc về thực tại những chân lý hiện sinh. Nó tự trao ban mình  cho người nào muốn tiếp nhận nó, chứ không ép buộc được. Nếu lời ân sủng, được Đức KITÔ nói ra, giải phóng con người, chính là trong điều kiện con người tự mở toang cửa lòng ra đón nhận nó và quyết định thiết lập ở đấy chân lý của hiện hữu của mình. Vì thế, con người cần phải rũ bỏ ra khỏi mình tất cả mọi ý muốn quyền lực, vì Thiên Chúa chỉ xen mình vào trong thực tại hiện sinh nào mà Ngài thấy là đã lột trần hết tất cả những gì không phải là Ngài. Người ta không đến với Thiên Chúa xuất phát tự con người, nhưng người ta đến với con người xuất phát từ Thiên Chúa. Chính mạc khải cho phép để mình được nhận biết và cho phép thực tại đang trở thành (devenir) có một nội dung ý nghĩa.

Nói Tin mừng ngày hôm nay.
Nói Tin mừng làm sao mà vẫn không xén bớt đi một chút gì và cũng không phải là chạy theo thị hiếu thời trang, nhưng là làm sao để cho con người ngày hôm nay có thể hiểu được, trong một thứ ngôn ngữ dễ tiếp cận, trong cái nội dung ý nghĩa mang đầy tính hiện sinh của nó, đó là nội dung ý nghĩa nỗ lực của BULTMANN. Nếu sứ điệp đó không còn nuốt trôi được nữa, đó là do tình trạng “phải nói bằng hai thứ tiếng” (bilingue) của chúng ta (EBELING): ngôn ngữ Kitô-giáo hết thời rồi không còn xài được nữa, chẳng còn để ý gì đến tâm thức của thời đại ngày nay, đang trầm mình trong một thế giới văn hoá khác trước. Nhà thần học cần phải trong cùng một lúc có hai nỗ lực: tìm kiếm lại Sứ điệp Tin mừng trong thực trạng nguyên tuyền của nó (nỗ lực giải huyền thoại) đồng thời chuyển dịch Sứ điệp đó sang thứ ngôn ngữ và văn hoá của con người thời nay (nỗ lực thích nghi vào các nền văn hoá). Đó là hai công tác mà khoa chú giải phải cố gắng hoàn thành.
Vì thế, người ta nhận thấy công trình của BULTMANN gồm hai cực. Một cực, căn bản hơn cả, nhưng đôi khi ít được người ta biết đến, nhấn mạnh tính siêu việt tuyệt đối của Lời Thiên Chúa: giải huyền thoại là một hành động tích cực nhằm trả về lại cho Lời Thiên Chúa nội dung ý nghĩa hiện sinh của nó; cực thứ hai dễ thấy hơn, và là cực duy nhất gây nhiều chú ý, nhằm “thích nghi” Lời nầy với tâm thức thời đại, chuyển dịch nó vào trong những ý niệm diễn tả đầy đủ thực tại hiện sinh của con người. BULTMANN không nhập cuộc vào bất cứ trò xảo thuật trí thức nào nhằm làm cho Tin mừng dễ được người ta chấp nhận. Ngược lại, BULTMANN đẩy nỗ lực minh giáo về sự công chính hoá chỉ nhờ Đức tin đến những hậu kết tận cùng của nó: trong thực tại hiện sinh của mình, hôm qua cũng như hôm nay, con người được đặt trước lời mời gọi của vị Thiên Chúa đòi phải có một quyết định. Đối với người nào muốn sở hữu hoá cho mình ý nghĩa của thực tại hiện sinh không có một con đường nào khác hơn là chấp nhận cái ý nghĩa mà Thiên Chúa đã ban cho cách nhưng không nơi Đức YÊSU KITÔ.
Đâu là giá trị tích cực của công việc của BULTMANN? Nó đã không thoát khỏi những chỉ trích phê bình. Người ta trách BULTMANN là đã “tước khéo” sử tính của Đức YÊSU, đã làm cho việc giải thích Sứ điệp Kitô-giáo lệ thuộc vào triết học “về những phạm trù hiện sinh” (philosophie existentiale) của HEIDEGGER, đã “cá thể hoá” niềm tin, không lưu tâm gì tới chiều kích tập thể của nó, không quan tâm đầy đủ tới Cựu Ước, đã nói về một “con người trừu tượng”, “chẳng có ai lân cận cũng chẳng có lai lịch lịch sử gì”, vv... Đã hẳn, tất cả những cái đó đều có một phần sự thật. Vẫn có những lỗ hổng trong công trình đó. Nhưng, cái quan trọng là phải lưu giữ cái ý đồ hướng tới của nó: Tin mừng liên can đến thực tại hiện sinh của mỗi người; Tin mừng tồn tại cho cả con người của ngày hôm nay; Đức KITÔ, Đấng đang liên can với tôi đấy trước tiên là “người đồng thời với tôi”.
Giả như nếu phải gạt qua một bên những khía cạnh khác, BULTMANN vẫn muốn giữ lại điều nầy là Sứ điệp Đức KITÔ có sức mạnh tạo cho thực tại hiện sinh có được nội dung ý nghĩa của nó. Nhưng, không nhằm “giản lược” Thiên Chúa vào một chiều kích của con người, BULTMANN đã nhấn mạnh tính siêu việt tuyệt đối của Thiên Chúa: Thiên Chúa là “Đấng hoàn toàn khác”, vượt ra ngoài những nắm bắt của con người, duy chỉ có thể đến gần được với Ngài trong hành động lựa chọn Đức KITÔ, một hành động tạo ra giá trị hiện sinh cho con người.
Marcel NEUSCH

X     X
X

Giải huyền thoại và ý nghĩa của thực tại hiện sinh.
Giải huyền thoại nhằm mục đích lột trần ra cái ý đồ đích thực của huyền thoại; ý đồ đó đúng là muốn nói về hiện sinh của con người, về nền tảng của thực tại hiện sinh đó và về giới hạn của thực tại hiện sinh nầy, dựa trên cơ sở một sức mạnh của thế giới bên kia, không lệ thuộc vũ trụ (non cosmique) và vô hình tượng đối với cái thứ tư tưởng ưa thích đối tượng hoá của con người.
Giải huyền thoại, vì thế, nói theo cách tiêu cực, là một nỗ lực phê phán thế giới huyền thoại, trong chừng mực mà thế giới nầy che đậy ý đồ đích thực của huyền thoại. Nói cách tích cực, đó là một nỗ lực biện giải nhằm đưa ra ánh sáng những phạm trù hiện sinh của nó (une interprétation existentiale) nhằm làm cho người ta nhận ra được ý đồ của huyền thoại và tham vọng nói về thực tại hiện sinh con người của nó.
(...) Hướng nỗ lực chú giải về vấn đề thực tại hiện sinh của chúng ta như thế, có nghĩa là muốn cho khoa chú giải phải biện giải đưa ra ánh sáng những phạm trù của thực tại hiện sinh. Việc khoa chú giải phê phán những bản văn Kinh Thánh không phải có mục đích loại trừ những bản văn huyền thoại mà thực ra là để giải thích chúng. Đó không phải là một thủ đoạn nhằm loại trừ, mà là một phương pháp của khoa chú giải (... ).
Vì thế, bây giờ đã rõ, nỗ lực giải huyền thoại được xem như nỗ lực biện biệt nhằm đưa ra ánh sáng những phạm trù hiện sinh và, trong khi phê phán thế giới huyền thoại của Kinh Thánh, không ngừng tìm cách làm nổi bật lên giá trị nội dung ý nghĩa của chính các bản văn, bằng cách giải phóng chúng khỏi vòng cương toả của trạng thái được ý niệm hoá do cái lối tư tưởng đối tượng hoá tạo nên, thứ tư tưởng của huyền thoại.  Nhưng cũng không phải là nhằm chuyển qua hiện trường đối tượng của khoa học. Nói rõ hơn: giải huyền thoại nhắm mục đích giải phóng tri thức Kinh Thánh ra khỏi tất cả mọi thứ hình ảnh của thế giới trần tục nầy, như thứ tư tưởng đối tượng hoá vẫn thường sử dụng, dù đó là hình ảnh huyền thoại hay là hình ảnh của khoa học (... ).
(... ) Những lối diễn tả của Kinh Thánh về thực tại hiện sinh và trong chính cái thực tại hiện sinh sờ sờ ra đó không phải là đối tượng để được báo cáo ở nơi công cộng, như kiểu đối tượng của các thứ khoa học mà mỗi lần muốn nghiên cứu một sự vật nào đó người ta phải đối tượng hoá nó ra thành khách thể, thứ khoa học mà không thể nào không chế định thực tại hiện sinh tuỳ theo nhãn giới của mình. Ngược lại, nỗ lực giải huyền thoại nhờ trong khi phê phán thế giới của Thánh Kinh giải phóng con người hiện đại ra khỏi cái gây xì-căng-đan mà Kinh Thánh tất yếu phải làm cho nó đụng phải, nhưng, cũng chính nhờ đó, để cho con người ngày nay được tự do khi phải đối diện với cái gây xì-căng-đan thực sự mà con người ngày nay cũng như bất kỳ ai khác, đều gặp phải ở nơi Kinh Thánh. Cái gây xì-căng-đan nầy, đó chính là sự kiện Lời Thiên Chúa mời gọi con người đến với Thiên Chúa, khởi từ tình trạng thao thức xao xuyến của con người cũng như khởi từ tình trạng an toàn giả tạo mà con người tự tạo ra cho mình. Lời Thiên Chúa mời gọi con người đi đến với thực tại hiện sinh đích thực và trong cùng lúc kêu gọi con người tự giải thoát mình ra khỏi thế giới, cái thế giới ngụy tạo mà con người tự mình xây dựng nên trong tư tưởng đối tượng hoá của khoa học.
(Rudolf BULTMANNL’interprétation du Nouveau TestamentParis, Aubier, 1955, pp. 189 à 194, passim.)

Tài liệu tham khảo:
Trước tiên, chúng ta ghi ra đây những tác phẩm của BULTMANN đã được xuất bản bằng tiếng Pháp: Le christian- isme primitif dans le cadre des religions antiques, Paris, Payot, 1950, coll. “PBP”, n0 131. L’interprétation du Nouveau Testament, Paris, Aubier, 1955Foi et compréhension, t. I: Historicité de l’homme et de la révélation: t.2: Eschatologie et démytholo- gisation, Paris, Seuil, 1970 et 1969. Histoire de la tradition synoptique (avec le complément de 1971), Paris, Seuil, 1973.
Giữa những tác phẩm nhập môn tư tưởng của BULTMANN, bạn có thể đọc:
·  Collectif, Comprendre Bultmann, un dossier par Georges COTTIER, A. VOGTLE, O. CULLMANN, L. MALEVER et Karl BARTH, Paris, Seuil, 1970.
·  André MALET, Bultmann, Paris, Seghers, 1968, coll. “Philosophes de tous les temps”, n045.
                   //           , La pensée de Rudolf Bultmann, Genève, Labor et Fides, 1971.
·  Joseph FLORKOWSKI, La théologie de là Foi chez Bultmann, Paris, Cerf, 1971, coll. “Cogitatio Fidei”, n0 61.
René MARLÉ, Bultmann et l’interprétation du Nouveau Testament, Paris, Aubier-Montaigne, 1966, coll. “Théologie”, n0 33 (éd. Revue et augmentée).
Tác giả: Bruno CHENU - Lm Phêrô Nguyễn Thiên Cung chuyển ngữ
Nguồn: giaolyductin.org

http://giaolyductin.org/rudolf-bultmann-1884-1976-mot-nen-than-hoc-hien-sinh.html

4.5.6 TỪ TRÊN THÁNH GIÁ NHÌN XUỐNG

T TRÊN THÁNH GIÁ NHÌN XUNG
Nguyên bn tiếng Pháp: Ceux que Jésus voyait du haut de la Croix


Lm Carôlô H Bc Xái chuyn ng

4.  MAĐALÊNA

T trên Thánh Giá nhìn xung, Chúa Giêsu thy Mađalêna.

Cô đang đng dưới chân Người, bên cnh Đc M và Tông đ Gioan. Cô là mt trong s íi nhng người còn trung thành vi Chúa Giêsu.

Tuy nhiên, cuc sng cô không phi lúc nào cũng tt lành. Trong thành Magdala, người ta không khen ngi cô, trái li còn nói xu cô vì cô sng buông th, ti li, li còn lôi kéo nhiu ngườiđàông vàđường ti li.

Nhưng mt ngày kia cô đã gđược Chúa Giêsu. Khi nghe Người ging dy, cô hiu ra rng cô đã làđi mình ra hư hng, cô hiu rng tình yêu chân thc không phi là th tình yêu côtheo đui by lâu nay. Trước mt Mađalêna, Chúa Giêsu mi thc là Đng Thiên Chúa sai đến. Ch có Người mi thay đđược trái tim cô, làm cho nó tr nên mi lđ bđu mt cuc sng mi.

Ri mt hôm cô đến nhà Ông Simon bit phái, vì cô được biết Chúa Giêsu đượông y mđến dùng ba. Người do thái thđó khi ăn tic thì không ngi trên ghế mà nm trên nhng chiếc trường k được kê quanh mt chiếc bà gia, đu hướng vào trong phía chiếc bàn, châđưa ra ngoài, mt tay chng ci chõ lên mt chiếc gi, bàn tay gi cáđu, tay kia dùng đcm ly và ly thăđược dn sn trên bàn.

Khi đó, Mađalêna bước vào nhà. Chng cn quan tâm xem người ta nghĩ sao khi thy mình đt ngđi vào, cô tiếđến Chúa Giêsu, qu sp xung dưới chân Người. Cô có mang theo mt bình thuc thơm. Cô m ra rưới lên chân Người, vđ biu l lòng tôn kính Người mà cũng va mun làm cho Người chú ý.

Theo tc l Do Thái, vic làm này chng có gì gây sc c. Theo phép lch s, ch nhà phi có nhng c ch biu l s tôn trng khách: Bđu là ôm hôn chào khách và chúc mng vì đã đến d tic (ging như ngày nay chúng ta bt tay). Ri phi ra chân cho khách vđ sch bđường va tránh làm dơ trường k mà khách s nm lên. Sau cùng phi xc thuc thơm lênđu, mt và bàn tay ca khách vđ sch m hôi va cho khách được mát m.

Ông Simon bit phái nàđã chng làm vic nào trong nhng vic va k. Thc ra ông đâu có kính trng Chúa Giêsu. Ông ch mi Ngườđến d tic vì tò mò mun thy con ngườđangđược dân chúng ngưỡng m thôi. Mt khác, nếông tiếđón Người t tế quá thì s b nhng người bit phái khác d ngh.

Phn cô Mađalêna, lúc cô qu dưới chân Chúa Giêsu và xc thuc thơm chân Người, t dưng lòng cô trào tràn cm xúc. Cô bt khóc vì hi tiếc quá kh ti li ca mình. Nước mt cô rơi xung ướđm chân Chúa Giêsu, vô tình tr thành nghi thc ra châđón khách d tic. Thy nước mt mình đã làướt chân Chúa Giêsu, cô ht hong vi xo tóc ra lau

Ông Simon biết rõ cô Mađalêna này vn có tiếng là trc nết. Ông ngc nhiên vì Chúa Giêsu không ngăn cn cô mà c đ cho cô làm. Ông nghĩ thm : Nếu qu thông Giêsu này là Người ca Thiên Chúa, là k thu t lòng người thì hông ta phi biết cá Mađalêna này là đa lăng loàn và phi tc khđu như đui tà mi phi chÔng bit phái này nàđâu có hiu tình yêu  ca Thiên Chúa là gì. Thiên Chúa yêu thương luôn sn sàng tha th cho nhng người ti li khi h ăn năn chđến vi Người. Ông đâu có đi theo Chúa Giêsu nên chưa h nghe Người k d ngô“Đa con hoang đàng tr v nhà cha.

Chúa Giêsu đc thý nghĩ ca Simon cũng như Ngườđã đđược tâm tư ca Mađalêna. Simon tưởng mình đđc vì luôn gi lut chín chn, ít ra là trước mt thiên h. Tuy nhiên, tđáy lòng, ông chng tt hơn gì nhng người khác. Ông li còn gi hình na. Đc Giêsu nói cho ông biết Ngườđã thu hết suy nghĩ công. Người còn nói Mađalêna đã làm tt cnhng vic mà l ra ông phi làđi vi Ngườđ biu l lòng  hiếu khách. Như thế, Mađalêna chng t cô thc lòng yêu mến Người hơông. Tuy cô ti li nhưng cô biết hi hn, cònông thì vn luôn coi mình là đđc. Cô cũng mun làm li cuđi.

Bi vy Chúa Giêsu nói vi Mađalêna: Ti li con đã được tha. Con hãy v bình an. K t hôm đó. Mađalêna đi thay cuc sng.

Mađalêna là mt trong s rít người luôn trung thành vi Chúa Giêsu và cô có mt dưới chân thp giá Người.

T trên Thánh Giá nhìn xung, Chúa Giêsu cũng nhìn thy tôi.

– Phi chăng đôi khi tôi cũng phn nào như Mađalêna buông mình tìm kiếm thú vui nhc dc: nói chuyn tc tĩu, xem sách báo phim nh khiêu dâm, làm nhng viô uế?

– Phi chăng đôi khi tôi không đ can đđ bày t vi mt ngườđáng tín nhiđ được tư vn v nhng thc mc và bi ri liên quan đến vđ tình cm, xác tht và tính dc?

– Phi chăng tôi có khuynh hướng tìm cách sng thoi mái: Ham ăn sung mc sướng, thích hưởng th, chìu chuc thân xác?




5. ÔNG SIMON NGƯỜI XIRÊNÊ VÀ BÀ VÊRÔNICA

Từ trên Thánh Giá nhìn xuống, Chúa Giêsu thấy Ông Simon người Xirênê và bà Vêrônica.

Simon người xứ Xirênê được Tin Mừng nói đến. Ông đã giúp Chúa Giêsu vác thánh giá. Còn Vêrônica thì sách Tin Mừng không nói đến nhưng thánh truyền nói bà đã lau mặt Chúa Giêsu.

Khi ấy, Chúa Giêsu đã kiệt sức vì phải chịu những đòn tra tấn. Đã vậy Người còn phải leo lên đồi Canvê để chịu xử tử. Mà theo hình luật thời đó, những kẻ bị xử tử đóng đinh phải đích thân vác cây thập giá của mình. Viên chỉ huy đội hành hình sớm nhận ra là Chúa Giêsu khó mà vác thập giá leo nổi tới đỉnh đồi Canvê. Theo luật, ông có quyền buộc một người nào đó giúp sức cho tử tội. Về phía người bị buộc làm việc đó thì dĩ nhiên chẳng thích chút nào, vì vừa mệt nhọc vừa nhục nhã bởi có thể bị người ta tưởng mình cũng là phạm nhân.

Do đó khi viên sĩ quan yêu cầu ông Simon tiếp vác thập giá Chúa Giêsu thì Simon chẳng vui chút nào cả. Ông định trốn đi. Nhưng lính kéo tay ông lại. Ông đành phải tuân lệnh. Ông đưa mắt nhìn Chúa Giêsu. Ông thấy một khuôn mặt bê bết mồ hôi và máu nhưng rất hiền lành nhẫn nhục. Ông tội nghiệp quá nên sẵn sàng kề vai vác tiếp cây thập giá đi lên tận đỉnh đồi Canvê.

Còn bà Vêrônica. Có lẽ bà là người thường trú tại Giêrusalem. Hôm đó bà đang đi đường thì tình cờ nhìn thấy Chúa Giêsu đang bị đưa đi xử tử. Bà nhìn một hồi rồi nhận ra đó là người mà bà đã từng nghe giảng. Nhưng sao hôm nay Người thảm hại như vậy ! Mặt mũi đầy mồ hôi, máu và cả những thứ người ta khạc nhổ… Bà không chịu nổi cảnh khổ ấy nên vội rẽ đám đông chạy đến Chúa Giêsu, bất chấp người ta sẽ nghĩ gì và làm gì bà. Khi đã đến trước Chúa Giêsu, bà lột tấm khăn trùm đầu xuống, có thể đây là loại vải quý thêu hoa rất đẹp. Nhưng bà không tiếc. Bà dùng nó lau mặt Chúa Giêsu một cách nhẹ nhàng và  kính cẩn. Điều gì sẽ xảy ra sau đó ? Sách Tin Mừng không nói nhưng ta cũng có thể đoán : bọn lính vừa lôi bà ra vừa chửi, trong đám đông có những tiếng la ó chế nhạo… Nhưng bà vẫn kiên quyết tiếp tục lau mặt Chúa Giêsu. Còn Chúa Giêsu thì nhìn bà, ánh mắt Người biểu lộ lòng biết ơn. Suốt đời, bà sẽ không bao giờ quên ánh mắt ấy.

Từ trên Thánh giá nhìn xuống, Chúa Giêsu cũng nhìn thấy tôi.

– Tôi có góp phần với Chúa Giêsu trong công trình cứu chuộc loài người không: Bằng những việc hy sinh hãm mình ; bằng cách chịu khó thăm viếng ủi an chăm sóc những người đau ốm, bệnh tật, già cả ; bằng cách giúp đỡ tiền bạc cho kẻ đang cần…?

– Tôi có góp phần lo cho việc chung của xã hội và của Giáo hội không: Bằng cách sử dụng thời giờ, khả năng và sức lực làm cho họ đạo, lớp học, khu xóm, chỗ làm… được ngày càng tốt hơn?

– Chung quanh tôi có rất nhiều khuôn mặt gầy còm, mệt mỏi, thẩn thờ, khổ sở… vì túng thiếu, vì bệnh tật, vì bị áp bức… Nhìn thấy những khuôn mặt đó tôi vẫn dửng dưng lạnh lùng? Hay là qua đó tôi nhận ra khuôn mặt của Chúa Giêsu đang vác thánh giá và tìm cách ủi an nâng đỡ?


T TRÊN THÁNH GIÁ NHÌN XUNG


6 .THƯỢNG T CAIPHA VÀ NHNG NHÀ LÃNH ĐO DO THÁI

Từ trên Thánh giá nhìn xuống, Chúa Giêsu thấy Thượng tế Caipha và những nhà lãnh đạo Do Thái giáo.

Họ đang đứng dưới chân thập giá, hả hê nhìn lên Chúa Giêsu đang bị đóng đinh, lòng hãnh diện vì đã thắng được kẻ thù nguy hiểm ấy. Bởi vậy họ lớn tiếng mỉa mai: “Xem kìa… Nó đã cứu người khác nhưng không cứu nổi bản thân. Nó nói nó là Đấng Thiên Chúa sai đến. Nhưng Thiên Chúa còn đợi gì mà chưa cứu hắn!… Ê, mi có giỏi thì xuống khỏi thập giá xem! Khi đó thì chúng ta mới tin mi”.

Chúa Giêsu nghe hết nhưng Người không đáp trả lời nào. Người chỉ cầu nguyện với Chúa Cha: “Cha ơi, xin Cha tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”. Nghĩa là Người biện hộ cho họ, vì quả thực họ không ý thức Người chính là Con Thiên Chúa.

Thế nhưng sở dĩ họ không ý thức điều đó là vì họ đã ngoan cố trong sự mù quáng, họ đã đóng cửa lòng đối với Thiên Chúa. Tội họ rất nặng: Tội kiêu ngạo, tội nghĩ mình đạo đức, tội giả hình và tội ganh ghét.

Trong đám họ có một số người biệt phái. Số biệt phái nảy luôn tham dự đầy đủ các lễ nghi tôn giáo. Người ta còn thường gặp họ cầu nguyện giữa đường nữa. Họ bố thí rất nhiều tiền, nhưng chỉ khi có người nhìn thấy thôi. Thực chất thì họ là những kẻ giả hình và chẳng có gì tốt hơn những người khác. Chúa Giêsu đã từng nói thẳng: “Các ông giống như những mồ mả tôi vôi. Bên ngoài thì tốt đẹp lắm, nhưng bên trong đầy những ô uế thối tha”. Chúa Giêsu đã lột mặt nạ giả hình của họ, chắc chắn họ sẽ không bao giờ tha thứ cho Người về chuyện sỉ nhục này.



Cũng có những người thuộc phái Sađốc. Họ là các tư tế. khi cử hành các lễ nghi, họ chí chú trọng đến bề ngoài chứ trong lòng không hề kính mến Chúa. Chúa Giêsu không để yên cho họ sống theo thói quen hình thức ấy nữa. Người dạy phải kính mến Chúa thật lòng và phải chứng tỏ lòng kính mến ấy không phải bằng những hình thức lễ nghi mà bằng chính cách sống.

Một ngày kia Chúa Giêsu vào Đền thờ Giêrusalem. Người thấy nhiều người chỉ lo các hình thức lễ nghi bề ngoài, chỉ chú ý đến lễ vật: Những kẻ bán chiên bò, chim câu… nhưng kẻ đổi tiền… Sân đền thờ vô cùng om xòm náo nhiệt. Bầu khí bát nháo ấy chẳng thuận lời cho người ta bình tâm cầu nguyện chút nào. Lòng yêu mến Chúa khiến Người nổi giận, một “cơn giận thánh”. Người lấy những sợi dây cột bò có sẵn đấy, quấn lại thành một sợi roi, đánh đuổi những kẻ mua bán : “Nhà Cha ta là nhà cầu nguyện. Thế mà các ngươi đã biến nó thành hang trộm cướp”. Các viên chức Đền thờ sẽ không bao giờ tha thứ cho Người về chuyện này.

Thế là Chúa Giêsu trở thành kẻ thù số một của cả nhóm biệt phái lẫn nhóm tư tế Sađốc. Người có làm bao nhiêu phép lạ họ cũng không tin. Dân chúng càng đi theo Người đông đảo thì họ càng ganh ghét. Chúa Giêsu có cố gắng bao nhiêu đi nữa để cho họ biết Người là Đấng Thiên Chúa sai đến, họ cũng bưng tai bịt mắt. Hai nhóm liên minh tìm cách thủ tiêu Người.

Tuy nhiên, làm sao mà bắt được Chúa Giêsu đây vì dân chúng ngưỡng mộ Người. Họ vừa đón rước Người vào thành Giêrusalem như rước một vị vua. Chỉ có cách bắt lén thôi. Chính lúc họ đang nghĩ cách thì Giuđa tìm đến đề nghị bán Thầy. Cuối cùng họ đã bắt được Chúa Giêsu trong Vườn Cây Dầu và điệu Người đến tòa án Thượng hội đồng Do thái giáo. Cách xử án thật lố bịch: Họ dùng hai người làm chứng gian để kết án Người ; một nhân viên còn dám tát vào mặt Người ; cuối cùng Thượng tế Caipha đứng lên long trọng hỏi: “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, Ta hỏi mi: mi có phải là Con Thiên Chúa không ?” Chúa Giêsu đáp: “Ông nói đúng”. Khi đó mọi người đều đứng dậy hô lớn: “Cần gì phải tìm nhân chứng nữa. Chính chúng ta đã nghe nó nói. Thật là tội phạm thượng khủng khiếp. Nó đáng chết”.

Thế là bản án đã được tuyên. Chỉ còn lèo lái cho tổng trấn Philatô – người đại diện đế quốc Rôma và là kẻ nắm thực quyền – chuẩn y bản án ấy thôi. Và Philatô, vì hèn nhát, đã để mặc cho họ đem Chúa Giêsu đi đóng đinh.

Từ trên Thánh Giá nhìn xuống, Chúa Giêsu cũng nhìn thấy tôi.

1.      Tôi có phần nào giống những người biệt phái giả hình không: Nhìn bề ngoài thì xem ra tôi đạo đức lắm: Dự lễ đầy đủ, rước lễ đều đặn, xưng tội thường xuyên… Nhưng trong lòng, tôi làm những việc ấy chỉ vì bị lôi cuốn theo đám đông, vì sợ cha mẹ rầy la, vì muốn cho người khác thấy… Lòng tôi không kính mến Chúa ?

2.      Tôi có sống như một kitô hữu thực thụ, không phải chỉ ngày Chúa Nhật mà là mọi nơi mọi lúc không? Tôi chỉ lo chu toàn những nghĩa vụ tôn giáo bề ngoài mà thôi, hay là biết phản ứng như một kitô hữu có đức tin trước mọi tình huống như ở nhà, ở trường, khi làm việc, lúc giao tiếp với bạn bè? Tôi có biết luôn tự nhắc mình: “Nếu Chúa Giêsu ở vào hoàn cảnh của tôi thì Người sẽ làm gì” không ?

3.      Có khi nào tôi ganh ghét những người khá hơn tôi không? Có khi nào tôi tìm cách hạ người ta xuống, bởi vì người ta khen họ hơn tôi, bởi vì thành công của họ làm tôi khó chịu?