|
Thứ Bảy, 29 tháng 7, 2017
Ấn huyệt trị mắt mờ về già !
Thứ Sáu, 28 tháng 7, 2017
25 Giáo Hội Công Giáo Dưới Cái Nhìn của Một Ký Giả Hoa Kỳ (bài 25)
Giáo Hội Công Giáo Dưới Cái Nhìn của Một Ký Giả Hoa Kỳ (bài 25)
Fri, 28/07/2017 - 13:43
Tác giả:
Vũ Văn An
Tại sao người Công Giáo liên kết mạnh mẽ đến thế với phong trào phò sự sống?
Giáo Hội Công Giáo dành cho việc bảo vệ sự sống con người, và do đó, chống đối phá thai, an tử, và dùng tế bào gốc phôi thai để nghiên cứu một vị trí ưu tiên rõ ràng trong các quan tâm chính trị của mình, song song với việc bảo vệ gia đình truyền thống, đặt căn bản trên sự kết hợp suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà, và do đó, chống đối hôn nhân đồng tính. Các nhà lãnh đạo Công Giáo thường so sánh việc tranh đấu cho sự sống với phong trào hủy bỏ nạn nô lệ ở thế kỷ 19; các ngài cho rằng Giáo Hội đã không ở tuyến đầu trong việc xác định các vấn đề nhân quyền của thời ấy, nên các ngài thề hứa lần này sẽ không mắc cùng một sai lầm như thế nữa.
Đức Hồng Y Timothy Dolan của New York, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, năm 2009, nói rằng “Về phương diện lịch sử, tôi nghĩ ta hoàn toàn có lý khi so sánh vấn đề phò sự sống với vấn đề nô lệ. Ngày nay, nhìn lại các giám mục Hoa kỳ đối với nạn nô lệ, chúng ta phải mắc cỡ, vì lúc ấy mình đã không tiên tri chút nào. Chỉ có một hay hai trường hợp trừ, không giám mục nào ở thế kỷ 19 dám đứng lên mà nói ‘điều này xấu ngay trong nội tại và chúng ta phải chấm dứt nó ngay bây giờ’. Có lúc, các vị còn viết thế này ‘chúng tôi xin để vấn đề này cho các người thế gian’. Như thể chúng ta đang ở Sao Hỏa không bằng! Chúng ta nhìn lại mà mắc cỡ về những điều như thế, và mắc cỡ là đúng, nhưng nhất định chúng ta sẽ không như thế nữa đối với vấn đề phá thai”.
Giáo Hội Công Giáo ở Hoa Kỳ đôi khi bị coi là phò sự sống một cách hăng hái hơn ở Âu Châu, nơi các thập tự chinh Công Giáo hàng đầu nằm ở chỗ khác: như bảo vệ tôn giáo chống lại phong trào duy tục trong Liên Hiệp Âu Châu, chẳng hạn, hay mối tương quan với Hồi Giáo. Ngay những người Âu Châu bảo thủ nhất đôi khi cũng tố cáo các đồng đạo Hoa Kỳ của họ là đã thiển cận, chỉ chú tâm vào vấn đề phá thai. Một phần, sự khác nhau này phản ảnh bầu khí chính trị. Phá thai là vấn đề phần lớn đã lắng dịu ở hầu hết các nước ở Âu Châu, thành thử người Công Giáo Âu Châu có xu hướng đầu tư năng lực của họ vào các vấn đề khác. Tuy nhiên, ở Hoa Kỳ, cuộc tranh luận về phá thai vẫn còn đang sôi nổi, nên Giáo Hội cảm thấy có nghĩa vụ phải lên tiếng.
Phải chăng lập trường phò sự sống này đã được khắc cố định vào đá?
Các giá trị thì nhất định đã được khắc cố định vào đá rồi, nhưng bối cảnh chính trị thì thay đổi. Trong tương lai, điều chắc là việc chống đối tân thế giới kỹ thuật sinh học (biotechnology) đầy dạn sĩ sẽ phát xuất như nhau từ phe tả thế tục và từ phe hữu tôn giáo, kể cả các cuộc tranh luận về việc sinh vô tính (cloning), chép hình di truyền (genetic profiling) và các “chimeras”, tức các lai giống nhân tạo giữa người và thú vật. Thực tế này hiện nay đã khá rõ rõ ràng tại Âu Châu, nơi việc sử dụng các thực phẩm thay đổi gen (genetically modified foods), trong căn bản, đã bị chặn đứng bởi phe tả chính trị, chứ không phải phe hữu. Một loạt các vấn đề kỹ thuật sinh học khác đang ló dạng cũng có một phản ứng tương tự. Jeremy Rifkin, chẳng hạn, thường đứng chung hàng với các giới cấp tiến về môi trường; ông vốn là cố vấn cho Romano Prodi, một cựu thủ tướng Ý trung dung thiên tả (left-of-center). Rifkin cũng là người phê bình thời đại kỹ thuật sinh học gay gắt nhất, đến độ có biệt danh, do tờ Times đặt cho, là “người bị ghét nhất trong khoa học”. Như trong lãnh vực thực phẩm biến chế gen chẳng hạn, Rifkin nói rằng chúng đe dọa nhân loại bằng một “hình thức tận diệt từng chút nhưng gây chết chóc y như việc hỏa thiêu hạch nhân”.
Rifkin nhìn nhận rằng sự phân loại tả hữu ngày trước nay đang biến dạng. Ông viết: “thời đại kỹ thuật sinh học sẽ đem theo nó cả một sự đồng hình đồng dạng của nhiều viễn kiến chính trị và lực lượng xã hội khác nhau, y hệt như thời đại kỹ nghệ đã làm. Cuộc tranh luận hiện nay về việc sinh vô tính các bào thai người… đang tháo gỡ các liên minh và phạm trù cũ. Đây chính là lúc bắt đầu một nền chính trị sinh học mới”.
Trong phần lớn các vấn đề kỹ thuật sinh học mới, Giáo Hội Công Giáo có lẽ sẽ đứng về phe chống đối, trên cơ sở tôn trọng sự sống cũng như sự lo lắng cho rằng mục tiêu tối hậu của các kỹ thuật này là phá hủy tính độc đáo của con người. Khi bảo vệ các giá trị này, các giám mục và các nhà tranh đấu phò sự sống rất có thể mỗi lúc mỗi thấy mình phải đồng hành với các đồng minh không quen thuộc của phe tả thế tục. Ngay trong điều có lẽ được coi như một trong các phép lạ hàng đầu của khoa học di truyền, Giáo Hội và ít nhất một số thành phần của phe tả, một lần nữa, thấy mình quen biết nhau đến có thể chuyện trò với nhau được.
Có phải việc Công Giáo chống hôn nhân đồng tính cuối cùng cũng đã phát sinh ra tranh chấp không?
Dám chắc như thế. Các cơ quan bác ái Công Giáo ở Boston, chẳng hạn, hồi tháng Tư năm 2006, buộc phải ngưng việc cung cấp các dịch vụ nhận con nuôi sau khi không được miễn trừ việc luật lệ tiểu bang đòi các cơ sở nhận tài trợ công cộng phải phục vụ các cặp đồng tính. Ở Illinois, năm 2011, Tiểu Bang rút việc tài trợ công cộng dành cho các dịch vụ nhận con nuôi khỏi các cơ sở Công Giáo vì các cơ sở này từ chối làm việc với các cặp đồng tính, thực tế đẩy Giáo Hội ra khỏi nghiệp vụ nhận con nuôi. Cũng một sự kiện như thế đã xẩy ra tại San Francisco và Thủ Đô Washington, và thứ áp lực này không chỉ có ở Hoa Kỳ mà thôi. Tháng Hai năm 2007, chính phủ Anh tuyên bố các cơ sở nhận con nuôi tư nhân nào từ khước phục vụ các cặp đồng tính sẽ không còn nhận được tiền bồi hoàn cho các dịch vụ của họ nữa, kết quả khiến các cơ quan bác ái Công Giáo tại Anh mất hơn 9 triệu dollars tiền bồi hoàn.
Mà chuyện đồng tính luyến ái cũng không phải là mặt trận duy nhất trong cuộc va chạm càng ngày càng gia tăng giữa nhà nước và Giáo Hội. Năm 2011, chương trình Phục Vụ Di Dân và Tị Nạn của các giám mục Hoa Kỳ mất một khế ước với chính phủ liên bang nhằm trợ giúp các nạn nhân của nạn buôn người ở ngoại quốc, một khế ước mang lại cho cơ quan này khoảng 14 triệu dollars tài trợ công cộng giữa các năm 2006 và 2011. Bộ Y Tế và Dịch Vụ Nhân Bản quyết định không tái tục khế ước, phần lớn vì cơ quan này từ khước việc cung cấp các dịch vụ phá thai hay ngừa thai. Hóa ra, đó mới chỉ là khúc dạo đầu cho một cuộc tranh luận gay gắt hơn nhiều giữa các giám mục và chính phủ Obama về các qui định để thi hành cuộc cải tổ chăm sóc y tế, đòi phải bảo hiểm ngừa thai và dùng thuốc bị Giáo Hội coi như các hình thức phá thai, mở màn cho cả một cảnh chua cay chính trị lẫn hàng loạt vụ kiện vẫn chưa được giải quyết.
Một số nhà lãnh đạo Công Giáo tin rằng vì các chuẩn mực xã hội ở Tây Phương đang di chuyển khỏi các xác tín luân lý của Giáo Hội, nên tương lai chắc chắn sẽ đem lại nhiều thù nghịch lớn lao hơn nữa. Năm 2010, Đức Hồng Y Francis George nói rằng “tôi hy vọng được chết trên giường, vị kế nhiệm của tôi sẽ chết trong tù, còn vị kế nhiệm của ngài sẽ chết như một tử đạo ở công trường”. Trong cái năng động tính chính trị ở Tây Phương, các lập trường của Giáo Hội về các vấn đề sự sống xem ra kết cục sẽ đẩy Giáo Hội vào thế phải liên minh trên thực tế (de facto) nhiều hơn với phe hữu chính trị, khiến Giáo Hội khó duy trì được việc tự coi mình là super partes, tức đứng trên mọi phe phái.
Tại sao Giáo Hội nói nhiều như thế về tự do tôn giáo?
Việc bảo vệ tự do tôn giáo dường như kết cục sẽ trở thành quan tâm xã hội và chính trị hàng đầu của Giáo Hội Công Giáo trong thế kỷ 21. Ta thấy sự xôn xao quanh vấn đề này ở khắp nơi. Khắp Trung Đông, nỗi lo sợ trước hậu quả của Mùa Xuân Ả Rập đã ám ảnh cộng đồng Kitô Giáo tuy nhỏ nhưng có tầm quan trọng cao về biểu tượng này. Ở Hoa Kỳ, các giám mục Công Giáo đã phát động một ủy ban đặc nhiệm mới về tự do tôn giáo, sẵn sàng cho một mùa tranh tụng cao gồm nhiều tranh chấp giữa Giáo Hội và nhà nước. Từ Vatican, Đức Hồng Y Kurt Koch, người Thụy Sĩ, đã đề xuất ý niệm “đại kết tử đạo” làm căn bản mới cho việc hợp nhất Kitô Giáo, phản ảnh các thực tại bách hại Kitô Giáo trên thế giới. Mẫu số chung là người Kitô hữu tin rằng quyền tự do của họ đang lâm nguy, dưới một hình thức nào đó.
Hai chuyển động lịch sử sâu xa đang đẩy vấn đề tự do tôn giáo lên quan tâm hàng đầu của Giáo Hội Công Giáo.
Chuyển động thứ nhất là việc Kitô Giáo ở Tây Phương đang quá độ từ khối đa số tạo nền cho văn hóa trở thành một nền văn hóa phụ (subculture). Sự chuyền dịch này đã diễn ra từ lâu, song song với diễn trình tục hóa, và được Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI lột tả khi ngài cho rằng ở Tây Phương hiện nay, Kitô Giáo phải sống trong thân phận “một khối thiểu số có óc sáng tạo”. Trong tư cách một nền văn hóa phụ, Kitô giáo không thể coi lòng tốt của nhà nước hoặc của xã hội rộng lớn bên ngoài kia là chuyện đương nhiên nữa. Đối với người Công Giáo, việc xói mòn lòng kính trọng theo truyền thống mà Giáo Hội vốn được hưởng từ các chính khách, các triều đình, các phương tiện truyền thông, và các tác nhân tạo văn hóa khác, nay đã bị cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục làm cho gia tốc. Về phương diện xã hội học, các nền văn hóa phụ có xu hướng loay hoay lo duy trì bản sắc riêng biệt của mình, và điều này không có chi là phi lý cả. Họ rất cẩn trọng, không để cho bản sắc này bị xâm lấn, nhất là từ phía nhà nước. Việc này mô tả đầy đủ điều đang diễn ra ngày nay ở cấp lãnh đạo của Giáo Hội Công Giáo: các ngài coi việc nói lên các quan tâm về tự do tôn giáo như ưu tiên hàng đầu.
Chuyển động thứ hai là việc xuất hiện một Giáo Hội thực sự có tính hoàn cầu, một Giáo Hội trong đó, 2 phần 3 dân số Công Giáo của thế giới đang sống tại Nam Bán Cầu; và tỷ lệ này sẽ tăng tới 3 phần 4 vào giữa thế kỷ này. Sự chuyển dịch về dân số này càng diễn biến, người ta càng hiểu rõ rằng phần lớn người Công Giáo sẽ phải sống tại các khu xóm nơi họ không còn coi tự do tôn giáo là chuyện đương nhiên được nữa. Tại những nơi này, các đe dọa đối với tự do tôn giáo không phải là chỉ thị bảo hiểm nữa hay “các miễn trừ cấp bộ trưởng” đối với các luật lệ liên bang về thuê mướn và sa thải công nhân nữa. Thay vào đó, là các đe dọa tới chính mạng sống hay tứ chi, khi các tín hữu cầm bằng mạng sống trong tay mỗi lần đi thờ phượng, hay mở kinh doanh buôn bán, hoặc ra ngoài phố để làm những việc này.
Thực vậy, đầu thế kỷ 21, người ta đã mục kích sự xuất hiện cả một tân thế hệ các vị tử đạo Kitô Giáo. Trợ Giúp Các Giáo Hội Túng Thiếu, một cơ quan bác ái Công Giáo quốc tế, ước lượng mỗi năm, có khoảng 150,000 Kitô hữu bị giết do lòng thù ghét đức tin hay vì các việc bác ái được thúc đẩy bởi đức tin. Hội Nhân Quyền Quốc Tế, một cơ quan quan sát thế tục đặt trụ sở tại Frankfurt, Đức Quốc, ước lượng rằng khoảng 80 phần trăm mọi hành vi kỳ thị tôn giáo trên thế giới hiện nay là nhằm vào các Kitô hữu. Điển hình đau lòng nhất có lẽ là Iraq, nơi đã mất khoảng 2 phần 3 dân số Kitô Giáo kể từ cuộc chiến tranh vùng Vịnh lần đầu tiên năm 1991. Phần lớn việc mất mát này là do bạo lực và bất ổn giáng xuống mọi người dân Iraq, nhưng không ai chối cãi rằng việc lan tràn các nhóm duy Hồi Giáo cực đoan và các vụ tấn công liên tiếp của chúng vào các nhà thờ, cơ sở làm ăn và các cá nhân Kitô Giáo cũng là sức đẩy mạnh mẽ tạo ra cuộc xuất hành đau lòng này.
Từ Trung Đông tới bán đảo Ấn Độ, từ các miền của Hạ Sahara Châu Phi tới các vùng khác nhau của Đông Á Châu, hàng triệu Kitô hữu đang sống trong đe dọa, và hàng ngàn đã phải trả giá máu vì đã khước từ việc từ bỏ đức tin. Trong Giáo Hội Công Giáo, nơi viễn kiến trí thức, đà chính trị và các ưu tiên mục vụ càng ngày càng xuất hiện nhiều hơn ở Nam Bán Cầu, tự do tôn giáo sẽ là vấn đề thuộc ưu tiên hàng đầu.
Công lý cho người nghèo quan trọng ra sao đối với Giáo Hội Công Giáo?
Dù giáo huấn xã hội Công Giáo, từ lâu, vốn cổ vũ phương thức đặc biệt, gọi là “ưu tiên chọn người nghèo”, điều chắc là phương thức này vẫn sẽ là quan tâm hàng đầu trong một Giáo Hội, nơi các nhà lãnh đạo xuất thân từ các vùng trên thế giới mà đa số những người bị loại ra ngoài các cơ hội mới do việc hoàn cầu hóa đem là người Công Giáo. Một tài liệu do Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lý và Hòa Bình của Tòa Thánh công bố năm 2011 đã minh họa được thứ suy nghĩ sẽ được mở rộng trong trí tưởng tượng của Giáo Hội về chính trị.
Nói một cách ngắn gọn, tài liệu trên minh nhiên bác bỏ các chính sách kinh tế “tân cấp tiến” và cũng minh nhiên chấp nhận “một thẩm quyền chính trị có tính thế giới thực sự” để điều hòa nền kinh tế hoàn cầu, một nền kinh tế không bị thống trị bởi các đại cường như Hiệp Chúng Quốc. Như một biện pháp tiên khởi, tài liệu này kêu gọi lập ra một định chế, hay một vài định chế, để đảm nhiệm vai trò một “ngân hàng trung ương của thế giới”. Tài liệu cũng đề nghị một thứ “thuế Tôbin” đánh trên các giao dịch tài chánh, công chúng cung cấp vốn cho các ngân hàng, và có nhiều qui định hơn đối với các “thị trường trong bóng tối”.
Ngôn từ trên có chỗ mạnh mẽ đến độ một số người thực sự nghĩ rằng Tòa Thánh gián tiếp ủng hộ phong trào Chiếm Đóng Wall Street: “Điều gì đã đẩy thế giới vào một hướng đi đầy vấn đề như thế đối với nền kinh tế của nó và đối với hòa bình? Trước nhất và trên hết, đó là chủ nghĩa cấp tiến kinh tế, một chủ nghĩa bác bỏ mọi qui định và kiểm soát… Hệ thống tư duy kinh tế nào tiên thiên đặt ra các định luật để điều hành thị trường và phát triển kinh tế, mà không đo lường chúng với thực tại, có nguy cơ trở thành khí cụ phụ thuộc quyền lợi của các quốc gia, trên thực tế, đang nắm thế thượng phong về kinh tế và tài chánh”.
Điều thích đáng là giới chức chịu trách nhiệm đối với tài liệu trên là một người Châu Phi, Đức Hồng Y Peter Turkson của Ghana, vì tài liệu này trình bầy rõ ràng các yếu tố chủ chốt của điều ta gần như có thể gọi là một “đồng thuận Châu Phi” trong Đạo Công Giáo. Một cách đo lường tầm quan trọng của nó là dấu chỉ cho thấy việc chuyển dịch dân số diễn ra từ lâu trong Giáo Hội, với việc trung tâm trọng lực đã từ Bắc chuyển xuống Nam, cũng đang được cảm nhận tại Rôma.
Về các vấn đề luân lý tính dục và các “cuộc chiến văn hóa”, người Công Giáo ở Nam Bán Cầu, nói chung, rất bảo thủ so với người Châu Âu và Châu Mỹ: họ chống đối hôn nhân đồng tính, chống phá thai, gắn bó với gia đình truyền thống. Tuy nhiên, khi chuyển qua các câu truyện về chính sách kinh tế và địa chính trị, thì ý kiến Công Giáo tại các nước đang mở mang thường lại hết sức cấp tiến. Các giám mục, linh mục, tu sĩ và cả giáo dân Nam Bán Cầu thường:
• Nghi ngờ chủ nghĩa tư bản thị trường và việc hoàn cầu hóa phi qui định;
• Lo sợ ảnh hưởng có tính hoàn cầu của Hoa Kỳ;
• Ủng hộ Liên Hiệp Quốc và hình thức cai trị hoàn cầu;
• Ủng hộ vai trò mạnh mẽ của nhà nước trong nền kinh tế.
Người ta có thể tranh luận các giá trị của các tri cảm trên hay các động thái chính sách có thể từ chúng phát sinh ra. Tuy nhiên, về phương diện mô tả, chúng đã nói lên quan điểm nền tảng của các nhà lãnh đạo Công Giáo càng ngày càng có nhiều tiếng nói quyết định do các thực tại mới về dân số và văn hóa trong Giáo Hội của thế kỷ 21 đem lại. Nói cách khác, tài liệu của Tòa Thánh năm 2011 này không phải là tiếng vọng của chủ nghĩa xã hội Âu Châu đang chết dần nay được hâm nóng lại. Mà đúng hơn, nó là gợn sóng đầu tiên của làn sóng Phương Nam.
Giáo Hội có ưu tư trước “cuộc va chạm văn minh” với Hồi Giáo không?
Dĩ nhiên là có, và vì nhiều lý do hiển nhiên. Các cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng Chín là tiếng chuông cảnh tỉnh trước sự đe dọa của chủ nghĩa cực đoan duy Hồi Giáo, một chủ nghĩa đã có tầm cỡ hoàn cầu thực sự, ở một thập niên sau đó. Tại Nigeria, chẳng hạn, Boko Haram là một phong trào có vũ trang lấy tên từ một câu trong ngôn ngữ địa phương Hausa có nghĩa đại khái là “Cấm Tây Phương”. Thành lập năm 2001, Boko Haram bị tố cáo chịu trách nhiệm đối với 10,000 cái chết trong thập niên qua, trong đó có khoảng 620 cái chết trong sáu tháng đầu năm 2012. Nó chuyên tấn công các mục tiêu Kitô Giáo, kể cả các nhà thờ trong lúc đang cử hành phụng vụ Chúa Nhật.
Cuộc vận động với Hồi Giáo hiện khá rõ rệt ở mọi cấp bậc trong Giáo Hội Công Giáo. Thí dụ, trong số các hình ảnh mới đây về các vị giáo hoàng, hình ảnh Đức Bênêđíctô XVI đứng chung với một giáo sĩ Hồi Giáo ở Đền Xanh tại Istanbul năm 2006, mặt hướng về mihrab [hốc tường chỉ hướng Mecca] im lặng cầu nguyện, thường được xếp lên hàng đầu. Hồi còn là một thần học gia, Đức Hồng Y Joseph Ratzinger vốn cho biết ngài không ưa những buổi cầu nguyện liên tôn. Thành thử sự kiện ngài phải đi ngược lại quan điểm cá nhân trong những thời điểm như thế chứng tỏ ngài hết lòng dấn thân vào việc hòa giải với thế giới Hồi Giáo xiết bao.
Khi Đức Bênêđíctô được bầu làm giáo hoàng, nhiều quan sát viên tiên đoán rằng ngài sẽ là vị giáo hoàng “va chạm văn minh”, theo kiểu nói của Samuel Huntington; họ cho rằng ngài sẽ liên kết Phương Tây Kitô Giáo chống lại sự đe dọa duy Hồi Giáo. Bài diễn văn ngài đọc tại Regensburg, Đức, hồi tháng Chín năm 2006 xem ra đã đi theo hướng này, tạo thuốc súng cho nhiều cuộc phản đối khắp thế giới Hồi Giáo, vì đã liên kết Muhammad với bạo lực. Thế nhưng, từ ngày có cuộc tranh cãi ấy, Đức Bênêđíctô XVI đã gặp gỡ người Hồi Giáo ở rất nhiều dịp, mở ra nhiều cuộc đối thoại mới, và đã thực hiện nhiều chuyến đi thành công tới các quốc gia Hồi Giáo. Cả Đức Giáo Hoàng lẫn các nhà lãnh đạo Công Giáo cao cấp khác đều không bỏ các ưu tư của các ngài về bạo lực và thiếu khoan dung đối với các nhóm thiểu số tôn giáo tại một số quốc gia Hồi Giáo, những cuộc tranh cãi chắc chắn vẫn sẽ tiếp tục phát sinh nhiều đau lòng có tính liên tôn trong thế kỷ 21. Thế nhưng, bất chấp những điểm này, điều cũng quá rõ ràng là hòa dịu với Hồi Giáo là ưu tiên liên tôn hàng đầu của triều giáo hoàng Bênêđíctô XVI, và của Giáo Hội Công Giáo đầu thế kỷ 21.
Ở cốt lõi viễn kiến của Đức Bênêđíctô là điều chính ngài mô tả là “liên minh văn minh”, trong cuộc viếng thăm Jordan hồi tháng Năm năm 2009, cuộc du hành đầu tiên của ngài tới một quốc gia đa số theo Hồi Giáo. Lối mô tả của ngài khéo léo ở chỗ đã nhại theo kiểu nói “va chạm văn minh” của Huntington. Suy nghĩ của ngài là: các Kitô hữu và người Hồi Giáo nên chung vai sát cánh để bảo vệ các giá trị chung như quyền sống, chăm sóc người nghèo, chống đối chiến tranh và thối nát, và một vai trò mạnh mẽ cho tôn giáo trong sinh hoạt công cộng.
Trong cuộc phỏng vấn dài in thành sách năm 2010 với một nhà báo Đức, Đức Bênêđíctô được hỏi xem ngài đã từ bỏ ý niệm thời trung cổ cho rằng các vị giáo hoàng có nhiệm vụ phải cứu Phương Tây khỏi phong trào Hồi Giáo hoá. Ngài đã trả lời: “Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thế giới hoàn toàn khác, trong đó, chiến tuyến đã được vạch khác hẳn. … Trong thế giới này, chủ nghĩa duy tục triệt để đứng ở một bên, còn vấn đề Thiên Chúa, dưới nhiều hình thức khác nhau, đứng ở bên kia”.
Ý niệm người Kitô hữu và người Hồi Giáo là liên minh tự nhiên trong trận chiến chống chủ nghĩa duy tục triệt để không phải chỉ là chuyện tưởng tượng mà thôi. Nhiều nhà phân tích tin rằng cơ sở tự nhiên của giai cấp trung lưu Hồi Giáo Âu Châu cuối cùng sẽ là các đảng phái trung hữu (center-right) bảo vệ nền luân lý truyền thống và vai trò mạnh mẽ của tôn giáo trong sinh hoạt công cộng. Đến một mức nào đó, tương lai này nay đã xuất hiện ở Đức, nơi, một cách khá nghịch lý, một nhóm nhỏ nhưng đang lớn dần các người Hồi Giáo trở thành các đảng viên Dân Chủ Thiên Chúa Giáo. Ở Phi Luật Tân, có lúc, đảng cầm quyền trong nước có tên là Dân Chủ Kitô Giáo Hồi Giáo (Christian Muslim Democrats), một liên minh các đảng trung hữu gồm cả xu hướng Kitô Giáo lẫn Hồi Giáo. Một số chuyên viên coi trải nghệm này như chứng cớ chứng minh rằng sự đối kháng có thể được chuyển đổi thành sự hợp tác trong những điều kiện thuận lợi. Dù sao, vì tất cả điều may cũng như điều rủi, ít ai hoài nghi rằng mối tương quan với Hồi Giáo và với các xã hội Hồi Giáo, tốt xấu gì, cũng vẫn sẽ là quan tâm chính trị và văn hóa hàng đầu của Đạo Công Giáo trong một tương lai có thể dự đoán được.
Còn tiếp
Giáo Hội Công Giáo dành cho việc bảo vệ sự sống con người, và do đó, chống đối phá thai, an tử, và dùng tế bào gốc phôi thai để nghiên cứu một vị trí ưu tiên rõ ràng trong các quan tâm chính trị của mình, song song với việc bảo vệ gia đình truyền thống, đặt căn bản trên sự kết hợp suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà, và do đó, chống đối hôn nhân đồng tính. Các nhà lãnh đạo Công Giáo thường so sánh việc tranh đấu cho sự sống với phong trào hủy bỏ nạn nô lệ ở thế kỷ 19; các ngài cho rằng Giáo Hội đã không ở tuyến đầu trong việc xác định các vấn đề nhân quyền của thời ấy, nên các ngài thề hứa lần này sẽ không mắc cùng một sai lầm như thế nữa.
Đức Hồng Y Timothy Dolan của New York, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, năm 2009, nói rằng “Về phương diện lịch sử, tôi nghĩ ta hoàn toàn có lý khi so sánh vấn đề phò sự sống với vấn đề nô lệ. Ngày nay, nhìn lại các giám mục Hoa kỳ đối với nạn nô lệ, chúng ta phải mắc cỡ, vì lúc ấy mình đã không tiên tri chút nào. Chỉ có một hay hai trường hợp trừ, không giám mục nào ở thế kỷ 19 dám đứng lên mà nói ‘điều này xấu ngay trong nội tại và chúng ta phải chấm dứt nó ngay bây giờ’. Có lúc, các vị còn viết thế này ‘chúng tôi xin để vấn đề này cho các người thế gian’. Như thể chúng ta đang ở Sao Hỏa không bằng! Chúng ta nhìn lại mà mắc cỡ về những điều như thế, và mắc cỡ là đúng, nhưng nhất định chúng ta sẽ không như thế nữa đối với vấn đề phá thai”.
Giáo Hội Công Giáo ở Hoa Kỳ đôi khi bị coi là phò sự sống một cách hăng hái hơn ở Âu Châu, nơi các thập tự chinh Công Giáo hàng đầu nằm ở chỗ khác: như bảo vệ tôn giáo chống lại phong trào duy tục trong Liên Hiệp Âu Châu, chẳng hạn, hay mối tương quan với Hồi Giáo. Ngay những người Âu Châu bảo thủ nhất đôi khi cũng tố cáo các đồng đạo Hoa Kỳ của họ là đã thiển cận, chỉ chú tâm vào vấn đề phá thai. Một phần, sự khác nhau này phản ảnh bầu khí chính trị. Phá thai là vấn đề phần lớn đã lắng dịu ở hầu hết các nước ở Âu Châu, thành thử người Công Giáo Âu Châu có xu hướng đầu tư năng lực của họ vào các vấn đề khác. Tuy nhiên, ở Hoa Kỳ, cuộc tranh luận về phá thai vẫn còn đang sôi nổi, nên Giáo Hội cảm thấy có nghĩa vụ phải lên tiếng.
Phải chăng lập trường phò sự sống này đã được khắc cố định vào đá?
Các giá trị thì nhất định đã được khắc cố định vào đá rồi, nhưng bối cảnh chính trị thì thay đổi. Trong tương lai, điều chắc là việc chống đối tân thế giới kỹ thuật sinh học (biotechnology) đầy dạn sĩ sẽ phát xuất như nhau từ phe tả thế tục và từ phe hữu tôn giáo, kể cả các cuộc tranh luận về việc sinh vô tính (cloning), chép hình di truyền (genetic profiling) và các “chimeras”, tức các lai giống nhân tạo giữa người và thú vật. Thực tế này hiện nay đã khá rõ rõ ràng tại Âu Châu, nơi việc sử dụng các thực phẩm thay đổi gen (genetically modified foods), trong căn bản, đã bị chặn đứng bởi phe tả chính trị, chứ không phải phe hữu. Một loạt các vấn đề kỹ thuật sinh học khác đang ló dạng cũng có một phản ứng tương tự. Jeremy Rifkin, chẳng hạn, thường đứng chung hàng với các giới cấp tiến về môi trường; ông vốn là cố vấn cho Romano Prodi, một cựu thủ tướng Ý trung dung thiên tả (left-of-center). Rifkin cũng là người phê bình thời đại kỹ thuật sinh học gay gắt nhất, đến độ có biệt danh, do tờ Times đặt cho, là “người bị ghét nhất trong khoa học”. Như trong lãnh vực thực phẩm biến chế gen chẳng hạn, Rifkin nói rằng chúng đe dọa nhân loại bằng một “hình thức tận diệt từng chút nhưng gây chết chóc y như việc hỏa thiêu hạch nhân”.
Rifkin nhìn nhận rằng sự phân loại tả hữu ngày trước nay đang biến dạng. Ông viết: “thời đại kỹ thuật sinh học sẽ đem theo nó cả một sự đồng hình đồng dạng của nhiều viễn kiến chính trị và lực lượng xã hội khác nhau, y hệt như thời đại kỹ nghệ đã làm. Cuộc tranh luận hiện nay về việc sinh vô tính các bào thai người… đang tháo gỡ các liên minh và phạm trù cũ. Đây chính là lúc bắt đầu một nền chính trị sinh học mới”.
Trong phần lớn các vấn đề kỹ thuật sinh học mới, Giáo Hội Công Giáo có lẽ sẽ đứng về phe chống đối, trên cơ sở tôn trọng sự sống cũng như sự lo lắng cho rằng mục tiêu tối hậu của các kỹ thuật này là phá hủy tính độc đáo của con người. Khi bảo vệ các giá trị này, các giám mục và các nhà tranh đấu phò sự sống rất có thể mỗi lúc mỗi thấy mình phải đồng hành với các đồng minh không quen thuộc của phe tả thế tục. Ngay trong điều có lẽ được coi như một trong các phép lạ hàng đầu của khoa học di truyền, Giáo Hội và ít nhất một số thành phần của phe tả, một lần nữa, thấy mình quen biết nhau đến có thể chuyện trò với nhau được.
Có phải việc Công Giáo chống hôn nhân đồng tính cuối cùng cũng đã phát sinh ra tranh chấp không?
Dám chắc như thế. Các cơ quan bác ái Công Giáo ở Boston, chẳng hạn, hồi tháng Tư năm 2006, buộc phải ngưng việc cung cấp các dịch vụ nhận con nuôi sau khi không được miễn trừ việc luật lệ tiểu bang đòi các cơ sở nhận tài trợ công cộng phải phục vụ các cặp đồng tính. Ở Illinois, năm 2011, Tiểu Bang rút việc tài trợ công cộng dành cho các dịch vụ nhận con nuôi khỏi các cơ sở Công Giáo vì các cơ sở này từ chối làm việc với các cặp đồng tính, thực tế đẩy Giáo Hội ra khỏi nghiệp vụ nhận con nuôi. Cũng một sự kiện như thế đã xẩy ra tại San Francisco và Thủ Đô Washington, và thứ áp lực này không chỉ có ở Hoa Kỳ mà thôi. Tháng Hai năm 2007, chính phủ Anh tuyên bố các cơ sở nhận con nuôi tư nhân nào từ khước phục vụ các cặp đồng tính sẽ không còn nhận được tiền bồi hoàn cho các dịch vụ của họ nữa, kết quả khiến các cơ quan bác ái Công Giáo tại Anh mất hơn 9 triệu dollars tiền bồi hoàn.
Mà chuyện đồng tính luyến ái cũng không phải là mặt trận duy nhất trong cuộc va chạm càng ngày càng gia tăng giữa nhà nước và Giáo Hội. Năm 2011, chương trình Phục Vụ Di Dân và Tị Nạn của các giám mục Hoa Kỳ mất một khế ước với chính phủ liên bang nhằm trợ giúp các nạn nhân của nạn buôn người ở ngoại quốc, một khế ước mang lại cho cơ quan này khoảng 14 triệu dollars tài trợ công cộng giữa các năm 2006 và 2011. Bộ Y Tế và Dịch Vụ Nhân Bản quyết định không tái tục khế ước, phần lớn vì cơ quan này từ khước việc cung cấp các dịch vụ phá thai hay ngừa thai. Hóa ra, đó mới chỉ là khúc dạo đầu cho một cuộc tranh luận gay gắt hơn nhiều giữa các giám mục và chính phủ Obama về các qui định để thi hành cuộc cải tổ chăm sóc y tế, đòi phải bảo hiểm ngừa thai và dùng thuốc bị Giáo Hội coi như các hình thức phá thai, mở màn cho cả một cảnh chua cay chính trị lẫn hàng loạt vụ kiện vẫn chưa được giải quyết.
Một số nhà lãnh đạo Công Giáo tin rằng vì các chuẩn mực xã hội ở Tây Phương đang di chuyển khỏi các xác tín luân lý của Giáo Hội, nên tương lai chắc chắn sẽ đem lại nhiều thù nghịch lớn lao hơn nữa. Năm 2010, Đức Hồng Y Francis George nói rằng “tôi hy vọng được chết trên giường, vị kế nhiệm của tôi sẽ chết trong tù, còn vị kế nhiệm của ngài sẽ chết như một tử đạo ở công trường”. Trong cái năng động tính chính trị ở Tây Phương, các lập trường của Giáo Hội về các vấn đề sự sống xem ra kết cục sẽ đẩy Giáo Hội vào thế phải liên minh trên thực tế (de facto) nhiều hơn với phe hữu chính trị, khiến Giáo Hội khó duy trì được việc tự coi mình là super partes, tức đứng trên mọi phe phái.
Tại sao Giáo Hội nói nhiều như thế về tự do tôn giáo?
Việc bảo vệ tự do tôn giáo dường như kết cục sẽ trở thành quan tâm xã hội và chính trị hàng đầu của Giáo Hội Công Giáo trong thế kỷ 21. Ta thấy sự xôn xao quanh vấn đề này ở khắp nơi. Khắp Trung Đông, nỗi lo sợ trước hậu quả của Mùa Xuân Ả Rập đã ám ảnh cộng đồng Kitô Giáo tuy nhỏ nhưng có tầm quan trọng cao về biểu tượng này. Ở Hoa Kỳ, các giám mục Công Giáo đã phát động một ủy ban đặc nhiệm mới về tự do tôn giáo, sẵn sàng cho một mùa tranh tụng cao gồm nhiều tranh chấp giữa Giáo Hội và nhà nước. Từ Vatican, Đức Hồng Y Kurt Koch, người Thụy Sĩ, đã đề xuất ý niệm “đại kết tử đạo” làm căn bản mới cho việc hợp nhất Kitô Giáo, phản ảnh các thực tại bách hại Kitô Giáo trên thế giới. Mẫu số chung là người Kitô hữu tin rằng quyền tự do của họ đang lâm nguy, dưới một hình thức nào đó.
Hai chuyển động lịch sử sâu xa đang đẩy vấn đề tự do tôn giáo lên quan tâm hàng đầu của Giáo Hội Công Giáo.
Chuyển động thứ nhất là việc Kitô Giáo ở Tây Phương đang quá độ từ khối đa số tạo nền cho văn hóa trở thành một nền văn hóa phụ (subculture). Sự chuyền dịch này đã diễn ra từ lâu, song song với diễn trình tục hóa, và được Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI lột tả khi ngài cho rằng ở Tây Phương hiện nay, Kitô Giáo phải sống trong thân phận “một khối thiểu số có óc sáng tạo”. Trong tư cách một nền văn hóa phụ, Kitô giáo không thể coi lòng tốt của nhà nước hoặc của xã hội rộng lớn bên ngoài kia là chuyện đương nhiên nữa. Đối với người Công Giáo, việc xói mòn lòng kính trọng theo truyền thống mà Giáo Hội vốn được hưởng từ các chính khách, các triều đình, các phương tiện truyền thông, và các tác nhân tạo văn hóa khác, nay đã bị cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục làm cho gia tốc. Về phương diện xã hội học, các nền văn hóa phụ có xu hướng loay hoay lo duy trì bản sắc riêng biệt của mình, và điều này không có chi là phi lý cả. Họ rất cẩn trọng, không để cho bản sắc này bị xâm lấn, nhất là từ phía nhà nước. Việc này mô tả đầy đủ điều đang diễn ra ngày nay ở cấp lãnh đạo của Giáo Hội Công Giáo: các ngài coi việc nói lên các quan tâm về tự do tôn giáo như ưu tiên hàng đầu.
Chuyển động thứ hai là việc xuất hiện một Giáo Hội thực sự có tính hoàn cầu, một Giáo Hội trong đó, 2 phần 3 dân số Công Giáo của thế giới đang sống tại Nam Bán Cầu; và tỷ lệ này sẽ tăng tới 3 phần 4 vào giữa thế kỷ này. Sự chuyển dịch về dân số này càng diễn biến, người ta càng hiểu rõ rằng phần lớn người Công Giáo sẽ phải sống tại các khu xóm nơi họ không còn coi tự do tôn giáo là chuyện đương nhiên được nữa. Tại những nơi này, các đe dọa đối với tự do tôn giáo không phải là chỉ thị bảo hiểm nữa hay “các miễn trừ cấp bộ trưởng” đối với các luật lệ liên bang về thuê mướn và sa thải công nhân nữa. Thay vào đó, là các đe dọa tới chính mạng sống hay tứ chi, khi các tín hữu cầm bằng mạng sống trong tay mỗi lần đi thờ phượng, hay mở kinh doanh buôn bán, hoặc ra ngoài phố để làm những việc này.
Thực vậy, đầu thế kỷ 21, người ta đã mục kích sự xuất hiện cả một tân thế hệ các vị tử đạo Kitô Giáo. Trợ Giúp Các Giáo Hội Túng Thiếu, một cơ quan bác ái Công Giáo quốc tế, ước lượng mỗi năm, có khoảng 150,000 Kitô hữu bị giết do lòng thù ghét đức tin hay vì các việc bác ái được thúc đẩy bởi đức tin. Hội Nhân Quyền Quốc Tế, một cơ quan quan sát thế tục đặt trụ sở tại Frankfurt, Đức Quốc, ước lượng rằng khoảng 80 phần trăm mọi hành vi kỳ thị tôn giáo trên thế giới hiện nay là nhằm vào các Kitô hữu. Điển hình đau lòng nhất có lẽ là Iraq, nơi đã mất khoảng 2 phần 3 dân số Kitô Giáo kể từ cuộc chiến tranh vùng Vịnh lần đầu tiên năm 1991. Phần lớn việc mất mát này là do bạo lực và bất ổn giáng xuống mọi người dân Iraq, nhưng không ai chối cãi rằng việc lan tràn các nhóm duy Hồi Giáo cực đoan và các vụ tấn công liên tiếp của chúng vào các nhà thờ, cơ sở làm ăn và các cá nhân Kitô Giáo cũng là sức đẩy mạnh mẽ tạo ra cuộc xuất hành đau lòng này.
Từ Trung Đông tới bán đảo Ấn Độ, từ các miền của Hạ Sahara Châu Phi tới các vùng khác nhau của Đông Á Châu, hàng triệu Kitô hữu đang sống trong đe dọa, và hàng ngàn đã phải trả giá máu vì đã khước từ việc từ bỏ đức tin. Trong Giáo Hội Công Giáo, nơi viễn kiến trí thức, đà chính trị và các ưu tiên mục vụ càng ngày càng xuất hiện nhiều hơn ở Nam Bán Cầu, tự do tôn giáo sẽ là vấn đề thuộc ưu tiên hàng đầu.
Công lý cho người nghèo quan trọng ra sao đối với Giáo Hội Công Giáo?
Dù giáo huấn xã hội Công Giáo, từ lâu, vốn cổ vũ phương thức đặc biệt, gọi là “ưu tiên chọn người nghèo”, điều chắc là phương thức này vẫn sẽ là quan tâm hàng đầu trong một Giáo Hội, nơi các nhà lãnh đạo xuất thân từ các vùng trên thế giới mà đa số những người bị loại ra ngoài các cơ hội mới do việc hoàn cầu hóa đem là người Công Giáo. Một tài liệu do Hội Đồng Giáo Hoàng về Công Lý và Hòa Bình của Tòa Thánh công bố năm 2011 đã minh họa được thứ suy nghĩ sẽ được mở rộng trong trí tưởng tượng của Giáo Hội về chính trị.
Nói một cách ngắn gọn, tài liệu trên minh nhiên bác bỏ các chính sách kinh tế “tân cấp tiến” và cũng minh nhiên chấp nhận “một thẩm quyền chính trị có tính thế giới thực sự” để điều hòa nền kinh tế hoàn cầu, một nền kinh tế không bị thống trị bởi các đại cường như Hiệp Chúng Quốc. Như một biện pháp tiên khởi, tài liệu này kêu gọi lập ra một định chế, hay một vài định chế, để đảm nhiệm vai trò một “ngân hàng trung ương của thế giới”. Tài liệu cũng đề nghị một thứ “thuế Tôbin” đánh trên các giao dịch tài chánh, công chúng cung cấp vốn cho các ngân hàng, và có nhiều qui định hơn đối với các “thị trường trong bóng tối”.
Ngôn từ trên có chỗ mạnh mẽ đến độ một số người thực sự nghĩ rằng Tòa Thánh gián tiếp ủng hộ phong trào Chiếm Đóng Wall Street: “Điều gì đã đẩy thế giới vào một hướng đi đầy vấn đề như thế đối với nền kinh tế của nó và đối với hòa bình? Trước nhất và trên hết, đó là chủ nghĩa cấp tiến kinh tế, một chủ nghĩa bác bỏ mọi qui định và kiểm soát… Hệ thống tư duy kinh tế nào tiên thiên đặt ra các định luật để điều hành thị trường và phát triển kinh tế, mà không đo lường chúng với thực tại, có nguy cơ trở thành khí cụ phụ thuộc quyền lợi của các quốc gia, trên thực tế, đang nắm thế thượng phong về kinh tế và tài chánh”.
Điều thích đáng là giới chức chịu trách nhiệm đối với tài liệu trên là một người Châu Phi, Đức Hồng Y Peter Turkson của Ghana, vì tài liệu này trình bầy rõ ràng các yếu tố chủ chốt của điều ta gần như có thể gọi là một “đồng thuận Châu Phi” trong Đạo Công Giáo. Một cách đo lường tầm quan trọng của nó là dấu chỉ cho thấy việc chuyển dịch dân số diễn ra từ lâu trong Giáo Hội, với việc trung tâm trọng lực đã từ Bắc chuyển xuống Nam, cũng đang được cảm nhận tại Rôma.
Về các vấn đề luân lý tính dục và các “cuộc chiến văn hóa”, người Công Giáo ở Nam Bán Cầu, nói chung, rất bảo thủ so với người Châu Âu và Châu Mỹ: họ chống đối hôn nhân đồng tính, chống phá thai, gắn bó với gia đình truyền thống. Tuy nhiên, khi chuyển qua các câu truyện về chính sách kinh tế và địa chính trị, thì ý kiến Công Giáo tại các nước đang mở mang thường lại hết sức cấp tiến. Các giám mục, linh mục, tu sĩ và cả giáo dân Nam Bán Cầu thường:
• Nghi ngờ chủ nghĩa tư bản thị trường và việc hoàn cầu hóa phi qui định;
• Lo sợ ảnh hưởng có tính hoàn cầu của Hoa Kỳ;
• Ủng hộ Liên Hiệp Quốc và hình thức cai trị hoàn cầu;
• Ủng hộ vai trò mạnh mẽ của nhà nước trong nền kinh tế.
Người ta có thể tranh luận các giá trị của các tri cảm trên hay các động thái chính sách có thể từ chúng phát sinh ra. Tuy nhiên, về phương diện mô tả, chúng đã nói lên quan điểm nền tảng của các nhà lãnh đạo Công Giáo càng ngày càng có nhiều tiếng nói quyết định do các thực tại mới về dân số và văn hóa trong Giáo Hội của thế kỷ 21 đem lại. Nói cách khác, tài liệu của Tòa Thánh năm 2011 này không phải là tiếng vọng của chủ nghĩa xã hội Âu Châu đang chết dần nay được hâm nóng lại. Mà đúng hơn, nó là gợn sóng đầu tiên của làn sóng Phương Nam.
Giáo Hội có ưu tư trước “cuộc va chạm văn minh” với Hồi Giáo không?
Dĩ nhiên là có, và vì nhiều lý do hiển nhiên. Các cuộc tấn công khủng bố ngày 11 tháng Chín là tiếng chuông cảnh tỉnh trước sự đe dọa của chủ nghĩa cực đoan duy Hồi Giáo, một chủ nghĩa đã có tầm cỡ hoàn cầu thực sự, ở một thập niên sau đó. Tại Nigeria, chẳng hạn, Boko Haram là một phong trào có vũ trang lấy tên từ một câu trong ngôn ngữ địa phương Hausa có nghĩa đại khái là “Cấm Tây Phương”. Thành lập năm 2001, Boko Haram bị tố cáo chịu trách nhiệm đối với 10,000 cái chết trong thập niên qua, trong đó có khoảng 620 cái chết trong sáu tháng đầu năm 2012. Nó chuyên tấn công các mục tiêu Kitô Giáo, kể cả các nhà thờ trong lúc đang cử hành phụng vụ Chúa Nhật.
Cuộc vận động với Hồi Giáo hiện khá rõ rệt ở mọi cấp bậc trong Giáo Hội Công Giáo. Thí dụ, trong số các hình ảnh mới đây về các vị giáo hoàng, hình ảnh Đức Bênêđíctô XVI đứng chung với một giáo sĩ Hồi Giáo ở Đền Xanh tại Istanbul năm 2006, mặt hướng về mihrab [hốc tường chỉ hướng Mecca] im lặng cầu nguyện, thường được xếp lên hàng đầu. Hồi còn là một thần học gia, Đức Hồng Y Joseph Ratzinger vốn cho biết ngài không ưa những buổi cầu nguyện liên tôn. Thành thử sự kiện ngài phải đi ngược lại quan điểm cá nhân trong những thời điểm như thế chứng tỏ ngài hết lòng dấn thân vào việc hòa giải với thế giới Hồi Giáo xiết bao.
Khi Đức Bênêđíctô được bầu làm giáo hoàng, nhiều quan sát viên tiên đoán rằng ngài sẽ là vị giáo hoàng “va chạm văn minh”, theo kiểu nói của Samuel Huntington; họ cho rằng ngài sẽ liên kết Phương Tây Kitô Giáo chống lại sự đe dọa duy Hồi Giáo. Bài diễn văn ngài đọc tại Regensburg, Đức, hồi tháng Chín năm 2006 xem ra đã đi theo hướng này, tạo thuốc súng cho nhiều cuộc phản đối khắp thế giới Hồi Giáo, vì đã liên kết Muhammad với bạo lực. Thế nhưng, từ ngày có cuộc tranh cãi ấy, Đức Bênêđíctô XVI đã gặp gỡ người Hồi Giáo ở rất nhiều dịp, mở ra nhiều cuộc đối thoại mới, và đã thực hiện nhiều chuyến đi thành công tới các quốc gia Hồi Giáo. Cả Đức Giáo Hoàng lẫn các nhà lãnh đạo Công Giáo cao cấp khác đều không bỏ các ưu tư của các ngài về bạo lực và thiếu khoan dung đối với các nhóm thiểu số tôn giáo tại một số quốc gia Hồi Giáo, những cuộc tranh cãi chắc chắn vẫn sẽ tiếp tục phát sinh nhiều đau lòng có tính liên tôn trong thế kỷ 21. Thế nhưng, bất chấp những điểm này, điều cũng quá rõ ràng là hòa dịu với Hồi Giáo là ưu tiên liên tôn hàng đầu của triều giáo hoàng Bênêđíctô XVI, và của Giáo Hội Công Giáo đầu thế kỷ 21.
Ở cốt lõi viễn kiến của Đức Bênêđíctô là điều chính ngài mô tả là “liên minh văn minh”, trong cuộc viếng thăm Jordan hồi tháng Năm năm 2009, cuộc du hành đầu tiên của ngài tới một quốc gia đa số theo Hồi Giáo. Lối mô tả của ngài khéo léo ở chỗ đã nhại theo kiểu nói “va chạm văn minh” của Huntington. Suy nghĩ của ngài là: các Kitô hữu và người Hồi Giáo nên chung vai sát cánh để bảo vệ các giá trị chung như quyền sống, chăm sóc người nghèo, chống đối chiến tranh và thối nát, và một vai trò mạnh mẽ cho tôn giáo trong sinh hoạt công cộng.
Trong cuộc phỏng vấn dài in thành sách năm 2010 với một nhà báo Đức, Đức Bênêđíctô được hỏi xem ngài đã từ bỏ ý niệm thời trung cổ cho rằng các vị giáo hoàng có nhiệm vụ phải cứu Phương Tây khỏi phong trào Hồi Giáo hoá. Ngài đã trả lời: “Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thế giới hoàn toàn khác, trong đó, chiến tuyến đã được vạch khác hẳn. … Trong thế giới này, chủ nghĩa duy tục triệt để đứng ở một bên, còn vấn đề Thiên Chúa, dưới nhiều hình thức khác nhau, đứng ở bên kia”.
Ý niệm người Kitô hữu và người Hồi Giáo là liên minh tự nhiên trong trận chiến chống chủ nghĩa duy tục triệt để không phải chỉ là chuyện tưởng tượng mà thôi. Nhiều nhà phân tích tin rằng cơ sở tự nhiên của giai cấp trung lưu Hồi Giáo Âu Châu cuối cùng sẽ là các đảng phái trung hữu (center-right) bảo vệ nền luân lý truyền thống và vai trò mạnh mẽ của tôn giáo trong sinh hoạt công cộng. Đến một mức nào đó, tương lai này nay đã xuất hiện ở Đức, nơi, một cách khá nghịch lý, một nhóm nhỏ nhưng đang lớn dần các người Hồi Giáo trở thành các đảng viên Dân Chủ Thiên Chúa Giáo. Ở Phi Luật Tân, có lúc, đảng cầm quyền trong nước có tên là Dân Chủ Kitô Giáo Hồi Giáo (Christian Muslim Democrats), một liên minh các đảng trung hữu gồm cả xu hướng Kitô Giáo lẫn Hồi Giáo. Một số chuyên viên coi trải nghệm này như chứng cớ chứng minh rằng sự đối kháng có thể được chuyển đổi thành sự hợp tác trong những điều kiện thuận lợi. Dù sao, vì tất cả điều may cũng như điều rủi, ít ai hoài nghi rằng mối tương quan với Hồi Giáo và với các xã hội Hồi Giáo, tốt xấu gì, cũng vẫn sẽ là quan tâm chính trị và văn hóa hàng đầu của Đạo Công Giáo trong một tương lai có thể dự đoán được.
Còn tiếp
Thứ Năm, 27 tháng 7, 2017
CUỘC TRANH LUẬN GIỮA VỊ HỒNG Y VÀ NHÀ VÔ THẦN : « ĐỨC TIN CÓ TƯƠNG THÍCH VỚI LÝ TRÍ KHÔNG ? »
CUỘC TRANH LUẬN GIỮA VỊ HỒNG Y VÀ NHÀ VÔ THẦN : « ĐỨC TIN CÓ TƯƠNG THÍCH VỚI LÝ TRÍ KHÔNG ? »
Ngày 21/9/2000, tại Nhà hát Quirino , ĐHY Josef Ratzinger, Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI tương lai, đã tranh luận với Paolo Flores d’Arcais, triết gia duy lý và là giám đốc tạp chí « MicroMega ». Đề tài : Đức tin có tương thích với lý trí không ?
Josef Ratzinger. Chúng tôi xác tín rằng con người cần biết Thiên Chúa, xác tín rằng chân lý đã tỏ hiện nơi Chúa Giêsu, và chân lý không phải là sở hữu riêng của bất cứ ai : nó phải được chia sẻ và được mọi người biết đến. Bởi thế, chúng tôi xác tín rằng vào giai đoạn này của lịch sử, vào thời điểm khủng hoảng tình cảm tôn giáo này, cả cuộc khủng hoảng của các nền văn hóa lớn nữa, điều quan trọng là chúng tôi không chỉ sống ở bên trong các xác tín và các căn tính của chúng tôi, nhưng chúng tôi còn phải mở ra cách đích thực cho những vấn nạn của những người khác nữa và, cách sẵn sàng và chân thành, chúng tôi nỗ lực làm cho người khác hiểu những gì tỏ ra hợp lý đối với chúng tôi và thậm chí là cần thiết cho con người. (…)
Paolo Flores d’Arcais. Là vô thần đơn giản có nghĩa là tin rằng mọi sự diễn ra ở đây, trong cuộc sống của chúng ta, hữu hạn và bấp bênh. Do đó, những giá trị mà ta chọn trong suốt cuộc đời này là quan trọng, cũng như sự mạch lạc giữa những giá trị được chọn lựa này và những lối hành xử của chúng ta. (…) Nếu đức tin của một người kitô hữu là đức tin của các thế hệ đầu tiên, thì nó được tóm tắt trong một câu (…) mà phản ảnh đúng tư tưởng của các thế hệ kitô hữu đầu tiên – và khái niệm này cũng rất rõ ràng nơi thánh Phaolô : « Credo quia absurdum » (« Tôi tin vì nó phi lý »), đức tin là một cớ vấp phạm (scandale) cho lý trí. Nếu đức tin là như thế, thì không thể có xung đột nào với người không tin. Bởi vì một đức tin thuộc loại này sẽ không bao giờ tìm cách áp đặt, nhưng nó chỉ sẽ yêu cầu người ta tôn trọng nó.
Nhưng nếu đức tin Công Giáo có tham vọng là bản tóm tắt và là cái hoàn thành của lý trí, của những gì đặc trưng nhất nơi con người, có tham vọng là tổng luận đích thực của lý trí và của nhân loại, thì nguy cơ không tránh khỏi rằng tiếp đến nó có cám dỗ áp đặt, nhất là xuyên qua bàn tay thế tục của Nhà Nước. Vì tất cả những ai xung đột với các giới luật của đức tin và nhất là với các hậu quả luân lý của nó, từ đó, cũng sẽ là ngược với lý trí và nhân loại. (…)
Josef Ratzinger. Tôi xác tín rằng các thế hệ kitô hữu đầu tiên của Kitô giáo đã không nghĩ đến đức tin bằng từ ngữ phi lý.
Quả đúng rằng thánh Phaolô nói đến « cớ vấp phạm », và chúng ta thấy rằng cớ vấp phạm tồn tại trong mọi thế hệ, bao hàm cả hôm nay. Nhưng đồng thời, ngài rao giảng tại Aréopage (Hội đồng bác học) : ngay giữa nền văn hóa và triết học Cổ Đại. Ngài bàn luận với các triết gia và, thậm chí, ngài trích dẫn họ. (…)
Do thái giáo đã có một vài trò và một vị trí rất quan trọng vào thời Cổ Đại, vì đức tin vào một vị Thiên Chúa Tạo Hóa độc nhất này rõ ràng xuất hiện như là một tôn giáo hữu lý, rất được nghiên cứu vào gian đoạn khủng hoảng các thần linh này. Tôn giáo này đã tự tỏ ra như là chân thật và xác thực, không được sáng chế bởi các triết gia nhưng thực sự được nảy sinh từ tâm hồn con người và ánh sáng của Thiên Chúa – và, đồng thời, hòa hợp sâu xa với các xác tín lý trí lúc đó. Những con người « được soi sáng » thời đó, tìm kiếm Thiên Chúa, đã không thỏa mãn nữa về các tôn giáo chính thức. Họ tìm kiếm một tôn giáo xác thực, phù hợp với lý trí chứ không chỉ một sự xây dựng của triết học.
Những con người này đã tạo nên một vòng xung quanh Hội đường. Ở đó, thánh Phaolô đã có thể rao giảng. Ngài đã thực sự xác tín rằng vị Thiên Chúa độc nhất này, Đấng đã nói với Abraham, đã tự tỏ mình trong Cựu Ước, đã tự biểu lộ và đã trở nên dễ gần gũi cho các dân tộc trên thế giới qua trung gian của Chúa Giêsu. Thánh Phaolô đã biết rằng ngài mang « cớ vấp phạm » cho Aréopage. Chúng ta biết việc loan báo sự phục sinh có thể tạo nên cớ vấp phạm là thế nào. Thế nhưng, ngài cũng đã xác tín rằng ngài không loan báo điều gì phi lý, mà đã chỉ có thể làm vừa lòng một số người, nhưng rằng ngài cũng là người mang một sứ điệp mà kêu gọi đến lý trí con người và nói với họ : hết thảy chúng ta đang tìm kiếm Thiên Chúa vào giai đoạn khủng hoảng này, chúng ta tìm kiếm một tôn giáo xác thực, không được phát minh và, mặt khác, phù hợp với lý trí của chúng ta.
Vả lại, trong bức thư thứ nhất của mình, thánh Phêrô đã nói rõ ràng : anh em phải luôn sẵn sàng « đưa ra lý do » (donner raison) cho niềm hy vọng của anh em, anh em phải luôn « apologein » (biện hộ), giải thích « logos » (lời, lý lẽ). Bởi thế, [các kitô hữu] phải sẵn sàng chứng mình « logos », ý nghĩa hữu lý sâu xa của những xác tín của họ. Về điểm này, dĩ nhiên tôi đồng ý với giáo sư Flores d’Arcais : người ta không được tìm cách áp đặt tất cả điều này. Người ta phải kêu gọi đến lương tâm và lý trí. Đó là cấp độc nhất mà có thể quyết định. Nghĩ rằng, nếu lý trí không sẵn sàng, thì chúng ta phải « giúp nó », với sự cộng tác của quyền lực Nhà Nước, tạo nên một tội thực sự, một sai lầm to lớn. (…)
Paolo Flores d’Arcais. Đối với các thế hệ kitô hữu đầu tiên, không phải lý trí thúc giục tin, nhưng là đức tin – ngay cả khi nó hết sức mâu thuẫn với lý trí, như nó đã tỏ ra đối với những người thời đó. Tôi nghĩ, Phaolô dùng một từ mà phải được hiểu theo nghĩa chặt của từ : « sự điên rồ » của thập giá. Những gì phân biệt Kitô giáo với Platon và với nhiều trường phái triết học, những gì làm nổi bật Kitô giáo, và Phaolô không ngừng lặp đi lặp lại, đó không chỉ là đức tin vào một Thiên Chúa độc nhất, đó còn là đức tin vào Chúa Giêsu-Kitô chết và phục sinh. (…)
Từ đó, nếu chúng ta không muốn giảm thiểu Kitô giáo thành một trong nhiều triết lý/tôn giáo thời đó, thì yếu tố chủ chốt, đó chính là sự điên rồ này đối với lý trí : sự điên rồ của thập giá, của sự phục sinh, sự kiện nhấn mạnh đến chủ đề sự phục sinh kẻ chết, sự phục sinh thân xác. Điều đó cho thấy rằng, nếu cần phải khẳng định đức tin như là một quyền, thì tuy nhiên, quyền này mâu thuẫn với lý trí.
Josef Ratzinger. Thánh Phaolô xác tín rằng đức tin Kitô giáo kêu gọi đến lý trí ; nhưng cũng xác tín rằng nó vượt lên trên tất cả những gì tỏ ra rõ ràng đối với lý trí. Bởi vì – ít ra như tôi hiểu thánh Phaolô – tình yêu nhập cuộc. Tình yêu mà không trái ngược với lý trí, nhưng vượt quá nó rất nhiều. Và vị Thiên Chúa này là « logos », như thánh Gioan cũng nói thế. Ngài là « logos » sáng tạo và Ngài là lời ; vì « logos » không chỉ là lý trí, đó cũng là một lý trí biết nói, biết tương quan, xích lại gần. Ở đây, chúng ta có một sự canh tân khái niệm lý trí, mà vượt quá chỉ là toán học, chỉ là hình học về hữu thể. (…)
Những gì được loan báo ở đây, đó là rằng « logos » này cũng là tình yêu, tình yêu thực sự thực hiện những điều điên rồ, vì xem ra phi lý rằng một vị Thiên Chúa, trong thân phận hạnh phúc đời đời, lại can thiệp cho thụ tạo thấp hèn này là con người và di lụy đến bản thân trong thế giới này cho đến cái chết. (…)
Paolo Flores d’Arcais. Nơi thánh Phaolô, nhiều lần người ta nhận thấy sự giả định theo đó lý trí có thể đạt tới Thiên Chúa. (…) Nhưng không bao giờ sự khẳng định theo đó đức tin vào một Chúa Kitô phục sinh, mà là nét đặc trưng của Kitô giáo, có thể được chứng minh bằng lý trí. Nếu đã không như thế, thì đức tin hẳn sẽ không phải là một ân huệ, nó hẳn là vừa tầm của lý luận của mỗi người. (…)
Thánh Augustinô sẽ là yếu tố nền tảng của truyền thống Kitô giáo tiếp theo. Với ngài, từ nay chúng ta rất xa với các thế hệ đầu tiên. Không phải là một sự ngẫu nhiên tình cờ nếu – than ôi – ngài cũng là vĩ nhân đầu tiên của Kitô giáo mà, trong sự đoạt tuyệt với một truyền thống (…), cho là cần thiết và đáng làm, trong phần cuối của cuộc đời của ngài – trong sự mâu thuẫn với phần đầu tiên (của cuộc đời của ngài) – rằng những xác tín và những cuộc hoán cải cần được « trợ giúp » bởi sự nghiêm khắc, như ngài nói, của sự can thiệp của bàn tay thế tục, mở ra một chương bi thảm mới trong lịch sử nhân loại. (…)
Josef Ratzinger. Tôi nghĩ rằng trong thế giới này có những giá trị mà hết thảy chúng ta đều chia sẻ, vô thần cũng như hữu thần. Tôi nghĩ thật hết sức quan trọng để thấy rằng, bất chấp sự chia rẽ sâu xa giữa đức tin, theo nghĩa đức tin Kitô giáo, và chủ nghĩa vô thần, chúng ta đang ở đây trên một mảnh đất mà chúng ta đều có trách nhiệm chung.
Chắc chắn nhà vô thần bị « sốc » trước việc chúng tôi đã nghĩ rằng, chung cuộc, những giá trị như thế là do bởi xác tín theo đó hữu thể nhân linh mang nơi mình một sứ điệp luân lý, rằng tự nó nó không phải là trung lập, và rằng điều đó ban cho chúng ta thiên hướng cho tình yêu và chống lại hận thù, cho chân lý và chống lại sự dối trá. Thiên hướng này là bẩm sinh đối với hữu thể và tùy thuộc vào chính nguồn gốc của nó, vào Thiên Chúa. Do đó, chúng tôi nghĩ rằng sự xác tín nhưng cũng là sự dấn thân cho các giá trị nhân loại và của phẩm giá con người cuối cùng tùy thuộc vào một sự hiện diện ẩn giấu.
(…) Dĩ nhiên thật khó (…) để phân biệt rõ giữa những giá trị đặc trưng Kitô giáo, mà người ta chỉ có thể chọn lựa nhờ tự do tôn giáo và không thể bị áp đặt, và những giá trị nền tảng của con người, mà chạm đến nền tảng của phẩm giá con người. Ở đây, Đức Giáo Hoàng [Gioan-Phaolô II] cũng hoàn toàn như tôi đều xác tín rằng phần đóng góp này không nên chỉ được thực hiện bởi người kitô hữu, bởi vì chính đặc tính thánh thiêng của mạng sống con người đang được nói đến ở đây, đó là quyền hiện hữu, mà vượt trên mọi quyền khác.
Paolo Flores d’Arcais. Kitô giáo cho rằng những chân lý của nó cũng là những chân lý tự nhiên. Không phải tất cả (chân lý), vì nó có những chân lý khác mà lý trí không thể đạt tới. Nhưng chắc chắn rằng « lý trí đúng đắn » không thể xung đột, không thể nói với chúng ta những điều khác với những gì đức tin Công giáo nói với chúng ta. Nếu nó (lý trí) đi đến những kết luận đối lập, thì điều đó có nghĩa rằng nó không phải là một lý trí đúng đắn, nhưng là một lý trí « loạn xạ », không hoạt động. (…) Chìa khóa của tất cả điều đó, đó là ý tưởng « luật bản nhiên », luật luân lý bản nhiên, mà hẳn đã được ghi khắc trong con người rồi, trong chính thực tại. Các luật bản nhiên hẳn là như những nhiễm sắc thể của vũ trụ và của thực tại. Do đó, vấn đề hẳn chỉ là, nhờ lý trí của chúng ta, khám phá chúng và tuân phục các luật này.
Tất cả điều đó là hoàn toàn sai lạc và không thể bênh vực được. Không tồn tại bất kỳ luật bản nhiên nào, nhưng nhiều luật của con người mà, thông thường suốt dòng lịch sử, có những nét chung, nhưng không bao giờ có tất cả các nét chung. Do đó, ý muốn xác định, qua một luật bản nhiên, một nền luân lý riêng biệt, cho dầu nó cao quý và thanh cao, mang nơi nó mọi nguy hiểm của sự bất bao dung.
Tại sao người ta không thể nói về luật bản nhiên, mà dựa vào « bản tính con người » ? Nếu qua đó chúng ta hiểu điều gì đó mà tất cả mọi người đã luôn luôn thừa nhận như là xấu xa, cho dầu về sau họ đã vi phạm nó, thì, như thế, cái điều gì đó này không tồn tại.
Trong lịch sử nhân loại, con người đã coi như là có giá trị và thậm chí đôi khi là tối cao – và những luật luân lý này đã hầu như luôn là thuộc tôn giáo – những luật thay đổi nhất. Ngay cả [lệnh cấm] giết người đã không được xem như là một luật bản nhiên. Tôi thích trích dẫn Pascal, người đã nói rằng con người đã coi là đáng tôn kính mọi luật và cái trái ngược của nó. Ông đã lập một danh sách các việc tàn bạo (tội giết cha mẹ, loạn luân, …) đồng thời nhắc lại rằng một số người đã xem chúng như là những giá trị – họ đã không chỉ bao dung chúng, họ cũng đã coi chúng như là những giá trị đích thực.
Trong nhiều xã hội nguyên thủy – và đó chính là những con người, họ cũng vậy ! -, tục lệ ăn thịt người đã được xem như là một bổn phận đạo đức và tôn giáo. Chúng ta có thể đưa ra nhiều ví dụ khác. Nếu, tự bản chất, chúng ta hiểu (…) mọi hữu thể thuộc về loài Homo sapiens, thì không tồn tại một luật duy nhất nào đã được chia sẻ trong mọi thời và bởi tất cả mọi người. (…)
Josef Ratzinger. Cuộc luận chiến đã từng xảy ra giữa chúng ta. Flores d’Arcais đã từng kết án cách mạnh mẽ đoạn văn của một thông điệp trong đó Đức Thánh Cha nói rằng có những vấn đề mà đa số không thể quyết định, trong đó những giá trị đang được nói đến không thuộc quyền sử dụng của các đa số thất thường, (…) bởi vì nó đã hệ tại chủ thuyết nhân bản, việc tôn trọng con người với tư cách là người. Flores d’Arcais đã từng vặn lại rằng, về điểm này, Đức Giáo Hoàng thực sự đã không được sáng suốt – bây giờ tôi nhớ lại, chính trong thông điệp Fides et Ratio – và đã cho thấy rằng, bất chấp tất cả triết học của ngài, ngài đã không có gì để nói với triết học, với nền văn hóa ngày nay, bởi vì ngài đã đối lập với chúng. Tôi đã trả lời cho điều đó rằng tôi dứt khoát bảo vệ sự kiện rằng có những giá trị mà thoát khỏi ý kiến và sự phân xử của đa số.
Chúng tôi, những người Đức, (…) đã từng quyết định rằng đã có những hữu thể mà không có quyền sống. Chúng tôi đã từng mơ ước quyền « thanh lọc » thế giới của các mạng sống bất xứng này để tạo nên chủng tộc thuần khiết và con người siêu đẳng của tương lai. Vậy mà, tòa án Nuremberg đã nói cách xác đáng rằng có những quyền mà không thể bị đặt lại vấn đề bởi bất cứ chính phủ nào. Và dầu sao một dân tộc toàn thể hẳn đã muốn làm điều đó, vẫn là bất công khi làm như thế. (…)
Ngày nay, sau thế kỷ kinh hoàng này, chúng ta biết rằng có một tính thánh thiêng tuyệt đối của mạng sống con người, rằng các luật lệ đối lập với tính bất khả xâm phạm của phẩm giá của nó và của các quyền phát sinh từ đó là bất công, cho dầu chúng đã được ban bố cách chính thức. Vấn đề theo đó, về một số điểm, đa số không có tiếng nói cuối cùng nhưng phải tôn trọng những gì là nhân linh và nền tảng cho tương lai của nền văn minh của chúng ta.
Câu hỏi đầu tiên : đâu là nền tảng của tính bất khả xâm phạm của một số quyền ? Đối với truyền thống Công giáo, đó là công trình tạo dựng. (…) Ý tưởng là rằng bản tính không phải là sản phẩm của ngẫu nhiên, của một sự tiến hóa mù quáng. Trái lại, có một lý trí đằng sau sự tiến hóa này – do đó một luân lý tính của chính hữu thể. Tôi đã nhận thấy rất đẹp lối diễn tả của Flores d’Arcais theo đó những yếu tố luân lý hẳn là hiện diện nơi các nhiễm sắc thể của thực tại. Điều đó không muốn nói rằng bản chất thực nghiệm phải được nâng lên hàng luật bản nhiên, nhưng (muốn nói) rằng có một sự ưu tiên của tinh thần so với cái phi lý, do đó có một nền tảng luân lý ngăn cản một số lối hành xử. Đâu là nền tảng của tính bất khả xâm phạm của một số quyền, của tình trạng bất khả chấp nhận một số luật lệ, nền tảng hạn chế quyền lập pháp của chúng ta ? Chúng tôi nói là công trình tạo dựng, nguồn gốc của một tinh thần, của một « logos ».
Câu hỏi thứ hai là : làm thế nào xác định những gì là bất khả xâm phạm, những gì đi trước các pháp luật của chúng ta và do đó bảo vệ phẩm giá của con người ? Ở đây có thể xảy đến những sai lầm, những đồng nhất hóa hấp tấp. Tôi không muốn đi vào trong một cuộc tranh luận mà hết thảy chúng ta đều biết đến về việc phá thai, nhưng chỉ muốn nói rằng, nếu thánh Augustinô, theo một khoa học tự nhiên nào đó vào thời của ngài, đã xác tín, vả lại như thánh Tôma Aquinô với Aristote, rằng việc « phú hồn gián tiếp » (animation médiate) chỉ xảy đến sau một khoảng thời gian nào đó và trước điều đó không có hữu thể được phú bẩm một linh hồn, không có cá thể người, thì ngài không nghi ngờ nguyên tắc theo đó bất kỳ người nào – dù là yếu đuối, không có khả năng tự vệ và thiếu lý trí – đều không thể bị giết chết. Vấn đề thực nghiệm là biết khi nao hữu thể nhân linh bắt đầu.
Thánh Augustinô, tôi hy vọng, cũng như hết thảy chúng ta, hoàn toàn chắc chắn về điều đó : nếu người ta là người, thì người ta là bất khả đụng đến. Câu hỏi là : khi nào người ta là người ? (…) Theo sự hiểu biết về sinh học của tôi, một hữu thể, từ ban đầu, mang nơi mình chương trình đầy đủ của hữu thể nhân linh, mà tiếp đến được phát triển. Chương trình này thực sự tồn tại, và do đó người ta có thể nói về cá thể (người). (…)
Paolo Flores d’Arcais. Tôi hoàn toàn chia sẻ ý tưởng theo đó việc có đa số để quyết định là không đủ. (…) Không phải là một sự tình cờ ngẫu nhiên mà các nền dân chủ hiện đại được xây dựng trên các Hiến Pháp mà áp đặt các hạn chế cho đa số. (…) Nhưng vấn đề là : các đa số không thể quyết định về điều gì ? Do đó đâu là nền tảng mà các quyền con người hay công dân này có được ? Và ai thiết lập nó ?
Josef Ratzinger. Tôi đã cố gắng chứng minh tại sao một kitô hữu, cách độc lập với đức tin của mình, có thể nói về sự ưu tiên của lý trí đối với vật chất, và do đó về sự hiện diện của lý trí trong vật chất, và do đó về việc tạo dựng. Dĩ nhiên, Flores d’Arcais có lý, sự xác tín về công trình tạo dựng này không được mọi người chia sẻ. Theo nghĩa này, hẳn sẽ không có một nền tảng mà sẽ có thể đảm bảo một hành động chung, vì đã xảy ra như thế từ thời Cổ Đại.
Các Giáo Phụ đã dịch một từ của đức tin sang một từ thuộc triết học – « bản tính » (nature) – mà không phải là một từ thuộc về đức tin, nhưng thuộc về triết học. Theo nghĩa này, các ngài đã đồng ý với phái khắc kỷ, những người đã không nhìn nhận Đấng Tạo Hóa, nhưng đã nhìn thấy một phẩm chất thần linh nào đó, chúng tôi xin nói, trong chính hữu thể, và một sứ điệp phổ quát. Bởi thế, từ ngữ « bản tính » đã là một vật truyền có thể áp dụng, có thể đạt tới bên kia những giới hạn của đức tin. Đó là lý do tại sao nó đã đi vào trong từ vựng của thần học, của huấn quyền, như là một dấu chỉ của ý niệm triết học, mà, tự nó, đã có thể được tách khỏi một cái nhìn sâu xa hơn về đức tin.
Theo nghĩa này, trong tương lai, chúng ta cần bàn luận về sự ích lợi và về tính hợp lý của khái niệm « bản tính », mà diễn tả xác tín rằng các thực tại mang nơi mình một sứ điệp luân lý và (chúng) đặt những giới hạn cho các ý muốn của chúng ta. Và tôi cho rằng sự biến động sinh thái, đối mặt với những phá hủy hành tinh và với những nguy hiểm đang đe dọa chúng ta, đã bao hàm điều đó : bản nhiên (nature) mang lại cho chúng ta một sứ điệp và chúng ta phải chú tâm đến sứ điệp của nó.
Có lẽ, ngày nay, nhờ những kinh nghiệm bản nhiên bị lạm dụng này, chúng ta có thể, theo cách mới mẻ, hiểu khái niệm chung này mà là một khái niệm lý trí và kinh nghiệm, và chú tâm hơn đến sứ điệp mà mang lại cho chúng ta một nền tảng cho các hành động của chúng ta và cũng cung cấp cho chúng ta những hạn chế cho sự tự do ý chí của chúng ta. Do đó, tôi không thể đồng ý với ý tưởng theo đó những quyền bất khả xâm phạm này, được đề cập trong các tác phẩm lớn của thế kỷ Ánh Sáng, hẳn chỉ là những quyền công dân, những chọn lựa thuộc về chúng ta.
Nếu những chọn lựa này thuộc về chúng ta, thì chúng có thể được thay đổi. Đang khi mà, rõ ràng, chúng không thể được như thế, để không phá hủy nhân loại và ý thức tôn trọng người khác. Lập luận theo đó trong nhiều thế kỷ, có lẽ hàng nghìn năm, những giá trị này đã không được nhìn nhận và do đó chúng hẳn không phải là bản nhiên, là không đáng kể đối với tôi, vì con người có khả năng sống ngược với bản tính của mình – chúng ta ghi nhận điều đó. Nhưng sự kiện [Con người] không muốn chấp nhận sứ điệp của bản nhiên không phải vì thế mà có nghĩa rằng đó không phải là một sứ điệp. (…)
Gad Lerner ghi lại
Bản dịch từ tiếng Ý của Régine Cavallaro
Tý Linh chuyển ngữ từ nhật báo Le Monde , ngày 02/05/2005.
Hình ảnh: Từ trái sang phải: Đức Hồng y Josef Ratzinger, Gad Lerner, người dẫn dắt cuộc tranh luận, và triết gia Paolo Flores d’Arcais.
ĐỨC TIN TRONG CỰU ƯỚC
ĐỨC TIN TRONG CỰU ƯỚC
Lm. Nicholas King, SJ
Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta biến Năm Đức Tin này thành thời gian chuẩn bị để canh tân việc loan báo Tin Mừng. Vì thế, thật chính đáng khi nhìn lại những gì Cựu Ước nói về đức tin, đồng thời xem lại hai hiểu nhầm phổ biến.
Hiểu nhầm đầu tiên thường gặp là ý niệm cho rằng đức tin là một số những định đề khó tin nhưng buộc phải tin, một số phán quyết kiểu “ra ngô, ra khoai”, nếu bạn chấp nhận hết những điều ấy thì bạn mới là “người Công giáo” chính cống. Tuy nhiên đây không phải là ý nghĩa của đức tin trong Kinh Thánh. Đức tin là mối tương quan với Đấng là Mầu Nhiệm Tình Yêu, Đấng Sáng Tạo vũ trụ, Đấng mà chúng ta gọi cách đơn giản là “Chúa”, mặc dù đôi khi không dễ sống mối tương quan này.
Hiểu nhầm thứ hai cho rằng Thiên Chúa trong Cựu Ước là một vị thần bạo lực và hay nổi giận khiến những ai có lý trí khó chấp nhận tôn thờ. Những ai hiểu sai như thế thì làm phiền ngồi xuống và đọc trọn Cựu Ước (khá dài và nhiều chỗ khó hiểu).
Một điều khó khăn hơn nữa là trong Cựu Ước không có từ “đức tin”. Từ cận nghĩa nhất của nó trong tiếng Do Thái là ’aman, (đây là từ gốc của tiếng “Amen”), có nghĩa là “đáng tin cẩn” hay “xác thực”, do đó chúng ta có danh từ ’emeth, nghĩa là “sự vững chắc” hay “sự bất biến”, “tính trung thành” hay “chân lý”, và một loạt những ý nghĩa khác thuộc lãnh vực này. Đây chính là nhưng đặc tính mà Tân Ước gọi là “đức tin”.
Những gương mẫu đức tin trong Cựu Ước
Vì thế, xem ra cách tốt nhất để tìm thấy đức tin trong Cựu Ước là nhìn lại những hành vi đạo đức của những người mà chúng ta nghĩ rằng họ có đức tin.
1. Abraham
Gương mẫu đầu tiên là hình ảnh ông Abraham, trong sách Sáng Thế 12, 1-3, lúc đã vào tuổi 75, đột nhiên nhận được lệnh của Thiên Chúa: “Hãy rời bỏ quê hương xứ sở và họ hàng thân thuộc, cả nhà cha ngươi để đi đến miền đất ta sẽ chỉ cho ngươi”. Rồi đột nhiên bản văn bỗng nhiên chuyển giọng ra như một bài thơ, Thiên Chúa nói tiếp:
Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi.
Ta sẽ cho tên tuổi ngươi được lẫy lừng, và ngươi sẽ là một mối phúc lành.
Ta sẽ chúc phúc cho những ai chúc phúc cho ngươi;
Ai nhục mạ ngươi, Ta sẽ nguyền rủa.
Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc.”
Và ta thấy ngỡ ngàng khi nghe tiếp bản văn: “và ông Abram ra đi theo như lời Giavê nói”. Rồi sau đó là hành loạt những cuộc phiêu lưu ít nhiều có tính giáo dục mà bạn nên đọc trong sách Sáng Thế chương 12-24 để rồi sẽ thấy nguyên mẫu của “người có đức tin” là gì. Ông Abram (hoặc Abraham như ông được gọi sau này) từ đây phải chịu nhiều cuộc thử nghiệm mà ít nhiều ông đã vượt qua được. Tuy nhiên, trong ba chương sau đó, vẫn không có con nối dõi nên ông nêu vấn đề với Chúa trong chương 15. Và câu trả lời của Thiên Chúa là: “Hãy nhìn lên trời và đếm các vì sao. Dòng dõi ngươi sẽ đông đúc như vậy”. Rồi thì chúng ta nghe câu trả lời của Abram mà sau này Thánh Phaolô diễn giải ra rằng: “Ông đã đặt trọn niềm tin cẩn vào YHWH, và vì thế được kể là người công chính” (Rm 4,3). Điều quan trọng ở đây là dù gặp nhiều nghịch cảnh, Abraham (tên cuối cùng của ông trong St 17,5) đã có được mối liên hệ đủ thâm sâu với Thiên Chúa để có thể tin tưởng tất cả những điều Ngài nói. Chúng ta được mời gọi đọc, suy tư và rồi bắt chước ông.
Đỉnh điểm hành trình đức tin của Abraham nằm ở chương 22 sách Sáng Thế, câu chuyện lạnh mình nhất trong toàn bộ Kinh Thánh. Lúc ấy ông đã hơn trăm tuổi rồi (vì Isaac đã lớn mà người cha được trăm tuổi mới sinh ra ông). Ấy vậy mà Thiên Chúa vẫn bảo ông (St 22, 2), ‘Hãy đem đứa con trai Isaac mà người yêu quý và ra đi[“ra đi” cũng chính là lệnh truyền bằng tiếng Do Thái mà Thiên Chúa dùng trong chương 12 khi bảo ông lên đường] đến núi Moriah, dâng nó làm hy lễ lên cho Ta”. Chúng ta thấy sự đau đớn và khó hiểu khi Abraham vâng lời tối mặt. Ta nghe câu hỏi ngây thơ của Isaac: “Con chiên làm của lễ ở đâu vậy bố?”. Câu trả lời của Abraham cũng không khiến ta bớt đi nỗi sợ: “Chúa sẽ liệu con à!”. Với nghệ thuật điêu luyện, người kể chuyện đặt một câu hóa giải vào cuộc chuyện trò đáng sợ này “và cả hai đi bên nhau”, tính trung lập của nó làm tăng thêm xúc cảm cho câu chuyện. Cuối cùng, chúng ta nhận ra Abraham đã đúng khi tin rằng Chúa “sẽ liệu” và sự sống của Isaac được miễn thứ; nhưng Abraham đã đánh đổi bằng đức tin. Độc giả tinh ý sẽ nhận ra rằng mẹ đứa trẻ là bà Sarah không được đề cập đến trong toàn bộ câu chuyện (thật sự, việc làm tiếp theo của bà đó là chết – St 23, 2), trong khi Isaac không bao giờ nói chuyện với cha mình sau đó. Đức tin trong Cựu Ước không phải là chuyện dễ dàng.
2. Đavít
Rồi đến Đavít, một hình tượng phức tạp và mơ hồ, mà những câu chuyện quá thật về ông đã được kể lại trong 1 Samuel 16 và 1 Các Vua 2. Đức tin của ông hiện rõ trong những gì ông làm và những gì xảy đến với ông. Chẳng hạn, khi những người hầu của vua Saul khuyên nhủ nhà vua nên dùng tài đánh đàn của Đavít để chữa bệnh, họ khẳng định rằng: “Có Thiên Chúa ở với anh ta” (1 Sm 16, 18). Chúng ta còn lại được nghe chính miệng Đavít nói với Saul khi xin được đấu tay đôi với Goliath: “Chúa là Đấng đã giật con khỏi vuốt sư tử và vuốt gấu, chính Người sẽ giật con khỏi tay tên Philitinh này” (1 Sm 17, 37); và cũng chỉ vì Thiên Chúa ở với Đavít nên Saul căm ghét ông ra mặt (1 Sm 18, 28-29).
Thiên Chúa, thường được gọi là “YHWH” trong những câu chuyện trên, và Đavít xem đó là chuyện dĩ nhiên khi luôn thỉnh ý Chúa trước khi ra trận (1 Sm 23, 4; cf 2 Sm 2,1; 5,19. 23). Đavít có lòng đạo đức đến nỗi khi có cơ hội cũng không ra tay hạ sát “Người được Chúa xức dầu” (1 Sm 24,7; 26,9-11, 23-24; cf 2 Sm 1,14), và ông nhìn thấy quà tặng của Abigail là việc làm của Thiên Chúa (1 Sm 25,32). Khi trại quân Đavít bị quân Amalek tấn công, bắt hết phụ nữ và trẻ em, người thuật chuyện kể rằng “Đavít lấy lại cam đảm trong Thiên Chúa”, đôi khi được dịch là: “với lòng tin cậy mới mẻ vào Thiên Chúa” (1 Sm 30,6). Hơn nữa, khi có người trong đội quân của Đavít không muốn chia phần chiến lợi phẩm với những người không ra trận chiến đấu cùng quân Amalek, thì ông kêu gọi lòng quảng đại của họ (1 Sm 30,23 – “Đó là những thứ mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta”). Ông cũng ý thức rằng Thiên Chúa có sức mạnh cảnh báo, chính vì thế mà sau cái chết kinh hãi của Uzzia khi chạm tay vào hòm bia, ông không đem Hòm bia Giao Ước về Thành Đavít mà về nhà của ông Obed-Edom người Hittit (2 Sm 6,10); Khi thay đổi quyết định đem Hòm bia về Thành của mình, Đavít đã nhảy múa trước hòm bia khiến bà vợ của ông tỏ lòng khinh dễ (2 Sm 6,14-22).
Tuy nhiên, Đavít cũng nhiều lần được Thiên Chúa sửa dạy khi đã làm vua: đầu tiên là khi Đavít có sáng kiến xây Đền Thờ cho Chúa, như các vua vùng Cận Đông khác thường làm cho thần thánh của mình. Ông được Chúa dạy cho một bài học về ý nghĩa của “Nhà Chúa” và “nhà Đavít” (2 Sm 7,1-28). Lần thứ hai là khi ông làm điều đáng hổ thẹn với Bathshêba, vợ của Uria người Hittit, khi Đavít không chu toàn trách nhiệm của người làm vua và dẫn quân ra ngoài trận chiến. Thay vì thế, ông ở nhà, phạm tội ngoại tình và giết người, cho đến khi ngôn sứ Nathan được sai đến nói với ông (2 Sm 11,1-12,25). Và không giống như các vua quan Cận Đông khác, Đavít thú nhận: “Tôi đã đắc tội với YHWH” (2 Sm 12,13). Lần thứ ba, giống như các nhà lãnh đạo mắc bệnh hoang tưởng, mặc cho lời khuyên của Joab, Đavít tổ chức điều tra dân số toàn dân Israel và Giuđa, ngạo nghễ chống lại Thiên Chúa (2 Sm 24,1-17); sự thống hối của ông một lần nữa lại là tấm gương cho tất cả mọi người chúng ta.
Sự việc càng trở nên phức tạp hơn, sau cuộc tạo phản của Absalom mà Đavít không phải là vô can, Đavít không cho phép Hòm bia đến với mình và nói lên lời tuyên xưng đức tin như thế này: “Hãy đưa Hòm Bia Thiên Chúa về thành. Nếu ta được đẹp lòng YHWH, thì Người sẽ đưa ta trở về và cho ta thấy Hòm Bia và nơi Người ngự. Nhưng nếu Người nói là Người không thương ta nữa, thì này ta đây, Người cứ làm cho ta điều Người cho là tốt” (2 Sm 15,25-26). Vấn đề ở đây không phải là Đavít có thực sự nói những lời này hay không. Vấn đề là gương mẫu đức tin của nhân vật phức tạp này: ông chấp nhận trước và vô điều kiện bất cứ điều gì Thiên Chúa làm cho ông.
Cuối cùng, câu chuyện vua Đavít đến hồi kết thúc khi một bài thánh ca tuyệt hay được đặt trên môi miệng Đavít, tạ ơn Thiên Chúa là Đấng đã dìu dắt ông (mặc dầu tế nhị bỏ qua những lầm lỗi của ông). Bắt đầu sách Các Vua, Đavít gần chết, Bathshêba và Nathan âm mưu để Solomon lên nối ngôi vua. Lời cuối cùng của Đavít với bà vợ gồm cả một lời thề nhân danh Chúa: “Ta thề nhân danh Chúa, Đấng đã giải thoát ta khỏi mọi cơn quẫn bách” (1 V 1, 29). Ở chương 2, Đavít nói dài hơn, nhắc lại cho Solomon về tất cả những điều đó: “Hãy tuân giữ các huấn lệnh của YHWH, Thiên Chúa của con, mà đi theo đường lối của Người, là giữ các giới răn, mệnh lệnh, luật pháp, và chỉ thị của Người”. Chúng ta được mời gọi nhìn lại cả cuộc đời của của vị vua quá phàm nhân này để thấy rằng đức tin vào Thiên Chúa đã len lỏi trong mọi khoảnh khắc của cuộc sống, ngay cả khi mắc sai lỗi. Chúng ta cố gắng sống như ông, luôn hiện diện trước nhan Chúa.
3. Thánh vịnh gia
Rồi đến Thánh vịnh gia. Tiêu đề cho đoạn này là “Thánh vịnh gia”, nhưng không có người nào như thế cả hay đúng ra có quá nhiều người. Theo quy ước thì người ta gán tất cả các thánh vịnh cho vua Đavít: theo các sách lịch sử ghi lại thì ông biết chơi đàn hạc (1 Sm 16,16-18), và nhiều thánh vịnh có tiêu đề gợi ý rằng tác giả là Đavít; nhưng trong số này có vài thánh vịnh chắc là được viết sau thời Đavít. Sách Các Thánh Vịnh được xếp đặt cẩn thận để trình bày cho chúng ta thấy đức tin của dân Israel, được diễn tả trong các bài thánh ca thuộc nhiều thời đại khác nhau; và nếu bạn muốn biết suy tư về Thiên Chúa của cộng đoàn tụ họp chung quanh Đền Thờ và cộng đoàn còn lại sau khi Đền Thờ do Solomon xây dựng bị phá hủy, thì hãy trầm tư lắng nghe các bài thánh ca này.
Bạn nên biết rằng động từ thường gặp nhất trong các Thánh Vịnh là “hát lên”, thường ở mệnh lệnh cách (imperative mood), và có hai hàm ý. Trước tiên, hành động hát thường hướng về “phía bên trên”, nghĩa là hướng về Thiên Chúa của dân Israel; nhưng thứ đến, nó cũng hướng về “phía bên cạnh”, nghĩa là về phía cộng đoàn, một điều gì đó mà toàn dân Israel cùng làm với nhau. Các bài thánh ca gồm nhiều thể loại và các học giả đã phân loại các thánh vịnh ra thành: các bài than vãn của cá nhân hay toàn thể cộng đoàn; các bài ca tạ ơn hay tin cậy (có lẽ bài nổi tiếng và đáng yêu nhất là Thánh Vịnh 23, “Chúa là Mục tử chăn dắt con”. Rồi đến các bài thánh ca hay “thánh vịnh ngợi khen”, các bài ca Sion, các bài ca về vương quyền của Thiên Chúa và “các thánh vịnh vương giả” phản ánh mối tương quan giữa Thiên Chúa và vị vua là đại diện cho toàn thể đất nước Israel. Có “các thánh vịnh khôn ngoan” (ví dụ Thánh vịnh 119, Thánh vịnh dài nhất), và “các Thánh vịnh lịch sử” ngợi ca Thiên Chúa đã hành động như thế nào trong lịch sử Israel, ví dụ thánh vịnh 106. Còn nhiều loại khác nữa nhưng hy vọng rằng đã nói đủ ở đây để xin mời bạn đọc chúng. Bạn sẽ tìm thấy trong bộ sưu tập các bài thánh ca này điều gì đó rất thích hợp với tâm trạng mình, ngay cả khi tức giận với Thiên Chúa như lời tác gia thi sĩ trong sách Gióp đôi lúc giận dữ vặn hỏi: “Lạy Chúa, biết đến bao giờ?” (ông Gióp cũng là một mẫu đức tin khá thú vị trong Cựu Ước, nhưng chúng ta không có chỗ để bàn đến ở đây. Vì thế, hãy đọc sách Gióp).
“Hineni”: câu trả lời liều lĩnh của đức tin trong Cựu Ước
Cuối cùng, tôi muốn bạn chú ý đến một từ trong tiếng Do Thái: hineni, nghĩa là “Này tôi (con) đây” hay “Xem này, ta (con) đây”, đôi khi được dịch là “đã sẵn sàng!”, từ ngữ được tìm thấy trên môi miệng của các mẫu gương đức tin trong Cựu Ước. Vì thế, bạn và tôi cũng được khích lệ nói lên tiếng này khi được Thiên Chúa của đức tin mời gọi chúng ta. Trong Cựu Ước, hầu như phần lớn từ này được đặt trên môi miệng Thiên Chúa, thường mang tính đe đọa: “Hãy xem điều ta sắp làm với quân Amalek”. Tuy nhiên, thỉnh thoảng cũng được thốt ra từ miệng con người. Lần đầu tiên là trong sách Sáng Thế 22 mà ta đã thấy trong câu chuyện của Abraham khi ông chấp nhận dâng Isaac làm của lễ. Abraham nói “hineni” ba lần trong suốt câu chuyện: lần đầu khi Thiên Chúa gọi ông (St 22:1 – “Dạ, con đây!”); lần thứ hai đau nhói hơn khi Isaac gọi ông để hỏi con chiên làm của lễ ở đâu (St 22:8 – “Cha đây con!”); và lần thứ ba là khi sứ thần từ trời gọi ông để ngăn ông ra tay giết đứa trẻ (St 22:11 – “Dạ, con đây!”).
Lần tiếp theo chúng ta được nghe từ này trên môi miệng con người là khi Giacóp sai Giuse đi thăm các anh em mình đang chăn đàn gia súc của gia đình tại Shikem (St 37,13), và Giuse (người đã làm cho các anh em khác nổi giận vì giấc mơ của mình) đã bày tỏ sự sẵn sàng ra đi. Dĩ nhiên, kết cục là họ bắt cóc Giuse nhưng không giết đi (nhờ sự can thiệp của Ruben và Giuđa). Cuối cùng ông sang được đất Ai Cập và tình cờ được đoàn tụ với các anh em và cha mình. Nhưng cái kết có hậu này chỉ xảy ra sau khi Thiên Chúa đưa dẫn ông qua nhiều cuộc phiêu lưu. Rồi lần kế tiếp môi miệng con người phát ra từ này là trong St 46,2, khi Thiên Chúa gọi ông già tội nghiệp Giacóp, khích lệ ông lên đường đi Ai Cập để đoàn tụ với Giuse.
Môisen cũng thốt lên từ này khi ở trong tình trạng là tên sát nhân chạy trốn (Xh 3,4. Ông đang chăn chiên cho nhạc phụ thì bổng nhiên thấy bụi cây cháy bừng, ông nghe tiếng gọi và Môisen trả lời: “hineni”. Có thể là sau này ông cảm thấy hối tiếc vì đã thốt lên lời đức tin ấy, vì nó bắt đầu cho một ơn gọi nguy hiểm và cam go là làm người giải phóng dân Israel. Không thể kể hết những cuộc phiêu lưu chẳng mấy hào hứng ra đây, cả những cáo buộc tội diệt chủng do chính đám dân mà ông đã giải phóng. Bạn sẽ không phí thời gian nếu đọc cả câu chuyện này trong sách Xuất hành cho đến cái chết của ông Môisen, tận cuối sách Đệ Nhị Luật 34, 5. Bạn có thể thấy mình cũng bồn chồn lo lắng, nhưng rồi cũng sẽ an tâm vì không còn con đường nào khác để đi.
Rồi Samuel cũng ba lần phá giấc ngủ của cụ già Êli khi thốt lên tiếng ‘hineni’, vì cứ ngỡ vị tư tế gọi mình (1 Sm 3,4. 6-8). Eli dặn rằng lần sau cứ nói: “Hãy nói, YHWH, vì tôi tớ Ngài đang lắng tai nghe”. Đây là câu nói phải ở trên môi miệng chúng ta, dù cần phải suy nghĩ về sứ vụ cam go mà Samuel vừa mới bắt đầu, đòi hỏi ông phải dấn thân vào công việc chính trị đầy khó khăn, ngay cả khi đã về “bên kia chín suối” mà cũng chẳng được yên (xem câu chuyện bà đồng bóng Endor gọi hồn Samuel, đặc biệt là câu 1 Sm 28, 15 – “Tại sao ngài (Saul) lại gọi tôi lên mà quấy rầy tôi?”). Đó phải là câu trả lời của chúng ta trong đức tin, nhưng đồng thời nó cũng chẳng phải là con đường êm ả gì đâu.
Người kế tiếp nói từ ‘hineni’ là vua Đavít đáp trả lời mời gọi của Thiên Chúa (2 Sm 15,26), nói rằng ông sẵn sàng nhận bất cứ hình phạt nào của Thiên Chúa, sau vụ tạo phản của Absalom. Ông là gương mẫu cho chúng ta theo nghĩa này.
Ngôn sứ Isaiah cũng vậy, ông là người cuối cùng đủ khờ khạo để thốt lên tiếng ‘hineni’. Chương 6 trong sách Isaia thuật lại cuộc thị kiến trong Đền Thờ vào “năm Vua Uzzia băng hà”, ông thấy mình đứng trước nhan Chúa và nghe thiên thần seraphim (“người đốt nóng”) hô vang “Thánh, Thánh, Thánh”. Ông nhận ra mình thân phận thấp hèn và kêu lên: “Khốn thân tôi, tôi chết mất! Vì tôi là một người môi miệng ô uế” (Is 6,5); Nhưng điều này kéo dài không lâu vì các “người đốt nóng” ấy mang cục than đỏ rực chạm vào môi miệng ông. Lúc ấy ông nghe tiếng Chúa hỏi: “Ta sẽ sai ai đây? Ai sẽ đi cho chúng ta?” (Is 6,8). Vị ngôn sứ lúc ấy nhảy cửng lên như cậu học sinh khích động và trái tim ta bổng chùng xuống sau tiếng hét to của ông: “Hineni – hãy sai con đi!”. Sự nghiệp ngôn sứ với cuộc phiêu lưu dai dẳng đầy gian khổ của ông bắt đầu như thế đấy.
Vì vậy chúng ta nên cẩn thận trước khi nói “hineni”. Khi bạn nghe lời mời gọi của Thiên Chúa thì “hineni” là câu trả lời duy nhất. Nhưng báo trước là sẽ khó chơi đấy!
Kết luận: sự trung thành của Chúa
Cựu Ước muốn nói rằng đức tin không phải là một điều gì đó ta có thể làm cho chính mình nhưng là một “hồng ân của Thiên Chúa”, như sách Giáo lý đã dạy. Nền tảng của đức tin ấy không gì khác hơn là sự trung thành bất tận và vô điều kiện của Thiên Chúa. “Tình yêu bền bỉ” của Ngài là điều mà từ ’emeth muốn nói, như ta đã đề cập đến ở đầu bài. Đây là điểm chính yếu trong Xuất Hành 19, 5, khi Thiên Chúa nói với Môisen rằng: “Nếu ngươi nghe và giữ giao ước của Ta, thì ngươi sẽ là của riêng Ta trong mọi dân tộc”. Vai trò của Israel (và vì thế cũng là vai trò của chúng ta) là nhớ lại những gì Thiên Chúa đã làm, và dĩ nhiên đó là điều đã xảy ra trong nghi thức Seder[1] vào ngày lễ Vượt Qua (xem Xh 13,3-16) và trong nghi thức canh tân giao ước, khi dân Israel tuyên xưng trước mặt Thiên Chúa rằng: “một người Aram lang thang là cha ông chúng tôi” (Đnl 26,5). Đó là điều mà dân Israel phải làm để nhắc nhớ dân Chúa về hành động của Thiên Chúa (và hẳn nhiên là mối tương quan tương xứng giữa YHWH với dân Israel). Đức tin trong Cựu Ước là như thế: đó là mối tương quan giữa Thiên Chúa và cộng đoàn tụ họp chung quanh Thiên Chúa của mình. Mối liên hệ này làm nên căn tính của dân Israel cũng như đem lại cho Giáo Hội căn tính độc nhất của mình.
chuyển ngữ
Lm. Phaolô Nguyễn Minh Chính
[1] Seder là nghi thức kể lại cuộc giải phóng ra khỏi đất Ai Cập được cử hành trong cộng đồng hay cuộc tụ họp gồm nhiều thế hệ trong gia đình. Câu chuyện này nằm trong sách Xuất Hành – hay Shemot trong Sách Thánh của người Do Thái. Nghi thức Seder dựa vào câu trong sách Xuất Hành 13, 8: “Trong ngày ấy, ngươi sẽ kể lại cho con của ngươi rằng: sở dĩ như vậy là vì những gì Đức Chúa đã làm cho cha khi cha ra khỏi Ai Cập” (NdT.)
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)