Trang

Thứ Bảy, 30 tháng 6, 2018

Công Đồng Vatican II Và Việc Giải Thích Kinh Thánh

Công Đồng Vatican II Và Việc Giải Thích Kinh Thánh



(Phóng dịch bài Vatican II on The Interpretation of the Bible,
của Đức HY Avery Dulles, S.J. thuộc Đại Học Fordham University,
đăng trên tạp chí Letter & Spirit 2 (2006): 17–26)

Trong cách hiểu Công Giáo, Thánh Kinh không tự mình đầy đủ. Nó không xác định được nội dung, xác minh được tính linh hứng của nó, hay tự giải thích được. Thánh Kinh là hồng phúc Thiên Chúa ban cho Giáo Hội, người gìn giữ và giải thích nó một cách có thẩm quyền. Công Đồng Trent và Công Đồng Vatican II đã làm rõ các điềm này. Một cách tóm tắt, Vatican II tuyên bố rằng thánh truyền, Thánh Kinh và huấn quyền “được liên kết và nối kết chặt chẽ với nhau đến nỗi cái này không thể đứng vững nếu không có cái kia” (Dei Verbum 10).
Nói cách khác, không điều gì đáng tin nếu chỉ dựa vào thế giá của một mình thánh truyền, hay của một mình Thánh Kinh hoặc của một mình huấn quyền. 

Vatican II bàn về Thánh Kinh một các minh nhiên nhất tại chương ba của Hiến Chế về Mạc Khải Thần Linh, Dei Verbum, nhất lả ở tiết 12.

Dei Verbum 12, tức tiết đặt để các nguyên tắc Công Giáo cho việc giải thích Thánh Kinh, có tầm quan trọng rất lớn nhưng cũng là tiết thường hay bị hiểu lầm. Năm 1988, hồi còn là HY Joseph Ratzinger, Đức Bênêđíctô XVI từng viết rằng: 

“Bản thân tôi thực sự xác tín rằng cẩn thận đọc toàn bộ bản văn của Dei Verbum sẽ giúp ta các yếu tố chủ yếu để có được một tổng hợp giữa phương pháp sử học và khoa giải thích thần học, nhưng sự nối kết này không hề dễ hiểu. Vì lý do này, việc tiếp nhận sau công đồng, trên thực tế, đã bác bỏ các phần có tính thần học trong các phát biểu của nó, coi chúng như một nhượng bộ đối với quá khứ và chỉ nhận bản văn như là một xác nhận tuyệt đối chính thức cho phương pháp phê phán dựa trên sử học. Ta có thể liệt việc tiếp nhận Công Đồng một chiều này vào cột lời của sổ tài khoản, căn cứ vào việc các dị biệt tuyên tín giữa các khoa chú giải Công Giáo và Thệ Phản đã hầu như tiêu tán sau Công Đồng. Cột lỗ của việc này hệ ở sự kiện này: đến nay, việc cắt đứt liên hệ giữa khoa chú giải và tín lý trong lãnh địa Công Giáo đã trở nên toàn diện và đối với cả người Công Giáo, Thánh Kinh đã trở thành lời của quá khứ, mà mọi cá nhân cố gắng chuyên chở tới hiện tại theo cách riêng của mình, mà không hề đặt nhiều tin tưởng vào chiếc bè mình đáp. Đức tin như thế chìm xuống thành thứ triết lý sống mà cá nhân tìm cách gạn lọc bao nhiêu có thể từ Thánh Kinh. Tín điều, vì hết khả năng dựa trên cơ sở Thánh Kinh, nên mất hết tính chắc chắn. Thánh Kinh, vì tự cắt đứt khỏi tín điều, nên trở thành một văn kiện của quá khứ và chính bản thân nó cũng thuộc về quá khứ” (1) 

Những lối dịch khiến người ta ra sai lạc 

Ý niệm cho rằng Công Đồng tán dương khoa chú giải dựa trên phương pháp phê bình sử học, coi nó như qui luật tối cao của đức tin, quả là một giải thích sai lạc nghiêm trọng. Tuy nhiên, theo Đức HY Allen Dulles, S.J. của Đại Học Fordham, sự sai lầm kia đã được nhiều bản dịch tiếng Anh phổ thông nhất hỗ trợ. 

Đoạn đầu của tiết Dei Verbum 12 đưa ra một phân biệt chủ yếu giữa hai kiểu chú giải. Tiết này cho rằng, người giải thích phải cố gắng khám phá ra điều các soạn giả thánh thực sự muốn nói và điều được Thiên Chúa vui lòng tỏ lộ qua lời lẽ của họ. Bản La Tinh viết như sau: “attente investigare debet, quid hagiographi reapse significare intenderint et eorum verbis manifestare Deo placuerit.” 

Bản do Austin Flannery (2) chủ biên dịch như sau: Nhà chú giải ... “phải cẩn thận tìm ra ý nghĩa mà tác giả thánh thực sự có ở trong đầu, ý nghĩa mà Thiên Chúa có ý định muốn tỏ lộ qua lời lẽ của họ”. Bản dịch này bỏ mất chữ “và” trong nguyên bản La Tinh và thay thế bằng “ý nghĩa mà”, ngụ ý cho rằng Thiên Chúa không thể tỏ lộ bất cứ điều gì khác hơn điều các tác giả thánh có trong đầu. 

Bản do Norman Tanner chủ biên còn sai lạc hơn nữa (3). Nó dịch như sau: Nhà chú giải phải “cẩn thận điều tra ý nghĩa mà các soạn giả Thánh Kinh có ở trong đầu; nghĩa đó cũng là nghĩa Thiên Chúa chọn để tỏ lộ qua lời lẽ của họ”. Cụm từ “nghĩa đó cũng là” không hề có trong bản La Tinh. 

Chỉ có bản do Walter Abbott và Joseph Gallagher chủ biên là dịch chính xác (4) “nhà chú giải... phải cẩn thận điều tra ý nghĩa mà các soạn giả thánh thực sự muốn nói và điều Thiên Chúa muốn tỏ lộ qua lời lẽ của họ”. 

Bản tiếng Việt năm 1972 của Giáo Hoàng Học Viện Piô X Đà Lạt cũng đã dịch đúng như sau: “nhà chú giải Thánh Kinh phải cẩn thận tìm hiểu điều các thánh sử thực sự có ý trình bày và điều Thiên Chúa muốn diễn tả qua lời lẽ của họ”.

Tuy nhiên, chỉ căn cứ vào câu trên mà thôi, ta vẫn chưa giải quyết được vấn đề liệu hai nghĩa kia có đồng nhất với nhau hay không. 

Lịch sử của bản văn cho thấy bản thảo trước đó của câu này chỉ nhắc tới ý nghĩa trong đầu của các soạn giả thánh. Câu sau được thêm vào giúp đưa lại một khoa chú giải thực sự có tính thần học. 

Cả hai hình thức hay hai giai đoạn chú giải đó đều cần thiết. Lời giải thích chính thức (Relatio) đưa ra ngày 3 tháng Bẩy, năm 1964, nói rằng khoa chú giải chỉ có tính thuần lý mà thôi không đủ (5). Lời giải thích này và lời giải thích ngày 20 tháng Mười Một năm 1964 cùng đều quả quyết: Công Đồng không muốn giải quyết vấn đề đang tranh luận về “sensus plenior.” (nghĩa đầy đủ hơn) (6).

Nhưng như ta sẽ thấy, không dễ gì có thể dung hòa giáo huấn của Dei Verbum 12 với ý niệm cho rằng Thánh Kinh không hề có nghĩa nào khác ngoài nghĩa trong đầu của các soạn giả Thánh Kinh. 

Câu mở đầu trên đây dẫn vào hai đoạn kế tiếp, tức đoạn 2 và đoạn 3 của Dei Verbum 12. Đoạn 2 nói về điều các soạn giả thánh muốn nói, trong khi đoạn bắt đầu bằng chữ Sed (“nhưng” hay “đàng khác”) nói về ý nghĩa Chúa muốn nói (7). 

Ở đây, Công Đồng khai triển dựa trên sự phân biệt vốn được thông điệp Divino Afflante Spiritu của Đức Piô XII đưa ra giữa “ ‘nghĩa chiểu tự” của lời muốn nói và được soạn giả thánh phát biểu” và nghĩa thiêng liêng “do Chúa muốn nói và truyền ban” (8).

Nghiên cứu sử học và văn từ

Trước khi đi vào các ý nghĩa đệ nhị đẳng, ta nên vắn tắt khảo sát điều Công Đồng muốn nói về bình diện đệ nhất đẳng. Như được hiểu trong Divino Afflante Spiritu và Dei Verbum, việc nghiên cứu sử học và văn từ nhằm mục đích phát hiện điều các soạn giả thánh muốn nói và đã nói. 

Sau khi đã nghiên cứu đầy đủ về ngôn ngữ và các hoàn cảnh lịch sử, kỹ thuật chú giải đòi nhiều loại phê bình khác nhau: phê bình bản văn để xác định bản văn tốt nhất, phê bình nguồn gốc để xác định việc tùy thuộc các bản văn trước đó về phương diện văn từ, phê bình văn từ để xác định các phương tiện tu từ và văn phong, phê bình thể loại (form) để xác định thể văn và hoàn cảnh sống trong đó bản văn đã được sọan tác, và phê bình cách soạn thảo để xác định cách thế soạn giả cuối cùng sắp xếp các tư liệu cho phù hợp với các quan tâm mục vụ và văn chương của mình (9).

Theo chân Divino Afflante Spiritu, Dei Verbum 12 rất chú trọng việc phê bình văn từ và phê bình thể loại. Theo tiết này, “cần phải chú ý tới thể loại thông thường và đặc biệt mô tả cách nhận thức, cách nói, cách thuật truyện thịnh hành thời ấy”. Muốn biết cách áp dụng các nguyên tắc này ra sao, ta có thể xem Dei Verbum 19. Khi thảo luận tính lịch sử của các Tin Mừng, Công Đồng nhấn mạnh rằng các phúc trình nguyên thủy về “lời nói và việc làm của Chúa Giêsu” đã trải nghiệm nhiều khai triển ngay ở giai đoạn truyền khẩu vì sứ điệp của Người được diễn đạt lại để giải quyết các tình huống khác nhau của các Giáo Hội. Như thế, các soạn giả thánh, khi soạn ra bốn Tin Mừng, đã thực hiện nhiều thích ứng dựa theo các viễn ảnh văn chương và thần học của họ. 

Để hiểu một cách chính xác, ta phải đọc Dei Verbum 19 dưới ánh sáng chỉ thị năm 1964 của Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh liên quan tới sự thật của các Tin Mừng (10), mà chúng tôi có nhắc tới ở phần chú thích. Chỉ thị này nói một cách đầy đủ hơn về ba giai đoạn của truyền thống Tin Mừng. Dù chủ trương rằng cả bốn Tin Mừng đều có tính lịch sử chân chính, nhưng Công Đồng lưu ý ta rằng chúng không phải hay không có ý định là những phúc trình hay mô tả nguyên văn như những cuộn băng ghi âm. Các Tin Mừng đều là những văn kiện để tuyên xưng, do đức tin viết cho ra đức tin. Cái hiểu rộng rãi về tính lịch sử ấy của Công Đồng rõ ràng đã loại bỏ cái hiểu quá giản lược của người cực đoan. 

Khi bàn về bình điện đệ nhất đẳng của ý nghĩa, Công Đồng đã dành nhiều tự do cho các nhà chú giải trong việc áp dụng các qui luật trong tay nghề của họ. Công Đồng không ấn định họ phải xử với bản văn thánh khác với một bản văn đời. Nhưng ở đoạn cuối, Dei Verbum 12 lại nói tới điều có thể gọi là khoa chú giải thần học hay thiêng liêng. Muốn mang ý nghĩa của bản văn thánh ra ánh sáng một cách chính xác, nhà chú giải phải lưu ý điều này Thánh Kinh là Lời linh hứng của Thiên Chúa (11).

Đọc trong Thần Khí

Đoạn ba trong Dei Verbum 11 bắt đầu bằng việc nhắc lại rằng vì bản văn Thánh Kinh được linh hứng, như trước đó đã xác nhận trong Dei Verbum 11, nó phải được đọc trong cùng một Thần Khí nhờ đó nó đã được viết ra. Muốn vào được ý nghĩa của bản văn thánh, ta phải dựa vào Chúa Thánh Thần và đức tin, vốn là ơn Chúa Thánh Thần. Đến đây, bản văn chưa đi vào ý nghĩa mà Chúa Thánh Thần muốn tỏ lộ cho các độc giả cá nhân để họ được lợi ích thiêng liêng; chủ đề này sẽ được bàn tới tại chương 6 của Dei Verbum (12). 

Nhiều giáo phụ, trong đó có Origen, Thánh Giêrôm và Thánh Grêgôriô Cả, dạy rằng phải có một ái lực thiêng liêng giữa nhà chú giải và bản văn. Phong trào đan viện thời trung cổ đã tạo ra truyền thống lectio divina rất phong phú, một thực hành ngày nay vẫn còn được áp dụng có hiệu quả dưới danh nghĩa chú giải thiêng liêng (spiritual exegesis). Tuy nhiên, trong chương này, hiến chế quan tâm tới ý nghĩa khách quan, tức ý nghĩa dành cho mọi độc giả và toàn thể Giáo Hội nói chung. Hiến chế chưa lưu tâm tới lối chú giải đặc sủng tùy ý, mà là lối giải thích theo phong thái thần học, tức phong thái khoa học theo cách riêng của nó. 

Dei Verbum 12 đề xuất 3 qui luật: tính thống nhất của Thánh Kinh, truyền thống của Giáo Hội và loại suy đức tin (analogy of faith). Ta cần xem sét từng qui luật một. 

Nói về tính thống nhất của Thánh Kinh, Dei Verbum coi Thánh Kinh trong tính toàn bộ của nó như một cuốn sách duy nhất, do Thiên Chúa linh hứng. Nó là Lời của Thiên Chúa theo nghĩa Người tự biến mình thành tác giả của nó qua việc linh hứng. Vì linh hứng tác động lên mọi soạn giả như một nhóm, nên nó không phải chỉ là một hiện tượng cá thể. Nó bảo đảm rằng Thánh Kinh, xét trong toàn bộ, cho ta nền tảng vững chắc trên đó Giáo Hội xây dựng các niềm tin của mình, cả hệ thống luân lý và sinh hoạt thờ phượng của mình (13). 

Khi bàn tới linh hứng và vô ngộ, Dei Verbum 11 đã cho thấy: Công Đồng thừa nhận phần đóng góp nhân bản của các soạn giả thánh với mọi giới hạn bản thân và văn hóa của họ. Vatican nói một cách thoải mái tới việc không những Thiên Chúa là “soạn giả” Thánh Kinh, mà cả các soạn giả nhân bản cũng là “các soạn giả đích thực” của nó nữa (14). 

Trong Dei Verbum 11, khi nói tới tính vô ngộ, Công Đồng tự chế không minh nhiên quả quyết rằng mọi câu tuyên bố trong Thánh Kinh đều chân thực cả. Thay vào đó, Công Đồng chỉ nói rằng các sách Thánh Kinh (số nhiều) giảng dạy một cách chắc chắn và không lầm lạc sự thật này: Thiên Chúa muốn cam kết với chúng vì phần rỗi chúng ta. 

Tính thống nhất của Thánh Kinh, dựa trên ơn lính hứng của Thiên Chúa, có tầm quan trọng quyết định trong việc Kitô hữu đọc Cựu Ước. Trong chương này, Công Đồng quả quyết rằng các sách Cựu Ước “đạt được và bày tỏ được ý nghĩa đầy đủ của chúng (significationem completam) nơi Tân Ước... và ngược lại cũng soi sáng và giải thích cho Tân Ước” (Dei Verbum 16). Việc từ tiên tri bước qua thành toàn và từ tiên trưng (type) bước qua đối trưng (antitype) là mục chủ yếu của khoa chú giải Kitô Giáo cổ điển (15). 

Về qui luật thứ hai của khoa chú giải thần học, bản văn của chúng ta qủa quyết “truyền thống sống động của Giáo Hội phải được lưu ý” (Dei Verbum 12). 

Trước đó, tại Dei Verbum 8, Công Đồng quả quyết rằng truyền thống cần thiết để trọn bộ qui điển được biết đến và để các trước tác thánh được hiểu cách sâu xa. Rồi trong Dei Verbum 10, như đã thấy, Công Đồng khẳng định rằng Thánh Kinh và Thánh Truyền cùng tạo nên một kho tàng thánh. Do đó, sẽ không đúng nếu bảo rằng một mình Thánh Kinh, dù được khảo sát bằng khoa lịch sử phê phán, có thể chuyển giao thỏa đáng Lời Thiên Chúa. 

Dei Verbum nhấn mạnh tới sự cần thiết của “truyền thống sống động” và của huấn quyền như là nguồn cứ liệu (locus) của nó, trong việc biện phân ý nghĩa Thiên Chúa muốn nói. Một thí dụ là tập tục của Công Giáo coi những lời Chúa Giêsu ngỏ với Thánh Phêrô như là cũng ngỏ với cả các vị kế nhiệm ngài nữa, tức các vị giáo hoàng (Mt 16:18-19). 

Qui luật thứ ba được tiếng La Tinh gọi là “analogia fidei.” Bản của Abbott dịch kiểu nói này là “việc hòa hợp các yếu tố khác nhau của đức tin”. Ta biết một cách tiên thiên rằng Thiên Chúa không thể linh hứng một ý nghĩa mâu thuẫn với sự thật cô đọng trong các tín điều của Giáo Hội. Tín điều được dùng như qui luật tiêu cực nhằm loại trừ các giải thích sai lạc. Hơn thế nữa, nó rọi ánh sáng tích cực cho điều Chúa Thánh Thần muốn biểu lộ trong các bản văn Thánh Kinh. Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm, chẳng hạn, giúp ta hiểu sâu xa hơn kiểu nói “đầy ơn phúc” (dịch chữ Hy Lạp rất hiếm là kécharitôménê) do thiên thần sử dụng để gọi Đức Maria lúc Truyền Tin. 

Chuyển động ngược chiều từ tín điều trở về nguồn Thánh Kinh vốn là một phương pháp được chấp thuận, được Đức Piô XII nói tới trong thông điệp Humani Generis (16). Nhưng trong thông điệp này, Đức Giáo Hoàng cảnh cáo rằng thần học sẽ trở nên khô cằn nếu sao lãng việc tự đổi mới mình bằng các nguồn thánh là Thánh Kinh và Thánh Truyền. Bởi thế, Đức HY Alois Grillmeier đã nhận định một cách chính xác trong lời chú giải của ngài về Dei Verbum: 

“Ở đây, ta thấy có mối tương quan hỗ tương: truyền thống sống động của Giáo Hội giúp ta qua việc mỗi ngày nó mỗi hiểu Thánh Kinh sâu sắc hơn bằng cái hiểu của đức tin. Tuy thế, một lối đọc lại Thánh Kinh mỗi ngày mỗi đổi mới hơn phải trở thành linh hồn của thần học và của toàn thể truyền thống, để mọi sự đều được dẫn trở lại với sự viên mãn đã được thống nhất hóa ngay từ buổi đầu, nơi, mọi sự đều gắn bó với nhau” (17). 

‘Truyền thống sống động’ và giải thích thần học 

Các soạn giả Dei Verbum có lẽ đã không muốn giải quyết vấn đề còn đang tranh luận về sensus plenior hay ý nghĩa đầy đủ hơn. Nhưng đoạn nói về giải thích thần học rõ ràng thích có ý nghĩa này. Khó có thể tin rằng các soạn giả Cựu Ước nắm được mọi ý nghĩa sâu xa hơn của những lời họ viết như các ý nghĩa sau này được tiết lộ nơi các soạn giả Tân Ước, nơi truyền thống Công Giáo và nơi các tín điều Công Giáo, những nguồn mà các soạn giả Cựu Ước không có sẵn để sử dụng. 

Đoạn nói về giải thích thần học kết thúc với câu tuyên bố này: “Tất cả các điều nói về cách giải thích Thánh Kinh cuối cùng đều lệ thuộc phán đoán của Giáo Hội, là người thực thi việc thừa ủy nhiệm và thừa tác vụ duy trì và giải thích lời Thiên Chúa” (Dei Verbum, 12). Huấn quyền không chỉ bước vào khúc cuối của diễn trình, mà can dự vào mọi giai đoạn của diễn trình này. Về mối liên hệ giữa các nhà chú giải và huấn quyền, Dei Verbum 23 dạy rằng “Nhà chú giải Công Giáo... khi sử dụng các phương thế thích hợp, nên tận dụng năng lực của mình, dưới sự chăm sóc canh chừng của huấn quyền thánh, vào việc thăm dò và trình bày các trước tác thần linh”. 

Huấn quyền can dự một cách sâu xa vào từng giai đoạn trong diễn trình 3 giai đoạn của khoa chú giải thần học. Nó đóng vai chủ yếu trong việc thu thập và xác định qui điển Thánh Kinh, và do đó, thiết lập Thánh Kinh như một đơn nhất. Như đã mô tả trong chương 2, không thể tách biệt truyền thống khỏi huấn quyền, vì nó vốn khai triển dưới sự giám sát của các mục tử và “qua lời giảng giải của những vị đã tiếp nhận được ơn chân lý chắc chắn (charisma veritatis certum) nhờ diễn trình truyền thừa giám mục” (Dei Verbum,8). Phương pháp loại suy đức tin, cuối cùng, tùy thuộc ở huấn quyền, là định chế duy nhất có thẩm quyền công bố các khoản tin và các tín điều. 

Dei Verbum 10 quả quyết rằng chỉ có huấn quyền, khi lên tiếng nhân danh Chúa Giêsu Kitô, mới có thể đem lại lời giải thích “chân chính”. Chữ La Tinh “authentica” trong ngữ cảnh này không có nghĩa chân chính cho bằng có thế giá, có thẩm quyền, nghĩa là, lời giải thích được đưa ra bởi những người có sứ mệnh giảng dạy nhân danh Chúa. Các giải thích chân chính theo nghĩa này khá hiếm hoi, nhưng chúng có sức nặng đáng kể, nhất là khi chúng vô ngộ. 

Các tuyên bố tín lý thường dựa vào việc sử dụng đồng qui các bản văn Thánh Kinh khác nhau, đọc theo lối cầu nguyện trong truyền thống của Giáo Hội thờ phượng dưới sự soi sáng của Chúa Thánh Thần. Tương đối rất ít trường hợp trong đó, Giáo Hội xác định ý nghĩa của các bản văn đặc thù, như Công Đồng Trent từng làm trong sắc lệnh về tội nguyên tổ và trong các qui định liên quan tới việc thiết lập một số bí tích. Như Raymond Brown từng nhấn mạnh, ngay trong các trường hợp hiếm hoi này, Giáo Hội “cũng không giải quyết vấn đề sử học về việc điều gì hiện diện trong tâm trí soạn giả khi ông soạn ra bản văn, nhưng chỉ giải quyết vấn đề tôn giáo liên quan tới các hệ luận của Thánh Kinh đối với đời sống của tín hữu” (18). Ý nghĩa thần học là ý nghĩa đích thực của bản văn và không nên bị bác bỏ, coi như “eisegesis” (chú giải diễn cách) như thể Giáo Hội đọc thêm điều gì vào bản văn mà trước đó thực sự nó không có ở đó. 

Một khó khăn chống lại giáo huấn của Dei Verbum và của các công đồng trước đó về thế giá của huấn quyền là với thời gian, một số giải thích về Thánh Kinh bị chứng minh là không xác đáng. Người ta thường nghĩ tới một số luận chứng từng được sử dụng để lên án thuyết mặt trời là trung tâm vũ trụ (heliocentrism) của Galileo hay một vài khía cạnh của các sắc lệnh trước đó của Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh. 

Về trường hợp Galileo, nay ta đã thấy ra rằng ủy ban giáo hoàng nguyên thủy đã không phân biệt được sự khác nhau cần phải có giữa “ý nghĩa cứu rỗi” của Thánh Kinh và các giả thuyết khoa học rút ra từ các nhà chú giải Sách Thánh” (19). 

Trong Huấn Thị của mình tựa là “Donum Veritatis” (về nhiệm vụ đối với Giáo Hội của thần học gia), Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin của Tòa Thánh thừa nhận rằng một số quyết định có tính mục vụ (phán quyết thuộc loại khôn ngoan) của huấn quyền “rất có thể mắc thiếu sót” (20).

Trong cuộc họp báo nhằm trình bày huấn thị này, bộ trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin hồi ấy là Đức HY Ratzinger đặc biệt nhắc tới một số quyết định của Ủy Ban Thánh Kinh: “Trong tư cách cảnh báo chống lại các thỏa hiệp vội vàng và hời hợt, các quyết định này vẫn hoàn toàn hợp pháp: các nhân vật như J. B. Metz, chẳng hạn, từng nhận định rằng các quyết định của Giáo Hội chống lại thuyết Duy Hiện Đại đã giúp ích rất nhiều trong việc cứu Giáo Hội khỏi rơi vào thế giới tư sản phóng túng. Tuy thế, chỉ trừ một số khía cạnh đặc thù về nội dung, các quyết định này đã bị thay thế sau khi đã làm xong chức năng mục vụ của chúng trong hoàn cảnh lúc bấy giờ” (21). 

Bao lâu bàn tới các vấn đề kỹ thuật, không có tính tín lý, như việc định niên biểu và việc soạn tác các sách đặc thù, những sắc lệnh này không phải là các phán quyết có tính vô ngộ thực sự nghĩa là đòi phải đồng thuận trong tâm hồn (22). 

Sự canh chừng giám sát của huấn quyền Công Giáo vào thời đó giúp che chở tín hữu trước các kết luận của khoa chú giải quá cấp tiến theo phương pháp phê bình lịch sử. Tuy nhiên, các căng thẳng vẫn có thể và thực sự đã diễn ra, nhất là trong trường hợp các nhà chú giải chuyên môn và các chức sắc có thẩm quyền vượt quá phạm vi năng quyền và trách nhiệm chuyên biệt của mình. 

Hiện tượng trên cũng xẩy ra cho mối tương quan giữa khoa chú giải phê phán và khoa chú giải thần học. Tuy nhiên, dù căng thẳng đôi khi vẫn diễn ra, nhưng như Dei Verbum đã dự đoán, mối tương quan thông thường vẫn là mối tương quan hợp tác. Các học giả Thánh Kinh nào được huấn luyện về các phương pháp phê bình lịch sử có lẽ là những người được trang bị tốt nhất để xác định được ý nghĩa các lời lẽ của soạn giả thánh và những người đồng thời với các vị. Nhưng khoa phê bình qui điển, khoa phê bình truyền thống và khoa chú giải tín lý, nghĩa là mọi khoa lưu ý tới đặc điểm thánh thiêng của bản văn, đều cần thiết để xác nhận, định phẩm và phong phú hóa các phát kiến của ngành nghiên cứu phê bình lịch sử, có thế, Giáo Hội mới thực sự được Lời Thiên Chúa soi dẫn. 

Trong các tuyên bố chân chính của mình, huấn quyền phẩm trật không nói trong tư cách một thẩm quyền độc lập mà trong tư cách một cơ phận của truyền thống sống động, được soi sáng bởi các bản văn linh hứng. Tiếng nói của huấn quyền không phải là tiếng nói xa lạ, nhưng tự bản chất vốn là tôi tớ của Lời Thiên Chúa. Nhờ các đặc sủng nhận được từ việc được thụ phong giám mục và được cử nhiệm vào chức vụ thánh, phẩm trật có khả năng nói với một hiểu biết thấu suốt sâu xa, nhưng phẩm trật này càng có khả năng nói như thế hơn nữa nếu biết lợi dụng các công trình trước đó của các học giả Thánh Kinh, vì một trong các chức năng của các học giả này là dọn đường cho các phán quyết của huấn quyền. 

Như Đức Bênêđíctô XVI đã quả quyết, công việc của các học giả rất có ích trong việc giúp ta hiểu diễn trình sống động trong đó các Sách Thánh đã được khai triển, “ấy thế nhưng một mình khoa học không thể cung cấp cho ta một giải thích dứt khoát và có tính bó buộc... Một ủy nhiệm lớn hơn cần phải có cho việc này, một ủy nhiệm không thể chỉ phát sinh từ các khả năng của con người mà thôi. Tiếng nói của Giáo Hội là điều chủ yếu trong lãnh vực này, một Giáo Hội đã được ủy nhiệm cho Phêrô và đoàn tông đồ cho đến ngày tận thế (23). 

Các học giả Thánh Kinh, các thần học gia và các mục tử không nên đi theo lối riêng, bằng cách phớt lờ nhau hay sợ sệt nhau. Các nhà chú giải Công Giáo cần thành thạo cả phương pháp giải thích thần học lẫn phương pháp giải thích triết học. Các nhà thần học tín lý và các mục tử cần quen thuộc với các phát kiến của khoa chú giải kỹ thuật. 

Khi các học giả Thánh Kinh, các thần học gia và các mục tử làm việc với nhau một cách hòa hợp, toàn thể Giáo Hội sẽ tiến bộ trong việc thấu hiểu Lời Chúa. Sự cởi mở và hợp tác với nhau giữa mọi người lưu tâm tới ý nghĩa của Thánh Kinh sẽ giúp toàn thể dân Chúa đáp ứng tốt hơn tiếng nói của Chúa Thánh Thần và trung thành hơn với Chúa của mình.

----------------------------------
(1 ) Joseph Ratzinger, chủ biên, Schriftauslegung im Widerstreit. Quaestiones Disputatae 117 (Freiburg: Herder, 1989), 20–21. Đoạn này không có trong bản dịch tiếng Anh do Richard John Neuhaus, chủ biên, Biblical Interpretation in Crisis (Grand Rapids, MI: Eerdmans, 1989).
(2 ) Austin P. Flannery, chủ biên, Documents of Vatican II (Grand Rapids, MI: Eerdmans, 1975).
(3) Norman P. Tanner, chủ biên, Decrees of the Ecumenical Councils, 2 vols. (Washington, DC: Georgetown University, 1990).
(4) Walter M. Abbott, Joseph Gallagher, chủ biên, The Documents of Vatican II With Notes and Comments by Catholic, Protestant, and Orthodox Authorities (New York: Guild Press, 1966).
(5) Acta synodalia sacrosancti concilii oecumenici Vaticani II (Vatican City: Libreria Editrice Vaticana, 1970-1980), Series III, vol., 6 9–109, at 92. (Từ đây sẽ viết tắt là AS III/, hay tương tự như thế)
(6) AS III/, 9 và IV/1, 59.
(7) Cả ở đây nữa, ấn bản Abbott tốt hơn các ấn bản Flannery và Tanner. Theo bản La Tinh chính thức công bố ngày 18 tháng Mười Một, 1965, Abbott chia §12 thành 3 đoạn. Vì một lý do nào đó, hai bản dịch kia chia đoạn thứ hai thành hai, do đó đã làm tối cấu trúc của bản văn. Xin xem bản chính thức trong AS IV/6, 579–609.
(8) Đức Piô XII, “Divino Afflante Spiritu, Encyclical Letter Promoting Biblical Studies”, 16, trong The Scripture Documents: An Anthology of Official Catholic Teachings, Dean P. Béchard, S.J. chủ biên (Collegville, MN: Liturgical Press, 2002), 115–19: “Vì điều được nói và được làm trong Cựu Ước đã được Thiên Chúa sắp đặt và điều hướng một cách hết sức khôn ngoan đến nỗi sự việc quá khứ tiên báo một cách linh thiêng sự việc sẽ xẩy ra trong thời ân sủng mới. Chính vì vậy, nhà chú giải, vì phải tìm hiểu và trình bày nghĩa ‘chiểu tự’ của lời mà soạn giả thánh muốn ngụ ý và muốn phát biểu thế nào, thì họ cũng phải làm như thế đối với nghĩa thiêng liêng, miễn là nghĩa này phải được Thiên Chúa ngụ ý cách rõ ràng. Vì chỉ một mình Thiên Chúa mới biết nghĩa thiêng liêng này và mạc khải nó cho ta mà thôi. Ngày nay, Chúa Cứu Thế của chúng ta cũng hướng và dạy ta cùng một ý nghĩa ấy trong các Tin Mừng. Theo gương Thầy, các tông đồ cũng tuyên xưng ý nghĩa ấy trong lời nói và chữ viết của các ngài”.
(9) Các kiểu phê bình này và các kiểu phê bình tương tự đều được giải thích trong các lời dẫn nhập rất tiêu chuẩn của Joseph A. Fitzmyer,Scripture, the Soul of Theology (New York: Paulist, 1994), 19–24. Muốn biết cách áp dụng các phương pháp này vào Tân Ước, xin xem Raymond F. Collins, Introduction to the New Testament (New York: Doubleday, 1983). Tuy nhiên, cả hai tác giả này đều làm ngơ Dei Verbum12 đối với nghĩa thiêng liêng của Thánh Kinh.
(10) Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh, “Sancta Mater Ecclesia, Instruction on the Historical Truth of the Gospels” (April 21, 1964), trong The Scripture Documents, 227–235.
(11) Các nghĩa vượt quá điều soạn giả thánh có thể nắm đôi khi được gọi là nghĩa ‘mạnh hơn chiểu tự’, một kiểu nói được Raymond Brown sử dụng trong bộ New Jerome Biblical Commentary. Xin xem Raymond E. Brown và Sandra M. Schneiders, “Hermeneutics,” trong New Jerome Biblical Commentary, Raymond E. Brown, Joseph A. Fitzmyer và Roland E. Murphy chủ biên, 2 vols. (Englewood Cliffs, NJ: Prentice Hall, 1990), 1146–65. Nhưng kiểu dùng từ ngữ của Brown không được mọi người chấp nhận vì dường như nó muốn gợi ý rằng Dei Verbum, ở đây, đi ra ngoài nghĩa chiểu tự. Thần học cổ điển, mà đại diện là Thánh Tôma Aquinô, chủ trương rằng Thiên Chúa là tác giả của Thánh Kinh, và vì Thiên Chúa hiểu chữ nghĩa nhiều hơn chính soạn giả thánh, nên lời “y ngữ’ (literal) của Thánh Kinh có thể chuyên chở hơn một nghĩa “ y thiêng” (spiritual), dù những nghĩa thiêng liêng này dựa trên và giả thiết nghĩa “y ngữ” kia. “Tác giả Thánh Kinh là Thiên Chúa, mà vì quyền năng của Người, ta phải tìm ý nghĩa của Người, không phải chỉ qua lời nói (điều con người cũng có thể làm) mà còn qua chính sự vật nữa... Bởi thế, ngụ ý đầu tiên qua đó lời nói biểu thị sự vật thuộc nghĩa thứ nhất, tức nghĩa lịch sử hay chiểu tự. Sự ngụ ý mà qua đó sự vật được lời nói biểu thị cũng có một ngụ ý thì được gọi là nghĩa thiêng liêng, một nghĩa đặt căn bản trên nghĩa chiểu tự và giả thiết nghĩa chiểu tự này” Summa Theologica, Pt. I, Q. 1, Art. 10 (New York: Benzinger Brothers, 1947). Một số nhà chú giải hiện đại, thay vào đó, thích nói tới nghĩa chiểu tự đệ nhị đẳng hay “nghĩa đầy đủ hơn” (sensus plenior). Xem Paul Synave và Pierre Benoit, Prophecy and Inspiration (New York: Desclee, 1961), 149–51.
(12) Chương 6 của Dei Verbum, ở một số chỗ, nhắc tới ích lợi thiêng liêng mà độc giả cá nhân có thể rút tỉa được từ việc đọc Thánh Kinh theo lối cầu nguyện.
(13) Nói tới tính thống nhất của Sách Thánh là nhắc tới điều thường được gọi là khoa phê bình qui điển (canonical criticism), tức phương pháp từng được áp dụng một cách thành công và được cổ vũ một cách đầy thuyết phục bởi những người như Brevard S. Childs của Đại Học Yale, chẳng hạn. Xem Introduction to the Old Testament as Scripture (Philadelphia: Fortress Press, 1979) của tác giả này.
(14) “Bởi thế, vì phải coi mọi điều được tác giả thánh hay soạn giả thánh quả quyết như đã được chính Chúa Thánh Thần quả quyết, nên hệ luận là ta phải thừa nhận các Sách Thánh là các sách truyền dạy vững chắc, trung thành, và không sai lạc các chân lý mà Thiên Chúa muốn được ghi lại trong các trước tác thánh vì lợi ích phần rỗi của ta” Dei Verbum 11. Như thế, Dei Verbum rõ ràng muốn gán sự vô ngộ cho Thánh Kinh như một toàn bộ, hơn là cho từng chương đoạn cá biệt; các chương đoạn này phải được đọc trong ngữ cảnh toàn bộ.
(15) Xem Manlio Simonetti, Biblical Interpretation in the Early Church: An Historical Introduction to Patristic Exegesis (London: T & T Clark, 1994); Henri de Lubac, Scripture in the Tradition (New York: Crossroad, 2000).
(16) Đức Piô XII, “Humani Generis, Encyclical Letter on Certain False Opinions Threatening to Undermine the Foundations of Catholic Faith”, 21, trong The Scripture Documents, 140-146.
(17) Alois Grillmeier, “The Divine Inspiration and the Interpretation of Sacred Scripture,” trong Commentary on the Documents of Vatican II, Herbert Vorgrimler chủ biên, 5 vols. (New York: Herder and Herder, 1969), 3:199–246, tại 245.
(18) Brown and Schneiders, “Hermeneutics,” 116.
(19) Trong một số khảo luận và diễn văn về vụ Galileo, Đức Gioan Phaolô II nhấn mạnh tới diễn trình tiệm tiến qua đó, Giáo Hội học được cách phân biệt giữa các vấn đề đức tin và các hệ thống khoa học của một thời đại nhất định. Xem “A Papal Address on the Church and Science,” Origins 1 (June 2, 1983): 9–52.
(20) Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, “Donum Veritatis, Instruction on the Ecclesial Vocation of the Theologian” (May 2, 1990), 2, trong L’Osservatore Romano, ấn bản tiếng Anh hàng tuần (July 2, 1990), 1. Tuy nhiên, văn kiện này có lời dè dặt sau đây: “Các giám mục và các cố vấn của các ngài không luôn luôn xem sét ngay tức khắc mọi khía cạnh trong toàn bộ nét phức tạp của vấn đề. Nhưng sẽ đi ngược lại sự thật, nếu, chỉ mới xem một số trường hợp đặc thù, ta đã vội kết luận rằng huấn quyền Giáo Hội có thói quen lầm lẫn trong các phán đoán khôn ngoan của mình, hoặc nó không được sự trợ giúp thần linh trong việc thi hành chính các sứ mệnh của mình... Một số phán đoán của huấn quyền có thể được biện minh lúc mới được đưa ra, vì trong khi các công bố này chứa đựng cả các quả quyết đúng lẫn các quả quyết không đúng, cả hai loại quả quyết này nối kết với nhau một cách chặt chẽ. Chỉ có thời gian mới cho phép ta biện phân và sau những nghiên cứu sâu xa hơn, ta mới đạt được tiến bộ thực sự về tín lý”.
(21) Muốn có bản văn buổi họp báo của Đức Hồng Y, xem Joseph Cardinal Ratzinger, The Nature and Mission of Theology (San Francisco: Ignatius, 1995), 101–107. Muốn có cuộc thàm luận đầy đủ hơn về vấn đề này, xin xem bài diễn văn của ngài nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày thành lập Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh “100 Years: The Magisterium and Exegesis,” trong Theology Digest 51 (Spring 2004): 3–8.
(22) Theo lời Đức HY Ratzinger, chúng là “dấu hiệu của khôn ngoan mục vụ, một loại chính sách lâm thời. Cốt lõi của chúng vẫn có giá trị, những các điểm đặc thù do hoàn cảnh tạo nên thì cần phải sử đổi” Nature and Mission of Theology, 106.
(23) Đức Bênêđíctô XVI, Bài giảng Thánh Lễ nhận Tòa Giám Mục Rôma (7 tháng 5, 2005) trong Origins 5 (26 tháng Năm, 2005): 26–28, tại 28.



Đừng Bỏ Con Chúa Ơi


Đừng Bỏ Con Chúa Ơi



Thân con đầy yêu đuối
Đã bao lần xa Chúa
Giữa trần gian mê muội
Xin thương con Chúa ơi.

Đừng bỏ con Chúa ơi !
Thân con đầy đau dớn
Bời bệnh tật cưu mang
Bởi tình người thay đổi !!!

Đừng bỏ con Chúa ơi !
Giữa biển đời trần gian
Con giơ tay cầu cứu
Xin Ngài xót thương con.

Đừng bỏ con Chúa ơi !

Nguyễn Thái Hùng


THƯ PLACUIT DEO - VỀ MỘT VÀI KHÍA CẠNH CỦA ƠN CỨU ĐỘ KI-TÔ GIÁO






BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN
THƯ PLACUIT DEO
KÍNH GỬI CÁC GIÁM MỤC CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO
VỀ MỘT VÀI KHÍA CẠNH CỦA ƠN CỨU ĐỘ KI-TÔ GIÁO


I. Dẫn nhập

1. “Do lòng nhân lành và khôn ngoan, Thiên Chúa đã muốn mặc khải chính mình và tỏ cho biết thiên ý nhiệm mầu (x. Ep 1,9), nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Ki-tô, Ngôi Lời Nhập Thể, trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần vào bản tính Thiên Chúa (x. Ep 2,18; 2 P 1,4). Chân lý thâm sâu về Thiên Chúa cũng như về công cuộc cứu độ con người được bày tỏ cho chúng ta trong Chúa Ki-tô, Đấng vừa là trung gian vừa là sự viên mãn của toàn thể mặc khải”.[1] Giáo huấn về ơn cứu độ trong Đức Ki-tô phải luôn được đào sâu. Kiên định nhìn về Chúa Giê-su, Giáo hội hướng tới mọi người với lòng từ mẫu, để loan báo cho họ ý định Giao ước của Chúa Cha, nhờ Chúa Thánh Thần, “nhằm quy tụ mọi sự trong Đức Ki-tô, thủ lãnh duy nhất” (Ep 1,10). Trong ánh sáng của truyền thống đức tin vĩ đại, cùng với sự tham chiếu đặc biệt vào những lời giảng dạy của Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô, lá thư này muốn làm sáng tỏ một vài khía cạnh của ơn cứu độ Ki-tô giáo có thể khó hiểu trong thời đại hôm nay, vì những biến đổi văn hóa mới mẻ.

II. Tác động của những biến đổi văn hoá hiện nay trên ý nghĩa của ơn cứu độ Ki-tô giáo

2. Thế giới ngày nay thật khó thông hiểu việc tuyên xưng đức tin Ki-tô giáo vốn công bố Chúa Giê-su là Đấng Cứu Độ duy nhất của con người toàn vẹn và của toàn thể nhân loại (x. Cv 4,12; Rm 3,23-24; 1 Tm 2,4-5; Tt 2,11-15).[2] Một mặt, chủ nghĩa cá nhân tập trung vào chủ thể tự quản muốn nhìn con người như một hữu thể mà sự thành toàn duy nhất của bản thân chỉ tuỳ thuộc vào sức riêng mình.[3] Trong cách nhìn này, khuôn mặt Đức Ki-tô xuất hiện như một mẫu gương gợi hứng cho những hành động quảng đại nhờ lời nói và nghĩa cử của Người, hơn là Đấng biến đổi thân phận con người, bằng cách tháp nhập chúng ta vào đời sống mới, giao hòa chúng ta với Chúa Cha và với nhau, trong Thánh Thần (x. 2 Cr 5,19; Ep 2,18). Mặt khác, cái nhìn về ơn cứu độ thuần tuý nội tâm đang trở thành phổ biến. Được biểu hiện bằng một xác tín hoặc sự cảm nhận cá nhân mãnh liệt được hợp nhất với Thiên Chúa, lối nhìn này không thấy cần thiết phải đảm nhận, chữa lành và làm mới lại các mối tương quan của chúng ta với tha nhân và với thế giới thụ tạo. Trong viễn cảnh này, thật khó để hiểu ý nghĩa việc Nhập Thể của Ngôi Lời, nhờ đó Người đã trở nên một thành viên của gia đình nhân loại, mặc lấy xác phàm và lịch sử của chúng ta, vì chúng ta và ơn cứu độ của chúng ta.

3. Trong giáo huấn thông thường của mình, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô thường nhắc đến hai khuynh hướng được mô tả ở trên. Hai khuynh hướng này giống với một vài khía cạnh của hai lạc thuyết cổ xưa, thuyết Pê-la-gi-ô và thuyết Ngộ đạo.[4] Một hình thái mới của thuyết Pê-la-gi-ô đang được truyền bá trong thời đại chúng ta, theo đó cá nhân được hiểu là tự quản triệt để, có tham vọng tự cứu lấy chính mình mà không nhận thức rằng, ở tận thẳm sâu nhất của chính mình, cá nhân ấy tuỳ thuộc vào Thiên Chúa và tha nhân. Theo lối suy tư này, ơn cứu độ tuỳ thuộc vào sức riêng của cá nhân, hoặc vào những cơ cấu thuần tuý nhân loại, không có khả năng tiếp nhận tính mới mẻ của Thần Khí Thiên Chúa.[5] Mặt khác, một hình thái mới của thuyết Ngộ đạo trình bày một khuôn mẫu về ơn cứu độ thuần tuý nội tâm, đóng kín trong thuyết duy chủ thể của riêng mình.[6] Theo khuôn mẫu này, ơn cứu độ hệ tại việc tự hoàn thiện bản thân, “nhờ tri thức, có khả năng vượt lên trên thân xác Chúa Giê-su, đạt tới những mầu nhiệm thần tính vô danh.[7] Khuôn mẫu này muốn giải thoát con người khỏi thân xác và vũ trụ vật chất, trong đó những dấu vết bàn tay quan phòng của Đấng Tạo Hóa không còn tìm thấy, nhưng chỉ có một thực tại mất hết ý nghĩa, xa lạ với căn tính nền tảng của con người, và dễ bị thao túng bởi những lợi lộc của con người.[8] Rõ ràng, việc so sánh với những lạc thuyết Pê-la-gi-ô và Ngộ đạo chỉ muốn nhắc lại những nét đặc trưng chung và tổng quát, mà không đi vào những đánh giá về bản chất đích thật của những sai lầm thời cổ xưa. Có một sự khác biệt lớn lao giữa xã hội tục hóa hiện đại và bối cảnh xã hội của Ki-tô giáo buổi ban đầu, trong đó hai lạc thuyết này phát sinh.[9] Tuy nhiên, trong mức độ thuyết Ngộ đạo và thuyết Pê-la-gi-ô tiêu biểu cho những nguy hại dai dẳng vì hiểu sai đức tin Kinh Thánh, [chúng ta] có thể tìm thấy những điểm tương đồng giữa những lạc thuyết cổ xưa và những khuynh hướng hiện đại vừa được mô tả.

4. Cả chủ nghĩa cá nhân tân Pê-la-gi-ô lẫn thái độ khinh thị thân xác tân Ngộ đạo đều gây tổn hại cho việc tuyên xưng niềm tin vào Đức Ki-tô, Đấng Cứu Độ duy nhất và phổ quát. Làm thế nào Đức Ki-tô có thể trở nên trung gian Giao ước của toàn thể gia đình nhân loại, nếu các nhân vị bị tách biệt thành những cá thể, tự thành toàn bản thân bằng những nỗ lực của riêng mình, như thuyết tân Pê-la-gi-ô đề xướng? Cũng vậy, làm sao ơn cứu độ có thể đến với chúng ta, nhờ việc Nhập Thể của Chúa Giê-su, [nghĩa là] đời sống, cái chết và sự Phục Sinh trong thân thể đích thật của Người, nếu hiểu ơn cứu độ chỉ là sự giải thoát thực tại nội tâm của con người khỏi những giới hạn của thân xác và vật chất, như lối nhìn tân Ngộ đạo mô tả? Đối diện với hai khuynh hướng này, lá thư hiện hành muốn khẳng định lại rằng ơn cứu độ hệ tại việc kết hợp với Đức Ki-tô, là Đấng mà nhờ việc Nhập Thể, cái Chết và sự Phục Sinh của Người, đã mang đến một thể thức tương quan mới mẻ với Chúa Cha và giữa con người với nhau, dẫn chúng ta vào trong những mối tương quan này, nhờ hồng ân Thánh Thần, để chúng ta có thể kết hợp với Chúa Cha như những người con trong Người Con, và trở nên một thân thể trong Đấng là “Trưởng Tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,29).

III. Con người khát khao ơn cứu độ

5. Cách trực tiếp hoặc gián tiếp, con người nhận biết chính mình như một mầu nhiệm: “Tôi là ai? Tôi hiện hữu, nhưng không có nguyên lý hiện hữu của chính mình nơi bản thân”. Mỗi người đều tìm kiếm hạnh phúc theo cách thức của riêng mình, và cố gắng để đạt được hạnh phúc bằng cách cậy dựa vào những phương thế sẵn có. Tuy nhiên, niềm khát vọng phổ quát này không nhất thiết được biểu lộ hay tỏ bày; đúng hơn, niềm khát vọng ấy thường là bí mật và được ẩn giấu hơn là được tỏ bày, và niềm khát vọng ấy sẵn sàng tỏ hiện chính mình khi gặp phải những khủng hoảng đặc biệt. Thông thường, niềm khát vọng này trùng hợp với ước vọng về sức khoẻ thể lý; đôi khi, khát vọng mặc lấy hình thức lo toan cho phúc lợi kinh tế lớn lao hơn; nhưng cách phổ biến, khát vọng ấy tự biểu lộ như nhu cầu an bình nội tâm và đời sống chung hòa bình với tha nhân. Mặt khác, công cuộc tìm kiếm ơn cứu độ, tự tỏ bày như niềm khát vọng điều thiện hảo lớn lao hơn, vẫn duy trì nghị lực phản kháng và vượt thắng đau khổ. Đi đôi với cuộc chiến đấu tìm kiếm sự thiện là cuộc chiến đấu chống lại sự ác: ngu dốt và lầm lỗi, mong manh và yếu đuối, bệnh tật và chết chóc.

6. Lưu tâm đến những khát vọng này, và bác bỏ mọi tham vọng tự thành toàn, niềm tin vào Đức Ki-tô dạy rằng những khát vọng này chỉ có thể được thành toàn cách trọn vẹn nếu chính Thiên Chúa làm cho chúng nên khả thể, bằng cách lôi cuốn chúng ta đến với Ngài. Ơn cứu độ con người toàn vẹn không hệ tại những gì con người có thể đạt được nhờ sức riêng mình, như tài sản, phúc lợi vật chất, kiến thức hoặc tài năng, quyền lực hoặc sức ảnh hưởng trên người khác, thanh danh hoặc sự tự mãn.[10] Chẳng có loài thụ tạo nào có thể làm chúng ta thoả mãn trọn vẹn, vì Thiên Chúa đã định phần cho chúng ta được hiệp thông với Ngài, và lòng chúng ta sẽ chỉ được yên nghỉ khi nghỉ yên trong Ngài.[11] “Thật vậy, ơn gọi chung cuộc của con người là duy nhất và thần linh”.[12] Như thế, Mặc Khải không tự giới hạn vào việc loan báo ơn cứu độ được hiểu như đáp số cho bất kỳ ước muốn đặc thù nào của thời đại. “Trái lại, nếu ơn cứu độ được đánh giá hay đo lường theo những nhu cầu hiện sinh của con người, làm sao chúng ta không thể hoài nghi việc chỉ tạo ra một Thiên Chúa - Đấng Cứu Độ theo những nhu cầu của chính chúng ta?”[13]

7. Cũng phải khẳng định rằng, theo niềm tin Kinh Thánh, nguồn gốc của sự ác không tìm thấy được trong thế giới vật chất hữu hình, được trải nghiệm như một giới hạn hoặc một ngục tù, khiến chúng ta muốn được giải thoát khỏi thế giới ấy. Trái lại, niềm tin Kinh Thánh công bố rằng toàn thể vũ trụ đều tốt lành vì đã được Thiên Chúa sáng tạo (x. St 1,31; Kn 1,13-14; 1 Tm 4,4), rằng sự ác nguy hại nhất đối với con người là sự ác xuất phát từ lòng người (x. Mt 15,18-19; St 3,1-19). Khi phạm tội, con người đã ruồng bỏ nguồn suối tình yêu, và tự đánh mất bản thân trong những hình thức yêu thương lệch lạc, nhốt kín con người hơn trong chính bản thân mình. Chính việc xa lìa Thiên Chúa, Đấng là nguồn suối của sự hiệp thông và sự sống, đã làm mất đi sự hài hoà giữa con người với nhau và giữa nhân loại với thế giới, dẫn đến tình trạng thống trị của sự hự mất và sự chết (x. Rm 5,12). Vì thế, ơn cứu độ mà đức tin loan báo cho chúng ta không chỉ liên quan đến thực tại nội tâm của chúng ta, nhưng toàn vẹn hữu thể chúng ta. Thật vậy, con người toàn vẹn, thân xác và linh hồn, đã được tình yêu Thiên Chúa tạo dựng, theo hình ảnh và giống như Ngài, được mời gọi sống hiệp thông với Ngài.

IV. Chúa Ki-tô, Đấng Cứu Độ và Ơn Cứu Độ

8. Chẳng một phút giây nào trong dòng lịch sử, Thiên Chúa lại ngừng ban ơn cứu độ cho con cái A-đam (x. St 3,15), nhờ việc thiết lập giao ước của Ngài với toàn thể nhân loại qua ông Nô-e (x. St 9,9), và sau đó, với A-bra-ham và dòng dõi của ông (x. St 15,18). Vì thế, ơn cứu độ của Thiên Chúa mặc lấy trật tự thụ tạo vốn được toàn thể nhân loại chia sẻ, và ơn cứu độ ấy đồng hành cùng lộ trình cụ thể của nhân loại trong lịch sử. Bằng việc chọn một dân tộc và ban cho họ các phương tiện để chống lại tội lỗi và đến gần với Ngài, Thiên Chúa đã chuẩn bị cho việc ngự đến của “một Vị Cứu Tinh quyền thế, từ nhà Đa-vít, tôi tớ Ngài” (Lc 1,69). Khi thời gian đến hồi viên mãn, Chúa Cha đã sai Người Con của Ngài đến thế gian; Người Con ấy đã loan báo Nước Thiên Chúa, chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền (x. Mt 4,3). Những việc chữa lành mà Chúa Giê-su thực hiện, qua đó Người làm tỏ rạng sự quan phòng của Thiên Chúa, là dấu chỉ qui hướng về chính bản thân Người, Đấng được mặc khải trọn vẹn như là Chúa của sự sống và sự chết trong biến cố Vượt Qua của Người. Theo Tin Mừng, ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại bắt đầu bằng việc đón nhận Chúa Giê-su: “Hôm nay ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (Lc 19,9). Tin Mừng cứu độ có một tên gọi và một khuôn mặt: Chúa Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ. “Trở nên Ki-tô hữu không phải là kết quả của một chọn lựa đạo đức hay một ý tưởng cao cả, nhưng là kết quả của cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người, cuộc gặp gỡ trao tặng cho đời sống một chân trời mới và một định hướng dứt khoát”.[14]

9. Qua dòng lịch sử hằng bao thế kỷ, với nhiều diện mạo, đức tin Ki-tô giáo đã làm tỏ rạng công trình cứu độ của Người Con Nhập Thể. Công trình cứu độ ấy được thực hiện mà không hề có sự tách biệt giữa chiều kích chữa lành của ơn cứu độ, nhờ đó Chúa Ki-tô cứu chúng ta khỏi tội lỗi, với chiều kích vinh thăng, nhờ đó Chúa Ki-tô làm cho chúng ta trở thành con cái của Thiên Chúa, bằng việc thông phần bản thể thần linh của Người (x. 2 Pr 1,4). Khi nhìn viễn cảnh cứu độ theo hướng từ trên xuống, nghĩa là khởi sự từ Thiên Chúa, Đấng đến cứu độ con người, Chúa Giê-su là Đấng soi sáng và mặc khải, cứu chuộc và giải thoát, thần linh hóa và công chính hóa con người. Theo cái nhìn từ dưới lên, nghĩa là khởi sự từ con người qui hướng lên Chúa, Chúa Ki-tô là vị Thượng Tế của Giao Ước Mới, dâng lên Chúa Cha việc thờ phượng hoàn hảo, nhân danh toàn thể nhân loại: Người tự hiến, đền tội và hằng sống để chuyển cầu cho chúng ta. Bằng cách này, một sự hợp nhất lạ lùng giữa hành động thần linh và nhân loại tỏ hiện trong đời sống của Đức Giê-su, một sự hợp nhất chỉ cho thấy rõ lối nhìn cá nhân chủ nghĩa là không có nền tảng. Cái nhìn từ trên xuống làm chứng cho tính trổi vượt tuyệt đối của những hành động nhưng không của Thiên Chúa; vượt trước mọi hành động của chúng ta, sự khiêm nhường là điều thiết yếu để đáp lại tình yêu cứu độ của Thiên Chúa và là điều kiện cần thiết để lãnh nhận quà tặng của Ngài. Đồng thời, cái nhìn hướng lên nhắc nhớ rằng, nhờ những hành động hoàn toàn nhân loại của Người Con của Ngài, Chúa Cha muốn đổi mới hành động của chúng ta, để một khi nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô, chúng ta có thể thực hiện “những công trình tốt đẹp mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho chúng ta” (Ep 2,10).  

10. Hơn nữa, rõ ràng ơn cứu độ Chúa Giê-su mang đến nơi bản thân Người không xảy ra theo cách thức thuần tuý nội tại. Quả thực, Người Con đã mặc lấy xác phàm, để chia sẻ cho mọi người sự hiệp thông cứu độ với Thiên Chúa (x. Ga 1,14). Bằng việc mặc lấy xác phàm (x. Rm 8,3; Dt 2,14; Ga 4,2), và sinh ra bởi người nữ (x. Gl 4,4), “Con Thiên Chúa đã trở nên con loài người”[15] và nên anh em của chúng ta (x. Dt 2,14). Như thế, vì đã trở nên thành phần của gia đình nhân loại, “Người đã liên kết với hết mọi người cách nào đó”[16] và đã thiết lập một thể thức tương quan mới mẻ với Thiên Chúa, Cha của Người, và với toàn thể nhân loại; chúng ta có thể được tháp nhập vào thể thức tương quan mới mẻ này và thông phần vào chính sự sống của Con Thiên Chúa. Bởi thế, việc mặc lấy xác phàm chẳng những không giới hạn hành động cứu độ, mà còn cho phép Đức Ki-tô trở nên trung gian ơn cứu độ của Thiên Chúa cho toàn thể con cái A-đam.

11. Tóm lại, để trả lời cho cả chủ thuyết giản lược mang tính cá nhân chủ nghĩa theo khuynh hướng Pê-la-gi-ô, lẫn lời hứa về ơn cứu độ thuần tuý nội tại theo khuynh hướng tân Ngộ đạo, chúng ta cần nhận biết cách thức nhờ đó Chúa Giê-su trở thành Đấng Cứu Độ. Người đã không tự giới hạn vào việc chỉ giới thiệu cho chúng ta con đường gặp gỡ Thiên Chúa, nhờ đó chúng ta có thể tiến bước trên nẻo đường riêng của chúng ta, bằng việc vâng nghe lời Người và noi theo gương Người. Đúng hơn, Chúa Ki-tô mở cho chúng ta cánh cửa tự do, và chính Người trở thành con đường: “Thầy là đường” (Ga 14,6).[17] Hơn nữa, lộ trình này không chỉ là một hành trình nội tâm ở bên lề các mối tương quan của chúng ta với người khác và với thế giới thụ tạo. Đúng hơn, Chúa Giê-su đã ban tặng chúng ta một “con đường mới và sống động qua bức màn chính là thân xác Người” (Dt 10,20). Chúa Ki-tô là Đấng Cứu Độ vì Người đã mặc lấy toàn vẹn nhân tính của chúng ta và đã sống một cuộc sống nhân loại trọn vẹn trong sự hiệp thông với Cha của Người và với tha nhân. Vì thế, ơn cứu độ hệ tại việc tháp nhập chúng ta vào trong sự sống của Người, nhờ lãnh nhận Thần Khí của Người (x. 1 Ga 4,13). Người đã trở thành, “theo cách thế đặc biệt, nguồn cội của mọi ân sủng theo nhân tính của Người.”[18]Người vừa là Đấng Cứu Độ vừa là Ơn Cứu Độ.

V.  Ơn cứu độ trong Giáo hội, Thân Mình của Đức Ki-tô

12. Giáo hội là nơi chúng ta được đón nhận ơn cứu độ do Chúa Giê-su thiết lập, đây là một cộng đồng gồm những người đã được kết hợp trong mối tương quan mới do Đức Ki-tô khởi xướng (x. Rm 8,9). Việc hiểu được tính trung gian cứu độ của Giáo hội là một trợ lực thiết yếu để vượt thắng mọi khuynh hướng của giản lược thuyết. Ơn cứu độ Thiên Chúa ban cho chúng ta không đạt được bằng những nỗ lực riêng của từng người chúng ta như thuyết tân Pê-la-gi-ô chủ trương. Đúng ra, ơn cứu độ có trong các mối tương quan nảy sinh từ Con Thiên Chúa nhập thể và các mối tương quan này tạo nên sự hiệp thông của Giáo hội. Giáo hội là một cộng đồng hữu hình bởi vì ân sủng Đức Ki-tô ban cho chúng ta không chỉ là ơn cứu độ nội tại như quan niệm tân Ngộ đạo đòi hỏi, song còn bởi vì ân sủng dẫn đưa chúng ta vào các mối tương quan cụ thể mà chính Người đã sống. Trong mầu nhiệm Giáo hội chúng ta được chạm đến các chi thể của Chúa Giê-su, đặc biệt nơi các anh chị em nghèo nhất và đau khổ nhất. Vì thế, tính trung gian cứu độ của Giáo hội, “Bí tích phổ quát về ơn cứu độ”,[19] bảo đảm cho chúng ta rằng, ơn cứu độ không hệ tại việc tự mình thực hiện đơn lẻ, cũng không hệ tại việc liên kết bên trong giữa cá nhân với thần thánh. Đúng hơn, ơn cứu độ hệ tại việc được kết hợp vào sự thông hiệp của những người cùng tham gia vào sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa.

13. Cả hai quan niệm “duy cá nhân” và “thuần túy nội tại” về ơn cứu độ đều trái ngược với nhiệm cục bí tích, qua đó Thiên Chúa muốn cứu độ con người. Sự thông phần vào thể thức mới trong các mối tương quan do Chúa Giê-su khởi xướng, diễn ra trong Giáo hội nhờ vào các bí tích, trong đó Bí tích Thánh Tẩy là cửa vào,[20] và Bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và tột đỉnh.[21] Trong đó, chúng ta có thể nhận ra sự thiếu vững chắc của các chủ trương về tự thân cứu độ, vốn chỉ dựa hoàn toàn vào những nỗ lực của con người. Đức tin tuyên xưng rằng, chúng ta đuợc cứu độ nhờ Bí tích Thánh Tẩy, bí tích này đóng ấn vào chúng ta một dấu không thể phai nhạt là thuộc về Đức Ki-tô và Giáo hội. Sự chuyển đổi cách sống các mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa, với con người, và với tạo thành phát sinh từ Bí tích Thánh Tẩy (x. Mt 28,19). Quả vậy, được thanh tẩy khỏi tội nguyên tổ và mọi tội lỗi khác, chúng ta được mời gọi vào sự sống mới đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô (x. Rm 6,4). Nhờ ân sủng của bảy bí tích, các tín hữu tiếp tục tăng trưởng và được canh tân về đời sống thiêng liêng, đặc biệt khi hành trình tâm linh trở nên khó khăn hơn. Khi từ bỏ tình yêu của mình đối với Đức Ki-tô bằng cách phạm tội, các tín hữu lại có thể được dẫn nhập vào các mối tương quan do Đức Ki-tô đã khởi sự trong Bí tích Hòa Giải, cho phép họ lại bước đi trên con đường Người đã đi (x. 1 Ga 2,6). Bằng cách này, chúng ta hy vọng hướng tới Cuộc Phán Xét Cuối, trong đó mỗi người sẽ được phân xử theo độ chân thực của tình yêu mình đã thể hiện (Rm 13,8-10), cách đặc biệt là đối với những người yếu đuối nhất (x. Mt 25,31-46).

14. Nhiệm cục cứu độ cũng đối nghịch với những khuynh hướng đề xướng một sự cứu độ thuần túy nội tâm. Thật vậy, thuyết Ngộ đạo tự liên kết với quan điểm tiêu cực về trật tự đuợc tạo dựng, trật tự này bị hiểu là sự giới hạn tự do tuyệt đối của tinh thần nhân loại. Vì thế, ơn cứu độ bị hiểu là sự giải thoát khỏi thể xác và các mối tương quan cụ thể mà con người đang sống. Ơn cứu độ đích thực, trái nghịch với tình trạng giải thoát khỏi thân xác, còn bao gồm cả việc thánh hoá thân xác (x. Rm 12,1) đến mức chúng ta được cứu độ nhờ “việc hiến dâng thân mình làm lễ tế của Đức Ki-tô Giê-su” (Dt 10,10; x. Cl 1,22). Thân xác con người đuợc Thiên Chúa nặn hình, Ngài khắc vào đó một ngôn ngữ mời gọi con người nhận biết các tặng ân của Đấng Tạo Dựng và sống thông hiệp với anh chị em của mình.[22] Đấng Cứu Độ tái lập và canh tân ngôn ngữ nguyên thủy này qua Mầu nhiệm Nhập Thể và Phục Sinh của Người, đồng thời thông truyền mầu nhiệm ấy trong nhiệm cục các bí tích. Nhờ có các bí tích, các Ki-tô hữu mới có thể sống trung thành với máu thịt Đức Ki-tô và nhờ đó, trung thực với thể thức tương giao mà Người đã ban cho. Thể thức tương giao này, đặc biệt đòi hỏi phải chăm sóc hết thảy nhân loại khổ đau bằng các công việc của lòng thương xót về phương diện tinh thần cũng như thể xác.[23]

VI.   Kết luận: Thông truyền đức tin, mong đợi Đấng Cứu Độ

15. Việc hiểu biết đầy đủ về sự sống mà Đức Ki-tô, Đấng Cứu Độ giới thiệu cho chúng ta, sẽ thúc đẩy các Ki-tô hữu hướng tới sứ vụ loan báo cho mọi người niềm vui và ánh sáng của Tin Mừng.[24] Trong công trình này, các Ki-tô hữu cũng phải được chuẩn bị – để thiết lập với các tín hữu của các tôn giáo khác cuộc đối thoại chân thành và xây dựng – với niềm tin rằng Thiên Chúa có thể dẫn đưa “tất cả những ai có thiện chí được ơn thánh tác động một cách vô hình trong tâm hồn”[25] tới ơn cứu độ trong Đức Ki-tô. Trong khi tận hiến mọi nỗ lực của mình cho công cuộc loan báo Tin Mừng, Giáo hội tiếp tục khẩn cầu cuộc quang lâm tất định của Đấng Cứu Độ, bởi chính trong “hy vọng mà chúng ta được cứu độ” (x. Rm 8,24). Công trình cứu độ nhân loại sẽ chỉ hoàn tất sau khi đã chinh phục được kẻ thù cuối cùng là sự chết (x. 1 Cr 15,26), khi ấy chúng ta sẽ tham gia cách đầy đủ vào vinh quang của Chúa Giê-su Phục Sinh, Đấng sẽ đưa tới mức độ viên mãn mối tương quan của chúng ta với Thiên Chúa, với anh chị em của mình và với toàn thể tạo thành. Cứu độ cả xác lẫn hồn là định mệnh chung cuộc mà Thiên Chúa kêu gọi toàn thể nhân loại hướng đến. Được xây nền trong đức tin, được nâng đỡ nhờ đức cậy, và hoạt động trong đức ái, theo gương Đức Ma-ri-a, Mẹ Đấng Cứu Độ và là người đầu tiên trong những người được hưởng ơn cứu độ, chúng ta chắc chắn rằng “quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Ki-tô Giê-su từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh quang của Người” (Pl 3,20-21).

Lá thư này được Phiên họp khoáng đại của Bộ Giáo Lý Đức Tin thông qua ngày 24-01-2018, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô đã chuẩn y vào ngày 16-02-2018, và ban lệnh phát hành thư.

Văn phòng Bộ Giáo Lý Đức Tin,
Rô-ma, ngày 22-02-2018, dịp lễ kính Ngai Tòa Thánh Phê-rô
(đã ấn ký)
+ Luis F. Ladaria, S.J.
Tổng Giám Mục Hiệu Tòa Thibica,
Tổng trưởng
(đã ký)
+ Giacomo Morandi
Tổng Giám Mục Hiệu Tòa Cerveteri,
Thư ký
---------------------------------------------
Bản dịch của Uỷ ban Giáo lý Đức tin



[1] Công đồng Va-ti-ca-nô II, Hiến chế tín lý về Mặc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 2.
[2] X. Bộ Giáo Lý Đức Tin, Tuyên ngôn Dominus Iesus (ngày 06 tháng 8 năm 2000), 5-8: AAS 92 (2000), 745-749.
[3] X. Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô, Tông huấn Evangelii gaudium (ngày 24 tháng 11 năm 2013), 67: AAS 105 (2013), 1048.
[4] X. Id., Thông điệp Lumen fidei (ngày 29 tháng 6 năm 2013), 47: AAS 105 (2013), 586-587; Tông huấn Evangelii gaudium, 93-94: AAS (2013), 1059; Diễn văn gởi các tham dự viên Công Nghị Lần Thứ Năm Của Giáo hội Ý (ngày 10 tháng 11 năm 2015), Florence: AAS 107 (2015), 1287.
[5] X. Id., Diễn văn gởi các tham dự viên Công Nghị Lần Thứ Năm Của Giáo hội Ý (ngày 10 tháng 11 năm 2015), Florence: AAS 107 (2015), 1288.
[6] X. Id., Tông huấn Evangelii gaudium, 94: AAS 105 (2013), 1059: “sự hấp dẫn của thuyết Ngộ đạo, một đức tin hoàn toàn chủ quan, chỉ bận tâm đến kinh nghiệm nào đó hoặc một tập hợp các ý tưởng và những mẩu kiến thức được cho là có khả năng an ủi và soi sáng, nhưng chung cuộc chỉ giam hãm con người trong những tư tưởng và tình cảm của riêng mình”; Hội đồng Giáo Hoàng về Văn Hoá-Hội đồng Giáo Hoàng về Đối Thoại Liên Tôn, Đức Giê-su Ki-tô Đấng mang nước hằng sống. Một suy tư Ki-tô giáo về trào lưu “Thời Đại Mới” (tháng 01 năm 2003), Thành phố Vatican, 2003. 
[7] Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô, Thông điệp Lumen fidei, 47: AAS 105 (2013), 586-587.
[8] X. Id., Diễn văn gởi các tham dự viên cuộc hành hương của Giáo phận Brescia (ngày 22 tháng 6 năm 2013): AAS 95 (2013), 627: “trong thế giới này, nơi người ta chối bỏ con người, nơi người ta thích đi theo đường lối của Ngộ đạo, [...] của “không thân xác” – một Thiên Chúa đã không mặc lấy xác phàm [...]”.
[9] Theo lạc thuyết Pê-la-gi-ô, được phát triển vào thế kỷ thứ năm quanh Pê-la-gi-ô, để chu toàn những giới luật của Thiên Chúa và để được cứu độ, con người chỉ cần đến ân sủng như một sự trợ giúp từ bên ngoài cho tự do của mình (như ánh sáng, sức mạnh chẳng hạn), chứ không như một sự chữa lành và tái tạo tận căn tự do, không cần công trạng đi trước, cho đến khi con người có thể làm điều thiện và đạt đến sự sống vĩnh cửu. Nổi lên vào thế kỷ thứ nhất và thứ hai, phong trào Ngộ đạo còn phức tạp hơn với những hình thức khác nhau. Cách chung, những người theo thuyết Ngộ đạo tin rằng ơn cứu độ đạt được nhờ một tri thức bí nhiệm hoặc sự Ngộ đạo. Sự Ngộ đạo này tỏ lộ cho người Ngộ đạo biết được bản thể đích thật của họ, nói cách khác, một tia sáng của Thần Khí Thiên Chúa cư ngụ ở nội tâm họ. Tia sáng này phải được giải thoát khỏi thân xác, vốn xa lạ với nhân tính chân thật của họ. Duy chỉ bằng cách này, người Ngộ đạo trở về với hữu thể nguyên tuyền của họ trong Thiên Chúa, Đấng họ đã lìa xa vì sự sa ngã nguyên thuỷ.
[10] X. Tô-ma A-qui-nô, Summa theologiae, I-II, q.2.
[11] X. Âu-tinh, Tự thuật, I, 1: Corpus Christianorum, 27, 1.
[12] Va-ti-ca-nô II, Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay Gaudium et spes, 22.
[13] Uỷ Ban Thần Học Quốc Tế, Những câu hỏi chọn lọc liên quan đến thần học về Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ (1995), 2.
[14] Bê-nê-đic-tô XVI, Thông điệp Deus caritas est (25/12/2005), 1: AAS 98 (2006), 217; x. Phan-xi-cô, Tông huấn  Evangelii gaudium, 3: AAS 105 (2013), 1020.
[15] I-rê-nê, Adversus haereses, III, 19,1: Sources Chrétiennes, 211, 374.
[16] Va-ti-ca-nô II, Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay Gaudium et spes, 22.
[17] X. Âu-tinh, Tractatus in Ioannem, 13,4: Corpus Christianorum, 36,132: “‘Thầy là đường là sự thật và là sự sống’ (Ga 14,6). Nếu bạn tìm kiếm sự thật ấy, hãy đi theo con đường ấy, vì con đường ấy cũng chính là sự thật ấy. Đích bạn nhắm và con đường bạn đi là một. Bạn không thể đến đích bằng việc đi con đường khác, bạn cũng không thể đến với Chúa Ki-tô qua một con con đường khác. Bạn chỉ có thể đến với Chúa Ki-tô qua Chúa Ki-tô. Đến với Chúa Ki-tô qua Chúa Ki-tô có nghĩa là gì? Bạn đến với Chúa Ki-tô là Thiên Chúa qua Chúa Ki-tô là con người. Qua Ngôi Lời làm người, bạn đến được với Ngôi Lời mà ngay từ khởi nguyên là Thiên Chúa và ở với Thiên Chúa.”
[18] Tô-ma A-qui-nô, Quaestio de veritate, q. 29, a. 5, co.
[19] LG, số 48.
[20] X. Tô-ma A-qui-nô, Summa theologiae, III, q. 63, a. 3.
[21] X. LG, số 11; SC, số 10.
[22] X. Laudato si’, số 155: AAS 107 (2015), 909-910.
[23] X. Tông thư Misericordia et misera (20-11-2016), 20: AAS 108 (2016), 1325-1326.
[24] Gio-an Phao-lô II, Thông điệp Redemptoris missio (7-12-1990), 40: AAS 83 (1991), 287-288; Phan-xi-cô, Tông huấn Evangelii gaudium, 9-13: AAS 105 (2013), 1022-1025..
[25] Va-ti-ca-nô II, Gaudium et spes, 22.

Tác giả: Bản dịch của Ủy Ban Giáo lý Đức tin - trực thuộc Hội đồng Giám mục VN

Mạc Khải Và Dấu Lạ (Révélation et Miracle)

Mạc Khải Và Dấu Lạ (Révélation et Miracle)





Có một số Kitô hữu cho rằng dấu lạ là chuyện lỗi thời, và một số khác lại quá thích thú với những điều lạ lùng giả tạo, như xiếc, xảo thuật, ảo thuật chẳng hạn. Đó là hai thái cực đối nghịch nhau. Dường như chúng ta chỉ nhìn thấy nơi mỗi dấu lạ một thách đố luật tự nhiên mà quên mất vai trò của chúng như “những dấu chỉ trí khôn con người có thể hiểu”?
Để đức tin và lý trí có thể hòa hợp với nhau cùng với sự trợ lực bên trong của Chúa Thánh Thần, Thiên Chúa đã muốn dùng những bằng chứng ngoại tại của mạc khải tức là những biến cố thiên linh, và nhất là các dấu lạ và các ngôn sứ. Những bằng chứng ấy vừa diễn tả cách tuyệt diệu quyền năng và hiểu biết vô cùng của Thiên Chúa, vừa là những dấu chỉ rất chắc chắn của mạc khải, thích hợp với trí khôn mọi người”.
Đoạn văn trên của Công đồng Vatican II muốn xác định dấu lạ là những bằng chứng, những biến cố, những dấu chỉ xuất phát từ Thiên Chúa để đảm bảo cho giá trị của mạc khải. Vì thế, dấu lạ có nhiệm vụ xác định rõ “xuất xứ của đạo Kitô do tự Thiên Chúa” tức là nói lên sự chuẩn nhận của Thiên Chúa, dấu ấn của Thiên Chúa đóng trên chứng từ về Người. Công đồng căn cứ trên Tin mừng Máccô (16,20): “Còn các Tông đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng”. Tuy nhiên, khi nhấn mạnh đến vai trò củng cố của dấu lạ, Công đồng không loại trừ các chức năng khác của dấu lạ. Giáo hội vẫn thường xác quyết điều này nhưng không phủ nhận điều kia.
Để hiểu rõ vấn đề này, chúng ta cần dựa vào Phúc âm. Dưới ánh sáng của Phúc âm, dấu lạ có nhiều chức năng khác nhau, đồng thời xác định vai trò của dấu lạ trong mạc khải Kitô giáo. Như thế, dấu lạ là:
- Dấu chỉ “yêu thương” (agape) của Thiên Chúa,
- Dấu chỉ Nước Cứu Thế đến,
- Dấu chỉ việc Thiên Chúa sai đi,
- Dấu chỉ về vinh quang của Chúa Kitô
- Mạc khải về Mầu Nhiệm Ba Ngôi
- Tiên trưng bí tích cứu độ
- Dấu chỉ cuộc biến đổi của thế giới cánh chung.

1. Dấu Chỉ “Yêu Thương” Của Thiên Chúa
Chúa Kitô hạ mình xuống với con người, tự nó đã là một hành vi cứu thế, một hồng ân cho con người. Chính trong Chúa Kitô “lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta đã được biểu lộ” (Tt 3,4). Chúa Kitô là Lời Yêu Thương của Thiên Chúa gửi cho nhân loại, nên qua Chúa Kitô, ta thấy rõ Thiên Chúa yêu thương ta biết bao. Các dấu lạ Chúa Kitô, ta thấy rõ Thiên Chúa yêu thương ta biết bao. Các dấu lạ Chúa Kitô làm lại chính là những dấu chỉ lòng Chúa “yêu thương” nhân loại, một lòng mến thương sống động và đấy trắc ẩn ban xuống cho nhân loại lầm than. Người đã làm các dấu lạ dưới nhiều cách thế:
- Khi thì chính Người đã làm các dấu lạ trước cả những lời kêu xin của con người: hóa bánh ra nhiều (Mc 6,34; 8,1-3); phục sinh con trai bà góa thành Naim (Lc 7,13), chữa người bại tay (Lc 6,6-7); chữa người đàn bà còng lưng (Lc 13,11-12); chữa người bất toại (Ga 5,5-9);…
- Khi thì người làm dấu lạ theo lời con người kêu xin, như một lời đáp trả đối với lòng tin của họ: chữa người mù thành Giêricô (Mt 20,29-34); chữa con gái người đàn bà xứ Canaan (Mt 15,21-28); chữa người phong hủi (Mc 1,40-41);…
- Nơi khác, con người chỉ cần biểu lộ lòng tin của họ qua việc chạm đến tua áo của Người là họ được lành bệnh: Người phụ nữ bị băng huyết (Mc 5,27); các dân cư miền Giênêsaret (Mt 14,36).

2. Dấu Chỉ Nước Cứu Thế Đến
Kỷ nguyên Cứu Thế được ghi dấu bằng các dấu lạ: “Bấy giờ, mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được, kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ rao hò” (Is 35,5-6; 20,18). “Bấy giờ các vong nhân sẽ sống lại, xác họ sẽ đứng lên” (Is 26,19).
Chúa Kitô xuất hiện, Người đến để thực hiện những lời ngôn sứ. Các ngôn sứ quan niệm kỷ nguyên cứu thế sẽ lại có vô số các dấu lạ đã được thực hiện trong cuộc xuất hành xưa. Bằng các dấu lạ, Người “làm cho lời Kinh thánh nên trọn” và Người thực là Đấng thiên sai muôn dân trông đợi (Lc 4,16-22).
- Chúa Kitô đến, Người chữa lành mọi tật bệnh và khử trừ ma quỉ để chứng minh Nước Cứu Thế đến. “Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người” để cứu chữa và giải thoát con người bị ma quỷ kiềm chế (Cv 10,38).
- Các tông đồ cũng được “Chúa Kitô ban cho quyền rao giảng, chữa lành và trừ quỷ” (Mt 10,1; Mc 3,14; Lc 9,1).
Theo quan niệm Do thái, nguyên nhân của bệnh tật và cái chết là tội lỗi. Satan thủ lãnh đã bàng trướng vương quốc mình bằng bệnh tật và cái chết trên con người; Chúa Kitô đến, Người chữa lành và phục sinh thân xác – những biểu hiện bên ngoài – để chứng tỏ Người chữa lành và phục sinh phần hồn và có quyền trên Satan và tiêu diệt sức bàng trướng của nó. Cuộc đời Người luôn biểu lộ một sức mạnh chống lại quyền lực Satan dưới mọi hình thức. Nước Chúa đến tiêu diệt nước Satan. Dấu lạ chữa lành và phục sinh “cho thấy” Nước Cứu Thế đến và Chúa Kitô chính là Đấng Cứu Thế.

3. Dấu Chỉ Việc Thiên Chúa Sai Đi
Dấu chỉ chứng thực việc sai đi là do Thiên Chúa, mọi sứ mạng đều phát xuất tự Thiên Chúa. Dấu lạ khi ấy là tín thư bảo chứng của vị sứ giả. Môsê trong Cựu ước cũng đã xin Chúa cho các dấu lạ để chứng thực mình được “Thiên Chúa ở cùng” và “do Thiên Chúa sai đi” để “dân tin và nghe lời ông” (Xh 4,1). Dân Do thái “tin vào Đức Chúa, và tôi trung của Người là Môsê”vì chứng kiến các dấu lạ (Xh 14,31). Như thế, dấu lạ cũng xác định vị sứ ngôn nào thật sự do Thiên Chúa gửi tới.
Cũng thế, Chúa Kitô đến, Người cũng làm các dấu lạ để minh chứng mình đến tự Thiên Chúa, đên với quyền năng của Thiên Chúa. Mọi hành động và ý định của Người được các dấu lạ chứng thực là do Thiên Chúa (Ga 2,17; 6,30); chữa người bất toại (Mc 2,10); phục sinh Nazarô (Ga 11,41-42).
Tin mừng Gioan nói rõ: “Chứng kiến các dấu lạ Chúa Giêsu làm, nhiều người tin vào Người” (Ga 2,23). Nicôđêmô nhận rằng “Chúa Kitô phải đến từ Thiên Chúa” vì không ai làm được những dấu lạ Người làm “nếu Thiên Chúa không ở với Người” (Ga 3,2). Người mù bấm sinh trả lời các người biệt phái “nếu không phải là Người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì” (Ga 9,33).
Các Tông đồ cũng thấy. Các vị được Chúa Kitô ban cho quyền làm dấu lạ để làm chứng cho lời rao giảng của các vị (Cv 4,3) củng cố lời và đối tượng rao giảng là Chúa Kitô phục sinh đồng thời cứu độ những ai tin vào Người.

4. Dấu Chỉ Về Vinh Quang Của Chúa Kitô
Các dấu lạ Chúa Kitô làm không chỉ là những dấu chỉ bình thường biểu hiện một sứ giả bình thường, mà còn là “những việc làm” của Chúa Con, là “bằng chứng” của Chúa Cha và Đấng còn lớn hơn cả Giona và Salomon, hơn cả Môsê và Êlia, hơn cả Đavít và Gioan Tẩy Giả,… Người trổi vượt hơn các vị sứ ngôn khác. Vì thế, các dấu lạ Người làm còn chứng thực Thiên tính nơi Người, Người làm với cương vị là con Thiên Chúa, bằng với Chúa Cha, thông phần hiểu biết và quyền năng sung mãn với Chúa Cha. Các dấu lạ chứng thực Người là con Thiên Chúa hằng sống.
Chúa Cha “yêu thương Chúa Con và đã giao mọi sự trong tay Người” (Ga 3,35), nên dấu lạ Người là những dấu chỉ bên ngoài, biểu lộ việc chuẩn nhận của Chúa Cha. Khi đó, dấu lạ là chứng từ của Cha đã giao cho Tôi để Tôi hoàn thành, chính những việc “Tôi làm đó làm chứng cho Tôi là Chúa Cha đã sai Tôi” (Ga 5,36-37; 10,25).
Dó đó, hãy tin vào Chúa Kitô, nếu không tin vì lời Người thì ít là tin vào các việc Người làm (Ga 10,37-38). Đây cũng là bằng chứng buộc tội dân Do thái: “giả như Thầy không làm giữa họ những việc không một ai khác đã làm, họ đã không có tội. Nhưng nay, họ thấy rồi mà vẫn ghét cả Thầy lẫn Cha Thầy” (Ga 15,24; 9,41).
Vậy nên, dấu lạ có thể coi là việc “của Chúa Kitô làm để dẫn đưa con người đến nhận biết Người chính là Con Thiên Chúa. Đấng đang sống và hoạt động giữa họ. Người mạc khải cho nhân loại biết địa vị làm con vinh hiển của Người” (Ga 1,14; 2,11.49). Người ở giữa họ với “quyền lực của Đức Chúa và biểu lộ quyền lực ấy qua các dấu lạ”.

5. Mạc Khải Về Mầu Nhiệm Ba Ngôi
Theo Phúc âm thứ tư, các dấu lạ - xét như việc làm của Chúa Kitô; chẳng những là ấn dấu của Chúa Cha xuống trên Lời Chúa Con mà là dấu chỉ dẫn ta đến gần với chính mầu nhiệm Ba Ngôi. Các việc Chúa Con làm chính là việc của Chúa Cha, các việc chung cho cả hai ngôi vị ấy mạc khải cho ta biết sự hợp nhất thâm sâu đá nối kết hai ngôi lại.
- Việc của Cha là của Con: Chúa Cha khởi đầu mọi sự (Ga 5,19-20, 30; 14,10) và ủy thác cho Chúa Con việc hoàn tất (Ga 5,36) vì cũng như Chúa Cha làm cho kẻ chết chỗi dậy và bạn sự sống cho họ thế nào, thì “Chúa Con cũng ban sự sống cho ai tùy ý” (Ga 5,21)“Những việc Chúa Cha đã giao cho Tôi để Tôi hoàn thành” (Ga 5,36).
- Các dấu lạ tỏ hiện việc Cha ở trong Con và Con ở trong Cha hợp nhất trong cùng một Thánh Thần. Chúa Kitô nói với thánh Philipphê: “Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao?... Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình”. (Ga 14,10-11; 10, 37-38), “Tôi và Chúa Cha là một” (Ga 10,30; 17,11.22). Những dấu lạ Chúa Giêsu làm chính là những kỳ công của Thiên Chúa (Magnalia Dei), chứng thực giữa Chúa Cha và Chúa Con có một mối liên hệ thâm sâu, hiệp nhất bền chặt, đó là chứng từ về Thiên Chúa ba ngôi: Cha, Con và Thánh Thần.

6. Tiên Trưng Bí Tích Cứu Độ
Không thể giản lược dấu lạ vào một giá trị cố định hay có tính cách pháp lý nào; làm thế là phản bội lại Thánh kinh. Dấu lạ tự nó phải gắn liền với một sứ điệp. Thánh Augustinô nhận định: “Ta hãy tra vấn xem dấu lạ nói gì về Chúa Kitô, bởi vì đối với ai hiểu dấu lạ thì dấu lạ cũng có tiếng nói riêng của nó. Vì thực ra, Chúa Kitô chỉ là Ngôi Lời Thiên Chúa nên mỗi hành vi của Ngôi Lời cũng là lời ngỏ cùng chúng ta”.
Chúa Kitô xuất hiện, Người khai mở một thế giới ân sủng, thực hiện một cuộc cách mạng mới, cách mạng bằng cây thập tự. Qua các dấu lạ, Người muốn biểu hiện việc biến đổi thực sự, một công cuộc canh tân toàn vẹn.
- Trong Phúc âm Nhất lãm, dấu lạ tiên trưng những kỳ công của ân sủng. Dấu lạ mẻ cá lạ lùng tiên trưng việc bàng trướng thiêng liêng của Giáo hội nhờ việc Phúc âm hóa: “Từ nay, anh sẽ là người thu phục người ta” (Lc 5,10). Dấu lạ chữa người bất toại nêu rõ hành vi cứu thế của Chúa Kitô: chữa phần xác tiên trưng cho việc cứu thoát phần hồn: “con đã được tha tội rồi”. “Một là bảo người bại liệt: ‘con đã được tha tội rồi’, hai là bảo: ‘Đứng dậy, vác lấy chõng của con mà đi’, điều nào dễ hơn” (Mc 2,9). Điều đó cho thấy chính phần cứu chữa phần hồn còn quan trọng và ưu tiên hơn việc chữa bệnh phần xác. Dấu lạ chữa người bệnh phong (Mc 1,40-45) tiên trưng việc trở về với cộng đoàn Dân Chúa. Bệnh phong làm con người phải xa lìa khỏi xã hội loài người thì tội lỗi cũng khiến họ không thể gia nhập cộng đoàn Dân Chúa. Ngoài ra, khi thực hiện các dấu lạ, Chúa Kitô đã đặt tay hay các Tông đồ dùng dầu mà xức là hình ảnh tiên trung các bí tích sau này Giáo hội làm nhân danh Chúa Kitô (Mc 16,18; Gc 5,14-16).
Trong Tin mừng Gioan – Tin mừng của dấu chỉ - ta còn thấy rõ: dấu lạ hóa bánh ra nhiều, dấu lạ biến nước thành rượu tại Cana, dấu lạ phục sinh Nadarô… đều là hình ảnh tiên trưng (préfiguratifs) của bí tích.
Như vậy, qua các dấu lạ, Chúa Kitô muốn gửi gắm một hồng ân cứu thoát đến cho nhân loại. Người muốn dùng các dấu lạ như là một chuẩn bị cho một sứ điệp, sứ điệp cứu rỗi. Dấu lạ lúc đó chỉ còn là một tiên trưng, nó cách khác, nó như một hình ảnh báo trước một nội dung phong phú khác. Quả thực, Chúa Kitô đến để cứu chuộc nhân loại và để cứu thoát khỏi tội, trả lại địa vị làm Con phải đứng hàng đầu.

7. Dấu Chỉ Cuộc Biến Đổi Của Thế Giới Cánh Chung
Điểm sau cùng, dấu lạ là dấu chỉ tiên trưng việc biến đổi của thân xác con người và của vũ trụ vật chất trong thời sau hết.
- Dấu chỉ việc giải thoát và phục sinh thân xác. Chúa Kitô là mẫu mực của ta. Người đã phục sinh nên “là trưởng tử giữa các người chết” (Gl 1,18) là “vị khơi nguồn sự sống” (Cv 3,15), vì thế, chắc chắn trong ngày sau hết, thân xác ta phải được hiển dương. “Quả vậy, cái thân phải hư nát này sẽ mặc lấy sự bất diệt, và cái thân phải chết này sẽ mặc lấy sự bất tử” (1Cr 15,53). Chúa Kitô phục sinh tiêu biểu cho việc phục sinh tiêu biểu cho việc phục sinh của ta vì “Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,21). Như vậy, chắc chắn khi mọi sự hoàn tất, thì thân xác sẽ được biến đổi trong vinh quang.
- Dấu chỉ việc cứu chuộc cả hoàn vũ. Theo Thánh kinh, con người và vũ trụ gắn liền với nhau mật thiết. Vũ trụ đã mang dấu vết của con người nên nếu đã thông phần tội lỗi với con người thì cũng dự phần vào việc cứu chuộc con người. Con người và vũ trụ vốn hài hòa với nhau nhưng tội lỗi đã làm mất đi sự hài hòa vốn có ấy. Chúa Kitô đến, bằng cái chết và phục sinh của Người, đã tái lập sự hài hòa đó. Sự hài hòa giữa Thiên Chúa và con người quyết định sự hài hòa giữa con người và vũ trụ. Chúa Kitô xuất hiện, thiết lập lại cho con người khung cảnh của vườn địa đàng xưa. Việc Người khiến biển và gió tuân phục (Mc 4,39), việc Người hóa bánh ra nhiều (Mc 6,30-45) và việc các tông đồ “cầm rắn và uống phải thuốc độc cũng không bị hại” (Mc 16,17-18),… tất cả đều chứng tỏ một uy quyền vượt trên mọi sức mạnh thiên nhiên, tiên trưng việc biến đổi của thế giới cánh chung.
Thánh Phaolô trong thư Rôma (8,19-21) nêu rõ: “Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mạc khải vinh quang của con cái Người” vì “muôn loài thọ tạo vẫn còn niềm trông cậy…, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang”. Như thế, hoàn vũ không bị hủy diệt nhưng sẽ biến đổi và được hiển dương dù tầm trí của ta không được hiểu.
Hơn nữa, những chương cuối của sách Khải huyền lấy lại những cương đầu của sách Sáng thế về một “trời mới đất mới” sẽ đến (Kh 21,1; 2Pr 3,12-13) và “sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa” (Kh 21,4). Các dấu lạ Chúa Kitô làm là hình ảnh tiên trưng cho những biến đổi ấy và chính nơi Chúa Kitô, mọi sự sẽ được biến đổi và hiển dương, phục hồi lại tình trạng huy hoàng ban đầu, theo như nhận xét của thánh Ambrosio: “Thế giới được phục sinh trong Người, trời được phục sinh trong Người, đất được phục sinh trong Người, vì sẽ có một trời mới và đất mới”.
Nói chung, Thánh kinh cho ta thấy, dấu lạ trước hết biểu lộ tình thương của Thiên Chúa đối với nỗi tuyệt vọng của con người và qua các ngôn sứ, dấu lạ báo hiệu nước Thiên Chúa phải đến và Chúa Giêsu Nadaret chính là Đấng Messia muôn dân mong đợi. Có thể tóm tắt một vài chức năng quan yếu của dấu lạ trong mạc khải.
a/. Trước hết, dấu lạ minh chứng Chúa Kitô là Đấng Thiên Sai, là Con Thiên Chúa và qua Người, Thiên Chúa hiện diện và sống động.
b/. Thứ đến, dấu lạ là bề mặt biểu hiện một nội dung bên trong. Nó gắn liền với một sứ điệp. Dấu lạ là mặt hữu hình của sứ điệp vô hình.
c/. Sau hết, dấu lạ là hình ảnh tiên trưng của một viễn ảnh: thân xác phục sinh, thế giới biến đổi.
Do đó, dấu lạ có nhiệm vụ chuẩn bị để đón nhận một sứ điệp và củng cố một sứ điệp, đồng thời tượng trưng cho một nội dung phong phú.
- Dấu lạ chuẩn bị đón nhận sứ điệp.
- Dấu lạ biểu lộ lòng từ tâm của Thiên Chúa – vì yêu thương, Thiên Chúa dùng dấu lạ như một thứ ngôn ngữ để ngỏ lời với con người và chuẩn bị con người lãnh nhận sứ điệp.
- Các dấu lạ Chúa Kitô thực hiện hầu hết là chữa lành và phục sinh. Đây là cử chỉ yêu thương, một lời chào hỏi đầu tiên dẫn đến một cuộc đối thoại thực sự. Dấu lạ khi ấy là lời mời gọi con người tiếp nhận sứ điệp, lắng nghe sứ điệp Tin mừng.
- Dấu lạ củng cố hay hợp thức hóa sứ điệp: Dấu lạ là dấu hiệu Thiên Chúa chuẩn nhận vị sứ giả và sứ điệp do sứ giả mang tới.
Đối với sứ điệp: “Đây là điều Thiên Chúa mới gọi ta tin”. Chúa dùng dấu lạ để làm chứng cho sứ điệp.
Đối với sứ giả: “Đây thực là Đấng Ta sai đến”. Dấu lạ nói lên xuất xứ của vị sứ giả.
Như vậy, dấu lạ là một bảo chứng chắc chắn cho mạc khải vì đó là dấu ấn Thiên Chúa đóng trên sứ điệp, xác định nguồn gốc của vị sứ giả cũng như sứ điệp. Chính Thiên Chúa cũng đã cho Chúa Kitô làm các dấu lạ để chứng thực địa vị Con Thiên Chúa của Người và giáo huấn của Người là chân thật. Như thế, dấu lạ vừa là một bảo chứng vừa thực hiện lời ngôn sứ.

8. Chức Năng Tượng Trưng Hay Biểu Tượng (function figurative ou symbolique) Của Dấu Lạ
Dấu lạ, xét như dấu chỉ việc Thiên Chúa chuẩn nhận, không thể sánh với một sứ điệp được diễn tả theo ngôn ngữ loài người; bởi vì dấu lạ không có tích cách xác định và phong phú như ngôn ngữ loài người. Vì chỉ có tính cách tượng trưng, dấu lạ biểu tượng một thực tại thâm sâu nào đó. Đây chính là chức năng siêu việt của dấu lạ; bởi vì, dấu lạ và sứ điệp liên hệ đến nhau. Nhờ dấu lạ, sứ điệp trở thành gần gũi với con người cũng như nhờ mạc khải, vũ trụ nên như một cánh vực gặp gỡ hiếm có giữa Thiên Chúa và con người. Đàng khác, nhờ dấu lạ, con người được đưa vào lãnh vực siêu nhiên, lãnh vực của ân sủng và bí tích. Dấu lạ mang tính cách “xác thịt” (charnelle) của sứ điệp “thiêng liêng” (Spirituelle). Có thể nói hầu hết các dấu lạ Chúa Kitô thực hiện đều là phản ánh, là biểu tượng cho kế hoạch Thiên Chúa cứu độ. Dấu lạ là mặt hữu hình của một thực tại vô hình. Việc chữa lành và phục sinh thân xác cũng là biểu tượng cho việc cứu thoát và phục sinh phần hồn. Và khi đó, dấu lạ và mạc khải chẳng qua chỉ là hai mặt hữu hình và vô hình của một mầu nhiệm.
Tóm lại, dấu lạ chuẩn bị cho mạc khải, minh xác mạc khải là lời của Thiên Chúa, là hình ảnh của mạc khải trong thế giới chúng ta. Ba chức năng ấy không thể chia tách nhau, mà ta cùng phục vụ cho cùng một thực tại.

Tác giả: Nguyên tác: Révélation et Miracle Chuyển ngữ: Huynh Công
Nguồn: http://catechesis.net