Trang

Thứ Ba, 30 tháng 3, 2021

Áo choàng của Thánh Giuse là gì?


Áo choàng của Thánh Giuse là gì?
 


Một trong những sự tôn sùng phổ biến nhất đối với Thánh Giuse được gọi là “Holy Cloak Novena.” Nó bao gồm một loạt những lời cầu nguyện được đọc trong 30 ngày liên tục, để tưởng nhớ 30 năm mà một số người tin rằng Thánh Giuse đã sống với tư cách là cha nuôi của Chúa Giêsu.
 

Đồng thời, tuần cửu nhật một phần dựa trên niềm tin rằng chiếc áo choàng thực sự của Thánh Giuse được lưu giữ trong một nhà thờ ở Roma.
 

Cuốn sách Thế kỷ 19 Cuộc đời và Vinh quang của Thánh Giuse cho biết sơ lược về lịch sử của chiếc áo choàng này.

Hiện nay về Thánh Giuse không có thánh tích thực sự nào tồn tại, chỉ có một số phần quần áo của ngài được thánh hóa bằng cách tiếp xúc với sự thánh thiện của ngài và bây giờ, như chúng ta tin, thể xác được tôn vinh. Roma sở hữu một thánh tích lộng lẫy bằng dây pallium hoặc áo choàng của thánh nhân, vì vậy nó càng được tôn kính hơn vì nó thường phải bao bọc Chúa hài Đồng khi được ôm trong vòng tay của Thánh Giuse. Thánh tích quý giá này được lưu giữ trong nhà thờ đại học cổ đại Thánh Anastasia, được xây dựng vào khoảng năm 300 bởi Apollonia, một vị vua La Mã cao quý ở đó để lưu giữ thi hài của Thánh Anastasia, Trinh nữ và Tử đạo. Người ta tin rằng Thánh Jerome, khi được Thánh Damasus triệu về Rôma vì các công việc của triều đại Giáo hoàng của mình, đã cử hành thánh lễ trong ba năm cư ngụ tại bàn thờ nơi thánh tích này được lưu giữ. Chiếc cốc mà ông đã sử dụng vẫn còn được trưng bày.

Chiếc áo choàng này có phải là một di vật đích thực được mang từ Thánh Địa về bằng cách nào đó không?

Thật không may, có rất ít bằng chứng để chứng minh cho tuyên bố này.
 

Tuy nhiên, đã từng tồn tại một chiếc áo choàng mà Thánh Giuse dùng để bảo vệ Hài nhi Giêsu khỏi thời tiết giá lạnh. Với ý nghĩ này, chúng ta có thể khơi dậy trí tưởng tượng của mình và nuôi dưỡng sự đánh giá cao hơn và tôn kính Thánh Giuse, cầu xin sự bảo vệ của Ngài trong cuộc sống của chúng ta.
 

Lạy đấng bảo vệ Thánh Gia thất, xin hãy bảo vệ chúng con là con cái của Chúa Giêsu Kitô; Gìn giữ chúng con tránh những sai lầm và tệ nạn làm băng hoại thế giới; từ thiên đàng xin ngài giúp đỡ chúng con trong cuộc đấu tranh chống lại quyền lực của bóng tối. Và như ngài đã từng bảo vệ Chúa Hài Đồng khỏi chỉ dụ tàn ác của Hêrôđê, bây giờ hãy bảo vệ Giáo hội và gìn giữ được an toàn trước mọi nguy hiểm và đe dọa; truyền bá cho tất cả chúng con sự bảo trợ thánh thiện của ngài bằng cách noi gương và được sự hướng dẫn thiêng liêng của ngài, chúng con có thể được sống một cuộc sống thánh thiện, chết trong vinh phúc, và cuối cùng được hưởng phúc trên Thiên đàng đời đời. Amen.
 

Jos. Tú NẠc, Nguyễn Minh Sơn (Aleteia)

3 Thi hào Dante

 Nguyên văn Tông Thư Candor Lucis Aeternae: Sứ mệnh của nhà thơ làm nhà tiên tri hy vọng

Vũ Văn An
 

3. Sứ mệnh của nhà thơ làm nhà tiên tri hy vọng



Nhìn lại các biến cố của đời mình dưới ánh sáng của đức tin trên hết, Dante khám phá ra ơn gọi và sứ mệnh bản thân của ông. Nghịch lý thay, từ điều đó, ông xuất hiện không còn như một kẻ thất bại rõ ràng, một tội nhân, vỡ mộng và mất tinh thần, mà là một nhà tiên tri của hy vọng. Trong Thư gửi Cangrande della Scala, ông đã mô tả hết sức rõ ràng mục tiêu công việc của đời mình, không còn được theo đuổi bằng hoạt động chính trị hay quân sự nữa, mà bằng thi ca, nghệ thuật ngôn từ, một nghệ thuật, nhờ nói với mọi người, có sức mạnh thay đổi cuộc sống của mỗi người. “Chúng ta phải nói ngắn gọn rằng mục đích của toàn bộ công việc của chúng ta và các bộ phận riêng lẻ của nó là xóa bỏ tình trạng khốn cùng của những người đang sống cuộc sống hiện nay và dẫn họ đến một trạng thái hạnh phúc” (XIII, 39 [15]). Theo nghĩa này, nó có ý nghĩa gợi hứng cho một hành trình giải phóng khỏi mọi hình thức khốn cùng và sa đọa của con người (“khu rừng tối tăm”), đồng thời hướng tới mục tiêu cuối cùng của cuộc hành trình đó: hạnh phúc, được hiểu cả như sự viên mãn của đời sống trong thời gian và lịch sử, lẫn như là hạnh phúc vĩnh viễn trong Thiên Chúa.

Do đó, Dante đã trở thành sứ giả, nhà tiên tri và chứng nhân của mục đích hai chiều này, của chương trình sống táo bạo này, và trong tư cách ấy, sứ mệnh của ông đã được Beatrice xác nhận:

“Vì vậy, đối với sự thiện của một thế giới đang sống cách bệnh tật,
Hãy dõi mắt bạn vào cỗ xe, và điều bạn thấy,
Sau khi trở lại trái đất, bạn hãy lưu ý viết lại” (Purg. XXXII, 103-105).

Tổ tiên của ông, Cacciaguida, cũng khuyến khích ông không được chùn bước trong sứ mệnh của mình. Sau khi nhà thơ mô tả ngắn gọn cuộc hành trình của mình trong ba cõi của thế giới đời sau và thừa nhận hậu quả nghiêm trọng của việc công bố các sự thật gây khó chịu hoặc đau đớn, vị tổ tiên nổi danh trả lời:

“Lương tâm u ám
Hoặc bởi sự ô danh của chính mình hoặc bởi sự ô danh của người khác,
Thực ra, sẽ cảm nhận được vị chua của lời bạn;
Nhưng tuy thế, mọi sự giả dối đều bị gạt sang một bên,
Hãy làm sáng tỏ hoàn toàn viễn kiến của bạn,
Và hãy gãi bất cứ chỗ nào ngứa ngáy" (Đoạn XVII, 124-129).

Thánh Phêrô cũng khuyến khích Dante can đảm bắt tay vào sứ mệnh tiên tri của mình. Thánh Tông đồ, sau một công kích cay đắng chống lại Đức Boniface VIII, đã nói với nhà thơ:

“Còn ngươi, con trai ta, người bằng tư thế tử sinh,
Ngươi hãy trở lại dưới ấy, hãy mở miệng ngươi ra;
Điều gì ta không che giấu, thì đừng che giấu ”(Đoạn XXVII, 64-66).

Do đó, sứ mệnh tiên tri của Dante bao hàm việc lên án và chỉ trích các tín hữu - dù là Giáo hoàng hay tín hữu bình thường - phản bội Chúa Kitô và biến Giáo hội thành phương tiện để thăng tiến lợi ích riêng của họ trong khi làm ngơ tinh thần các Mối phúc và bổn phận bác ái đối với những người nghèo khổ và không được bảo vệ, và thay vào đó thần tượng hóa quyền lực và sự giàu có:

“Vì bất cứ điều gì Giáo hội tuân giữ
Thì giáo dân phải cầu xin nó nhân danh Chúa
Không phải cho họ hàng mình hoặc cho một điều gì đó tồi tệ hơn ”(Đoạn XXII, 82-84).

Tuy nhiên, ngay cả khi ông tố cáo sự thối nát trong các bộ phận của Giáo hội, Dante cũng trở thành - qua lời của Thánh Phêrô Damian, Thánh Bênêđíctô và Thánh Phêrô - một người ủng hộ việc canh tân sâu sắc của Giáo Hội và cầu xin ơn Chúa quan phòng mau mang lại điều ấy:

“Nhưng ơn Quan Phòng cao cả, điều đó với Scipio
Tại Rome, bảo vệ vinh quang thế giới,
Sẽ nhanh chóng đưa hỗ trợ, như tôi quan niệm ”(Đoạn XXVII, 61-63).

Dante, kẻ lưu đày, người hành hương, bất lực nhưng được củng cố bởi trải nghiệm sâu sắc bên trong từng thay đổi đời ông, đã được tái sinh như một viễn kiến mà từ sâu thẳm địa ngục, từ sự suy thoái tột cùng của nhân tính chúng ta, đã nâng ông lên thành chính viễn kiến của Thiên Chúa. Do đó, ông xuất hiện như một sứ giả của một hiện sinh mới, nhà tiên tri của một nhân tính mới khao khát hòa bình và hạnh phúc.

4. Dante như nhà thơ của khát vọng con người

Dante đọc được những tầng sâu nhất của trái tim con người. Nơi mọi người, ngay cả nơi những kẻ đê tiện và gây lo ngại nhất, ông vẫn có thể biện phân được một tia lửa mong muốn đạt được một lượng hạnh phúc và viên mãn nào đó. Ông dừng lại và lắng nghe những tâm hồn ông gặp gỡ; ông trò chuyện với họ và hỏi họ, và do đó đồng nhất với họ và chia sẻ những dằn vặt hoặc phúc hạnh của họ. Bắt đầu từ hoàn cảnh bản thân của chính ông, Dante trở thành người giải thích cho khát vọng chung của con người muốn đi theo cuộc hành trình đời sống cho tới đích cuối cùng của nó, khi sự viên mãn của sự thật và câu trả lời cho ý nghĩa đời sống sẽ được tiết lộ và, theo lời Thánh Augustinô [12], tâm hồn chúng ta tìm được sự yên nghỉ và bình an trong Thiên Chúa.

Trong Convivio, Dante phân tích tính năng động của khát vọng: “khát vọng cuối cùng của mọi hữu thể, và khát vọng đầu tiên được thiên nhiên ban tặng, là khát vọng quay trở lại nguyên nhân đầu tiên của nó. Và vì Thiên Chúa là nguyên nhân đầu tiên của linh hồn chúng ta… nên linh hồn trước hết khát vọng được trở về với Người. Giống như một người hành hương du hành trên một con đường chưa ai biết và tin rằng mọi ngôi nhà ông nhìn thấy đều là nhà trọ, và khi phát hiện không phải như thế, đã chuyển niềm tin này sang ngôi nhà tiếp theo được ông nhìn thấy, rồi ngôi nhà tiếp theo và tiếp theo nữa, cho đến khi cuối cùng ông đến được nhà trọ, thì linh hồn chúng ta cũng thế. Ngay khi khởi đầu trên con đường mới và chưa được ai đi qua của cuộc sống này, linh hồn không ngừng tìm kiếm điều tốt lành tối cao của nó; do đó, bất cứ khi nào nó nhìn thấy một điều gì có vẻ tốt, nó đều coi điều ấy là điều tốt lành tối cao” (IV, XII, 14-15).

Cuộc hành trình của Dante, đặc biệt là khi nó xuất hiện trong Bi Kịch Thần Thiêng, thực sự là một cuộc hành trình của khát vọng, của một quyết tâm sâu thẳm bên trong muốn thay đổi cuộc sống của mình, khám phá hạnh phúc và chỉ đường cho những người khác, giống như ông, thấy mình trong một “khu rừng đen tối ”sau khi đánh mất “con đường đúng đắn ”. Điều quan trọng là, ở ngay khởi đầu cuộc hành trình này, người hướng dẫn ông - nhà thơ Latinh vĩ đại Virgil - đã chỉ ra mục tiêu của nó và thúc giục ông đừng khuất phục trước sợ hãi hay mệt mỏi:

“Nhưng ngươi, tại sao ngươi lại khó chịu như vậy?
Tại sao ngươi lại leo lên không phải là Núi Khoan Khoái,
Đâu là nguồn gốc và nguyên nhân của mọi niềm vui?” (Inf. I, 76-78).

5. Nhà thơ của lòng Chúa thương xót và của tự do con người

Hành trình mà Dante trình bày không hề hão huyền hay không tưởng; nó thực tiễn và nằm trong tầm tay của mọi người, vì lòng thương xót của Thiên Chúa luôn cung cấp khả năng thay đổi, hoán cải, tự nhận thức mới và khám phá ra con đường dẫn đến hạnh phúc đích thực. Đáng chú ý về phương diện này là một số tình tiết và cá nhân trong Bi Kịch cho thấy không ai trên trái đất bị loại khỏi con đường này. Có hoàng đế Trajan, một người ngoại giáo nhưng cũng đã được đặt vào thiên đàng. Dante biện minh cho sự hiện diện của ông ta như sau:

“Nước trời chịu bạo lực
Từ tình yêu nhiệt thành, và từ hy vọng sống động
Vốn chiến thắng ý chí Thiên Chúa;
Không phải dưới lốt người thắng người
Nhưng chinh phục nó bởi vì nó sẽ bị chinh phục
Và người bị chinh phục chinh phục bởi lòng nhân từ”(Đoạn XX, 94-99).

Cử chỉ bác ái của Trajan đối với một "góa phụ nghèo" (45), hay "giọt lệ nhỏ" của sự ăn năn rơi vào lúc chết của Buonconte di Montefeltro (Purg. V, 107), không những là dấu hiệu của lòng thương xót vô hạn của Thiên Chúa, mà còn xác nhận rằng con người luôn được tự do lựa chọn con đường phải đi và số phận nào phải nắm lấy.

Điều cũng quan trọng là Vua Manfred, được Dante đặt vào Luyện ngục, người mô tả cái chết của ông và sự phán xét của Chúa như sau:

“Sau khi cơ thể tôi bị rách nát
Bởi hai nhát dao chí mạng này, tôi đã khóc lóc tự phó mình cho Người, Đấng sẵn lòng tha thứ.
Tội lỗi của tôi thật kinh khủng;
Nhưng Lòng Tốt Vô Hạn có những cánh tay rộng mở đến
Có thể tiếp nhận bất cứ điều gì hướng về Người ”(Purg. III, 118-123).

Ở đây, chúng ta hầu như có thể thoáng thấy người cha trong dụ ngôn Tin Mừng, người đã mở rộng vòng tay chào đón sự trở lại của đứa con hoang đàng của mình (x. Lc 15:11-32).

Dante đề cao phẩm giá và sự tự do của mỗi con người như nền tảng cho các quyết định trong cuộc sống và cho chính đức tin. Số phận đời đời của chúng ta - Dante gợi ý như thế bằng cách kể lại các câu chuyện của rất nhiều cá nhân lớn nhỏ - phụ thuộc vào các quyết định tự do của chúng ta. Ngay cả các hành động thông thường và dường như không đáng kể của chúng ta cũng có một ý nghĩa vượt thời gian: chúng sở hữu một chiều kích vĩnh cửu. Hồng phúc lớn nhất của Thiên Chúa là sự tự do giúp chúng ta đạt được mục tiêu tối hậu, như Beatrice nói với chúng ta:

“Hồng phúc lớn nhất mà vì lòng đại lượng của Người,Thiên Chúa
thực hiện lúc tạo thành, phù hợp nhất với lòng tốt của Người,
và là điều Người qúy chuộng nhất,
chính là sự tự do của ý chí” (Đoạn V, 19-22).

Đây không phải là những tuyên bố hoa mỹ, vì chúng bắt nguồn từ cuộc sống của những người đàn ông và đàn bà, biết cái giá phải trả của tự do:

“Ông tìm kiếm Tự Do, thứ hết sức đắt giá
Như bất cứ ai vì nó mà cuộc sống bị bác bỏ đã từng biết” (Purg. I, 71-72).

Dante nhắc nhở chúng ta, tự do tự nó không phải là cùng đích; nó là điều kiện để không ngừng vươn lên cao hơn. Cuộc hành trình của ông qua ba vương quốc minh họa một cách sinh động sự đi lên này, một sự đi lên cuối cùng vươn tới thiên đàng và trải nghiệm phước hạnh hoàn toàn. “Khát vọng sâu sắc” (Đoạn XXII, 61) được tự do đánh thức không được thỏa mãn cho đến khi nó đạt được mục tiêu của nó, thị kiến cuối cùng và diễm phúc mà nó mang lại:

“Và tôi, người hiện đang tới tận cùng mọi khát vọng của mình,
như sự việc phải là,
sự cuồng nhiệt của khát vọng trong tôi cũng đã chấm dứt” (Đoạn XXXIII, 46-48).

Do đó, khát vong trở thành lời cầu nguyện, lời khẩn nài, lời cầu bầu và bài hát đi kèm và đánh dấu cuộc hành trình của Dante, giống như lời cầu nguyện phụng vụ đánh dấu các giờ kinh và khoảnh khắc trong ngày. Cách diễn giải của nhà thơ về Kinh Lạy Cha (xem Purg. XI, 1-21) đan xen bản văn Tin Mừng với tất cả những khổ cực và đau đớn của kinh nghiệm hàng ngày:

“Hãy đến với chúng con sự bình an của Nước Ngài,
Vì tự chúng con, chúng con không thể vươn tới nó…
Hôm nay, xin ban cho chúng con bánh manna hàng ngày của chúng con
Không có nó trong cảnh hoang dã khắc nghiệt này
Kẻ lao khó nhất để tiến tới cũng phải thối lui” (7-8, 13-15).

Sự tự do của những ai tin vào Thiên Chúa như Cha nhân từ chỉ có thể được dâng lại cho Người trong cầu nguyện. Điều này cũng không làm giảm bớt chi sự tự do đó; nó chỉ củng cố tự do đó mà thôi.

6. Hình ảnh con người trong thị kiến Thiên Chúa

Như Đức Bênêđictô XVI đã nhận định, trong suốt cuộc hành trình của Bi Kịch, sự tác động lẫn nhau của tự do và khát vọng, không bao hàm, như người ta vẫn nghĩ, sự suy giảm nhân tính cụ thể của chúng ta hay một kiểu tự tha hóa nào đó; nó không phá hủy hoặc coi thường tính lịch sử của chúng ta. Trong Paradiso, Dante trình bầy những người diễm phúc - “những khăn choàng mầu trắng” (XXX, 129) - trong hình thức cơ thể của họ, mô tả các tình cảm và cảm xúc, các liếc nhìn và cử chỉ của họ; nói ngắn gọn, ông cho chúng ta thấy nhân tính trong sự hoàn hảo tột cùng của linh hồn và thể xác, tiên báo sự sống lại của xác thịt. Thánh Bernard, người đồng hành với Dante trong đoạn cuối của cuộc hành trình, đã chỉ cho nhà thơ thấy sự hiện diện của những trẻ em trong bông hồng của những người diễm phúc; thánh nhân bảo ông ngắm xem chúng và lắng nghe giọng nói của chúng:

“Con có thể nhận ra nó trên khuôn mặt của họ
Và cả trong giọng nói trẻ thơ
Nếu con coi trọng các em và lắng nghe các em” (XXXII, 46-48).

Thật cảm động khi nghĩ rằng sự hiện diện chói sáng của những người được diễm phúc trong nhân tính trọn vẹn của họ không chỉ được thúc đẩy bởi tình cảm của họ dành cho những người thân yêu, mà trên hết còn bởi khát vọng minh nhiên một lần nữa được nhìn thấy thân xác họ, các đặc điểm trần thế của họ:

“Họ biểu lộ tốt khát vọng muốn thấy thân xác đã chết của họ;
Không những cho riêng họ, nhưng cho các bà mẹ,
Các người cha, và các người thân yêu khác của họ
Trước khi họ trở thành những ngọn lửa vĩnh cửu” (XIV, 63-66).

Cuối cùng, ở trung tâm của thị kiến sau cùng, trong cuộc gặp gỡ với mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi, Dante đã mô tả một khuôn mặt con người, khuôn mặt của Chúa Kitô, Ngôi Lời vĩnh cửu đã hóa thành xác phàm trong cung lòng Đức Maria:

“Trong sự tồn tại sâu thẳm và rực rỡ,
Của Ánh Sáng Cao Cả, xuất hiện với tôi ba vòng tròn
có ba mầu và một chiều kích…
Vòng tròn được quan niệm như thế,
Xuất hiện trong ngươi như một ánh sáng phản chiếu
Khi một điều gì đó được đôi mắt tôi chiêm ngắm
Tự trong chính nó, từ màu sắc của chính nó
Dường như được vẽ bằng hình ảnh của chúng ta” (XXXIII, 115-117, 127-131).

Chỉ trong visio Dei (thị kiến Thiên Chúa), khát vọng của con người chúng ta mới đạt được sự thành toàn và cuộc hành trình gian khổ của chúng ta mới đi đến hồi kết thúc:

“Tâm trí tôi bị một tia chớp đánh vào khát vọng của nó,
Ở đây óc tưởng tượng cao cả đã mất đi sức lực của nó” (140-142).

Mầu nhiệm nhập thể, mà chúng ta cử hành hôm nay, là trái tim và nguồn cảm hứng đích thực của toàn bộ thi phẩm. Vì nó đã thể hiện điều mà các Giáo phụ gọi là “sự thần hóa” của chúng ta, sự trao đổi thần kỳ, qua đó Thiên Chúa đi vào lịch sử của chúng ta bằng cách trở thành xác phàm, và loài người, trong xác phàm của mình, được phép bước vào lãnh địa thần thiêng, được tượng trưng bởi hoa hồng của những người diễm phúc. Nhân tính chúng ta, trong tính cụ thể của nó, với các cử chỉ và lời nói hàng ngày của chúng ta, với trí khôn và các tình cảm, với các thể xác và cảm xúc của chúng ta, được tháp nhập vào Thiên Chúa, nơi Người nó tìm được hạnh phúc đích thực và sự thành toàn sau hết, vốn là mục tiêu của mọi cuộc hành trình của nó. Dante đã khát mong và trông đợi mục đích này ngay ở đầu phần Paradiso:

“Khát vọng phải bừng bừng hơn nữa, được xem trong chúng ta,
Yếu tính tự chứng tỏ, bản chất ta và
Thiên Chúa kết hợp với nhau như thế nào.
Ở đấy, người ta sẽ thấy điều họ tin bằng bằng đức tin,
Chứ không được chứng minh, nhưng tự nó hiển nhiên,
như sự thật đầu tiên mà con người tin” (II, 40-45).

Kỳ tới: 7. Ba người đàn bà của Bi Kịch: Đức Maria, Beatrice và Thánh Lucia
 
Vietcatholic News

Chúa Nhật Lễ Lá, Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta hãy xin cho được những ơn phi thường

 Chúa Nhật Lễ Lá, Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta hãy xin cho được những ơn phi thường


Chủ sự nghi lễ phụng vụ Chúa Nhật Lễ Lá để tưởng nhớ cuộc Khổ nạn của Chúa, Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh đến tâm tình cảm mến nội tâm đánh động chúng ta trong thánh lễ này cũng như trong suốt Tuần Thánh.

(Tin Vatican)

Trong hai năm liên tiếp, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cử hành Lễ Lá bên trong Vương cung thánh đường Thánh Phêrô với một số ít giáo dân và đại diện các nhóm vì đại dịch Coronavirus; nhưng đồng thời, hàng triệu người đã theo dõi theo các chương trình truyền hình và trực tuyến.

Từ ngưỡng mộ đến kinh ngạc

Trong bài giảng vào dịp này, Đức Thánh Cha tập trung suy tư của mình xung quanh cảm giác ngỡ ngàng phụng vụ hôm nay và cả Tuần Thánh sẽ đem lại cho chúng ta, chúng ta khởi đi từ niềm vui chào đón Chúa Giêsu tiến vào thành thánh Giêrusalem trong vinh quang đến nỗi buồn khi thấy Ngài bị kết án tử hình và bị đóng đinh. Chúng ta nghe đám đông hoan hô “Hosanna”, nhưng một vài ngày sau đó, họ lại gào thét lên “Hãy đóng đinh nó”! Đức Thánh Cha trình bày sự tương phản này phản ánh một thực tế nơi mọi người: ‘ngưỡng mộ Chúa Giêsu, nhưng cũng không tín thác vào ngài’. ĐTC cho biết cả hai thuật ngữ về cơ bản là khác nhau: sự ngưỡng mộ “có thể phát nên thành lời” tuân theo sở thích và mong đợi của chính nó, trong khi đó, sự ngạc nhiên lại mở ra cho chúng ta sự ngạc nhiên và sự mới mẻ mà chúng mang lại, cho phép chúng ta thay đổi thái độ và cuộc sống chúng ta. Đức Thánh Cha nói, chúng ta phải vượt lên trên việc ngưỡng mộ Chúa Giêsu, và “hãy tiến bước theo Người, chung chia thử thách với Người và sống trong sự ngỡ ngàng kinh ngạc.”

Vinh quang qua khổ nhục

Đức Thánh Cha nhận xét chính Chúa và Lễ Vượt Qua của Ngài khiến chúng ta kinh ngạc, vì Chúa đạt được vinh quang qua chính sự sỉ nhục; Chúa chiến thắng "bằng cách chấp nhận đau khổ và cái chết, những điều mà chúng ta cố gắng xa tránh trong hành trình tìm kiếm sự ngưỡng mộ và thành công."

Chúa Giêsu đã thực hiện điều này cho chúng ta, bằng mời gọi chúng ta hãy đi vào chiều sâu kinh nghiệm trong chính sự sống và những nỗi yếu hèn của con người! Chúa sống cận kề bên chúng ta và không bỏ rơi chúng ta trong đau khổ và trong cái chết của chúng ta, hầu cứu chuộc chúng ta”. Bằng cách này, Chúa đã “cứu chuộc và biến đổi” những chiến chinh và xung đột thầm kín nhất của chúng ta; "Thiên Chúa chiến thắng, nhưng chiến thắng bằng chính sự đóng đinh tay chân vào thập giá."

Cầu xin ơn phi thường

Đức Thánh Cha lưu ý, một đức tin không còn ngỡ ngàng và ngạc nhiên là một đức tin buồn tẻ, chúng ta nên nhớ “kinh ngạc và ngạc nhiên” trước tình yêu của Chúa Giêsu luôn mang lại sự tha thứ và khả năng phi thường đổi mới. Đức Thánh Cha mời gọi mọi người hãy “ngước mắt lên thập giá, cầu xin cho được ơn phi thường”, được cảm hóa trước tình yêu vô bờ của Chúa hầu dập tắt đi mọi tiếc nuối mà chúng ta có thể phải trải qua trong chán nản thất vọng.

"Chúa ơi, Chúa yêu con biết bao!"

“Chúng ta hãy ngạc nhiên trước tình yêu vô bến bờ của Chúa Giêsu trước biến cố Chúa chị thương, chết và phục sinh!”, Đức Thánh Cha nhấn mạnh chúng ta được Chúa Giêsu yêu thương, Đấng mà chúng ta ngắm nhìn trên thập giá. Ân sủng của sự ngạc nhiên giúp chúng ta nhận ra rằng khi chúng ta chào đón những người bị loại bỏ - những người bị đối xử tệ bạc trong cuộc sống – là “chúng ta yêu mến Chúa Giêsu”, Đức Thánh Cha nói, “vì chính Người hiện thân nơi những anh chị em bị khước từ chối và loại bỏ. ”

Quả thật người này là Con Thiên Chúa!

Đức Thánh Cha nói: Lời người lính La Mã thốt lên lúc chứng kiến Chúa sinh thì đã kêu lên: "Quả thật người này là Con Thiên Chúa!" là một bằng chứng hùng hồn về sự kinh ngạc, khi chứng kiến tình yêu vô bờ và chưa từng thấy của Chúa Giêsu. Các sách Phúc âm đề cập đến nhiều người ngưỡng mộ Chúa, vì những phép lạ và các việc hiển hách Chúa làm.

Nhưng Đức Thánh Cha lưu ý qua Thập giá và dưới chân thập tự giá, “Thiên Chúa đã tỏ mình và bày tỏ tình yêu tuyệt đối của Ngài”, đó là lý do tại sao hôm nay, “chúng ta hãy xin cho được ngập tràn sự kinh ngạc khi nhìn lên Chúa chụi đóng đinh. Chúng ta có thể thốt nên rằng: “Con là Con của Chúa. Chúa yêu con vô bờ!"
 
Bài Giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong Lễ Lá tại Đền Thờ Thánh Phêrô Chúa Nhật 28/3/2021
Bản dịch Việt Ngữ của J.B. Đặng Minh An
09:06 28/03/2021

Lúc 10 giờ 30 sáng Chúa Nhật 28 tháng Ba, Đức Thánh Cha Phanxicô đã cử hành Lễ Lá, khởi sự Tuần Thánh, là tuần lễ quan trọng nhất trong Phụng Vụ Công Giáo. Ngày Chúa Nhật Lễ Lá này cũng là ngày Giới Trẻ Thế Giới lần thứ 36 được cử hành ở cấp giáo phận.

Ngày Chúa Nhật Lễ Lá này cũng giống như ngày Lễ Lá Năm ngoái, nghĩa là không giống bất cứ ngày lễ nào trong những ngày Chúa Nhật Lễ Lá mà chúng ta đã trải qua trong đời trước thời đại dịch coronavirus. Tại Vatican cũng vậy, thay cho những đám đông dân chúng đứng chật quảng trường Thánh Phêrô, quý vị và anh chị em đang thấy Đức Thánh Cha cử hành thánh lễ một cách lặng lẽ với các cộng sự viên gần gũi với ngài tại bàn thờ Ngai Tòa Thánh Phêrô. Đó là một bàn thờ nhỏ nơi đã từng xảy ra nghi thức tưởng niệm Đức Tổng Giám Mục Phaolô Bùi Văn Đọc do Đức Hồng Y Pietro Parolin Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh chủ sự.

Trong khoảnh khắc khi những nghi ngờ và sợ hãi tràn ngập trái tim chúng ta, điều quan trọng là chúng ta hướng mắt lên cầu nguyện cùng Chúa. Kinh Thánh không bỏ qua kinh nghiệm của con người về sự sợ hãi. Đức Thánh Cha lưu ý rằng Ápraham, Giacóp, Môise, Thánh Phêrô, các Tông Đồ khác và cả chính Chúa Giêsu đã từng trải qua những nỗi sợ hãi và đau đớn.

Đức Thánh Cha nhận xét rằng cụm từ “Đừng sợ” được lặp lại đến 365 lần trong Kinh Thánh, “như thể nói với chúng ta rằng Chúa muốn chúng ta thoát khỏi sợ hãi, mỗi ngày trong năm”.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự cuộc rước lá, tưởng niệm biến cố Chúa Giêsu khải hoàn vào thành Giêrusalem.

Mở đầu bài giảng, Đức Thánh Cha nói:

Mỗi năm phụng vụ này luôn khiến chúng ta kinh ngạc: chúng ta chuyển từ niềm vui chào đón Chúa Giêsu khi Người vào thành Giêrusalem sang nỗi buồn khi chứng kiến Người bị kết án tử hình và sau đó bị đóng đinh. Cảm giác kinh ngạc nội tâm đó sẽ vẫn còn với chúng ta trong suốt Tuần Thánh. Chúng ta hãy suy ngẫm sâu hơn về điều đó.

Ngay từ đầu, Chúa Giêsu khiến chúng ta kinh ngạc. Dân chúng chào đón Ngài một cách long trọng, nhưng Ngài vào thành Giêrusalem trên một con ngựa non hèn mọn. Người dân của Người mong đợi một đấng giải phóng quyền năng trong Lễ Vượt Qua, nhưng Ngài đã đến để đưa Lễ Vượt Qua đến chỗ viên mãn bằng cách hy sinh chính bản thân mình. Dân của Người đang hy vọng chiến thắng người La Mã bằng gươm, nhưng Chúa Giêsu đến để ăn mừng chiến thắng của Thiên Chúa bằng thập tự giá. Điều gì đã xảy ra với những người trong thời gian vài ngày, từ chỗ hô vang “Hosanna” đến chỗ gào lên “Đóng đinh nó đi”? Chuyện gì đã xảy ra? Họ đang theo đuổi một ảo tưởng về Đấng Mêsia hơn là chính Đấng Mêsia. Họ ngưỡng mộ Chúa Giêsu, nhưng họ không để mình kinh ngạc trước Ngài. Kinh ngạc không giống như ngưỡng mộ. Sự ngưỡng mộ có thể là trần tục, vì nó tập chú vào những thị hiếu và mong đợi của riêng nó. Ngược lại, sự kinh ngạc vẫn mở ra đối với những điều khác và sự mới mẻ mà những điều ấy mang lại. Ngay cả ngày nay, có rất nhiều người ngưỡng mộ Chúa Giêsu: Ngài nói những điều đẹp đẽ; Ngài tràn đầy tình yêu và sự tha thứ; tấm gương của Người đã thay đổi lịch sử và vân vân. Họ ngưỡng mộ Ngài, nhưng cuộc sống của họ không thay đổi. Chiêm ngưỡng Chúa Giêsu thôi thì chưa đủ. Chúng ta phải bước theo những bước chân của Chúa, để cho mình được thử thách bởi Người; chuyển từ ngưỡng mộ sang kinh ngạc.

Điều gì đáng kinh ngạc nhất về Chúa và Lễ Vượt Qua của Ngài? Đó là thực tế rằng Ngài đạt đến vinh quang thông qua sự nhục nhã. Ngài chiến thắng bằng cách chấp nhận đau khổ và cái chết, là những điều mà chúng ta, trong hành trình tìm kiếm sự ngưỡng mộ và thành công thường tìm cách tránh né. Chúa Giêsu - như Thánh Phaolô đã nói với chúng ta - “đã trút bỏ chính mình… Người đã tự hạ mình” (Pl 2: 7,8). Điều đáng kinh ngạc là chứng kiến Đấng Toàn năng đã biến thành hư không; chứng kiến Ngôi Lời, Đấng thấu suốt mọi sự, dạy chúng ta trong thinh lặng từ trên đỉnh cao của thập tự giá; chứng kiến vua của các vị vua lên ngôi trên một giá treo cổ; chứng kiến Chúa của vũ trụ tước bỏ mọi thứ và đội lên đầu mão gai thay vì vinh quang; chứng kiến Đấng nhân lành hóa thân làm người bị sỉ nhục và bị đánh đập. Tại sao lại xảy ra tất cả sự sỉ nhục như thế? Tại sao, Lạy Chúa, chẳng lẽ Chúa muốn chịu đựng tất cả những điều này sao?

Chúa Giêsu đã làm điều đó cho chúng ta, để hiểu thấu chiều sâu của kinh nghiệm con người chúng ta, toàn bộ sự tồn tại của chúng ta, tất cả những điều xấu xa của chúng ta, để đến gần chúng ta và không bỏ rơi chúng ta trong đau khổ và cái chết của chúng ta, để cứu chuộc chúng ta, để cứu chúng ta. Chúa Giêsu đã được nâng lên cao trên thập tự giá để xuống vực thẳm của sự khổ đau của chúng ta. Ngài đã trải qua nỗi buồn sâu sắc nhất của chúng ta: thất bại, mất tất cả, bị bạn bè phản bội, thậm chí bị Thiên Chúa bỏ rơi. Bằng cách trải nghiệm trong xác thịt những cuộc đấu tranh và xung đột sâu sắc nhất của chúng ta, Ngài đã cứu chuộc và biến đổi chúng. Tình yêu của Ngài đến gần với sự yếu đuối của chúng ta; nó chạm đến chính những điều mà chúng ta xấu hổ nhất. Tuy nhiên, bây giờ chúng ta biết rằng chúng ta không đơn độc: Thiên Chúa ở bên cạnh chúng ta trong mọi cơn hoạn nạn, trong mọi nỗi sợ hãi; chẳng bao giờ có sự ác nào, cũng chẳng bao giờ có tội lỗi nào có tiếng nói cuối cùng. Chúa chiến thắng, nhưng lòng bàn tay chiến thắng đi qua gỗ của thập tự giá. Vì lòng bàn tay và cây thánh giá không thể tách rời.

Chúng ta hãy cầu xin ân sủng để được kinh ngạc. Một đời sống Kitô hữu không có sự ngạc nhiên sẽ trở nên buồn tẻ và thê lương. Chúng ta không thể nói về niềm vui được gặp Chúa Giêsu, trừ khi hàng ngày chúng ta đi từ ngạc nhiên này đến kinh ngạc khác bởi tình yêu của Ngài, là điều mang lại cho chúng ta ơn tha thứ và khả năng có một khởi đầu mới. Khi đức tin không còn cảm thấy kinh ngạc nữa, thì đức tin trở nên buồn tẻ: nó trở nên mù quáng trước những điều kỳ diệu của ân sủng; nó không còn có thể nếm được Bánh sự sống và không còn có thể nghe Lời Chúa; nó không còn có thể cảm nhận được vẻ đẹp của anh chị em chúng ta và món quà của tạo hóa. Nó không còn cách nào khác hơn là phải nương vào luật pháp, vào chủ nghĩa giáo sĩ trị và vào tất cả những điều mà Chúa Giêsu lên án trong chương 23 của Phúc âm Thánh Matthêu.

Trong Tuần Thánh này, chúng ta hãy ngước mắt lên thập giá, để nhận được ơn kinh ngạc. Khi Thánh Phanxicô thành Assisi chiêm ngưỡng Chúa bị đóng đinh, thánh nhân ngạc nhiên rằng các anh em của ngài không khóc. Còn chúng ta thì sao? Chúng ta còn có thể rung động trước tình yêu của Thiên Chúa không? Có phải chúng ta đã đánh mất khả năng kinh ngạc trước Ngài không? Tại sao? Có thể đức tin của chúng ta đã trở nên chai lỳ vì thói quen. Có thể chúng ta vẫn bị kẹt trong những hối tiếc của mình và để cho bản thân mình bị tê liệt bởi những thất vọng của chúng ta. Có thể chúng ta đã mất hết niềm tin hoặc thậm chí cảm thấy mình vô dụng. Nhưng có lẽ, đằng sau tất cả những điều “có thể” này, là sự thật rằng chúng ta không mở lòng đón nhận ân sủng của Chúa Thánh Thần, Đấng ban cho chúng ta ân sủng của sự kinh ngạc.

Hãy để chúng ta bắt đầu lại từ sự ngạc nhiên. Chúng ta hãy nhìn lên Chúa Giêsu trên thập giá và nói với Người: “Lạy Chúa, Chúa yêu con biết bao! Con quý giá biết bao đối với Chúa!” Chúng ta hãy kinh ngạc trước Chúa Giêsu để chúng ta có thể bắt đầu hồi sinh, vì sự vĩ đại của cuộc sống không hệ tại nơi những của cải chiếm hữu được hay sự thăng quan tiến chức, nhưng chính là nhận ra rằng chúng ta được yêu thương. Đây là sự vĩ đại của cuộc sống: đó là khám phá ra rằng chúng ta được yêu thương. Và sự hùng vĩ của cuộc sống nằm chính ở vẻ đẹp của tình yêu. Nơi Chúa Giêsu bị đóng đinh, chúng ta thấy Thiên Chúa bị sỉ nhục, Đấng Toàn Năng bị gạt bỏ và loại trừ. Và với ân sủng của sự ngạc nhiên, chúng ta nhận ra rằng khi chào đón những người bị gạt bỏ và loại trừ, khi đến gần những người bị cuộc sống đối xử tệ bạc, chúng ta đang yêu mến Chúa Giêsu. Vì đó là vị trí của Người, nghĩa là giữa những anh chị em thấp hèn nhất của chúng ta, giữa những người bị từ chối và bị loại bỏ, giữa những người mà nền văn hóa tự cao tự đại lên án.

Bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy, ngay sau cái chết của Chúa Giêsu, đã có một biểu tượng huy hoàng của sự kinh ngạc. Đó là cảnh một viên đại đội trưởng, khi thấy Chúa Giêsu sinh thì, đã nói: “Quả thật người này là Con Thiên Chúa!” (Mc 15:39). Anh kinh ngạc vì tình yêu. Anh thấy Chúa Giêsu chết như thế nào? Anh đã thấy Ngài chết vì tình yêu, và điều này làm anh kinh ngạc. Chúa Giêsu đau khổ vô cùng, nhưng Ngài không ngừng yêu thương. Đây là điều đáng kinh ngạc trước Thiên Chúa, Đấng có thể lấp đầy cái chết bằng tình yêu. Nơi tình yêu nhưng không và vô tiền khoáng hậu đó, viên đại đội trưởng ngoại đạo đã tìm thấy Chúa. Lời nói của anh – Quả thật người này là Con Thiên Chúa! – “đóng dấu” bài tường thuật Cuộc Khổ nạn. Các sách Phúc âm cho chúng ta biết rằng nhiều người khác trước viên đại đội trưởng này đã ngưỡng mộ Chúa Giêsu vì những phép lạ và công việc phi thường của Ngài, và đã thừa nhận rằng Ngài là Con Thiên Chúa. Tuy nhiên, Chúa Giêsu Kitô đã làm họ im lặng, bởi vì họ có nguy cơ hoàn toàn dừng lại ở mức độ ngưỡng mộ của thế gian với ý tưởng về một Thiên Chúa đáng tôn thờ và đáng sợ vì quyền năng và sức mạnh của Ngài. Giờ đây không còn có thể như vậy nữa, vì dưới chân thập tự giá không còn có thể sai lầm: Thiên Chúa đã tỏ mình ra và chỉ trị vì bằng quyền năng nguôi giận và không bất bình của tình yêu.

Anh chị em thân mến, hôm nay Thiên Chúa tiếp tục làm cho tâm trí và trái tim chúng ta kinh ngạc. Chúng ta hãy để cho lòng mình tràn ngập sự kinh ngạc đó khi chúng ta nhìn ngắm Chúa bị đóng đinh. Chúng ta cũng có thể nói rằng: “Ngài thực sự là Con Thiên Chúa. Ngài là Chúa của con”.

Source:Holy See Press Office

Vietcatholic News

2 Cuộc đời Dante Alighieri

 Nguyên văn Tông thư Candor Lucis Aeternae: 2. Cuộc đời Dante Alighieri

Vũ Văn An
 
2. Cuộc đời của Dante Alighieri: một mô hình về thân phận con người



Với Tông thư này, tôi cũng muốn xem xét cuộc đời và tác phẩm của nhà thơ vĩ đại và khám phá sự “cộng hưởng” của nó bằng kinh nghiệm của chính chúng ta. Tôi cũng muốn khẳng định lại tính hợp thời và tầm quan trọng muôn thuở của nó, đồng thời đánh giá cao những cảnh báo và thông sáng lâu đời mà nó vốn chứa đựng cho nhân loại nói chung, chứ không chỉ cho các tín hữu mà thôi. Công trình của Dante là một phần tạo nên nền văn hóa của chúng ta, đưa chúng ta trở về cội nguồn Kitô giáo của châu Âu và phương Tây. Nó hiện thân di sản gồm nhiều lý tưởng và giá trị mà Giáo hội và xã hội dân sự tiếp tục đề nghị làm nền tảng cho một trật tự xã hội nhân đạo, trong đó tất cả mọi người đều có thể và phải coi người khác như anh chị em. Không đi sâu vào các khía cạnh cá nhân, chính trị và tư pháp phức tạp trong tiểu sử của Dante, tôi muốn đề cập ngắn gọn một số biến cố trong cuộc đời của ông khiến ông gần gũi một cách đáng kể đối với nhiều người cùng thời với chúng ta và điều này mãi luôn thiết yếu để hiểu công trình của ông.

Dante sinh năm 1265 tại Florence và kết hôn với Gemma Donati, người đã sinh cho ông 4 người con. Ông luôn gắn bó sâu sắc với thành phố quê hương của mình, bất chấp các tranh chấp chính trị mà thời đó khiến ông ra lạc lõng với nó. Cho đến cuối đời, ông vẫn muốn trở lại Florence, không những vì tình âu yếm liên tục dành cho nơi sinh của mình, mà trên hết là để ông có thể được tôn xưng là thi nhân tại chính nơi ông đã lãnh nhận phép rửa và hồng ân đức tin (xem Đoạn XXV, 1-9). Trong tựa đề một số Thư từ của ông (III, V, VI và VII), Dante tự gọi mình là "florentinus et exul inmeritus" (người Florence bi đầy ải bất công), trong khi trong thư gửi Cangrande della Scala (XIII), ông tự gọi mình là "florentinus natione non moribus" (Người Florence do sinh ra chứ không do lối sống).

Là một người Guelph da trắng, Dante thấy mình bị cuốn vào cuộc xung đột giữa người Guelphs và người Ghibellines, và giữa người Guelph da trắng và người Guelph da đen. Ông đã nắm giữ các chức vụ công quan trọng, gồm cả một nhiệm kỳ làm Giáo Trưởng (prior), nhưng năm 1302, do tình hình chính trị bất ổn, ông bị lưu đày trong hai năm, bị cấm đảm nhiệm các chức vụ công và bị phạt tiền. Dante bác bỏ quyết định này, cho là không công bằng, điều này chỉ làm hình phạt của ông thêm nghiêm khắc hơn: đày ải vĩnh viễn, tịch thu của cải và án tử hình nếu trở lại Florence. Đó là khởi đầu cho cuộc lưu đày đau đớn của Dante và những nỗ lực không có kết quả của ông để trở về thành phố quê hương, điều mà ông đã chiến đấu hăng say.

Do đó, ông trở thành một kẻ lưu đày, một “người hành hương trầm ngâm” bị giản lược vào tình huống “nghèo khổ cùng cực” (Convivio, I, III, 5). Điều này khiến Ông phải tìm nơi ẩn náu và bảo vệ nơi nhiều gia đình quý tộc khác nhau, trong đó, có các gia đình Scaligers ở Verona và Malaspina ở Lunigiana. Lời lẽ của Cacciaguida, tổ tiên của nhà thơ, nói lên phần nào sự cay đắng và tuyệt vọng trong hoàn cảnh mới của ông:

“Ngươi sẽ từ bỏ mọi thứ yêu dấu
Tha thiết nhất, và mũi tên
Mà chiếc cung đầu tiên bắn là trục xuất.
Ngươi phải nếm muối mặn ra sao
Bánh của người khác, và đường đi khó khăn như thế nào
Lên xuống cầu thang của người khác” (Đoạn XVII, 55-60).

Năm 1315, sau khi từ chối chấp nhận các điều kiện ân xá nhục nhã có thể cho phép Ông trở lại Florence, Dante một lần nữa bị kết án tử hình, lần này cùng với những đứa con đang tuổi vị thành niên của Ông. Nơi lưu đày cuối cùng của ông là Ravenna, nơi ông được Guido Novello da Polenta tiếp đón một cách trọng thị. Tại đây, ông qua đời vào đêm ngày 13 và ngày 14 tháng 9 năm 1321, ở tuổi năm mươi sáu, khi trở về sau một sứ mệnh ở Venice. Ngôi mộ của ông ban đầu được đặt ở bức tường bên ngoài của tu viện dòng Phanxicô cũ của Nhà Thờ Thánh Phêrô Cả, sau đó, vào năm 1865, được dời đến ngôi đền thế kỷ mười tám liền kề, nơi thậm chí ngày nay vẫn là mục tiêu của vô số du khách và những người ngưỡng mộ nhà thơ vĩ đại, cha đẻ của ngôn ngữ và văn học Ý.

Trong cuộc sống lưu vong, tình yêu của Dante dành cho Florence, bị phản bội bởi “lũ Florentine gian ác” (Thư VI, 1), đã biến thành nỗi hoài nhớ buồn vui lẫn lộn. Sự thất vọng sâu xa về sự sụp đổ các lý tưởng chính trị và dân sự của ông, cùng với những chuyến lang thang thê lương từ thành phố này sang thành phố khác để tìm kiếm nơi nương tựa và hỗ trợ không hề vắng mặt trong tác phẩm văn học và thi ca của ông; thực vậy, chúng tạo thành nguồn gốc và nguồn cảm hứng của nó. Khi Dante mô tả những người hành hương lên đường thăm các thánh địa, ông có ý nói đến trạng thái tâm trí và cảm xúc sâu thẳm của chính mình: “Hỡi những người hành hương, những người đang đi sâu vào tâm tư của các bạn…” (Vita Nuova, 29 [XL (XLI), 9 ], câu 1). Chủ đề quán xuyến này lặp lại thường xuyên, như trong câu thơ ở phần Purgatorio:

“Theo cùng cách mà những người hành hương suy tư quen làm,
Những người, vô danh trên đường tiến bước,
Tự quay mình lại với họ, và không dừng lại ”(XXIII, 16-18).

Chúng ta cũng có thể thấy niềm u hoài nhói tim của Dante kẻ hành hương và lưu vong trong những câu thơ nổi tiếng của khổ thơ thứ tám trong Purgatorio:

“Nay là giờ mong muốn quay trở lại
Nơi những người chèo thuyền trên biển, và làm trái tim mủi lòng,
Ngày họ nói lời từ biệt với những người bạn thân thương”(1-3).

Dante, khi gẫm suy đời lưu vong của mình, những bất trắc triệt để, sự mong manh và liên tục di chuyển từ nơi này sang nơi khác, đã thăng hoa và biến đổi kinh nghiệm bản thân của ông, biến nó thành một mô hình về thân phận con người, được xem như một cuộc hành trình - tinh thần và thể chất - tiếp tục cho đến khi đạt được mục tiêu. Ở đây, hai chủ đề căn bản trong toàn bộ công trình của Dante được đặt lên hàng đầu, đó là mọi cuộc hành trình hiện sinh, bắt đầu từ một ước muốn bẩm sinh trong trái tim con người và ước muốn này đạt được sự thành toàn của nó trong hạnh phúc được việc diện kiến Tình yêu vốn là chính Thiên Chúa đem đến.

Đối với tất cả những biến cố bi thảm, đau buồn và làm lo âu xao xuyến mà ông đã trải qua, nhà thơ vĩ đại không bao giờ đầu hàng hay khuất phục. Ông nhất định không chịu đè nén niềm khao khát của trái tim ông được nên trọn vẹn và hạnh phúc hoặc cam chịu trước sự bất công, đạo đức giả, sự cao ngạo của kẻ quyền thế hoặc lòng vị kỷ vốn biến thế giới của chúng ta thành “sân đạp lúa khiến chúng ta kiêu căng” (Đoạn XXII, 151 ).

Kỳ sau: 3. Sứ mệnh Nhà Thơ làm nhà tiên tri hy vọng
 Vietcatholic News

1 Thi Hào Dante

 Nguyên văn Tông Thư Candor Lucis Aeternae của Đức Phanxicô để kỷ niệm 700 năm ngày qua đời của Thi Hào Dante

Vũ Văn An
 


Ánh Quang Đời Đời, Lời Chúa trở thành xác phàm từ Đức Trinh Nữ Maria khi, với lời sứ thần truyền tin, Mẹ đã đáp lại: “Này là nữ tỳ của Chúa” (x. Lc 1:38). Lễ phụng vụ cử hành mầu nhiệm khôn tả này đã chiếm một vị trí đặc biệt trong cuộc đời và tác phẩm của nhà thơ vĩ đại Dante Alighieri, một tiên tri của niềm hy vọng và là nhân chứng của lòng khao khát bẩm sinh muốn có một hiện tại vô hạn trong trái tim con người. Vào dịp Lễ Trọng kính việc Truyền Tin Chúa năm nay, tôi sẵn lòng hòa giọng của mình vào dàn đồng ca tuyệt vời của những vị đáng kính để tưởng nhớ Ông trong năm đánh dấu tròn bảy trăm năm ngày Ông qua đời.

Ở Florence, nơi tính thời gian từ lúc Nhập Thể, ngày 25 tháng 3 là ngày đầu tiên của năm dương lịch. Bởi vì nó gần với ngày xuân phân và việc Giáo hội cử hành các mầu nhiệm vượt qua, lễ Truyền tin cũng được liên kết với việc tạo dựng thế giới và bình minh của cuộc tạo dựng mới qua sự cứu chuộc mà Chúa Kitô đã chiếm được trên thập giá. Do đó, nó mời gọi chúng ta, dưới ánh sáng của Ngôi Lời thành xác phàm, chiêm niệm kế hoạch yêu thương vốn là trái tim và nguồn cảm hứng của tác phẩm nổi tiếng nhất của Dante, Bi Kịch Thần Thiêng, mà trong khổ thơ cuối cùng của nó, Thánh Bernard tôn vinh sự kiện nhập thể bằng những câu thơ bất hủ :

“Trong lòng mẹ tình yêu đã nhen nhóm,
Đầy hơi ấm và hòa bình vĩnh cửu,
Sau một thông sáng như vậy, bông hoa này đã nảy mầm ”(Par. XXXIII, 7-9) *.

Trước đó, trong Purgatorio (Luyện Ngục), Dante đã miêu tả cảnh Truyền tin được điêu khắc trên một vách núi đá (X, 34-37, 40-45).

Vào ngày kỷ niệm này, tiếng nói của Giáo hội khó có thể vắng mặt trong lễ tưởng niệm chung về con người và nhà thơ Dante Alighieri. Tuyệt vời hơn hết, Dante biết cách thể hiện bằng vẻ đẹp thi ca chiều sâu của mầu nhiệm Thiên Chúa và tình yêu. Thi ca của ông, một trong những biểu thức cao nhất của thiên tài con người, là kết quả của một nguồn cảm hứng mới và sâu sắc hơn, mà nhà thơ gọi là:

“Bài thơ thánh thiêng
Được cả trời lẫn đất sắp đặt” (Đoạn XXV, 1-2).

Với Tông thư này, tôi muốn cùng với các vị Tiền nhiệm của tôi, những vị đã tôn vinh và tán dương nhà thơ Dante, đặc biệt là vào những dịp kỷ niệm ngày sinh hoặc ngày mất của ông, và đề nghị ông một lần nữa để được Giáo hội, đại bộ phận các tín hữu, các học giả văn học, các nhà thần học và nghệ sĩ xem xét. Tôi sẽ duyệt lại một cách ngắn gọn các can thiệp này, tập trung vào các vị Giáo hoàng của thế kỷ trước và những tuyên bố quan trọng hơn của các ngài.

1. Các vị Giáo hoàng của thế kỷ trước và Dante Alighieri

Một trăm năm trước, vào năm 1921, Đức Bênêđíctô XV đã tưởng niệm 600 năm ngày mất của nhà thơ bằng cách ban hành một Thông điệp [1] đề cập đến những can thiệp trước đó của các vị Giáo hoàng, đặc biệt là Đức Lêô XIII và Thánh Piô X, và bằng cách khuyến khích việc khôi phục Nhà thờ Thánh Phêrô Cả ở Ravenna, thường được biết với tên San Francesco, nơi cử hành tang lễ của Dante và là nơi hài cốt của ông được chôn cất. Đức Giáo Hoàng đánh giá cao nhiều sáng kiến được đưa ra để cử hành ngày lễ kỷ niệm và bênh vực quyền của Giáo hội, “vốn là mẹ đối với Ông”, được giữ vai trò chủ đạo trong các lễ kỷ niệm đó, tôn vinh Dante như một trong những người con của Giáo Hội [2]. Trước đó, trong một Thư gửi Đức Tổng Giám Mục Pasquale Morganti của Ravenna, Đức Bênêđíctô XV đã phê chuẩn chương trình lễ kỷ niệm bách chu niên, nói thêm rằng “cũng có một lý do đặc biệt tại sao chúng ta cho rằng lễ kỷ niệm Ông trọng thể nên được tổ chức với lòng biết ơn và sự tham gia rộng rãi: đó là sự kiện Alighieri là của chúng ta… Thật vậy, ai có thể phủ nhận rằng Dante của chúng ta đã nuôi dưỡng và thổi bùng ngọn lửa thiên tài và những thiên phú thi ca của Ông bằng cách lấy cảm hứng từ đức tin Công Giáo, đến mức Ông đã ca tụng những mầu nhiệm cao vời của tôn giáo trong một thi ca gần như thần thiêng? ”[3]

Trong một giai đoạn lịch sử được đánh dấu bằngg sự thù địch đối với Giáo hội, Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô đã tái khẳng định lòng trung thành của nhà thơ đối với Giáo hội, “sự kết hợp mật thiết của Dante với Tòa này của Thánh Phêrô”. Thật vậy, ngài nhận định rằng tác phẩm của nhà thơ, dù nói lên “sự vĩ đại và sắc sảo của thiên tài Ông”, đã rút tỉa “cảm hứng mạnh mẽ” từ chính đức tin Kitô giáo. Vì lý do này, Đức Giáo Hoàng tiếp tục viết, “chúng ta ngưỡng mộ ở ông không những chiều cao vời vợi của thiên tài mà còn cả chiều rộng mênh mông của chủ đề mà thánh tôn giáo đã cung ứng cho thi ca của ông”. Để tán dương Dante, Đức Bênêđíctô đã gián tiếp trả lời những người phủ nhận hoặc chỉ trích nguồn cảm hứng tôn giáo trong tác phẩm của ông. “Nơi Alighieri, thở mạnh một lòng sùng kính mà chúng ta cũng cảm thấy; đức tin của ông cùng vang vọng với đức tin của chúng ta… Vinh quang lớn lao của Ông là làm một nhà thơ Kitô giáo, là ca hát bằng những nốt nhạc gần như thần thiêng những lý tưởng Kitô giáo mà ông vốn say mê chiêm niệm trong tất cả vẻ đẹp huy hoàng của chúng ”. Đức Giáo Hoàng tuyên bố rằng công trình của Dante cho thấy một cách hùng hồn và hữu hiệu “thật sai lầm khi nói rằng sự vâng phục của tâm trí đối với Thiên Chúa là một cản trở đối với thiên tài, mà thực ra đã thúc đẩy và nâng cao nó”. Đức Giáo Hoàng viết tiếp, vì lý do này, "các giáo huấn Dante để lại cho chúng ta trong tất cả các tác phẩm của ông, nhưng đặc biệt trong thi phẩm ba phần của Ông”, có thể dùng “ như một hướng dẫn quý giá nhất cho những người đàn ông và đàn bà của thời đại chúng ta ”, đặc biệt các sinh viên và học giả, vì“ khi sáng tác thi phẩm của mình, Dante không có mục đích nào khác ngoài việc nâng cao những kẻ tử sinh từ tình trạng khốn cùng, nghĩa là từ tình trạng tội lỗi, và dẫn họ đến tình trạng hạnh phúc, nghĩa là tình trạng ơn thánh Thiên Chúa”.

Năm 1965, kỷ niệm bảy trăm năm ngày sinh của Dante, Thánh Phaolô VI đã can thiệp trong một số dịp. Ngày 19 tháng 9 năm đó, ngài đã hiến tặng một cây thánh giá bằng vàng để tô điểm cho ngôi đền ở Ravenna, nơi bảo tồn lăng mộ của Dante, nơi trước đây vốn thiếu "dấu hiệu của tôn giáo và hy vọng" [4]. Ngày 14 tháng 11, ngài đã gửi một vòng nguyệt quế vàng đến Florence, để gắn lên Giếng Rửa Tội của Nhà thờ Thánh Gioan. Cuối cùng, khi kết thúc Công đồng chung Vatican II, ngài muốn tặng các Nghị phụ Công đồng một ấn bản có tính nghệ thuật của Bi Kịch Thần Thiêng. Tuy nhiên, trên hết, Đức Giáo Hoàng Phaolô đã tôn vinh hoài niệm về thi hào bằng một Tông thư, đó là tông thư Altissimi Cantus, [5], trong đó ngài tái khẳng định mối tương quan mạnh mẽ giữa Giáo hội và Dante Alighieri. “Một ai đó có lẽ sẽ hỏi tại sao Giáo Hội Công Giáo, qua ý chí và việc làm của Vị Đứng Đầu Hữu Hình của mình, lại để tâm cử hành hoài niệm về nhà thi sĩ Florence và tôn vinh ông. Câu trả lời khá dễ và có ngay lập tức: Dante Alighieri là của chúng ta bởi một quyền đặc biệt: Của chúng ta, nghĩa là, của Đạo Công Giáo, vì mọi sự đều hít thở tình yêu dành cho Chúa Kitô; của chúng ta, vì ông rất yêu mến Giáo Hội, được ông ca hát ngợi khen; của chúng ta, vì ông nhìn nhận và tôn kính Vị Đại Diện của Chúa Kitô trên trần gian nơi Giám Mục Rôma”.

Tuy nhiên, Đức Giáo Hoàng viết thêm, quyền này thay vì biện minh cho chủ nghĩa háo thắng nào đó, cũng bao hàm một nghĩa vụ: “Dante là của chúng ta, chúng ta có thể nhấn mạnh như thế, nhưng chúng ta nói điều này không phải để coi Ông như một chiến tích để tôn vinh chúng ta, mà là để nhắc nhở bổn phận của chúng ta, trong khi tôn vinh Ông, biết khám phá những kho tàng vô giá về tư tưởng và tình cảm Kitô giáo hiện hữu trong tác phẩm của Ông. Vì chúng ta tin chắc rằng chỉ bằng cách đánh giá cao tốt hơn tinh thần tôn giáo của nhà thơ vĩ đại, chúng ta mới có thể hiểu và thưởng thức đầy đủ hơn các phong phú tinh thần kỳ diệu của nó”. Nghĩa vụ này cũng không miễn trừ Giáo hội việc chấp nhận cả những lời chỉ trích mang tính tiên tri do nhà thơ phát biểu liên quan đến những người có trách nhiệm loan báo Tin Mừng và đại diện, không phải chính họ, mà là Chúa Kitô. “Giáo hội không ngần ngại thừa nhận rằng Dante đã phê bình gay gắt hơn một vị Giáo hoàng, và đã có những lời quở trách nặng nề đối với các định chế giáo hội và những người từng là đại diện và thừa tác viên của Giáo hội”. Tất cả đều như nhau, rõ ràng là “những thái độ bốc lửa như vậy không bao giờ làm lung lay đức tin Công Giáo vững chắc và lòng hiếu thảo của Ông đối với Thánh Giáo Hội”.

Đức Phaolô VI tiếp tục minh họa điều làm cho cuốn Bi Kịch trở thành một nguồn phong phú hóa thiêng liêng mà ai cũng tiếp cận được. “Thi phẩm của Dante có tính phổ quát: trong phạm vi mênh mông của nó, nó bao trùm cả trời và đất, vĩnh cửu và thời gian, các mầu nhiệm Thiên Chúa và các sự kiện con người, Tín lý và giáo huấn thánh thiêng rút ra từ ánh sáng của lý trí, thành quả của kinh nghiệm bản thân và biên niên sử của lịch sử”. Trên hết, ngài nhấn mạnh mục đích nội tại của các trước tác của Dante, và đặc biệt là của Bi Kịch Thần Thiêng, một mục đích không phải lúc nào cũng được đánh giá rõ ràng hoặc được thừa nhận một cách đúng lý. “Mục đích của Bi Kịch Thần Thiêng chủ yếu có tính thực tế và biến đổi. Nó không chỉ tìm cách có những vần thơ đẹp đẽ và nâng cao đạo đức, mà còn tạo ra một sự thay đổi triệt để, đưa những người đàn ông và đàn bà từ hỗn mang tới khôn ngoan, từ tội lỗi đến thánh thiện, từ khốn cùng đến hạnh phúc, từ việc thấy địa ngục đáng sợ đến việc thấy thiên đường tuyệt đẹp”.

Viết vào thời điểm căng thẳng quốc tế nghiêm trọng, Đức Giáo Hoàng không ngừng tìm cách đề cao lý tưởng hòa bình, và tìm thấy trong tác phẩm của Dante một phương tiện quý giá để khuyến khích và duy trì lý tưởng đó. “Hòa bình của các cá nhân, gia đình, quốc gia và cộng đồng nhân loại, nền hòa bình bên trong và bên ngoài, riêng tư và công cộng này, trật tự thanh bình này bị xáo trộn và lung lay vì lòng đạo đức và công lý đang bị chà đạp. Để khôi phục trật tự và ơn cứu rỗi, đức tin và lý trí, Beatrice và Virgil, Thập giá và Đại bàng, Giáo hội và Đế quốc được kêu gọi hoạt động một cách hòa hợp ”. Trong mạch này, ngài nói tới thi phẩm của Dante như bài tụng ca hòa bình. “Bi Kịch Thần Thiêng là một thi phẩm hòa bình: Inferno (Hỏa Ngục) là bài truy điệu hòa bình vĩnh viễn bị mất, Purgatorio (Luyện Ngục) là thánh ca nuối tiếc hy vọng hòa bình, và Paradiso (Thiên Đàng) là khải hoàn ca hòa bình được sở hữu trọn vẹn và vĩnh viễn”.

Đức Giáo Hoàng viết tiếp, nhìn cách đó, Bi kịch là “một thi phẩm về việc cải thiện xã hội thông qua việc đạt được tự do thoát khỏi sự nô dịch cho cái ác và hướng đến sự nhận biết và yêu mến Thiên Chúa” và là một biểu thức nói lên chủ nghĩa nhân bản đích thực. “Nơi Dante, tất cả các giá trị nhân bản - trí thức, đạo đức, xúc cảm, văn hóa và công dân - đều được thừa nhận và đề cao. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc đánh giá cao và quý trọng này là kết quả của kinh nghiệm sâu sắc của ông về cõi thần thiêng, khi việc chiêm niệm của ông dần dần được thanh lọc khỏi các yếu tố trần thế ”. Do đó, cuốn Bi kịch có thể được mô tả đúng là Thần thiêng, và Dante được gọi là “nhà thơ cao cả” và, theo lời mở đầu của cùng một Tông thư, “chủ tể ca khúc siêu phàm”.

Khi ca ngợi các thiên phú văn chương và nghệ thuật phi thường của Dante, Đức Phaolô VI cũng nhắc lại một nguyên tắc quen thuộc. “Thần học và triết học có liên quan đến vẻ đẹp một cách nội tại: đối với các giáo huấn của chúng, vẻ đẹp tạo nên bộ áo và sự trang điểm của chính nó. Thông qua âm nhạc và nghệ thuật ảnh tượng và nghệ thuật tạo hình, vẻ đẹp mở ra một con đường làm cho các giáo huấn cao cả của chúng trở thành dễ tiếp cận đối với nhiều người khác. Nhiều người không dễ dàng hiểu được những luận bàn bác học và lý luận tinh tế, nhưng họ vẫn khao khát tấm bánh sự thật. Bị thu hút bởi vẻ đẹp, họ nhận ra và đánh giá cao ánh sáng của sự thật và sự thành toàn được nó mang lại. Đó là điều chủ tể bài ca siêu phàm đã hiểu và đạt được; đối với ông, vẻ đẹp trở thành người tớ gái của sự thiện và sự thật, và sự thiện là một điều của sự mỹ ”. Trích dẫn một dòng từ cuốn Bi Kịch, Đức Giáo Hoàng Phaolô kết luận với lời khuyên: "Mọi vinh dự nên được dành cho nhà thơ siêu lỗi lạc!" (Inf. IV, 80).

Thánh Gioan Phaolô II thường nhắc đến Dante trong các bài diễn văn của ngài. Ở đây, tôi chỉ đề cập đến ngày 30 tháng 5 năm 1985, lễ khánh thành triển lãm Dante ở Vatican. Giống như Đức Phaolô VI, ngài đề cao thiên tài nghệ thuật của Dante, nói đến tác phẩm của nhà thơ như là “một viễn kiến về thực tại đề cập đến cuộc sống sắp tới và mầu nhiệm Thiên Chúa với sinh khí của tư tưởng thần học được biến đổi bởi ánh huy hoàng kết hợp bởi nghệ thuật và thi ca”. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô đã đặc biệt suy tư về một hạn từ chủ chốt trong Bi Kịch: “Transumanare: vượt qua con người. Đây là nỗ lực cuối cùng của Dante: để bảo đảm rằng gánh nặng của những gì là nhân bản sẽ không phá hủy điều thần thiêng trong chúng ta, cũng như sự vĩ đại của thần thiêng sẽ không phá hủy giá trị của những gì là nhân bản. Vì lý do này, nhà thơ đã giải thích một cách đúng đắn lịch sử bản thân của mình và lịch sử của toàn thể nhân loại trong một chìa khóa thần học”.

Đức Bênêđíctô XVI thường xuyên nói tới cuộc hành trình của Dante và từ thi ca của ông, đã rút ra nhiều điểm để suy tư và suy gẫm. Thí dụ, khi nói về chủ đề của Thông điệp đầu tiên của ngài, Deus Caritas Est (Thiên Chúa là Tình yêu), ngài bắt đầu từ chính viễn kiến của Dante về Thiên Chúa, nơi Người “ánh sáng và tình yêu là một và cùng là một điều”, để nhấn mạnh sự mới lạ tìm thấy trong tác phẩm của Dante. “Dante tri nhận một điều hoàn toàn mới… ánh sáng vĩnh cửu được biểu lộ trong ba vòng tròn mà Dante đề cập bằng cách sử dụng những câu thơ súc tích quen thuộc với chúng ta:

‘Ôi Ánh sáng Trường cửu, ngự duy nhất trong chính Ngài,
Hiểu biết duy nhất chính Ngài, và được chính Ngài biết đến,
Và hiểu biết, yêu mến và mỉm cười với chính Ngài!’(Đoạn XXXIII, 124-126).

Thật vậy, ấn tượng hơn cả sự mặc khải này về Thiên Chúa như một vòng tròn Ba Ngôi tri thức và tình yêu, là sự biện phân của Người về một khuôn mặt con người - khuôn mặt của Chúa Giêsu Kitô - trong vòng tròn trung tâm của ánh sáng đó. Do đó, Thiên Chúa có một khuôn mặt con người và - chúng ta có thể nói thêm - một trái tim con người ” [6]. Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh đến tính độc đáo trong viễn kiến của Dante, một điều đã đem lại một biểu thức thi ca cho sự mới mẻ của kinh nghiệm Kitô giáo, phát sinh từ mầu nhiệm nhập thể: “sự mới lạ của một tình yêu đã thúc đẩy Thiên Chúa mang lấy khuôn mặt con người, và còn hơn thế nữa, mang lấy máu thịt, toàn thể nhân tính của chúng ta” [7].

Trong Thông điệp đầu tiên của tôi, tức Thông điệp Lumen Fidei (Ánh sáng Đức tin) [8], tôi đã mô tả ánh sáng đức tin bằng cách sử dụng một hình ảnh rút từ Paradiso; hình ảnh này nói về ánh sáng đó như một

“Tia sáng,
Sau đó giãn nở thành ngọn lửa sống động,
Và, giống một vì sao trên trời, đang lấp lánh trong tôi” (Par. XXIV, 145-147).

Sau đó, tôi đã kỷ niệm 750 năm ngày sinh của Dante bằng một sứ điệp, trong đó tôi tỏ ý hy vọng rằng “hình tượng Alighieri và tác phẩm của ông sẽ được mọi người hiểu và đánh giá cao”. Tôi đề nghị đọc Bi Kịch như “một cuộc hành trình sử thi, đúng hơn, một cuộc hành hương thực sự, có tính bản thân và nội tâm, nhưng cũng mang tính cộng đồng, giáo hội, xã hội và lịch sử”, vì “nó trình bầy mô hình cho mọi cuộc hành trình đích thực, nhờ đó nhân loại được kêu gọi bỏ lại phía sau điều mà nhà thơ gọi là 'sân đập lúa khiến chúng ta hết sức tự hào' (Đoạn XXII, 151), để đạt được một trạng thái mới hòa hợp, hòa bình và hạnh phúc " [9]. Như thế, Dante có thể nói với những người đàn ông và đàn bà trong thời đại của chúng ta như “một nhà tiên tri của hy vọng, người loan báo trước khả thể cứu chuộc, giải phóng và thay đổi sâu sắc cho từng cá nhân và cho toàn thể nhân loại” [10].

Gần đây hơn, vào ngày 10 tháng 10 năm 2020, trước một phái đoàn từ Tổng giáo phận Ravenna-Cervia dự lễ khánh thành Năm Dante, tôi đã thông báo ý định ban hành Tông Thư này. Tôi nhận định rằng tác phẩm của Dante cũng có thể làm phong phú thêm tâm trí của tất cả những người, đặc biệt là những người trẻ tuổi, những người, một khi đã đã được dẫn nhập vào thi ca của Ông “theo cách họ có thể tiếp cận được, chắc chắn, một mặt, vẫn cảm nhận một khoảng cách rất xa so với tác giả và thế giới của ông, và tuy thế, về mặt khác, cũng cảm thấy một cộng hưởng đáng kể đối với kinh nghiệm của chính họ” [11].
________________________________________________________________
* Bản tiếng Anh của H. W. Longfellow (1867).
[1] Trong Praeclara Summorum (30 Tháng Tư, 1921): AAS 13 (1921), 209-217.
[2] Xem Đd, 210.
[3] Thư Nobis ad Catholicam (28 tháng 10, 1914): AAS 6 (1914), 540.
[4] Diễn văn với Hồng Y Đoàn và Phủ doãn Rôma (23 Tháng 12, 1965): AAS 58 (1966), 80.
[5] Xem AAS 58 (1966), 22-37.
[6] Diễn văn với Các Tham Dự viên Hội Nghị do Hội Đồng Giáo Hoàng Cor Unum cổ vũ, 23 tháng 1 2006: Insegnamenti 2006 II/1, 92-93.
[7] Đd 93.
[8] Xem No. 4: AAS 105 (2013), 557.
[9] Sứ điệp gửi Hội đồng Giáo Hoàng về Văn Hóa, (4 tháng 5, 2015): AAS 107 (2015), 551-552.
[10] Đd 552.
[11] L’Osservatore Romano, 10 tháng 10, 2020, p. 7.
[12] Xem Confessions, I, I, 1: PL 32, 661.

Kỳ tới: 2. Cuộc đời Dante Alighieri
  Vietcatholic News

Ngục Trung Thư 2 – NVMN 30.3.2021

 

 
Niềm Vui Mỗi Ngày
 
“Hãy lấy Chúa làm niềm vui của bạn,
Người sẽ cho được phỉ chí toại lòng”.
Thánh Vịnh 37,4
 
30 tháng 3.2021
 
 
Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui.
 
Ngục Trung Thư 2
 
Đây là bức thư sau cùng của thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh gởi cho các chủng sinh yêu dấu của ngài và các linh mục trong chủng viện Kẽ Vĩnh. Bức thư này được viết từ trong tù khi ngài bị bắt lần thứ hai. Bức thư này được viết chỉ mười hai ngày trước khi ngài được lãnh triều thiên tử đạo.
 
Những tâm tình tín thác vào Thiên Chúa, yêu thương mọi người, nhất là các chủng sinh thân yêu, và an ủi được biết mọi người sẽ nguyện cầu cho mình trong cuộc chiến cuối cùng. Cuộc chạy đua giành vòng hoa nguyệt quế tử đạo.
 
 
Thư Thứ Hai của Thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh gửi chủng viện Kẻ Vĩnh

1. Tôi, Phaolô Tịnh, trong lao tù và bị xiềng xích vì Chúa Kitô, xin gửi lời kính thăm tất cả anh em: giáo sư và chủng sinh trường thánh Phêrô. Từ ngày Chúa Quan Phòng định cho tôi bị bắt xa anh em, kỷ niệm của anh em lúc nào cũng phảng phất trong tâm hồn tôi, và để minh chứng, hôm nay tôi xin gửi về anh em nỗi tâm sự.

2. Xin anh em cảm tạ Thiên Chúa nhân hậu vì những gì Ngài đã thực hiện nơi tôi. Chỉ trong giây phút, Ngài đã làm những điều mà chính tôi cũng như không một ai khác có thể đoán trước. Linh hồn tôi ca ngợi Chúa, và tâm thần tôi vui mừng trong Chúa là Đấng Cứu Độ tôi, vì Ngài đã nhìn đến phận hèn tôi tớ. Anh em hãy cảm tạ Chúa, vì Ngài nhân hậu và lòng nhân hậu của Ngài tồn tại muôn đời.

3. Giờ này chúng tôi ở giữa chiến trường rất cần đến anh em giúp đỡ. Hãy giúp chúng tôi bằng lời cầu nguyện, để Ngài hoàn tất nơi chúng tôi những gì Ngài đã khởi sự. Chú Lương, bạn học của anh em, mặc dù con người mảnh khảnh, đã tỏ ra rất can đảm trước mặt các quan chức. Tấm gương anh dũng và những lời nói đanh thép của chú đã tăng tinh thần rất nhiều cho hai ông chánh phó xã ủy cùng bị bắt với chúng tôi. Cả hai đều sẵn sàng chịu chết chứ không chối đạo. Tuy nhiên anh em đã biết: thần trí lanh lẹ chứ xác thịt thì yếu đuối. Anh em hãy cầu nguyện nhiều cho tôi và cho họ, đừng ai trong chúng tôi phải hổ thẹn mà thua cuộc. Ba bạn đồng hành của tôi, ngoài sự kiện phải đeo gông, ban đêm còn phải bị còng sắt nơi chân.


4. Riêng tôi thì chỉ có cảnh đeo gông. Đời sống trong lao tù nói ra thật khổ cho thân xác. Ngục giam chúng tôi hoàn toàn u tối, giữa ban ngày cũng không trông thấy gì. Đã tối tăm lại còn hôi tanh, muỗi đốt, nóng bức, nghẹt khói: để cho anh em có một ý niệm sơ sơ về cảnh khổ.

5. Tuy nhiên tôi vẫn tạ ơn Thiên Chúa, vì nhờ có sự yên lặng bao quanh, tôi cầu nguyện và suy niệm được dễ dàng. Tôi vẫn thầm xác tín rằng: không gì có thể làm cho tôi xa lìa tình thương của Chúa Giêsu Kitô, dù lao tù, dù đói khát, dù gươm giáo, dù sự chết, là vì chính Chúa Kitô là sự sống của tôi.

6. Tử đạo bằng máu quả thật là họa hiếm, Thiên Chúa chỉ ban cho một số ít người: vì là hồng ân hoàn toàn, chứ không phải là công nghiệp của ai. Nhưng mà tử đạo bằng ước muốn, bằng tình yêu... là của hết mọi người. Và cũng có thể là của riêng những người có tinh thần nghèo khó, hiếu hòa và tâm hồn trong sạch.

7. Thành Giêrusalem mới, theo Thánh Kinh, có mười hai cửa vào: nếu không vào nổi qua hồng môn, thì cũng còn những cửa khác đang mở sẵn. Là những lối vào khác nhau, nhưng cùng dẫn về một trung tâm điểm, cùng đưa tới một mục đích là được hưởng Thiên Chúa.


8. Tôi xin nhắc lại: không phải tình cờ mà chúng tôi bị rơi vào những bàn tay hung tàn, nhưng đó là một xếp đặt của Chúa Quan Phòng.

9. Tôi tạ ơn Chúa hết tâm hồn, và nguyện xin Ngài gìn giữ các vị Giám mục, các cha thừa sai, các linh mục chúng ta được khang an thánh thiện, cho Giáo Hội Bắc Việt được vinh quang thịnh đạt.

10. Xin Chúa hộ giúp, bảo vệ các Ngài và cả anh em là những bạn thân hữu, xin cho anh em mỗi ngày một thăng tiến trên đường tu đức.

11. Thực ra tôi linh cảm là giờ tôi bị tiêu hủy đã gần đến. Tôi đã giữ trọn đức Tin, đã hoàn tất cuộc chạy đua, tôi hy vọng Đấng thẩm phán công minh sẽ ban cho tôi phần thưởng công chính, không những cho tôi mà còn cho hết những ai đã yêu mến đón chờ Ngài đến.

12. Viết mấy dòng này trong giờ phút sắp được tử đạo để nói rõ sự kiện là tôi quí mến anh em thực tình. Anh em hãy yêu thương nhau, hãy vâng lời các vị bề trên, hãy tuân giữ hết mọi luật pháp trong cộng đoàn: trung thành trong sự nhỏ mọn để đáng hưởng phúc Thiên Đàng.

13. Khi tôi chết rồi, nếu còn làm được chút gì nữa bên cạnh tòa Chúa, tôi hứa sẽ không bao giờ quên anh em. Xin vĩnh biệt.
 
                                                                                                                                                                                                               Ngày 24.3.1857
 
                                                                                                                                                                                                                   Phaolô Tịnh
 
 
Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con...
 
                                                                                                                                                                                                                               Nguyễn Thái Hùng
 
++++++++++++
 
 
(Ngày 24.3.1857, 12 ngày trước khi bị xử tử, trích trong Le clergé Tonkinois
 et ses Prêtres Martyrs, trang 94-95)
https://thanhcavietnam.net/forum/showthread.php?t=1019