Trang

Thứ Năm, 30 tháng 11, 2023

vhtk 7 Điểm Khác Biệt : Chúa giáng Sinh

 VUI HỌC THÁNH KINH

7 Điểm Khác Biệt : Chúa giáng Sinh

Bạn hãy tìm 7 điểm khác biệt trong hai hình này nhé!



vhtk Mê cung: Khuôn Vàng Thước Ngọc

 Vui Học Thánh Kinh

Mê cung: Khuôn Vàng Thước Ngọc

Mê Cung rất dễ. Bạn hãy đi từ điểm khởi đầu đến điểm kết thúc. Rất dễ bạn ạ.


Đôi nét về Mùa Vọng

 

Đôi nét về Mùa Vọng

 
  •  
  •  


ĐÔI NÉT VỀ MÙA VỌNG

Nt. Anna Ngọc Diệp, OP
Dòng Đa Minh Thánh Tâm

WHĐ (30.11.2023) – Mùa Vọng đánh dấu sự khởi đầu Năm Phụng vụ mới của Giáo hội, đây cũng là mùa phụng vụ được cử hành trước và chuẩn bị cho lễ Giáng Sinh. Đồng thời, đây cũng là mùa hy vọngchờ đợi, và hướng tới cuộc quang lâm lần thứ hai của Đức Kitô. Sau đây là đôi nét về Mùa Vọng như một cách giúp chúng ta chuẩn bị bước vào Mùa Vọng.

1. Mục đích của Mùa Vọng

Thánh Gioan Tẩy Giả cho chúng ta hình ảnh rõ nét của Mùa Vọng khi nói rằng: “Có Đấng quyền thế hơn tôi đang đến” (Lc 316). Trong Mùa Vọng, chúng ta được mời gọi chuẩn bị, sẵn sàng, và chờ đợi Chúa Giêsu đến trong cuộc đời chúng ta giống như Đức Maria, Thánh Giuse, các mục đồng và các đạo sĩ đã làm.

Mùa Vọng là một mùa trong lịch phụng vụ của Giáo hộiTheo Quy chế tổng quát về Năm Phụng vụ và Lịch Chung Rôma (QCTQ):

Mùa Vọng có hai đặc tính: vừa là mùa chuẩn bị mừng lễ trọng Giáng sinh, trong lễ này, kính nhớ việc Con Thiên Chúa đến lần thứ nhất với loài người; vừa là mùa mà qua việc kính nhớ này, các tín hữu hướng lòng trông đợi Chúa Kitô đến lần thứ hai trong ngày tận thế. Vì hai lý do này, mùa Vọng được coi như mùa sốt sắng và hân hoan mong đợi. [số 39].

Từ Mùa Vọng (Adventcó nguồn gốc từ adventus trong tiếng Latin, có nghĩa là “đang đến” hoặc “đến, và được dùng để nói đến sự xuất hiện của Chúa Giêsu vào ngày lễ Giáng sinh. Thánh Jerome, khi soạn bản Vulgate bằng tiếng Latinh, cũng dùng từ adventus khi dịch từ parousia trong tiếng Hy Lạp, vốn  nghĩa tương tự, nhưng trong ngữ cảnh rộng hơn, ám chỉ việc Chúa Giêsu đến lần thứ hai vào thời sau hết.


Sách Giáo lý Công giáo, 524 xác nhận ý nghĩa kép này:

Mỗi năm khi cử hành phụng vụ Mùa Vọng, Giáo hội thể hiện lại niềm mong đợi Đấng Mêsia: khi hiệp thông với sự chuẩn bị lâu dài để đón Đấng Cứu độ ngự đến lần thứ nhất, các tín hữu canh tân lòng sốt sắng đón chờ Người ngự đến lần thứ hai.

Lịch sử của Mùa Vọng được cho là bắt nguồn từ thế kỷ thứ IV hoặc thứ V, một thời gian ngắn sau ngày Lễ Giáng Sinh được thiết lập và mau chóng trở thành giai đoạn chuẩn bị mừng Lễ Giáng Sinh giống như Mùa Chay đối với Lễ Phục Sinh.

Thoạt đầu, Mùa Vọng kéo dài 30-40 ngày và bao gồm những ngày bắt buộc phải ăn chay. Đến thế kỷ thứ VI, việc giữ Mùa Vọng được thâm nhập vào Giáo hội Roma, và vào khoảng thế kỷ thứ IX, thời gian Mùa Vọng được giảm xuống còn 4 Chúa nhật trước lễ Giáng sinh.

2. Màu sắc phụng vụ và Thời gian của Mùa Vọng

Theo QCTQ40: Mùa Vọng bắt đầu từ giờ Kinh Chiều I ngày Chúa nhật nhằm ngày 30.11, hoặc nhằm ngày nào gần nhất, và kết thúc trước giờ Kinh Chiều I lễ Chúa Giáng sinh.

Điều này có nghĩa là Chúa nhật thứ I Mùa Vọng có thể sớm nhất là vào ngày 27.11 hoặc muộn nhất là vào ngày mồng 03.12Chúa nhật thứ IV Mùa Vọng có thể sớm nhất là vào ngày 18.12, một tuần trước lễ Giáng sinhhoặc muộn nhất là vào ngày 24.12.

Theo Quy chế Tổng quát Sách Lễ Rôma346d: Màu phụng vụ chính thức của Mùa Vọng là màu tím. Màu hồng có thể dùng trong Chúa nhật III mùa Vọngtheo truyền thống được gọi là Chúa nhật Hãy vui lên (Gaudete Sunday)

3Vai trò của các Chúa Nhật trong Mùa Vọng

Hiện nay, lịch Phụng vụ có 4 Chúa Nhật Mùa Vọng, và được gọi là Chúa nhật I, II, III và IV Mùa Vọng (QCTQ, 41). Giáo hội luôn coi những ngày Chúa nhật có tầm quan trọng đặc biệt và chỉ nhường chỗ cho các lễ trọng và các ngày lễ kính ChúaNhưng các Chúa nhật mùa Vọng, mùa Chay và mùa Phục sinh chiếm vị trí ưu tiên trên mọi lễ kính Chúa và mọi lễ trọng. Khi gặp các Chúa nhật này, các lễ trọng sẽ mừng vào ngày thứ hai, trừ phi các lễ đó trùng với Chúa nhật Lễ Lá hay Chúa nhật Phục sinh (QCTQ, 5). Ngoài ra, cũng không thể cử hành Thánh lễ An táng vào các Chúa Nhật Mùa Vọng (Quy chế Tổng quát Sách Lễ Rôma, 380).

4. Các Bài Đọc Phụng vụ trong các Chúa nhật Mùa Vọng

Mỗi Chúa nhật trong Mùa Vọng đều có những bài đọc với những điểm nhấn riêng:

- Chúa nhật I Mùa Vọng: Các bài đọc hướng tới “Thời kỳ cuối cùng” và “Ngày của Chúa” hay “Thời của Đấng Mêsia” sắp đến. Bài Tin Mừng là một đoạn trích từ Bài giảng mang tính Khải Huyền của Chúa Giêsu trong Tin Mừng Nhất Lãm.

- Chúa nhật II Mùa Vọng: Bài Tin Mừng tập trung vào việc rao giảng và sứ vụ của Thánh Gioan Tẩy Giả, với tư cách là vị tiền hô, người đã đến để “dọn đường cho Chúa” bằng việc kêu gọi dân chúng sám hối, quay về với Thiên Chúa.

- Chúa nhật III Mùa Vọng: Bài Tin Mừng tiếp tục tập trung vào Thánh Gioan Tẩy Giả, người giới thiệu về Đấng sẽ đến sau ôngTrong khi đócác bài đọc I và II truyền tải niềm vui mà các Kitô hữu cảm nhận trước ơn cứu độ thế giới qua sự Nhập thể của Đấng Cứu Thế.

- Chúa nhật IV Mùa Vọng: Bài Tin Mừng kể về những biến cố xảy ra trước và chuẩn bị cho việc giáng sinh của Chúa Giêsu, bao gồm những giấc mơ của Thánh Giuse (Năm A), Truyền Tin (Năm B) và Đức Maria thăm viếng bà Elizabeth (Năm C).

5. Các Bài Đọc Phụng vụ các ngày trong tuần Mùa Vọng

Trên thực tế có 2 bộ Bài đọc các ngày trong tuần cho Mùa Vọng:

Các Bài đọc các ngày trong tuần từ Thứ hai tuần I Mùa Vọng đến ngày 16.12: Các bài đọc I chủ yếu lấy từ sách Ngôn sứ Isaia, còn các bài Tin Mừng được trích từ các chương khác nhau trong Thánh Matthêu và Thánh Luca.

Các Bài đọc các ngày trong tuần từ ngày 17 đến ngày 24.12: Nhằm tập trung vào việc chuẩn bị mừng Lễ Giáng Sinh, do đó, các bài đọc I được chọn theo chủ đề từ các sách khác nhau của Cựu Ước, còn các bài đọc Tin Mừng lần lượt bao gồm tất cả các bài đọc của Mátthêu chương 1 và Luca chương 1.

6. Việc Trang trí và Âm nhạc trong Phụng vụ vào Mùa Vọng

Theo Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma:

Trong mùa Vọng, hãy chưng bông bàn thờ cách chừng mực, cho hợp với tính chất của mùa này, kẻo vượt quá niềm vui trọn vẹn của ngày Chúa Giáng sinhLuôn phải giữ chừng mực trong việc chưng bông và nên đặt bông chung quanh bàn thờ hơn là trên bàn thờ. (x. số 305).

- Mùa Vọng được dùng phong cầm và các nhạc cụ khác cách vừa phải, hợp với tính chất của mùa này, nhưng sao đừng vượt quá niềm vui trọn vẹn của ngày Chúa giáng sinh (số 315).

7. Vòng hoa Mùa Vọng

Một trong những biểu tượng và truyền thống gắn liền với Mùa Vọng đó là Vòng hoa Mùa Vọng (Advent wreath).


Việc sử dụng vòng hoa để xác định điều gì đó hoặc ai đó là đặc biệt đã có từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại. Các vị vua và hoàng hậu đôi khi đội vòng hoa để thể hiện vị thế của mình; nhiều hình ảnh của Caesar cho thấy ông đang đội một vòng hoa. Các vị tướng La Mã khi chiến thắng được đội vòng hoa để biểu thị chiến thắng trong trận chiến.

Vòng hoa Mùa Vọng có nguồn gốc từ truyền thống ngoại giáo ở châu Âu, bao gồm việc thắp nến trong mùa đông để cầu xin thần mặt trời quay trở lại với ánh sáng và hơi ấm của mình. Các nhà thừa sai đã lợi dụng truyền thống này để dạy tín hữu sử dụng vòng hoa Mùa Vọng như một cách để chuẩn bị cho ngày lễ Giáng sinh và cầu xin Chúa Giêsu soi chiếu ánh sáng của Người vào tâm hồn họ.

Vòng hoa Mùa Vọng có dạng tròn, không có điểm bắt đầu cũng như không có điểm kết thúc. Điều này không chỉ phản ánh sự vĩnh cửu của Thiên Chúa, Đấng vừa là khởi nguyên vừa là cùng tận mà còn là dấu chỉ của tình yêu mà các tín hữu phải thể hiện với Chúa và tha nhân, một tình yêu được đổi mới liên tục và không ngừng nghỉ.

Theo truyền thống, vòng hoa Mùa Vọng được kết bằng một số loại cây thường xanh (evergreens), tượng trưng cho niềm hy vọng và sự sống. Vòng hoa Mùa Vọng nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Kitô đang sống giữa chúng ta và chúng ta phải nuôi dưỡng đời sống ân sủng, lớn lên về đàng thiêng liêng, và hy vọng tiến bước. Một số nơi trang trí thêm quả thông hoặc lá nhựa ruồi với những đầu nhọn hoặc có gai, nhắc nhớ về vòng gai trên đầu Đức Kitô. Kitô hữu ở thế kỷ XIX, đặc biệt là ở nước Đức, đã mang vòng hoa Mùa Vọng vào nhà mình như một phần của Mùa Vọng, và trang trí với những cây nến sáng.

Tại nhiều nơi, Vòng hoa Mùa Vọng trong đó có cắm 4 cây nếntượng trưng cho 4 tuần Mùa Vọngđược làm phép theo nghi thức khi bắt đầu phụng vụ đầu tiên vào Chúa nhật I Mùa Vọng.

Việc thắp sáng dần dần những ngọn nến: 1 ngọn nến màu tím trong tuần thứ I; 2 ngọn nến trong tuần thứ II, mời gọi chúng ta cầu nguyện, sám hối và làm việc lành trong khi chờ đợi Chúa đến; 3 ngọn nếnbao gồm ngọn màu hồng, trong tuần thứ III nói lên sự vui mừng, vì đã đến giữa Mùa Vọngvà cả 4 ngọn nến trong tuần thứ IV cho thấy lễ Giáng sinh đang đến gần, ngày kỷ niệm sự ra đời của Chúa Giêsu, Đấng là ánh sáng đến chiếu soi thế giới tăm tối.


Một số truyền thống Kitô giáo mặc cho từng cây nến ý nghĩa biểu tượng riêng:

1) Ngọn nến Ngôn sứ (Prophet's Candle), tượng trưng cho Niềm Hy VọngCác ngôn sứ trong Cựu Ước, đặc biệt là Isaia, đã chờ đợi Đấng Messia đến trong hy vọng.

2) Ngọn nến Bêlem (Bethlehem Candle), tượng trưng cho Niềm Tin: Ngôn sứ Mica đã báo trước rằng Đấng Mêsia sẽ sinh ra tại Belem, cũng là nơi sinh của Vua Đavít;

3) Ngọn nến Mục đồng (Shepherd's Candle), tượng trưng cho Niềm vuiTrước niềm vui mừng khôn xiết của các mục đồng, các thiên thần đã loan báo rằng Chúa Giêsu cũng đến để cứu những người khiêm nhường, tầm thường như họ.

4) Ngọn nến Thiên thần (Angel's Candle), tượng trưng cho Bình an: Các thiên thần loan báo rằng Chúa Giêsu đến để mang lại bình an, để một lần nữa đưa con người đến gần Thiên Chúa và đến gần nhau.

Ngoài ra, ngọn nến Chúa Kitô (Christ's Candle): là một ngọn nến trắng đôi khi được thắp vào đêm Giáng sinh hoặc ngày lễ Giáng sinh như là dấu chỉ của việc Chúa Giêsu ở cùng chúng ta.

***

Dù chúng ta bước vào Mùa Vọng với tâm thế nào. Dù chúng ta chọn cách sống Mùa Vọng ra sao, thì Mùa Vọng luôn là thời điểm giúp chúng ta nhớ mầu nhiệm Nhập thể của Con Thiên Chúa, Đấng đã bước vào lịch sử, bước vào thế giới đen tối, tan vỡ khi được sinh ra tại Belem cách đây 2000; thì Mùa Vọng luôn phải là thời điểm giúp chúng ta xác tín rằng Đức Kitô vẫn đang tiếp tục khôi phục ánh sáng, bình an và sự sống trong ân sủng của Thánh Thần. Và nhất là, thì Mùa Vọng luôn phải là thời điểm giúp chúng ta chuẩn bị, tin tưởng và hy vọng trên hành trình đón gặp Đức Kitô, khi Người trở lại trong vinh quang, kết thúc lịch sử, và đưa nhân loại tới sự viên mãn trong tình yêu.

Với những tâm tình này, chúng ta cùng nhau hân hoan bước vào Mùa Vọng.

Theo: thepriest.com (15. 11. 2023) ; usccb.org ; ncregister.com (24. 11. 2021) và catholic-resources.org

https://www.hdgmvietnam.com/chi-tiet/doi-net-ve-mua-vong-53060


Nền thần học bình dân

 


 
  •  
  •  


NỀN THẦN HỌC BÌNH DÂN

Lm. Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

WHĐ (29.11.2023) – Một tin vui cho hầu hết giáo dân liên quan đến vấn đề thần học đến từ Đức Giáo Hoàng Phanxicô, khi ngài đề cập đến nền thần học bình dân, trong Tự sắc Ad Theologiam Promovendam (Cổ vũ Thần học)[1]. Là giáo dân, triết học và thần học là cái gì đó cao vời khó hiểu. Quan niệm này đã khiến nhiều người không dám bước vào hai lãnh vực này. Cụ thể, những gì liên quan đến thần học là thường đẩy cho các linh mục hoặc những tu sĩ vốn phải dùi mài kinh sử. Trong khi đó, thần học thực tế dễ hơn nhiều. 

Hẳn nhiên “thần học là sự giải thích – có ý thức và có phương pháp – mạc khải của Thiên Chúa vốn đã được đón nhận và được nắm giữ trong đức tin” (Karl Rahner). Tuy vậy, nền thần học này cùng một nghĩa với “Nền thần học quỳ gối”[2]. Đôi khi chúng ta quá chú trọng đến kiến thức mà quên đến mối tương quan với Thiên Chúa. Để thay đổi quan niệm này, Đức Thánh Cha gọi việc cập nhật quy chế này là “cuộc cách mạng văn hóa can đảm” và dấn thân đối thoại dưới ánh sáng của Mặc khải.

Với Tự sắc (Motu Proprio) trên đây, Đức Giáo hoàng nhắc lại tôn chỉ của Đức Giáo Hoàng Clemente XI khi ngài thành lập hàn lâm viện Tòa Thánh về Thần học vào ngày 23/4/1718: “Đặt thần học để phục vụ Giáo hội và thế giới. Phục vụ Giáo hội nghĩa là các nhà thần học có nhiệm vụ suy tư và giải thích kho tàng Thánh Kinh và Thánh Truyền một cách khoa bảng. Từ đó, để phục vụ thế giới, kiến thức khoa bảng ấy cần thiết phải đi vào cuộc sống của giới bình dân. Đây là một thách đố không nhỏ đối với Giáo hội, nhất là những người có trách nhiệm tiếp cận với dân chúng.

1. Thần học là cuộc sống

Để tháo gỡ “trăm mối tơ vò” trên đây, Đức Giáo hoàng đề nghị một nền thần học có khả năng đọc và giải thích Tin Mừng trong những hoàn cảnh sống. Điều này không xa lạ với cách làm thần học của Chúa Giêsu. Chính Đức Giêsu Kitô đã nhập thể, nhập vào thế giới cuộc sống của con người để từ đó trao ban lời hằng sống. Nếu Chúa Giêsu diễn giải mầu nhiệm Nước Trời, những bài thần học một cách cao vời khó hiểu, làm sao ngài thu hút được đám đông dân chúng. Ngược lại, khởi đi từ trái tim người mục tử, Đức Giêsu biết thính giả là ai, họ là những người bình dân, kể cả những người tội lỗi. Từ mảnh đất bình dân này, Đức Giêsu đã dùng những hình ảnh, ngôn từ và cách diễn tả làm sao để dân chúng hiểu được. Khởi đi từ đây, Đức Giêsu đã rất thành công về phương pháp làm thần học khởi đi từ cuộc sống.

Vì điều này, Đức Giáo Hoàng Phanxicô không ngần ngại yêu cầu những người giảng dạy thần học cần thấu hiểu khoa sư phạm bình dân này. Dân Chúa cần Lời Hằng sống để gặp gỡ Thiên Chúa, nhưng Lời Hằng sống ấy cần dễ hiểu, dễ nhớ và dễ thực hành. Thiên Chúa thì đơn sơ và gần gũi. Do đó, việc mở lòng ra với thế giới và nhân loại là vô cùng khẩn thiết đối với Giáo hội. Nhất là những người có trách nhiệm hướng dẫn giáo dân, làm sao để thấy được, “những vấn đề, những vết thương, những thách thức và tiềm năng của con cái mình”. Từ đó việc suy tư thần học sẽ dành một chỗ cho “việc suy nghĩ lại về nhận thức luận và phương pháp luận”.

Để tiếp cận được cách làm thần học trên đây, Đức Thánh Cha nói tiếp, “một nền thần học theo bối cảnh cơ bản, có khả năng đọc và giải thích Tin Mừng trong những điều kiện mà con người nam nữ sống hàng ngày, trong những môi trường địa lý, xã hội và văn hóa khác nhau”[3]. Như thế, sẽ thú vị hơn nhiều khi giới thiệu Thiên Chúa cho con người thời nay. Cùng một lúc, nhiều người sẽ cảm nhận được Thiên Chúa không cao vời khó hiểu, nhưng có thể cảm nhận và tiếp xúc với Ngài một cách dễ dàng.

2. Thần học mang dấu ấn mục vụ

Có lẽ điểm son lớn nhất trong Tự sắc này là vấn đề mục vụ (pastoral theology). Đức Giáo Hoàng mô tả điều này bằng cụm từ: “Nền thần học bình dân”. Ai cũng hiểu và có thể thực hiện được, đó là bình dân. Tuy người bình dân không thể giải thích một cách cao sâu vấn đề thần học, nhưng họ có thể sống với Thiên Chúa một cách tuyệt vời. Viết đến đây tôi nhớ đến bà nội của tôi. Bà học không hết lớp ba. Vì thời cuộc bà nội tôi phải di cư năm 1954. Trong bối cảnh đó, chữ nghĩa là điều xa xỉ. Ngược lại, bà rất thuộc các kinh bổn, siêng năng đi lễ và sống chan hoà với mọi người. Đôi khi kiến thức không tỷ lệ thuận với kinh nghiệm về Thiên Chúa. Bà nội tôi hẳn là đã yêu mến Thiên Chúa rất nhiều. Những lời nhắc nhở của bà đều ghi đậm dấu ấn trên cuộc đời của tôi. Dù những lời ấy chẳng cao sâu hoặc mang tính thần học, nhưng đụng đến trái tim của một người cháu. Tôi tin trong đó Thiên Chúa có cách chuyển hoá những lời khuyên đơn sơ của bà thành một linh đạo cao sâu về Thiên Chúa mà sau này tôi có cơ hội học tập.

Đành rằng các linh mục phải được huấn luyện khoa bảng và lâu dài, nhưng Giáo hội không quên nhấn mạnh đến cách mục vụ gần gũi với con chiên. Giáo hội tiếp tục hiện diện với trái tim của người mục tử. Người mục từ này đang ở trong thế giới với những vết thương của nó. Họ cũng đang ở trong lịch sử của nhân loại với những chuyển biến của thời đại. Mục tử “nghe thấy mùi của chiên, của thế giới”. Chính từ đây nền thần học thổi sinh khí vào để đưa con người về với Thiên Chúa. Hoặc nói như ngôn từ của Đức Phanxicô: “Thần học báo trước về niềm hy vọng về một sự viên mãn cuối cùng”.

Trong thực tế, đối với Đức Thánh Cha, thần học nói chung phải mang “dấu ấn mục vụ”, và do đó, suy tư thần học phải bắt đầu “từ những bối cảnh và hoàn cảnh cụ thể khác nhau mà các dân tộc sống”, đặt mình “để phục vụ việc truyền giáo”. Nếu như đất diễn của nền thần học khoa bảng ở trường lớp; thì ngược lại, nền thần học mục vụ hay còn gọi là thần học thực tiễn luôn đến và ở trong cuộc sống. Số là nền thần học này “nghiên cứu đời sống và hoạt động của Hội Thánh để giúp Hội Thánh hoàn thành sứ mệnh mục tử của mình.” Đúng như tên gọi, thần học mục vụ một mặt nắm vững các chân lý mặc khải; mặt khác, nhạy bén với các vấn đề nhân sinh và các dấu chỉ thời đại, để có thể chuyển tải Tin Mừng cách hữu hiệu cho các nền văn hóa khác nhau[4].

Với mục đích trên đây, Giáo hội hẳn nhiên vẫn theo đuổi sự chuyên sâu của khoa học thánh này. Đồng thời Giáo hội cũng không quên hướng nền thần học này trổ sinh hoa trái trong lòng mỗi tín hữu. Không ai có thể độc quyền tiếp cận thần học. Ngược lại, Thiên Chúa mời gọi mỗi người hiểu hơn về Ngài. Càng gặp gỡ Thiên Chúa, chúng ta càng hiểu về thần học. Đơn giản: “Thần học (theologia-θεολογία) có nghĩa là khoa học hay môn học nghiên cứu và tìm hiểu về thần linh, về Thiên Chúa”. Do đó, nền thần học mang dấu ấn mục vụ là con đường giúp nhiều người đến được với Thiên Chúa. Để làm được điều này, Đức Giáo Hoàng đề nghị: “Suy tư thần học phải bắt đầu từ những bối cảnh và hoàn cảnh cụ thể khác nhau mà các dân tộc sống, đặt mình để phục vụ việc truyền giáo”[5].

3. Phương pháp dành cho các nhà mục vụ

Điều 8 trong tự sắc trên đây, Giáo hội đưa ra một phương pháp đơn sơ này: “Phương pháp quy nạp”. Điều này có nghĩa là các nhà thần học (kể cả những mục tử) nên bắt đầu với “những tình huống cụ thể”, cho phép bản thân “bị thực tế thách thức một cách nghiêm túc”. Sau đó, họ nên tìm cách phân định “các dấu chỉ thời đại” trong việc loan báo biến cố cứu độ của Thiên Chúa - đức ái (agape), được thông truyền nơi Chúa Giêsu Kitô”[6]

Nói một cách khác, Đức Thánh Cha  Phanxicô “yêu cầu những mục tử hãy mang nặng mùi con chiên của mình”. Để được như thế, mục tử phải là con người của cầu nguyện, có kinh nghiệm về Thiên Chúa (thần học quỳ gối) để hướng dẫn đoàn chiên đến với nguồn sống là Đức Giêsu. Hơn nữa, trong hoàn cảnh hiện nay, nhiều người cần mục tử nuôi dưỡng đoàn chiên bằng những lương thực của Lời Chúa, của bí tích và ủi an. Càng gần gũi dân, càng thân thiết với Thiên Chúa, người mục tử sẽ biết cách giới thiệu chân dung đích thực của Thiên Chúa cho nhiều người.

Như thế, con chiên cần những mục tử có trái tim đồng cảm và lắng nghe. Hơn nữa, con chiên phấn khởi khi nghe Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ với mục tử của thời đại hôm nay với những cụm từ đầy ý nghĩa: cầu nguyện, tiến bước, chia sẻ, đừng khó tính, giảng ngắn lại, nên linh mục đường phố, gần gũi với những người trẻ, nên khí cụ của lòng thương xót của Thiên Chúa[7]. Tóm lại, người mục tử lý tưởng theo Đức Thánh Cha Phanxicô là: “Người gần gũi với dân chúng, là người cha, người anh em, với sự hiền dịu, kiên nhẫn và thương xót. Là những người yêu sự khó nghèo, sự khó nghèo nội tâm như sự tự do trước mặt Chúa, cũng như sự khó nghèo bên ngoài như sự đơn sơ và khắc khổ của cuộc sống”[8]. Đây là nền thần học theo phương pháp quy nạp từ cuộc sống. Người mục từ dâng lên Chúa tất cả những cảnh huống của dân. Từ trên bàn thờ này, Thiên Chúa sai người mục tử đến với dân trong những sứ điệp rất cụ thể, nhiều tình yêu.

Để hiểu thêm ý trên đây, tôi trích câu chuyện này truyền thống Hasidic:

Một ngày nọ, một đệ tử trẻ tuổi hỏi vị thầy cao niên của mình: “Thưa Thầy, thầy có thể cho con biết tại sao vào thời xa xưa, Thiên Chúa đã hiện ra với tổ phụ chúng ta là Abraham, Isaac và Giacob, trong khi ngày nay chẳng ai còn thấy Ngài nữa, không ạ?”

Sau một lúc yên lặng, vị giáo sĩ già trả lời: “Bởi vì chúng ta không còn biết cách hạ mình xuống thấp cho đủ”.

Thực tế là Thiên Chúa “đã cắm lều giữa chúng ta” (Ga 1,14). Vì lý do này mà nền thần học bình dân, hoặc “từ bên dưới lên” có nghĩa là hạ thấp mình xuống với con người trong đời thật, đi xuống vực sâu thăm thẳm của những giới hạn của con người. Điều này Giáo hội cũng vẫn đang theo đuổi từ Công đồng Vaticano II: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo âu” của họ (Hiến chế Gaudium et Spes, 1). Trong đó, Giáo hội đưa ra vài chỉ dẫn vốn được Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhấn mạnh trong Tự sắc trên:

Bổn phận của toàn thể Dân Chúa, đặc biệt của các chủ chăn và các nhà thần học, là nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, lắng nghe, phân định và giải thích các thứ ngôn ngữ của thời đại, rồi nghiệm xét dưới ánh sáng lời Chúa, để chân lý mạc khải luôn được nhận thức, được thấu triệt, và được trình bày cách thích hợp hơn” (GS, 44).

Tạm kết

Khi đọc Tự sắc này, tôi có hai cảm xúc khác nhau. Một mặt Tự sắc nhắc nhớ tôi cần hiểu rõ các vấn đề thần học. Càng đào sâu kho tàng đức tin này càng tốt. Mặt khác, Giáo hội nhắc tôi về tương quan với Thiên Chúa. Gặp gỡ Thiên Chúa là quan trọng. Nhất là trong sứ mạng mục vụ, làm sao để giúp giáo dân thời đại hôm nay gặp gỡ được Thiên Chúa? Có lẽ không riêng các nhà thần học, cả những mục tử đang chăm sóc các linh hồn để cần một tay nắm lấy Thiên Chúa, tay kia nắm lấy đoàn dân của mình (sensus fidei fidelium – cảm thức đức tin của các tín hữu).

Nếu được như trên, hẳn là như lời Đức Giám Mục Antonio Staglianò, chủ tịch Giáo hoàng Học viện Thần học, cho biết: “Đức Giáo Hoàng Phanxicô giao phó cho giáo hoàng học viện của chúng tôi một sứ mệnh mới: đó là cổ vũ, trong mọi lĩnh vực kiến thức, thảo luận và đối thoại nhằm tiếp cận và thu hút tất cả dân Chúa vào nghiên cứu thần học, để đời sống dân chúng trở thành đời sống thần học”[9].



[4] Từ Điển Công Giáo mục từ: Thần học mục vụ

[8] Như trên

[9] https://www.pillarcatholic.com/p/ad-theologiam-promovendam-a-brief 

https://www.hdgmvietnam.com/chi-tiet/nen-than-hoc-binh-dan-53054

https://www.hdgmvietnam.com/chi-tiet/nen-than-hoc-binh-dan-53054