Trang

Thứ Sáu, 24 tháng 11, 2017

TÔN KÍNH THÁNH KINH

TÔN KÍNH THÁNH KINH


LỜI MỞ ĐẦU

Lời Chúa trong Thánh Kinh là của ăn tinh thần rất cần thiết cho đời sống thiêng liêng của các tín hữu. Chính Chúa Giêsu đã nói : Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánhnhưng còn nhờ mọi Lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4,4)

Nhưng ngày nay nhiều người vẫn chưa hiểu biết tầm quan trọng của Lời Chúa trong đời sống cá nhân cũng như tập thể, vì thế, Công Đồng Vaticanô II đã dành hẳn một Hiến Chế để trình bày tín lý về Mặc Khải của Thiên Chúa và đã khảng định : Hội Thánh luôn tôn kính Thánh Kinh như chính thân thể Chúa.” (MK số 21)

Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cũng đã kêu gọi các tín hữu hãy Sống Lời Chúa. Các ngài viết trong thư mục vụ năm 2005 như sau :

-”Ngoài bàn tiệc Thánh Thể, người Kitô còn được mời gọi tham dự bàn tiệc thứ hai là bàn tiệc Lời Chúa. Thật ra cả hai bàn tiệc đều diễn tả cùng một mầu nhiệm, mầu nhiệm Sự Sống. Vì thế chúng tôi mời gọi anh chị em đào sâu ý nghĩa và vai trò của Lời Chúa. Hơn nữa, năm nay kỷ niệm 40 năm Hiến Chế Tín Lý của Công Đồng Vaticanô II về Mạc Khải của Thiên Chúa, một trong những văn kiện quan trọng nhất của Công Đồng về giáo lý cũng như về mục vụ.”  (Số 1)

Trong tinh thần chia sẻ và đáp ứng lời kêu gọi của HĐGM, tôi gửi đến anh chị em một số đề tài liên quan đến Lời Chúa trong Thánh Kinh, giúp anh chị em thêm hiểu biết, tin tưởng, thực hành và loan truyền Lời Chúa cho mọi người.

Trong phần nội dung, tôi dựa vào Thánh Kinh và Công Đồng Vaticanô II, đặc biệt là Hiến Chế tín lý về Mạc Khải để trình bày theo thứ tự như sau :
          1/ Ý nghĩa và nội dung Thánh Kinh.
          2/ Hội Thánh tôn Kính Thánh Kinh.
          3/ Lắng nghe và thực hành Lời Chúa.
                                                              
Chương một

Ý NGHĨA VÀ NỘI DUNG THÁNH KINH  

1. Thánh Kinh là gì ?

Thánh Kinh là sách ghi chép Lời Thiên Chúa phán dạy, dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần, và được ghi chép một lần cho muôn đời, để dẫn đưa loài người tiến vào Nước Trời.

Thánh Phaolô đã trình bày nhiều lần như sau :

          -”Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử.” (Dt 1,1-2)

          -”Mọi lời xưa đã chép trong Thánh Kinh, đều được chép để dạy dỗ chúng ta. Những lời ấy làm cho chúng ta nên kiên nhẫn và an ủi chúng ta, để nhờ đó chúng ta vững lòng trông cậy.” (Rm15,4) 

          -”Tất cả những gì viết trong Thánh Kinh đều do Thiên Chúa linh ứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính. Nhờ vậy, người của Thiên Chúa nên thập toàn, và được trang bị đầy đủ để làm mọi việc lành.”  (2 Tm 16-17)

           -”Lời Thiên Chúa là Lời sống động, hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi : xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tủy; lời đó phê phán tâm linh cũng như tư tưởng của lòng người. Vì không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa, nhưng tât cả đều trần trụi và phơi bày trước mắt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ.” (Dt 4,12-13)

Thánh Phêrô cũng đã dạy :

          -”Lời Chúa vẫn tồn tại đến muôn thuở muôn đời. Đó chính là Lời đã được loan báo cho anh em như một Tin Mừng. Vậy anh em hãy từ bỏ mọi thứ gian ác, mọi điều xảo trá, giả hình và ghen tương cùng mọi lời nói xấu gièm pha.”

          -”Như trẻ sơ sinh, anh em hãy khao khát sữa tinh tuyền là Lời Chúa, nhờ đó anh em sẽ lớn lên để hưỏng ơn cứu độ, nếu anh em đã nghiệm thấy Chúa tốt lành.” (1 Pr 1,25 - 2,3) 

Hội Thánh đã xác định :

          -”Những gì Thiên Chúa mạc khải mà Thánh Kinh chứa đựng và trình bày, đều được viết ra dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần.” (MK 11)  
   
2. Ai là tác giả của Thánh Kinh ?

Thiên Chúa là tác giả của Thánh Kinh. Bởi vì Thánh Kinh được viết dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần; nghĩa là Chúa Thánh Thần đã tác động trên trí khôn và ý chí của “những người Chúa chọn và dùng họ trong khả năng và phương tiện của họ, để khi chính Ngài hành động trong họ và qua họ, họ viết ra như những tác giả đích thực tất cả những gì Chúa muốn và chỉ viết những điều đó thôi.” (MK 11)

          -”Thiên Chúa Đấng linh ứng và là tác giả các sách Cựu Ước cũng như Tân Ước, đã khôn ngoan sắp xếp cho Tân Ước được tiềm ẩn trong Cựu Ước, và Cựu Ước trở nên sáng tỏ trong Tân Ước. Thật vậy, dù Đức Kitô thiết lập Giao Ước Mới trong Máu Ngài (Lc 22,20; 1 Cr 11,25), nhưng các sách Cựu Ước vẫn được sử dụng trọn vẹn trong sứ điệp Tin Mừng, đạt được và bày tỏ đầy đủ ý nghĩa trong Tân Ước (Mt 5,17; Lc 24,27; Rm 16,25-26; 2 Cr 3,14-16). Ngược lại Tân Ước cũng được sáng tỏ và giải thích nhờ Cựu Ước.”(Mk 15).     

3. Thánh Kinh gồm mấy phần và mấy quyển ?

Thánh Kinh là một công trình vĩ đại về văn học nghệ thuật do rất nhiều người góp phần tạo nên trong suốt hơn 12 thế kỷ. Thánh Kinh không phải là một cuốn sách đơn lẻ bình thường, nhưng là một “thư viện nho nhỏ.”

Thư viện này gồm 73 quyển dài ngắn khác nhau, chứa đựng cả một kho tàng tư tưởng phong phú với đủ mọi thể loại văn chương : từ lịch sử, triết lý, luật pháp, thư, kịch, truyện, cho đến các bản thánh ca, tình ca, ca dao, tục ngũ, châm ngôn, các lời tiên tri, những tâm tình cầu nguyện . . .   
  
          Thánh Kinh gồm 73 quyển, chia làm 2 phần :

     - Cựu Ước 46 quyển và Tân Ước 27 quyển.  
     - Mỗi quyển chia làm nhiều đoạn, mỗi đoạn lại chia làm nhiều câu.

Thánh Kinh (trọn bộ hoăc từng phần) đã được dịch ra trên 2450 ngôn ngữ khác nhau và phổ biến khắp nơi trên thế giới. 

 4/ Cựu Ước là gì ?

Cựu Ước là giao ước cũ, giao ước giữa Thiên Chúa và dân Do thái qua ông Môsê. Thánh Phaolô đã gọi luật Môsê là giao ước cũ (2 Cr 3,14).

          -”Thiên Chúa đã dùng lời nói, việc làm mạc khải cho dân Ngài đã chọn để họ biết Ngài là Thiên Chúa độc nhất, chân thật và hằng sống, để dân Do thái nghiệm thấy đâu là đường lối Thiên Chúa đối xử với loài người, và để nhờ chính Ngài phán dạy qua miệng các ngôn sứ, ngày qua ngày, họ thấu hiểu các đường lối ấy cách sâu đặm và rõ ràng hơn, để rồi đem phổ biến rộng rãi nơi các dân tộc.”

          “Vì vậy, chương trình cứu độ được các thánh sử tiên báo, thuật lại và giải thích trong các sách Cựu Ước, như là lời nói chân thật của Chúa. Bởi vậy các sách được Thiên Chúa linh ứng này luôn có một giá trị vĩnh viễn.”(MK 14)

          -”Các sách Cựu Ước trình bày cho mọi người biết Thiên Chúa là ai ? và Con người là ai ? Đồng thời trình bày Thiên Chúa công bình và nhân từ đối xử với loài người như thế nào ? Tuy có nhiều khuyết điểm và tạm bợ, nhưng các sách ấy minh chứng khoa sư  phạm đích thực của Thiên Chúa.”

          “Do đó các Kitô hữu phải thành kính đón nhận các sách này, vì chúng diễn tả một cảm thức sâu sắc về Thiên Chúa, tàng trữ những lời giáo huấn cao siêu về Ngài, những tư tưởng khôn ngoan và hữu ích về đời sống con người, những kho tàng kinh nghiệm tuyệt diệu, và sau cùng ẩn chứa mầu nhiệm cứu rỗi chúng ta.” (MK 15)  

5. Các sách Cựu Ước chia làm mấy thể loại ? và nôi dung là gì ?

Cựu Ước được hình thành trong khoảng từ năm 1200 đến năm 100 trước Công nguyên (trước Chúa Giêsu). Các sách Cựu Ước hầu hết được viết bằng tiếng Hip-ri (Do thái) và sau này được  dịch ra tiếng Hy lạp.

Các sách Cựu Ước thường được chia làm 4 thể loại như sau :

          I- 5 quyển luật Môsê Ngũ Kinh : Sáng Thế, Xuất Hành, Lê-vi, Dân số và Đệ nhị luật.

Các sách này ghi lại liên tục phần đầu của lịch sử cứu độ. Chương trình của Thiên Chúa trên nhân loại nói chung và việc Chúa tuyển chọn một dân tộc để thực hiện chương trình ấy. Đó là dân Is-ra-en (Do thái).                             

          II16 quyển lịch sử  : Gio-su-ê, Thủ lãnh, Rút, Sa-mu-en (2 quyển), Các vua (2 quyển), Sử biên niên (2 quyển), Ét-ra, Nơ-khe-mi-a, Tô-bi-a, Giu-đi-tha, Ét-te, Ma-ca-bê (2 quyển).

Các sác này ghi lại lịch sử dân Chúa chọn trên phần đất họ đã định cư. Đó cũng là lịch sử những thăng trầm trong mối quan hệ giữa Thiên Chúa và dân Ngài. Những thăng trầm này nằm trong kế hoạch giáo dục lâu dài của Thiên Chúa để dọn đường và chuẩn bị cho Đấng Cứu Thế là Chúa Giêsu Kitô giáng sinh.
          III7 quyển thi phú  : Gióp, Thánh vịnh, Châm ngôn, Giảng viên, Diễm ca, Khôn ngoan và Huấn ca.

Các sách này diễn tả và giúp xây dựng mối quan hệ cần có giữa con người và Thiên Chúa trong đời sống thực tế. Từ những suy tư triết học về ý nghĩa cuộc sống, ý nghĩa sự đau khổ, sang đến quan niệm đúng đắn về tình yêu, những lời khuyên cho cuộc sống hôn nhân, gia đình cho việc giáo dục, các mối giao tế xã hội cho tới những lời cầu nguyện hằng ngày dâng lên Thiên Chúa.

          IV18 quyển ngôn sứ  : I-sai-a, Giê-rê-mi-a, Ai-ca, Ba-rúc, Ê-dê-ki-en, Đa-ni-en, Hô-sê, Gio-en, A-mốt, Ô-va-đi-a, Gio-na, Mi-kha, Na-khum, Kha-ba-cúc, Xô-phô-ni-a, Khác-gai, Da-ca-ri-a và Ma-la-khi.

Các ngôn sứ là những người được Chúa chọn sai đến chuyển trao lời Chúa cho dân Ngài. Các sách ngôn sứ giúp chúng ta hiểu thêm về các giai đoạn lịch sử cách sâu sắc. Lịch sử đáng vui hay đáng buồn là tùy con người trung thành hay bất trung với tình yêu Thiên Chúa và các giới luật của Ngài. Muốn tiến đến một tương lai tươi đẹp cả trên thế giới này và trong vũ trụ mới mai sau, chúng ta cần phải biết đi vào chương trình tình yêu của Thiên Chúa Sáng Tạo.    
     
6. Tân Ước  là gì ?   
     
Tân Ước là giao ước mới giữa Thiên Chúa và loài người qua Chúa Giêsu Kitô. Tân Ước là giao ước vĩnh cửu đã thành hình trong Máu Chúa Giêsu Kitô (1 Cr 11,25) đổ ra một lần là đủ. (Dt 9,23-26)

Hội Thánh xác định như sau :

          -”Khi đến thời viên mãn (Ga 4,4), Ngôi Lời đầy tràn ân sủng và chân lý đã nhập thể và ở giữa chúng ta (Ga 1,14). Chúa Giêsu Kitô đã thiết lập Nước Thiên Chúa trên trần gian. Ngài mạc khải Cha Ngài và chính Mình qua lời nói, việc làm và hoàn tất công trình Ngài khi Ngài chịu chết, sống lại, lên trời vinh hiển và khi Ngài sai Chúa Thánh Thần đến.”

          -”Khi bị treo lên khỏi đất (Ga 12,32), Ngài kéo mọi người đến với Mình. Ngài là Đấng duy nhất có những Lời ban sự sống vĩnh cửu (Ga 6,68).”

          -”Nhưng mầu nhiệm này chưa bao giờ được tỏ cho các thế hệ trước biết, nay đã được mạc khải trong Thánh Thần cho các Tông đồ . . . để họ rao giảng Tin Mừng, cổ võ lòng tin vào Chúa Giêsu. Những việc này, các sách Tân Ước đã minh chứng với một bằng chứng có giá trị vĩnh viễn và thần linh.” (MK 17)  

Thật vậy, giao ước cũ và giao ước mới có một sự duy nhất, vì do cùng một Thiên Chúa là tác giả. Giao ước cũ đạt được sự hoàn tất viên mãn của mình nơi Chúa Giêsu. 

7. Các sách Tân Ước chia làm mấy thể loại ? và nôi dung là gì ?

Tân Ước gồm 27 quyển, được viết bằng tiếng Hy lạp phổ thông thời bấy giờ. Tuy gọi là sách, nhưng thực ra có những thư chỉ đài khoảng 1, 2 trang (như : thư 1 Gioan, thư 3 Gioan, thư gửi Phi-lê-mon).   

Chúng ta có thể chia các sách Tân Ước làm 4 loa?i, dựa trên bốn thể văn khác nhau :

          I- Thể văn Tin Mừng (cũng gọi là Phúc Âm) : Bốn sách đầu tiên của Tân Ước là Mát-thêu, Mác-cô, Lu-ca và Gio-an.

Bốn sách Tin Mừng chiếm một địa vị ưu việt trong tất cả Thánh Kinh, “bởi vì Tin Mừng là chứng tá chính yếu về đời sống và giáo lý của Ngôi Lời Nhập Thể, Đấng Cứu Độ chúng ta.” (MK18) 

Công đồng Vat. II đã coi các sách Tin Mừng như những chứng từ thành văn của các tông đồ, hay của những vị đã sống bên các tông đồ ghi chép lại, do ơn Chúa Thánh Thần linh ứng. Đó là chứng từ đức tin mang hai đặc điểm sau đây :

          a) Chứng từ này được viết lại sau những biến cố nền tảng của Kitô giáo : phục sinh, lên trời và hiện xuống. Các biến cố này như những luồng sáng chiếu dọi vào toàn bộ cuộc đời Chúa Giêsu, khiến cho các tông đồ hiểu biết thâm trầm hơn về các việc làm và lời nói của Ngài. 

          b) Chứng từ này mang đậm nét đặc thù của từng tác giả. Khi soạn thảo các sách Tin Mừng, mỗi tác giả đã phải chọn lựa những yếu tố được truyền khẩu, hay được ghi lại thành văn, cộng thêm những hiểu biết riêng của mình mà làm nên một tác phẩm. Tác phẩm này được viết cho một giáo đoàn nhất định và với một mục đích nhất định.

Bốn sách Tin Mừng là bốn cái nhìn về cùng một thực tại là Chúa Giêsu, bốn cái nhìn khác nhau nhưng bổ túc cho nhau, để chúng ta có cái nhìn trọn vẹn về Con Thiên Chúa.

          II- Thể văn  Lịch  sử Tôn giáo  :  Sách Công vụ Tông đồ.

Sách này kể lại buổi đầu của Hội Thánh và công cuộc loan báo Tin Mừng cho các dân tộc. Sách này không phải là một tài liệu thuần túy lịch sử và cũng không phải là một sách giáo lý thuần túy. Có thể nói sách Công vụ Tông đồ là sách lịch sử nhằm giáo huấn.

Tác giả Luca đã viết sách này cho những tín hữu gốc dân ngoại, để nói lên sứ điệp cứu độ được gửi tới tất cả mọi người, trước là người Do thái, sau là dân ngoại.  

          III- Thể văn Thư Tôn giáo chính thức : 
Gồm có 21 thư chia ra : 14 thư của thánh Phaolô; 1 thư của thánh Gia-cô-bê; 2 thư của thánh Phê-rô; 3 thư của thánh Gio-an và 1 thư của thánh Giu-đa.

Đây là những lá thư thật sự, vì được gửi tới những cá nhân, như : Ti-mô-tê, Ti-tô, Phi-lê-mon, hay gửi cho các giáo đoàn ở trong đế quốc Rô-ma.

Các thư phát xuất từ những hoàn cảnh cụ thể, nhằm đáp ứng những nhu cầu cụ thể, như : Củng cố lòng tin, khích lệ trong cơn bách hại, xác định những điểm giáo lý, uốn nắn những lệch lạc, ngăn ngừa những sai lầm . . .

Các thư này thường được đọc công khai trong các buổi họp cộng đoàn tín hữu (1 Tx 5,27) và cũng có thể được trao đổi giữa các cộng đoàn (Cl 4,16).

Các thư phản ánh việc Sống Lời Chúa của các cộng đoàn dân Chúa ở thế kỷ đầu, với những khó khăn riêng. Nhưng ngày nay chúng ta cũng có thể khám phá thấy nơi các thư một sứ điệp luôn mới mẻ cho đức tin của chúng ta, miễn là biết thích ứng sứ điệp đó cho thời đại chúng ta đang sống.

          IV- Thể văn Khải Huyền : Sách Khải huyền của thánh Gio-an.

Đây là thể văn thịnh hành trong văn chương Do thái thời trước Chúa Giêsu 2 thế kỷ và sau Chúa Giêsu 1 thế kỷ. Thể văn này sử dụng nhiều hình ảnh, con số, tên gọi và mầu sắc mang ý nghĩa tượng trưng.

Để hiểu được ý nghĩa của chúng, chúng ta cần quy chiếu về Cựu Ước và các sách khải huyền khác, chứ không nên hiểu theo nghĩa đen.

Sách Khải Huyền được viết để củng cố niềm hy vọng cho các tín hữu đang bị bách hại vì đức tin. Tác giả Gio-an đã phác họa một loạt những thị kiến có tính tượng trưng để mô tả cuộc giao tranh trong vũ trụ : Giữa sự thiện và sự ác, giữa Chúa Kitô và Sa-tan; cuối cùng Chúa Kitô và các thánh sẽ toàn thắng. Đó là động lực giúp người tín hữu vững tâm đợi chờ sự can thiệp của Thiên Chúa.

Như thế, sách Khải Huyền vẫn có giá trị cho mọi thời, vì lịch sử vẫn còn là cuộc tranh chấp cho tới khi Chúa Giêsu Kitô trở lại.

Chương hai
HỘI THÁNH TÔN KÍNH THÁNH KINH 

1. Hội Thánh Công Giáo tôn kính Thánh Kinh thế nào ?

Hội Thánh khẳng định rằng : 

          -”Hội Thánh luôn tôn kính Thánh Kinh như chính thân thể Chúa, nhất là trong Phụng Vụ Thánh, Hội Thánh không ngừng lấy bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Chúa, cũng như từ ban tiệc Mình Chúa Kitô để ban phát cho các tín hữu.” (MK 21)

Chính Chúa Giêsu đã tuyên bố :

          -”Phúc thay kẻ biết lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa.”  (Lc 11,28)

          -”Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.” (Mt 4,4; Đnl 3,8) 

2. Vai trò của Thánh Kinh trong Hội Thánh thế nào ?

Hội Thánh khẳng định rằng : 
  
          -”Cùng với Thánh Truyền, Thánh Kinh đã và đang được Hội Thánh xem như là quy luật tối cao hướng dẫn đức tin, được Thiên Chúa linh ứng và đã được ghi chép một lần cho muôn đời.

          -”Thánh Kinh phân phát cách bất di bất dịch Lời của chính Chúa và làm vang dội tiếng nói của Chúa Thánh Thần qua các tiên tri cùng các tông đồ, bởi vậy mọi lời giảng dạy trong Hội Thánh cũng như chính đạo thánh Chúa Kitô phải được Thánh Kinh nuôi dưỡng và hướng dẫn. Thực tế trong các sách thánh Chúa Cha trên trời bằng tất cả lòng trìu mến đến gặp gỡ con cái mình và ngỏ Lời với họ.”

          -”Lời Chúa còn có một sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Hội Thánh, ban sức mạnh đức tin cho con cái Hội Thánh là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng tinh tuyền và trường cửu cho con cái Hội Thánh. Bởi thế, Lời nói sau đây thực xứng hợp cho Thánh Kinh : “Thực vậy Lời Thiên Chúa sống động và linh nghiệm” (Dt 4,12), “Có khả năng gây dựng và ban gia tài cho mọi người đã được thánh hóa.” (Cv 20,32; 1 Tx 2,13)  (MK 21) 

3. Việc phổ biến Thánh Kinh có khẩn thiết không ?

Hội Thánh khẳng định rằng :

          -” Phải mở rộng lối vào Thánh Kinh cho các Kitô hữu. Chính vì thế mà từ buổi đầu Hội Thánh đã công nhận như của riêng bản dịch Cựu Ước bằng tiếng Hy lạp, một bản văn rất cổ và được gọi là bản dịch do 70 người. Ngoài ra Hội Thánh còn luôn tôn trọng các bản dịch của Đông phương hay các bản dịch La tinh, nhất là bản thường gọi là bản “Phổ thông.”

          -”Phải đem Lời Chúa đến cho mọi thời đại, Hội Thánh như một người mẹ ân cần lo liệu cho các Sách thánh được dịch ra các thứ tiếng cách thích hợp và đứng đắn, đặc biệt dịch từ nguyên bản. Mọi Kitô hữu có thể sử sụng những bản dịch được thực hiện chung với cả những anh em ly khai trong trường hợp thuận tiện và được Giáo quyền chấp nhận.” (MK 22) 

4. Việc tìm hiểu và giải thích Thánh Kinh trong Hội Thánh thế nào?

Hội Thánh khẳng định rằng :  

          -”Hiền thê của Ngôi Lời Nhập Thể (tức Hội Thánh) được Chúa Thánh Thần dạy dỗ, hằng cố gắng hiểu biết Thánh Kinh ngày càng sâu rộng hơn, hầu không ngừng lấy Lời Chúa nuôi dưỡng con cái mình. Do đó, Hội Thánh có lý khi khuyến khích việc học hỏi các thánh giáo phụ Đông phương và Tây phương cũng như các Phụng Vụ thánh.”

          -”Phần các nhà chú giải Thánh Kinh Công giáo và những người chuyên về thần học thánh phải ân cần lo lắng, dưới sự trông nom của quyền giáo huấn thánh và dùng những phương thế thích hợp để nghiên cứu và trình bày Thánh Kinh, để cung ứng nhiều thừa tác viên Lời Chúa hết sức có thể, hầu lương thực Thánh Kinh được dồi dào ban bố cho dân Chúa, để soi sáng trí khôn, kiên trì ý chí và nung đúc lòng người yêu Chúa.”

          -”Thánh Công đồng khuyến khích con cái Hội Thánh đang chuyên cần học hỏi những khoa học Thánh Kinhhãy tiếp tục công trình đã khởi sự cách tốt đẹp với những năng lực ngày càng đổi mới và tất cả hăng say hợp với cảm thức của Hội Thánh.” (MK 23) 

5. Nhiêm vụ  của các nhà thần học là gì?

Hội Thánh khẳng định rằng :   

          -”Khoa thần học dựa trên Thánh Kinh và Thánh truyền như dựa vào một nền tảng vĩnh viễn. Trên nền tảng này, thần học được củng cố hết sức chắc chắn và mãi mãi được trẻ trung trong khi tìm kiếm, dưới ánh sáng đức tin, mọi chân lý tiềm ẩn trong mầu nhiệm Chúa Kitô. Thánh Kinh chứa đựng Lời Chúa và thực sự là Lời của Chúa vì được linh ứng. Nên nghiên cứu Thánh Kinh phải là linh hồn của khoa thần học thánh.”(MK 24) 

6. Nhiệm vụ của Giám mục là gì ?  

Hội Thánh khẳng định rằng :   

          -”Các Giám mục là những người “gìn giữ giáo lý tông truyền” có phận sự tùy nghi dạy các tín hữu đã được ủy thác cho các ngài, cho biết sử dụng đúng đắn Sách Thánhnhất là Tân Ước và trước tiên các sách Tin Mừng (Phúc Âm), nhờ các bản dịch, và các bản dịch này phải được kèm theo những lời giải thích cần thiết và đầy đủ để con cái Hội Thánh có thể sử dụng Thánh Kinh cách bảo đảm và ích lợi, và được thấm nhuần tinh thần Thánh Kinh.” (MK 25) 

7. Nhiệm vụ của hàng giáo sĩ là gì ?

Hội Thánh khẳng định rằng :  

          -”Thừa tác vụ Lời Chúa (nghĩa là việc rao giảng thuộc mục vụ, dạy giáo lý và huấn dụ Kitô giáo, trong đó bài giảng Phụng vụ phải chiếm vị trí quan trọng) phải được nuôi dưỡng cách an lành và gia tăng sinh lực cách thánh thiện, nhờ lời Thánh Kinh.” (MK 24)

        -”Vì thế, tất cả các giáo sĩ, trước hết là những linh mục của Chúa Kitô và những người có bổn phận phục vụ Lời Chúa, như các phó tế và những người dạy giáo lý, phải gắn bó với Thánh Kinh nhờ việc chăm đọc và ân cần học hỏi, để khi họ phải truyền đạt kho tàng bao la của Lời Chúa, nhất là trong Phụng Vụ Thánh, cho các giáo hữu được ủy thác cho họ, không ai trong họ sẽ trở thành “kẻ huênh hoang rao giảng Lời Thiên Chúa ngoài môi miệng, bởi không lắng nghe Lời Thiên Chúa trong lòng.” (MK 25)

          -”Phải hết sức trung thành chu toàn thừa tác vụ giảng giải đúng với nghi lễ. Trước tiên bài giảng phải được múc lấy từ nguồn mạch Thánh Kinh và Phụng Vu, vì như là việc rao truyền các việc kỳ diệu của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ hay trong mầu nhiệm Chúa Kitô. Chính mầu nhiệm này hằng hiện diện thiết thực và tác động trong chúng ta, nhất là trong các cử hành Phụng Vụ.” (PV 35; 52)   

8. Nhiệm vụ của các Kitô hữu là gì  ? 
      
Hội Thánh kêu gọi các tín hữu :

          -”Thánh Công Đồng cũng tha thiết và đặc biệt khưyến khích mọi Kitô hữu, cách riêng các tu sĩ phải năng đọc Thánh Kinh để học biết” khoa học siêu việt của Chúa Giêsu Kitô” (Pl 3,8) ”Vì không biết Thánh Kinh là không biết Chúa Kitô.

          -”Vậy ước gì họ hăng hái tiếp xúc với chính bản văn Thánh Kinh, nhờ Phụng Vụ Thánh dồi dào Lời Thiên Chúa, hoặc nhờ sốt sắng đọc Thánh Kinh hay nhờ những tổ chức học hỏi thích hợp, hoặc bất cứ phương thế nào mà ngày nay đã được các chủ chăn trong Hội Thánh chấp thuận và ân cần phổ biến khắp nơi.”

          -”Nhưng mỗi người cũng nên nhớ rằng kinh nguyện phải đi đôi với việc đọc Thánh Kinh, để có sự đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì “chúng ta ngỏ lời với Ngài khi cầu nguyện, và chúng ta nghe Ngài nói lúc chúng ta đọc các sấm ngôn thần linh.” (MK 25) 

9. Có cần phổ biến Thánh Kinh cho những người ngoài Kitô giáo không ?

Hội Thánh kêu gọi và mong ước :

          -”Hơn nữa cũng cần thực hiện những ấn bản Thánh Kinh với lời chú giải thích hợp cho cả những người ngoài Kitô giáo và thích hợp với hoàn cảnh của họ. Các vị chủ chăn linh hồn cũng như các Kitô hữu dù trong bậc sống nào cũng phải ân cần lo lắng phổ biến các ấn bản ấy.”  (MK 25) 

          -”Ước gì nhờ việc đọc và học hỏi Sách Thánh “Lời Thiên Chúa được trôi chảy và sáng sủa” (2 Tx 3,1), và ước gì kho tàng mạc khải, đã được ủy thác cho Hội Thánh ngày một tràn ngập tâm hồn con người.”

          -”Nếu đời sống Hội Thánh được tăng triển nhờ năng nhận lãnh bí tích Thánh Thể, cũng thế, cũng có thể hy vọng đời sống thiêng liêng được đổi mới nhờ thêm lòng sùng kính Lời Chúa, là lời “hằng tồn tại muôn đời.”(Is 40,8; 1 Pr 1,23-25). (MK 26)

Chương ba

LẮNG NGHE VÀ THỰC HÀNH LỜI CHÚA

1. Chúng ta phải có thái độ nào khi đọc Thánh Kinh ? 

Chúng ta phải có 2 thái độ xứng hợp như sau :

          a) Thái độ đức tin : Chúng ta phải tin rằng câu hoặc đoạn Thánh Kinh mà chúng ta đang đọc, chính là lời Chúa đang nói với chúng ta.

Hội Thánh dạy rằng :

          -”Trong Sách Thánh, Cha trên trời dịu dàng đến với con cái Ngài và đi vào cuộc đối thoại với họ” (Mk 21)

          -”Chúa Kitô hiện diện thiết thực trong Lời của Ngài, vì chính Ngài nói khi người ta đọc Thánh Kinh trong Hội thánh.” (Pv 7)

          b) Thái độ lắng nghe : Để có thể đối thoại với Chúa, chúng ta cần biết mở lòng lắng nghe cách ân cần và khiêm tốn. Tiếng Chúa nói với chúng ta ở đây, bây giờ; tiếng ấy có thể khác với những dự định của chúng ta và đòi chúng ta phải tin tưởng phó thác theo ý Chúa.

Cuộc gặp gỡ với Lời Chúa sẽ soi sáng cho từng người và cho cả tập thể trước những quyết định và chọn lựa trong hoàn cảnh cụ thể hôm nay.

Đọc Lời Chúa với thái độ tin tưởng và lắng nghe là chúng ta đã bắt đầu cầu nguyện.

Hội Thánh dạy rằng :

          - “Cầu nguyện phải đi đôi với việc đọc Thánh Kinh, để cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và con người được thiết lập.” (Mk 25) 

2. Vai trò của Chúa Thánh Thần trong việc đọc Thánh Kinh thế nào ?

Thiên Chúa là tác giả của Thánh Kinh do sự linh ứng của Chúa Thánh Thần, vì thế muốn hiểu Thánh Kinh, chúng ta cần phải xin Chúa Thánh Thần tác động và soi sáng. Chính nhờ Ngài, mà một bản văn cổ xưa, trở thành lương thực nuôi dưỡng các tín hữu mãi cho đến tận thế. Nhờ Ngài, mà Chúa Giêsu sống cách chúng ta trên 2000 năm, đã trở nên gần gũi. Ngài sẽ dẫn chúng ta vào chân lý trọn vẹn. (Ga 16,13)

Vậy để hiểu được một đoạn Thánh Kinh do Chúa Thánh Thần linh ứng, chúng ta cũng cần có Chúa Thánh Thần soi sáng và thúc đẩy.

 3. Làm thế nào để lắng nghe Lời Chúa trong Thánh Kinh ?

Sau đây là cách Lắng nghe Lời Chúa đơn giản và hiệu quả, ai cũng có thể áp dụng, theo 4 nhịp như sau :

          1) Trước khi đọc bất cứ đoạn Thánh Kinh nào, chúng ta hãy xin Chúa Thánh Thần soi sáng để hiểu Lời Chúa chúng ta sắp đọc, vì Ngài là tác gỉa chính của Thánh Kinh.

          2) Chúng ta đọc một đoạn Thánh Kinh nhiều lần, rồi chọn một câu hoặc một ý mà chúng ta cảm thấy hay, đánh động tâm hồn. Hãy ghi nhớ câu hoặc ý chúng ta vừa chọn, vì đó chính là Lời Chúa nói với chúng ta lúc này hôm nay.

          3) Chúng ta giữ thinh lặng để lắng nghe Chúa nói trong tâm hồn; rồi chúng ta liên hệ Lời Chúa vừa nghe với đời sống hiện tại của chúng ta : Từ trước đến nay chúng ta đã hiểu, đã tin và thực hiện Lời Chúa vừa nghe như thế nào ?

          4) Tùy theo ý nghĩa Lời Chúa vừa nghe và sau khi đã liên hệ với đời sống, chúng ta dâng lên Chúa lời cầu nguyện chân thành, tùy theo tình trạng của mỗi người. Chúng ta có thể : - Ca ngợi và cảm tạ Chúa. – Tuyên xưng lòng tin hoặc xin lỗi Chúa. – Xin Chúa ban ơn để thực hành. . . 

4. Việc thực hành Lời Chúa quan trọng như thế nào ?

Việc thực hành Lời Chúa rất quan trọng và cần thiết, liên hệ mật thiết đến phần rỗi của mỗi người.

Chúng ta hãy lắng nghe Chúa Giêsu dạy các môn đệ :

          -”Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đên và ở lại với người ấy.” (Ga 14,23)

          -”Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy”. (Ga 15,7-8)

          -”Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy. . . Đây là điều răn của Thầy: Anh em hãy yêu thương nhau như thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 15,10.12)

          -”Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy.” (Ga 15,14)        

          -”Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lạy Chúa ! Lạy Chúa ! là được vào Nước trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên Trời, mới được vào mà thôi.” (Mt 7,21)

          -”Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví được như người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. Còn ai nghe lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát, gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành.” (Mt 7,24-27)  

          -”Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành.” (Lc 8, 21)
Thánh Giacôbê dạy tín hữu :

          -”Anh em hãy khiêm tốn đón nhận Lời đã được gieo vào lòng anh em. Lời ấy có sức cứu độ anh em. Anh em hãy đem Lời ấy ra thực hành, chứ đừng nghe suông mà lừa dối chính mình. Thật vậy, ai lắng nghe Lới Chúa mà không thực hành, thì giống như người soi gương thấy khuôn mặt tự nhiên của mình. Người ấy soi gương rồi đi mà quên đi khuôn mặt của mình thế nào.”  (Gc 1,21-23) 

Lm Giuse Hoàng Kim Đại

Tác giả:  Lm. Giuse Hoàng Kim Đại

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét