Trang

Thứ Hai, 2 tháng 4, 2012

Quả trứng Phục Sinh




Quả trứng Phục Sinh
Tập tục “quả trứng Phục Sinh” phát xuất từ đâu và có ý nghĩa gì?
Đến lễ Phục Sinh, em thấy các tấm cards hay vẽ hình quả trứng, hoặc có những miếng xô-cô-la hình quả trứng. Tại sao như vậy? (Một học sinh cấp II).
Em thân mến,
Đây là tâp tục “Quả trứng Phục Sinh” của Âu châu. Sau đây, tôi sẽ trình bày tổng quát cho em thấy nguồn gốc, ý nghĩa... của “Quả trứng Phục Sinh”:  
1) Nguồn gốc

- Tại Trung Âu, vào đêm Phục Sinh, sau thánh lễ, vị linh mục Chính thống chúc lành cho các giỏ thực phẩm mỗi gia đình mang tới, trong đó có các món dành cho bữa tiệc ngày mai là bánh mì, ga-tô, pho-mát, thịt, và luôn luôn có ít quả trứng có khi được tô vẽ bên trên.

- Tại Biêlorussia và Ukraina, vào sáng Chúc Nhật Phục Sinh, những người chính thống phái Uniát (chấp nhận quyền bính của Đức giáo hoàng) cắt một quả trứng ra, sao cho đủ phần mỗi người trong nhà, và mỗi người ăn cách thật kính cẩn.
          
Người Chính thống giữ Mùa Chay nhiệm nhặt hơn ta, và trong bảy tuần, họ không ăn một tí thịt hay một tí mỡ thú vật nào, cũng không ăn cá (trừ một lần giữa Mùa Chay) để rồi vào ngày lễ Phục Sinh, họ ăn trứng: như vậy, quả trứng chấm dứt Mùa Chay và là món ăn có chất prô-tê-in đầu tiên của mùa xuân và trở thành dấu chỉ sự đổi mới và báo tin mừng Phục Sinh.

- Tại Roumania, người ta cầm một quả trứng “cụng” vào quả trứng của chủ nhà và mừng lễ ông: “Christos a inviat” (Đức Kitô đã phục sinh). Người ta cũng thường viết thư trên các quả trứng và gửi cho những người họ thương mến.
Từ đó phát sinh tục lệ gửi trứng Phục Sinh mừng nhau (trên đó có khi ghi một sứ điệp tôn giáo, có khi không), và thành hình một loại nghệ thuật dân gian truyền thống, có những quy luật, những ý nghĩa tượng trưng, khác nhau ít nhiều tùy miền, tùy xứ.
2) Ý nghĩa quả trứng Phục Sinh
Các ý nghĩa tượng trưng này, phần lớn là của Kitô giáo, nhưng cũng có liên hệ với những tập tục mê tín dị đoan ngoại giáo, vì nghi lễ quả trứng có trước Kitô giáo.
- Vào thời Thượng Cổ, quả trứng là dấu chỉ sự sống được đổi mới vào mùa xuân: gà bắt đầu đẻ lại vào lúc các kho dự trữ mùa đông vừa cạn.

- Trứng cũng tượng trưng sự phong nhiêu. Và đây là nguồn gốc của một vài phong tục đồng áng, còn tới ngày nay:

+ Tại Biêlorussia, người ta đăt một quả trứng có tô màu vào đám mạ lúa mạch, để mạ mọc cho tươi tốt.

+ Tại Roumania, người ta đăt trứng tại bốn góc cánh đồng để chống mưa đá.

- Tại Ukraina, người ta đặt vào luống cày thứ nhất hoăc luống cuối cùng một quả trứng, nhưng vào ngày lễ thánh Gioócgiô (23-4); mà ngày này lại là ngày lễ ngoại giáo kính Thần mùa màng Giaryla. Mẹ của vị thần này có những chìa khóa mở lòng đất làm cho trứng chim nở ra.
Ta thấy Kitô giáo và ngoại giáo lẫn lộn với nhau, và có liên hệ tới việc phụng tự người chết:

1) Tại Yougoslavia và Roumania, có một nghi lễ tưởng niệm người chết tại nghĩa trang. Mỗi gia đình mang theo thực phẩm (bắt buộc có trứng) và chia cho mỗi người, ưu tiên cho người khách. Người khách này, tượng trưng cho người quá cố, phải ăn trước. Nếu họ không ăn, người ta cho rằng người chết sẽ không được yên nghỉ.
2) Tại Hy-lạp và Biêlorussia, vào ngày Chúa Nhật Quasimodo (= Chúa Nhật II Phục Sinh), người ta mang trứng có tô màu hay vẽ hình đến mộ dâng cúng người chết. Ngày hôm ấy được gọi là ngày “Phục Sinh của Nav” (vào thời ngoại giáo, Nav là nơi hạnh phúc trọn hảo của linh hồn người chết).
3) Những thần lực huyền bí của quả trứng
Quả trứng và vỏ trứng có đủ thứ quyền lực thần bí:

- Tại Ukraina, người ta ném vỏ trứng lên mái nhà để bảo vệ ngôi nhà khỏi các thần dữ phá phách; người ta treo vỏ trứng vào cổ các bà son sẻ để họ có con.
- Người Sécbô ở Vojvodin giữ trứng Phục Sinh bên cạnh các thánh tượng (icons) trong 2-3 năm. Nếu ai bị thương, họ đập trứng và nghiền thành bột nhuyễn, rắc lên vết thương cho vết thương mau lên da non.
4) Hình thức

- Hình vẽ: vẽ đơn sơ, chẳng hạn: một bông hoa; vẽ phức tạp, chẳng hạn: những bình hoa, cây cối, muông thú, những dấu hiệu tôn giáo, lời cầu chúc, bài thơ, …
- Kỹ thuật trang trí, tùy miền và tùy thời, người ta dùng dầu vẽ pha nhựa cây, màu hóa học, bọc một lớp sáp rồi khắc lên, dán lên vỏ trứng những mẩu gỗ, vải, len, rơm, bột đồng...
Như thế, quả trứng Phục Sinh có trang trí chính là một phương tiện chuyển thông sứ điệp Phục Sinh (= sự đổi mới và sức sống). Hôm nay, chúng ta có thể dùng cách thức đó để cầu chúc cho nhau được đổi mới và có chan hòa sức sống mới của Đức Kitô Phục Sinh.
Tôi cũng cầu chúc cho em được như vậy.
Thân mến,
Lm PX Phan Long, ofm

Nguồn: kinhthanh.org

Đức Giêsu đã phục sinh / Thiên Chúa đã phục sinh Đức Giêsu




Đức Giêsu đã phục sinh / Thiên Chúa đã phục sinh Đức Giêsu
Nói rằng "Đức Giêsu đã phục sinh" hoặc nói rằng "Thiên Chúa đã phục sinh Đức Giêsu", cách nào đúng hơn?
Trong hai cách nói: một là "Đức Giêsu đã phục sinh", hai là "Thiên Chúa đã phục sinh Đức Giêsu", cách nói nào đúng hơn? Xin Cha giải đáp giùm. Con cám ơn Cha.
(Người gửi: Giuse <kuru0519@...> Ngày 30-3-2010)
Bạn Giuse thân mến,
Xin trả lời câu hỏi của bạn.
Cả hai cách nói “Đức Giêsu đã phục sinh” và “Thiên Chúa đã phục sinh Đức Giêsu” đều đúng cả, và đều là các kiểu nói của Tân Ước, nói chính xác, là của thánh Phaolô.
Nói “Đức Giêsu đã phục sinh” là chiêm ngưỡng Đức Giêsu như là Đức Chúa, như là Thiên Chúa. Công thức này được thánh Phaolô dùng khoảng 9 lần: xem Rm 6,9; 8,34; 1 Cr 15,4.12.13.14.16.17.20. Đức Giêsu có sức mạnh Thánh Thần của Người, nên sau khi chết, Người đã tự sống lại.
Còn nói “Thiên Chúa đã phục sinh Đức Giêsu” là chiêm ngưỡng Đức Giêsu Phục Sinh trong liên hệ với nguồn mạch của đời sống Người, tức là Thiên Chúa (Cha). Công thức này được thánh Phaolô dùng khoảng 13 lần: xem Rm 4,24.25; 6,4; 7,4; 8,11 (2 lần); 10,9; 1 Cr 6,14; 15,15 (2 lần); 2 Cr 4,14; Gl 1,1; Ep 1,20. Không có điều gì trong cuộc đời Đức Giêsu mà lại không do Chúa Cha ban cho Người. Chương trình cứu độ bằng cái chết thập giá và sống lại cũng là do Thiên Chúa (Cha) ban cho Người. Các nhà thần học đã diễn tả dí dỏm là: sau khi Đức Giêsu sống lại, Thiên Chúa có thêm một cái tên khác, đó là “Đấng-đã-làm-cho-Đức-Giêsu-sống-lại” (x. chẳng hạn 2 Cr 4,14).
Khi so sánh số lần được sử dụng của hai cách nói trên, ta thấy cách áp dụng cho Thiên Chúa (Cha) nhiều hơn. Nhưng “nhiều hơn” không có nghĩa là “đúng hơn”, mà chỉ có nghĩa thánh Phaolô thường nói đến Thiên Chúa (Cha) như là nguồn gốc của mọi sự, kể cả Đức Giêsu trong hoạt động cứu thế của Người. Nếu tìm hiểu nội dung các thư dùng các kiểu nói đó nhiều nhất (Thư Rm và Thư 1 Cr), và ngữ cảnh gần của các công thức ấy, bạn sẽ thấy điều đó.
Như vậy, công thức nào cũng đúng, tùy quan điểm. Với lại, nói theo ngôn ngữ tín lý, Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, với Thiên Chúa (Cha) là một; hoạt động của Ngôi vị này cũng được đảm nhận bởi Ngôi vị kia, trừ việc Thiên Chúa là nguồn mạch tuyệt đối, còn Chúa Con thì phát xuất từ nguồn mạch ấy và Chúa Thánh Thần là sức mạnh liên kết.
Chúc bạn một lễ Phục Sinh chan hòa niềm vui và sức sống.
Lm PX Phan Long, ofm

18 Điều Suy Niệm



18 Điều Suy Niệm
1/ Kho tàng vô tận của ta là nụ cười
2/ Thông minh nhất của ta là tự chủ
3/ Công bình nhất ta có là thời gian

4/ Bạn thân nhất của ta là sức khoẻ
5/ An ủi nhất của ta là bố thí
6/ Sức mạnh nhất của ta là khoan dung

7/ Thông thái nhất của ta là tình thương
8/ Hy vọng nhất của ta là tự thay đổi
9/ Thành công nhất của ta là sự lễ độ

10/ Kẻ thù nhất của ta là tham vọng
11/ Cô độc nhất của ta là mặc cảm
12/ Dại dột nhất của ta là tuyệt vọng

13/ Đau khổ nhất của ta là tự ty 
14/ Sai lầm nhất của ta là dối trá
15/ Ăn năn nhất của ta là bất hiếu

16/ Tật nguyền nhất của ta là ghen tỵ
17/ Yếu đuối nhất của ta là thịnh nộ 
18/ Thất bại nhất của ta là tự kiêu.

Nam Quán – Đào Minh Quân

Chủ Nhật, 1 tháng 4, 2012

Ngôi Mộ Chúa Giêsu


Ngôi Mộ Chúa Giêsu

Trong phúc âm Thánh Luca, việc chôn cất Chúa Giêsu chỉ ghi vắn tắc: Ông hạ xác Người xuống, lấy tấm vải gai mà liệm, rồi đặt Người vào ngôi mộ đục sẵn trong núi đá, nơi chưa chôn cất ai bao giờ. (Lc 23, 53).
Tại khu vực ngôi mộ này người ta có thể nghe tiếng chuông từ Nhà thờ Thánh Mộ (Church of the Holy Sepulchre) hay tiếng kêu gọi cầu kinh xuất phát từ các ngôi tháp của đền thờ Hồi Giáo kế bên.
Mặt tiền Nhà thờ Thánh Mộ
Cổng vào nhà thờ do hai dòng tộc người đạo Hồi chịu trách nhiệm từ năm 1192 - mỗi ngày 2 lần, gia đình Joudeh đem chìa khóa đến cổng và gia đình Nusseibeh có trách nhiệm mở và đóng cửa. Nhìn kỷ sẽ thấy phiến đá nơi tẩm liệm Chúa Giêsu
Phiến đá nơi tẩm liệm Chúa Giêsu

Nhìn từ trên cao

Quang cảnh Lễ Phục Sinh của Chính Thống Giáo
Nhìn gần
Nơi đám đông là chỗ xem lễ vào buổi sáng – phía sau là nơi cử hành các nghi thức của Chính Thống Giáo
Mái vòm nhà thờ Mộ Chúa
Người hành hương đang vào kính viếng Mộ Chúa – Thời gian đợi khoảng 45 phút
Ngay trên cửa vào bên trong có gắn hình Chúa Giêsu và 12 Thánh Tông Đồ
Toàn cảnh trước Mộ Chúa
Phòng thứ nhất: Nhà nguyện Thiên Thần

một phần của tảng đá che mộ Chúa Giêsu – có thắp 2 cây nến
Phía trong là Mộ Chúa Giêsu – Bàn thờ ngay trên Mộ Chúa
Chổ đứng chỉ rộng khoảng 1m x 2m – Không thể chụp hết cảnh bên trong!
Hien Quang - Chúa Nhật Lễ Lá 2010

Nguồn: 40giayloichua.net

Phương pháp đọc Kinh Thánh: Phân biệt “sự thật bản văn” và “sự thật lịch sử”




Phương pháp đọc Kinh Thánh: Phân biệt “sự thật bản văn” và “sự thật lịch sử”
Phân biệt “sự thật bản văn” và “sự thật lịch sử”.
Dẫn nhập
Phân tích thuật chuyện và cấu trúc sử dụng lối tiếp cận đồng đại (approche synchronique), vì thế phương pháp này lấy bản văn làm trọng tâm và xem bản văn như một tổng thể có ý nghĩa. Khi áp dụng phân tích thuật chuyện và cấu trúc vào Tin Mừng Gio-an, tác giả G. S. Sloyan viết: “Chúng ta có thể thoáng thấy lịch sử của cộng đoàn Gio-an qua cửa sổ Tin Mừng, nhưng mục đích của tác giả sách Tin Mừng trước tiên không phải là lịch sử mà là một câu chuyện tường thuật” (G. S. SLOYAN, What are They Saying about John?, New York, Mahwah, Paulist Press, 1991, p. 5). P. Létourneau khẳng định: “Một khi đã được viết ra, bản văn tự nó tồn tại và trở thành ‘nơi có ý nghĩa’ một cách độc lập” (P. LÉTOURNEAU, Jésus, Fils de l’homme et Fils de Dieu, Jean 2,23–3,36 et la double christologie johannique, (Rech.NS 27), Montréal – Paris, Bellarmin – Le Cerf, 1993, p. 14-15). Phương pháp thuật chuyện và cấu trúc lấy bản văn làm dữ liệu để phân tích và xem bản văn như một bức tranh để chiêm ngắm hay một toà nhà để thăm viếng. Phân tích thuật chuyện và cấu trúc giúp độc giả quan sát chính bức tranh hay toà nhà văn chương để tìm ra ý nghĩa của các chi tiết trong bức tranh hay trong toà nhà ấy. Xem mục “Tiếp cận lịch đại và tiếp cận đồng đại” trong Phân tích thuật chuyện và cấu trúc, tr. 14-16.
Để áp dụng hiệu quả phương pháp phân tích thuật chuyện và cấu trúc, cần phân biệt giữa “sự thật bản văn” và “sự thật lịch sử”. Sự thật lịch sử phức tạp và huyền nhiệm. Sự thật này vượt ra khỏi tầm tay của độc giả, bởi vì độc giả chỉ có trong tay bản văn mà thôi. Cho dù bản văn phản ánh một số chi tiết lịch sử, nhưng bản văn và lịch sử là hai thực tại khác nhau, không trùng khớp với nhau. Mục đích của phân tích thuật chuyện và cấu trúc là đi tìm ý nghĩa của câu chuyện được kể lại trong bản văn chứ không đi tìm lịch sử. Tìm hiểu lịch sử là việc làm của các nhà sử học.
Phân biệt “sự thật lịch sử” và “sự thật bản văn” giúp độc giả không dẫm chân lên lãnh vực sử học và chú tâm vào việc tìm hiểu ý nghĩa của bản văn.
Phần sau đây sẽ trình bày ba mục:
1) Phân biệt thực tế lịch sử với tình tiết trong bản văn.
2) Phân biệt nhân vật lịch sử và nhân vật trong bản văn.
3) Phân biệt “tác giả, độc giả thực sự” và “tác giả, độc giả tiềm ẩn”.
Đây là những đóng góp độc đáo của lối phân tích thuật chuyện và cấu trúc vào việc tìm hiểu bản văn Kinh Thánh.
1. Phân biệt thực tế lịch sử với các tình tiết trong bản văn
Phân biệt thực tế lịch sử với những gì được thuật lại trong bản văn là điều quan trọng. Đây là hai thực tại có liên hệ với nhau, nhưng chúng hoàn toàn khác nhau. Sự phân biệt này giúp độc giả tránh được những bối rối, khi thấy cùng là một sự kiện, nhưng các sách Tin Mừng thuật lại với những chi tiết khác nhau, thậm chí mâu thuẫn và không thể dung hoà được với nhau.
Chẳng hạn, các sách Tin Mừng đều nói về phép lạ hay dấu lạ Đức Giê-su hoá bánh ra nhiều. Trình thuật “Đức Giê-su hoá bánh ra nhiều” được thuật lại trong các sách Tin Mừng ở Mc 6,30-44; 8,1-19; Mt 14,13-21; Lc 9,10-17; Ga 6,1-13. Có nhiều chi tiết khác nhau trong các trình thuật. Khi so sánh trình thuật “Đức Giê-su hoá bánh ra nhiều” trong Tin Mừng Mác-cô và trong Tin Mừng Gio-an, độc giả sẽ thấy nhiều chi tiết khác nhau. Trong đó, điểm khác biệt đáng chú ý là: Theo trình thuật Mc 6,30-44, sau khi Đức Giê-su làm phép lạ bánh hoá nhiều, Người trao cho các môn đệ và các môn đệ cho phân phát cho dân chúng ăn. Ý tưởng này được nhấn mạnh, vì trước khi làm phép lạ, Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Chính anh em hãy cho họ ăn” (Mc 6,37). Người thuật chuyện cho độc giả biết: Đức Giê-su thực hiện lời nói trên (Mc 6,41) khi kể rằng: “Người (Đức Giê-su) cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời chúc tụng bẻ bánh ra và trao cho môn đệ [của Người] để các ông dọn ra cho họ” (xem Tin Mừng Mác-cô Hy Lạp – Việt). Khác với Tin Mừng Mác-cô, Tin Mừng Gio-an trình bày dấu lạ bánh hoá nhiều cách khác: Chính Đức Giê-su phân phát cho đám đông ăn. Ga 6,11 cho biết: “Đức Giê-su cầm lấy bánh, tạ ơn, trao cho những người ngồi đó. Cá, Người cũng làm như thế, ai muốn bao nhiêu tuỳ ý” (xem Bản văn Gio-an, Tin Mừng và Ba thư, Hy Lạp – Việt).
Nếu không phân biệt thực tế lịch sử với bản văn, độc giả sẽ bối rối vì không biết trình thuật của Tin Mừng Mác-cô hay của Tin Mừng Gio-an đúng với thực tế lịch sử. Trước đây, các nhà Kinh Thánh đã đưa ra những giả thuyết để trả lời cho câu hỏi này, nhưng không đạt được sự đồng thuận vì thiếu những bằng chứng có sức thuyết phục để khẳng định trình thuật của Tin Mừng nào (Mác-cô hay Gio-an) đúng với thực tế lịch sử hơn. Hơn nữa, giả như biết được Tin Mừng nào đúng với thực tế lịch sử hơn thì cũng chẳng ích lợi bao nhiêu cho việc tìm hiểu ý nghĩa của bản văn.
Tìm hiểu Kinh Thánh theo hướng này có nguy cơ làm nghèo sự phong phú của bản văn và có thể dẫn đến việc coi trọng bản văn này hơn bản văn khác, vì nghĩ rằng bản văn này phản ánh đúng lịch sử hơn bản văn kia. Việc phân biệt “thực tế lịch sử” với “sự thật trong bản văn” giải thoát độc giả khỏi những khó khăn trên đây để đi tìm giá trị mặc khải trong tất cả các bản văn Kinh Thánh. Độc giả sẽ thấy rằng: Cả hai trình thuật Đức Giê-su hoá bánh ra nhiều (trong Tin Mừng Mác-cô và trong Tin Mừng Gio-an) đều quan trọng. Mỗi trình thuật trình bày một khía cạnh mặc khải về vai trò của Đức Giê-su và vai trò của các môn đệ.
Khi viết sách Tin Mừng, các tác giả đã dựa vào những gì Đức Giê-su thực hiện trong cuộc đời công khai. Về mặt lịch sử, có thể khẳng định Đức Giê-su đã thực hiện phép lạ bánh hoá nhiều. Nhưng các chi tiết lịch sử của biến cố này vượt khỏi sự nắm bắt của độc giả, bởi vì các tác giả sách Tin Mừng không thuật lại biến cố như báo chí tường thuật sự kiện. Mục đích của các tác giả sách Tin Mừng khi kể lại câu chuyện là nhằm chuyển tải cho một cộng đoàn cụ thể (cộng đoàn Mác-cô, cộng đoàn Gio-an...) những thông điệp chứa đựng trong bản văn với mục đích là giúp động đoàn hiểu giáo huấn của Đức Giê-su và sống niềm tin của họ.
Phân tích thuật chuyện và cấu trúc cố gắng tìm ra những thông điệp chứa đựng trong bản văn, chứ không đi tìm thực tế lịch sử đằng sau câu chuyện. Lựa chọn về phương pháp này giúp độc giả nhận ra sự phong phú của bản văn qua những khía cạnh mặc khải phong phú trong từng bản văn. Chẳng hạn, trình thuật bánh hoá nhiều trong Tin Mừng Mác-cô nhấn mạnh đề tài: “Sự cộng tác của các môn đệ vào sứ vụ của Đức Giê-su”, vì Người trao cho các ông nhiệm vụ phân phát bánh cho dân chúng. Còn Tin Mừng Gio-an lại nhấn mạnh đến căn tính của Đức Giê-su qua việc chính Người cho dân chúng ăn. Đức Giê-su của Tin Mừng Gio-an cho dân chúng ăn, vì chính Người là bánh từ trời xuống và chính Người ban sự sống cho thế gian. Trong phần diễn từ về bánh sự sống (Ga 6,25-59), Đức Giê-su khẳng định với đám đông đã chứng kiến dấu lạ bánh hoá nhiều: “32A-men, a-men, Tôi nói cho các ông: Không phải Mô-sê đã cho các ông bánh bởi trời, nhưng chính Cha của Tôi cho các ông bánh bởi trời, bánh đích thực, 33vì bánh của Thiên Chúa là bánh xuống từ trời, và ban sự sống cho thế gian” (Ga 6,32-33).
Tóm lại, phân biệt thực tế lịch sử với bản văn, và đi tìm ý nghĩa của câu chuyện được kể lại chứ không đi tìm thực tế lịch sử, cho phép độc giả đọc ra được những điểm thần học quan trọng trong cả hai trình thuật bánh hoá nhiều trong Tin Mừng Mác-cô và trong Tin Mừng Gio-an.
2. Phân biệt “nhân vật lịch sử” và “nhân vật trong bản văn”
Từ phân biệt thực tế lịch sử với các tình tiết được thuật lại trong bản văn như trên, dẫn đến phân biệt các nhân vật lịch sử với các nhân vật trong bản văn. Cũng tương tự như sự rộng lớn và huyền nhiệm của thực tế lịch sử so với các chi tiết trong bản văn, sự thật về các nhân vật lịch sử cũng rộng lớn, huyền nhiệm và bí ẩn hơn so với những gì được thuật lại trong bản văn.
Chẳng hạn, nhân vật Giu-đa được thuật lại trong bốn sách Tin Mừng cho độc giả biết một số chi tiết về con người Giu-đa lịch sử. Nhưng vẫn còn đó một khoảng cách lớn lao giữa nhân vật lịch sử và nhân vật trong bản văn. Nhân vật lịch sử có những chuyển biến nội tâm trong từng khoảng khắc, nên vượt ra khỏi sự nắm bắt của độc giả. Bởi vì cái độc giả có trong tay là một số chi tiết về nhân vật trong bản văn chứ không phải là nhân vật lịch sử. Phân tích thuật chuyện và cấu trúc giới hạn lãnh vực nghiên cứu trong bản văn. Nói cách khác, phân tích thuật chuyện và cấu trúc không có thẩm quyền nói về lịch sử. Hãy để các nhà sử học nghiên cứu nhân vật lịch sử, còn nhiệm vụ của phân tích thuật chuyện và cấu trúc là tìm hiểu nhân vật văn chương, đó là nhân vật được thuật lại trong bản văn.
Mỗi đoạn văn trình bày các nhân vật với những chi tiết khác biệt. Có thể lấy nhân vật Giu-đa làm ví dụ. Mỗi sách Tin Mừng vẽ lên khuôn mặt nhân vật Giu-đa với những đường nét khác nhau. Chẳng hạn, sau khi nộp Đức Giê-su và thấy Người bị kết án thì Giu-đa hối hận đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ mục. Chi tiết này chỉ được thuật lại trong Tin Mừng Mát-thêu (Mt 27,3). Trong Tin Mừng Gio-an, nhân vật Giu-đa được trình bày với nhiều nét đặc trưng khác so với Tin Mừng Nhất Lãm.
Có thể kể năm đặc điểm của nhân vật Giu-đa trong Tin Mừng Gio-an:
(1) Nhân vật Giu-đa trong bản văn Gio-an thường được gọi là “người sẽ nộp Đức Giê-su”. Kiểu nói này mở đầu (Ga 6,60-71) và kết thúc câu chuyện về Giu-đa (Ga 13,1-32).
(2) Nhân vật Giu-đa được đề cao khi Giu-đa được gọi là “Một người trong Nhóm Mười Hai”, nhưng nhân vật này lại có liên hệ với quỷ và Xa-tan (Ga 6,70-71; 13,2.27).
(3) Sự hiện diện cũng như sự vắng mặt của Giu-đa trong nh
óm các môn đệ là dấu hiệu sự khủng hoảng trong nội bộ nhóm các môn đệ về lòng trung tín đối với Thầy. Vì Giu-đa là một người trong Nhóm đã nộp Thầy và đã rời khỏi Nhóm (Ga 13,30).
(4) Trong đoạn văn Ga 13,1-32, Giu-đa là một nhân vật không có cảm xúc, không nói một lời nào, Ga 13,1-32 mở đầu bằng chi tiết: “Quỷ gieo vào lòng Giu-đa ý định nộp Đức Giê-su” (Ga 13,2) và kết thúc câu chuyện với việc “Xa-tan nhập vào Giu-đa (Ga 13,27). Những chi tiết này cho thấy chính quỷ và Xa-tan đứng sau việc Giu-đa nộp Thầy.
(5) Cuối cùng Giu-đa rời khỏi bữa ăn, đi ra ngoài, lúc đó trời đã tối (Ga 13,30). Giu-đa đi vào “đêm tối” để thực hiện ý định “đen tối” của thế lực “bóng tối”. (Xem phân tích về nhân vật Giu-đa trong bài viết: “cấu trúc”, “nhân vật”, “thời gian” và “không gian” trong Ga 13,1-32).
Các chi tiết riêng của Tin Mừng Gio-an về nhân vật Giu-đa trên đây gợi lên những ẩn ý sâu xa về thần học. Trong đoạn văn Ga 13,1-32, nhân vật Giu-đa không bày tỏ cảm xúc, không nói lời nào, nhưng mau mắn hành động: “Sau khi nhận lấy miếng bánh, ông ấy [Giu-đa] đi ra ngay lập tức. Lúc đó, trời đã tối” (13,30). Những chi tiết trong đoạn văn Ga 13,1-32 liên quan đến Giu-đa đã làm cho nhân vật này trở thành công cụ của quỷ, công cụ của Xa-tan. Nếu như khi những người Do Thái tìm giết Đức Giê-su là họ đang làm công việc của quỷ (Ga 8,44) thì khi Giu-đa nộp Đức Giê-su, ông ấy cũng đang thực hiện công việc của quỷ và là người thuộc về quỷ.
Đây là nét đặc trưng của nhân vật Giu-đa trong Tin Mừng Gio-an. Nhân vật Giu-đa được thuật lại như trên có ý nghĩa đối với độc giả. Bản văn gợi đến hoàn cảnh của cộng đoàn Gio-an vào cuối thế kỷ I và qua đó là cộng đoàn người tin qua mọi thời đại. Trong hoàn cảnh cộng đoàn bị bách hại, có thể đã xuất hiện những thành viên trong cộng đoàn nộp Thầy, nộp anh em mình. Như Giu-đa là “một trong Nhóm Mười Hai”, có thể một số môn đệ Đức Giê-su đã trở thành công cụ của quỷ và làm công việc của quỷ. Như thế, nhân vật Giu-đa trở thành lời cảnh báo cho từng thành viên trong cộng đoàn, đồng thời mời gọi độc giả đừng trở thành công cụ của quỷ, nhưng hãy lắng và thực thi giáo huấn của Đức Giê-su. Trong hoàn cảnh bị thử thách, người môn đệ hãy xác tín vào tình yêu Đức Giê-su dành cho mình (Ga 13,1) và tin là Đức Giê-su đã chiến thắng thế lực đen tối (Ga 16,33), nhờ đó người môn đệ có thể trung tín với Thầy cho đến cùng. Xem phân tích nhân vật Giu-đa trong bối cảnh khủng hoảng của các môn đệ, trong Khủng hoảng và giải pháp cho các môn đệ trong Tin Mừng thứ tư, tr. 80-91.
3. Phân biệt “tác giả, độc giả thực sự” và “tác giả, độc giả tiềm ẩn”
Trong chiều hướng phân biệt thực tế lịch sử với bản văn, phân tích thuật chuyện và cấu trúc phân biệt “tác giả và độc giả thực sự” với “tác giả và độc giả tiềm ẩn”. (Xem mục “tác giả thực sự” và “tác giả tiềm ẩn” trong bài viết “Ba phương pháp phân tích, ba cách đặt câu hỏi” cũng như các khái niệm về “tác giả” và “độc giả” trong Phân tích thuật chuyện và cấu trúc, tr. 37-41.
Thông thường một tác phẩm xuất hiện là do một hay nhiều tác giả viết ra cho một nhóm độc giả nào đó. Tác giả viết ra tác phẩm là những con người cụ thể trong lịch sử, nên gọi là “tác giả thực sự”. Độc giả mà “tác giả thực sự” nhắm đến, gọi là “độc giả thực sự”. Chẳng hạn, bốn sách Tin Mừng được biết ra bởi các tác giả được linh hứng. Các tác giả đã sống vào thế kỷ I là các “tác giả thực sự” đã viết các sách Tin Mừng cho “những độc giả thực sự”. Họ là cộng đoàn Mát-thêu, cộng đoàn Mác-cô, cộng đoàn Lu-ca và cộng đoàn Gio-an. Đây là những cộng đoàn đã cưu mang và đón nhận sách Tin Mừng được viết ra cho họ. Họ là những “độc giả thực sự” của sách Tin Mừng.
Tương tự như “nhân vật lịch sử”, “tác giả thực sự” và “độc giả thực sự” là đối tượng nghiên cứu của ngành sử học. Cuộc đời của “tác giả thực sự” và “độc giả thực sự” này rộng lớn và phong phú hơn rất nhiều so với những chi tiết thuật lại trong bản văn. Để giới hạn lãnh vực và phạm vi nghiên cứu, phân tích thuật chuyện và cấu trúc lấy bản văn làm đối tượng để tìm hiểu, nên các lối phân tích văn chương này chỉ có thể nói tới “tác giả tiềm ẩn” và “độc giả tiềm ẩn”. Phân tích thuật chuyện và cấu trúc không chú trọng đến “tác giả thực sự” và “độc giả thực sự” mà tập trung tìm hiểu “tác giả tiềm ẩn” và “độc giả tiềm ẩn”.
“Tác giả tiềm ẩn” và “độc giả tiềm ẩn” là những khái niệm giúp hiểu bản văn. “Tác giả tiềm ẩn” là hình ảnh tác giả được xây dựng lên bằng những chi tiết và những đặc điểm trong bản văn. Chẳng hạn, “tác giả tiềm ẩn” của Tin Mừng Gio-an thích kiểu hành văn “hiểu lầm” và “châm biếm”; thích sử dụng một số từ ngữ đặc thù, như chỉ dùng từ “dấu lạ” mà không dùng từ “phép lạ”; chỉ dùng từ “môn đệ” chứ không dùng từ “tông đồ”; thích dùng ngôn ngữ biểu tượng như “ánh sáng”, “bóng tối”, “ở lại” trong ai đó v.v…; thích dùng diễn từ sau các dấu lạ v.v… Tất cả những đặc tính này được rút ra từ bản văn và có thể kiểm chứng trong bản văn. Càng đọc kỹ Tin Mừng, chúng ta càng biết hơn rõ khuôn mặt của “tác giả tiềm ẩn”.
“Độc giả tiềm ẩn” là độc giả được giả thiết là hiểu được những gì “tác giả tiềm ẩn” muốn nói qua bản văn. Vì thế, càng đọc bản văn chúng ta càng xích lại gần với “độc giả tiềm ẩn”, nhờ dần dần hiểu được những ẩn ý mà “tác giả tiềm ẩn” muốn nói. Độc giả ngày nay, chưa phải là “độc giả tiềm ẩn” mà đang cố gắng đứng vào vị trí của “độc giả tiềm ẩn” nhờ phân tích và tìm hiểu ý nghĩa bản văn.
Kết Luận
Sự phân biệt giữa lịch sử và bản văn như trên là yếu tố nền tảng trong cách phân tích thuật chuyện và cấu trúc. Tôn trọng lãnh vực nghiên cứu sử học và khai thác bản văn như một bức tranh, một toà nhà để tìm hiểu ý nghĩa của nó là đóng góp độc đáo của phân tích thuật chuyện và cấu trúc vào việc học hỏi và tìm hiểu Kinh Thánh hiện nay. Có thể xem những bài viết khác trong mục: “Phương Pháp và kỹ thuật hành văn Kinh Thánh”./.
Ngày 01 tháng 04 năm 2012.
Giu-se Lê Minh Thông, O.P.
http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2012/04/phuong-phap-oc-kinh-...
Email: josleminhthong@gmail.com

VUI HỌC THÁNH KINH CHÚA NHẬT PHỤC SINH NĂM B




VUI HỌC THÁNH KINH
CHÚA NHẬT PHỤC SINH NĂM B
Tin Mừng thánh Gioan 20,1-9


TIN MỪNG
1 Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ.2 Bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói: "Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu."
3 Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ.4 Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước.5 Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào.6 Ông Si-môn Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó,7 và khăn che đầu Đức Giê-su. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi.8 Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin.9 Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.
1 On the first day of the week, Mary of Magdala came to the tomb early in the morning, while it was still dark, and saw the stone removed from the tomb.
2 So she ran  and went to Simon Peter and to the other disciple whom Jesus loved, and told them, "They have taken the Lord from the tomb, and we don't know where they put him."
3  So Peter and the other disciple went out and came to the tomb.
4 They both ran, but the other disciple ran faster than Peter and arrived at the tomb first;5 he bent down and saw the burial cloths there, but did not go in.
6 When Simon Peter arrived after him, he went into the tomb and saw the burial cloths there,7 and the cloth that had covered his head, not with the burial cloths but rolled up in a separate place.
8 Then the other disciple also went in, the one who had arrived at the tomb first, and he saw and believed.
9For they did not yet understand the scripture that he had to rise from the dead.

I. HÌNH TÔ MÀU


* Chủ đề của hình này là gì?
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
* Bạn hãy viết lại câu Tin Mừng thánh Gioan 20,2
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

II. TRẮC NGHIỆM
01. Người ra mộ sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần là ai? (Ga 20,1)
a. Mẹ Maria
b. Bà Maria Mácdala
c. Ông Phêrô
d. Ông Nicôđêmô
02. Ai là người đã phát hiện ra: tảng đá đã lăn khỏi mồ? (Ga 20,1)
a. Mẹ Maria
b. Bà Maria Mácdala
c. Ông Phêrô
d. Ông Gioan
03. Đây là lời bà Maria Mácdala nói với ông Phêrô (Ga 20,2)
a. Chúa đã sống lại rồi.
b. Chúa bảo các ông hãy đi Galilê và gặp thầy ở đó.
c. Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để người ở đâu.
d. Người ta đã cướp mất xác Chúa rồi.
04. Ai là người đã bước vào mộ Chúa Giêsu đầu tiên? (Ga 20,6)
a. Mẹ Maria
b. Bà Maria Mácdala
c. Ông Phêrô
d. Ông Gioan
05. Ông Phêrô và Gioan khi tới ngôi mộ chôn Đức Giêsu đã nhìn thấy gì? (Ga 20,6-7)
a. Một ngôi mộ trống.
b. Những băng vải.
c. Khăn che đầu Đức Giêsu.
d. Cả a, b và c đúng.

III. Ô CHỮ 

Những gợi ý
01. Theo Thánh Kinh, ai phải trỗi dậy từ cõi chết? (Ga 20,9)
02. Theo Thánh Kinh, Đức Giêsu phải làm gì từ cõi chết? (Ga 20,9)
03. Từ ngôi mộ trở về, bà Maria Mácdala đã gặp ai đầu tiên? (Ga 20,2)
04. Khi ra mộ, bà Maria Mácdala đã nhìn thấy cái gì đã được lăn ra khỏi mộ? (Ga 20,1)
05. Khăn che đầu Đức Giêsu không để lẫn với các băng vải, nhưng được làm gì và xếp riêng ra một nơi? (Ga 20,7)
06. Ai đã ra mộ Đức Giêsu vào sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần? (Ga 20,1)
07. Theo Thánh Kinh, Đức Giêsu phải trỗi dậy từ đâu? (Ga 20,9)
Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì?
IV. CÂU LỜI CHÚA GHI NHỚ VÀ HỌC THUỘC LÒNG
Theo Kinh Thánh,
Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.
Tin Mừng thánh Gioan 20,9
NGUYỄN THÁI HÙNG

Lời giải đáp
VUI HỌC LỜI CHÚA
CHÚA NHẬT PHỤC SINH NĂM B
Tin Mừng thánh Gioan 20,1-9
I. HÌNH TÔ MÀU
* Chủ đề :
Chúa đã Phục sinh
* Bạn hãy viết lại câu Tin Mừng thánh Gioan 20,2
Bà liền chạy về gặp ông Si-môn Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. Bà nói: "Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu."
II. Lời giải đáp TRẮC NGHIỆM
01. b. Bà Maria Mácdala (Ga 20,1)
02. b. Bà Maria Mácdala
03. c. Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để người ở đâu (Ga 20,2)
04. c. Ông Phêrô (Ga 20,6)
05. d. Cả a, b và c đúng (Ga 20,6-7)
III. Lời giải đáp Ô CHỮ 
01. Đức Giêsu  (Ga 20,9)
02. Trỗi dậy (Ga 20,9)
03. Ông Simon Phêrô (Ga 20,2)
04. Tảng đá (Ga 20,1)
05. Cuốn lại (Ga 20,7)
06. Bà Maria Mácdala (Ga 20,1)
07. Cõi chết (Ga 20,9)
Hàng dọc : Sống Lại
NGUYỄN THÁI HÙNG

VUI HỌC THÁNH KINH Ô CHỮ TIN MỪNG PHỤC SINH




VUI HỌC THÁNH KINH
Ô CHỮ  TIN MỪNG PHỤC SINH

Những gợi ý
01. Vị tông đồ vắng mặt khi Đức Giêsu hiện ra với các ông. (Ga 20,24)
02. Tại biển hồ nào, Đức Giêsu đã tỏ mình cho các môn đệ và trao cho ông Phêrô quyền chăn dắt đoàn chiên của mình? (Ga 21,1-23)
03. Khi ra mộ Đức Giêsu các bà đạo đức nghĩ phải lăn cái gì ra khỏi ngôi mộ? (Mc16,3)
04. Người phụ nữ ra mộ Đức Giêsu sớm nhất là ai? (Mc 16,1)
05. Những ai tin và chịu điều gì thì được cứu độ? (Mc 16,16)
06. Đức Giêsu trao cho các môn đệ một lệnh truyền là hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo điều gì cho mọi loài thụ tạo? (Mc 16,15)
07. Các người phụ nữ đem dầu thơm ra mộ để xức xác ai? (Mc 16,1)
08. Vị tông đồ đã vào mộ Đức Giêsu đầu tiên là ai? (Ga 20,6)
09. Khi đứng giữa các môn đệ, Đức Giêsu thổi hơi vào các ông và bảo họ hãy nhận lấy điều gì? (Ga 20,22)
10.  Đây là dấu hiệu sẽ đi theo những ai có lòng tin, họ có uống nhằm điều  này thì cũng không sao. (Mc 16,18)
11. Ai đã ban Thánh Thần cho các môn đệ? (Ga 20,22)
12. Khi hiện ra với các môn đệ, Đức Giêsu bảo Tôma hãy đặt tay vào đâu? (Ga 20,27)
13. Thiên thần báo tin Đức Giêsu hẹn gặp các môn đệ tại đâu? (Mc 16,7)
14. Theo điều gì Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết? (Ga 20,9)
15. Rápbuni nghĩa là gì?  (Ga 20,16)
Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì?
NGUYỄN THÁI HÙNG



Lời giải đáp
VUI HỌC THÁNH KINH
Ô CHỮ  TIN MỪNG PHỤC SINH
01. Tôma (Ga 20,24)
02. Tibêria (Ga 21,1-23)
03. Tảng đá (Mc16,3)
04. Maria Mácđala (Mc 16,1)
05. Phép rửa (Mc 16,16)
06. Tin Mừng (Mc 16,15)
07. Đức Giêsu (Mc 16,1)
08. Phêrô (Ga 20,6)
09. Thánh Thần (Ga 20,22)
10.  Thuốc độc (Mc 16,18)
11. Đức Giêsu (Ga 20,22)
12. Cạnh sườn (Ga 20,27)
13. Galilê (Mc 16,7)
14. Kinh Thánh (Ga 20,9)
15. Lạy Thầy (Ga 20,16)
Hàng dọc : Tin Mừng Phục Sinh  
NGUYỄN THÁI HÙNG