Trang

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2016

LÀM SAO BIẾT ĐƯỢC LỄ PHỤC SINH SẼ VÀO NGÀY NÀO?

LÀM SAO BIẾT ĐƯỢC LỄ PHỤC SINH SẼ VÀO NGÀY NÀO?




Tại sao cứ mỗi năm lễ Phục sinh lại khác ngày tháng như vậy? Ai chịu trách nhiệm về việc ấn định ngày lễ Phục sinh? Dựa vào đâu mà ấn định ngày lễ Phục sinh? Tại sao không ấn định một ngày cố định?
Trước tiên, cần phải nhấn mạnh rằng việc xác định ngày lễ Phục sinh cần phải dựa trên tiêu chuẩn khách quan, chứ không thể để tùy hứng. Nói một cách cụ thể hơn nữa, khi soạn lịch phụng vụ, Toà thánh không thể tự tiện muốn xác định lễ Phục sinh vào ngày nào tùy ý của mình, nhất là khi mà ngày này không phải chỉ có các Kitô hữu mới cử hành lễ Phục sinh mà còn biết bao nhiêu công sở, ngân hàng, xí nghiệp, trường học trên thế giới cũng soạn thảo lịch sinh hoạt dựa theo ngày lễ đó nữa. Như chị đã biết lịch phụng vụ của Kitô giáo hằng năm có hai đại lễ: đó là lễ Chúa Giáng sinh và lễ Chúa Phục sinh. Lễ Chúa Giáng sinh thì cố định vào ngày 25 tháng 12. Còn lễ Phục sinh thì sao? Thoạt tiên xem ra chẳng có năm nào trùng hợp với năm nào cả. Nhưng trên thực tế, có một sự trùng hợp mà có lễ ít người để ý tới: đó là lễ Phục sinh năm nào cũng vào ngày Chúa nhật. Do đó, nếu ai hỏi anh chị năm tới lễ Phục sinh sẽ vào ngày nào, chị có thể nhắm mắt trả lời mà không sợ sai rằng: sẽ vào Chúa nhật. Giả như họ nằng nặc muốn hỏi tiếp: Chúa nhật ngày mấy, tháng mấy? Lúc đó anh chị hãy dùng kế hoãn binh: chờ tí, để tôi xem lịch lại đã!
Lễ Phục Sinh năm 2015 là ngày 5 tháng 4, còn năm 2016 là 27/4? Tại sao có sự chênh lệch nhau tới gần một tháng như vậy?
Lý do là tại vì chúng ta mừng lễ Phục sinh căn cứ vào âm lịch chứ không căn cứ vào dương lịch. Vì thế có sự sai lệch, đại khái cũng tương tự như ngày Tết âm lịch: năm nào mà sớm thì trúng vào 21 tháng 1 dương lịch (thí dụ năm 1966), còn năm nào mà muộn thì phải chờ tới 19 tháng 2 như năm nay. Có một điều khác biệt quan trọng (như đã nói trên đây) đó là lễ Phục sinh bao giờ cũng trúng vào ngày Chúa nhật; còn ngày mồng một Tết thì có thể trùng vào bất cứ ngày nào trong tuần lễ.
Ngoài tiêu chuẩn thứ nhất (lễ Phục sinh phải là ngày Chúa nhật) còn có tiêu chuẩn nào khác nữa không? Có thể chọn bất cứ ngày Chúa nhật nào hay không?
Thực ra, nói được rằng tiêu chuẩn ngày Chúa nhật chỉ là thứ yếu. Có một tiêu chuẩn nữa quan trọng hơn để mà ấn định ngày Chúa nhật nào trong năm, đó là tiêu chuẩn trăng tròn. Ở Việt Nam, nói tới trăng tròn chúng ta liên tưởng ngay tới lễ Trung thu, khi mà chúng ta ra ngắm chú Cuội ở trên cung trăng với chị Hằng. Nhưng chúng ta quên một dịp khác để đi ngắm trăng tròn, đó là lễ Trung xuân. Lễ Phục sinh trùng vào dịp trăng tròn của Trung xuân.
Lễ Phục sinh là lễ mừng Chúa sống lại. Việc Chúa sống lại có liên quan gì tới mặt trăng đâu?
Dĩ nhiên là lễ Phục sinh chẳng có liên hệ gì tới mặt trăng hết. Nhưng mà theo thói thường, khi mừng một lễ nào đó, dù là trong gia đình hay làng xóm hay quốc gia, người ta thường căn cứ vào ngày giáp năm của biến cố được nhắc tới. Thí dụ trong một quốc gia, ngày quốc khánh được mừng vào dịp giáp năm ngày tuyên bố độc lập hay tuyên bố hiến pháp. Lễ Chúa Phục sinh cũng được cử hành dựa trên tiêu chuẩn đó, nghĩa là vào dịp giáp năm của biến cố đức Kitô sống lại từ cõi chết. Thế nhưng làm sao biết được Chúa sống lại vào ngày nào? Phúc âm không cho ta biết đích xác ngày tháng dựa theo dương lịch mà ta đang sử dụng. Nhưng Phúc âm cho ta một chi tiết rất là quan trọng, đó là việc Chúa chịu chết và sống lại xảy ra vào dịp người Do thái cử hành lễ Vượt qua. Tôi xin nhắc lại: đây là một chi tiết rất quan trọng, bởi vì nó giúp cho ta không những là tính được ngày tháng xảy ra biến cố, mà còn hiểu được ý nghĩa thần học của nó.
Thế nào là ý nghĩa thần học của lễ Chúa Phục sinh?
Ở đây tôi không muốn nói tới những ý nghĩa mà biến cố Chúa Phục sinh mang lại cho nhân loại, tựa như là ơn cứu chuộc hoặc ơn thân xác sẽ sống lại, nhưng mà ý nghĩa của ngày lễ. Trong tiếng Việt, chúng ta gọi là lễ Chúa Phục sinh, như vậy nhấn mạnh tới biến cố đức Kitô sống lại. Nhưng trong tiếng La-tinh thì danh xưng của nó là Pascha (mà người Pháp chuyển âm là Pâques). “Pascha” có nghĩa là gì? Nguồn gốc của từ này bởi tiếng Do thái pesa hay là pasa, có nghĩa là: đi ngang qua, hay là nhảy nhót. Thường thì ý nghĩa “đi ngang qua” thông dụng hơn, và trong tiếng Việt, chúng ta thấy có từ ngữ lễ “Vượt qua”. Nói tới “Vượt qua” thì chúng ta dễ liên tưởng tới việc dân Do thái vượt qua biển Đỏ, biểu tượng của một cuộc giải phóng: dân Do thái từ cảnh nô lệ Ai cập băng qua biển Đỏ để vào vùng Đất hứa, vùng đất tự do. Tuy nhiên, đó là mình tán ra vậy thôi, chứ thực ra khi mừng lễ Pascha, người Do thái tiên vàn nhớ lại việc Chúa đi ngang qua nhà họ, và đã cứu họ qua việc trừng phạt dân Ai cập bằng việc giết các con đầu lòng của dân này. Đó là điều mà chúng ta đọc ở sách Xuất hành, chương 12, đặc biệt là các câu 12-14.26-27. Trong chương 12, chúng ta còn đọc thấy vài chi tiết về cách thức mừng lễ, chẳng hạn giết một con chiên tơ, ăn rau diếp đắng. Một điểm đáng cho chúng ta lưu ý là Tân ước không những cho ta biết rằng Chúa Giêsu đã tử nạn và phục sinh vào dịp người Do thái mừng lễ Vượt qua, mà còn coi chính đức Kitô là chiên Vượt qua (thí dụ 1Cor 5,6-8; Gioan 19,35-36). Chính nhờ máu của Ngài đổ ra mà chúng ta được thoát chết. Thánh Gioan cũng coi cuộc tử nạn và phục sinh của đức Kitô như là một cuộc Vượt qua, nghĩa là sau khi từ Chúa Cha đến trần gian, bây giờ đức Kitô lại từ trần gian trở về với Chúa Cha (Ga 13,1). Chính vì ý nghĩa thần học súc tích như vậy, cho nên phụng vụ gọi là Phục sinh là “Pascha”.
Còn việc xác định ngày tháng thì sao?
Chính vì biến cố đức Kitô tử nạn và phục sinh đã diễn ra nhân dịp người Do thái mừng lễ Pascha (tạm dịch là lễ Vượt qua), cho nên Giáo hội cử hành lễ Phục sinh trùng vào dịp người Do thái cử hành lễ Vượt qua. Như vậy vấn đề cần biết là người Do thái cử hành lễ Vượt qua vào ngày nào? Lịch Do thái ấn định là ngày 14 tháng Nisan, nghĩa là tháng đầu năm đối với họ.
Tại sao người Do thái lại mừng lễ Vượt qua vào ngày đó?
Nếu ai mở chương 12 của sách Xuất hành thì sẽ thấy câu trả lời đơn giản: đó là tại vì Chúa đã truyền ông Môsê như vậy, để tưởng niệm đêm mà Chúa đến cứu dân Israel. Tuy nhiên, các nhà khảo cổ cho rằng nguồn gốc của nó xa hơn nhiều. Nó bắt đầu từ thói tục của dân du mục. Suốt mùa Đông giá rét, cả người cũng như cảnh vật ra như ủ rũ chờ chết. Sang tới mùa Xuân, cảnh vật bắt đầu lấy lại sự sống. Cây cối đồng cỏ lấy lại màu xanh tươi. Các chú du mục lại có thể dẫn chiên ra đồng đi ăn: có lẽ đó là nguyên ngữ của tiếng “pesa”, vừa có nghĩa là “đi qua” vừa có nghĩa là “nhảy nhót”. Dù nguồn gốc của ngày lễ như thế nào đi nữa, một điều chắc chắn là nó được mừng vào ngày 14-15 (rằm) của mùa Xuân. Do đó mà ta có thể gọi nó là lễ Trung xuân (đối lại với lễ Trung thu). Tuy nhiên, vào những thế kỷ đầu tiên, đã nảy lên một cuộc tranh luận sôi nổi trong Giáo hội giữa hai phe. Một phe thì chủ trương mừng lễ Phục sinh cùng ngày Pascha của người Do thái, nghĩa là đúng dịp trăng tròn, bất luận ngày nào trong tuần. Một phe thì chủ trương là phải mừng vào ngày Chúa nhật, bởi vì đức Kitô đã sống lại vào ngày Chúa nhật, một ngày liền sau ngày hưu lễ (Sabat) của người Do thái. Ngày đó được gọi là Chúa nhật (Dies Domini, Dominica): ngày của Chúa. Cuộc tranh luận trở thành gay cấn dưới thời ĐGH Victorio I (189-198), khi ngài doạ tuyệt thông các giáo đoàn nào mừng lễ Phục sinh vào ngày 14. Sau bao nhiêu công nghị miền cả bên Đông lẫn bên Tây, công đồng Nixêa năm 325 đã tìm cách ấn định một quy tắc chung, tuy rằng phải chờ tới thế kỷ VIII thì khắp nơi mới chấp nhận. Quy tắc như thế này: Lễ Phục sinh sẽ được cử hành vào Chúa nhật liền sau ngày 14 tháng Nisan. Ngày này sẽ không trước ngày xuân phân (21/3 dương lịch) và sẽ không sau ngày 25/4 dương lịch (như vậy là chênh nhau trong vòng 35 ngày). Tuy nhiên, đến thế kỷ XVI vì các Giáo hội chính thống không chấp nhận cuộc cải tổ lịch dưới thời đức Grêgôriô XIII (1582) cho nên lại có thiếu sự nhất trí giữa các Kitô hữu trong việc cử hành lễ Phục sinh. Công đồng Vaticanô II bày tỏ ý kiến không những chung quanh đề nghị thỏa hiệp giữa các Giáo hội Kitô để cử hành lễ Phục sinh chung một ngày như nhau, mà cả chung quanh dự án làm một quyển lịch vĩnh viễn. Tuy nhiên, những dự án này có lẽ sẽ không thành tựu trước thế kỷ XXI.
------------------------
Ngày lễ Phục Sinh các năm:
2017: 16 tháng 4
2018: 1 tháng 4
2019: 21 tháng 4
2020: 12 tháng 4
(theo Wipidea)
Tác giả: Lm. Giuse Phan Tấn Thành, OP.
Nguồn: giaolyductin.net

Lòng thương xót, yếu tính của Tin Mừng và chìa khóa dẫn vào đời sống Kitô hữu

Lòng thương xót, yếu tính của Tin Mừng và chìa khóa dẫn vào đời sống Kitô hữu


 
Tác giả: 
 Vũ Văn An

Giới thiệu

Lên ngôi Giáo Hoàng ngày 13 tháng 3 năm 2013, chủ đề đầu tiên của Đức Phanxicô là lòng thương xót. Bốn ngày sau đó, trong buổi đọc kinh Truyền Tin đầu tiên tại Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô, Đức Tân Giáo Hoàng đã nói tới chủ đề này rồi.

Và khung cảnh để ngài nói tới chủ đề đó thật rất thích hợp: Tin Mừng hôm ấy (Chúa Nhật Thứ Năm Mùa Chay) kể lại câu truyện người đàn bà bị bắt quả tang ngoại tình, người đã được Chúa Giêsu cứu khỏi bị kết án tử hình (Ga 8:1-11).

Điều đáng nói là trong buổi yết kiến này, Đức Tân Giáo Hoàng đã ca ngợi một thần học gia Công Giáo nổi tiếng xưa nay vì đã nói tới lòng thương xót. Ngài nói: “Trong ít ngày qua, tôi đã đọc một cuốn sách của một vị Hồng Y, Đức Hồng Y Kasper, một thần học gia khôn khéo, một thần học gia tốt lành, viết về lòng thương xót. Và cuốn sách đó đem lại cho tôi rất nhiều thiện ích… Đức Hồng Y Kasper nói rằng cảm nhận được lòng thương xót … là thay đổi được mọi sự. Đây là điều tốt đẹp nhất ta có thể cảm nhận: nó thay đổi thế giới. Chỉ một chút thương xót cũng làm thế giới bớt lạnh lẽo và công chính hơn”.

Lúc được Đức Phanxicô ca ngợi như trên, Đức Hồng Y Kasper vốn đã được mọi người trong Giáo Hội biết rõ chủ trương của ngài muốn được thấy các người Công Giáo ly dị và tái hôn không có án vô hiệu của Giáo Hội được rước lễ, một chủ trương ngài đã bắt đầu công khai vận động lúc mới chỉ là một giám mục khiêm tốn tại quê hương Đức năm 1993.

Chủ trương trên chưa hề được Đức Hồng Y Bergoglio công khai ủng hộ bao giờ. Nhưng điều ngạc nhiên là ngày 20 tháng 2 năm 2014, trong công nghị Hồng Y để chuẩn bị triệu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới lần đầu tiên của triều giáo hoàng bàn về Mục Vụ Gia Đình, Đức Phanxicô đã mời Đức Hồng Y Kasper trình bầy những suy nghĩ có tính khai phá của ngài. Và dù nội dung bài trình bầy của Đức Hồng Y Kasper chưa được công bố, Đức Phanxicô đã không tiếc lời ca ngợi như sau:

“Hôm qua, trước khi thiếp ngủ, dù chưa ngủ hẳn, tôi đã đọc, hay đã đọc lại, các nhận định của Đức Hồng Y Kasper. Tôi muốn cám ơn ngài, vì tôi thấy một nền thần học sâu sắc, và những tư tưởng thanh thản về thần học. Đọc thần học thanh thản là một điều tốt đẹp. Nó giúp ích cho tôi rất nhiều và tôi nẩy ra một ý tưởng, và xin lỗi Đức Hồng Y, nếu tôi làm ngài bối rối, nhưng ý tưởng là: có thể gọi việc này là làm thần học trong khi qùy gối. Cám ơn Đức Hồng Y. Cám ơn Đức Hồng Y”.

Theo truyền thông, thì trong công nghị trên, các vị Hồng Y đang tập chú tìm sự quân bình giữa việc trung thành với Tin Mừng và học lý thương xót, khi đụng tới các vấn đề gai góc như cho phép người Công Giáo ly dị và tái hôn rước lễ.

Thế là từ đấy, người ta ít nói tới thương xót, mà tập chú vào cuộc tranh cãi hết sức nóng bỏng không hẳn về mục vụ gia đình nói chung mà về việc rước lễ của những người vừa nói. Hai thượng hội đồng về gia đình trong các năm 2014 và 2015 đã qua đi, sự nóng bỏng của cuộc tranh cãi vẫn chưa nguội đi bao nhiêu. Hy vọng rằng với tông huấn hậu thượng hội đồng hứa hẹn vào đầu tháng Tư này, sự nóng bỏng kia sẽ nguội dần.

Chưa biết tác động của Đức Hồng Y Kasper ra sao trong văn kiện trên, vì có lúc, Đức Phanxicô đã minh nhiên tách mình khỏi chủ trương của ngài. Nhưng các suy tư của ngài về lòng thương xót thì vẫn gây nhiều ảnh hưởng đối với Đức Đương Kim Giáo Hoàng, qua việc mở Năm Thánh Đặc Biệt về Lòng Thương Xót với sắc chỉ “Misericordiae Vultus” (Gương Mặt Của Lòng Thương Xót) và câu khẳng định “Lòng Thương Xót: chữ này mạc khải chính mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi” (số 2) và với tác phẩm mới xuất bản “Tên Thiên Chúa là Lòng Thương Xót” và câu quả quyết: “Thương xót là thuộc tính thứ nhất của Thiên Chúa”.

Đó chính là chủ điểm trong tác phẩm “Lòng Thương Xót, Yếu Tính Của Tin Mừng và Chìa Khóa Dẫn Vào Đời Sống Kitô Giáo” của Đức Hồng Y Kasper, một cuốn sách được Đức Phanxicô ca ngợi nhân buổi đọc kinh Truyền Tin đầu tiên trong triều giáo hoàng của ngài.

Năm 2012, nó được xuất bản lần đầu bằng tiếng Đức dưới tựa đề Barmherzigkeit. Năm 2014, nó được William Madges dịch sang tiếng Anh. Dựa vào bản tiếng Anh của Madges, chúng tôi cho dịch tác phẩm này sang Việt Ngữ để cung cấp cho độc gia Việt Nam một cái nhìn thực sự thần học về lòng thương xót trong Năm Thương Xót này, một cái nhìn được tóm lược trong câu khẳng định của Đức Hồng Y Kasper: “Theo chứng từ của mọi sách thánh, cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, lòng thương xót của Thiên Chúa... là thuộc tính giữ vị trí thứ nhất trong cuộc mặc khải của Thiên Chúa trong lịch sử cứu rỗi…” Tuy nhiên, không phải chỉ có thế, “lòng thương xót còn là khía cạnh hoạt động hiển thị và hữu hiệu bề ngoài của yếu tính Thiên Chúa”. Trong ngôn từ của Đức Phanxicô, thì lòng thương xót nói lên chính mầu nhiệm Thiên Chúa, như trên đã trích.

Lời nói đầu

Cuốn sách nhỏ này bắt nguồn từ một dự kiến trình bầy một loạt bài thuyết trình cho một cuộc tĩnh tâm. Nhưng bài nói về lòng thương xót của Chúa đã không được bao gồm. Mọi tìm tòi thần học cho chủ đề này đã không đi tới đâu. Trong mấy năm sau, tôi đã trở tới trở lui với chủ đề này nhiều lần. Suy nghĩ và tìm hiểu vấn đề này đã dẫn tôi tới nhiều câu hỏi căn bản liên quan tới học lý về Thiên Chúa và các thuộc tính của Người cũng như các câu hỏi căn bản về cuộc hiện sinh Kitô hữu. Tôi quả quyết rằng lòng thương xót, một điều hết sức chủ yếu trong Thánh Kinh, nói chung đã bị lãng quên hay rất ít được chú ý trong nền thần học hệ thống. Về vấn đề này, cũng như nhiều vấn đề khác, linh đạo và huyền nhiệm học Kitô Giáo đã tiến xa hơn thần học kinh viện. Bởi thế, cuốn sách này cố gắng nối kết suy tư thần học với các xem xét linh đạo, mục vụ và cả xã hội nữa liên quan tới văn hóa thương xót.

Phần lớn mới chỉ bắt đầu được nghĩ tới. Tuy nhiên, tôi dám hy vọng rằng điều tôi nói có thể sẽ kích thích thế hệ các nhà thần học trẻ trung hơn tiếp nối sợi chỉ xuyên suốt này để suy tư thấu đáo một lần nữa học lý Kitô Giáo về Thiên Chúa và các hệ luận thực tiễn rút ra từ đó, nhờ thế lên khuôn cho khúc rẽ quy thần hết sức cần thiết trong thần học và trong đời sống Giáo Hội. Và trong diễn trình này, việc vượt qua cảnh xa lạ giữa thần học kinh viện và thần học mục vụ phải là một quan tâm quan trọng.

Tôi bầy tỏ lòng biết ơn của tôi đối với Viện Đức Hồng Y Walter Kasper tại Vallendar, Giáo Sư Tiến Sĩ George Augustin, Ông Stefan Ley, và Ông Michael Wieninger đã cẩn thận đọc và sửa bản thảo. Tôi cũng xin cám ơn Công Ty Xuất Bản Herder đã thận trọng giám sát dự án này.

Hồng Y Walter Kasper,
Rome, Mùa Chay 2012.
Kỳ sau: Lòng thương xót, một chủ đề có liên hệ chủ yếu nhưng bị lãng quên

Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2016

BỮA TỐI CỦA CHÚA VÀ CUỘC XỬ ÁN ĐỨC GIÊ-SU

BỮA TỐI CỦA CHÚA VÀ CUỘC XỬ ÁN ĐỨC GIÊ-SU

Tác giả: Vinh Hưng, O.P. -



BỮA TỐI CỦA CHÚA
VÀ CUỘC XỬ ÁN ĐỨC GIÊ-SU
Hằng năm vào Thứ Năm Tuần Thánh, chúng ta cử hành thánh lễ Tiệc Ly để tưởng niệm việc Đức Giê-su thiết lập bí tích Thánh Thể, rửa chân cho các môn đệ và trối lại cho chúng ta giới luật yêu thương.

Thực ra, Đức Giê-su đã dùng bữa tối cuối cùng với các môn đệ vào lúc nào ? Để hiểu rõ vấn đề, tưởng cũng nên nói đến niên lịch của người Do-thái. Trong khi ngày mới của chúng ta bắt đầu vào lúc nửa đêm thì người Do-thái lại bắt đầu ngày mới vào khoảng 5 giờ chiều hôm trước. Dấu tích của tập tục này còn lưu lại trong phụng vụ Ki-tô giáo ngày nay (Kinh Chiều I, lễ vọng các đại lễ, thánh lễ Chúa nhật cử hành vào chiều thứ Bảy).

Theo Tin Mừng Gio-an thì Lễ Vượt Qua năm ấy rơi vào ngày thứ Bảy (x. Ga 19,31) và vì thế người ta ăn Chiên Vượt Qua vào chiều hôm trước, tức là thứ Sáu.

Vẫn theo Gio-an, vì Đức Giê-su sẽ chịu chết vào chiều thứ Sáu, và không thể ăn bữa tối cuối cùng với các môn đệ vào đúng ngày được, nên Người đã cử hành sớm hơn một ngày, vào chiều thứ Năm. Vì thế Gio-an đã cho biết rằng Đức Giê-su đã dùng bữa tối với các môn đệ “trước Lễ Vượt Qua” (Ga 13,1), và theo truyền thống này, chúng ta vẫn cử hành thánh lễ Tiệc Ly vào chiều Thứ Năm Tuần Thánh.

Tuy đồng thuận với Gio-an về biến cố Đức Giê-su chịu chết vào chiều thứ Sáu (x. Mt 27,62 ; Mc 15,42 ; Lc 23,54) nhưng các tác giả Nhất Lãm lại khẳng định rằng Đức Giê-su đã dùng bữa tối cuối cùng với các môn đệ khi Lễ Vượt Qua đã đến.

Tin Mừng Nhất Lãm nói gì ?

Thật vậy, cả Mác-cô và Mát-thêu đều tường thuật rằng Đức Giê-su và các môn đệ đã dùng bữa tiệc ly vào “ngày thứ nhất trong tuần Bánh Không Men, là ngày sát tế Chiên Vượt Qua” (Mc 14,12 ; x. Mt 26,17). Và Lu-ca còn nói rõ hơn về thời điểm của bữa tiệc ly, từ các sự kiện trước đó như “Lễ Bánh Không Men, cũng gọi là Lễ Vượt Qua đã đến gần” (Lc 22,1), cho đến khâu chuẩn bị như “Đã đến ngày Lễ Bánh Không Men, ngày phải sát tế Chiên Vượt Qua, Đức Giê-su sai ông Phêrô với ông Gio-an đi” dọn bữa tiệc ly (Lc 22,7), rồi cả về thời khắc dùng bữa : “Khi giờ đã đến, Đức Giê-su vào bàn cùng với các tông đồ” (Lc 22,14).

Như vậy, theo các tác giả Nhất Lãm, Đức Giê-su đã dùng bữa tối cuối cùng khi đã là Lễ Vượt Qua, sau đó Người bị bắt, chịu đóng đinh và chết vào chính ngày đại lễ.

Giải pháp Qumran

Trải qua nhiều thế kỷ, các học giả tìm cách dung hoà sự khác biệt giữa ghi nhận của các tác giả Nhất Lãm cho rằng Đức Giê-su đã dùng bữa tối cuối cùng vào chính ngày Lễ Vượt Qua (ở đây hiểu là thứ Sáu), với ghi nhận của Gio-an cho rằng vào ngày hôm trước (thứ Năm), nhưng xem ra không có giải pháp nào hoàn toàn thuyết phục.

Mãi cho đến năm 1947, các văn bản Qumran được khám phá và mang lại một giải pháp mới cho vấn đề. Người có công đầu trong việc này là nữ học giả người Pháp Annie Jaubert [1].

Tưởng cũng nên nói qua xem các văn bản Qumran là gì. Đó là các bản chép tay thuộc về một thư viện cổ hồi thế kỷ I trước Công Nguyên của một cộng đoàn Do-thái giáo gọi là Nhóm Essêni. Trong các tài liệu tìm thấy, Sách Các Năm Toàn Xá, người ta sử dụng không phải chỉ một mà là hai loại niên lịch khác nhau. Loại thứ nhất là dương lịch dựa vào chu kỳ chuyển động của mặt trời, theo đó một năm có 364 ngày, đúng 52 tuần và các tháng được phân chia sao cho các đại lễ đều rơi vào thứ Tư. Vì thế, lễ mừng Năm Mới (Rosh Hashana) cũng như Lễ Lều (Sukkoth) và Lễ Vượt Qua (Peshah) đều rơi vào thứ Tư.

Nhưng tại sao loại lịch này lại đặt ngày đầu Năm Mới vào thứ Tư ? Thưa bởi vì theo sách Sáng Thế, khi Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ, thì vào ngày thứ Tư, Người đã dựng nên mặt trời, mặt trăng và các tinh tú mà khởi đi từ đó dòng thời gian đã bắt đầu.

Thay đổi niên lịch

Loại dương lịch nói trên đã được người Do-thái sử dụng qua nhiều thế kỷ. Thực vậy, trong Cựu Ước, nếu căn cứ vào các ngày tháng biên niên sử, chúng ta có thể nhận thấy rằng Lễ Vượt Qua cũng như các đại lễ khác đều rơi vào ngày thứ Tư.

Vào khoảng năm 200 trước Công Nguyên, các tư tế tại Giêrusalem đã quyết định thay đổi niên lịch và đưa vào sử dụng một loại lịch mới dựa trên sự kết hợp giữa 2 chu kỳ chuyển động của mặt trời và mặt trăng, gọi là Nhật-Nguyệt lịch. Loại lịch này chuẩn xác hơn lịch cũ, theo đó một năm có 365 ngày và các đại lễ có thể rơi vào bất kỳ ngày nào trong tuần.

Loại lịch mới này dần dần đi vào đời sống thường nhật của người Do-thái, tuy nhiên để thay thế hoàn toàn loại lịch cũ thì cần phải trải qua một thời gian dài. Điều này giải thích tại sao sau đó cả 2 thế kỷ, vào thời Đức Giê-su, mà một phần lớn dân chúng vẫn còn sử dụng lịch cũ và cử hành các đại lễ theo những ngày tháng cũ. Nhóm Essêni tại Qumran thuộc vào những người từ chối sử dụng lịch mới vì cho rằng như thế là phạm đến tính bất di bất dịch của Luật Môsê.

Nhóm Essêni vẫn tuân giữ nghiêm nhặt lịch cũ, như thấy ghi lại trong Kỷ Luật Cộng Đoàn (Manual of Discipline) : “Đừng đi trệch những gì Lời Thiên Chúa đã dạy về các thời khắc. Đừng dời các ngày tháng sớm lên và dịch chuyển các ngày lễ”.

Cả hai đều có lý

Vào thời Đức Giê-su, cả hai loại lịch cùng lưu hành : Lịch cũ thì phổ biến nơi dân chúng, theo đó thì bữa tiệc Vượt Qua luôn rơi vào thứ Tư (tức là chiều thứ Ba của chúng ta ngày nay) ; còn lịch mới thì được giới tư tế chính thức và giới thượng lưu sử dụng, theo đó Lễ Vượt Qua có thể rơi vào bất kỳ ngày nào trong tuần. Lễ Vượt Qua của năm mà Đức Giê-su chịu chết rơi vào đúng ngày thứ Bảy.

Như vậy, nếu Đức Giê-su đã ăn bữa tối cuối cùng với các môn đệ theo lịch cũ, tức là vào chiều thứ Ba là ngày mà dân chúng bắt đầu cử hành Lễ Vượt Qua thì sự dị biệt giữa các sách Tin Mừng về vấn đề này coi như được giải quyết xong. Thật thế, nếu Đức Giê-su đã ăn bữa tối cuối cùng vào chiều thứ Ba thì Tin Mừng Nhất Lãm có quyền khẳng định rằng Người đã cử hành bữa Tiệc Ly “vào chính ngày Lễ Vượt Qua” theo như lịch cũ. Trái lại, Gio-an lại nói rằng Đức Giê-su đã cử hành bữa Tiệc Ly “trước Lễ Vượt Qua” theo niên lịch chính thức. Như thế cả hai đều có lý.

Toà án Do-thái bất hợp lệ ?

Giả thuyết mới nêu trên đã được hầu hết các học giả chấp nhận mà theo đó Đức Giê-su đã chịu chết vào thứ Sáu như các sách Tin Mừng đã xác nhận, nhưng trước đó Người đã ăn bữa tối cuối cùng vào chiều thứ Ba. Giả thuyết này không chỉ giải thích sự dị biệt trong các trình thuật về bữa Tiệc Ly mà còn giải quyết cả những vấn đề khác nữa.

Vấn đề thứ nhất là khoảng thời gian của cuộc thương khó xem ra quá ngắn. Thật vậy, nếu bữa Tiệc Ly diễn ra vào thứ Năm và cuộc đóng đinh vào trưa thứ Sáu thì tất cả các sự kiện của cuộc thương khó chỉ diễn ra trong vòng 18 giờ.

Chúng ta biết rằng sau khi bị bắt tại vườn Cây Dầu, Đức Giê-su bị điệu tới nhà thượng tế Khanan nơi diễn ra cuộc thẩm vấn lần thứ nhất (x. Ga 18,19-23), rồi Người lại bị dẫn đến nhà thượng tế Caipha (x. Ga 18,24), nơi họp Thượng Hội Đồng, một thứ toà thượng thẩm, quy tụ tất cả các thượng tế, kỳ mục và luật sĩ (x. Mc 14,53). Trong phiên xử khuya khoắt này người ta cố tìm các chứng cớ buộc tội Đức Giê-su, nhưng sự việc xem ra không đơn giản bởi vì các chứng cớ lại không ăn khớp với nhau (x. Mc 14,55-59). Sau đó Đức Giê-su còn bị sỉ nhục, khạc nhổ, chế nhạo và đánh đập (x. Mc 14,65). Rạng sáng hôm sau, Thượng Hội Đồng tái nhóm với 71 thành viên (x. Mc 15,1) và quyết định xử tử Đức Giê-su.

Người La Mã xét xử

Nhưng vấn đề chưa kết thúc tại toà án Do-thái. Sau phiên toà tôn giáo, người ta lại điệu Đức Giê-su tới tổng trấn Phi-la-tô (x. Lc 23,1). Tiến trình này chắc chắn phải kéo dài. Trước hết, phải có cuộc họp giữa các thủ lãnh Do-thái với quan tổng trấn để đệ trình các cáo buộc. Tiếp đến là cuộc thẩm vấn riêng giữa Phi-la-tô và Đức Giê-su, rồi ông này tuyên bố Đức Giê-su vô tội, rồi người Do-thái lại nêu ra những chứng cứ mới tố cáo Đức Giê-su.

Để phủi tay trong vụ án Đức Giê-su, người mà Phi-la-tô cho là vô tội, ông đã giao nộp Người cho nhà cầm quyền xứ Ga-li-lê là Hê-rô-đê An-ti-pa vì Đức Giê-su là người Ga-li-lê nên thuộc thẩm quyền của vua này (x. Lc 23,7). Cuộc thẩm vấn này hẳn cũng đòi nhiều thời gian bởi vì Tin Mừng thuật lại rằng “nhà vua đã hỏi Người nhiều điều” (Lc 23,9). Cuối cùng Hêrôđê lại trả Đức Giê-su về cho Phi-la-tô (x. Lc 23,11).

Phi-la-tô lại triệu tập các thượng tế, quan toà và dân chúng. Sau khi đối thoại với Đức Giê-su một lần nữa, ông quyết định trao số phận của Người vào tay dân Do-thái khi cho họ cái quyền lựa chọn tha Ba-ra-ba hay tha Giê-su. Thêm vào đó, vợ quan Phi-la-tô còn sai người đến nói với ông rằng đứng kết án Đức Giê-su vì đêm hôm đó, trong chiêm bao, bà đã bị ám ảnh khổ sở vì cuộc xét xử này. Trước áp lực của dân chúng, Phi-la-tô đã tha Ba-ra-ba (x. Mt 27,11-26). Các sự kiện tiếp theo là đánh đòn, đội mão gai, nỗ lực cuối cùng của Phi-la-tô nhằm giải cứu Đức Giê-su, và cuối cùng là bản án và hành trình nhọc nhằn tới Núi Sọ (x. Mt 27,27-31).

Tất cả chỉ diễn ra từ đêm thứ Năm đến trưa thứ Sáu (?).

Một thời biểu khác

Tất cả các sự kiện liên quan đến cuộc khổ nạn của Đức Giê-su không thể diễn ra chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi như thế được. Trái lại, sẽ hợp lý hơn khi mà thời điểm diễn ra bữa tối cuối cùng được dời lên sớm hơn :

Thứ Ba : Đức Giê-su ăn tiệc Vượt Qua vào buổi chiều, rồi Người bị bắt và điệu đến nhà thượng tế.

Thứ Tư : Ban sáng, Thượng Hội Đồng nhóm họp để nghe các cáo buộc. Đức Giê-su bị giam qua đêm.

Thứ Năm : Vào buổi sáng, Thượng Hội Đồng lại nghị án và quyết định tử hình Đức Giê-su, rồi điệu Người tới Phi-la-tô. Phi-la-tô thẩm vấn rồi giao nộp Đức Giê-su cho Hêrôđê. Đức Giê-su lại bị giam qua đêm.

Thứ Sáu : Phi-la-tô thẩm vấn lần thứ hai, cho đánh đòn, đội mão gai, tuyên án và cho dẫn đi đóng đinh vào thập giá. Khoảng 3 giờ chiều, Đức Giê-su chết trên thập giá.

Án lệ do luật định

Giả thuyết mới nói trên đã mang lại bước tiến đáng kể trong việc giải thích các sự kiện. Theo sách Mishna, một thứ sách thánh của người Do-thái, thu thập các chú giải Luật Cựu Ước, chúng ta có thể biết về những điều vi luật nếu có trong vụ án Đức Giê-su :

Với các tội danh không dẫn tới án tử hình, việc xét xử diễn ra ban ngày, và việc tuyên án có thể vào ban đêm ; còn với các tội danh đưa tới án tử hình, việc xét xử diễn ra ban ngày, và việc tuyên án cũng phải vào ban ngày. Với các tội danh không dẫn tới án tử hình, việc tha bổng hay kết án có thể diễn ra trong cùng một ngày ; với các tội danh đưa tới án tử hình, việc tuyên bố trắng án có thể diễn ra cùng ngày hôm ấy, nhưng việc kết án thì không thể diễn ra trước ngày hôm sau. Vì lẽ ấy, các phiên toà không thể diễn ra vào ngày áp ngày sabát hay áp một ngày lễ” (Mishna, Sanhedrin 4,1).

Như vậy, luật Do-thái quy định rằng mọi cuộc xét xử đều phải tiến hành ban ngày. Vậy nếu Đức Giê-su dùng bữa tiệc ly vào chiều thứ Năm thì Thượng Hội Đồng phải nhóm họp vào ban đêm, điều này sai luật. Đàng khác, các thành viên Thượng Hội Đồng và các nhân chứng không thể nhóm họp ban đêm chỉ là để bàn bạc trong khi chưa chắc rằng Đức Giê-su đã bị bắt hay chưa. Trái lại, nếu bữa tiệc ly diễn ra vào chiều thứ Ba thì chúng ta có thể nói rằng phiên toà đã diễn ra vào thứ Tư và sáng thứ Năm.

Như trên, sách Mishna còn cấm kết án tử hình vào ngày áp ngày sabát và đại lễ. Nếu cứ tính theo thời biểu truyền thống, thì Đức Giê-su đã bị Thượng Hội Đồng Do-thái kết án tử hình vào thứ Sáu, ngày áp ngày sabát cũng là ngày áp Lễ Vượt Qua năm ấy ! Trái lại, nếu theo giả thuyết mới đã nêu, thì Đức Giê-su bị kết án vào sáng thứ Năm, tức là còn hơn một ngày nữa mới đến ngày sabát và Lễ Vượt Qua.

Để tránh các quyết định nóng vội và cảm tính, Luật còn quy định rằng không được kết án tử hình bất kỳ ai trước 24 tiếng kể từ lúc bị bắt. Theo lịch trình cũ (ngắn) thì Đức Giê-su đã bị kết án tử hình chỉ vài giờ sau khi bị bắt. Còn theo thời biểu mới (dài) thì Người bị bắt vào chiều tối thứ Ba và bị kết án vào sáng thứ Năm theo đúng quy định của Luật.

Nếu người Do-thái đã kết án Đức Giê-su vì cho rằng Người vi phạm Lề Luật thì không có lý gì họ lại xét xử một cách vi luật trầm trọng như thế !

Sự im lặng lên tiếng

Một số chi tiết khác trong Tin Mừng cũng rõ ràng ủng hộ giả thuyết cho rằng Đức Giê-su đã dùng bữa tiệc ly vào chiều thứ Ba và chịu chết vào thứ Sáu. Các Tin Mừng đều tuần tự kể lại những ngày cuối cùng của Đức Giê-su, nhưng lại không hề nói gì về hai ngày thứ Tư và thứ Năm ! Sự im lặng khó hiểu này đã khiến người ta nghĩ rằng trong hai ngày đó, Đức Giê-su đã lánh riêng ra một nơi để ở cùng các môn đệ. Nhưng bây giờ chúng ta biết rằng, hai ngày ấy, Người bị tạm giam theo đúng tiến trình của cuộc thương khó.

Truyền thống cũng ủng hộ

Giả thuyết mới nói trên còn nhận được sự ủng hộ mặc nhiên của Truyền Thống. Thật vậy, chúng ta biết rằng các tín hữu thời Giáo Hội sơ khai đã giữ chay vào thứ Tư và thứ Sáu. Rất có thể, tập tục này đã khởi đi từ một truyền thống cho rằng Đức Giê-su bị bắt vào thứ Tư và chịu chết vào thứ Sáu, mà việc ăn chay là nhằm tưởng niệm hai biến cố này.

Sách Didascalia Apostolorum còn cho biết thêm rằng : “Sau khi ăn tiệc Vượt Qua vào chiều thứ Ba, chúng tôi (các tông đồ) đi đến núi Cây Dầu và vào ban đêm người ta đã bắt Chúa Giê-su. Ngày hôm sau, thứ Tư, Người bị giam giữ tại nhà Thượng Tế Caipha ; cùng ngày hôm ấy, các trưởng tế nhóm họp và nghị án. Thứ Năm, họ điệu Người đến tổng trấn Phi-la-tô và đêm hôm ấy Người bị giam tại dinh tổng trấn. Sáng thứ Sáu, họ tố cáo Người trước Phi-la-tô, nhưng không đưa ra được chứng cứ nào xác thực. Họ đã làm chứng gian buộc tội Người và đòi Phi-la-tô xử tử Người. Cũng vào thứ Sáu, Người chịu đóng đinh” (cap. XXI).

Thánh Victorinô Pettau ở Stiria (+304) thì viết : “Chúa Ki-tô đã bị bắt vào ngày thứ Tư. Để tưởng niệm Người bị giam cầm, chúng tôi giữ chay ngày thứ Tư. Để tưởng niệm Người chịu chết, chúng tôi giữ chay ngày thứ Sáu”.

Thánh Êpiphaniô, giám mục Salamina (+403) cũng viết rằng : “Khi ngày thứ Tư bắt đầu, Chúa đã bị bắt và Người chịu đóng đinh vào thứ Sáu”.

Như vậy, đã tồn tại một truyền thống cổ vào khoảng thế kỷ III ủng hộ giả thuyết cho rằng Đức Giê-su đã dùng bữa tối cuối cùng của Người vào chiều thứ Ba.

Kiên trung đến cùng

Theo truyền thống Gio-an, Hội Thánh vẫn luôn tưởng niệm biến cố Tiệc Ly vào chiều thứ Năm Tuần Thánh.

Một khi chấp nhận lối giải thích mới, phải chăng Hội Thánh cần thay đổi việc cử hành phụng vụ Tuần Thánh ? Hẳn nhiên là không !

Trong đời sống Hội Thánh, phụng vụ nhằm mục đích giáo huấn chứ không phải lịch sử. Cũng như chúng ta vẫn cử hành lễ Giáng Sinh vào ngày 25 tháng 12 dù biết rằng đó không phải là ngày tháng lịch sử chính xác của sự kiện, thì chúng ta cũng vẫn cử hành lễ Tiệc Ly vào chiều Thứ Năm Tuần Thánh.

Cuộc khổ nạn của Đức Giê-su thực tế đã diễn ra trong khoảng thời gian khá dài, mấy ngày chứ không phải chỉ mấy giờ ngắn ngủi. Điều này khẳng định rằng cái chết của Người không phải là một kết cuộc bất ngờ, do một đám đông bị kích động, nóng vội quyết định một số phận, nhưng là cả một tiến trình được sắp đặt hẳn hòi và được chuẩn nhận bởi giới lãnh đạo Do-thái, nhà cầm quyền La Mã và cả dân chúng nữa.

Bộ phim Cuộc khổ nạn của Chúa (The Passion of Christ) dù có bị phê phán là bạo lực và đẫm máu, nhưng có lẽ là gần với những gì thực tế đã diễn ra. Cuộc khổ nạn của Đức Giê-su thực ra bi thảm và hãi hùng hơn những gì chúng ta thường suy niệm. Điều này cho thấy ý chí kiên quyết của Người đi đến cùng cuộc khổ nạn, cho dù người ta đã ra sức hành hạ Người trong suốt bốn ngày ròng rã hòng đánh gục sức chịu đựng của Người.

Là môn đệ của Thầy Giê-su, chẳng lẽ chúng ta lại tự hài lòng vì một vài chốc lát mình đã nhẫn nhục tín trung ?
Vinh Hưng, O.P.

Nguồn: http://kinhthanhchomoinguoi.org
 
[1] Xc. Annie Jaubert, La Date de La Cène, Gabalda, Paris 1957 ; Jésus et le calendriers de Qumran, New Testament Studies, Oct. 1960.

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2016

Dụ ngôn hai con chó sói

Dụ ngôn hai con chó sói

bởi  - 
Dụ ngôn hai con chó sói
Một cụ già rất minh triết ng
ười bản xứ dạy cho cháu mình bài học quan trọng của đời sống:
Trong mỗi người chúng ta có một trận chiến giống như trận chiến giữa hai con chó sói. Một con đại diện cho sự dữ, tâm hồn nó nuôi hận thù, ham muốn, ích kỷ, tham vọng, nói dối… Con kia đại diện cho sự thiện, nó bảo vệ cho hòa bình, tình yêu, hy vọng, sự thiện, lòng tốt, lòng trung tín.
Đứa bé cảm động khi nghe lời ông, nó suy nghĩ một lúc rồi hỏi: “Trong hai con, con nào sẽ thắng?”
Ông vừa mỉm cười vừa trả lời: “Thì con nào mà con nuôi nó đó!”
Marta An Nguyễn sưu tầm

EM ƠI HÃY LẦN HẠT 6 (Thơ)



EM ƠI HÃY LẦN HẠT 6 (Thơ)



Em ơi hãy lần hạt
Hiệp với Mẹ Chúa Trời
Với lời kinh châu ngọc
Chúc tụng Chúa  Ba Ngôi.

Ánh Phục sinh rạng rỡ
Bao niềm vui vỡ òa
Ngày tháng dài tội lỗi
Tình ngập trái tim côi.

Trời cao Chúa trở về
Thiên đàng con ngưỡng vọng
Lòng giữ một lời thề
Yêu Chúa mãi không thôi.

Thần Linh Chúa hiển hiện
Thay đổi trái tim côi
Đổ đầy bao sức sống
Chứng nhân Chúa cứu đời.


Mẹ lên trời vinh hiển
Cả một đời xin vâng
Phó thác cho tình Chúa
Hiệp lòng cứu nhân trần.

Trên thiên đàng cao cả
Mẹ cùng Chúa ngự tòa
Đoàn con nơi dương thế
Nguyện một lòng xin tha.

Em ơi hãy lần hạt
Những lời kinh tình yêu
Cầu Mẹ thương nâng đỡ
Những ước vọng đơn sơ
Nơi dương gian cách trở
Bao cám dỗ mê say
Bao sầu đau tủi nhục …
Xin Mẹ thương chở che.

Em ơi hãy lần hạt
Lần hạt nhé em ơi.

GB. NGUYỄN THÁI HÙNG
31.10.2015

VUI HỌC THÁNH KINH THÁNG TƯ TIN MỪNG PHỤC SINH


VUI HỌC THÁNH KINH
THÁNG TƯ
TIN MỪNG PHỤC SINH

  
TIN MỪNG

Tin Mừng thánh Máccô 16,1-8

1 Vừa hết ngày sa-bát, bà Ma-ri-a Mác-đa-la với bà Ma-ri-a mẹ ông Gia-cô-bê, và bà Sa-lô-mê, mua dầu thơm để đi ướp xác Đức Giê-su.2 Sáng tinh sương ngày thứ nhất trong tuần, lúc mặt trời hé mọc, các bà ra mộ.

3 Các bà bảo nhau: "Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi cửa mộ giùm ta đây? "4 Nhưng vừa ngước mắt lên, các bà đã thấy tảng đá lăn ra một bên rồi, mà tảng đá ấy lớn lắm.5 Vào trong mộ, các bà thấy một người thanh niên ngồi bên phải, mặc áo trắng; các bà hoảng sợ.6 Nhưng người thanh niên liền nói: "Đừng hoảng sợ! Các bà tìm Đức Giê-su Na-da-rét, Đấng bị đóng đinh chứ gì! Người đã trỗi dậy rồi, không còn đây nữa. Chỗ đã đặt Người đây này!7 Xin các bà về nói với môn đệ Người và ông Phê-rô rằng Người sẽ đến Ga-li-lê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người như Người đã nói với các ông."8 Vừa ra khỏi mộ, các bà liền chạy trốn, run lẩy bẩy, hết hồn hết vía. Các bà chẳng nói gì với ai, vì sợ hãi.

1 When the sabbath was over, Mary Magdalene, Mary, the mother of James, and Salome bought spices so that they might go and anoint him.

2 Very early when the sun had risen, on the first day of the week, they came to the tomb.

3 They were saying to one another, "Who will roll back the stone for us from the entrance to the tomb?"

4 When they looked up, they saw that the stone had been rolled back; it was very large.

5 On entering the tomb they saw a young man sitting on the right side, clothed in a white robe, and they were utterly amazed.

6 He said to them, "Do not be amazed! You seek Jesus of Nazareth, the crucified. He has been raised; he is not here. Behold the place where they laid him.

7 But go and tell his disciples and Peter, 'He is going before you to Galilee; there you will see him, as he told you.'"

8 Then they went out and fled from the tomb, seized with trembling and bewilderment. They said nothing to anyone, for they were afraid.


I. HÌNH TÔ MÀU




* Chủ đề của hình này là gì?
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

* Bạn hãy viết câu Tin Mừng thánh Máccô 16,6b

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

II. TRẮC NGHIỆM

01.   Chúa Giêsu chết bao nhiều ngày thì sống lại?
a. 1 ngày
b. 2 ngày
c. 3 ngày
d. 7 ngày

02.  "Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại." Câu nói này của Chúa Giêsu  được trích từ Tin Mừng nào? (Ga 2,19)
a. Tin Mừng thánh Mátthêu
b. Tin Mừng thánh Máccô
c. Tin Mừng thánh Luca
d. Tin Mừng thánh Gioan

03. Người phụ nữ nào đã gặp được Chúa Giêsu  đầu tiên? (Ga 20,1)
a. Bà Maria, mẹ Chúa Giêsu  
b. Bà Gioanna
c. Bà Maria Mácđala
d. Bà Mácta

04. Vị môn đệ nào đã vào bên trong mộ Chúa Giêsu đầu tiên là ai? (Ga 20,6)
a. Ông Tôma
b. Ông Gioan
c. Ông Phêrô
d. Ông Giacôbê

05. Khi hiện ra với các môn đệ, Chúa Giêsu thổi hơi trên các ông và ban gì cho các ông? (Ga 20,19-23)
a. Sự khôn ngoan.
b. Thánh Thần.
c. Ơn hiểu biết
d. Quyền năng làm nhiều phép lạ.

06. Khi nhìn thấy Chúa Giêsu Phục sinh, ai đã thốt lên :"Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con! "?(Ga 20,28)
a. Ông Phêrô
b. Ông Gioan
c. Ông Tôma
d. Ông Giacôbê

07. Đây là môn đệ đã đồng hành với Chúa Giêsu Phục sinh trên đường về làng Emmau: (Lc 24,18)
a. Ông Simêon
b. Ông Lêvi
c. Ông Cơlêôpát
d. Ông Giacôbê

08. Tại đâu, Chúa Giêsu đã hỏi ông Simôn Phêrô : “Con có yêu mến Thầy không” (Ga 21,1-20)
a. Biển Hồ Tibêria
b. Làng Nadarét
c. Thành Giêrusalem
d. Làng Bêtania


09. Tại miền nào, Chúa Giêsu từ giả các ông mà về trời? (Mt 28,16)
a. Miền Galilê
b. Miền Samaria
c. Miền Giuđê
d. Miền Thập Tỉnh

10. Đây là câu nói cuối cùng của Chúa Giêsu trước khi Người về trời : (Mc 16,15)
a.  "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.16 Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án”.
b. "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em."
c. "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng."
d. “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha”



III. Ô CHỮ CHÚA SỐNG LẠI

  

Những gợi ý

01.  Đây là dấu hiệu sẽ đi theo những ai có lòng tin, họ có uống nhằm điều  này thì cũng không sao. (Mc 16,18)

02. Vị tông đồ đã vào mộ Đức Giêsu đầu tiên là ai? (Ga 20,6)

03. Đức Giêsu trao cho các môn đệ một lệnh truyền là hãy đi khắp tứ phương thiên hạ loan báo điều gì cho mọi loài thụ tạo? (Mc 16,15)

04. Theo điều gì Đức Giêsu phải trỗi dậy từ cõi chết? (Ga 20,9)

05. Khi hiện ra với các môn đệ, Đức Giêsu bảo Tôma hãy đặt tay vào đâu? (Ga 20,27)

06. Vị tông đồ vắng mặt khi Đức Giêsu hiện ra với các ông. (Ga 20,24)

07. Khi đứng giữa các môn đệ, Đức Giêsu thổi hơi vào các ông và bảo họ hãy nhận lấy điều gì? (Ga 20,22)

08. Ai đã ban Thánh Thần cho các môn đệ? (Ga 20,22)

09. Thiên thần báo tin Đức Giêsu hẹn gặp các môn đệ tại đâu? (Mc 16,7)

10. Người phụ nữ ra mộ Đức Giêsu sớm nhất là ai? (Mc 16,1)

11. Tại biển hồ Tibêria, người môn đệ nào đã nhận ra Đức Giêsu đầu tiên? (Ga 21,1-8)

Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì?



IV. THỬ TÀI

CHIA 1 THÀNH 4

Ô chữ này được chia làm 4 phần bằng nhau. Mỗi phần nhỏ là 1 nhân vật 5 chữ cái. Bạn hãy xem đó là những ai?



Những gợi ý

01.   Đấng đã trỗi dậy từ cõi chết.
02.   Người phụ nữ ra mộ Chúa Giêsu đầu tiên.
03.  Tại biển hồ Tibêria, người đã nhảy xuống nước bơi vào bờ gặp Chúa Giêsu.
04. Tại biển hồ Tibêria, người nhận ra Chúa Giêsu đầu tiên.



V. CÂU THÁNH KINH HỌC THUỘC LÒNG :

"Đừng hoảng sợ!
Các bà tìm Đức Giêsu Nadarét,
Đấng bị đóng đinh chứ gì!
Người đã trỗi dậy rồi, không còn đây nữa.
Tin Mừng thánh Máccô 16,6

GB. NGUYỄN THÁI HÙNG




Lời giải đáp
VUI HỌC THÁNH KINH
THÁNG TƯ

I. HÌNH TÔ MÀU

* Chủ đề :
Chúa Giêsu phục sinh

* Tin Mừng thánh Máccô 16,6b :

Người đã trỗi dậy rồi


II. TRẮC NGHIỆM

01. c. 3 ngày
02. d. Tin Mừng thánh Gioan (Ga 2,19)
03. c. Bà Maria Mácđala (Ga 20,1)
04. c. Ông Phêrô (Ga 20,6)
05. b. Thánh Thần (Ga 20,19-23)
06. c. Ông Tôma (Ga 20,28)
07. c. Ông Cơlêôpát (Lc 24,18)
08. a. Biển Hồ Tibêria (Ga 21,1-20)
09. a. Miền Galilê (Mt 28,16)
10. a.  "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.16 Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án” (Mc 16,15)


III. Ô CHỮ CHÚA SỐNG LẠI


01. Thuốc độc (Mc 16,18)
02. Phêrô (Ga 20,6)
03. Tin Mừng (Mc 16,15)
04. Kinh Thánh (Ga 20,9)
05. Cạnh sườn (Ga 20,27)
06. Tôma (Ga 20,24)
07. Thánh Thần (Ga 20,22)
08. Đức Giêsu (Ga 20,22)
09. Galilê (Mc 16,7)
10. Maria Mácđala (Mc 16,1)
11. Gioan (Ga 21,1-8)


Hàng dọc : Chúa Sống Lại   

IV. THỬ TÀI


GB. NGUYỄN THÁI HÙNG