Trang

Thứ Tư, 5 tháng 4, 2017

Thánh Vịnh 78 C

Thánh Vịnh 78 C

Tuy dân Israel bất trung như Giavê Thiên Chúa vẫn nhân từ thương xót họ: Tv 78 C

Thánh vịnh 78 là một sáng tác mang ảnh hưởng của trường phái Đệ Nhị Luật và nhắm mục đích  khắc ghi sâu đậm nơi tâm trí những người tham dự phụng vụ bổn phận ghi nhớ các biến cố quá khứ, là các điềm thiêng dấu lạ Thiên Chúa đã làm cho Israel cũng như các bất trung của cha ông, để họ biết lượng định đúng đắn giá trị các kỳ công ấy của Thiên Chúa, tránh xa các bất trung của cha ông, và trung thành với giao ước đã ký kết với Thiên Chúa.

Thánh vịnh gồm phần mở đầu, các câu 2-11; các việc kỳ diệu Thiên Chúa đã làm trong sa mạc, các câu 12-31; sự bất trung của thế hệ cha ông và lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa đối với họ, các câu 32-41; từ các việc kỳ diệu Thiên Chúa thực hiện bên Ai Cập cho tới lúc chiếm được Đất Hưá, các câu 42-52; sự bất trung của dân Chúa và việc Thiên Chúa bỏ rơi dân Israel thời các Thủ Lãnh, các câu 56-64; việc thức tỉnh ơn huệ của Thiên Chúa với sự tuyển chọn vua Đavít, các câu 65-72.

Các câu 32 tới 41 trình bầy thái độ sống bất trung của dân Israel, cũng là sự bất trung của nhân loại trong tương quan đối với Thiên Chúa. Cho dù biết bao nhiêu điềm thiêng dấu lạ Thiên Chúa đã làm cho họ, để thoả mãn những gì họ xin, dân Israel vẫn còn phạm tội (c. 32) và phạm tội nhiều lần (cc. 40-41), khiến cho Thiên Chúa phải đánh phạt họ (c. 33). Việc đánh phạt ấy đưa họ tới chỗ hoán cải (cc. 34-35). Nhưng rất thường khi nó chỉ là sự trở về ngoài môi miệng, chứ không phải từ tận đáy tâm lòng (cc.36-37). Nhưng Thiên Chúa đại độ, lại thương hại tha thứ cho họ, làm nhẹ bớt sự đánh phạt và không huỷ diệt họ hoàn toàn, như tội lỗi của họ đáng bị (cc. 37-39).

“Thế mà dân cứ phạm thêm bao tội lỗi, chẳng buồn tin việc lạ Chúa làm, nên kiếp sống họ, Người diệt đi trong khoảnh khắc, tuổi đời họ, Người chấm dứt thình lình. Khi Chúa giết họ, họ mới đi tìm Chúa,
mới trở lại và mau mắn kiếm Người, mới nhớ rằng: Thiên Chúa là núi đá họ ẩn thân, Thiên Chúa Tối Cao là Đấng cứu chuộc họ. Miệng họ phỉnh phờ Chúa, lưỡi họ lừa dối Người; còn lòng dạ chẳng chút gì gắn bó, chẳng trung thành giữ giao ước của Người. Nhưng Người vẫn xót thương, thứ tha, không tiêu diệt, nén giận đã bao lần, chẳng khơi bùng nộ khí.  Chúa nhớ rằng: thân phận chúng: bọt bèo mỏng mảnh, gió thoảng qua, không hẹn ngày về. Trong sa mạc, bao lần dân làm phản, trêu giận Người giữa chốn hoang vu. Khiêu khích Chúa, họ thử đi thách lại, làm cực lòng Đức Thánh của Ít-ra-en,  không còn nhớ tay quyền năng của Chúa, quên ngày Chúa cứu khỏi ách quân thù.

“Họ còn phạm tội”: tác giả thánh vịnh có trong trí tất cả dây xích tội bất trung và các vụ nổi loạn mà dân Israel đáp trả lại lòng quảng đại của Thiên Chúa trong sa mạc, cách riêng các vụ nổi loạn tiếp theo phép lạ chim cút như kể trong chương 11 sách Dân Số, và sau vụ thám thính Đất Hứa như kể trong chương 13 cùng sách.

“Người đánh tan các ngày của họ”: ám chỉ sự cương quyết của Thiên Chúa làm cho toàn thế hệ Israel ra khỏi Ai Cập chết hết trong sa mạc, mà không được vào Đất Hứa như viết trong chương 14 sách Dân Số: “Giavê lại phán với ông Mô-sê và ông A-ha-ron: "Cho tới bao giờ cái cộng đồng hư đốn này cứ tiếp tục lẩm bẩm kêu trách Ta? Ta đã nghe thấy toàn những lời cằn nhằn, đám con cái Ít-ra-en này cứ lẩm bẩm chống Ta. Ngươi hãy nói với chúng: Ta thề -sấm của Giavê - Ta sẽ xử với các ngươi như lời các ngươi kêu thấu tai Ta. Trong sa mạc này, thây các ngươi sẽ ngã gục: trong các ngươi, tất cả những người đã được kiểm tra đăng ký, từ hai mươi tuổi trở lên, mà đã cằn nhằn chống Ta, không một ai sẽ được vào đất mà Ta đã giơ tay thề sẽ đưa các ngươi vào cư ngụ, ngoại trừ Ca-lếp, con của Giơ-phun-ne, và Giô-suê, con của Nun. Còn các trẻ con mà các ngươi cho rằng sẽ bị bắt làm chiến lợi phẩm, thì Ta sẽ đưa chúng vào, và chúng sẽ được biết đất các ngươi đã chê bỏ. Còn các ngươi, thây các ngươi sẽ ngã gục trong sa mạc này. Và con cái các ngươi sẽ đi lang thang trong sa mạc bốn mươi năm, chúng sẽ mang lấy tội phản bội của các ngươi cho tới khi tất cả các ngươi thành thây ma trong sa mạc. Theo số ngày các ngươi đã đi do thám đất -bốn mươi ngày- mỗi ngày tính là một năm, các ngươi sẽ phải gánh chịu tội ác của các ngươi bốn mươi năm, và các ngươi sẽ biết Ta trừng phạt những kẻ bất tuân như thế nào.” (Ds 14,26-34).

“Chỉ có Thiên Chúa là Đá Tảng của chúng”: là biểu tượng diễn tả Thiên Chúa là sự cứu thoát và ơn cứu độ hay được nhắc tới trong các thánh vịnh. Tác giả thánh vịnh 18 cầu nguyện với Chúa: “Lạy Giavê là núi đá, là thành luỹ, là Đấng giải thoát con; lạy Thiên Chúa con thờ, là núi đá cho con trú ẩn, là khiên mộc, là Đấng cứu độ quyền năng, là thành trì bảo vệ.” (Tv 18,3). Đó cũng là hình ảnh được nhắc tới trong chương 32 sách Đệ Nhị Luật ghi lại bài ca của ông Môshê: “Người là Núi Đá: sự nghiệp Người hoàn hảo, vì mọi đường lối Người đều thẳng ngay. Chúa tín thành, không mảy may gian dối, Người quả là chính trực công minh… Giơ-su-run mập ra, nó hất chân đá hậu -ngươi mập, béo, phát phì- nó đã bỏ Thiên Chúa, Đấng đã làm ra nó, Núi Đá độ trì nó, nó đã khinh thường… Núi Đá sinh ra ngươi, ngươi lại coi thường, ngươi quên Thiên Chúa, Đấng đã sinh ra ngươi… Làm sao một người đuổi được một ngàn người, và hai người khiến mười ngàn người trốn chạy, nếu không phải vì Núi Đá của chúng đã bán chúng đi, và Giavê đã nộp chúng rồi?  Vì núi đá của chúng không phải như Núi Đá của chúng ta. Chính kẻ thù chúng ta đều công nhận.” (Đnl 32,4.15.18.30.31).

“Chúng phỉnh phờ Người với cái miệng chúng”: diễn tả thái độ sống đạo giả dối, hời hợt bề ngoài của dân Do thái, trong khi tâm lòng họ thì xa Ngài.

“Ngài đã tỏ ra thương xót”: đây là hình ảnh của Thiên Chúa của cuộc  Xuất hành, như viết trong chương 34 sách Xuất Hành: “Giavê! Giavê! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín, giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ, chịu đựng lỗi lầm, tội ác và tội lỗi, nhưng không bỏ qua điều gì” (Xh 34,6-7). Chính với Ngài mà ông Môshê đã bầu cử cho dân Israel khi họ nổi loạn khiến cho Giavê muốn tiêu diệt họ như kể trong chương 14 sách Dân Số. Và Thiên Chúa đã xót thương không tiêu diệt họ.

“Người nhớ rằng chúng chỉ là thịt xác”: việc nhớ lại loài người mỏng giòn phải chết khiến cho Thiên Chúa nhân từ với dân Israel. Tác giả thánh vịnh 103 cũng ghi nhận: “Người quá biết ta được nhồi nắn bằng gì, hẳn Người nhớ: ta chỉ là cát bụi. Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi, tươi thắm như cỏ nội hoa đồng, một cơn gió thoảng là xong, chốn xưa mình ở cũng không biết mình.” (Tv 103,14-16). “Con người là cơn gió thoảng qua và không trở lại”: đó cũng là nhận xét của tác giả thánh vịnh 39: “"Lạy Giavê, xin dạy cho con biết: đời sống con chung cuộc thế nào, ngày tháng con đếm được mấy mươi, để hiểu rằng kiếp phù du là thế. Ấy tuổi đời con, Chúa đo cho một vài gang tấc, kiếp sống này, Chúa kể bằng không. Đứng ở đời, thật con người chỉ như hơi thở, thấp thoáng trên đường tựa bóng câu. Công vất vả ngược xuôi: làn gió thoảng, ky cóp mà chẳng hay ai sẽ hưởng dùng…Chúa trị tội nhằm sửa dạy con người, điều họ tha thiết, Ngài làm tiêu tan như mối đục, thật con người chỉ như hơi thở… Xin ngoảnh mặt đi cho lòng con thanh thoả, trước lúc thân này phải ra đi và không còn nữa” (Tv 39,5-7.12.14).

“Dấng Thánh của Israel”: là tước hiệu của Thiên Chúa, thường xuất hiện trong các lời tiên tri của ngôn sứ Isaia, vắng bóng trong sách Đệ Nhị Luật, chỉ tái xuất hiện ở đây và trong hai thánh vịnh 71,22 và 89,19.

Các câu 42-55 của thánh vịnh 78 trình bầy các bất trung của Israel đuợc dẫn nhập bởi việc xưng thú lỗi lầm. Đoạn này là diễn văn kỷ niệm nhắc lại việc Thiên Chúa giải phóng dân được tuyển chọn khỏi kiếp sống nô lệ bên Ai Cập, “với cánh tay mạnh mẽ”. Việc giải phóng ấy truớc hết được nhìn trong các phép lạ tai ương nổi tiếng đã khiến cho Pharao Ai cập áp bức dân Do thái phải để cho họ ra đi (cc.43-51) và sau cùng dân Israel tới “núi gia nghiệp” tức là Đất Hứa (cc. 54-55).

“Khi Người tung ra những điềm thiêng bên Ai-cập và bao dấu lạ trong cánh đồng Xô-an. Kìa nước sông nước suối, Người biến ra máu hồng, khiến cho dân Ai-cập không thể nào uống nổi. Người sai mòng đến cắn, ếch nhái làm tan hoang, cào cào ăn lúa má, châu chấu phá mùa màng; mưa đá huỷ vườn nho, sương muối diệt cây vả, dịch tàn sát chiên dê, thời khí hại bò lừa. Người trút lửa giận lên đầu dân Ai-cập, nào lôi đình, nào thịnh nộ với gian truân, đó là cả một đạo hung thần. Người để cho cơn giận tung hoành mặc sức, sinh mạng chúng, Người chẳng dung tha, nhưng bắt phải chết vì dịch tễ. Người giết mọi con đầu lòng Ai-cập, là tinh hoa của dòng giống họ Kham. Còn dân Chúa, Người dẫn đi như thể đàn cừu, đem họ vào sa mạc chẳng khác bầy chiên, đưa họ đi an toàn, chẳng có chi phải sợ, nhưng quân thù họ bị biển khơi chôn vùi. Chúa đưa dân vào miền thánh địa là vùng núi non tay Người đã chiếm. Trước mặt họ, Người đuổi dân ngoại đi, đo đất chia làm phần gia sản, cấp cho mọi chi tộc Ít-ra-en, để họ tới dựng lều cư ngụ.”

“Người đã làm các điềm lạ bên Ai Cập”: loan báo đề tài chính của đoạn này là miêu tả các tai ương Thiên Chúa giáng xuống trên Pharao và dân Ai Cập, như kể trong sách Xuất Hành chương 7 câu 14 tới chương 11 câu 10.

“Người đổi sông ngòi của chúng thành máu”: Đó là tai ương thứ nhất (Xh 7,14-25). “Gửi ruồi nhặng tới”: là tai ương thứ 4 (Xh 8,16-20) sau ếch nhái là tai ương thứ hai (Xh 7,6-8,10) và muỗi. “Trao mùa màng của chúng cho cào cào chấu chấu ăn sạch là tai ương thứ 8 (Xh 10,1-19). “Ngài tàn phá với mưa đá” là tai ương thứ 7 (Xh 9,13-25), “Ngài giao chúng cho ôn dịch ” là tai ương thứ 5 (Xh 9,9.11). “Ngài để cho cơn giận tung hoành mặc sức …qua việc gửi các sứ giả của huỷ diệt “ là giết con đầu lòng của chúng là tai ương thứ 10 (Xh 11,1-6; 12,9). Các sứ giả tai họa chắc hẳn đây là việc khuếch đại văn chương hay thơ văn gương mặt của thiên thần tàn sát, hay Thần Tru Diệt như được nhắc tới trong sách Xuất Hành chương 12 câu 23.

“Đất Kham” là từ cổ xưa ám chỉ Ai Cập (Tv 105,23.27; 106,12).

“Ngài đem dân đi như một đàn chiên và dẫn nó tới nơi chắc chắn”: Sau tai ương cuối cùng Pharaô xin dân Israel mau mau ra khỏi Ai Cập. Và con đường hướng tới tự do được miêu tả như nơi an ninh. Khi quan quân Ai Cập đuổi theo dân chúng sợ hãi kêu lên Giavê, và Ngài đã ra tay can thiệp khiến quân binh của Pharaô phải chết chìm trong Biển Đỏ.
“Ngài làm cho họ đến được miền đất thánh thiện”: là lược đồ tổng kết của biến cố Xuất hành, từ Biển Đỏ cho tới Đất hứa, và bỏ qua các chặng ở giữa đã được nhắc tới trong phần trước của thánh vịnh. Đây cũng là lược đồ trong bài ca của ông Môshê sách Xuất Hành chương 15: “Còn dân đã chuộc về, Ngài yêu thương dìu dắt, lấy quyền lực dẫn đưa tới đất thiêng Ngài ngự… Ngài cho dân tiến vào, định cư họ trên núi, núi gia nghiệp của Ngài. Lạy Giavê, chính nơi đây Ngài chọn làm chỗ ở, đây cũng là đền thánh tự tay Ngài lập nên.” (Xh 17,13.17).

“Miền đất thánh” là Đất Hứa và nủi là núi Sion, nơi Thiên Chúa chọn làm nơi ngự trị. Chúa đánh đuổi các dân ở đây là các dân tộc Canaan, như cỏ xấu hay cây không sinh trái, bị Thiên Chúa bứng đi để lấy chỗ làm vườn nho của Ngài (Tv 80,9-10)

TV 78 C
Linh Tiến Khải


Tín lý “de fide” và lời yêu cầu tha thiết của một giáo dân về “Amoris Laetitia”

Tín lý “de fide” và lời yêu cầu tha thiết của một giáo dân về “Amoris Laetitia”

Tác giả: 
 Vũ Văn An

E. Christian Brugger là một giáo dân hoạt động trong lãnh vực đạo đức sinh học, từng giữ ghế Giáo Sư Thần Học Luân Lý tại Chủng Viện Thần Học Thánh John Vianey ở Denver, Colorado, Hoa Kỳ và hiện là Giáo Sư và Khoa Trưởng Trường Triết Học và Thần Học của Đại Học Notre Dame Australia, Sydney, Úc Châu.

Mới đây, ông có nêu vấn đề tại sao có sự hồ đồ lẫn lộn trong Giáo Hội hiện nay về Amoris Laetitia, và đâu là các hậu quả đối với việc hợp nhất của Giáo Hội? Và ông cho rằng sự hồ độ lẫn lộn này, xét cho cùng, là về hai tín điều “de fide” trong đức tin Kitô Giáo và một trong các hậu quả của sự hồ đồ lẫn lộn này chính là một ly giáo trên thực tế trong Giáo Hội Công Giáo.

Brugger cho rằng khi thuật ngữ “de fide” được dùng trong thần học Công Giáo để nói về một tín lý, thì nó có nghĩa một chân lý thuộc Mạc Khải Thiên Chúa. Hạn từ Mạc Khải Thiên Chúa có ý nói tới các chân lý được Thiên Chúa chọn để tự mạc khải Người và thánh ý Người cho nhân loại để hòa giải thế giới với chính Người, ngõ hầu con người nam nữ có thể sống kết hợp với Người một cách bất toàn ở đời này và, sau khi chết và phán xét, được sống hoàn toàn với Người trên thiên đàng. Như thế, Giáo Hội coi các tín lý “de fide” là cần thiết cho sự cứu rỗi. Vị thế của chúng trong giáo huấn Công Giáo là không thể sửa đổi. Và cách thế công bố chúng là vô ngộ.

Trong bài này, Brugger đề cập tới 3 vấn đề. Thứ nhất, ông dẫn nhập và giải thích ý niệm thần học “các đối tượng đệ nhị đẳng của vô ngộ” và cho thấy gần như mọi chân lý thuộc các vấn đề tính dục do Giáo Hội Công Giáo giảng dạy thuộc loại các đối tượng đệ nhị đẳng của vô ngộ này, và do đó, có thể gọi một cách chính đáng là các tín lý “de fide”. Thứ hai, bắt đầu từ sự bất đồng trong nội bộ Giáo Hội đối với thông điệp Sự Sống Con Người, Giáo Hội Công Giáo đã sống trong tình trạng thiếu hợp nhất đối với các tín lý “de fide” và sự thiếu hợp nhất này đã gia tăng hẳn do các vấn đề của Amoris Laetitia gây ra. Thứ ba, tác giả đề nghị một số gợi ý thực tiễn để cả hàng giáo phẩm lẫn hàng giáo dân có thể giải quyết cơn khủng hoảng này.

Các đối tượng đệ nhị đẳng của vô ngộ 

Các văn kiện của Công Đồng Vatican II dạy rằng Chúa Giêsu muốn thẩm quyền vô ngộ của Giáo Hội Công Giáo, khi bênh vực và giảng dậy các chân lý của mạc khải Thiên Chúa (cũng gọi là “kho tàng đức tin”) phải mở rộng không những tới các chân lý mạc khải chính thức, mà cả các chân lý nhất thiết có liên hệ với các chân lý của mạc khải Thiên Chúa, cho dù các chân lý này chưa bao giờ được đề xuất như là được mạc khải một cách chính thức. Các chân lý này có thể được giảng dậy cách vô ngộ vì chúng cần thiết đối với việc bảo vệ về tôn giáo và trình bầy cách trung thành các chân lý của mạc khải Thiên Chúa (Lumen Gentium, số 25). Các chân lý này, đôi khi, được gọi là “các đối tượng đệ nhị đẳng” của vô ngộ, tương phản với “các đối tượng đệ nhất đẳng” tức các chân lý được mạc khải chính thức.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong Tông Thư năm 1998 nói rằng Giáo Hội không những sở hữu các chân lý đệ nhất đẳng của mạc khải Thiên Chúa nhờ linh hứng của Chúa Thánh Thần, mà còn sở hữu các đối tượng đệ nhị đẳng của vô ngộ nhờ “linh hứng đặc thù của Thần Trí Thiên Chúa”. Trong lời chú giải của ngài, Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, lúc ấy là bộ trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, viết rằng khi so sánh với các tín lý được mạc khải chính thức, “không có sự khác nhau nào về đặc tính trọn vẹn và không thể thay đổi trong sự tín phục (assent) phải có đối với các giáo huấn này”. Đức Hồng Y Ratzinger quả quyết rằng sự tín phục dành cho các chân lý này “dựa vào đức tin nơi ơn trợ giúp của Chúa Thánh Thần đối với Huấn Quyền và dựa vào tín lý Công Giáo về ơn vô ngộ của Huấn Quyền”. Như thế, giống các chân lý được mạc khải chính thức, các chân lý này cũng phải được sự tín phục của đức tin, cho dù người ta hiểu rằng chúng không có sự trợ giúp của mạc khải Thiên Chúa.

Dù “tín lý de fide”, thông thường (chứ không luôn luôn), vốn dành cho các giáo huấn được Giáo Hội xác định là đã được mạc khải chính thức, nhưng điều không kém đúng là các giáo huấn Công Giáo chuyên biệt nói về các đối tượng đệ nhị đẳng của vô ngộ cũng là các tín lý de fide, như Đức Hồng Y Ratzinger từng gọi chúng: “các tín lý phải được tin bằng đức tin [de fide tenenda]”. Bộ Giáo Luật qui định rằng chúng “phải được chấp nhận và tin giữ một cách chắc chắn” và bất cứ ai bác bỏ chúng “là tự đặt mình vào thế chống lại giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo” (Điều 750 §2).

Các tín lý luân lý về tính dục và hôn nhân 

Các qui luật luân lý về tính dục và hôn nhân được Giáo Hội Công Giáo giảng dậy thuộc cả hai loại đối tượng đệ nhất và đệ nhị đẳng của vô ngộ. Các đối tượng đệ nhất đẳng bao gồm các chân lý được giảng dậy minh nhiên trong Mạc Khải Thiên Chúa, như cấm không được ngoại tình và đặc tính bất khả tiêu của hôn nhân; các đối tượng đệ nhị đẳng bao gồm các giáo huấn về tính dục và hôn nhân vốn được Giáo Hội giảng dậy từ thời các tông đồ như là phải tin một cách định tín (definitively). Những giáo huấn này, do cung cách chúng được đề xuất, phải được coi như là được giảng dậy một cách vô ngộ bởi Huấn Quyền Thông Thường và Phổ Quát của Giáo Hội, là thẩm quyền giảng dậy một cách vô ngộ khi các giám mục “dù tản mác khắp thế giới, nhưng vẫn duy trì sợi dây hiệp thông với nhau và với vị kế nhiệm Thánh Phêrô, giảng dậy một cách chân chính về một vấn đề đức tin và luân lý (res fidei et morum), nhất trí cùng một phán đoán (về vấn đề này) và giảng dậy phán đoán này như là phải được tin giữ một cách định tín (definitive tendendam)”.

Không thể có sự hoài nghi hữu lý nào về việc các giáo huấn của Giáo Hội về bối cảnh đặc biệt của hôn nhân dành cho việc biểu lộ tính dục dục quan chính đáng và tính sai lạc của mọi hình thức tính dục phi hôn nhân tự ý chọn lựa (như thủ dâm, giao hợp ngoài hôn nhân, các hành vi đồng tính luyến ái, các hành vi ngừa thai v.v…) vốn đã được các giám mục giảng dậy trong một nhất trí phổ quát, mọi thời và mọi nơi, rằng chúng rõ ràng liên hệ tới phúc lợi mau qua và trường cửu của tín hữu, và do đó phải tin giữ một cách định tín (definitive tendendam). Sự kiện người Công Giáo, trong các thời gần đây, bác bỏ một số hay tất cả các giáo huấn không hề đánh đổ sự kiện này: các điều kiện cho việc thi hành một cách vô ngộ Huấn Quyền Thông Thường và Phổ Quát đã hội đủ gần như suốt trong lịch sử lâu đời của Giáo Hội.

Thành thử, các chân lý căn bản của đạo đức tính dục được Giáo Hội Công Giáo giảng dậy và bảo vệ đều thuộc một cách hoặc trực tiếp (như các đối tượng đệ nhất đẳng) hoặc gián tiếp (như các đối tượng đệ nhị đẳng) vào kho tàng đức tin và do đó có thể gọi là, và thực sự là, các tín lý de fide.

Một ly giáo chưa được nhìn nhận trong Giáo Hội 

Brugger cho rằng, bắt đầu với việc bất thuận đối với việc Giáo Hội Công Giáo tái khẳng định giáo huấn cổ xưa của mình về sự sai lầm của việc giao hợp cố tình ngừa thai trong Humanae Vitae (1968), và diễn tiến qua việc chấp nhận rộng rãi lối lý luận thực dụng, gọi là “duy tỷ hiệu” (“proportionalist”), trong thần học luân lý Công Giáo của thập niên 1970, nhiều người Công Giáo bắt đầu bác bỏ sự hiện hữu của các hành động vốn xấu từ bản chất (nghĩa là các hành động không bao giờ hợp pháp về phương diện luân lý vì quyết định của chúng luôn mâu thuẫn triệt để với thiện ích của con người nhân bản). Điều này, theo lý, sẽ dẫn người ta tới việc bác bỏ các giáo huấn của Giáo Hội về tính sai lầm của mọi loại sinh hoạt tính dục mà truyền thống vốn coi là xấu từ bản chất. Việc bác bỏ này hiện hữu trong mọi bình diện của Giáo Hội Công Giáo, từ hàng giáo dân tới hàng giáo phẩm, và tỏ ra vừa cương quyết vừa ương ngạnh.

Giáo Hội Công Giáo, do đó, trong nhiều thập niên qua, đã hiện hữu trong một tình huống thiếu hợp nhất khách quan và trầm trọng về các vấn đề tín lý de fide. Nói cách khác, theo Brugger, Giáo Hội Công Giáo đã và đang sống trong trạng thái ly giáo trên thực tế (de facto).

Mơ hồ lẫn lộn, thiếu hợp nhất, và Amoris Laetitia

Theo Brugger, có sự mơ hồ lẫn lộn trong Giáo Hội Công Giáo về Tông Huấn Amoris Laetitia vì một số vị giám mục nói và đưa ra chính sách trong giáo phận của các ngài rằng các người ly dị tái hôn, trong một số trường hợp, có thể được lãnh nhận Phép Thánh Thể mà không cần phải cương quyết sống tiết dục hoàn toàn với người bạn tình của mình. Một số vị giám mục khác, vì muốn giữ sự liên tục với truyền thống Công Giáo, nên đã chủ trương rằng điều này không hợp pháp và không thể hợp pháp được.

Các vấn đề về tín lý de fide do các lối giải thích trái ngược nhau này tạo ra là tính sai lầm từ bản chất của việc ngoại tình và tính bất khả tiêu tuyệt đối của hôn nhân Kitô Giáo; cả hai tính này đều đã được quả quyết một cách vô ngộ bởi Thánh Kinh và Thánh Truyền. Nếu các tín lý này đúng, thì người nào đã ly dị mà lại tích cực về phương diện tính dục với một người khác không phải là người phối ngẫu hợp pháp của mình trong khi người này còn sống, là phạm tội ngoại tình.

Dù Đức Hồng Y Kasper, và các vị giám mục khác bênh vực việc cho phép những người ly dị tái hôn được rước lễ, có khẳng định tính sai lầm của ngoại tình và tính bất khả tiêu của hôn nhân, nhưng xem ra việc khẳng định của các vị này bất tương hợp với việc cho phép rước lễ mà họ vốn bênh vực. Vì không ai trong tình trạng làm bậy nghiêm trọng một cách khách quan tỏ tường nhưng không chịu ăn năn lại có thể được tự do lãnh nhận Thánh Thể, từ tay một linh mục hay một giám mục hay bất cứ ai khác, vì “tình trạng và hoàn cảnh sống của họ mâu thuẫn một cách khách quan với sự kết hợp yêu thương giữa Chúa Kitô và Giáo Hội vốn được Phép Thánh Thể biểu tượng và thể hiện” (Familiaris Consortio). Do đó, họ không được làm bất cứ điều gì sai lầm một cách khách quan.

Nhiều vị giám mục nhìn nhận sự mâu thuẫn trên và do đó chống lại việc cho phép rước lễ. Nhưng các vị khác tin rằng không có tranh chấp nào cả, nên đã cho rước lễ.

Như thế, hàng giáo phẩm hiện đang ở trong tình trạng thiếu hợp nhất một cách nghiêm trọng về các vấn đề thuộc kho tàng đức tin. Nói cách khác, Giáo Hội Công Giáo đang sống trong cảnh ly giáo trên thực tế. Sự tranh cãi chung quanh Amoris Laetitia không phải là nguyên nhân của sự thiếu hợp nhất này vì sự thiếu hợp nhất này vốn đã có từ nhiều thập niên qua. Nhưng cuộc tranh cãi này duy trì sự chia rẽ và làm cho sự chia rẽ ra sâu xa hơn một cách đáng kể. Nó làm sâu xa hơn vì Đức Giáo Hoàng đã bênh vực một lập trường ngược với giáo huấn muôn đời của Giáo Hội.

Các nghĩa vụ của Tòa Thánh 

Vậy Đức Thánh Cha phải làm gì? Theo Brugger, ngài nên chỉ thị cho Đức Hồng Y Müller của thánh bộ Giáo Lý Đức Tin trả lởi năm câu hỏi do các vị Hồng Y Brandmüller, Burke, Caffara, và Meisner đệ trình. Việc này sẽ giúp làm sáng tỏ một số mơ hồ lẫn lộn có hại do chương tám của Amoris Laetitia nêu ra. Sau đó, ngài nên giảng dậy một cách rõ ràng và có thẩm quyền điều gì là đúng trong các vấn đề có liên quan tới luân lý tính dục vốn khiến người ta hoài nghi và mơ hồ kể từ lúc bắt đầu triều giáo hoàng của ngài. Ngài nên dạy rằng mỗi và mọi cuộc hôn nhân Kitô đã hoàn hợp thì tuyệt đối bất khả tiêu; mọi hình thức tự ý làm tình ngoài hôn nhân đều luôn luôn sai lầm, nhất là ngoại tình, và cả các hành vi đồng tính luyến ái, ngừa thai, thủ dâm, gian dâm; giao hợp tính dục với một người không phải là người phối ngẫu hợp pháp của mình luôn luôn là ngoại tình; ai còn bị ràng buộc bởi sợi dây hôn phối và sống với một người khác theo kiểu vợ chồng, đều rơi vào tình trạng ngoại tình; và người như thế phải tự chế đừng Rước Lễ trừ khi và cho tới khi xưng thú ăn năn các hành vi lỗi lầm của mình và quyết tâm sống thanh khiết.

Sau cùng, biết rằng hàng giám mục đang chia rẽ về các tín lý de fide thuộc luân lý, ngài nên hướng dẫn các giám mục anh em của ngài thành thực đối diện với cuộc khủng hoảng lần này trong Giáo Hội và quyết tâm nhất định vượt qua nó. Ngài nên triệu tập một Thượng Hội Đồng mật chỉ bao gồm các giám mục thế giới mà thôi ở Assisi hay Castel Gandolfo hay tại một địa điểm khác, không bị ai chú ý, không truyền thông, không chuyên viên, không quan sát viên đại kết, … với chủ đề là sự hợp nhất hàng giám mục trong các vấn đề luân lý. Không nên giới hạn thời gian cho Thượng Hội Đồng này, cứ để nó kéo dài bao lâu cần thiết. Ngài nên ngỏ lời với các anh em của ngài trong tình bác ái, không la mắng hay bóng gió, về việc sẽ tai hại biết chừng nào cho phần rỗi các linh hồn khi các vị kế nhiệm các tông đồ không hợp nhất về các vấn đề de fide.

Brugger tha thiết mong rằng vừa như một người cha đối với con cái vừa như một người anh đối với anh em, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nên khuyên nhủ mọi người bỏ qua một bên các cử chỉ nhỏ mọn và không có tinh thần Kitô Giáo, mọi tật xấu và ngu muội tự ái, và mọi biểu hiện của tinh thần bè phái, ăn năn vì các chia rẽ mà các ngài đáng lẽ nên nói tới từ lâu, và cam kết dấn thân cho mục tiêu chung là hợp nhất hàng giám mục. Ngài nên để, chứ không chỉ nói sẽ để, cho các anh em giám mục của ngài tự do đề cập tới các vấn đề bất đồng mà không sợ bị trả đũa. Ngài nên dùng tính ấm áp Á Căn Đình ngoại hạng của ngài để thuyết phục anh em giám mục của ngài thực sự mong muốn hợp nhất trong hàng giám mục; thúc giục các ngài tự do và thành thực nói với nhau; và làm dễ dàng sự đồng thuận về bất cứ thỏa thuận nào cần đạt tới. Sự hợp nhất mà ngài đang cố gắng hướng tới, sự hợp nhất mà ngài nhấn mạnh không nên mở rộng quá các vấn đề thuộc kho tàng đức tin, bằng cách nhấn mạnh rằng Giáo Hội cho phép sự đa dạng ở mọi điều khác, và ngài là người đầu tiên phải làm gương điều này cho mọi anh em của ngài.

Sau cùng, Brugger tha thiết xin ngài sẵn lòng làm bất cứ điều gì cần thiết, kể cả hy sinh tính mạng, để làm dễ dàng nơi các giám mục Công Giáo lời khẩn cầu lúc gần chết mà Chúa Giêsu đã ngỏ cùng Cha của Người: “Xin cho chúng nên một”.

Các nghĩa vụ của tín hữu giáo dân 

Người giáo dân Công Giáo thì phải làm gì? Brugger nghĩ rằng họ nên đào luyện lương tâm của họ cho phù hợp với các chân lý luân lý định tín được Giáo Hội Công Giáo giảng dạy, nhất là các qui luật đạo đức tính dục và các giáo huấn về hôn nhân. Họ nên thấy rằng mọi qui luật tiêu cực (“ngươi đừng”) được Giáo Hội bênh vực nhất thiết hàm nghĩa một điều sự thiện tích cực được qui luật này bảo vệ và cổ vũ (thí dụ: ta không nên sát hại trẻ thơ vì sự sống là một sự thiện vĩ đại). Họ cần thấy hơn bao giờ hết rằng các giáo huấn về tính bất khả tiêu tuyệt đối của hôn nhân và việc ngăn cấm ngoại tình không phải là các qui luật của câu lạc bộ, mà là các chân lý luân lý hàm ý trong sự thiện vĩ đại của hôn nhân Kitô Giáo. Chúa Giêsu muốn hôn nhân là một sacramentum (dấu chỉ hay biểu tượng do Thiên Chúa thiết lập) của tình yêu tuyệt đối bất khả tiêu giữa Người và Giáo Hội; như thế, hôn nhân Kitô giáo một khi đã hoàn hợp thì tuyệt đối bất khả tiêu; ly dị không những sai, mà còn bất khả nữa: như Chúa Giêsu không thể nào ly dị khỏi Giáo Hội của Người thế nào, thì một người đàn ông cũng không thể ly dị khỏi người vợ đã thành sự của mình như vậy. Thành thử, nếu người này làm tình với bất cứ ai khác, vì bất cứ lý do gì, được xã hội chấp nhận ra sao, khi người vợ đã thành sự của họ còn sống, thì họ là người ngoại tình. Giống mọi tội khác, ngoại tình có thể tha thứ được; nhưng để được tha thứ, đòi phải ăn năn cách trọn (contrition) và cương quyết tránh xa tội lỗi. Đó là các chân lý luân lý Kitô Giáo; và chúng là các tín lý de fide của Giáo Hội Công Giáo.

Hơn nữa, theo Brugger, người Công Giáo không nên để cho nỗi lo lắng trước tình thế hiện nay làm lung lay đức tin của họ vào lời Chúa Giêsu hứa sẽ gìn giữ Giáo Hội khỏi các sai lầm đáng kết án và cung cấp cho ta con thuyền đáng tin cậy cho phần rỗi các linh hồn. Họ không nên rơi vào cơn cám dỗ của Wycliffe, Luther, hay Zwingli dùng các thất vọng của họ đối với các chức sắc của Giáo Hội, dù có lý, để chống lại chính Giáo Hội của Chúa Kitô. Họ nên hiểu ra rằng Giáo Hội từng chịu đau khổ từ bên ngoài và từ bên trong rất nhiều lần trong các thế kỷ, và so với các giai đoạn khác trong lịch sử, như thế kỷ thứ tư với lạc giáo Ariô, thế kỷ 14 với cuộc Đại Ly Giáo, Chế Độ Khủng Bố Pháp, Kulturkampf Đức, thì các nan đề của Giáo Hội hiện nay khá nhẹ.

Thêm vào đó, mọi người Công Giáo đã chịu phép rửa nên nhất quyết sống như một vị thánh. Chỉ một số rất ít các vị thánh được khắc hình trên các cửa sổ kính mầu. Số đông còn lại không bao giờ được chú ý hay nổi tiếng đủ để được bộ phong thánh của Rôma lưu tâm. Nhưng các ngài đã làm hết sức để biện phân và tuân theo ý Chúa Giêsu mỗi ngày, bằng cách quay lưng khỏi việc tự yêu mình cách sai lầm, khỏi tham vọng bác bỏ, thanh thản chấp nhận bị nhục mạ, ăn năn mọi tội lỗi biết được, nói không với mọi khuynh hướng nghĩ đến hoặc hành động dựa vào các thèm muốn tính dục ngoài hôn nhân, quay lưng khỏi những giận dữ vô chừng, và bác bỏ, bác bỏ, bác bỏ thứ ngôn ngữ xã hội phi Thiên Chúa về tính dục, phái tính, và hôn nhân do não trạng thế tục hiện đại cổ vũ.

Mọi người Công Giáo cần được xác tín rằng việc canh tân xã hội và Giáo Hội bắt đầu với chính họ. Trong lịch sử, canh tân hầu như chưa bao giờ diễn ra từ trên xuống dưới, từ ngôi vị giáo hoàng và Rôma, mà đúng hơn, từ dưới lên trên. Nó diễn ra khi các Kitô hữu nhất quyết sống thực đức tin vào Chúa Kitô và cố gắng học biết sức mạnh sự phục sinh của Người, kiên nhẫn chia sẻ các đau khổ của Người để có thể đạt tới sự phục sinh mà Người đã hứa hẹn.

Sau cùng, họ nên cầu nguyện cho sự hợp nhất của hàng giám mục.

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2017

Phỏng vấn thầy Enzo Bianchi về lời cầu nguyện

Phỏng vấn thầy Enzo Bianchi về lời cầu nguyện

Trong những ngày vừa qua nhà in Vaticăng đã cho phát hành cuốn sách tựa đề: “Khí giới tốt nhất, lời cầu nguyện theo ĐGH Phanxicô”, do ĐHY Luis Antonio Tagle, TGM Manila đề tựa. Sách gồm các bài phỏng vấn ĐTC cũng như nhiều Hồng Y, Giám Mục khác nhau, trong đó có ĐHY Angelo Comastri và cha Corrado Maggioni.
Sau đây chúng tôi xin gửi tới quý vị bài phỏng vấn tu sĩ Enzo Bianchi, sáng lập viên cộng đoàn đan tu Bose tỉnh Biella bắc Italia và là tu viện trưởng tu viện này cho tới tháng giêng 2017 vừa qua.

Thầy Enzo Bianchi sinh năm 1943. Sau khi theo học kinh tế tại đại học Torino Enzo thầy rút lui vào cô tịch và cùng với một số bạn bè sống đời cầu nguyện, chiêm niệm và làm việc tay chân kiểu đan tu. Ngày mùng 8 tháng 12 năm 1965 Công Đồng Chung Vaticăng II kết thúc, là ngày khai sinh cộng đoàn Bose tại quận Magnano tỉnh Biella bắc Italia. Từ từ có thêm nhiều tu huynh và nữ tu công giáo và tin lành gia nhập cộng đoàn, được thừa nhận như Hiệp hội tư của các giáo dân. Sau khi củng cố cộng đoàn thầy Bianchi dành thời giờ rao giảng trong cộng đoàn, cũng như các giáo hội địa phương, công giáo cũng như tin lành và chính thống. Đã hai lần thầy được đề nghị thụ phong linh mục nhưng thầy muốn chỉ là một tín hữu kitô thường. Thầy Enzo Bianchi cũng đã cộng tác viết bài cho các nhật báo La Stampa, La Republica, Osservatore Romano, Avvenire, Famiglia cristiana, La Croix, Panorama và La Vie  bên Pháp. Thầy đã là giám đốc nguyệt san “Lời, Thần Khí và Sự Sống” trong 15 năm cho tới năm 2005, và là thành viên ban biên tập nguyệt san quốc tế Concilium. Trong các năm 2008- 2012 thầy được Đức Biển Đức XVI chỉ định làm chuyên viên tham dự Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới về Lời Chúa và Tái truyền giảng Tin Mừng. Năm 2014 thầy được ĐTC Phanxicô chỉ định làm cố vấn Hội đồng Toà Thánh  thăng tiến hiệp nhất các kitô hữu. Thầy đã nhận được nhiều giải thưởng và là tác giả của gần 30 cuốn sách.

Hỏi: Thưa thầy Bianchi, xưa kia người ta nói “cầu nguyện là hít thở”. Ngày nay trên bình diện thiêng liêng dưỡng khí đang ngày càng hiếm. Vậy gọi “lời cầu nguyện là hơi thở của linh hồn” như ĐTC Phanxicô đã nói có nghĩa là gì, và nó đòi hỏi cái gì?

Đáp: Các thế hệ mới có lẽ không còn biết dùng kiểu nói này nữa, cả khi họ cầu nguyện. Ngày này lời cầu nguyện được quan niệm một cách rất khác biệt  với ngày xưa: Nó là một dừng lại, một ngưng nghỉ, một việc suy tư trong chiêm ngắm, nhất là tìm lắng nghe tiếng Chúa nói với con tim. Chắc chắn là lời cầu nguyện vẫn là hơi thở của linh hồn và của cuộc sống nội tâm, chứ làm sao nó có thể là khác được? Nhưng nền nhân chủng học đã thay đổi, thế giới thực tế hơn,  các kiểu và hình thức cầu nguyện cũng đã thay đổi chứ không như trước thời tân tiến nữa.

Hỏi: Với việc thay đổi thời đại lời cầu nguyện vẫn là kiểu diễn tả bẩm sinh của tâm tình tôn giáo trong cuộc sống. “Tôi không biết mình có tin hay không tin: nhưng tôi biết là mình cầu nguyện”, nhà văn Tây Ban Nha ông Salvador de Madariaga đã nói như thế. Nhưng nếu như vậy thì đâu có thể là lời cầu nguyện giả thiết của một người vô thần thưa thầy?

Đáp: Ngày nay có nhiều người nói: “Tôi không biết tôi có tin nơi một Thiên Chúa ngôi vị hay không, nhưng tôi cầu nguyện”, trong nghĩa chúng ta nói: dành thời giờ cho sự chiêm niệm, cho việc suy gẫm, trong việc ở với chính mình.
 Đó là điểm đặc thù của con người thuộc mọi truyền thống văn hóa, tinh thần và tôn giáo: tự vấn mình, tự đặt ra các câu hỏi nền tảng, tìm ra một câu trả lời. Có nhiều người vô thần thú thật với tôi rằng trong tận cùng thẳm con người của họ họ lắng nghe tiếng nói của lương tâm, suy niệm, đọc các sách nhân văn, và qua đó họ tìm trả lời cho các câu hỏi nóng bỏng của cuộc sống. Sinh hoạt này chắc chắn giống lời cầu nguyện, và lời cầu nguyện kitô có một đặc thái riêng của nó, khác với các lời cầu nguyện khác.

Hỏi: Như vậy thì đâu là đặc thái của lời cầu nguyện kitô?

Đáp: Đặc thái kitô đó là Thiên Chúa đi trước chúng ta, kiếm tìm chúng ta, nói với chúng ta. Lời cầu nguyện kitô luôn luôn nảy sinh như việc lắng nghe. Đây là điều có giá trị đối với Do thái giáo cũng như Kitô giáo. Trước hết phải lắng nghe Thiên Chúa. Điều phi thường trong đức tin của chúng ta là đó là một Thiên Chúa nói với chúng ta (x. Đnl 4,32-33). Vì vậy bước đầu tiên của lời cầu nguyện kitô là đặt để mình trong tư thế lắng nghe. Từ việc lắng nghe nảy sinh ra đức tin (x- Rm 1,17), nảy sinh ra việc hiểu biết Thiên Chúa, nảy sinh ra tương quan với Ngài. Từ việc lắng nghe nảy sinh ra các lời mà chúng ta có thể nói lại với Ngài.

Hỏi: ĐTC Phanxicô nói rằng: “Cầu nguyện là nói chuyện với Thiên Chúa” (3-4-2014). Thật ra con người luôn luôn quỳ xuống trước Một Ai siêu việt hơn nó. Nhưng mà hướng tới một Quyền Lực không thể gặp được với các tiêu chuẩn nhân lọai, lại không phải là sự điền rồ hay sao thưa tu huynh?

Đáp: Có thể là vậy. Nhưng tôi thích trả lời không phải với các diễn văn lý thuyết mà là với kinh nghiệm cá nhân của tôi. Hồi tôi còn bé, truớc khi đi ngủ mẹ tôi bảo tôi quỳ xuống ở cuối giường và với các lời đơn sơ mẹ tôi làm cho tôi cầu nguyện: xin phúc lành của Chúa, sức khỏe cho người thân, xin gửi Chúa Thánh Thần xuống, và mẹ tôi mời tôi bầy tỏ với Chúa lòng biết ơn và chúc tụng. Vì thế tôi đã quen nói chuyện với một Sự Hiện Diện vô hình. Đàng khác có các thực tại vô hình mà chúng ta tin. Cứ nghĩ tới gió chẳng hạn: nó không có gương mặt, ta cũng không trông thấy nó, nhưng nó là một sự hiện diện mà chúng ta cảm nhận đuợc và tin. Trong lãnh vực của đức tin Thiên Chúa là một sự hiện diện không thể phân định được, không thể trông thấy được, thế mà chúng ta không chỉ tin nơi Ngài, mà cũng có thể nói chuyện với Ngài nữa, tín thác chúng ta cho Ngài và chờ đợi ơn Thần Khí của Ngài.

Hỏi: Tuy nhiên, cầu nguyện không phải giống nhau trong các tôn giáo, Có các khác biệt cả trên bình diện thực hành. Chẳng hạn trong Hồi giáo tín hữu phải cầu nguyện ngày 5 lần, trong khi trong Kitô giáo không có một cấu trúc hằng ngày cứng nhắc như vậy. Đây là một lợi điểm hay một thiếu sót thưa thầy?

Đáp: Đúng vậy nhưng tín hữu phải cho mình vài hẹn hò. Cầu nguyện ban sáng và ban chiều không phải chỉ được thực thi bởi các đan sĩ, nhưng bởi tất cả mọi người. Chỉ cần một tư tưởng cũng là được rồi, vì Kitô giáo thích ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa, suy tưởng trước Thiên Chúa, lắng nghe tiếng Chúa, tập nhìn con người và các biến cố, các sự vật với đôi mắt của Thiên Chúa. Kiểu cầu nguyện này gọi là chiêm niệm, chúng ta có thể thực hành trong mọi lúc, trong mọi hoàn cảnh. Có thể nói với thánh Basileo rằng lời cầu nguyện kitô là một “nhận thức về Thiên Chúa”  hay cảm nhận rằng Thiên Chúa, hay nhận ra rằng Thiên Chúa ở với chúng ta, nhìn chúng ta, và liên lỉ đổ tinh yêu của ngài trên chúng ta. Đó là nòng cốt của lời cầu nguyện kitô, và chắc chắn là không cần phải có một giờ giấc đâu.

Hỏi: “Tất cả những điều này để khi cầu nguyện chúng ta không phung phí nhiều lời như dân ngoại thường làm (x. Mt 6,7), như Chúa Giêsu cảnh cáo, có đúng thế không thưa thầy?

Đáp: Vâng, đúng vậy, có nguy cơ là chúng ta trượt vào lời cầu nguyện ngoại giáo, mà nhà văn Lucrezio châm biếm gọi là “sự mệt nhọc của các thần linh vì nhiều lời”. Đây cũng là nguy cơ kitô hữu có thể gặp, khi nghĩ rằng thuyết phục Thiên Chúa theo các ước mong của mình, bắt Chúa theo ý riêng của mình, bằng cách nhiều lời. Tệ hơn nữa là có nhiều lời cầu nguyện trở thành lời bép xép thiêng liêng, nói xấu nói hành người khác trước Thiên Chúa. Không! Điều đầu tiên của lời cầu nguyện là lắng nghe. Chỉ cần một ít lời được nói lên với sự kín đáo như Chúa Giêsu dã dậy chúng ta trong Kinh Lạy Cha. Ít lời xin, chính yếu: lương thực và lòng thương xót. Chúng ta không cần gì khác!

Hỏi: Rất tiếc là trong thời đại vi tính này phung phí  lời nói là một nguy cơ lớn. Ngày nay người ta cầu nguyện, lần hạt Mân Côi, đọc kinh nhật tụng, chia sẻ các thiện ích thiêng liêng với các phương tiện truyền thông. Phải có các điều kiện nào để sự đồng ý giữa máy móc vi tính và lời cầu nguyện có thể hoạt động, thưa thầy Bianchi?

Đáp: Không cần phải trừ quỷ các phương tiện truyền thông, chúng cũng có thể phục vụ lời cầu nguyện. Chính tôi trong những lúc cô đơn hay bị bệnh, tôi đã nhận ra rằng  có thể hưởng lợi ích của việc lần hạt. Nhưng rồi lời cầu nguyện phải vọt lên từ cuộc sống,  chứ các phương tiện truyền thông không được đọc lời cầu nguyện cho chúng ta, mà phải là cuộc sống đức tin cuộc sống thường ngày của chúng ta.
Chúng ta sử dụng các phương tiện truyền thông miễn là chúng ta chú ý để đừng sống bằng lời nói, bằng các cảm xúc, không yêu sách lời cầu nguyện phải trở thành một cuộc trình diễn. Lời cầu nguyện mà Chúa Giêsu yêu cầu là lời cầu nguyện thinh lặng: “Hãy cầu nguyện trong bí mật,  Thiên Chúa Cha là Đấng ở trong bí mật sẽ trả lời con” (x Mt 6,6),

Hỏi: ĐTC Phanxicô cũng nói lời cầu nguyện là cục pin của kitô hữu” (7-6-2016). Phải hiểu kiểu nói ẩn dụ này như thế nào?

Đáp: Trong nghĩa lời cầu nguyện là suối nguồn năng lực, sức mạnh, nó đi vào chiều sâu, đào xuống sâu, và là khí giới tốt nhất mà chúng ta có để đương đầu với cuộc sống, các cám dỗ, các thử thách. Không thể có cuộc sống kitô mà không có lời cầu nguyện. Tuy nhiên, phải chú ý đừng biến lời cầu nguyện trở thành một sức mạnh bùa chú: nó luôn luôn là một ơn nhưng không, mà Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta. Chính ơn thánh Chúa canh tân lời cầu nguyện của chúng ta, chứ không phải là chúng ta với lời cầu nguyện khơi dậy ơn thánh của Chúa.

Hỏi: Chính vì thế ĐTC mới cảnh cáo rằng: “Lời cầu nguyện không phải là một chiếc đũa thần” (25-5-2016). Tuy nhiên, nếu không được chờ đợi phép lạ từ lời cầu nguyện, thì có được phép than van vì thiếu hiệu quả tích cực hay không?
Đáp:  Sự kiện là thường khi các ước mong của chúng ta không giao thoa với điều Thiên Chúa muốn  cho thiện ích của chúng ta. Thiên Chúa tôn trọng sự tự do của con người, và không bắt ép điều kiện là thụ tạo của nó sống trong thế giới này. Nhưng Chúa Giêsu đã nói với chúng ta rằng Thiên  Chúa đáp trả bằng cách luôn luôn gửi Thần Khí của Ngài đến cho chúng ta, nếu chúng ta xin (x. Lc 11,13). Khi đó có thể xảy ra là chúng ta cảm thấy bị kiệt lực vì không được nhận lời, nhưng không phải vì thế mà Thiên  Chúa không thực hiện các lời hứa của Ngài.

Hỏi: Phải nói gì về phụng vụ mà Công Đồng Chung Vaticăng II gọi là “Tột đỉnh mà hoạt động của Giáo Hội hướng tới, đồng thời là suối nguồn phát sinh ra mọi sức lực của Giáo Hội”. Còn thiếu điều gì cho cuộc cải cách của nó thưa thầy Bianchi?

Đáp: Phụng vụ là cung lòng nơi lời cầu nguyện bắt đầu, không có phụng vụ lời cầu nguyện cá nhân trở thành buà chú và không đáp ứng đức tin kitô. Chính vì phụng vụ kêu mời lắng nghe Lời Chúa và nhận lãnh Mình và Máu Thánh Chúa nên nó thật sự là cung lòng, trong đó lời cầu nguyện cá nhân có thể lớn lên. Đồng thời phụng vụ cũng là tột đỉnh của lời cầu nguyện, và trong tuần sống lời cầu nguyện cũng phải hướng tới Bí tích Thánh Thể Chúa Nhật là “lời cầu của các lời cầu”. Dĩ nhiên, cũng như không thiếu các khó khăn đối với lời cầu cá nhân, cũng không thiếu các khó khăn đối với phụng vụ. Đã có một cuộc Cải Cách sau Công Đồng Chung Vaticăng II,  và vẫn còn có các kháng cự chống lại cuộc Cải Cách đó. Nhưng chúng ta hãy nói sự thật, hơn 50 năm đã qua rồi, thế giới đã rất là thay đổi, chúng ta đang ở trong một nền nhân chủng học mới, ngôn ngữ hoàn toàn khác, thế mà chúng ta còn đang tự hỏi đây có phải là trường hợp phải đi đến một thay đổi ngôn ngữ hay không – với tất cả sự thận trọng có thể -  bởi vì các thế hệ mới hoàn toàn xa lạ với các ngôn ngữ truyền thống? Không có cuộc Cải Cách phụng vụ thì có nguy cơ là Giáo Hội càng suy yếu  hơn, bởi vì các thế hệ mới không được thu hút bởi các công thức và các lễ nghi, ngày càng ít tham dự phụng vụ hơn, nhưng trái lại nó tuyệt đối cần thiết.

(Oss. Rom. 20-21 Marzo 2017)
Linh Tiến Khải



Một Thánh Lễ đáng giá bao nhiêu.



Một Thánh Lễ đáng giá bao nhiêu.
Xin hãy cùng đọc một chứng từ có thật, hết sức giản dị đơn sơ, nhưng lại quá độc đáo bất ngờ, để rồi cùng có được diệu cảm về Thánh Lễ... 
Cha Stanislaus là Linh Mục Hội Dòng Thánh Tâm Chúa. Ngài có một người anh làm Linh Mục Dòng Tên. Thân phụ của hai anh em này là Đại Úy kiểm lâm trong một thị trấn nhỏ của Luxemburg. Ông rất sùng đạo, vẫn đi Lễ và rước Lễ hàng ngày.
Khi nói chuyện với cha Stanislaus về thời thơ ấu của ngài, tôi nói: “Cha thật có phúc được nuôi dưỡng trong một gia đình Công Giáo đạo đức, đã có công cống hiến cho đời hai vị Linh Mục.”

Ngài đáp: “Vâng, đúng thế, nhưng không phải mọi sự đều trôi chảy như vậy từ đầu cả đâu ! Khi chúng tôi còn bé, cha tôi đã bỏ đạo, và mặc dù mẹ tôi còn đọc kinh cầu nguyện nhưng trong gia đình không một ai đi Lễ, kể cả Chúa Nhật, thể theo ý muốn của cha tôi.

Tôi nói: “Trời đất ơi ! Cha làm tôi ngỡ ngàng quá chừng. Chuyện hiếm có như vậy mà có thể xảy ra thật ư ? Vậy chứ ơn gọi làm Linh Mục từ đâu mà ra ?”

Ngài nói: “Một hôm, sau khi cha tôi đến thăm một tiệm bán thịt gần nhà thì ông đã đột nhiên thay đổi ý kiến. Câu chuyện xảy ra chiều hôm đó tại nhà hàng bàn thịt này là nguyên nhân hoán cải của cha tôi.” Tôi đáp: “Một tiệm bán thịt ! Một ơn hoán cải trong một tiệm bán thịt ! Chuyện gì đã xảy ra vậy ?”

Cha Stanislaus nói: “Ồ, đầu đuôi câu chuyện xảy ra như thế này. Cha tôi và ông chủ tiệm là một đôi bạn thân từ hồi còn bé. Khi hai người đang say sưa chuyện vãn như mọi lần thì một bà già lọm khọm bước vào.
Ông chủ tiệm ngưng nói chuyện và bước tới hỏi xem bà cụ cần gì. Bà nói bà đến xin ông một chút thịt nhưng bà không có tiền. Cha tôi chú ý lắng nghe câu chuyện bi hài giữa bà cụ và ông chủ tiệm.
Ông chủ tiệm nói: “Bà cần một chút thịt ư ? Nhưng tôi cần biết bà có thể trả cho tôi bao nhiêu tiền cái đã."
Bà cụ đáp: “Rất tiếc là tôi không có đồng xu nào cả… nhưng tôi sắp đi Lễ đây, và nếu ông muốn thì tôi sẽ dâng Thánh Lễ theo ý chỉ của ông.”

Ông chủ tiệm và cha tôi đều là người tốt bụng (nhưng cả hai đều coi thường tôn giáo, nhất là Thánh Lễ Misa và Giáo Hội Công Giáo ) cho nên cả hai đều muốn đùa giỡn chút chơi với câu trả lời của bà già lẩm cẩm.
Ông chủ tiệm bèn nói: “Được rồi ! Đây là một miếng giấy nhá” và ông viết mấy chữ ‘Tôi đi xem lễ và dâng lễ theo ý chỉ của ông…’ rồi đưa cho bà cụ ông nói: “Cụ đi xem lễ đi và cầu nguyện theo ý chỉ của tôi nhá. Khi về, bà sẽ đưa cho tôi miếng giấy này và chúng ta sẽ xem một Thánh Lễ đáng giá bao nhiêu ký thịt.”

Bà cụ tươi cười ra đi cầm theo tờ giấy. Bà biết Chúa nhân lành sẽ giúp đỡ bà. Khoảng một giờ sau, bà trở lại tiệm bán thịt. Khi nhìn thấy bà ông chủ tiệm liền nói: “Đâu, tờ giấy đâu, bà đưa cho tôi đi và chúng ta sẽ xem Thánh Lễ của bà dâng cho tôi đáng giá bao nhiêu tiền nhá !”

Bà đưa tờ giấy cho ông, ông đặt tờ giấy lên bàn cân phía tay mặt. Trên bàn cân phía trái ông để một khúc xương nhỏ, nhưng mảnh giấy có vẻ nặng hơn miếng xương của ông. Vậy là ông lấy miếng xương ra và đặt vào bàn cân bên trái một miếng thịt nhỏ. Nhưng bàn cân bên mặt vẫn nặng hơn. Ông bèn lấy một miếng thịt lớn hơn đặt trên bàn cân trái, tuy nhiên bàn cân mặt vẫn không nhúc nhích.

Đến lúc này thì cả hai ông đều cảm thấy xấu hổ vì sự nhạo báng của mình, nhưng ông chủ tiệm vẫn còn muốn tiếp tục trò chơi của ông. Ông bèn đặt một tảng thịt thật nặng lên bàn cân trái, nhưng bàn cân mặt vẫn đứng yên bất động. Ông nghĩ chắc cái cân bị trục trặc kỹ thuật thế nào đó chứ không lẽ… Ông lấy miếng giấy ra khỏi bàn cân bên mặt xem sao, tức thì bàn cân bên trái xẹp ngay xuống dưới sức nặng của tảng thịt lớn.

Ông chủ liền lấy cả hai thứ ra khỏi bàn cân, để kiểm soát kỹ lại xem cân có bị trục trặc gì không… rồi ông cân một vài thứ khác như ông vẫn làm từ trước tới nay, thì thấy cái cân hoàn hảo và rất chính xác. Sau cùng ông chủ đảo ngược hai thứ trên bàn cân: ông đặt tờ giấy lên phía bên trái và tảng thịt lên phía bên mặt. Tuy nhiên tờ giấy vẫn nặng ký hơn tảng thịt rất nhiều.
Bực mình, ông nhẹ nhàng nói với bà cụ: “Bà cụ ơi, bây giờ bà muốn gì nào… tôi có phải đưa cho cụ cả một cái đùi cừu chăng ?”

Bỗng chốc, cả ông hàng thịt lẫn viên đại úy đều nhận ra rằng Thánh Lễ Misa thật là vô giá. Ngay lúc đó, cả hai đều được ơn soi sáng để hiểu biết rằng không thể tính được một Thánh Lễ đáng giá bao nhiêu tiền.

Ông hàng thịt đã hoàn toàn hoán cải vì chuyện vừa xảy ra, và ông hứa sẽ cung cấp thịt hàng ngày miễn phí cho bà cụ. Ông giữ lời hứa. Tiếng đồn lan ra các vùng lân cận, dân nghèo khác cũng đến lãnh phần thịt hàng ngày của họ. Rồi lòng quảng đại của ông được các vùng khác biết đến. Thiên hạ cũng nói rằng phẩm chất thịt của tiệm ông rất ngon nên số doanh thu của ông tăng nhanh hơn bao giờ hết.

Cha tôi, tức ông đại úy, ngay hôm sau đã đi Nhà Thờ xem Lễ, và ông được ban cho một thánh sủng khác. Ông được ơn nhận biết Chúa Giêsu đích thực hiện diện trong Mầu Nhiệm Thánh Thể, và ngày hôm sau nữa, cả nhà chúng tôi kéo nhau đi xem Lễ hàng ngày. Trong nhà chúng tôi không khí đã đổi khác không như trước nữa.

Hạnh phúc chúng tôi được ban cho thật là vĩ đại, khôn tả xiết, và chúng tôi bắt đầu kính mến Chúa và thương yêu nhau hơn bao giờ hết. Gia đình chúng tôi bỗng trở nên một Tiểu Thiên Đàng, và tôi tin chắc rằng cha mẹ tôi đang chờ chúng tôi đến gặp các ngài trên đó!

Trích bài viết của Sr. MARY VERONICA MURPHY
Bản dịch của Louis LÊ XUÂN MAI

Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017

Thánh vịnh 78 D

Thánh vịnh 78 D

Thánh vịnh 78 là một sáng tác mang ảnh hưởng của trường phái Đệ Nhị Luật và nhắm mục đích  khắc ghi sâu đậm nơi tâm trí những người tham dự phụng vụ bổn phận ghi nhớ các biến cố quá khứ, là các điềm thiêng dấu lạ Thiên Chúa đã làm cho Israel cũng như các bất trung của cha ông, để họ biết lượng định đúng đắn giá trị các kỳ công ấy của Thiên Chúa, tránh xa các bất trung của cha ông, và trung thành với giao ước đã ký kết với Thiên Chúa.

Các câu 56 tới 65 miêu tả sự bất trung của dân Chúa và việc Thiên Chúa bỏ rơi dân Israel thời các Thủ Lãnh, trong khi các câu 65-72 đề cập tới việc thức tỉnh ơn huệ của Thiên Chúa với sự tuyển chọn vua Đavít.

Các câu 56 tới 64 của thánh vịnh 78 là đoạn “xưng thú” tội lỗi sau diễn văn kỷ niệm của đoạn trước đó. Khung cảnh của loạt tội lỗi của dân Israel không phải là sa mạc khô cằn, vùng đất tự nhiên của thử thách nữa (x. 95,8-9; Mt 4,1), mà là chính đất Canaan mà dân Do thái lãnh nhận từ Thiên Chúa như gia tài, là nơi ở an ninh và thanh bình. Giai đoạn khốn khó thời các Thủ Lãnh đuợc trình bầy theo lược đồ tiến trình của các bất trung của dân Israel khiến cho Thiên Chúa thịnh nộ đánh phạt họ, nhưng đứng trước các rên siết của họ Ngài lại thương hại cứu vớt họ. Văn bản ở đây nhấn mạnh trên phần đầu của lược đồ tức trên tội lỗi và sự đánh phạt (cc. 56-59), và liên quan tới sự đánh phạt là biến cố Israel thua trận trước người Philitinh dưới thời thầy cả Eli như kể trong chương 4 sách Samuel I. Và đây cũng là khởi đầu sự suy tàn của trung tâm thờ tự Shilo (cc. 60-64).

“Thế mà họ thử thách, phản lại Chúa Chí Tôn, lệnh Người đã ban truyền, họ chẳng tuân chẳng giữ. Họ xa lìa, phản bội, chẳng khác gì cha ông, luôn tráo trở thất thường như cánh cung sai chạy. Họ lập đàn thờ quấy mà trêu giận Chúa Trời, lại tôn sùng ngẫu tượng khiến Chúa phải ghen tương. Nghe thấy thế, Người nổi cơn thịnh nộ, quyết tình ruồng rẫy Ít-ra-en, và từ bỏ ngôi đền Si-lô là lều Chúa ngự giữa loài người. Hòm Bia thánh tượng trưng uy quyền vinh quang Chúa, Người cũng để tay thù chiếm đoạt mang đi. Quá bất bình với dân được chọn làm gia sản Người phó mặc họ cho lưỡi gươm hung tàn. Lửa chiến chinh huỷ diệt đời trai tráng, thiếu nữ chẳng còn được nghe điệu vu quy! Hàng tư tế bị gươm đao sát hại, goá phụ thương chồng mà chẳng được khóc than!”

“Và rồi họ thử thách Ngài… “: thái độ phản bội này của dân Israel trong đất Canaan được sách các Thẩm Phán tóm gọn trong chương 2 như sau: “Họ đã lìa bỏ Giavê, Thiên Chúa của tổ tiên, Đấng đã đưa họ ra khỏi đất Ai-cập, và họ đã đi theo các thần ngoại lai trong số các thần của các dân chung quanh. Họ sụp lạy các thần ấy và chọc giận Giavê. Họ đã lìa bỏ Giavê để làm tôi thần Ba-an và các nữ thần Át-tô-rét.” (Tl 2,12-13).

“Họ suy giảm như một cung tên thất bại”: trong cùng nghĩa với nhận xét của ngôn sứ Hosêa: “Chúng quay về với cái hư không. Chúng chẳng khác nào cánh cung sai chậy. Thủ lãnh chúng ngã gục dưới lưỡi gươm, vì thốt ra những lời giận dữ; trong đất Ai-cập, chúng sẽ nên trò cười.”

“Họ trêu giận Ngài với các nơi cao của họ”: Dân Israel lập các bàn thờ thần ngoại trên các nơi cao. Thái độ tôn thờ thần ngoại này diễn tả sự ngoại tình của dân Do thái đối với Giavê là Phu Quân của họ. Vì thế nó “khiêu khích” Giavê khiến cho Ngài “ghen tương” và nổi cơn thịnh nộ đánh phạt Israel, người vợ bất trung, như khẳng định trong chương 32 sách Đệ Nhị Luật: “Chúng đã thờ các thần không phải là Thiên Chúa khiến Ta phải ghen tương, thờ những thần hư ảo mà trêu giận Ta; Ta sẽ dùng một dân không phải là dân khiến chúng phải ghen tương, dùng một dân tộc ngu si mà trêu giận chúng.” (Đnl 32,21).

Các nơi cao “bamốt” trong tiếng Do thái là các nơi thờ tự thường được xây trên các đỉnh đồi. Trong thời tiền đavít chúng được chấp nhận, nhưng sau khi phụng tự được tập trung trong đền thờ Giêrusalem thì chúng trở thành bất hợp pháp . Ngoài ra vì sự trộn lẫn với các việc tôn thờ các thần ngoại nên chúng là các tổ của thói tục tôn  thờ thần ngoại, như đã bị tố cáo trong sách các Vua, sách Sử Biên và các ngôn sứ.

“Nhà tạm Shilo”: trung tâm thờ tự Shilo được nhắc tới trong sách Giôduê (18,1), sách các Thẩm Phán (21,19) và bốn chương đầu sách Samuel I, như là trụ sở nơi giữ Hòm Bia giao ước và là trung tâm chính trị của Liên hiệp các chi tộc Israel. Các văn bản thánh kinh không đề cập tới việc từ bỏ trung tâm thờ tự Shilô ngoài hai văn bản sách ngôn sứ Giêrêmia (7,12.14 và 26,6) nhưng chúng đề cập tới biến cố Hòm Bia bị quân Philitinh đánh cướp thời thầy cả Eli (x. 1 Sm 4).

“Lều của nơi Ngài ngự giữa con cái loài người”: đây là khẳng định thần học cựu ước rất quan trọng và có ý nghĩa liên quan tới sự hiện diện của Thiên Chúa “shekinah” mà loài người có thể đạt đến, mà sách Khải Huyền áp dụng cho thành thánh Giêrusalem thiên quốc (Kh 21,3).

“Ngài khiến cho sự mạnh mẽ của nó thành nô lệ và vinh quang của nó trong quyền của quân thù“: ám chỉ biến cố Hòm Bia giao ước bị quân Philitinh đánh cướp trong trận giao tranh với dân Israel tại Afec (1 Sm 4,10-11). Hòm Bia giao ước là nơi vinh quang của Thiên Chúa hiện diện. Nó vang vọng lời con dâu thầy cả Eli nói trước khi chết lúc sinh con: “Nàng gọi đứa trẻ là Ikhabốt và nói: “Vinh quang đã bị cướp khỏi Israel, vì Hòm Bia Thiên Chúa đã  bị chiếm đoạt” (1 Sm 4,22).

“Các tư tế của nó đã gục ngã vì gươm”: ám chỉ Hofni và Pinkhas là hai tư tế con thầy cả Eli đã bị giết chết trong trận đánh tại Afec (1 Sm 4,11).

“Các goá phụ của nó”: tức của dân Israel, nhưng ở đây ám chỉ hai bà vợ của hai tư tế Hofni và Pinkhas, không khóc than chồng bị quân Philitinh giết trong trận đánh tại Afec.
Các câu 65 tới 72 của thánh vịnh 78 là đoạn cuối trong đó tác giả trình bầy một giải pháp vĩnh viễn cho cảnh lên xuống trong lịch sử tôn giáo của dân Do thái: Thiên Chúa gỡ lại chiến thắng trên chính sự bất trung của Israel, bằng cách chuộc nó khỏi tình trạng hổ nhục không thể sửa chữa được, trong đó Israel đã rơi vào (cc. 65-66), và qua một sự lựa chọn chính xác, bằng cách ban cho dân Ngài một vị hướng đạo chắc chắn và trung thành “nơi Đavít tôi tớ Ngài” (c. 70).
Ý định kín ẩn của tác giả thánh vịnh là giới thiệu việc tuyển chọn Đavít và Sion như điểm tột đỉnh của lịch sử chính trị tôn giáo  của dân nước được tuyển chọn : trong vương quyền của Đavít, sau cùng nó tìm thấy một yếu tố ổn định và các biến cố sóng gió của quá khứ, ít nhất trên bình diện lý tưởng, nhường chỗ cho một viễn tượng mới của sự an bình và tin tưởng.

“Bấy giờ Chúa như người đang ngủ, như tướng hùng đã thấm men say, bỗng tỉnh giấc, đánh cho quân thù quay lưng chạy, phải thảm thê nhục nhã muôn đời. Chúa loại bỏ nhà Giu-se, chi tộc Ép-ra-im, Người không tuyển chọn, nhưng tuyển chọn chi tộc Giu-đa và núi Xi-on, nơi Người ưa thích. Chúa xây thánh điện Người như trời xanh cao thẳm, và cũng như trái đất Người đặt vững muôn đời. Chúa chọn Đa-vít, người tôi trung, cất nhắc ông, thuở còn là mục tử, cho vời đến, lúc đang giữ bầy chiên, để chăn dắt dân Người là Gia-cóp, và Ít-ra-en sản nghiệp của Người. Ông chăn dắt họ với một lòng liêm chính, tay dẫn đưa khéo léo tài tình.”

“Ngài thức giấc”: là kiểu nói nhân hình ám chỉ việc ân huệ của Thiên Chúa trở lại bất thình lình đối với dân Ngài bị áp bức. Tác giả thánh vịnh 44 đau đớn hỏi Thiên Chúa như sau: “Lạy Chúa, xin tỉnh giấc! Ngài cứ ngủ được sao? Xin trỗi dậy đi nào, đừng đuổi xua mãi mãi! Sao Ngài còn ẩn mặt, quên rằng chúng con bị khổ cực đoạ đày?” (Tv 44,24-25).
“Ngài đánh chúng trên lưng” là kiểu nói ám chỉ sự tan rã của thù địch. Ở đây chắc hẳn ám chỉ các tai ương Giavê giáng xuống trên quân Philitinh sau khi họ cướp Hòm Bia giao ước như kể trong chương 5 sách Samuel I.

“Ngài ruồng rẫy lều của Giuse”: ám chỉ việc ruồng bỏ các chi tộc sống ở miền trung bắc, được đại diện bởi chi tộc Efraim con của Giuse, là các chi tộc đã thực thi một loại bá quyền nào đó trong thời các Thủ Lãnh, đạt tột đỉnh với việc thua trận của Israel trước quân Philitinh và sự tàn lụi của trung tâm thờ tự Shilo, nằm trong vùng đất của chi tộc Efraim. Tuy nhiên, cũng cần ghi nhận rằng trong câu này có tiềm ẩn cuộc tranh luận chống lại Samaria là thủ đô vương quốc miền bắc, bằng cách nêu bật việc tuyển chọn chi tộc Giuđa qua đó nhấn mạnh việc rẫy bỏ người Samaria là các kẻ thừa tự của các chi tộc miền bắc, dưới khiá cạnh ít nhất là địa lý.

“Trái lại Ngài chọn chi tộc Giuđa, núi Sion, là đối tượng tình yêu thương của Ngài”: cho tới biến cố triều đại nhà Đavít mặc dù đã được tổ phụ Giacóp chúc lành như kể trong chương 49 sách Sáng Thế, và lời chúc lành của ông Balaam, như kể trong chương 24 sách Dân Số, chi tộc Giuđa đã không có phần nổi bật nào trong lịch sử của dân Israel. Việc lựa chọn chi tộc Giuđa với Đavít và núi Sion Giêrusalem là đề tài được tác giả thánh vịnh 132 khai triển rộng rãi. Trong khi thời xa xưa của lịch sử Israel là thời đại mà các thế hệ sau này nhớ tới như là thời lý tưởng, thời son trẻ trong lịch sử cuộc tình của Giavê Thiên Chúa với dân Israel (Gr 2,2; Ed 16,6-14). Nó trùng hợp với biến cố Xuất Hành, ra khỏi Ai Cập để tiến bước trong sa mạc Sinai hướng về Đất Hưá. Trong văn bản ở đây, mang linh hứng của trường phái Đệ Nhị Luật, nó bao gồm cả việc tuyển chọn nhà Đavít và việc tập trung phụng tự trên núi Sion.

“Ngài xây thánh điện của Ngài”: việc xây đền thánh do Đavít đự định và được vua Salomon thực hiện (x. 1 R 6) ở đây được coi như công trình do Thiên Chúa hướng dẫn bởi các chiều kích vũ hoàn. Hình ảnh dinh thự thánh có đỉnh đạt tới trời, như dấu chỉ của “sự siêu việt”, và có nền móng đạt tới vực thẳm  dấu chỉ của sự ổn định không thể suy sụp, là một hình ảnh thường gặp trong nền văn chương của vùng Mesopotamia xưa kia, tức vùng Lưỡng Hà là Iran Iraq ngày nay.

“Ngài chọn Đavít tôi tớ Ngài”: đây là tước hiệu chỉ đuợc dành cho một ít nhân vật trong Thánh Kinh Cựu Ước như tổ phụ Abraham, ông Môshê, ông Giođuê và ông Gióp. Ngài “thu nhận ông từ các chuồng chiên” là đề tài hay được nhắc tới trong nhiều văn bản kinh thánh kể lại sự kiện Thiên Chúa chọn Đavít chú bé chăn chiên, thay thế vua Saul làm “mục tử” chăn dắt dân Ngài là nhà Israel (x. 1 Sm 13,14; 15,11-13; 2 Sm 7,8).

“Và Ngài làm cho ông chăn dắt nó theo sự toàn vẹn của ông và bàn tay khéo léo tài tình của ông”: Từ chú bé chăn chiên, Đavít trở thành người lãnh đạo, mục tử chăn dắt dân Chúa. Đó là sức mạnh biến đổi của ơn tuyển chọn. Một sự biến đổi tương tự cũng đã xảy ra với bác thuyền chài Phêrô và các bạn ông: từ các người đánh cá trên hồ Galilêa Chúa Giêsu đã biến các ông thành những người “đánh lưới người ta” cho đến tận cùng bờ cõi trái đất. Khi chọn ai, Thiên Chúa ban cho người đó ơn thánh biến đổi trợ giúp họ chu toàn sứ mệnh Ngài giao phó.
TV 78 D
Linh Tiến Khải

Thứ Bảy, 1 tháng 4, 2017

Giải đáp phụng vụ: Nến tín hữu trong đêm Vọng Phục sinh được thắp vào lúc nào?

Giải đáp phụng vụ: Nến tín hữu trong đêm Vọng Phục sinh được thắp vào lúc nào?
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Chúng con đang có các bất đồng trong giáo xứ của chúng con vể cách tiến hành một số phần của Thánh Lễ Vọng Phục Sinh. Thứ nhất (1): Khi có ngọn lửa mới ở ngoài trời, lệnh rước đi vào nhà thờ dường như là khá rõ ràng trong chữ đỏ. Tuy nhiên, ở lần hát thứ hai (số 16), câu "mọi người thắp nến từ ngọn lửa của cây nến Phục sinh..." dường như bị hiểu sai, vì nhiều người đi trước cả thầy phó tế, nên họ thắp nến hoặc từ ngọn nến Phục sinh sau lẩn hát thứ nhất, hoặc từ các người khác. Cá nhân con cảm thấy rằng chúng ta nên tuân theo chữ đỏ càng sát càng tốt. Con cảm thấy chúng ta nên theo sát các hướng dẫn một cách chặt chẽ hơn. Việc thắp nến cũng tạo ra một sự hiểu biết trân trọng hơn và tốt hơn về phép rửa tội của chúng ta. Thời gian kéo dài và trật tự phụng vụ sẽ là đáng giá cho việc này. Cha có thể đề nghị gì trong cách thức con nói nên giải quyết vấn đề này? Thứ nhì (2): Sau lần hát thứ ba “Ánh sáng Chúa Kitô, Lumen Christi" (số 17), cụm từ "Và thắp hết các đèn trong nhà thờ..." cũng dường như rõ ràng, nhưng trong giáo xứ của chúng con và nhiều giáo xứ khác trong khu vực, bóng tối vẫn còn đó. Tất cả các bài đọc được đọc trong bóng tối với đèn pin được sử dụng cho việc đọc sách. Sau đó, khi chữ đỏ nói (số 31): "nến bàn thờ được thắp sáng", tất cả đèn nhà thờ được bật sáng, và Kinh Vinh danh (Gloria) được hát. Các gợi ý nào có thể được thực hiện để cho chữ đỏ được tuân giữ cách chặt chẽ hơn? Con cảm thấy khó chấp nhận rằng chúng ta thay đổi phụng vụ theo ý thích của chúng ta, vốn không phải là việc chúng ta làm, đặc biệt là khi chữ đỏ là khá rõ ràng rồi. Hay là con cũng đang quá "đúng theo phụng vụ"? - T. V., Ottawa, Ontario, Canada.


Đáp: Tôi không nghĩ rằng bạn đọc này của chúng ta là không đúng, khi muốn rằng chữ đỏ cần được tuân theo cách chính xác.

Văn bản của chữ đỏ cho biết:

"Khi ngọn nến đã được thắp sáng, một thừa tác viên lấy than ra khỏi lửa và đặt vào bình hương, và linh mục bỏ hương vào bình theo cách thông thường. Thầy Phó tế, nếu không có Phó tế, một thừa tác viên phù hợp khác, cầm cây nến Phục sinh và đoàn rước được hình thành. Người cầm bình hương, có bỏ hương, đi trước thầy Phó tế hoặc thừa tác viên khác cầm nến Phục Sinh. Sau họ, là linh mục với các thừa tác viên khác và dân chúng cầm trong tay nến chưa thắp sáng.

"Tại cửa nhà thờ, thầy Phó tế, đứng và nâng cây nến và hát: "Ánh sáng Chúa Kitô" và tất cả đều thưa “Tạ ơn Chúa”.

"Linh mục thắp nến của mình từ ngọn nến Phục sinh.

"Sau đó thầy Phó tế tiến vào giữa Nhà thờ, đứng lại, và nâng nến lên và hát lần thứ hai ...

"Mọi người thắp nến của mình từ cây nến Phục sinh và tiếp tục cuộc rước.

"Khi thầy Phó tế đến trước bàn thờ, thầy quay mặt ra phía dân chúng, nâng nến lên và hát lần thứ ba ...

"Sau đó, thầy Phó tế đặt cây nên Phục sinh trên giá nến lớn, đặt cạnh tòa giảng hoặc ở giữa cung thánh.

"Ðến đây thắp hết các đèn trong nhà thờ, trừ các ngọn nến bàn thờ".

Về Kinh Vinh Danh, chữ đỏ cho biết:

"Sau bài đọc cuối cùng trích Cựu Ước cùng với đáp ca và lời nguyện, thì đốt nến trên bàn thờ và linh mục xướng kinh Vinh Danh. Mọi người cùng đọc hay hát tiếp. Trong lúc đó kéo chuông hoặc đánh chiêng trống, tùy theo thói quen địa phương”.

Như bạn đọc của chúng ta nhắc đến, chữ đỏ là rõ ràng về việc rước nến Phục sinh. Đồng thời, một số thích nghi có thể là cần thiết, do hoàn cảnh địa phương hoặc do nhu cầu phụng vụ.

Thí dụ, ở Canada, có thể là không phải mọi người đều chờ đợi bên ngoài nhà thờ, khi nhiệt độ ban đêm vào tháng Ba và tháng Tư có thể dao động quanh mức 0 độ Celsius. Trong các trường hợp như vậy, phần lớn dân chúng có thể đứng cầm nến chưa thắp bên trong nhà thờ.

Trong thời kỳ đông lạnh hơn, một số biện pháp thiết thực có thể được thực hiện, chẳng hạn chỉ mở cửa chính nhà thờ, khi đoàn rước đến, và sử dụng dây thừng hoặc các phương tiện khác để hướng dẫn đoàn rước.

Tương tự như vậy, vì mục đích an toàn và phụng vụ, khu vực xung quanh ngọn lửa mới, nên có rào cản để người dân không tự ý thắp nến của họ tại đó.

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là làm cho các tín hữu hiểu, thông qua một số hình thức chuẩn bị ban đầu, như có một lời dẫn ngắn gọn trước khi buổi lễ bắt đầu, cũng như về tầm quan trọng của biểu tượng của mọi ngưởi thắp nến từ cây nến Phục sinh, vốn tượng trưng cho Chúa Kitô Phục Sinh, Người mang lại cho chúng ta cuộc sống mới và ánh sáng mới. Một khi giá trị biểu tượng đằng sau chữ đỏ được nắm bắt, thì sẽ dễ dàng hơn để sống phụng vụ thật đầy đủ.

Điểm thứ hai cũng là khá rõ ràng. Sau khi thầy Phó tế hát lần thứ ba câu "Ánh sáng Chúa Kitô”, các đèn trong nhà thờ được thắp sáng.

Tập tục đọc các bài đọc trong bóng tối là không phù hợp với chữ đỏ, và dường như không phải là sự lưu giữ trực tiếp từ phụng vụ cũ của hình thức ngoại thường, vì chữ đỏ của hình thức ngoại thường cho đêm Vọng Phục sinh cũng quy định việc thắp sáng nhà thờ, sau lần hát thứ ba của câu "Ánh sáng Chúa Kitô".

Tuy nhiên, chữ đỏ của hình thức ngoại thường là hơi khác, vì chỉ hàng giáo sĩ thắp nến của họ sau lần hát thứ hai của câu "Ánh sáng Chúa Kitô", và dân chúng thắp nến của họ sau lần hát thứ ba, vốn trùng hợp với việc thắp sáng đèn trong nhà thờ. Chữ đỏ này có thể làm giảm tác dụng của nhà thờ chỉ được sáng bằng các ngọn nến.

Cũng là đúng rằng thời gian hát kinh Vinh Danh được nhấn mạnh nhiều hơn trong hình thức ngoại thường, so với nghi thức hiện tại.

Theo Cẩm nang hướng dẫn của Fortescue-O'Connell-Reid:

"[Linh mục] xướng 'Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, Gloria in excelsis'. Các chuông của nhà thờ, lớn và nhỏ, đều rung reo suốt cả kinh Vinh danh, phần hát kinh này được đệm đàn phong cầm. Các tượng ảnh trong nhà thờ được mở phần che ra”.

Vì vậy, tôi nghĩ rằng, mặc dù không được quy định trong các nghi thức, có thể chắc rằng một mong muốn kéo dài thời gian thắp nến của nhà thờ , và tầm quan trọng được dành cho kinh Vinh Danh, dẫn đến tập tục phổ biến rộng rãi cho việc trì hoãn thắp sáng đầy đủ Nhà thờ, cho thời điểm này, hoặc ít nhất là cho đến sau khi hát xong bài Mừng Vui Lên (Exsultet). Tập tục này sau đó được chuyển sang nghi lễ hiện tại.

Bạn đọc trên đây của chúng ta sống ở Canada, nhưng tôi đã thấy tập tục này cũng có ở Mexico và các nước Nam Mỹ. Ở một số nơi, nhiều linh mục vẫn nghĩ rằng đây là cách đúng đắn để thực hiện, và là một lỗi lầm khi chỉ thắp đèn sau lần hát thứ ba của câu "Ánh sáng Chúa Kitô”.

Lẽ tự nhiên, tôi ủng hộ việc tuân theo chữ đỏ đã được thiết lập. Chữ đỏ nói rằng "các đèn trong nhà thờ được thắp sáng", chứ chữ đỏ không quy định rằng tất cả các đèn phải được bật sáng lên.

Vì lý do này, mặc dù cá nhân tôi không ủng hộ hình thức thắp sáng dần dần này, nhưng tôi không nghĩ rằng nó sẽ chống lại chữ đỏ, để thắp sáng một phần nhà thờ sau lần hát thứ ba của câu "Ánh sáng Chúa Kitô", và sau đó bật tất cả hoặc hầu hết các đèn sau bài “Mừng vui lên”, khi các ngọn nến bị dập tắt.

Không có gì trong Sách lễ, cũng không gì trong nghĩa chung của nghi thức hiện tại, có thể ủng hộ sự kéo dài gần như mờ tối, cho đến Kinh Vinh Danh. Tuy nhiên, bài “Mừng vui lên” là lời loan báo về Chúa Phục Sinh, và các bài đọc của Cựu Ước không là dấu chỉ của một khoảng thời gian của tối tăm, nhưng là các bài ngôn sứ giúp cho việc hiểu đầy đủ về sự viên mãn trong Chúa Phục Sinh.

Chúng ta có thể nói rằng, theo một cách nào đó, ánh sáng của các nến bàn thờ tại thời điểm này tượng trưng cho sự xuất hiện của nhiệm cục bí tích của ơn cứu độ, mà trung tâm của nó là việc cử hành Thánh lễ.

Ở nơi đâu nhấn mạnh thời điểm này của Lễ Vọng là một tập quán đã được thiết lập từ lâu, người ta có thể được chấp nhận chờ cho đến thời điểm này, để bật đèn chiếu sáng trực tiếp bàn thờ. (Zenit.org 28-3-2017)

Nguyễn Trọng Đa