Trang

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

VUI HỌC THÁNH KINH CHÚA NHẬT XXVII TN A



VUI HỌC THÁNH KINH
CHÚA NHẬT XXVII TN A
Mt 21, 33-43


TIN MỪNG
Các ông hãy nghe một dụ ngôn khác: "Có gia chủ kia trồng được một vườn nho; chung quanh vườn, ông rào giậu; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa.34 Gần đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi.35 Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông: chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ.36 Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước: nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy.37 Sau cùng, ông sai chính con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng: "Chúng sẽ nể con ta."38 Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau: "Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó! "39 Thế là chúng bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi.40 Vậy xin hỏi: Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia? "41 Họ đáp: "Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông."42 Đức Giê-su bảo họ: "Các ông chưa bao giờ đọc câu này trong Kinh Thánh sao? Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.

43 Bởi đó, tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi.


33 "Hear another parable. There was a landowner who planted a vineyard, put a hedge around it, dug a wine press in it, and built a tower. Then he leased it to tenants and went on a journey.

34 When vintage time drew near, he sent his servants to the tenants to obtain his produce.

35 But the tenants seized the servants and one they beat, another they killed, and a third they stoned.

36 Again he sent other servants, more numerous than the first ones, but they treated them in the same way.

37 Finally, he sent his son to them, thinking, 'They will respect my son.'38  But when the tenants saw the son, they said to one another, 'This is the heir. Come, let us kill him and acquire his inheritance.'39 They seized him, threw him out of the vineyard, and killed him.

40 What will the owner of the vineyard do to those tenants when he comes?"

41 They answered him, "He will put those wretched men to a wretched death and lease his vineyard to other tenants who will give him the produce at the proper times."

42 Jesus said to them, "Did you never read in the scriptures: 'The stone that the builders rejected has become the cornerstone; by the Lord has this been done, and it is wonderful in our eyes'?43 Therefore, I say to you, the kingdom of God will be taken away from you and given to a people that will produce its fruit.


  

I. HÌNH TÔ MÀU CHÚA NHẬT XXVII TN. A





* Chủ đề của hình này là gì?:
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

* Bạn  viết câu Tin Mừng thánh Mátthêu 21,35 
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .


II. TRẮC NGHIỆM
CHÚA NHẬT XXVII TN. A

01. Ông chủ trồng một vườn nho rồi trao cho ai canh tác? (Mátthêu 21,33)
a. Tá điền.
b. Các môn đệ.
c. Người làm thuê.
d. Các đầy tớ.

02. Đây là hành động của những tá điền đối với những người đến thu lợi cho chủ: (Mátthêu 21,35)
a. Đánh người này.
b. Ném đá người kia.
c. Giết người nọ.
d. Cả a, b và c đúng.

03. Khi gặp chính con trai của ông chủ sai đến, bọn tá điền gọi người con ấy là gì? (Mátthêu 21,37)
a. Người con yêu dấu của ông chủ.
b. Đứa thừa tự đây rồi.
c. Người con trai một của ông chủ.
d. Ông chủ tương lai.

04. Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ đối xử với bọn tá điền thế nào? (Mátthêu 21,41)
a. Tru diệt bọn chúng.
b. Thưởng công cho chúng.
c. Khen thưởng.
d. Mở tiệc đãi bọn chúng.

05. Kinh thánh nói : Tảng đá người thợ xây loại bỏ sẽ trở nên cái gì? (Mátthêu 21,42)
a. Sẽ trở nên hữu dụng.
b. Đá tảng góc tường
c. Được xây bờ tường.
d. Được làm đường đi.



  
III.  Ô CHỮ CHÚA NHẬT XXVII TN. A


Những gợi ý:

01. Ông chủ trao cho các tá điền canh tác vườn gì? (Mátthêu 21,33).

02. Với bọn ác nhân, khi ông chủ đến sẽ đối xử với bọn chúng thế nào? (Mátthêu 21,42)

03. Khi mùa hái nho đến, ông sai các đầy tớ đến với các tá điền để làm gì? (Mátthêu 21,34).

04. Khi mùa nào đến thì ông chủ sai các đầy tớ đến với các tá điền để thu hoa lợi? (Mátthêu 21,34).

05. Kinh Thánh có câu:  Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là … … …  của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta. (Mátthêu 21,42).

06. Khi gặp chính con trai của ông chủ sai đến, bọn tá điền gọi người con ấy là gì? Đứa thừa tự (Mátthêu 21,37)

07. Ông chủ đã sai ai đến với các tá điền để thu hoa lợi? (Mátthêu 21,34).

Hàng dọc: chủ đề ô chữ này là gì?


IV. CÂU THÁNH KINH GHI NHỚ VÀ HỌC THUỘC LÒNG

Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ
lại trở nên đá tảng góc tường.
Tin Mừng thánh Mátthêu 21,42b

NGUYỄN THÁI HÙNG

Chúa Nhật XXVII thường niên - Năm A

CÂU CHUYỆN VƯỜN NHO
CÂU CHUYỆN ĐỜI TA

ĐTGM. Ngô Quang Kiệt

Vườn nho là một hình ảnh quen thuộc đối với người Do Thái. Chúa đã dùng hình ảnh quen thuộc này để thính giả dễ hiểu điều Chúa nói về Nước Trời. Ý nghĩa dụ ngôn này như sau. Thiên Chúa là chủ vườn nho. Vườn nho thoạt tiên được dùng để chỉ dân Do Thái. Dân Do Thái được Chúa chọn là dân riêng. Lịch sử dân Do Thái là lịch sử tình yêu thương của Chúa. Vì yêu thương Chúa đã giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai Cập. Vì yêu thương Chúa đã dành sẵn cho họ một đất nước. Vì yêu thương Chúa bảo vệ họ khỏi sự quấy phá của các nước lân bang. Vì yêu thương Chúa đã sai khiến các tiên tri đến dạy dỗ họ. Quả thật dân Do Thái là một vườn nho được Chúa trồng, chăm sóc từng li từng tí. Từ rào dậu chung quanh đến xây tháp canh giữ. Từ xây bồn ép nho đến tưới bón cắt tỉa. Nhưng sự thương yêu của Chúa được đáp lại bằng sự phản bội. Người Do Thái không công nhận quyền làm chủ của Chúa. Họ giết các tiên tri được sai đến dạy dỗ họ. Họ còn giết cả Chúa Giêsu là Con Một Thiên Chúa để chiếm lấy vườn nho làm của riêng họ. Nhưng họ có biết đâu rằng nếu để Chúa là chủ thì vườn nho còn được bảo vệ, được chăm sóc và họ còn được hưởng hoa lợi. Nhưng từ chối quyền làm chủ của Chúa, vườn nho rơi vào cảnh hoang tàn, đổ nát, không còn hoa trái. Và vì thế cuộc đời họ cũng bị diệt vong.

Câu chuyện vườn nho không chỉ nói với người Do Thái mà còn nói với tất cả chúng ta, đặc biệt các sinh viên học sinh nhân dịp đầu năm học mới. Sinh viên học sinh là những cây nho được Chúa ưu ái trồng trong vườn nho của Chúa. Vườn nho đó là Nước Chúa, là Giáo Hội, là gia đình, là trường học. Các cháu thiếu nhi, các bạn thanh niên, học sinh, sinh viên trẻ trung là những cây nho non mơn mởn được Chúa chăm sóc tưới bón trong tình thương bao la của cha mẹ, trong sự tận tâm của thày cô giáo, trong sự nhiệt thành quên mình của các linh mục, tu sĩ nam nữ. Chúa đặt lương tâm như tháp canh để cảnh báo những nguy cơ đe dọa tàn phá vườn nho. Để ngăn chặn thú dữ tàn phá, trẻ con nghịch ngơm, kẻ thù quấy phá, Chúa cẩn thận rào dậu vườn nho. Rào dậu là đặt ra những quy tắc luật lệ. Kỷ luật là phên dậu vững chắc bảo vệ những cây nho còn non yếu, bảo vệ hoa lợi khỏi kẻ thù đến phá hoại. Kỷ luật giúp bảo vệ cuộc đời của các con. Không chỉ bảo vệ sự sống mà còn tất cả những hoa trái tốt đẹp của sự sống. Bảo vệ tương lai của các con. Chúa xây bồn ép nho. Bồn ép nho là nơi làm việc. Quả nho phải trải qua quá trình ép, lọc, ủ mới lên men thành thứ rượu nho thơm lừng làm đẹp cho xã hội. Cũng vậy các con phải lao động vất vả qua nhiều công đoạn mới trở nên hữu ích cho Giáo Hội và cho xã hội. Có thể nói cuộc đời của mỗi người các con là một kỳ quan về tình yêu thương của Chúa. Chúa tạo dựng nên các con để các con được hạnh phúc. Chúa đã định sẵn cho các con một định mệnh tốt đẹp cao quý trong thánh ý Chúa.

Tiếc là có nhiều người không hiểu được điều đó, nên đã chối bỏ quyền Chúa làm chủ đời mình. Vì xua đuổi Chúa nên ma quỷ đã xâm nhập cuộc đời họ. Có nhiều người đã bỏ tháp canh lương tâm nên không còn tỉnh thức trước những nguy cơ đe dọa tàn phá sự sống. Có nhiều người đã phá đổ những phên dậu kỷ luật, biến vườn nho tâm hồn thành bãi đất hoang mặc cho mọi người chà đạp, tàn phá. Có nhiều người đã bỏ quên bồn ép nho, không chịu làm việc, chỉ rong chơi ngày tháng nên cả cuộc đời tiêu tốn biết bao sự thương yêu, tiền bạc, công sức của cha mẹ, thày cô giáo, các bề trên trong Giáo Hội mà không sinh được hoa trái gì cho cuộc đời.

Các con, sinh viên học sinh thân mến,

Đầu năm học mới là dịp các con chỉnh đốn lại vườn nho tâm hồn các con. Hãy để Chúa làm chủ cuộc đời các con. Hãy tin tưởng định mệnh Chúa dành cho các con là định mệnh tốt đẹp nhất. Tương lai Chúa dọn sẵn cho các con là tương lai tươi sáng không gì có thể so sánh được. Hãy đón nhận tình yêu thương của cha mẹ, thày cô giáo, và các bề trên trong Giáo Hội. Tình yêu thương chăm sóc của các ngài là nước mát tưới cho cây đời các con xanh tươi. Hãy tuân theo sự hướng dẫn của tháp canh lương tâm để các con biết phân biệt thật giả, trắng đen, thiện ác giữa lúc vàng thau lẫn lộn, biết chọn lựa con đường tốt đẹp cho tương lai. Hãy sống theo sự hướng dẫn của luật lệ, luật xã hội, luật học đường, luật sự sống, luật Giáo Hội. Đó chính là cách tự bảo vệ trước những lực lượng xấu, trước những cơn cám dỗ ngọt ngào đang rình chờ trói chặt những cuộc đời ẻo lả, mềm yếu, buông tuồng. Hãy làm việc trong bồn ép nho. Sự siêng năng chăm chỉ, lòng say mê học tập chính là chìa khóa của sự thành công.

Năm học mới là một ân huệ nhưng cũng là một trách nhiệm. Các con được ban nhiều, các con sẽ bị đòi hỏi nhiều. Năm học mới được ban tặng để các con sinh lợi. Sinh lợi để xứng đáng với tình thương của Chúa. Sinh lợi để xứng đáng với xã hội, quê hương đất nước. Sinh lợi chính là thăng tiến bản thân, làm lợi cho chính các con trước hết.

Xin Chúa ban phúc lành cho năm học mới để các thày cô giáo, các học sinh sinh viên thu lượm được nhiều kết quả tốt đẹp, góp phần thăng tiến bản thân, gia đình, Giáo Hội và xã hội. Amen.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Chúa đã ban cho bạn sự sống và còn đặt biết bao người, biết bao phương tiện, hoàn cảnh để nuôi dưỡng và phát triển sự sống đó. Bạn có nhận biết điều này không?

2) Bạn có nhìn nhận Chúa làm chủ đời mình và có thái độ xứng hợp không?

3) Phát triển là một trách nhiệm. Bạn có chu toàn trách nhiệm đó không?

Nguồn: tinmung.net






Lời giải đáp
VUI HỌC THÁNH KINH
CHÚA NHẬT XXVI TN A
Mt 21, 28-32

I. HÌNH TÔ MÀU CHÚA NHẬT XXVI TN. A

* Chủ đề:
Hối hận

* Tin Mừng thánh Mátthêu 21,29b :

Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi.


II. Lời giải đáp TRẮC NGHIỆM
CHÚA NHẬT XXVI TN. A

01. a. Người con thứ nhất(Mt 21, 28)
02. c. Vườn nho (Mt 21, 28)
03. b. Ông Gioan (Mt 21, 32)
04. Cả a và b đều đúng (Mt 21, 32)
05. a. Vào Nước Thiên Chúa (Mt 21, 31).

III.  Lời giải đáp Ô CHỮ
CHÚA NHẬT XXVI TN. A

01. Đức Giêsu (Mt 21, 31)
02. Hối hận (Mt 21, 29)
03. Ý muốn (Mt 21, 31)
04. Vườn nho (Mt 21, 28).
05. Ông Gioan (Mt 21, 32.
06. Công chính (Mt 21, 32)

Hàng dọc: Sám Hối

NGUYỄN THÁI HÙNG





Lời giải đáp
VUI HỌC THÁNH KINH
CHÚA NHẬT XXVII TN A
Mt 21, 33-43

I. HÌNH TÔ MÀU CHÚA NHẬT XXVII TN. A

* Chủ đề:
Sự tàn nhẫn

* Tin Mừng thánh Mátthêu 21,35 :

Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông: chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ.

II. Lời giải đáp TRẮC NGHIỆM
CHÚA NHẬT XXVII TN. A

01. a. Tá điền (Mátthêu 21,33)
02. d. Cả a, b và c đúng (Mátthêu 21,35)
03. b. Đứa thừa tự đây rồi (Mátthêu 21,37)
04. a. Tru diệt bọn chúng (Mátthêu 21,41)
05. b. Đá tảng góc tường (Mátthêu 21,42)

III.  Lời giải đáp Ô CHỮ
CHÚA NHẬT XXVII TN. A

01. Vườn nho (Mátthêu 21,33).
02. Tru diệt (Mátthêu 21,42)
03. Thu hoa lợi (Mátthêu 21,34).
04. Hái nho (Mátthêu 21,34).
05. Công trình (Mátthêu 21,42).
06. Đứa thừa tự (Mátthêu 21,37)
07. Đầy tớ (Mátthêu 21,34).

Hàng dọc: Vườn nho

NGUYỄN THÁI HÙNG




Ô CHỮ ĐỨC MẸ MÂN CÔI






Ô CHỮ ĐỨC MẸ MÂN CÔI



NHỮNG GỢI Ý
01. Địa danh Đức Mẹ hiện ra cho em Bernadette tên là gì ?
02. Liên quan đến Chuỗi Mân côi, còn có Chuỗi Kính Chúa thương xót. Chuỗi Kính Chúa Thương Xót được mạc khải cho thánh nữ nào ?
03. Ba trẻ được Đức Mẹ hiện ra tại Fatima là : Lucia, Phanxicô và ai ?
04. Đây là hình thức đạo đức bình dân mà mọi người tín hữu hay cầu nguyện.
05. Tín điều Đức Maria Mẹ Thiên Chúa được Công đồng nào tuyên tín ?
06. “Hãy ăn năn sám hối và năng lần hạt mân côi”. Đây là sứ điệp của Đức Mẹ khi hiện ra tại đâu ?
07. Cô bé được Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức tên là gì ?
08. Trong Mầu Nhiệm Ánh Sáng, tại nhà Tiệc ly, Chúa Giêsu lập bí tích gì ?
09. Mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi để tưởng nhớ biến cố đạo binh thánh giá chiến thắng quân Thổ vào năm 1571 tại Lêpan nhờ sự can thiệp của ai?
10. Đức Giáo hoàng đã thêm 5 Mầu Nhiệm Ánh Sáng tên là gì ?
11. Tín điều Đức Maria hồn xác lên trời được Đức Giáo hoàng nào tuyên tín ?
Hàng dọc : Chủ đề ô chữ là gì ?
GB. NGUYỄN THÁI HÙNG

CẦU NGUYỆN BẰNG CHUỖI MÂN CÔI


ĐGM.GB. Bùi Tuần
Trong lịch phụng vụ, tháng 10 có tên là tháng Mân côi. Suốt tháng này, Hội Thánh khắp nơi hướng về Đức Mẹ một cách đặc biệt. Lòng sùng kính của dân Chúa đối với Đức Mẹ trong thời gian này mang một đặc điểm riêng. Đó là cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi.

Mân côi chính là hoa hồng. Như thể, bằng chuỗi Mân côi, Hội Thánh trở thành một vườn hồng mênh mông, hương thơm sắc đẹp, dâng lên Mẹ hiền.

Lịch sử chuỗi Mân côi là một hành trình dài. Hành trình đó mang nhiều gợi ý. Những gợi ý này có thể giúp chúng ta cầu nguyện bằng chuỗi Mân côi một cách sốt sắng, vừa hợp với truyền thống, vừa sát với thời sự.

 Chuỗi Mân côi đốt lên lửa mến.

 Lịch sử cho thấy kinh Mân côi được thành hình do động lực sùng kính Đức Mẹ. Người được nhắc tới nhiều trong lịch sử kinh Mân côi là thánh Đaminh, đấng sáng lập Dòng Giảng thuyết. Ngài qua đời năm 1221. Một số tài liệu quả quyết rằng chính Đức Mẹ đã trao cho thánh Đaminh chuỗi Mân côi. Xung quanh thánh Đaminh còn một số tu sĩ nhiệt thành, như tu sĩ Dominique dòng Chartreux thành Trèves, tu sĩ Alain de la Roche dòng Đaminh thành Lille.

Các vị này đã có những đóng góp quan trọng. Tất cả các ngài đều là những tông đồ của Đức Mẹ. Với lòng xác tín, hăng hái, nhiệt thành, các ngài rao giảng, truyền bá kinh Mân côi. Trước hết là trong các cơ sở Dòng, sau là tại các giáo xứ của nhiều giáo phận Âu Châu.

Phong trào đọc kinh Mân côi sau đó được tổ chức thành các hiệp hội. Các người trong hiệp hội liên đới với nhau bằng chia sẻ đời sống thiêng liêng. Nhận thấy phong trào kinh Mân côi đem lại nhiều kết quả lớn lao và mau lẹ cho đời sống đức tin, Toà Thánh đã công nhận, khuyến khích và ban nhiều ân xá.

Năm 1475, tại Cologne, chính hoàng đế nước Đức là Fredéric III, hoàng hậu và hoàng tử đã xin ghi tên vào hội kinh Mân côi. Nhờ vậy, chuỗi Mân côi có thêm uy tín.

Uy tín đó không phải là lý do để phong trào kinh Mân côi lan rộng. Lý do lan rộng chính là tính cách Kinh Thánh và bình dân của chuỗi Mân côi.

Các lời kinh của chuỗi Mân côi đều được đúc kết từ Kinh Thánh. Các mầu nhiệm suy gẫm trong chuỗi Mân côi cũng được rút ra từ Kinh Thánh. Số 150 kinh Kính Mừng cũng là để nhớ lại số 150 thánh vịnh của Cựu Ước.

Tuy nền tảng là Kinh Thánh, nhưng chuỗi Mân côi được sắp xếp một cách bình dị, dễ đọc, dễ hiểu, hợp với bình dân. Miệng đọc kinh, lòng suy gẫm, tay lần chuỗi hạt, đó là một hình thức đạo đức bình dân thấy có ở nhiều tôn giáo truyền thống như Phật giáo, Hồi giáo.

Với hình thức đạo đức này, kinh Mân côi đã đốt lên lửa mến trong các tâm hồn. Nhiều tâm hồn trước kia nguội lạnh đã được ơn trở về.

 Chuỗi Mân côi thắp sáng niềm hy vọng cứu độ.

Lịch sử cho thấy: Khi khấn cầu ơn nọ ơn kia, nhiều người đã dựa vào chuỗi Mân côi như một nguồn để tìm sức mạnh cậy trông.

Năm 1571, trước cơn đe doạ đạo Chúa bị tàn phá, Đức Thánh Cha Piô V, đã truyền cho Hội Thánh cầu nguyện bằng chuỗi Mân côi, với hy vọng Chúa sẽ cứu. Khấn cầu đó đã được Chúa chấp nhận. Chiến thắng ở vịnh Lepante ngày 7 tháng 10 năm 1571 đã là cơ sở để Đức Thánh Cha thiết lập lễ Đức Mẹ Mân côi. Hằng năm cứ đến ngày 7 tháng 10, Hội Thánh đề cao chuỗi Mân côi như một nguồn hy vọng.

Năm 1629, trước cơn dịch tả nguy hiểm lan rộng trên nước Ý, tu sĩ Timoteo Ricci đã lập ra chuỗi Mân côi liên tiếp. Thầy tính rằng: Mỗi năm có 8.760 giờ. Căn cứ vào đó, thầy làm ra 8.760 tấm vé. Mỗi vé ghi tháng, ngày, giờ. Rồi cho rút thăm. Ai được vé nào thì cam kết đọc chuỗi Mân côi tháng ngày giờ đó. Mục đích có ý xin ơn chết lành cho những người hấp hối, xin ơn trở lại cho những người tội lỗi, xin ơn bình an cho các dân tộc.

Từ sáng kiến đó, phong trào kinh Mân côi liên tiếp được thành lập và lan rộng. Năm 1657, Đức Giáo Hoàng Alexandre VII chấp nhận phong trào đạo đức này, và ban cho nhiều ân xá.

Năm 1826, trước nhu cầu truyền giáo cho các vùng xa xôi, bà Pauline Jaricot, thành Lyon, đã có sáng kiến lập ra phong trào "Kinh Mân côi sống". Cứ 10 nguời thì thành một nhóm nhỏ. Mỗi người trong nhóm cam kết đọc 10 kinh Kính Mừng mỗi ngày. Hơn nữa, mỗi người trong nhóm sẽ tìm thêm 5 người. Năm người này cũng hứa đọc 10 kinh Kính Mừng mỗi ngày. Và cứ thế nhân lên số người đọc kinh Kính Mừng.
Mỗi tháng, bà Pauline phổ biến cho các nhóm một bản suy gẫm Lời Chúa, hướng về truyền giáo.
Đầu thế kỷ XX, trước tình hình suy giảm đức tin tại Pháp, cha Joseph Eyquem lập ra những hội Mân côi. Sinh hoạt của những người theo hội này cũng là đọc 10 kinh Kính Mừng mỗi ngày. Ngoài ra, họ họp nhau mỗi tháng một lần. Cuộc họp không tổ chức ở nhà thờ, nhưng ở nhà tư, lúc ở nhà này, khi ở nhà khác. Cuộc họp gồm đủ mọi thành phần. Những tín hữu bình thường, những người ly dị, những người rối vợ rối chồng, những người xa tránh các bí tích. Họ cầu nguyện, trao đổi, chia sẻ và giúp đỡ nhau vượt qua các thử thách.

Nói chung, khi gặp những khó khăn nguy hiểm, cả trong đạo lẫn ngoài đời, người ta đã chạy lại với Đức Mẹ. Họ khẩn cầu Mẹ bằng chuỗi Mân côi. Và thực sự chuỗi Mân côi đã đem lại cho các tâm hồn những hy vọng lành thánh.

 Chuỗi Mân côi mở kho tàng trái Tim Đức Mẹ.

 Trước đây, chuỗi Mân côi được truyền bá bởi các thánh, và Hội Thánh. Nay, chính Đức Mẹ lên tiếng.
Tại Fatima, khi hiện ra với ba trẻ, Phanxicô, Giacinta và Lucia, Đức Mẹ đã mang chuỗi Mân côi. Đức Mẹ cũng đã khuyên người ta hãy năng cầu nguyện kinh Mân côi.

Tại Fatima, Lộ Đức và những nơi hành hương, chuỗi Mân côi ví như những chuỗi hoa hồng của các trái tim không ngừng dâng lên Đức Mẹ. Còn Đức Mẹ, thì luôn mưa những hoa hồng thiêng xuống cho các người chân thành cầu khấn. Hoa hồng nói đây là những ơn phúc phần hồn phần xác. Ơn phúc đủ loại, nhất là ơn sám hối, ơn trở về với Chúa, ơn đổi mới cuộc đời, ơn đi sâu vào Phúc Âm, ơn biết đón nhận thánh ý Chúa để trở thành cộng tác viên đắc lực của Đức Mẹ đồng công cứu chuộc.

Các ơn Đức Mẹ ban qua chuỗi Mân côi phát xuất từ trái tim Đức Mẹ. Trái tim ấy đầy tình thương và cũng đã chịu nhiều đau đớn, để cùng với Chúa Giêsu cứu chuộc nhân loại bằng hy sinh trên thánh giá. Vì thế có thể nói, các ơn đó đến từ trên, và chảy vào trong nội tâm mỗi người. Với nhận thức đó, chúng ta hiểu ý nghĩa lời Đức Mẹ nói với Bernadette ở Lộ Đức: "Mẹ không hứa cho con hạnh phúc đời này, nhưng hạnh phúc đời sau". Tuy nhiên, ngay ở đời này, những ai lần chuỗi Mân côi, cũng sẽ được Đức Mẹ thương ban ơn, cách này hay cách khác.

Hiện nay, cuộc sống đang đặt ra nhiều vấn đề nan giải. Kinh Mân côi sẽ giúp chúng ta tìm được lối thoát. Lối thoát sẽ từ trên trái tim Đức Mẹ mà xuống và từ trong nội tâm ta mà ra. Nội tâm ta cầu nguyện sám hối. Trái tim Đức Mẹ sẽ làm chứng một cách sống động lời thiên thần đã nói với Đức Mẹ xưa: "Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được" (Lc 1,37).
 
Nguồn: giadinhphattathanhtam

Đáp án

01. Lộ Đức
02. Thánh nữ Faustina.
03. Jacintha.
04. Chỗi Mân Côi.
05. Công Đồng Êphêxô.
06. Fatima.
07. Cô Bernadette.
08. Bí tích Thánh Thể.
09. Đức Mẹ.
10. Gioan Phaolô II.
11. Đức giáo hoàng Piô XII.
NGUYỄN THÁI HÙNG

Thứ Sáu, 23 tháng 9, 2011

Ý nghĩa của Sáng thế 9,3-5




Ý nghĩa của Sáng thế 9,3-5


Trong sách Sáng Thế, Chương 9, câu 3-5

“Mọi loài di động và có sự sống sẽ là lương thực cho các ngươi; Ta ban cho các ngươi tất cả những thứ đó, cũng như đã ban cỏ xanh tươi. Tuy nhiên các ngươi không được ăn thịt với mạng sống của nó, tức là máu. Nhưng Ta sẽ đòi mọi con vật phải đền nợ máu các ngươi, tức là mạng sống của các ngươi; Ta sẽ đòi mỗi người phải đền mạng sống của người anh em mình.”

Xin Cha hoặc thầy vui lòng giải thích câu KT trên có ý  nghĩa như thế nào.

Xin chân thành cám ơn trước.

B.D (Bernie Duong<bernyduong@...)

-----------------------------------------------------

Kính thăm chị,

Xin trả lời chị.

Vì đoạn văn chị đưa ra hỏi ý nghĩa chỉ có thể hiểu được nếu được đặt vào trong ngữ cảnh, xin chị vui lòng cùng với chúng tôi trở lại với các ý tưởng thuộc các chương trước đây.

Bởi vì St 1,28 là bối cảnh của lời chúc phúc ở St 9,1, điều đáng chú ý là nhiệm vụ “thống trị” và “bá chủ” (St1,28b) không được nhắc lại ở đây. Điều này cho hiểu là các hoàn cảnh mới của thế giới nặng tội lỗi đã làm thay đổi phương diện này của lời Thiên Chúa chúc lành cho Ađam, vì sẽ khó mà chu toàn được các nhiệm vụ đó trong tình hình thù nghịch của thế giới mới. Các từ “dã thú”, “chim trời”, giống vật bò dưới đất” và “cá biển” khiến ta nhớ lại lệnh truyền đầu tiên của Thiên Chúa cũng như quy định từ đầu là “phải ăn kiêng” (St 9,2-3; x. 1,28-30). Dù tội lỗi đã xuất hiện và dù có lụt hồng thủy, các biến cố này vẫn không bẻ quẹo sự bố trí của Thiên Chúa, đó là con người vẫn được làm chủ và sử dụng thế giới loài vật mà phục vụ mình, nhưng vì có những vấn đề mới, nên cần có những cấm đoán mới. Thế giới của ông Nôê nay có chuyện giết chóc, nên cần có những biện pháp bảo vệ. Sự kính trọng sự sống nói chung và tính bất khả xâm phạm của sự sống con người nói riêng, cùng với lời đe là Thiên Chúa sẽ trừng phạt, sẽ ngăn cản việc tàn sát không phân biệt.

Để đảm bảo là loài vật không phải là một mối đe dọa cho gia đình nhân loại, Thiên Chúa phú vào trong các con vật nỗi “kinh hãi khiếp sợ” loài người, nhờ đó con người hành xử được một thứ quyền bính trên chúng, tuy là một quyền bính giới hạn: “Chúng được trao vào tay các người” (St 9,2). Điều này hoàn toàn khác với quan hệ mà người nam và người nữ đầu tiên đã được hưởng trong khu vườn với các cư dân thú vật (St2,19-20: “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy đất nặn ra mọi dã thú, mọi chim trời, và dẫn đến với con người, xem con người gọi chúng là gì: hễ con người gọi mỗi sinh vật là gì, thì tên nó sẽ là thế. Con người đặt tên cho mọi súc vật, mọi chim trời và mọi dã thú”). Bây giờ Thiên Chúa đã đặt đời sống và cái chết của thú vật dưới quyền của tự do con người. Như chúng ta sẽ biết từ các câu 3 và 4, điều có nhắm đến việc giết thú vật làm lương thực.

Thiên Chúa lại công bố về khoản lương thực cho cả loài người lẫn loài thấp kém hơn (c. 3), như trước đây Người đã ban “cỏ xanh tươi” cho cả loài người lẫn thú vật, “mọi vật có sinh khí” (x. St 1,29-30). Như thế là bất cứ loài “có sinh khí nào” còn tồn tại sau lụt hồng thủy (x. 6,17; 7,22) thì vẫn được Thiên Chúa ban cho có lương thực, nhưng trước lụt hồng thủy thì “ăn cỏ canh tươi”, còn sau lụt, thì được ăn thịt. Như thế phép được ăn thịt ở St 9,3 trở thành như một dấu phân biệt thời đại tiền hồng thủy và thời đại hậu hồng thủy.

Tuy nhiên, được ăn thịt mà “không được ăn máu” (c. 4), vì trong tiếng Hípri, “máu” có nghĩa là “sự sống”: “ăn máu” được coi như đồng nghĩa với “tàn sát”. Con thú, cho dù được ban cho loài người làm lương thực, vẫn có giá trị dưới mắt Thiên Chúa như một thọ tạo sống động, nên cũng đáng được quan tâm, chứ không được lạm dụng, không được đối xử dã man với súc vật. Quyền được giết súc vật làm lương thực có kèm theo trách nhiệm phải chăm sóc chúng, giống như trách nhiệm được diễn tả trước đây tại vườn Êđen (x. 2,15). Không trân trọng quà tặng sự sống là một sỉ nhục đến Đấng Ban Tặng sự sống ấy, vì sự sống cũng được nhận định là “tốt lành”. Vì vậy, lệnh “không được ăn thịt với mạng sống, tức là máu”, nghĩa là cấm ăn một con vật khi nó còn sống, đưa đến lô-gích là phải để chảy cho hết máu của con vật bị giết như quy định theo luật Môsê (x. chẳng hạn Đệ nhị luật 12,24).

Rồi St 9,5 thì đề cập đến sự sống con người. Sự sống con người phải được xử lý với sự cẩn thận đặc biệt, bởi vì nó có giá trị đặc biệt là sự sống được tạo thành theo “hình ảnh Thiên Chúa” (c. 6). Trong khi lệnh cấm trước đây liên hệ đến việc ăn thịt không quy định một hình phạt nào cho người vi phạm (c. 4), ở đây chúng ta có một câu dài nói về hình phạt, nhấn mạnh trên những hậu quả trầm trọng của việc lấy đi “sự sống”.

Cái chết của con người đòi một sự “đền nợ/mạng” (3 lần). Lần đầu, là nói tổng quát, rồi sau đó thì quy định rằng con vật và người đồng loại đều phải chịu hình phạt. Chúa nói “Ta sẽ đòi” vì việc lấy mạng sống con người trước hết là xúc phạm đến Thiên Chúa (xem c. 6). Nền tảng của lệnh cấm lấy mạng sống con người bắt nguồn nơi giá trị siêu việt của sự sống con người được ban trong cuộc tạo dựng. Nói đến “đền mạng sống của người anh em”, ta lại nhớ đến cuộc huynh đệ tương tàn giữa Cain và Abel (St 4,2.8). “Cain đã nói: “Con là người giữ em con hay sao?” (St 4,9). Bản văn chúng ta đang khảo sát ở đây chính là câu trả lời: Đúng là phải giữ anh/em con! Giết người là giết anh/em mình, bởi vì do giao ước mà tất cả mọi người kết với Thiên Chúa trong tư cách được tạo dựng theo “hình ảnh” Người, mọi người là anh em của nhau.

Thật ra, để nắm vững hơn nữa ý nghĩa của St 9,3-5, cần phải quy chiếu về một số quy đinh của Luật Môsê. Lý do là, tuy được đặt ở đầu Bộ Kinh Thánh, bản văn St lại thành hình khá muộn màng vào thời sau Lưu đày nhằm minh định niềm tin và củng cố niềm tin cho Dân Chúa. Chẳng hạnLêvi 17,10tt; 19,26; Đệ nhị luật 12,24; Êkêdien 33,25. Nhưng chúng tôi chọn chỉ giải thích St 9,3-5 bằng chính sách Sáng thế, để khỏi làm cho vấn để trở nên quá phức tạp.

Xin Lời Chúa tiếp tục là ngọn đèn soi chiếu đường đời của chị.

kinhthanhvn

Đức Giáo Hoàng nói về kinh doanh


Caritas in Veritate: Đức Giáo Hoàng nói về kinh doanh


Kể từ khởi thủy thời Aristote và Platon, nghiên cứu kinh tế vẫn luôn là một ngành của triết lý, thuộc địa của chính trị học và đạo đức học. Nhưng tất cả đã thay đổi vào cuối thế kỷ 19 khi các nhà kinh tế cố gắng biến môn lúc đó gọi là kinh tế chính trị trở thành khoa học thuần túy có tên là kinh tế học. Gọi là khoa học "thuần túy" vì nó dựa theo mô hình môn vật lý, trong đó thị trường vận hành theo các luật nghiêm khắc giống hệt như sự dịch chuyển các ngôi sao và không có chỗ cho những cân nhắc luân lý. Được giải thoát khỏi cái "vòng kim cô" luân lý, các nhà khoa học kinh tế những tưởng có thể vạch được tiến trình kinh tế với sự chính xác như các nhà thiên văn có thể vẽ được quỹ đạo của các hành tinh. Chỉ có sự quan sát và toán học là đáng kể thôi. W.S. Jevons nói cách đây hơn 100 năm: nếu nhà kinh tế có thể thu thập được đủ số liệu thống kê, thì kinh tế sẽ "chính xác như nhiều môn khoa học vật lý khác".

Ngày nay ta có quá nhiều cỗ máy điện toán mà Jevons có nằm mơ cũng không thấy. Ấy vậy mà bất chấp những nguồn dữ liệu ngồn ngộn liên tục nạp vào các máy điện toán, khoa học kinh tế vẫn chẳng đón lõng, đón đầu được cuộc khủng hoảng đã và đang diễn ra làm rung chuyển địa cầu. 90% các nhà kinh tế không đoán trước được diễn tiến cuộc khủng hoảng. Ngay cả các nhà kinh tế lừng lẫy cũng cho rằng "tất cả đều tốt đẹp", “bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng” ngay vào lúc sự cố sắp đổ ụp xuống. Cứ vậy mà khủng hoảng xảy ra theo mô thức này và lặp đi lặp lại. Dường như người ta chỉ nắm được mỗi quy luật này: khủng hoảng càng lớn thì các nguyên nhân của nó lại càng tù mù, hũ nút, tối mò.

Phải chăng như thế có nghĩa là "khoa học" của các nhà kinh tế chưa hoàn bị, họ còn thiếu nguyên tắc cơ bản nào đó tối cần thiết để nghiên cứu kinh tế?

Giáo Hội Công giáo đã luôn luôn nghĩ như thế. Ngay từ năm 1891, thời điểm manh nha sự thống trị của "khoa học" kinh tế, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII trong Thông điệp Tân Sự đã khẳng định rằng kinh tế phải dựa trên công bằng. Hơn nữa, ngài nhấn mạnh dấu hiệu của sự công bằng này là ở đồng lương chính đáng. Các kinh tế gia bỡ ngỡ: tiền lương chẳng qua chỉ là một thứ hàng hóa, như lúa mì hay quặng sắt, mà lòng người thì hám lợi, cung trên “chợ người” cao mà cầu thì thấp, tội gì mà không ép giá sát sàn sạt tất tần tật. Tuy nhiên, các vị giáo hoàng kế nhiệm cũng đều lập lại và mở rộng giáo huấn của Đức Lêô. Các vị cho rằng kinh tế học nghiên cứu các quan hệ cá nhân và các quan hệ của các tổ chức cần thiết cho việc cung cấp phẩm vật vật chất cho xã hội. Vì có liên quan đến các quan hệ con người, cho nên kinh tế học phải là một khoa học nhân văn, mang tính độc lập như toàn bộ các khoa học nhân văn, về các chuẩn mực của hành vi con người, các chuẩn mực mà ta gọi là các đức tính và luân lý. Nhân đức tự nhiên lớn nhất là công bằng, và trong lĩnh vực chính trị và kinh tế, điều này có nghĩa là công bằng cá nhân và công bằng xã hội.



Nay đến Đức Bênêđíctô XVI với Thông điệp Bác ái trong Chân lý, vượt trội lên trên toàn bộ cácthông điệp xã hội trước đó bằng cách khẳng định rằng một nền kinh tế đúng đắn không những phải dựa trên nhân đức tự nhiên công bằng mà còn đặt cơ sở trên nhân đức siêu nhiên bác ái! Tất nhiên công bằng là một bộ phận của bác ái: bạn không thể bảo rằng bạn yêu ai mà lại đối xử bất công với người đó. Nhưng không có thông điệp nào trước đó lại khẳng định tính hàng đầu của tình yêu cần được cân nhắc trong thực tiễn của đời sống kinh tế và xã hội. Không những thế, Đức Bênêđíctô còn đi xa hơn: ngài khẳng định nguyên tắc nhưng không “tình cho không biếu không” trong kinh doanh, nhấn mạnh ý tưởng quà tặng cho không biếu không. Đến đây thì nhiều nhà quan sát kết luận rằng Đức Giáo hoàng đang lao quá sâu vào chủ nghĩa không tưởng, có lẽ thích hợp hơn trong thế giới thiên thần, nhưng sẽ chỉ có thảm bại trong thế giới loài người sa ngã. Doanh nhân có thể đưa cả hai tay lên và nói: "Điều hành doanh nghiệp cái ngữ này thì nhà cháu đến bó tay chào thua" và bỏ qua. Nhưng Đức Giáo hoàng cứ nằng nặng, sẽ là một sai lầm nếu bỏ qua, sai lầm không những trên bình diện trừu tượng hoặc thiêng liêng mà còn cả trên bình diện thực tiễn nữa.

Điều Đức Bênêđíctô mang đến là câu hỏi lớn: Tình yêu phải làm gì trong hoàn cảnh này?

Phạm vi Thông điệp khá rộng. Đức Giáo Hoàng đề cập đến các vấn đề toàn cầu hóa, đầu cơ tài chính, gia công sản xuất bên ngoài (outsourcing), tình trạng bất bình đẳng, di dân, công nghệ, luật bản quyền, môi sinh, vân vân và vân vân. Có lẽ ngài đang làm sống lại các tư tưởng của Đức Phaolô VI, vị Giáo Hoàng vào thời điểm kết thúc Công đồng Vatican II. Chính Đức Phaolô viết hai thông điệp gây nhiều tranh cãi: Phát triển Các Dân Tộc và Sự Sống Con Người.

Đức Bênêđíctô đã hợp nhất, kết nối tư tưởng của hai Thông điệp lại thành một và áp dụng vào hoàn cảnh hiện nay. Ngài tin rằng những ai không mở ra cho sự sống thì trong thực tế cũng không cởi mở với người anh em. Ngài xem phát triển như một sự thực thi tình liên đới với những người anh em của chúng ta, cho dù những người này có ở xa đến đâu chăng nữa. Suốt Thông điệp, ngài nhấn mạnh rằng quan tâm về luân lý cũng là quan tâm kinh tế. Chẳng hạn, khi bàn luận các mức bất bình đẳng cao độ, ở giữa các nước lẫn ở trong nội bộ các nước, Đức Bênêđíctô viết:

"Kinh tế học bảo ta rằng những bất ổn về cấu trúc làm phát sinh những thái độ phản sản xuất gây lãng phí các nguồn nhân lực, vì công nhân có khuynh hướng thụ động chiều theo các cơ chế máy móc hơn phát huy tính sáng tạo. Cả về điểm này nữa, có sự đồng thuận giữa khoa kinh tế học và việc đánh giá luân lý. Giá trị nhân bản bao giờ cũng là một giá trị kinh tế, và những lệch lạc về mặt kinh tế bao giờ cũng kéo theo những trả giá về nhân bản". (32)

Như vậy, ngài đề cao đạo đức xã hội như một nguyên tắc thực tiễn của nền kinh tế lành mạnh. Ở đây ta hãy tập chú vào nguyên tắc nhưng không. Liệu nguyên tắc này có thể là một bộ phận của khoa kinh tế học được không? Các doanh nghiệp, cuối cùng ra, được điều hành nhắm vào mục đích lợi nhuận, như thế thì điều này chẳng hóa ra dường như trái với ý tưởng quà tặng.

Đức Giáo Hoàng hiểu rõ nhu cầu lợi nhuận, thuật ngữ ngài dùng 14 lần, nhưng ngài hiểu lợi nhuận như một phương tiện cho một cứu cánh, chứ không phải tự bản thân lợi nhuận là cứu cánh (21, 32, 38, 40, 41, 46, 47, 66, 71). Làm ra lợi nhuận đối với một doanh nhân có nghĩa là người đó đã phân bổ đúng các nguồn lực của công ty. Bằng không, chẳng có cách nào bảo rằng doanh nhân đó đang đi đúng đường. Há người ta chẳng hay nói giám đốc là người làm ra lợi nhuận đó sao? Tuy nhiên, "một khi lợi nhuận trở thành mục đích duy nhất, nếu được tạo bởi phương tiện bất chính và không lấy công ích làm cứu cánh tối hậu, thì có nguy cơ là lợi nhuận sẽ hủy hoại cảnh giầu có và tạo nên cảnh nghèo khó" (21).
Thực vậy, hầu như mọi doanh nhân đều hiểu điều đó bằng trực giác. Bụng thì bảo dạ rằng “tôi kinh doanh là để làm ra lợi nhuận" nhưng họ cũng biết họ trở thành doanh nhân còn vì cả tá lý do khác: để thể hiện tài năng, giúp đỡ gia đình, ngay cả gia đình của những đồng nghiệp, đóng góp cho cộng đồng, để thành đạt với đời, thân tự lập thân, mình làm chủ mình. Đức Bênêđíctô ghi nhận:

"Đang gia tăng một niềm xác tín là ban quản trị doanh nghiệp không thể chỉ quan tâm đến những lợi ích của chủ sở hữu, mà còn phải lãnh trách nhiệm đối với tất cả các người có lợi ích liên quan khác, là những người đóng góp vào đời sống doanh nghiệp: công nhân, khách hàng, các nhà cung cấp các yếu tố sản xuất khác nhau, cộng đồng có liên quan… nhiều quản trị viên nhìn xa trông rộng ngày nay đang càng ngày càng ý thức về những liên hệ sâu xa giữa doanh nghiệp của họ với lãnh thổ hay những lãnh thổ hoạt động của mình" (40).

Những tình cảm này đối với với nhiều chủ doanh nghiệp hoàn toàn không có gì đang ngạc nhiên. Tuy nhiên, đối với nhiều viên chức thư lại của công ty thì những lời này nghe lạ tai vì họ được đào tạo để tin rằng họ chỉ có nghĩa vụ duy nhất đối với các cổ đông của mình mà thôi, ngoài ra chẳng có nghĩa vụ với ai hết. Ta có thói quen đánh đồng các doanh nghiệp trong khi có ít nhất hai loại hình doanh nghiệp: các đại công ty điều hành theo phong cách thư lại bởi và cho các viên chức thư lại và các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đa phần do chủ doanh nghiệp điều hành. Nhóm doanh nghiệp thứ hai dễ có nhiều thời gian hơn để trông thấy các nghĩa vụ của mình đối với công nhân, nhà cung cấp, các người gần bên.
Nay, với bối cảnh đó, ta thấy dễ hiểu hơn điều mà Đức Bênêđíctô muốn nói về sự nhưng không. Công nhân và chủ doanh nghiệp đều cung cấp dịch vụ cho cộng đồng và thực hiện điều này trong sự liên đới với tất cả các nhóm lợi ích khác. Trên bình diện thuần túy giao hoán theo kiều “ông mất chân giò bà thò chai rượu”, điều này dĩ nhiên chịu sự điều chỉnh của các quy định trong hợp đồng, luật cung cầu. Tuy nhiên, "trong cả các quan hệ thương mại, nguyên tắc nhưng không và lô-gích quà tặng như sự thể hiện tình huynh đệ có thể và phải tìm thấy chỗ đứng của mình ngay trong hoạt động kinh tế bình thường. Đây là một đòi hỏi của con người vào lúc này, nhưng cũng là đòi hỏi cho lô-gích kinh tế nữa. Đây cũng là đòi hỏi của bác ái và sự thật" (36). "Lô-gích quà tặng" không phủ nhận lô-gích trao đổi hoặc lô-gích bổn phận hoặc luật lệ, nhưng nâng cả hai lên. Lô-gích quà tặng giúp ta nhìn công việc của mình trong một ánh sáng mới, và như vậy được sáng soi, để đóng góp các tài năng của chúng ta cho sự thịnh vượng chung hoặc công ích.

Con đường sáng nhìn xem hoạt động doanh nghiệp cho phép Đức Giáo hoàng đề cập đến các hình thức mới của doanh nghiệp:

"Cùng với doanh nghiệp tư tìm kiếm lợi nhuận và những loại hình khác nhau của doanh nghiệp công, cần phải có chỗ cho những chủ thể thương mại đặt nền tảng trên những nguyên tắc hỗ tương và theo đuổi những mục đích xã hội được thành lập và phát triển. Chính từ sự gặp gỡ hỗ tương này nơi thị trường mà ta có thể mong đợi những hình thức pha trộn của hành vi thương mại và vì thế chú trọng đến các phương thế văn minh hóa kinh tế. Trong trường hợp này, bác ái trong chân lý đòi hỏi rằng cần phải cung cấp hình thức và cấu trúc cho các loại sáng kiến kinh tế không khước từ lợi nhuận nhưng nhắm đến một mục tiêu cao hơn lô-gích trao đổi những giá trị tương đương và lô-gích lợi nhuận là một mục tiêu." (38)

Một lần nữa, ta tự hỏi phải chăng Đức Bênêđíctô đang tưởng tượng ra những hình thức mới của doanh nghiệp. Thật ra, các doanh nghiệp đó không mới. Chúng tồn tại, đã tồn tại, và nói chung, khá thành công. Trong số đó Công ty Hợp tác xã Mondragón của Tây Ban Nha và kinh tế hợp tác xã Emilia-Romagna tại Ý là hai thành công nổi bật nhất.

Công ty Hợp tác xã Mondragón, một tổ hợp hợp tác xã công nhân đã thành lập được 50 năm và có trên 100.000 công nhân với doanh số trên 20 tỷ USD. Nhưng Mondragón không chỉ là một doanh nghiệp; Mondragón còn điều hành các trường học, các viện nghiên cứu, một trường đại học, các viện đào tạo, một hệ thống an sinh xã hội, và một liên hiệp tín dụng, tất cả đều tự tài trợ, tự cấp vốn. Doanh nghiệp khổng lồ này không cần đến nguồn đầu tư bên ngoài mà chỉ cần sự cam kết và cống hiến của các công nhân và cộng đồng của doanh nghiệp.

Tại vùng Emilia-Romagna (tại Ý chung quanh Bologna) các hợp tác xã công nhân đóng góp 40% GDP. Người lao động được hưởng lương cao khoảng hai lần lương trung bình ở Ý và mức sống của họ thuộc loại cao nhất Châu Âu. Ngoài ra, họ còn đi tiên phong với một quy trình mới sản xuất công nghiệp bao gồm làm việc theo mạng (networking) giữa các hãng nhỏ hợp tác về các dự án lớn, nhờ đặc điểm này họ có thể duy trì các công ty quy mô nhỏ và vừa, ấy vậy mà có thể cạnh tranh trên thị trường quốc tế về những công việc lớn.

Trên đây chỉ là hai trong số hàng ngàn ví dụ có thể kể ra. Câu trả lời dứt khoát cho những ai bảo rằng "cái này không được đâu" là hãy chứng tỏ rằng hệ thống đó đang hoạt động và đã hoạt động từ lâu, 50 năm rồi “vẫn chạy tốt”. Hiển nhiên, các hãng này này chỉ là lệ ngoại, chứ không phải lệ thường. Tuy nhiên, chẳng có lý do gì để cho rằng các doanh nghiệp “lệ ngoại” đó lại không thể trở nên “lệ thường’ được. Rahm Emmanuel có một câu rất nổi tiếng: "Đừng bao giờ lãng phí một cuộc khủng hoảng". Thật đáng xấu hổ nếu ta để phí cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, nếu như ta không sử dụng nó như một cơ hội để tư duy, suy nghĩ về ý nghĩa và vai trò của doanh nghiệp.

Qua Thông điệp, Đức Bênêđíctô cung cấp cho ta các công cụ trí thức và tâm linh để suy tư về cuộc khủng hoảng này, và về những gì ta phải làm. Caritas in Veritate, "bác ái trong chân lý", có thể và phải là sự tập trung những suy tư loại này cho mọi tín hữu Công giáo. Tình yêu, caritas, chưa đủ để thành lập một doanh nghiệp; còn phải cần đến một số lớn kiến thức kỹ thuật nữa. Nhưng kiến thức đó sẽ dễ lạc đường nếu không được sáng soi bởi một tầm nhìn “yêu người như thể thương thân”. Phải có một cuộc đối thoại giữa cả kiến thức và tình yêu. Hoặc, nói theo Đức Bênêđíctô:

"Bác ái không phải là điều phụ thuộc được thêm vào sau, như một phụ lục cho công trình đã được hoàn thành ở từng ngành khác nhau: bác ái đã hiện diện với các ngành đó ngay từ đầu cuộc đối thoại. Các đòi hỏi của tình yêu không nghịch lại với những đòi hỏi của lý trí. Tri thức con người thiếu sót và những kết luận của khoa học tự chúng không thể vạch ra con đường tiến đến sự phát triển toàn bộ con người. Luôn luôn có nhu cầu đẩy mạnh lên: đây là điều bác ái trong chân lý đòi hỏi [76]. Tuy nhiên, việc vượt hơn đây không có nghĩa là không cần đến các kết luận của lý trí, không có nghĩa là nghịch lại với những kết quả của nó. Trí thức và tình yêu không ở trong những gian phòng tách biệt: tình yêu phong phú nhờ trí thức và trí thức tràn đầy tình yêu" (30).

"Tình yêu phong phú nhờ trí thức và trí thức tràn đầy tình yêu". Xin được kết thúc bài này bằng một lời vàng ngọc nữa của Đức Bênêđíctô: văn minh hóa kinh tế. Đây chẳng phải là một giá trị phải sống trong thời đại ngày nay sao?

Nguồn tài liệu tham khảohttp://distributism.blogspot.com/2009/08/benedict-on-business-whats-love-got-to.html
Người chuyển dịch: 
Đan Quang Tâm
Đã đăng trên www.nguoitinhuu.com


Thứ Năm, 22 tháng 9, 2011

CÁI SAI LẦM NGUY HIỂM CỦA NỀN THẦN HỌC GIẢI PHÓNG




CÁI SAI LẦM NGUY HIỂM CỦA NỀN THẦN HỌC GIẢI PHÓNG



Đức Cha Athanasius Schneider hiện nay là Giám Mục Phụ Tá giáo phận Karaganda thuộc cộng hòa Kazakistan ở miền Trung Á. Ngài từng đi truyền giáo bên Brasil và thụ phong Linh Mục tại đây vào năm 1990. Xin nhường lời cho Đức Cha vạch rõ cái sai lầm nguy hiểm của nền thần học giải phóng.

Tại Trung Á, trong thời đảng cộng sản vô thần nắm quyền, Giáo Hội Công Giáo bị bách hại tàn khốc nhưng rất may là chúng tôi không bị lung lạc bởi nền thần học giải phóng. Trái lại, tại Brasil, khi tôi đặt chân đến đây truyền giáo vào năm 1984 thì đất nước này đang chịu ảnh hưởng nặng nề của nền thần học giải phóng. Cá nhân tôi, tôi từng chứng kiến cái tàn phá ghê gớm do nền thần học giải phóng mang lại cho một giáo phận, mặc dù lúc ấy tại nhiều nơi khác ở Brasil còn bị phá hoại khủng khiếp hơn.

Thần học giải phóng làm hại Giáo Hội Công Giáo ở chỗ nó làm trệch đường giáo huấn Tin Mừng của Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Ngài đến trong thế gian trước tiên là để ban cho chúng ta Chân Lý Vĩnh Cửu và Sự Sống đời đời chính là Sự Sống của THIÊN CHÚA và là sự sống của ân sủng. Đức Chúa GIÊSU sửa dạy dân chúng khi thấy họ muốn tôn phong Ngài làm VUA chỉ vì Ngài đã cho họ ăn bánh no nê. Ngài nói:
- Anh chị em muốn tôn phong Tôi làm vua vì Tôi cho anh chị em ăn bánh. Nhưng Tôi, Tôi không đến chỉ để ban bánh cho anh chị em ăn!

Khi một người tin nơi THIÊN CHÚA và yêu mến Ngài thì tức khắc cũng đầy tràn lòng yêu thương giúp đỡ người nghèo. Đó là chuyện đương nhiên. Nhưng nhiệm vụ trước tiên và hàng đầu của Giáo Hội Công Giáo và của các tông đồ là mang Chân Lý vĩnh cửu của Đức Chúa GIÊSU KITÔ đến cho con người để soi sáng con người bằng chính Chân Lý Thần Linh. Mọi người đều khao khát tìm kiếm Sự Thật. Kinh Thánh nói:
- Con người không chỉ sống bằng bánh mà còn bằng mỗi lời từ Miệng THIÊN CHÚA phán ra.

Khi Đức Chúa GIÊSU bị tên quỷ cám dỗ biến đá thành bánh để ăn thì Ngài đã đẩy lui tên quỷ bằng lời Kinh Thánh vừa trích. Đó cũng là chước cám dỗ mà vài Mục Tử bị rơi vào khi quên bẵng lời Đức Chúa GIÊSU trả lời tên quỷ:
- Con người không chỉ sống bằng bánh mà còn bằng mỗi lời từ Miệng THIÊN CHÚA phán ra.

Tôi muốn nhấn mạnh điểm này. Giống như nơi chương 6 trong Sách Công Vụ Tông Đồ kể lại. Khi các Tông Đồ thấy việc chăm sóc các nhu cầu thể xác trở thành vấn đề thì các ngài triệu tập toàn thể các môn đệ và nói:
- Chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời THIÊN CHÚA để lo việc ăn uống là điều không phải. Vậy anh em hãy tìm trong cộng đoàn 7 người được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan, rồi chúng tôi sẽ cắt đặt họ làm việc đó. Còn chúng tôi, chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời THIÊN CHÚA.

Đúng như thế. Rao giảng Lời THIÊN CHÚA và chuyên chăm cầu nguyện là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi Linh Mục và Giám Mục. Chúng ta có trước mắt mẫu gương của chính Đức Chúa GIÊSU KITÔ và của các Thánh Tông Đồ.

Giáo Hội không phủ nhận tầm quan trọng của việc giúp đỡ chăm sóc người nghèo, nhưng nền thần học giải phóng sai lầm ở chỗ nó biến các Linh Mục và Giám Mục thành các trợ tá xã hội khi các ngài chỉ nghĩ đến chuyện chăm sóc đời sống vật chất và những chuyện chóng qua phụ thuộc nơi trần gian này mà quên mất việc phải chu toàn những gì liên quan đến Đời Sống vĩnh cửu và những sự việc thuộc về THIÊN CHÚA.

Một điểm sai lầm nguy hiểm khác của nền thần học giải phóng là chính trị hóa giáo huấn của Tin Mừng liên quan đến từ Tự Do. Đó cũng là điều chính Đức Chúa GIÊSU KITÔ thẳng thắn xua trừ. Đức Chúa GIÊSU mang đến cho chúng ta Tự Do đích thật khi giải phóng chúng ta khỏi nô lệ sự dữ lớn lao là tội lỗi và ma quỷ. Đó cũng là điều các Tông Đồ luôn luôn rao giảng.

Giải phóng khỏi nô lệ tội lỗi và ma quỷ. Đây mới là nền Thần Học Giải Phóng đích thật. Giải phóng khỏi tội lỗi tức là giải phóng khỏi ích kỷ. Và một khi được giải phóng khỏi ích kỷ thì tự nhiên chúng ta nghĩ đến người khác, yêu thương chăm sóc người khác hơn chính mình.

Một hôm một ký giả hỏi Đức Thánh Cha:
- Thưa Đức Thánh Cha, câu nào trong Kinh Thánh đánh động lòng Đức Thánh Cha nhất?

Ngài đáp:
- Xin trả lời với chính câu nói của Đức Chúa GIÊSU: ”Sự Thật sẽ giải phóng các con - Veritas liberavit vos”. Sự Thật mang chúng ta đến Sự Giải Phóng.

Nhưng Sự Thật nào? Thưa không phải là một lý thuyết, một lý thuyết xã hội, càng không phải là lý thuyết nhân bản hoặc lý thuyết thần học đẹp đẽ vẽ vời nào đó! Không! Sự Thật là chính Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Chính Ngài phán:
- Thầy là Đường là Sự Thật và là Sự Sống.

Chính Đức Chúa GIÊSU KITÔ và Lời Ngài mới là Sự Thật.

... Vậy, Đức Chúa GIÊSU nói với những người Do Thái đã tin Người: ”Nếu các ông ở lại trong lời của Tôi, thì các ông thật là môn đệ Tôi; các ông sẽ biết Sự Thật, và Sự Thật sẽ giải phóng các ông”. Họ đáp: ”Chúng tôi là dòng dõi ông Abraham. Chúng tôi không hề làm nô lệ cho ai bao giờ. Làm sao Ông lại nói: ”Các ông sẽ được tự do?” Đức Chúa GIÊSU trả lời: ”Thật, Tôi bảo thật các ông: hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội. Mà kẻ nô lệ thì không được ở trong nhà luôn mãi, người con mới được ở luôn mãi. Vậy, nếu Người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do” (Gioan 8,31-36).

(”Il Settimanale di Padre Pio”, 7 giorni di formazione e di informazione cattolica, Anno IX, 14 Febbraio 2010, n.6, trang 16-17).

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt