Trang

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2012

Ga 6,22-40. Bánh hằng ngày và bánh hằng sống




Ga 6,22-40. Bánh hằng ngày và bánh hằng sống

Chúng ta tìm hiểu bản văn Ga 6,22-40 với cha Giuse Lê Minh Thông, OP.

Tác giả: Giuse LÊ MINH THÔNG, O.P.
http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/
josleminhthong@gmail.com
Ngày 29 tháng 7 năm 2012
Nội dung
I. Dẫn nhập
II. Bản văn và cấu trúc
   1. Bản văn Ga 6,22-40
   2. Cấu trúc Ga 6,22-40
III. “Bánh hằng ngày” và “bánh hằng sống”
   1. Bánh hằng ngày
   2. Sự hiểu lầm của thính giả
   3. Bánh hằng sống
       a) Bánh xuống từ trời
       b) Bánh đích thực
       c) Bánh ban sự sống cho thế gian
       d) Bánh sự sống là chính Đức Giê-su
       e) Bánh làm thoả mãn mọi đói khát của con người
IV. Kết luận
   Sách tham khảo
I. Dẫn nhập
Trong sách chú giải Tin Mừng Gio-an, Raymond E. BROWN đã trình bày nhiều vấn đề phức tạp, liên quan đến việc biên soạn chương 6 của Tin Mừng Gio-an. Tác giả cũng nêu lên những khó khăn trên bình diện lịch sử khi nối kết hai dấu lạ (6,1-21) với diễn từ bánh sự sống (6:25-59), (xem BROWN, The Gospel, vol. I, p. 258-259. Xem chi tiết của tài liệu ở mục “Sách tham khảo” cuối bài viết). Tuy nhiên, trên bình diện văn chương và thần học, có thể xem toàn bộ Ga 6 là một chương có kết cấu chặt chẽ. Rudolf SCHNACKENBURG viết: “Ga 6 là một đơn vị độc lập trong đó cho thấy rõ ràng là được biên soạn cẩn thận. Chức năng của Ga 6 trong Tin Mừng là miêu tả một giai đoạn hoạt động của Đức Giê-su ở Ga-li-lê, thực ra, đó là đỉnh cao và là bước ngoặt. Về chủ đề, Ga 6 trình bày cho chúng ta mặc khải của Đức Giêsu về chính Người như là bánh sự sống” (SCHNACKENBURG, The Gospel, vol. II, p. 10).
Trong viễn cảnh văn chương và thần học này, chương 6 có sự thống nhất về văn chương, Ga 6 trình bày hoạt động của Đức Giê-su ở Ga-li-lê, trong khi Ga 5 và Ga 7 thuật lại hoạt động của Người ở Giê-ru-sa-lem. Trong Ga 6, Đức Giê-su mặc khải về căn tính, nguồn gốc và sứ vụ của Người qua đề tài “bánh”. Ga 6 là chương dài nhất trong Tin Mừng Gio-an (71 câu), và có cấu trúc: Dấu lạ - diễn từ - hệ quả.
I. Hai dấu lạ (6,1-21)
a) 6,1-15:   Dấu lạ Đức Giê-su hoá bánh ra nhiều
b) 6,16-21: Dấu lạ Đức Giê-su đi trên biển hồ Ga-li-lê
II. Diễn từ bánh sự sống (6,22-59)
1) 6,22-24: Chuyển tiếp. Đám đông tìm gặp Đức Giê-su
2) 6,35-59: Nội dung diễn từ bánh sự sống
a) 6,25-40: Bánh từ trời xuống, bánh sự sống
b) 6,41-51: Tranh luận về nguồn gốc Đức Giê-su
c) 6,52-59: Ăn thịt và uống máu Con Người
III. Hệ quả
1) 6,60-66: Nhiều môn đệ bỏ đi, không theo Đức Giê-su nữa
2) 6,67-71: Phê-rô tuyên xưng niềm tin vào Đức Giê-su
(Xem cấu trúc chi tiết và phân tích Ga 6 trong Giuse LÊ MINH THÔNG, “Ga 6,22-71: ‘Thánh Thể, lý trí và đức tin’”, in Phân tích thuật chuyện và cấu trúc áp dụng vào Tin Mừng thứ tư, Nxb. Phương Đông, 2010, p. 120-121).
Trong bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích đề tài: Từ “bánh hằng ngày” đến “bánh hằng sống” trong đoạn văn Ga 6,22-40. Trước tiên, sẽ trình bày bản văn và cấu trúc Ga 6,22-40, kế đến là phần tìm hiểu đề tài “bánh” với ba mục: (1) Bánh hằng ngày, (2) Sự hiểu lầm của người nghe, và (3) Bánh hằng sống.
II. Bản văn và cấu trúc
1. Bản văn Ga 6,22-40  (Bản văn Gio-an, Hy Lạp – Việt, 2011)
[6,22-24: Chuyển tiếp. Đám đông gặp lại Đức Giê-su]
6,22 Hôm sau, đám đông đứng bên kia Biển Hồ, thấy rằng ở đó không có thuyền nào khác ngoại trừ một chiếc, và rằng Đức Giê-su không cùng với các môn đệ của Người xuống thuyền, nhưng chỉ các môn đệ của Người ra đi. 23 Những thuyền khác từ Ti-bê-ri-a cũng đến gần nơi họ đã ăn bánh tạ ơn của Chúa. 24 Vậy khi đám đông thấy rằng Đức Giê-su không ở đó, các môn đệ của Người cũng không, họ xuống các thuyền ấy và đến Ca-phác-na-um tìm Đức Giê-su.
[6,25-29: Công việc của Thiên Chúa và tin]
25 Khi thấy Người ở bên kia Biển Hồ, họ nói với Người: “Thưa Ráp-bi, Thầy đến đây bao giờ?” 26 Đức Giê-su trả lời họ và nói: “A-men, a-men, Tôi nói cho các ông: Các ông tìm Tôi không phải vì đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ông đã ăn bánh và đã được no nê. 27 Các ông hãy làm việc đừng vì lương thực hư nát, nhưng vì lương thực trường tồn cho sự sống đời đời mà Con Người sẽ ban cho các ông. Bởi vì trên Người, Cha là Thiên Chúa đã đóng ấn.” 28 Vậy họ nói với Người: “Chúng tôi làm gì để làm công việc của Thiên Chúa?” 29 Đức Giê-su trả lời và nói với họ: “Đây là việc của Thiên Chúa là các ông tin vào Đấng mà Người đã sai đến.”
[6,30-36: Bánh bởi trời, bánh sự sống]
30 Họ nói với Người: “Vậy chính Ông, Ông làm dấu lạ nào để chúng tôi thấy và chúng tôi tin Ông? Ông sẽ làm việc gì? 31 Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: ‘Bánh bởi trời, Người đã cho họ ăn.’” 32 Đức Giê-su nói với họ: “A-men, a-men, Tôi nói cho các ông: Không phải Mô-sê đã cho các ông bánh bởi trời, nhưng chính Cha của Tôi cho các ông bánh bởi trời, bánh đích thực, 33 vì bánh của Thiên Chúa là bánh xuống từ trời, và ban sự sống cho thế gian.” 34 Họ liền nói với Người: “Thưa Ngài, hãy cho chúng tôi bánh ấy luôn mãi.” 35 Đức Giê-su nói với họ: “Chính Tôi là bánh sự sống, người đến với Tôi, không hề đói, và người tin vào Tôi, sẽ chẳng khát bao giờ. 36 Nhưng Tôi đã nói với các ông: ‘Các ông đã thấy [Tôi] mà các ông không tin.’
[6,37-40: Đức Giê-su xuống từ trời để ban sự sống đời đời]
37 Tất cả những người Cha ban cho Tôi sẽ đến với Tôi, và người đến với Tôi, Tôi sẽ không loại ra ngoài, 38 vì Tôi xuống từ trời không để thực hiện ý muốn của Tôi nhưng thực hiện ý muốn của Đấng đã sai Tôi. 39 Đây là ý muốn của Đấng đã sai Tôi: Tất cả những ai Người đã ban cho Tôi, Tôi sẽ không để hư mất một ai, nhưng Tôi sẽ làm cho người ấy sống lại [trong] ngày sau hết. 40 Thật vậy, đây là ý muốn của Cha Tôi: Tất cả những ai thấy Con và tin vào Người thì có sự sống đời đời, và chính Tôi sẽ làm cho người ấy sống lại [trong] ngày sau hết.”
2. Cấu trúc Ga 6,22-40
Đoạn văn Ga 6,22-40 là phần đầu của diễn từ bánh sự sống trong Ga 6. Ga 6,22-40 gồm hai phần: (1)Trình thuật về việc đám đông đến Ca-pha-na-um tìm gặp Đức Giê-su (6,22-24). (2) Phần đối thoại giữa đám đông và Đức Giê-su, phần này có thể cấu trúc thành ba đoạn văn:
Chuyển tiếp: 6,22-24: Đám đông tìm gặp Đức Giê-su
Đoạn 1: 6,25-29, Công việc của Thiên Chúa và tin
Đám đông hỏi (6,25), Đức Giê-su trả lời (6,26-27)
Đám đông hỏi (6,28), Đức Giê-su trả lời (6,29)
Đoạn 2: 6,30-36, Bánh từ trời, bánh sự sống
Đám đông hỏi (6,30-31), Đức Giê-su trả lời (6,32-33)
Đám đông xin (6,34), Đức Giê-su trả lời (6,35-36)
Đoạn 3: 6,37-40, Đức Giê-su mặc khải về Cha và về Người.
Mở đầu đoạn thứ nhất (6,25-29) cho thấy sự hiểu lầm của đám đông về đề tài “bánh”. Đức Giê-su nói với họ: “A-men, a-men, Tôi nói cho các ông: Các ông tìm Tôi không phải vì đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ông đã ăn bánh và đã được no nê” (6,26). Rồi Người mời gọi họ: “Các ông hãy làm việc đừng vì lương thực hư nát, nhưng vì lương thực trường tồn cho sự sống đời đời mà Con Người sẽ ban cho các ông” (6:27). Phần kết đoạn thứ nhất (6,28-29) nói về “việc của Thiên Chúa”. Đức Giê-su nói với đám đông: “Đây là việc của Thiên Chúa là các ông tin vào Đấng mà Người đã sai đến” (6,29). Thực hiện “công việc của Thiên Chúa” tức là tin vào Đức Giê-su.
Đoạn thứ hai (6,30-36) bàn về đề tài khác: Đám đông yêu cầu Đức Giê-su thực hiện một dấu lạ (6,30), và họ nhắc lại dấu lạ man-na trong quá khứ (6,31). Họ nói với Đức Giê-su: “Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: ‘Bánh bởi trời, Người đã cho họ ăn’” (6,31). Dựa trên đề tài “man-na trong sa mạc” là “bánh bởi trời” trong quá khứ, Đức Giê-su mặc khải về “bách đích thực” là “bánh bởi trời” mà Cha của Người sẽ ban cho họ trong hiện tại (6,32). Sau đó, đám đông thỉnh cầu Đức Giê-su: “Thưa Ngài, hãy cho chúng tôi bánh ấy luôn mãi” (6,34). Phần trả lời của Đức Giê-su trong hai câu tiếp theo (6,35-36) gồm ba ý chính: (1) Mặc khải về căn tính của Đức Giê-su: “Chính Tôi là bánh sự sống” (6,35a). (2) Quà tặng của Người cho trần gian: “Người đến với Tôi, không hề đói, và người tin vào Tôi, sẽ chẳng khát bao giờ” (6,35b). (3) Sự hiểu lầm của đám đông về Đức Giê-su và về lời của Người, bởi vì họ xin Đức Giê-su “bánh” nhưng họ lại không tin vào Đức Giê-su (6,36). Nghĩa là họ đã không hiểu ý nghĩa của dấu lạ bánh hoá nhiều (6,1-15) và cũng không hiểu giáo huấn của Đức Giê-su.
Trong đoạn thứ ba (6,37-40), Đức Giê-su tiếp tục mặc khải những điều quan trọng: (1) Tương quan giữa Đức Giê-su và Cha của Người, (2) Nguồn gốc của Đức Giê-su và sứ vụ của Người trong thế gian, và (3) Quà tặng sự sống đời đời dành cho “Tất cả những ai thấy Con [Đức Giê-su] và tin vào Người” (6,40). Lời khẳng định của Đức Giê-su: “Tôi sẽ làm cho người ấy sống lại [trong] ngày sau hết” ở 6,39b được nhấn mạnh, vì lời này lặp lại lần thứ hai ở 6,40b. Trong Tin Mừng Gio-an đề tài “sống lại ngày sau hết” gợi đến thần học truyền thống về cánh chung, gọi là “cánh chung trong tương lại” (future eschatology). “Cánh chung tương lai” này song song với thần học Tin Mừng Gio-an về “cánh chung hiện tại” (Johannine realized eschatology). “Cánh chung hiện tại” là một trong những nét độc đáo của thần học Gio-an, bởi vì Đức Giê-su long trọng khẳng định với những người Do Thái ở Ga 6,47: “A-men, a-men, Tôi nói cho các ông: Người tin có sự sống đời đời.” 
III. “Bánh hằng ngày” và “bánh hằng sống”
Trong bài viết này, chúng tôi chú trọng phân tích đề tài “bánh” trong đoạn văn thứ hai (6,30-36). Độc giả có thể nêu lên câu hỏi: Người thuật chuyện đã dùng “dấu lạ bánh hoá nhiều” (6,1-15) và “giáo huấn của Đức Giê-su” (6,25-40) như thế nào, để giúp độc giả hiểu về “bánh hằng sống”? Bằng cách sử dụng kỹ thuật hành văn “hiểu lầm” (the technique of misunderstanding), người thuật chuyện dẫn người đọc vào nội dung mặc khải của Đức Giê-su về “bánh hằng sống”. Những phân tích sau đây về “bánh hằng ngày” và “sự hiểu lầm của người nghe” sẽ giúp hiểu “bánh hằng sống”.
1. Bánh hằng ngày
Có hai chi tiết trong đoạn văn Ga 6,1-40 nói về bánh hằng ngày. Chi tiết thứ nhất là dấu lạ bánh hoá nhiều. Từ năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, Đức Giê-su đã muôi ăn một đám đông rất lớn: chỉ tính đàn ông, con số đã khoảng năm ngàn người (6,10), và mọi người hiện diện đã được ăn no nê (6,12). Thấy dấu lạ lớn lao Đức Giê-su thực hiện, đám đông đã thốt lên: “Ông này thực sự là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian” (6,14). Từ đó, họ có ý định “bắt lấy Đức Giê-su để tôn làm vua”. Biết thế, Đức Giê-su lánh lên núi một mình (6,15). Đức Giê-su từ chối ý định tôn Người làm vua vì đám đông đã không hiểu ý nghĩa dấu lạ bánh hoá nhiều. Nói đúng hơn, họ đã hiểu lầm về dấu lạ và hiểu lầm về chính Đức Giê-su cũng như vai trò của Người trong thế gian.
Chi tiết thứ hai liên hệ đến “bánh hằng ngày” là “man-na”. Đám đông yêu cầu Đức Giê-su làm một dấu lạ, họ nói: “Chính Ông, Ông làm dấu lạ nào để chúng tôi thấy và chúng tôi tin Ông? Ông sẽ làm việc gì?” (6,30), rồi họ nhắc đến biến cố man-na trong sa mạc: “Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: ‘Bánh bởi trời, Người đã cho họ ăn’” (6,31). Trong sách Xuất Hành, dân Ít-ra-en than trách ông Mô-sê, bởi vì trong sa mạc họ không có đủ thức ăn và nước uống. Vì thế ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê: “Này, Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi ăn. Dân sẽ ra lượm lấy khẩu phần cho mình, ngày nào cho ngày đó; Ta muốn thử lòng chúng như vậy xem chúng có tuân theo Luật của Ta hay không” (Xh 16,4, CGKPV). Và rồi “Sáng nào cũng vậy, mỗi người lượm tuỳ theo sức mình ăn được bao nhiêu. Và khi mặt trời toả sức nóng, thì nó tan ra” (Xh 16,21, CGKPV). Dân Ít-ra-en gọi thức ăn rơi xuống từ trời này là “man-na”.
Man-na trong sa mạc là dấu chỉ lớn lao cho dân Ít-ra-en, tuy nhiên, man-na vẫn là loại “bánh hằng ngày”. Trong sa mạc, dân Ít-ra-en phải lượm man-na mỗi ngày để ăn. Trong Tin Mừng Gio-an, Đức Giê-su nhắc lại với những người Do Thái rằng: “Tổ tiên các ông đã ăn man-na trong sa mạc và đã chết” (Ga 6,49), sau đó Người mặc khải về bánh đích thực: “Đây là bánh, bánh xuống từ trời, để ai ăn bánh này thì không phải chết” (Ga 6,50). Bánh bởi trời này là chính Đức Giê-su (6,35).
Khi đám đông yêu cầu Đức Giê-su thực hiện dấu lạ (6,30) và họ nhắc lại bánh bởi trời là man-na trong sa mạc, họ muốn so sánh Đức Giê-su với Mô-sê. Nhưng Đức Giê-su không so sánh Người với Mô-sê. Đức Giê-su gọi Thiên Chúa là Cha của Người và Người đồng hoá mình với “bánh đích thực”, như thế, Đức Giê-su cao trọng hơn Mô-sê. Trong đoạn văn 6,30-33, cuộc đối thoại được trình bày dưới hình thức “Hỏi – Đáp” cho thấy đám đông đã hiểu lầm về căn tính của Đức Giê-su.
Đối với độc giả, đề tài “hiểu lầm” trải dài suốt Ga 6. Bằng cách nào người thuật chuyện giúp độc giả hiểu ý nghĩa của dấu lạ bánh hoá nhiều? Đâu là sự nối kết giữa “bánh hằng ngày” và “bánh hằng sống” trong Ga 6? Có thể trả lời những câu hỏi này qua phân tích đề tài “sự hiểu lầm của thính giả” trong câu chuyện.
2. Sự hiểu lầm của thính giả
 
 

Trong Tin Mừng Gio-an, “hiểu lầm” là kỹ thuật hành văn của người thuật chuyện. Khi viết câu chuyện, người thuật chuyện giao tiếp với độc giả qua những tình tiết trong câu chuyện. Người thuật chuyện sử dụng kỹ thuật hành văn “hiểu lầm”, “hiểu sai” để giúp độc giả “hiểu đúng” mặc khải của Đức Giê-su. Có thể so sánh sự hiểu lầm của đám đông trong Ga 6,25-34 với sự hiểu lầm của người phụ nữ Sa-ma-ri ở Ga 4,9-15. Hai đoạn văn này song song với nhau về kỹ thuật hành văn “Hỏi (H) – Đáp (Đ)”. Nhờ sự hiểu lầm của người nghe và những lời giải thích của Đức Giê-su mà nội dung mặc khải được trình bày.
Những chi tiết song song giữa Ga 6,25-34 và 4,9-15 trên đây cho thấy kỹ thuật hành văn hiểu lầm trong Tin Mừng Gio-an (xem BROWN, The Gospel, vol. I, p. 267). Còn nhiều trình thuật khác trong Tin Mừng Gio-an dựa trên sự hiểu lầm của người nghe. Chẳng hạn, cuộc đối thoại giữa Đức Giê-su và Ni-cô-đê-mô ở 3,1-12; tranh luận giữa Đức Giê-su với những người Do Thái và với những người Pha-ri-sêu ở Ga 7–8. Kỹ thuật hành văn “hiểu lầm” tạo cơ hội để Đức Giê-su mặc khải “sự thật” về Chúa Cha, cũng như về nguồn gốc, căn tính và sứ vụ của Người. Nhờ “hiểu lầm”, Đức Giê-su giải thích cho “người nghe” và “người đọc” biết Người thực sự là ai, và quà tặng của Người dành cho thế gian là gì. Riêng trong Ga 6, có thể ghi nhận nhiều chi tiết “hiểu lầm” của đám đông.
(1) Sau khi chứng kiến dấu lạ bánh hoá nhiều, đám đông muốn bắt lấy Đức Giê-su và tôn Người làm vua (6,15). Sự nhiệt tình này của đám đông chỉ dựa trên “thấy thể lý”, nghĩa là họ chỉ thấy khía cạnh kỳ diệu, phi phường bên ngoài của dấu lạ bánh hoá nhiều. Ý định tôn Đức Giê-su làm vua là quan niệm vương quyền theo hướng chính trị. Họ đã không biết ý nghĩa thực sự của dấu lạ mà Đức Giê-su muốn nhắm tới. Nói cách khác phản ứng của đám đông cho thấy họ đã hiểu lầm, hiểu sai.
(2) Sau khi tìm thấy Đức Giê-su ở Ca-pha-na-um, đám đông hỏi Người: “Thưa Ráp-bi, Thầy đến đây bao giờ?” (6,25). Đức Giê-su trả lời họ: “A-men, a-men, Tôi nói cho các ông: Các ông tìm Tôi không phải vì đã thấy những dấu lạ, nhưng vì các ông đã ăn bánh và đã được no nê” (6,26). Đám đông tìm Đức Giê-su vì “bánh hằng ngày” chứ không phải vì “bánh hằng sống”. Họ muốn có bánh hằng ngày để ăn như đã ăn no nê trong dấu lạ bánh hoá nhiều. Họ đã hiểu không đúng về dấu lạ và hiểu lầm về sứ vụ của Đức Giê-su.
(3) Ở 6,34, đám đông thỉnh cầu Đức Giê-su: “Thưa Ngài, hãy cho chúng tôi bánh ấy luôn mãi” (6,34). Họ xin điều này, vì trong câu trước (6,32b-33), Đức Giê-su đã nói với họ: “Cha của Tôi cho các ông bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh của Thiên Chúa là bánh xuống từ trời, và ban sự sống cho thế gian” (6,23-33). Họ đã hiểu Đức Giê-su nói về một thứ bánh đặc biệt Thiên Chúa ban cho họ, nên họ xin được có thứ bánh đó “luôn mãi” (pantote). Nghĩa là họ muốn có thứ bánh đó, theo cách như man-na trong sa mạc, để ăn hằng ngày. Thực ra, khi Đức Giê-su nói tới “bánh đích thực” (6,32), Người muốn nói tới “bánh hằng sống” và ai có thứ bánh đó thì không bao giờ đói và khát nữa. Bánh đích thực đó là chính Đức Giê-su vì Người khẳng định: “Chính Tôi là bánh sự sống, người đến với Tôi, không hề đói, và người tin vào Tôi, sẽ chẳng khát bao giờ” (6,35). Đám đông xin thứ bánh lặp đi lặp lại qua trạng từ Hy Lạp: “pantote” (luôn mãi), trong khi Đức Giê-su lại nói đến thứ bánh chỉ ban một lần là đủ, với trạng từ “pôpote” (mãi mãi), nghĩa là không bao giờ đói và khát nữa.
(4) Ở 6,30, đám đông hỏi Đức Giê-su: “Chính Ông, Ông làm dấu lạ nào để chúng tôi thấy và chúng tôi tin Ông? Ông sẽ làm việc gì?” Ngày hôm trước, đám đông đã thấy Đức Giê-su làm dấu lạ bánh hoá nhiều (6,1-15), nhưng xem ra dấu lạ này không đủ cho họ. Thực ra, họ chỉ “thấy” dấu lạ bánh hoá nhiều như là một dấu chỉ về Đấng Mê-si-a trần thế. Thế nên, theo nghĩa thần học thì đám đông đã không thực sự “thấy” dấu lạ.
Qua nhiều chi tiết hiểu lầm của khán thính giả trong trình thuật, người thuật chuyện muốn trình bày với độc giả ý nghĩa đích thực của dấu lạ. Đức Giê-su mặc khải ý nghĩa này trong diễn từ “bánh sự sống”, “bánh hằng sống”, nghĩa là bánh đem lại sự sống đời đời.
3. Bánh hằng sống
Dựa trên sự hiểu lầm của những người nghe, Đức Giê-su cho biết thế nào là “bánh đích thực”. Có nhiều cách gọi thứ bánh này: “Bánh sự sống” (the Bread of life), “bánh đích thực” (the true bread), “bánh đem lại sự sống” (the living bread) hay “bánh hằng sống” (the everlasting bread). Có thể giải thích quà tặng này qua một số đặc điểm: (a) Bánh bởi trời, (b) Bánh đích thực, (c) Bánh ban sự sống cho thế gian, (d) Bánh sự sống là chính Đức Giê-su, và (e) Bánh làm thoả mãn mọi đói khát của con người.
a) Bánh bởi trời
Kiểu nói “bánh bởi trời” hay “bánh xuống từ trời” xuất hiện ở 6,31-33. Đám đông nói với Đức Giê-su: “Tổ tiên chúng tôi đã ăn man-na trong sa mạc, như có lời chép: ‘Bánh bởi trời, Người đã cho họ ăn’” (6,31). Đức Giê-su trả lời họ: “A-men, a-men, Tôi nói cho các ông: Không phải Mô-sê đã cho các ông bánh bởi trời, nhưng chính Cha của Tôi cho các ông bánh bởi trời, bánh đích thực, vì bánh của Thiên Chúa là bánh xuống từ trời, và ban sự sống cho thế gian” (6,32-33). Đám đông nói về man-na trong sa mạc, thứ bánh rơi xuống từ trời, mà cha ông họ đã ăn trong quá khứ. Nhưng Đức Giê-su lại nói về “bánh xuống từ trời” mà Cha của Người ban cho họ ngay bây giờ, trong hiện tại. Một đặc điểm khác của thứ “bánh đặc biệt” này là “bánh đích thực”.
b) Bánh đích thực
Cách dùng tính từ “thật”, “đích thực” (alêthinos) để định nghĩa bánh bởi trời, cho phép phân biệt thứ bánh này với mọi thứ bánh khác, ngay cả với bánh bởi trời mà cha ông những người Do-thái đã ăn trong sa-mạc. Craig S. KEENER ghi nhận: “Bánh mà Đức Giê-su loan báo còn thiết yếu hơn cả man-na đã ban vào thời Mô-sê, bởi vì đây là ‘bánh đích thực’ (6,32)” (KEENER, The Gospel, vol. I, p. 682). Đặc tính “thật” (true) hay “xác thực” (genuine) được nhấn mạnh trong câu Đức Giê-su nói với đám đông: “Chính Cha của Tôi cho các ông bánh bởi trời, bánh đích thực” (6,32).
Kiểu nói xác định phẩm chất “thật”, “đích thực” là một trong những đặc điểm của văn chương Tin Mừng Gio-an. Thực vậy, Đức Giê-su là “ánh sáng thật” (1,9), là “cây nho đích thực” (15,1). Xét đoán của Đức Giê-su là thật (8,16); lời chứng của người môn đệ Đức Giê-su yêu mến là xác thực (19,35). Đặc biệt, Đức Giê-su nói về Cha của Người, Đấng đã sai Người, là “Đấng chân thật” (7,28), và “Cha là Thiên Chúa duy nhất, chân thật” (17,3). Như thế, “bánh đích thực (true)” là bánh xác thực (authentic), “bánh xuống từ trời, và ban sự sống cho thế gian” (6,33).
c) Bánh ban sự sống cho thế gian
Đức Giê-su cho biết “bánh đích thực” là “bánh ban sự sống co thế gian” (6,33). Lời mặc khải này tương phản với man-na trong sa mạc (6,31). Francis J. MOLONEY viết về song song giữa man-na và bánh đích thực như sau: “Trong quá khứ, chính Thiên Chúa đã ban bánh chứ không phải Mô-sê (cf. v. 32). Bây giờ cũng chính Thiên Chúa ấy, Cha của Đức Giê-su, ban bánh đích thực bởi trời. Man-na thời Mô-sê cung cấp lương thực cho Ít-ra-en; bánh đích thực bởi trời ban sự sống cho tất cả thế gian” (MOLONEY, The Gospel, p. 212).
Ý tưởng bánh đích thực, ban sự sống cho “thế gian” (6,33) là kiểu diễn tả quen thuộc trong văn chương Gio-an, khi nói về công trình cứu chuộc của Thiên Chúa. Khi Gio-an Tẩy Giả thấy Đức Giê-su tiến về phía mình, ông ấy nói về Đức Giê-su: “Đây là Chiên của Thiên Chúa, Đấng xoá bỏ tội thế gian” (1,29). Ở 3,16 Đức Giê-su nói về tình yêu của Thiên Chúa dành cho thế gian như sau: “Thiên Chúa đã quá yêu mến thế gian, đến nỗi đã ban Con Một, để bất cứ ai tin vào Người thì không hư mất, nhưng có sự sống đời đời” (3,16). Ở Ga 4, dân thành Sa-ma-ri nói với người phụ nữ Sa-ma-ri về Đức Giê-su: “Không còn phải vì lời của chị mà chúng tôi tin. Vì chính chúng tôi đã nghe và đã biết rằng Người thật là Đấng cứu độ thế gian” (4,42).
Quả thực, Thiên Chúa yêu thương thế gian, Người đã sai Đức Giê-su đến để cứu thế gian (3,16), để xoá bỏ tội thế gian (1,26), để ban sự sống cho thế gian (6,33). “Thế gian” là nơi chốn và là đối tượng để Đức Giê-su thi hành sứ vụ. Tuy nhiên, theo thần học Tin Mừng Gio-an, Đức Giê-su không chỉ là người ban bánh đích thực, mà chính Người là bánh đích thực, bánh sự sống.
d) Bánh sự sống là chính Đức Giê-su
Khi đám đông xin Đức Giê-su: “Thưa Ngài, hãy cho chúng tôi bánh ấy luôn mãi” (6,34), Người trả lời họ: “Chính Tôi là bánh sự sống, người đến với Tôi, không hề đói, và người tin vào Tôi, sẽ chẳng khát bao giờ” (6,35). Khi khẳng định “Chính Tôi là bánh sự sống”, Đức Giê-su đồng hoá Người với “bánh đích thực”, “bánh xuống từ trời” (6,33). Trong đoạn văn 6,37-40, Đức Giê-su nói với đám đông: “Tôi xuống từ trời không để thực hiện ý muốn của Tôi nhưng thực hiện ý muốn của Đấng đã sai Tôi” (6,38). So sánh lời này với 6,33: “Bánh của Thiên Chúa là bánh xuống từ trời, và ban sự sống cho thế gian”, độc giả nhận ra rằng “Bánh xuống trừ trời” (6,33) chính là “Đức Giê-su xuống từ trời” (6,38) để thực hiện ý muốn của Chúa Cha. Kiểu nói “Tôi là” trong câu “Tôi là bánh sự sống” là ngôn ngữ đặc thù của thần học Tin Mừng Gio-an. Có hai cách dùng kiểu nói “Tôi là”: (1) Không có vị ngữ (predicate) đi kèm và (2) có vị ngữ.
(1) Một số nơi trong Tin Mừng Gio-an, xuất hiện kiểu nói “Tôi Là”, không có vị ngữ (predicate). Trong trường hợp này, cụm từ “Tôi Là” mặc khải thiên tính của Đức Giê-su. Chẳng hạn, Đức Giê-su nói với những người Do Thái ở Ga 8,24: “Nếu các ông không tin rằng: Tôi Là, các ông sẽ chết trong tội của các ông.” Lời khẳng định “Tôi Là” trong câu này gợi đến biến cố Thiên Chúa mặc khải danh của Người cho Mô-sê trong sách Xuất Hành. Khi Mô-sê hỏi tên gọi của Thiên Chúa, Thiên Chúa phán với ông Mô-sê: “Ta là Đấng Ta là” [I am who I am]. Rồi Người phán: “Ngươi nói với con cái Ít-ra-en thế này: ‘Đấng Ta Là [I Am] sai tôi đến với anh em’” (Xh 3,14). “TA LÀ” là tên gọi của Thiên Chúa, nghĩa là Thiên Chúa không mặc khải tên gọi của Người cho Mô-sê. Theo quan niệm của dân Ít-ra-en, biết tên gọi của người nào là biết được người ấy và có thể gây ảnh hưởng hay điều kiển người ấy. Bởi vì con người không thể biết Thiên Chúa theo nghĩa có thể gây ảnh hưởng hay điều kiển Người, nên Thiên Chúa không mặc khải tên của Người cho Mô-sê.
Tuy vậy, kiểu nói “Ta Là” để nói về tên của Thiên Chúa có ý nghĩa thần học quan trọng. Câu “Đấng Ta Là [I Am] sai tôi đến với anh em” (Xh 3,14), định nghĩa Thiên Chúa là “Đấng Ta Là”. Nghĩa là Thiên Chúa là Đấng đã, đang và sẽ “can thiệp” vào lịch sử và “hoạt động” trong lịch sử. Muốn biết Thiên Chúa là ai, hãy nhìn vào lịch sử. Đấng “Ta Là” là Đấng tạo dựng vũ trụ muôn loài và là Đấng đang hiện diện trong lịch sử nhân loại. Khi Đức Giê-su dùng kiểu nói “Ta Là” (không có vị ngữ) để nói về mình (Ga 8,24), Đức Giê-su đã đồng hoá Người với Thiên Chúa của Ít-ra-en, “Đấng Ta Là” (Xh 3,14).
(2) Khi Đức Giê-su dùng kiểu nói “Tôi là”, có kèm theo vị ngữ (predicate), thì không ám chỉ thiên tính của Người (who he is), nhưng nói về sứ vụ của Người trong thế gian (what he does). Nhiều lần trong Tin Mừng Gio-an, Đức Giê-su dùng kiểu nói “Tôi là” kèm theo vị ngữ, để nói về quà tặng của Người dành cho thế gian. Chẳng hạn, Đức Giê-su tuyên bố: “Chính Tôi là ánh sáng của thế gian. Người theo Tôi, chắc chắn sẽ không bước đi trong bóng tối, nhưng sẽ có ánh sáng của sự sống” (Ga 8,12; xem 9,5). Đức Giê-su là (“Tôi là”, “Thầy là”) Cửa ràn chiên (10,7.9); là mục tử tốt (10,11.14); là sự sống và là sự sống lại (11,25); là con đường, là sự thật và là sự sống (14,6); là cây nho đích thực (15,1). Lời khẳng định “Tôi là bánh sự sống”, cho thấy Đức Giê-su có khả năng nuôi dưỡng mọi người bằng thứ bánh mang lại sự sống đích thực.
e) Bánh làm thoả mãi mọi đói khát của con người
“Bánh sự sống”, chính là Đức Giê-su, là bánh làm thoả mãn tất cả mọi đói khát của con người. Làm thế nào điều kỳ diệu này có thể trở thành hiện thực? Câu trả lời đơn giản và rõ ràng của Đức Giê-su: “Người đến với Tôi, không hề đói, và người tin vào Tôi, sẽ chẳng khát bao giờ” (6,35b). Câu này có cấu trúc song song: Vế thứ nhất “người đến với Tôi” được giải thích trong vế thứ hai: “người tin vào Tôi”. Hai cụm từ “không hề đói” và “không hề khát” (chẳng khát bao giờ) song song với nhau. Cấu trúc câu như trên cho thấy “đến với Đức Giê-su” tương đương với “tin vào Đức Giê-su”. Ga 7,37-38 cũng cấu trúc song song giữa “đến với” và “tin vào Đức Giê-su”, kết hợp với đề tài “nước”. Người thuật chuyện kể: “Vào ngày cuối cùng, ngày long trọng nhất của dịp lễ [lễ Lều], Đức Giê-su đứng lên và lớn tiếng nói: Nếu ai khát hãy đến với Tôi và hãy uống. Người tin vào Tôi, như Kinh Thánh đã nói: ‘Từ lòng người ấy sẽ tuôn chảy những dòng nước sự sống’” (7,37-38).
Lời tuyên bố của Đức Giê-su ở 6,35 có gợi ý trong Cựu Ước. Những ý tưởng trong Tin Mừng Gio-an liên hệ với Cựu Ước giúp thính giả thời Đức Giê-su dễ dàng hiểu lời của Đức Giê-su hơn. Đề tài “đói và khát” đã được nói đến trong sách Huấn Ca và sách I-sai-a. Trong sách Huấn ca đức khôn ngoan nói: “Ai ăn Ta sẽ còn đói, ai uống Ta sẽ còn khát” (Hc 24,21, CGKPV), nghĩa là đức khôn ngoan kích thích lòng khao khát nơi con người, vì không có gì đáng khát khao hơn đức khôn ngoan. Ở Ga 6,35, Đức Giê-su lại nói đến “không bao giờ đói và khát” nữa, nghĩa là lương thực Người ban tặng có khả năng làm thoả mãn mọi đói khát của con người. Hai kiểu diễn tả ngược nhau (Hc 24,21 và Ga 6,35) nhưng nói về cùng một ý tưởng. Ở Is 49,10 lời Đức Chúa hứa với những kẻ lưu đày trở về như sau: “Chúng sẽ không phải đói phải khát, không bị khí nóng và mặt trời hành hạ, vì Đấng thương xót chúng sẽ hướng dẫn và đưa chúng đến những suối nước tuôn trào” (Is 49,10, CGKPV). Đức Giê-su đã thực hiện các lời hứa của Đức Chúa trong Cựu Ước, chính Người là bánh sự sống (Ga 6,35a), chính Người có quyền năng làm thỏa mãn mọi nhu cầu sâu xa nhất của con người, làm thoả mãn mọi thứ đói khát (6,35b) của đời người.

IV. Kết luận
Như đã nêu trong phần dẫn nhập, trên bình diện lịch sử và quá trình biên soạn bản văn, có nhiều chi tiết phức tạp và khó giải thích trong Ga 6. Tuy nhiên, trên bình diện văn chương và thần học, có thể xem toàn bộ chương 6 Tin Mừng Gio-an có cấu trúc chặt sẽ và trình bày nhiều đề tài thần học quan trọng. Phần cấu trúc cho thấy rằng hai dấu lạ Đức Giê-su thực hiện (bánh hoá nhiều và đi trên mặt Biển Hồ) chuẩn bị cho phần diễn từ về “bánh sự sống” (6:25-59). Nói cách khác, diễn từ bánh sự sống giải thích ý nghĩa của dấu lạ bánh hoá nhiều, và ngược lại, dấu lạ bánh hoá nhiều giúp độc giả hiểu giáo huấn của Đức Giê-su trong diễn từ.
Người thuật chuyện đã dùng “sự hiểu lầm”, “hiểu sai” như một kỹ thuật hành văn để giúp độc giả “hiểu đúng” ý nghĩa câu chuyện. Dựa trên sự hiểu lầm của đám đông, Đức Giê-su giải thích và mặc khải về ý nghĩa của “bánh sự sống”. Có thể tóm kết về “bánh hằng sống” qua năm đặc tính: (1) Bánh xuống từ trời, hay bánh bởi trời; (2) Bánh đích thực; (3) Bánh ban sự sống cho thế gian; (4) Bánh ấy chính là Đức Giê-su; (5) Bánh sự sống có khả năng làm thoả mãn mọi khát vọng của con người.
Bằng “trình thuật” và “đối thoại” trong đoạn văn Ga 6,22-40, người thuật chuyện mời gọi độc giả “thấy dấu lạ” (6,25), “thấy Đức Giê-su” (6,40), “đến với Người” và “tin vào Người” (6,35). Tuy nhiên, trong Ga 6, đám đông đã thấy dấu lạ bánh hoá nhiều (6,14), họ đã thấy Đức Giê-su (6,36), và đã đến với Người (6,24), nhưng họ vẫn không tin vào Người (6,36). Vậy, chúng ta phải làm gì để đạt tới điều Tin Mừng Gio-an mong muốn độc giả thực hiện: “Thực sự thấy Đức Giê-su”, “thực sự đến với Người” và “thực sự tin vào Người”? Đề tài này có thể được bàn đến trong một bài viết khác.  
Sách tham khảo
[1966] Raymond E. BROWN, The Gospel According to John, I–XII, vol. I, (Anchor Bible 29), New York (NY), Doubleday, 1966, 538 p.
[1971] Rudolf SCHNACKENBURG, The Gospel According to St. John, vol. II: Commentary on Chapter 5–12, (Herder’s Theological Commentary on the New Testament), London, Burns & Oates, (1971), 1980, 556 p. (Orig. Das Johannesevangelium).
[1998] Francis J. MOLONEY, The Gospel of John, (Sacra Pagina Series 4), Collegeville (MN), The Liturgical Press, 1998, xxii-594 p.
[2003] Craig S. KEENER, The Gospel of John. A Commentary, vol. I, Peabody (MA), Hendrickson Publishers, 2003, 1636 p.
[2010] Giuse LÊ MINH THÔNG, “Ga 6,22-71: ‘Thánh Thể, lý trí và đức tin’”, in Phân tích thuật chuyện và cấu trúc áp dụng vào Tin Mừng thứ tư, Nxb. Phương Đông, 2010, p. 110-146.
Ngày 29 tháng 7 năm 2012.
Joseph LÊ MINH THÔNG, O.P.
Nguồn: http://leminhthongtinmunggioan.blogspot.com/2012/07/ga-622-40banh-hang-ngay-va-banh-hang.html

Chủ Nhật, 29 tháng 7, 2012

Thánh PHÊRÔ CHRYSÔLOGÔ


 

 
Thánh PHÊRÔ CHRYSÔLOGÔ
Giám Mục Tiến Sĩ Hội Thánh (+450)
Thánh Phêrô có biệt hiệu là Chrysôlôgô (kim ngôn) bởi tài hùng biện đặc biệt của Ngài. Ngài sinh vào khoảng năm 405, tại miền Imola, nước Ý. Đức Giám mục giáo phận Imola là Cornêlliô phong chức phó tế cho Ngài. Dưới sự hướng dẫn của Đức giám mục, Ngài thực hiện những bước tiến lạ lùng trên con đường trong tu viện.
Năm 430, Đức tổng giám mục Gioan của giáo phận Ravenna từ trần. Trong khi tìm vị chủ chăn mới, hàng giáo sĩ và giáo dân đã xin Đức giám mục Iomola nhập đoàn phải họ để đi Roma yết kiến Đức giáo hoàng Sixtô III coi Phêrô như người được tiền định để làm giám mục Ravenna. Ngài liền đặt Phêrô làm giám mục Ravenna, kế vị Đức giám mục Gioan năm 433. Các đại biểu của Giáo phận này lúc đầu tỏ ý bất bình, nhưng rồi đã đổi thái độ khi được đức giáo hoàng Sixtô III cho biết thị kiến của mình.
Vâng theo ý Chúa, Phêrô thụ phong giám mục và trở về Ravenna. Trong bầu khí tiếp đón nồng nhiệt, Ngài nói: - Tôi đến với anh chị em như một y sĩ đến chữa trị, như một mục tử để dẫn dắt, như một người mẹ để nuôi dưỡng, như một người cha để bảo vệ và chăm sóc phần rỗi đời đời của anh chị em. Vậy anh chị em hãy mau mắn vâng phục cách thích đáng đối với tác vụ rất thánh của tôi.
Đầy nhiệt thành bứng rễ các việc thờ ngẫu tượng còn rớt lại, cũng như lên án sự giả tạo của giáo dân. Trong một cuộc lễ vào đầu năm, Ngài đã phá những cuộc diễn hành đáng tội trên đường phố : - Ai muốn vui chơi với ma quỉ thì không thể vui hưởng với Chúa Kitô.
Ngài đã nhiệt tâm rao giảng. Ngày nay chúng ta còn giử lại được khoảng 180 bài giảng của Ngài. Lời lẽ đơn sơ nhưng đầy nhiệt huyết. Người ta không thể quên được những lời như:
- Nằm trong thói hư tính xấu, chúng ta sẽ bị tiêu diệt. Chúng ta sẽ thực sự đứng thẳng khi biết chỗi dậy để tiến thẳng tới bằng các việc lành.
- Ai biết tìm kiếm trong đức tin, sẽ thấy ngay rằng là Cha đang ở đó, vì họ.
- Mọi sự dữ cha mẹ làm cho con cái, Thiên Chúa là Cha hết người sẽ trả lại cho họ.
- Các tiền nhân sống cho chúng ta. Chúng ta sống cho thế hệ mai sau. Không ai sống cho mình cả.
Người ta cũng còn nhớ lời Ngài kêu gọi sống bác ái:
- Biết nói sao về niềm tin lễ Giáng sinh, nếu người nghèo than khóc tù nhân rên siết, dân tị nạn than thở, người lưu đày thổn thức, người Do thái mừng lễ bằng thuế thập phân, còn người Kitô hữu nghĩ sao khi họ không mừng bằng một phần trăm của cải ? Tôi đau buồn, phải, tôi đau buồn vì các đạo sĩ trải vàng trên nôi Chúa Kitô trong khi các Kitô hữu để cho thân thể Chúa Kitô trống trải, khi mà những người nghèo than khóc. Đừng nói rằng tôi không có gì. Thiên Chúa muốn xin cái anh em có chứ không phải cái anh chị em không có, khi mà Ngài thương nhận hai đồng tiền của bà góa. Hãy tận tâm với Đấng tạo thành và tạo vật cũng sẽ tận tâm với anh chị em.
Thánh Phêrô Chrysôlôgô đã trở thành danh tiếng, đến nỗi Đức giáo hoàng Lêo I đã trao cho Ngài đọc tại công đồng Chalcedonia một luận án chống lại lạc thuyết của Eutychèr, Ngài cũng còn viết một bức thư cho kẻ lạc giáo này để khuyên ông ta vâng phục Giáo hội.
Sau cùng, sau khi cai quản giáo phận Ravenna trong 18 năm, thánh giám mục biết rằng mình sắp tới hồi kết thúc các nỗ lực. Ngài muốn lui về Imola để dọn mình chết. Ngày 3 tháng 12 năm 450 Ngài đã từ trần và năm 1729 được đặt làm tiến sĩ Hội Thánh.
(Daminhvn.net)

LỜI CHÚA MỖI NGÀY THỨ HAI TUẦN XVII THƯỜNG NIÊN năm II



LỜI CHÚA MỖI NGÀY
THỨ HAI TUẦN XVII THƯỜNG NIÊN năm II
Bài đọc: Jer 13:1-11; Mt 13:31-35

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ :
Đức tin phải được tăng trưởng, nếu không sẽ tàn lụi vô dụng.
Đức tin là món quà vô giá Thiên Chúa ban cho con người qua lời rao giảng của các nhà truyền giáo. Bổn phận của con người là làm sao để cho đức tin ấy tăng trưởng mỗi ngày một mạnh hơn. Để đức tin được tăng trưởng, gian nan thử thách là điều cần thiết; nếu không có gian nan thử thách, con người sẽ không có cơ hội chứng tỏ đức tin của họ vào Thiên Chúa.
Các bài đọc hôm nay dùng ba hình ảnh khác nhau để nói lên sự cần thiết phải bám víu lấy Chúa nếu không muốn bị tàn lụi và trở nên vô dụng. Trong bài đọc I, Đức Chúa truyền cho Jeremiah mua một chiếc đai lưng bằng vải gai và đem giấu trong một kẽ đá tại vùng Euphrates; ít lâu sau Ngài lại truyền cho ông đi lấy chiếc đai lưng về, nhưng nó đã mục nát cả. Hành động biểu tượng này ám chỉ con cái Israel giống như chiếc đai lưng, nếu họ không quấn chặt quanh chủ của nó là Đức Chúa. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu cho khán giả hai ví dụ về niềm tin: Niềm tin được ví như hạt cải, tuy nhỏ nhất trong các hạt; nhưng khi tăng trưởng, nó lớn lên và thành cây đến nỗi chim trời kéo đến nương náu. Niềm tin cũng có thể ví như nắm men đem dùi trong bột cho đến khi dậy men, nó có thể làm dậy ba thúng bột trước khi trở thành những ổ bánh cho con người dùng.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Israel được ví như chiếc khăn bằng lụa.

Người xưa không mặc quần như chúng ta ngày nay, họ dùng một tấm vải dài để quấn chung quanh phần hạ bộ của người đàn ông. Nhìn lên Thập Giá, chúng ta thấy Chúa Giêsu quấn một chiếc khăn theo như truyền thống của Do-thái. Mục đích của trình thuật có ý muốn nói: chiếc khăn quí phải gắn liền với chủ nhân của nó như Israel phải gắn liền với Thiên Chúa.

1.1/ Euphrates (600 miles) hay Pharan (4 miles)?
Sau khi Jeremiah đã mua chiếc khăn và quấn chung quanh hạ bộ, Chúa truyền cho ông tháo khăn ra và đi đến sông Euphrates (Babylon ngày xưa và Iraq ngày nay) và giấu chiếc khăn vào một hốc đá ở đó. Chiếc khăn bị đem giấu đi là chiếc khăn không còn công dụng của nó. Hình ảnh này được dùng để báo trước cuộc lưu đày của Jerusalem và Judah vào năm 587 BC sang Babylon.
Có hai ý kiến về nơi giấu chiếc khăn: Một ý kiến cho nơi giấu là Pharan, chỉ cách Anathoth có 4 dặm về phía Đông Bắc. Aquila ủng hộ ý kiến này, vì Euphates bên Babylon quá xa để đi bộ. Ngôn sứ phải đi bộ 600 miles để đi giấu và 600 miles nữa để đi lấy về. Bản Bảy Mươi cho nơi giấu là Euphrates vì đây là địa danh mà con cái Israel phải đi lưu đày. Ý kiến của bản Bảy Mươi có cơ sở hơn. Tuy nhiên, đây chỉ là một hành động biểu tượng, nó có thể hiểu như một dụ ngôn.

1.2/ Ý nghĩa của câu truyện
Sau cùng, Chúa truyền cho ông đi qua đó lấy chiếc khăn về: Chiếc khăn đã mục nát vì thời tiết nắng mưa và không còn dùng được nữa: Đây là bài học cho dân Do Thái, họ giống như chiếc khăn phải được cuốn chung quanh người của chủ họ là Thiên Chúa. Nhưng nếu họ kiêu hãnh từ chối không ở gần Chúa, họ sẽ bị đi lưu đầy nơi đất khách quê người và sẽ bị tàn tạ như chiếc khăn rách nát vô dụng.
Vì kiêu hãnh, Israel đã từ chối không nghe lời Thiên Chúa; họ muốn làm theo ý riêng họ chứ không theo ý Thiên Chúa; và đã đi theo các thần ngoại để thờ phượng và phục vụ chúng. Nếu muốn trở nên một dân tộc, một tên tuổi, một lời ca tụng, một vinh quang, họ phải gắn liền với Chúa, nhưng họ đã từ chối không nghe lời Thiên Chúa.
Vì thế, Đức Chúa phán thế này: “Ta sẽ huỷ diệt thói kiêu hãnh của Judah và thói kiêu hãnh lớn lao của Jerusalem như vậy. Dân xấu xa này không chịu nghe lời Ta, cứ ngoan cố cứng lòng, chạy theo các thần khác mà làm tôi và sụp lạy chúng; nó sẽ nên như chiếc đai lưng hoàn toàn vô dụng kia. Vì, cũng như chiếc đai lưng người ta thắt ở lưng, Ta cũng thắt chặt cả nhà Israel và nhà Judah vào Ta như vậy, để chúng trở thành dân của Ta, dân đem lại cho Ta tiếng tăm, danh dự và vinh quang. Nhưng chúng đã chẳng chịu nghe. Sấm ngôn của Đức Chúa.”

2/ Phúc Âm: Nước Trời được ví như:

2.1/ Hạt Cải: Ở Palestine, hạt cải có thể trở thành cây khoảng 3,4 thước khác với hạt cải ở vùng Đông Nam Á chỉ có thể trở thành rau. Điểm chính Chúa muốn nhấn mạnh ở đây là hạt cải tuy nhỏ bé nhất trong các hạt, nhưng có tiềm năng trở thành cây lớn đến nỗi chim trời có thể làm tổ trên cành của nó.
Đức tin của chúng ta cũng được Chúa ví như hạt cải (Mt 17:20), tuy nhỏ bé nhưng nhờ sức mạnh của Chúa có thể dời được núi non. Không có gì là không thể đối với những người có đức tin vững mạnh vào Chúa. Nước Trời được xây dựng trên đức tin của nhiều hạt cải nhỏ bé, nhưng nếu các hạt cải này tăng triển thành cây; rồi từ các cây này lấy hạt trồng thêm nhiều cây khác nữa... Sẽ có ngày cả trái đất sẽ đầy tràn các cây cải. Nước Trời cũng bắt đầu bằng đức tin của một người rồi cứ thế lan tràn ra cho đến khi trái đất đầy tràn những người tin vào Chúa.

2.2/ Men trong bột: Ba đấu bột là số lượng thường dùng để làm bánh cho một gia đình.
Đối với những người làm bánh, họ có thể nhận ra sự khác biệt lạ thường của men. Cùng một loại bột, nhưng bột không dùng men khi nướng lên chỉ thành cái bánh qui nhỏ hay như cái bánh “fortune cookie” chỉ đủ cho một người ăn; nhưng nếu dùng men và để cho dậy tối đa trước khi nướng sẽ trở thành một ổ bánh có thể cả gia đình cùng ăn.
Giống như dụ ngôn hạt cải ở trên, Nước Trời được ví như nắm men tuy bắt đầu rất nhỏ bé, nhưng một khi đã lan tràn thì sẽ lớn mạnh đến nỗi không ai có thể đo lường được.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Cuộc đời con người chỉ có ý nghĩa khi sống kết hiệp với Thiên Chúa, càng xa Thiên Chúa bao nhiêu, cuộc đời con người sẽ trở thành vô nghĩa bấy nhiêu.
- Đức tin con người có được là nhờ đức tin của các tiền nhân đi trước cũng như hạt cải có được là nhờ các cây cải có trước. Bổn phận mỗi người là phải tiếp tục làm cho đức tin đó lan rộng cho đến tận cùng trái đất.
- Đức tin cần phải được vun trồng mỗi ngày bằng Lời Chúa và các bí tích; nếu không sẽ trở nên yếu dần và tàn lụi đi. Một đức tin vững mạnh có thể làm được mọi sự.
- Đức tin mỗi người cần được sự nâng đỡ và trợ giúp của giáo hội địa phương và Giáo hội toàn cầu mới có thể đứng vững trước những phong ba bão táp của cuộc đời.
Lm. An-tôn Đinh Minh Tiên, OP.

VUI HỌC THÁNH KINH THÁNG 8

VUI HỌC THÁNH KINH THÁNG 8


VUI HỌC THÁNH KINH THÁNG 8

Ngày 15 tháng 8
Giáo Hội mừng kính Đức Maria Hồn Xác Lên Trời.
Xin gởi đến quý Anh Chị chủ đề về Đức Maria
và những phụ nữ trong Thánh Kinh.

THÁNH KINH

Khải huyền 11,19a; 12,1-6.10ab

11.19 Đền Thờ Thiên Chúa ở trên trời mở ra, và Hòm Bia Giao Ước xuất hiện trong Đền Thờ.

12.1 Rồi có điềm lớn xuất hiện trên trời: một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao.2 Bà có thai, đang kêu la đau đớn và quằn quại vì sắp sinh con.3 Lại có điềm khác xuất hiện trên trời: đó là một Con Mãng Xà, đỏ như lửa, có bảy đầu và mười sừng, trên bảy đầu đều có vương miện.4 Đuôi nó quét hết một phần ba các ngôi sao trên trời mà quăng xuống đất. Rồi Con Mãng Xà đứng chực sẵn trước mặt người Phụ Nữ sắp sinh con, để khi bà sinh xong là nó nuốt ngay con bà.5 Bà đã sinh được một người con, một người con trai, người con này sẽ dùng trượng sắt mà chăn dắt muôn dân. Con bà được đưa ngay lên Thiên Chúa, lên tận ngai của Người.6 Còn người Phụ Nữ thì trốn vào sa mạc; tại đó Thiên Chúa đã dọn sẵn cho bà một chỗ ở, để bà được nuôi dưỡng ở đó, trong vòng một ngàn hai trăm sáu mươi ngày.

10 Và tôi nghe có tiếng hô to trên trời:
"Thiên Chúa chúng ta thờ giờ đây ban ơn cứu độ,
giờ đây biểu dương uy lực với vương quyền,
và Đức Ki-tô của Người
giờ đây cũng biểu dương quyền bính.


19 Then God's temple in heaven was opened, and the ark of his covenant could be seen in the temple.

1 A great sign appeared in the sky, a woman  clothed with the sun, with the moon under her feet, and on her head a crown of twelve stars.

2 She was with child and wailed aloud in pain as she labored to give birth. 3 Then another sign appeared in the sky; it was a huge red dragon, with seven heads and ten horns, and on its heads were seven diadems.

4 Its tail swept away a third of the stars in the sky and hurled them down to the earth. Then the dragon stood before the woman about to give birth, to devour her child when she gave birth.

5 She gave birth to a son, a male child, destined to rule all the nations with an iron rod. Her child was caught up to God and his throne.

6 The woman herself fled into the desert where she had a place prepared by God, that there she might be taken care of for twelve hundred and sixty days.

10 Then I heard a loud voice in heaven say: "Now have salvation and power come, and the kingdom of our God and the authority of his Anointed.

I. HÌNH TÔ MÀU


* Chủ đề của hình ảnh là gì?
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

* Bạn hãy viết câu Thánh Kinh Khải Huyền 12,1
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .
. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .


II. TRẮC NGHIỆM
ĐỨC MARIA


01.  Thánh kinh không nhắc gì đến song thân của Đức Maria, nhưng qua truyền thống của Giáo hội, ta biết được phụ thân của Đức Maria là Thánh GioaKim, còn thân mẫu của ngài tên là gì? 
a. Bà Xintikhe            
b. Bà Minca
c. Bà Anna                           
d. Bà Pơritskila


02. Người đã đính hôn Đức Maria tên là gì? (Mt 1,18-25 )
a. Ông Giacóp           
b. Ông Hêli
c. Ông Giuse
d. Ông Giôsuê


03. Người nói với Đức Maria: “Còn chính bà, 1 lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà” tên là gì? (Lc 2,28-38)
a. Ông Giacóp           
b. Ông Hêli
c. Ông Simêon
d. Bà Anna


04. Nữ tiên tri đã gặp Hài Nhi Giêsu và Mẹ ngài trong Đền Thờ tên là gì? (Lc 2,36-38)
a. Bà Gioanna           
b. Bà Xara
c. Bà Suzanna                      
d. Bà Anna 


05.  Trên thập giá, Đức Giêsu đã trao phó Mẹ Ngài cho ai? (Ga 19,25-26)
a. Ông Giacóp           
b. Ông Gioan
c. Ông Giuse
d. Ông Giôsuê


06. Ai là người đã gọi đức Maria là: “Thân mẫu Chúa tôi”? (Lc 1,43)
a. Ông Giuse              
b. Bà Anna
c. Ông Dacaria          
d. Bà Êlisabét 


07. Những tín điều về Đức Maria là những tín điều nào?
a. … … … … … … … … … … … …              
b. … … … … … … … … … … … …
c. … … … … … … … … … … … …
d. … … … … … … … … … … … …


08. Tín điều Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa được Công Đồng nào tuyên tín?
a. Công Đồng Vaticanô I            
b. Công Đồng Êphêxô
c. Công Đồng Contantinop I
d. Công Đồng Trentô


09. Tín điều Đức Maria hồn Xác Lên Trời được Đức Giáo Hoàng nào tuyên bố?
a. Đức Giáo Hoàng Lêô XIII
b. Đức Giáo Hoàng Piô XI          
c. Đức Giáo Hoàng Piô XII
d. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII


10. Tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội được tuyên tín năm nào ?
a. Năm 1850              
b. Năm 1854
c. Năm 1950               
d. Năm 1954


II. Ô CHỮ  LỄ MẸ LÊN TRỜI

NHỮNG GỢI Ý:

01. Người chị họ của Đức Maria tên là gì? (Lc 1,39-44)
 
02. Con của bà sau khi sinh được đưa lên đâu? (Kh 12,5)
 
03. Người phị nữ trong sách Khải Huyền sau khi sinh con thì trốn vào đâu? (Kh 12,6)
 
04. Đức Maria đẫ hát bài ca này để ngợi khên Thiên Chúa. (x. Lc 1,39-56)
 
05. Đức Maria ở miền này khi sứ thần Gáprien truyền tin.  (Lc 1,26)
 
06. Người đã đính hôn Đức Maria tên là gì?   (Mt 1,18-25 )

07. Theo truyền thống thân mẫu Đức Maria tên là gì?

08. Trong bài ca Ngợi khên, Đức Maria nói Thiên Chúa  độ trì ai, tôi tớ của người?  (Lc 1,54)

09. Người phị nữ trong sách Khải Huyền mình khoác cái gì? (Kh 12,1)

10. Đức Giáo hoàng đã tuyên tín tín điều Đức Maria Hồn Xác Lến Trời tên là gì?
 
11. Người con của Đức Maria đã chịu đóng đinh trên thập giá.  (Ga 19,12-28)
 
Hàng dọc : Chủ đề của ô chữ này là gì?

IV. THỬ TÀI
A. THỬ TÀI NHỚ 

 
Đây là những cặp vợ chồng. Bạn hãy hoàn thành những cặp nhân vât này.

CHỒNG              VỢ
************              ********
?                           GAIEN (Tl 4,17)
?                           MIKHAN (1Sm18,28
?                           XARA (St 17,1-17)
?                           EVA (St 3,20)
?                           BECNIKE (Cv26,30)
?                           GIOANNA (Lc 8,3)
?                           DORUXILA (Cv24,24
?                           APPHIA (Plm 2)



B. ĐẢO LỘN 

Những dãy từ của các nhân vật dưới đây đã bị đảo lộn 1 mẫu tự. Bạn cố gắng tìm ra và đặt vào đúng vị trí của nó.
 
ARIAM (Lc 1,26-28).
ƠRUXILAĐ (Cv 21,1-27).
ABITHAT (Cv 9,32-38).
YĐIAL (Cv 16,14-15).
ÊRÔĐIAH (Mt 14,2-12).
LISABÉTE (Lc 1,39-56).
PPHIAA (Plm 2).
AMAT (St 38,1-30).


Gợi ý:
Trong dãy từ này có nhân vật TAMA


V. CÂN NÃO
A. HÃY CÙNG ĐỌC ANNA



 

Bà ANNA,
người  nữ đã gặp được
Hài Nhi Giêsu trong Đền Thờ
sau bao năm tháng đợi trông
(Lc 2,36-38).

Có tất cả bao nhiêu cách để đọc được từ ANNA theo đúng thứ tự sắp xếp của các chữ cái trong từ đó ở hình trên ?

Bất kỳ 1 chữ A nào cũng có thể là chữ cái đầu tiên và chữ cái cuối cùng của cùng 1 từ ANNA, nhưng 2 chữ cái NN ở giữa  bắt buộc phải ở những vị trí khác nhau.

B. CHIA 1 THÀNH 4 : PHỤ NỮ



Ô chữ này được chia làm 4 phần bằng nhau. Mỗi phần nhỏ là 1 nhân vật nữ gồm 4 mẫu tự. Bạn hãy xem đó là những nhân vật nào ?

Gợi ý :

Trong ô này có những nhân vật có 4  mẫu tự :


1.  Nữ tiên tri đang ở trong Đền thờ, khi ông Giuse và bà Maria mang trẻ Giêsu đến để dâng lên Thiên Chúa cùng với lễ vật. 1 . Bà Anna (Lc 2,22-24).


2. Người con gái mà ông Calếp hứa gã cho ai đánh chiếm thành Kiagiát Xêphe.  2. Cô Acxa (T l 1,1-21)

3.  Tiên tri Hôsê đã lập gia đình, nhưng người vợ của ông luôn ngoại tình, không trung thành với ông. Tiên tri Hôsê đã dùng cuộc hôn nhân của mình để loan báo sự bất trung của dân Ítraen với Thiên Chúa, như người vợ bất trung với chồng, khi bà chạy theo những người đàn ông khác. Người vợ bất trung của tiên tri Hôsê tên là gì? 3.  Bà Gôme (Hs 1,2-5).

4. Vua Asuêrô đã chọn em họ ông Moócdokhai, người Do thái làm Hoàng hậu. Bà tên là gì? 4. Bà Étte (Et 1,1…).


VI. CÂU KINH HỌC THUỘC LÒNG

Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi
biết bao điều cao cả,
danh Người thật chí thánh chí tôn!
Tin Mừng thánh Luca 1,49




LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI
Ngày 15 tháng Tám
__________
I. TIẾN TRÌNH TÍN ĐIỀU MẸ LÊN TRỜI
Theo hai cha Pohle và Scheeben, mấy thế kỷ đầu không có dấu tích gì về lòng tin Đức Mẹ Maria lên trời. Nhưng một cái quách (sarcophagus) đầu thế kỷ IV hiện ở nền nhà thờ Santa Engracia thành Saragossa (Tây Ban Nha) có bức chạm trổ hình Đức Mẹ lên trời. Và chứng tích của Thánh Epiphanô cho biết niềm tin Mẹ Maria bất tử và thân xác Mẹ vinh quang đã được truyền bá sâu rộng trong một ít giáo đoàn như Antiokia. Do xác tín và ngợi khen "Chức phẩm Thiên Mẫu" và "Đức Đồng trinh" của Mẹ là hai căn nguyên bước vinh quang của Người, Thánh Epiphanô mở đường cho lòng tin và sự xác quyết của các Thánh Giáo phụ, các Đức Giáo hoàng, các Giám mục, các nhà thần học và toàn thể Giáo hội.

A. Các Thánh Giáo phụ

Các Thánh Giáo phụ trong những thế kỷ đầu như các Thánh Môđestô, Basiliô, Giêrônimô, Augustinô, Germanô, Đamascenô, và Thêôđôrê Studium đồng thanh tung hô bước vinh quang của Mẹ Maria do chức phẩm Thiên Mẫu và đức Đồng trinh của Mẹ . Riêng Thánh Đamascênô nói: "Cần thiết rằng Con Thiên Chúa, khi sinh ra đã gìn giữ vẹn tuyền đức Trinh của Mẹ, thì phải gìn giữ Mẹ khi chết khỏi hư hoại. Đấng đã cưu mang Đấng Tạo Hoá cần được ở trong cung điện của Thiên Chúa. Mẹ Thiên Chúa cần phải có tất cả mọi điều thuộc về Con của Mẹ và cần được mọi thụ tạo tôn vinh".

B. Các Đức Giáo hoàng

- Đức Adrianô I và Đức Pascalê I có những đồ thờ trang trí bằng hình ảnh Mẹ lên trời.
- Đức Alexanđrô III nói: "Mẹ Maria thụ thai không bị xấu hổ, sinh con không bị đau đớn, từ trần không bị hư hoại trong mồ, vì theo lời Thiên thần, Mẹ đã được đầy ơn".
- Đức Thánh Piô V sửa đổi lại kinh Phụng vụ với bài đọc lễ Mẹ lên trời.
- Đức Bênêđictô XIV: Về ngày lễ Đức Mẹ lên trời, Giáo hội đọc các bài giảng của thánh Đamascenô và thánh Bênađô thấy rõ ràng Rất thánh Trinh Nữ lên trời cả hồn và xác: Đó là một dấu chỉ và một bằng chứng niềm tin của Giáo hội.
- Đức Piô XII nối tiếp các Đức tiền nhiệm về niềm tin đó. Trong Thông điệp "Corporis Mystici" ngày 29-6-1943, ngài viết: "Chúng ta hãy nài xin Mẹ rất thánh của mọi phần tử của Chúa Kitô mà Ta đã tín thác hiến dâng loài người cho Trái tim Mẹ. Ngày nay ở trên trời, thân xác và linh hồn Mẹ toả sáng trong vinh quang, hiển trị cùng với Con của Mẹ".

C. Các Đức Giám mục và toàn thể Giáo hội

Ngày 23-2-1870, 200 Giám mục của Công đồng Vatican I làm đơn thỉnh nguyện Đức Thánh Cha định tín Đức Mẹ hồn xác lên trời. Năm 1920, 260 Giám mục từ nhiều nước cũng hợp ý tâu xin, đầu tiên là các Giám mục nước Ý, nước Pháp, trong khi các Hội đồng Giám mục nước Đức, Áo, Anh, và Thụy Sĩ còn im lặng. Năm 1934, sau năm năm chiến dịch "Forge Italiane" ráo riết vận động, 600 Tổng Giám mục và Giám mục đã chấp thuận cuộc trưng cầu dân ý khắp thế giới tâu xin Toà thánh định tín.
Tại Pháp và Ý năm 1929, một hội cầu nguyện được thành lập để xin Chúa cho việc định tín được thành tựu. Đại hội Thánh Mẫu tại Nantes năm 1924 cũng bày tỏ nguyện vọng đó.

D. Các nhà thần học

Nối tiếp các Thánh Giáo phụ và Thẩm quyền của Giáo hội, các nhà thần học qua các thế kỷ cũng tích cực đồng tâm nhất trí về tín lý Mẹ Maria hồn xác lên trời:
Thế kỷ XII và XIII, có các Thánh Albertô, Bônaventura, Tôma, Fullertô và các nhà thần học Hugh St. Victor, Sicard Cremona, Durand Mende. Thế kỷ XV có Thánh Antôniô và nhà thần học Gabriel Biel. Thế kỷ XVI có các Thánh Canisiô, Bellarminô, các nhà thần học Suarez, Soto, Đức Hồng y De Berulle và cả trường phái Pháp. Thế kỷ XVII có các nhà thần học Billuart, Theophile Raynaud. Thế kỷ XVIII có Thánh Anphong, Đức Hồng y Lambertini (sau này là Đức Giáo hoàng Beneđictô XIV), các nhà thần học Sedlmayr, Trombelli. Thế kỷ XIX và XX có các nhà thần học Scheeben, Lannerz, Janssens, Lagrange, Jugie, Roschini, Balic, Bittremieux và Đức Hồng y Lépicier. Theo cha Deneffe, từ cha Scheeben có ít là 18 nhà thần học xác quyết rằng tín lý Mẹ hồn xác lên trời có thể định tín. Nhà thần học Sertillanges viết một câu rất dí dỏm về sự phục sinh của Mẹ: "Chúng tôi tin rằng đường lối mọi xác phàm phải ngoắt quay đi khi nói về Đức Trinh Nữ. Anh hùng ca của sâu bọ phải im bặt để chúng ta ca lên trên ngôi mộ này Hoan khúc Magnificat thay vì Ai khúc De profundis".

Như vậy, toàn thể Giáo hội cùng với các Thánh Giáo phụ, các Đức Giáo hoàng và các nhà thần học đều cùng một niềm tin Mẹ Maria lên trời cả hồn và xác. Do đó, cùng với nhà thần học Bainvel, dân Chúa tin tưởng tín lý Mẹ hồn xác lên trời mau chóng được định tín.

E. Chuẩn bị định tín

Ngày 1-5-1946, với Thông điệp "Deiparae Vir-ginis" gửi các Giám mục khắp Giáo hội, Đức Piô XII cho biết từ năm 1840 đến năm 1940 những đơn thỉnh nguyện tâu xin Toà thánh định tín Mẹ Maria hồn xác lên trời đã đóng thành hai cuốn sách. Những đơn thỉnh nguyện này do các Đức Hồng y, các Thượng phụ Giáo chủ, các Giám mục, đặc biệt 200 Nghị phụ Công đồng Vatican I, các linh mục, tu sĩ nam nữ, các trường Đại học, các đoàn thể và đông đảo giáo dân. Đức Thánh Cha xin các Đức Giám mục cho ngài biết lòng sùng kính Đức Mẹ lên trời của hàng giáo sĩ, giáo dân của giáo phận các ngài và xin các ngài theo sự khôn ngoan xét đoán thế nào về việc tuyên tín.
Ngày 30-10-1950, Đức Thánh Cha gửi tông thư cho Cơ mật viện, loan báo vào ngày mồng 1 tháng 11 năm 1950, một biến cố sẽ là niềm vui lớn lao cho toàn thế giới Công giáo. Đó là nhờ ơn soi động và sự trợ lực của Thiên Chúa, ngài sẽ tuyên tín Đức Mẹ hồn xác lên trời. Một tia sáng mới sẽ bừng sáng trên vầng trán của Mẹ mà từ xa xưa qua các thời đại, Giáo hội cùng với các Giáo phụ, tiến sĩ và các nhà thần học vẫn tin tưởng mộ mến và sùng kính Mẹ lên trời cả hồn xác. Đức Thánh Cha cũng hỏi ý kiến Cơ mật viện về việc ngài sẽ long trọng tuyên tín Mẹ hồn xác lên trời như một chân lý đã được Thiên Chúa mạc khải. Sau khi đã biết ý kiến tích cực đồng thuận, Đức Thánh Cha tỏ lòng hoan hỉ được các Hồng y, Giám mục đồng tâm nhất trí với ngài để chứng minh điều Giáo hội vẫn tin tưởng, mộ mến và giảng dạy.

G. Ban hành Thông điệp Munificentissimus Deus

Ngày mồng 1 tháng 11 năm 1950, Đức Piô XII ban hành Thông điệp "Munificentissimus Deus" long trọng định tín Mẹ Maria linh hồn và xác lên trời là một tín điều buộc mọi người phải tin. Đại lược thông điệp bất hủ này là: Sau khi chúc tụng lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa đã yêu thương quan phòng làm êm dịu những khổ đau, đem lại niềm an vui cho các dân tộc, Đức Thánh Cha nêu cao sự kiện ơn Chúa thương, dù giữa thời buổi nhiều người sai lạc chân lý và nhân đức, vẫn có nhiều cách biểu lộ đức tin, lòng sùng mến Mẹ Maria và những con cái Mẹ vẫn được khuyến khích chiêm niệm những đặc ân của Mẹ. Thật vậy, từ muôn đời, Thiên Chúa đã đặc biệt yêu thương Mẹ và rồi ban cho Mẹ dạt dào những đặc ân mà Giáo hội nhận biết và khám phá ra. Nhưng thời đại của chúng ta đã được dành riêng để chiêm ngưỡng đặc ân Mẹ hồn xác lên trời.

Sau đó, Đức Thánh Cha lược qua tiến trình tín lý này qua đức tin của Giáo hội, qua Phụng vụ, các Giáo phụ, các nhà thần học hằng tin tưởng Mẹ thụ thai, hạ sinh và nuôi dưỡng Chúa Kitô, thì sau cuộc đời này, Mẹ cũng được kết hợp với Chúa cả hồn và xác. Và Mẹ đã cùng với Chúa Kitô chiến thắng địch thù hoả ngục, thì Mẹ cũng được cùng với Chúa khải hoàn vinh quang.

Đức Thánh Cha cũng kể qua cuộc chuẩn bị của ngài. Và ngài hy vọng rằng việc ngài định tín sẽ đem lại lợi ích lớn lao cho thế giới quay về với Thiên Chúa Ba Ngôi, cho giáo dân thêm lòng sùng mến Mẹ hơn, hiểu biết giá trị đời sống con người và mục đích cao siêu của linh hồn và xác. Sau hết, đức tin vào Mẹ hồn xác lên trời sẽ làm thêm vững mạnh đức tin của chúng ta vào vinh phúc mai sau.

H. Định Tín

Tín điều Mẹ Maria đầu thai vô nhiễm do Đức Piô IX tuyên tín năm 1854 đã là một viên bích ngọc rực sáng trên triều thiên của Mẹ, và là một luồng sáng rọi chiếu vào tín lý Mẹ lên trời cả hồn xác đã loé sáng lên qua bao thế kỷ, để ngày nay bừng sáng lên thành tín điều thêm một viên hoàng ngọc trên triều thiên vinh quang của Mẹ. Do đó, Lễ Các Thánh ngày mồng 1 tháng 11 năm 1950, tại quảng trường Thánh Phêrô, Rôma, trước 40 Hồng y, 500 Tổng Giám mục và Giám mục, hàng trăm đại diện chính quyền các quốc gia, hàng ngàn linh mục tu sĩ nam nữ và hơn 700,000 dân chúng dưới bầu trời tươi sáng, Đức Piô XII sốt sắng cất tiếng trong máy vi âm ngân vang khắp quảng trường Thánh Phêrô, vọng vang vào đền thờ chật ních hơn 80,000 dân chúng, vang xa khắp hoàn cầu, vang lên tới cung trời cao thẳm những lời trịnh trọng tuyên tín: "Do uy quyền của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, của hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, và với thẩm quyền của Ta, Ta phán quyết, tuyên ngôn, và định tín là tín điều đã được mạc khải rằng: Đức Maria, Mẹ Vô nhiễm của Thiên Chúa trọn đời đồng trinh, sau cuộc sống trần gian này, đã được phúc vinh quang Thiên đàng cả hồn và xác. Nếu ai cả dám tự tình chối bỏ hay nghi ngờ điều Ta đã định tín, thì họ phải biết rằng họ hoàn toàn phản bội đức tin Công giáo của Thiên Chúa".

Đức Thánh Cha vừa dứt lời, thánh ca Te Deum do tất cả mọi người trong quảng trường Thánh Phêrô ca lên hùng tráng hoà nhịp với những tiếng chuông trầm hùng của đền Thánh Phêrô và của 400 đền thờ khắp thành Rôma như cùng với toàn thể thần thánh trên trời hân hoan reo mừng chúc tụng ngợi khen Mẹ vinh quang của Thiên Chúa, của Giáo hội và của toàn thể loài người.

II. LỊCH SỬ PHỤNG VỤ

Đầu tiên Giáo hội Đông phương thành lập lễ tôn vinh Mẹ Thiên Chúa tại Giêrusalem sau Công đồng Êphêsô năm 431, và gọi là "Ngày của Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa". Năm 380, giáo đoàn Antiôkia, và đầu thế kỷ VI, Giáo hội Đông phương gọi là "Lễ Mẹ ly trần". Năm 600, hoàng đế Maurice ra sắc lệnh mừng lễ này khắp nước Byzantine. Khi quân Ba tư xâm chiếm Trung đông, các đan sĩ chạy sang Rôma năm 650 đem theo lễ này sang và đổi là "Lễ Mẹ lên trời" và mừng vào ngày 15 tháng 8. Rồi từ Rôma, lễ này được lan đến Milan và Tây Ban Nha. Đức thánh Sergiô I tổ chức một cuộc rước long trọng sùng kính Mẹ lên trời. Thế kỷ VIII lễ này lan sang Anh và Đức như Hội đồng Giám mục Áo tại Salzburg xác nhận, và sang Pháp do Hội đồng Giám mục Pháp tại Mayenne. Dần dần lễ này được lan tới tất cả các nước khắp thế giới.

Đức Lêô IV qui định lễ Mẹ lên trời có tuần tám ngày, và Đức Nicolas I cho biết từ lâu lễ Mẹ lên trời có lễ Vọng ngày áp.

Thế kỷ thứ XIII lễ Mẹ lên trời còn có ngày chay trước lễ và là lễ long trọng nhất các lễ Đức Mẹ. Thế kỷ XVI theo nhà thần học Suarez, lễ này đặc biệt hơn mọi lễ Đức Mẹ, vì bày tỏ cho chúng ta thấy vinh quang, phần thưởng và sự khải hoàn của Rất Thánh Trinh Nữ.

Thời Trung cổ, lễ Mẹ lên trời là ngày làm phép mùa màng và các hoa trái đầu mùa. Năm 1950, lễ Mẹ lên trời có tầm quan trọng trong khắp Giáo hội do Đức Piô XII định tín "Mẹ Maria lên trời cả hồn và xác" và qui định thành Lễ Trọng đặc biệt trong khắp Giáo hội với luật buộc mọi người tham dự Thánh lễ. Năm 1970, Phụng vụ qui định lễ Mẹ lên trời là một lễ Đức Mẹ duy nhất có lễ Vọng vào chiều ngày 14 trước chính ngày lễ 15 tháng 8.

III. Ý NGHĨA PHỤNG VỤ

1. Mẹ Maria hồn xác lên trời là biến cố sau cùng trong mầu nhiệm đời sống Đồng công Cứu chuộc của Mẹ đặc biệt liên đới với mầu nhiệm Nhập Thể Cứu thế của Chúa Giêsu, Con Mẹ.

2. Vì Mẹ đã chịu thai và hạ sinh Chúa Giêsu, thì sau khi về trời vinh quang, Chúa Giêsu cũng đưa Mẹ vào phúc vinh quang cùng với Người.

3. Mẹ đã cho thân xác Chúa sự sống nhân loại, thì đáp lại, Chúa cũng cho thân xác Mẹ sự sống trường sinh vinh quang.

4. Do đặc ân Vô nhiễm Nguyên tội, thân xác trinh trong của Mẹ được thoát án lệ của tội Nguyên tổ mà được sống lại và lên trời cùng với linh hồn trong sáng của Mẹ.

5. Biến cố Mẹ lên trời hồn xác hoàn thành sự thánh thiện và huân nghiệp của Mẹ, là niềm ủi an và hy vọng tràn trề của chúng ta, là khởi đầu và là hình ảnh Hội thánh sẽ được thành toàn trên Nước Trời.

6. Hồn xác Mẹ lên trời vinh quang được Chúa Ba Ngôi tôn phong làm Nữ Vương trời đất và làm Đấng Trung gian ban phát mọi ơn lành cho chúng ta.

7. Đặc ân Mẹ lên trời vinh quang chung qui mọi đặc ân của Mẹ và là cùng đích trót cuộc sống, sứ mạng và huân công của Mẹ. Lễ Mẹ lên trời vinh quang chung kết mọi lễ tôn vinh Mẹ, nên là một lễ trọng thể và là lễ luật buộc. Đặc ân Mẹ lên trời gồm nhiều điều kỳ diệu:

- Mẹ chết êm ái không chút đớn đau,
- Mẹ phục sinh không bị hư thối,
- Mẹ lên trời hiển vinh.


IV. Ý NGHĨA LỜI CHÚA TRONG THÁNH LỄ

Bài đọc I: Khải huyền 11:19; 12:1-6, 10

Tác giả sách Khải huyền mô tả cuộc tranh hùng giữa thiện và ác, giữa dòng dõi con Rồng hoả ngục và dòng dõi người nữ là Mẹ Maria. Mẹ được hình dung là một mỹ nữ mặc áo mặt trời như kiểu Thiên Chúa thường cho người phụ nữ ăn mặc (xem Kn 3:21; Mt 6:30) nghĩa là Thiên Chúa cho Mẹ mặc áo vinh quang tức là ánh sáng rực rỡ nhất là mặt trời. Mẹ chân đạp mặt trăng. Mặt trăng khi tròn khi khuyết tượng trưng sự đổi thay mà Mẹ không bị biến đổi theo thời gian, theo tứ thời bát tiết vì Mẹ làm chủ như đạp trên tất cả. Đầu Mẹ đội một triều thiên mười hai ngôi sao. Các ngôi sao ở trên trời cao (xem G 22:12) tức là Mẹ làm Nữ Vương số đông dân chúng đầy đủ như mười hai chi tộc Israel. Triều thiên tượng trưng sự vinh thắng của Mẹ. Tất cả điều lạ là hình ảnh Khám giao ước mà Thiên Chúa dùng để ở cùng dân Người, và Người ở trong đó như ở trong Đức Trinh Nữ Maria. Mỹ nữ đang mang thai và đã sinh một con trai. Con trai đây là Đức Kitô, là Đấng Thiên Sai mà Thánh vương Đavid đã tiên báo trong Thánh vịnh 2 và 110. Con Rồng lớn màu đỏ là sức mạnh của thần dữ không thể tiêu diệt Con Trai đó. Giáo hội đã trải qua biết bao thời kỳ đẫm máu, nhưng quỉ hỏa ngục cũng không phá nổi (Mt 16:18). Thiên Chúa sắp sẵn cho mỹ nữ một nơi trong sa mạc, nghĩa là Chúa đưa Giáo hội vào nơi gian nan thử thách (xem Đnl 8:2). Giáo hội gặp nhiều thử thách, nhưng Giáo hội vẫn đứng vững. Con trẻ được cất bổng lên ngai Thiên Chúa nghĩa là Chúa Kitô sẽ được phục sinh. Sau hết là bài ca chiến thắng: ơn Cứu độ, quyền năng và vương tước của Thiên Chúa đã toàn thắng và mọi uy quyền đều thuộc về Chúa Kitô.

Bài đọc II: 1 Côrintô 15:20-26

Cuộc chiến thắng thần dữ trong bài đọc này trở thành một chiến thắng thần chết. Sự sống lại của Chúa Kitô là mầm mống sự sống lại của chúng ta và là chân lý căn bản. Thiếu chân lý này, đức tin của chúng ta sẽ trở nên hão huyền (16-19). Chúa Kitô là hoa quả đầu mùa của mọi người đều phải chết. Hoa trái đầu mùa hiến dâng Thiên Chúa tượng trưng sự hiến thánh mùa màng cho Người (xem Đnl 26:1-11). Hoa trái đầu mùa còn là dấu hiệu bảo đảm mùa màng đầy đủ tức là sự phục sinh của chúng ta trong vinh quang. Sức mạnh thần dữ trong thế giới sẽ bị bại hoại và địch thù cuối cùng bị hủy diệt là thần chết. Cuộc chiến thắng thần chết chính là sự chiến thắng của Chúa Kitô phục sinh mà chúng ta sẽ được sống lại để cùng với Mẹ chia sẻ sự phục sinh của Người.

Phúc âm: Luca 1:39-56

Thánh truyện Mẹ Maria thăm viếng bà Elizabeth có nhiều điểm rất ý nghĩa cho lễ Đức Mẹ lên trời. Bà Elizabeth ca ngợi Mẹ Maria là diễm phúc hơn hết mọi phụ nữ, là vì bà nhận biết Mẹ là kẻ đã tin mọi điều Chúa truyền phán cho Mẹ sẽ thành hiện. Lời ca ngợi của bà Elizabeth cũng giống như lời ca khen của một phụ nữ: "Phúc cho lòng dạ cưu mang Ngài và vú Ngài đã bú" (Lc 11:27-28) mà Giáo hội trích đọc trong lễ vọng Mẹ lên trời.

Đáp lại lời ngợi khen, chúc phúc của bà Elizabeth, Mẹ Maria tuyên tụng Chúa Toàn Năng đã làm cho Mẹ những điều cao cả, là vì Chúa đoái nhìn đến phận hèn của nữ tỳ của Người. Do đó, Mẹ nhận biết từ đây mọi thế hệ sẽ khen Mẹ có phúc. Những điều cao cả nhất Chúa đã làm cho Mẹ là một điều chứng tỏ sự quan phòng của Người:

_ Hiền ái đối với những kẻ kính sợ Người,
_ Cho no phỉ những người nghèo đói,
_ Làm tang tóc bè lũ trí lòng kiêu căng,
_ Trung thành lời hứa với các tổ phụ.
Trong dịp thăm viếng bà Elizabeth, Đấng toàn năng đã làm nhiều điều trọng đại cho Mẹ.


L.m. Phêrô, CMC
dongcong.net
 
 

Lời giải đáp
VUI HỌC THÁNH KINH THÁNG 8

I. HÌNH TÔ MÀU
* Chủ đề :
Đức Mẹ Lên Trời
* Câu Thánh Kinh sách Khải Huyền 12,1
1 Rồi có điềm lớn xuất hiện trên trời: một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao.


II. Lời giải đáp TRẮC NGHIỆM  ĐỨC MARIA
01.   Bà Anna                      
02. Ông Giuse (Mt 1,18-25 )
03. Ông Simêon (Lc 2,28-38)
04. Bà Anna (Lc 2,36-38)
05.  Ông Gioan (Ga 19,25-26)
06. Bà Êlisabét (Lc 1,43)
07.    a. Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa        
          b. Đức Maria Trọn Đời Đồng Trinh
          c. Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội
          d. Đức Maria Hồn Xác Lên Trời
08. Công Đồng Êphêxô (431)
09. Đức Giáo Hoàng Piô XII
10. Năm 1854             


III. Ô CHỮ LỄ MẸ LÊN TRỜI

01. Bà Êlisabét (Lc 1,39-44)
02. Thiên Chúa  (Kh 12,5)
03. Sa mạc (Kh 12,6)
04. Ngợi khen (x. Lc 1,39-56)
05. Galilê (Lc 1,26)
06. Anh Giuse (Mt 1,18-25 )
07. Bà Anna
08. Ítraen (Lc 1,54)

09. Mặt trời (Kh 12,1)
10. ĐGH Piô XII.
11. Đức Giêsu (Ga 19,12-28)


Hàng dọc :  LỄ MẸ LÊN TRỜI


IV. THỬ TÀI
C. THỬ TÀI NHỚ 


CHỒNG               VỢ
***********        ***********
KHEVE               GAIEN (Tl 4,17)
DAVIT                 MIKHAN(1Sm18,28
APRAHAM         XARA (St 17,1-17)
ADAM                 EVA (St 3,20)
ACRIPPA            BECNIKE (Cv26,30)
KHUDA               GIOANNA (Lc 8,3)
PHELICH            DORUXILA(Cv24,24
PHILEMON         APPHIA (Plm 2)


B. ĐẢO LỘN 

Lời giải đáp:


Ta chỉ cần  thay đổi mẫu tự đầu và cuối là được.
MARIA (Lc 1,26-28).
ĐƠRUXILA (Cv 21,1-27).

TABITHA (Cv 9,32-38).
LYĐIA (Cv 16,14-15).
HÊRÔĐIA (Mt 14,2-12).
ELISABÉT (Lc 1,39-56).
APPHIA (Plm 2).
TAMA (St 38,1-30).



V. CÂN NÃO
A. HÃY CÙNG ĐỌC ANNA


Lời giải đáp:


Tính số cách được dựa theo vị trí của những chữ A có trong hình vẽ :

* Ở trung tâm của hình vẽ : chữ A ở trung tâm của hình vẽ nằm liền kề với 4 chữ N  ( tính theo cả hàng dọc và hàng ngang ). Thông qua mỗi chữ N  đều hình thành nên 15 chữ ANNA, vì thế có tất cả 50 từ ANNA  từ chữ A ở trung tâm của hình vẽ. Ngoài ra còn có 4 chữ N khác trên các đường chéo của hình đã cho cũng nằm liền kề với chữ A ở trung tâm hình. Thông qua mỗi chữ N này đều hình thành nên 12 từ ANNA nữa. Từ đó ta có thêm 48 từ ANNA nữa.

* Ở các góc của hình vẽ : từ mỗi chữ A ở 1 góc của hình vẽ đều có thể hình thành được 9 từ ANNA, cộng lại ta có thêm được 36 từ ANNA nữa.

* Trên các cạnh của hình vẽ : từ mỗi chữ A trong 8 chữ trên các cạnh của hình vẽ đều có thể hình thành được 30 từ ANNA, từ đó ta có thêm 240 từ ANNA nữa.

Vậy trong hình đã cho có tổng cộng là :
60 + 48 + 36 + 240 = 384 cách đọc từ ANNA.



B. CHIA 1 THÀNH 4 : PHỤ NỮ

1 . Bà Anna (Lc 2,22-24).
2. Cô Acxa (T l 1,1-21)
3.  Bà Gôme (Hs 1,2-5).
4. Bà Étte (Et 1,1…).

 


NGUYỄN THÁI HÙNG