Trang

Chủ Nhật, 31 tháng 8, 2014

VUI HỌC THÁNH KINH CHÚA NHẬT 28 TN A

VUI HỌC THÁNH KINH
CHÚA NHẬT 28 TN A
Tin Mừng thánh Mátthêu 22,1-14



Tin Mừng

Đức Giêsu lại dùng dụ ngôn mà nói với họ rằng:2 "Nước Trời cũng giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình.3 Nhà vua sai đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc, nhưng họ không chịu đến.4 Nhà vua lại sai những đầy tớ khác đi, và dặn họ: "Hãy thưa với quan khách đã được mời rằng: Này cỗ bàn, ta đã dọn xong, bò tơ và thú béo đã hạ rồi, mọi sự đã sẵn. Mời quý vị đến dự tiệc cưới! "5 Nhưng quan khách không thèm đếm xỉa tới, lại bỏ đi: kẻ thì đi thăm trại, người thì đi buôn,6 còn những kẻ khác lại bắt các đầy tớ của vua mà sỉ nhục và giết chết.7 Nhà vua liền nổi cơn thịnh nộ, sai quân đi tru diệt bọn sát nhân ấy và thiêu huỷ thành phố của chúng.8 Rồi nhà vua bảo đầy tớ: "Tiệc cưới đã sẵn sàng rồi, mà những kẻ đã được mời lại không xứng đáng.9 Vậy các ngươi đi ra các ngã đường, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới."10 Đầy tớ liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận xấu tốt, cũng tập hợp cả lại, nên phòng tiệc cưới đã đầy thực khách.

11 "Bấy giờ nhà vua tiến vào quan sát khách dự tiệc, thấy ở đó có một người không mặc y phục lễ cưới,12 mới hỏi người ấy: "Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới? " Người ấy câm miệng không nói được gì.13 Nhà vua liền bảo những người phục dịch: "Trói chân tay nó lại, quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng!14 Vì kẻ được gọi thì nhiều, mà người được chọn thì ít."

1 Jesus again in reply spoke to them in parables, saying,2 "The kingdom of heaven may be likened to a king who gave a wedding feast for his son.

3 He dispatched his servants to summon the invited guests to the feast, but they refused to come.

4 A second time he sent other servants, saying, 'Tell those invited: "Behold, I have prepared my banquet, my calves and fattened cattle are killed, and everything is ready; come to the feast."'5 Some ignored the invitation and went away, one to his farm, another to his business.

6 The rest laid hold of his servants, mistreated them, and killed them.

7 The king was enraged and sent his troops, destroyed those murderers, and burned their city.

8 Then he said to his servants, 'The feast is ready, but those who were invited were not worthy to come.

9 Go out, therefore, into the main roads and invite to the feast whomever you find.'10 The servants went out into the streets and gathered all they found, bad and good alike, and the hall was filled with guests.

11 But when the king came in to meet the guests he saw a man there not dressed in a wedding garment.

12 He said to him, 'My friend, how is it that you came in here without a wedding garment?' But he was reduced to silence.

13 Then the king said to his attendants, 'Bind his hands and feet, and cast him into the darkness outside, where there will be wailing and grinding of teeth.'14 Many are invited, but few are chosen."



I. HÌNH TÔ MÀU  



* Chủ đề của hình ảnh này là gì?
… … … … … … … … … … … … …

* Bạn hãy viết câu Tin Mừng thánh Mátthêu 22,2
… … … … … … … … … … … … …
… … … … … … … … … … … … …
… … … … … … … … … … … … …
… … … … … … … … … … … … …

II. TRẮC NGHIỆM  

01. Trong dụ ngôn này, nhà vua mở tiệc cưới cho ai? (Mt 22,2)
a. Người dân của mình.
b. Con của mình.
c. Các thanh niên nam nữ.
d. Các hoàng tử.

02. Khi mở tiệc cưới, nhà vua đã sai các đầy tớ đi mời những ai đến tham dự? (Mt 22,3)
a. Các kinh sư, luật sĩ.
b. Các quan khách đã được mời trước.
c. Những lãnh đã tôn giáo.
d. Các người tội lỗi.

03. Người đầu tiên từ chối không tham dự tiệc cưới vì làm gì? (Mt 22,5)
a. Đi buôn.
b. Đi thăm trại.
c. Đi hỏi vợ cho con.
d. Đi làm vườn nho.

04.Trong tiệc cưới có bao nhiêu người không mặc y phục lễ cưới? (Mt 22,11)
a. 1 người.
b. 2 người.
c. 3 người.
d. 7 người.

05. Với người không mặc y phục lễ cưới, nhà vua ra lệnh trói tay chân nó lại, quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài, ở đó người ta sẽ làm gì? (Mt 22,13)
a. Cho lửa thiêu đốt muôn đời.
b. Chịu nhiều đau khổ.
c. Phải khóc lóc nghiến răng.
d. Sẽ chịu cực hình muôn khiếp.


III.  Ô CHỮ  



Những gợi ý:

01. Người đầu tiên từ chối không tham dự tiệc cưới đi đâu? (Mt 22,5)

02. Ai đã kể dụ ngôn “Tiệc cưới”? (Mt 22,1)

03. Có 1 người đi vào phòng tiệc cưới mà không mặc y phục?  (Mt 22,12)

04. Đức Giêsu ví điều gì giống như chuyện một vua kia mở tiệc cưới cho con mình? (Mt 22,1)

05. Những đầy tớ đi mời các quan khách bị điều này. (Mt 22,6)

06. Ai đã sai các đầy tớ đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc (Mt 22,3)

07. Nhà vua sai ai đi thỉnh các quan khách đã được mời trước, xin họ đến dự tiệc? (Mt 22,3)

08. Số phận của người không mặc y phục lễ cưới sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm, ở đó người ta sẽ phải khóc lóc … … (Mt 22,13)

Hàng dọc: Chủ đề của ô chữ này là gì?



IV. CÂU THÁNH KINH HỌC THUỘC LÒNG

“Kẻ được gọi thì nhiều,
mà người được chọn thì ít”.
Tin Mừng thánh Mátthêu 22,14




Lời giải đáp VUI HỌC THÁNH KINH
CHÚA NHẬT 28 TN A

I. HÌNH TÔ MÀU

* Chủ đề :
Tiệc Cưới

* Tin Mừng thánh Mátthêu 22,2

 "Nước Trời
cũng giống như chuyện một vua kia
mở tiệc cưới cho con mình”.

II. Lời giải đáp TRẮC NGHIỆM

01. b. Con của mình (Mt 22,2).
02. b. Các quan khách đã được mời trước
 (Mt 22,3).
03. b. Đi thăm trại (Mt 22,5).
04. a. 1 người (Mt 22,11).
05. c. Phải khóc lóc nghiến răng (Mt 22,13).

III.  Lời giải đáp Ô CHỮ

01. Thăm trại (Mt 22,5)
02. Đức Giêsu (Mt 22,1)
03. Lễ cưới (Mt 22,12)
04. Nước Trời (Mt 22,1)
05. Giết chết (Mt 22,6)
06. Nhà vua (Mt 22,3)
07. Đầy tớ (Mt 22,3)
08. Nghiến răng (Mt 22,13)

Hàng dọc: Tiệc cưới

NGUYỄN THÁI HÙNG



Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014

Gia Đình Công Giáo (2/2)

Gia Đình Công Giáo (2/2)

family_photo_wallcoo-com
Gia đình truyền thống Việt Nam dưới ảnh hưởng Nho giáo

Trong chế độ phong kiến, xã hội được thiết lập theo quy củ của một hệ thống đóng kín, dựa trên đạo lý Khổng Mạnh. Nho giáo chủ trương một đời sống xã hội có trật tự, có tôn ti đẳng cấp: từ cá nhân, gia đình, làng mạc, đến những cộng đồng lớn hơn. Mỗi đơn vị ở vào vị trí của mình, hoạt động cách hài hòa, là điều kiện của sự phồn thịnh. Nhưng đàng sau hay ở trên những tổ chức xã hội phát triển và vững mạnh có vai trò thiết yếu của những người cầm quyền. Người cầm quyền cai trị là người được thấm nhuần đạo lý: đạo làm người và đạo lý thánh hiền.


Khổng Tử đặt nặng vấn đề ổn định xã hội, bằng việc phác họa mô hình lý tưởng của người lãnh đạo. Để thành người lãnh đạo quần chúng có tài có đức theo Nho giáo, phải trải nghiệm các chặng đường của cương lĩnh mang tên “Bát điều mục”. Tức là đã học tập và thi hành những nguyên tắc đề ra trong “Bát điều mục”, vốn được trình bày trong sách Đại Học. Có tám điều quan trọng trong chương trình đào luyện này, tuy nhiên, người đời có thói quen nhấn mạnh đến bốn công đoạn cuối cùng: Tu thân, – Tề gia, – Trị quốc, – Bình thiên hạ. Hay, vắn tắt hơn: “tu, tề, trị, bình”. Nói cách khác, chỉ có kẻ sĩ, tức là người được đào luyện theo giáo lý thánh hiền, mới xứng đáng cai trị dân. Nho giáo gọi họ là người quân tử hay bậc thánh nhân, những người đã trải qua giai đoạn biết tu sửa chính mình, biết cai quản gia đình mình cách ổn thỏa. Thực ra, chỉ có việc tổ chức và cai quản một gia đình êm ấm thuận hòa mới là trắc nghiệm khả năng lãnh đạo của một người. Gia đình thời phong kiến thường được hiểu như “đại gia đình”, gồm ba thế hệ: ông bà, con, cháu. Điều hành một gia đình theo truyền thống đòi hỏi nhiều đức tính quan trọng.


Không phải vô tình mà quan niệm xa xưa của Nho giáo ở Á châu cũng trùng hợp với tư tưởng của một mục sư Tin lành người Mỹ vào thời nay: “không một thành công nào khác có thể bù đấp cho sự thất bại trong gia đình” (“No other success can compensate for failure in the home”, David O. McKay, (1873-1970.)


Nếu Nho giáo có tham vọng đào luyện những người cầm đầu cai trị dân bằng đạo lý thánh hiền, thì không chỉ có cương lĩnh “Bát điều mục”, nhưng còn những giáo huấn nghiêm nhặt khác phải tuân thủ. Mỗi người trong cương vị của mình phải học biết để chu toàn những bổn phận riêng biệt, tùy theo giới tính là nam hay nữ, như cụ Nguyễn đình Chiểu nêu lên trong Lục Vân Tiên: “Trai thời trung hiếu làm đầu, Gái thời tiết hạnh là câu trau mình”.



A/ Huấn luyện nam giới
Trong quan niệm Nho giáo, đàn ông chiếm địa vị ưu thế trong gia đình và xã hội. Người nam có nhiều đặc ân, nhưng cũng có nhiều bổn phận. Bởi thế, sinh làm đàn ông là một món nợ phải trả: “Tang bồng hồ thỉ, nam nhi trái, Cái công danh là cái nợ nần” (Nguyễn Công Trứ).


Đạo làm trai, cốt ở việc rèn luyện những đức tính tốt của người con trai theo quan niệm Nho Giáo, được tóm lược trong nguyên tắc: Tam Cương, Ngũ Thường.


Tam cương: tam cương là 3 giềng mối, tức là 3 trật tự của xã hội của chế độ phong kiến xa xưa:


1/ Quân thần cương: (Vua – tôi), đạo vua và thần tức các quan lại trong triều đình. Nho giáo dạy phải trung với vua.
2/ Phụ tử cương: bổn phận của cha và con. Con phải có hiếu với cha mẹ. Phần cha mẹ thì phải hết lòng thương yêu, chăm sóc dạy dỗ con cái cho nên người và làm gương tốt cho con.


3/ Phu phụ cương: bổn phận vợ chồng. Đạo vợ chồng cốt ở việc sống là thuận hòa trong tình thương yêu che chở, đùm bọc lẫn nhau dù gặp hoàn cảnh khó khăn cũng phải giữ gìn trọn vẹn như vậy. Vợ chồng sống với nhau, ngoài tình thương yêu, còn phải giữ nghĩa với nhau.


Ngũ thường: 5 điều thường có của con người.


1/ Nhân: phải có lòng thương người.


2/ Nghĩa: phải có đạo nghĩa

.

3/ Lễ: đối xử phải có lễ phép với nhau.


4/ Trí: con người phải có trí khôn, phải đào luyện trí tuệ để sống nên người.


5/ Tín: con người phải sống thành thật để mọi người tin mình


B/ Huấn luyện nữ giới


Phẩm Hạnh hay đức tính tốt của người con gái theo quan niệm Nho Giáo gồm có:


Tam Tòng:


Tại gia tòng phụ (Ở nhà thờ cha),


Xuất giá tòng phu (Về nhà chồng thờ chồng),


Phu tử tòng tử (Chồng chết ở với con).


Tứ Đức (bốn đức hạnh cơ bản để thành phụ nữ gương mẫu, sống theo lễ giáo):


-Công (Công Việc),


-Ngôn (Lời Nói),


-Dung (Nhan Sắc),


-Hạnh (Đức Tính)


Vào thời phong kiến, người đàn ông là trụ cột gia đình, là gia trưởng có trách nhiệm lớn lao, nhưng cũng có nhiều quyền lợi, như quyền đa thê: “Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng.” Người bình dân thường nói về quyền hầu như tuyệt đối của chồng trong gia đình, qua thành ngữ: “chồng chúa vợ tôi”. Cũng trong bối cảnh quyền tuyệt đối của cha mẹ trong xã hội cổ truyền, con cái- nhất là nữ giới- không có quyền tự do chọn lựa, dù là nghề nghiệp, hay cả người phối ngẫu của mình, nhưng phải vâng theo quyết định của cha mẹ: ”Cha mẹ đặt đâu con ngồi đó!


Khi người chồng có quyền lớn, mà không có đức độ, không được hun đúc bởi đạo lý thánh hiền, thì xảy ra những tệ nạn. Như ở nhiều nơi, nhất là ở những vùng sâu vùng xa, có những người chồng vũ phu, thường xảy ra bạo lực gia đình.


Cách chung, hiện nay, luật pháp xã hội tôn trọng quyền lợi của phụ nữ trong gia đình theo nguyên tắc: “nam nữ bình quyền”. Nếu xưa kia, trong nền văn minh nông nghiệp, người đàn bà phụ thuộc đàn ông trong lãnh vực kinh tế tài chính, thì hiện nay người phụ nữ đi làm có tiền, nên có nhiều tự do hơn. Họ độc lập về kinh tế, nên cũng có quyền lên tiếng trong gia đình, cả quyền đòi ly dị. Vì thế, mô hình gia đình theo truyền thống Nho giáo với những giáo điều khắt khe, và những kiểm soát chặt chẽ, không còn tồn tại nguyên vẹn, nhưng biến chuyển theo nhiều hướng khác nhau.


Hiện nay, theo trào lưu biến đổi của thế giới, gia đình Việt Nam truyền thống có nguy cơ tan rã, bởi những hình thức sống mới ngoài khuông khổ và những yếu tố phân hóa: sống thử, sống chung trước hôn nhân, hôn nhân đồng tính, ly dị, phá thai và những tệ nạn bạo lực gia đình.


Gia đình Kitô giáo

Khi các nhà truyền giáo Tây phương đến giảng đạo tại Việt Nam, thì có một số trí thức khâm phục giáo lý cao siêu của các ngài, nhưng không thể quyết định theo đạo, vì luật đạo đòi hỏi một vợ một chồng, trong khi xã hội phong kiến cho phép chế độ đa thê.


Đặc tính cúa hôn nhân Kitô giáo là một vợ một chồng. Bình đẳng giữa người nam người nữ. Hôn nhân là ngưỡng cửa đi vào gia đình. Gia đình là thiết yếu trong chương trình của TC. Luật đến từ Thiên Chúa, khi tạo dựng con người. Không ai có thể thay đổi. Nếu luật pháp do con người ấn định thì quyền bính loài người có thể thay đổi. Nhưng khi luật pháp do TC ấn định, thì con người phải tuân theo, để bảo đảm lợi ích cho chính con người. Dựa trên giáo huấn Kinh Thánh, gia đình Kitô giáo được hướng dẫn cách cụ thể để thực hiện chức năng của mình là giúp vợ chồng thương yêu nâng đỡ nhau và huấn luyện con cái chẳng những thành người hữu ích cho xã hội mà còn trở thành con TC, hầu mở mang Nước Chúa.


Theo Kinh Thánh, con người được TC tạo dựng, giống hình ảnh TC, mà TC là Tình yêu. Vì thế con người được dựng nên để sống trong tình yêu, cách chính xác là tình yêu nam nữ. Và Kinh Thánh dùng hình ảnh người nữ được tạo dựng từ xương sườn của người nam, để kết luận: “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2, 24). Nếu, hôn nhân giữa một người nam và một người nữ được ấn định từ trong Cựu Ước, thì trong Tân Ước, Chúa Giêsu tái khẳng định tính cách bất khả phân ly của hôn nhân hợp pháp, mặc dầu có sự đề kháng của nhiều người, nhất là sự chống đối quyêt liệt từ phái Pharisêu:.


“Người Phari-sêu đến gần Đức Giê-su để thử Người. Họ nói: “Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không? “Người đáp: “Các ông không đọc thấy điều này sao: “Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ”, và Người đã phán: “Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt.” Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.” (Mt 19,3-6)


Hôn nhân Kitô giáo không chỉ là một khế ước xã hội, nhưng còn là bí tích, nghĩa là dấu chỉ hữu hình ban ân sủng vô hình. Trên bình diện đức tin, hôn nhân Kitô giáo còn là hình ảnh và thực tại sự kết hợp giữa Chúa Kitô và Hội Thánh. Thánh Phaolô đã trình bày giáo lý này cách long trọng trong Thư gửi giáo đoàn Êphêsô, để khuyến cáo người chồng phải yêu thương vợ mình:


“Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh; như vậy, Người thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, để trước mặt Người, có một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tỳ ố, không vết nhăn hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền. Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Ki-tô nuôi nấng và chăm sóc Hội Thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người. Sách Thánh có lời chép rằng: Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Ki-tô và Hội Thánh. Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng” (Eph 5,25-33).”


Mặc dù hôn nhân một vợ một chồng trong Hội Thánh cho thấy người phụ nữ được tôn trọng và bình quyền với người nam, nhưng Phaolô cũng lấy lại hình ảnh Đức Kitô và Giáo hội để nói đến bổn phận người vợ là phục tùng chồng trong tình yêu vô vị lợi:


“Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Ki-tô là đầu của Hội Thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội Thánh, thân thể của Người. Và như Hội Thánh tùng phục Đức Ki-tô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy” (Eph 5, 22-24).


Nếu gia đình Kitô giáo được thiết lập do ý muốn TC, thì mục đích và lý tưởng của nó không chỉ là một đời sống ấm êm trên trần gian nhưng còn hướng đến những thực tại siêu nhiên, sự cứu độ của cha mẹ và con cái. Gia đình công giáo: một vợ, một chồng, một đức tin, một TC. Đó là nơi đào luyện và bảo vệ đức tin và giúp nhau sống trong Tình Yêu đích thực của TC. Theo nghĩa đó, gia đình công giáo còn được gọi là “giáo hội tại gia”(ecclesiola). Khi gia đình sống theo huấn giới của TC thì việc thờ phượng TC phải đặt lên hàng đầu, mà cách thể hiện cụ thể là giờ kinh tối sáng.


Những bóng tối trong gia đình công giáo

Chúng ta mở đầu bài suy niệm với cách sống của con người hậu tân đại. Một cách sống vố đe dọa định chế hôn nhân cách trầm trọng: hôn nhân truyền thống theo Nho giáo, cả hôn nhân theo công giáo. Đó là điều mà Sách Giáo Lý Công giáo nói đến như: “hôn nhân dưới chế độ tội lỗi” (s.1606). Cùng với sự giảm sút lòng tin, chúng ta chứng kiến tình trạng: sống thử, ly dị, phá thai…và những xáo trộn khác trong hôn nhân. Những trường hợp ly dị trong gia đình công giáo đang gia tăng. Để tránh ly dị và tái hôn, người công giáo hiện nay- nhất là tại Âu Mỹ- tìm đến thủ tục “tiêu hôn”. Tức là tòa án hôn phối tuyên bố hôn nhân không thành sự. Theo thống kê, năm 1968 có 450 án tiêu hôn tại Mỹ, đến năm 1990 số đó đã tăng vọt lên trên 50.000.


Nhìn chung, Giáo Hội hiện nay có ít ơn gọi. Một trong lý do của tình trạng này –ít nhất tại Âu Mỹ- là gia đình có ít con và gia đình phân ly, không giữ đạo, vợ chồng ly dị.


Tại Việt Nam, số ơn gọi đi tu còn đông. Nhiều nước đến Việt Nam tìm ơn gọi. Một trong những lý do số ơn gọi tại Việt Nam còn đông, -nhất là tại miền quê,- là vì gia đình thường đông con và gia đình còn sống đạo. Đó là điều đáng mừng. Mong sao gia đình Việt Nam luôn là cái nôi để tin mừng hóa nước Việt và thế giới.


(Lm. Antôn Ngô Văn Vững, SJ)

 http://dongten.net/noidung/39818

Gia Đình Công Giáo (1/2)

Gia Đình Công Giáo (1/2)

Gia dinh
Một Thượng Hội đồng Giám mục bất thường về Gia đình công giáo được Đức Giáo Hoàng Phanxicô triệu tập tại Roma, từ ngày 5 đến 19, tháng Mười, năm 2014, với chủ đề: ”Những thách đố mục vụ về gia đình trong bối cảnh tin mừng hóa”. Việc đào sâu chủ đề này còn được kéo dài đến Thượng Hội Đồng Giám Mục 2015. Để chuẩn bị cho Thượng Hội Đồng sắp tới, các giáo xứ trên toàn thế giới được tham khảo ý kiến về những biến chuyển của mô hình gia đình, qua việc trả lời 39 câu hỏi liên quan đến hôn nhân, ngừa thai, đồng tính, sống chung ngoài hôn nhân, việc rước lễ của những người tái hôn sau ly dị…Tất cả tiến trình chuẩn bị cho thấy tính cách nghiêm trọng của vấn đề gia đinh trong chương trình mục vụ của Hội Thánh hiện nay.

Tưởng cũng nên nhắc lại là dưới thời ĐGH Gioan-Phaolô II, một Thượng Hội Đồng Giám mục (16-25.10.1980) đã thảo luận chủ đề: “Nhiệm vụ của gia đình công giáo trong thế giới hiện nay”. Và sau đó ĐGH Gioan-Phaolô II ban hành Tông Huấn Familiaris Consortio (22.11.1981), một văn kiện đồ sộ tổng hợp giáo huấn của Hội Thánh về gia đình vào cuối thế kỷ XX. Trong Tông Huấn về gia đình ĐGH Gioan-Phaolô II, ba đường nét chính yếu được nhấn mạnh:

1) Con người đi vào đời bởi tình yêu, được mời gọi sống cho tình yêu. Nói cách khác, tình yêu là ơn gọi cơ bản và bẩm sinh của con người.

2) Chính trong kinh nghiệm đời sống gia đình mà con người thể hiện ơn gọi tình yêu cách tốt nhất.

3) Viễn tượng về con người và gia đình công giáo được xây dựng trên đức tin Kitô về một Thiên Chúa dựng nên con người – có nam có nữ- giống hình ảnh TC.

Sự kiện có hai Thượng Hội đồng Giám mục về gia đình trong khoảng thời gian 34 năm cho thấy tầm quan trọng của gia đình trong giáo huấn Hội Thánh, đồng thời cũng là dấu chỉ của những biến đổi mau chóng -và cả những khủng hoảng -trong đời sống gia đình vào thời đại chúng ta.

Con người thời hậu tân đại (post-modern), -trước tiên tại Âu Mỹ, dần dà trên toàn thế giới,- có đặc tính là khước từ những giá trị truyền thống, chối bỏ những luật lệ khách quan, và phủ nhận các định chế xã hội đã có từ lâu đời. Con người thời nay tỏ ra đặc biệt “dị ứng” với những giá trị tổng quát, những thực tại trường tồn, những nguyên tắc tuyệt đối. Họ không quan tâm đến những đòi hỏi phổ cập và bất biến. Không có tiêu chuẩn khách quan để phê phán. Chỉ có chủ thể, và lợi ích bản thân. Tiêu chuẩn hành động là lợi ích bản thân, bất kể quyền lợi của kẻ khác. Điều gì phù hợp với bản thân mỗi người là tốt. Cả khi điều đó chỉ là tương đối. Không cần nghĩ đến tuyệt đối. Vắn tắt, con người ngày nay chủ trương tương đối thuyết (relativisme) trên nguyên tắc và cá nhân chủ nghĩa trong hành động. Trong bối cảnh này, định chế hôn nhân như bất khả phân ly, và tổ chức gia đình như nơi mỗi người học sống với và sống cho kẻ khác trong tình yêu, bị đe dọa cách trầm trọng.

Gia đình tế bào của xã hội

Bất cứ ai nghĩ đến sự tồn vong của nhân loại, và sư hưng thịnh của xã hội, đều tìm cách xây dựng gia đình. Cách chung, gia đình được nhà xã hội học gọi là tế bào của xã hội. Bởi lẽ gia đình, qua định chế hôn nhân, là một dữ kiện cấu thành xã hội. Tầm quan trọng của gia đình được mọi người công nhận. Không chỉ các nước được coi là văn minh, mà cả những dân tộc bị coi là ít tiến bộ, cũng có những quy định chặt chẽ về gia đình, về thân tộc…Các nhà dân tộc học nổi tiếng một thời, như Claude Lévi-Strauss, đã từng chứng minh là nơi những dân tộc thô sơ không có chữ viết đã thành hình những quy luật khắt khe về thân tộc để ngăn ngừa tình trạng loạn luân, bằng một cấu trúc tinh thần rất tinh vi, sắc sảo, làm đau đầu những nhà Lô-gích giỏi nhất. Nhà dân tộc học muốn nói rằng đã là con người sống trong một tập thể, một cộng đồng, thì biết đến luật cấm loạn luân, luật không có văn tự, nhưng được khắc ghi trong trí não, lương tâm con người, dù ở bất cứ chân trời nào. Điều này giả thiết thực tại gia đình là một cơ chế tự nhiên cho con người, hữu thể có lương tâm và lý trí, khác với những con vật không có lý trí.


Nhà xã hội học định nghĩa: “Gia đình là nhóm xã hội, quy tụ dưới một mái nhà, vợ chồng và con cái vị thành nhiên của họ, nhắm đến việc bảo đảm cho các thành viên một sự an ninh tâm cảm nào đó và một sự hòa nhập tốt nhất vào xã hội.”

Thực tai xã hội của gia đình được diễn tả bằng việc thể hiện các chức năng khác nhau:

-trong lãnh vực sinh học, gia đình là nơi thông thường để truyền sinh và chăm sóc con cái;
-trong lãnh vực tâm lý: gia đình là nơi đặc tuyển của hiệp thông và trao đổi; bảo đảm sự an ninh tâm cảm cho các thành viên;


-trong lãnh vực văn hóa xã hội: cho phép thành viên hòa nhập xã hội nhờ một cái tên mà cha mẹ đặt cho, kế đến là việc giáo dục cho nên người qua chuyển trao các giá trị và quy phạm,


-trong lãnh vực kinh tế: bảo đảm sự tồn tại cho các thành viên, chia sẻ tài nguyên, liên đới giữa các thế hệ.


Những chức năng xã hội khác nhau của gia đình hội tụ vào một chức năng chính yếu: gia đình là nơi con người được đồng hóa, nhân bản hóa, nhân vị hóa. Tuy nhiên việc thi hành các chức năng này được thay đổi tùy nơi chốn và thời đại. (Còn tiếp)


(Lm. Antôn Ngô Văn Vững, SJ)
 http://dongten.net/noidung/39640

Hiểu Biết và Đón Nhận Những Giáo Huấn về Hôn Nhân và Gia đình (1)

Hiểu Biết và Đón Nhận Những Giáo Huấn về Hôn Nhân và Gia đình (1)

my family
Đời sống Giáo Hội trong thời đại ngày nay mang nét đặc trưng là sự tái khám sâu rộng về Lời Chúa, vốn có sức tác động theo nhiều cách khác nhau nơi các giáo phận, giáo xứ và cộng đoàn giáo hội. Tuy nhiên, nhiều câu trả lời và nhiều quan sát cho thấy rằng sự hiểu biết, thông truyền và đón nhận giáo huấn của Giáo Hội về gia đình diễn ra theo nhiều cách nhau, phụ thuộc vào đời sống gia đình, cơ cấu Giáo Hội và những nhân tố văn hóa xã hội. Tại những nơi có truyền thống Kitô giáo sống động và chương trình mục vụ được tổ chức tốt, thì người ta hưởng ứng nhiệt tình với những học thuyết Kitô giáo về hôn nhân và gia đình. Ở những nơi khác, nhiều Kitô hữu, vì nhiều lý do khác nhau, ngay cả việc tồn tại học thuyết này, họ cũng chẳng ý thức đến.

Hiểu biết của Kinh Thánh về gia đình

Cách chung, ta có thể nói rằng giáo huấn của Kinh Thánh, đặc biệt là giáo huấn trong các sách Tin Mừng và trong các Thư của Thánh Phaolô, ngày nay được biết đến nhiều hơn. Tuy nhiên, tất cả các hội đồng giám mục đều nhất trí rằng vẫn còn có nhiều việc cần phải làm nếu muốn giáo huấn này trở nên nền tảng cho linh đạo, cho đời sống Kitô hữu, và ngay cả cho đời sống gia đình. Nhiều câu trả lời cũng chú ý đến một khát vọng lớn lao nơi các tín hữu, đó là khát vọng muốn biết Kinh Thánh nhiều hơn.


Liên quan đến vấn đề này, việc huấn luyện hàng giáo sĩ trở thành nhân tố quyết định, đặc biệt hệ ở phẩm chất các bài giảng lễ mà có lần Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói đến (cf. EG 135 – 144). Thực vậy, bài giảng là một phương tiện tuyệt vời giúp trình bày Kinh Thánh cho các tín hữu và giúp giải thích tầm quan trọng của Kinh Thánh trong Giáo Hội và trong cuộc sống thường ngày. Nhờ việc giảng giải thích đáng, Dân Chúa có thể thưởng thức nét đẹp của Lời Chúa vốn là nguồn mạch của sức lôi cuốn và mang lại nguồn an ủi cho đời sống gia đình. Bên cạnh bài giảng, một phương tiện quan trọng khác là xúc tiến thực thi trong các giáo phận và các giáo xứ những chương trình giúp tín hữu có thể tiếp cận Kinh Thánh một cách xứng hợp. Nhiều nơi đề nghị không nên nhân rộng quá nhiều những sáng kiến mục vụ; thay vào đó, đưa Kinh Thánh thấm nhập vào mọi khía cạnh thừa tác vụ, vốn đang thực hiện vì lợi ích của các gia đình. Mỗi hoàn cảnh mà nơi đó Giáo Hội được mời gọi chăm sóc mục vụ cho người tín hữu sống đời sống gia đình, mỗi hoàn cảnh ấy có thể cung cấp một cơ hội cho việc loan báo, cảm nghiệm và đánh giá đúng mức Tin Mừng cho Gia Đình.


Hiểu biết về các văn kiện của Huấn Quyền

Hiểu biết của Dân Chúa về các văn kiện Công Đồng và Hậu Công Đồng liên hệ đến Huấn Quyền Giáo Hội về gia đình dường như còn khá khiếm khuyết, mặc dù những ai hoạt động trong lãnh vực thần học hiển nhiên biết rõ về một số văn kiện này. Tuy nhiên, những tài liệu này dường như không có một chỗ đứng trong tâm thức các tín hữu. Một vài câu trả lời nói rõ rằng các tín hữu không biết gì về các văn kiện này, trong khi những câu trả lời khác lại nói rằng người ta, đặc biệt là các giáo dân vốn không được chuẩn bị trước đó, nhìn các văn kiện này như thể chúng được “dành riêng” hay “giới hạn cho số ít người”; chúng đòi người ta phải nỗ lực để tiếp cận và nghiên cứu chúng. Thông thường, những ai không có sự chuẩn bị thích hợp, đều cảm thấy khó đọc những văn kiện này. Tuy nhiên, các câu trả lời thấy được nhu cầu cần phải trình bày điểm thiết yếu của chân lý vốn được khẳng định trong các văn kiện này.


(Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới, The Pastoral Challenges of the Family in the Context of Evangelization (Instrumentum Laboris), Bản dịch Việt ngữ của Lê Hoàng Nam, SJ, số 8-11)

Cầu nguyện

Lạy Chúa, xin ban Thánh Thần của Chúa cho chúng con. Xin Thánh Thần hướng dẫn chúng con, giúp chúng con hiểu biết hơn về Thánh Ý Chúa muốn cho chúng con về đời sống gia đình của chúng con. Đồng thời, xin Chúa ban ơn sức mạnh và quảng đại, giúp chúng con can đảm sống điều Chúa dạy trong từng hoàn cảnh cụ thể của chúng con, đặc biệt trong những khó khăn và nghịch cảnh. Amen.

Câu hỏi phản tỉnh

1. Tôi quan tâm học biết Giáo huấn của Chúa và Giáo Hội về đời sống gia đình như thế nào?

2. Đâu là những khó khăn tôi gặp phải trong việc học biết và áp dụng giáo huấn ấy vào đời sống thực tế của tôi?

(Truyền thông Dòng Tên)

 http://dongten.net/noidung/40200

TRIẾT LÝ VỀ LY CÀ PHÊ

TRIẾT LÝ VỀ LY CÀ PHÊ
Thứ 1:
"Đừng nên hâm nóng lại café. Bởi nếu hâm nóng lại thì café sẽ mất hết mùi vị và gây ra vị đắng. Uống không ngon và sẽ có mùi khét."
Cuộc sống có lẽ cũng như vậy. Việc hâm nóng lại café cũng như việc suy nghĩ quá nhiều về quá khứ. Nhiều người đang sống trong hôm nay nhưng đầu óc thì vẫn luôn trông ngóng về những thứ đã qua. Họ nuối tiếc, họ nhìn mãi về một mối tình đã xa hoặc nhớ nhung về một người nào đó mà quên mất đi rằng - những việc đó chỉ mang lại sự buồn chán và khó chịu thậm chí là gây ra sự đớn đau cho chính họ mà thôi. Quá khứ là những thứ qua rồi, đừng nên khơi nhắc lại mà hãy sống với thực tại thì hay hơn...
Thứ 2:
"Hãy bảo đảm café bạn uống cần phải luôn tươi mới. Hãy uống ngay khi pha xong bởi café chỉ nên giữ ấm khoảng 15 phút trên bếp trước khi hương vị của nó trở thành khó chịu. Thưởng thức ngụm café đầu tiên với cảm giác sảng khoái, tuyệt vời..."
Tại sao không bắt đầu lại mọi thứ trong hôm nay khi mà thực tại là cơ hội của sự đổi mới? Hãy nắm bắt nó khi cơ hội vẫn còn. Không nên lãng phí thời gian mà hơn hết là hãy biết sử dụng nó để mọi thứ trở nên có ích hơn... Thay đổi mình, thay đổi khẩu vị, thay đổi một ly café và thưởng thức một mùi vị mới. Điều đó cũng nên lắm chứ khi mà mùi vị cũ - đã trở nên nhạt nhẽo đi nhiều rồi...
Thứ 3:
"Hãy rang café đúng cách. Nếu xay quá nhuyễn café sẽ trở nên quá đắng. Nếu xay quá thô café sẽ chỉ là nước loãng..."
Về nguyên tắc này cũng giống như việc đòi hỏi về sự quan tâm, săn sóc trong tình yêu vậy. Nó nhắc nhở ta nên biết cân nhắc và trân trọng với những gì mình đang có. Sự quan tâm quá mức đôi khi sẽ không đem lại một kết quả như ý mà thậm chí còn làm hư hỏng một tình yêu. Nhưng ngược lại, nếu thiếu vắng đi sự săn sóc, hay vì quá vô tâm và hời hợt thì tình cảm cũng sẽ trở nên khô khan và nhạt nhẽo. Mất dần đi vị ngọt rồi sớm muộn cũng trở thành thứ nước loãng mà thôi.
Thứ 4:
"Đừng cố xử dụng lại bã café – vì nó chỉ còn là vị đắng và sẽ có mùi khét khi pha."
Nên dứt khoát trong việc tình cảm. Đừng nên cố gắng vớt vát với những thứ đã không thuộc về mình. Việc đừng sử dụng lại bã café cũng như việc không nên tìm gặp lại người yêu cũ. Sẽ chẳng thể đi đến một điều gì khi mà ta đứng núi này mà vẫn trông núi nọ. Tập trung và trân trọng với những gì mình đang có. Điều đó mới có thể tạo nên một hương vị café thực sự cũng như là một điều cốt yếu để tạo dựng một hạnh phúc cho bản thân.
Lời kết: Để có được một ly café ngon - người pha đòi hỏi phải có một kiến thức rộng rãi. Để có một tình yêu thật sự đẹp, không thể không đòi hỏi những sự vun vén của cả hai. Yêu như thế nào, cư xử và cách quan tâm ra sao, bên ly café cuộc sống đã nói lên rất nhiều. Thôi thì hãy để một sáng đẹp trời, qua nhà đón người mà mình yêu mến. Nhẹ nhàng ăn sáng, rồi nhẹ nhàng thưởng thức một ly café thật đậm đà và tươi mới. Không mùi khét, không vị đắng và chẳng còn loãng nhạt... Từ từ uống, từ từ tìm thưởng thức và từ từ tìm hiểu một Triết Lý Café...
(Sưu tầm
Bài viết bổ sung
Thêm một triết lý về café: Café có đường!
Thứ 5:
Cuộc sống cũng giống như 1 ly café. Bạn ngồi bên cửa sổ, nhấc tách café lên... nhấp 1 ngụm... và chợt nhận ra rằng, ly cafe chưa có đường. Rồi bởi vì ngại đứng dậy để lấy đường, bạn ngồi đó và uống ly café đắng. Khi ly café đã cạn, bạn mới phát hiện ra rằng đường đã không tan ra và dính ở đáy ly...
Chúng ta mất quá nhiều thời gian để băn khoăn tại sao cuộc đời lại quá ảm đạm, nhạt nhẽo..., và tốn rất nhiều thời gian đi tìm kiếm sự ngọt ngào trong khi ta chỉ cần khuấy lên. Chính tôi, chính bạn sẽ làm cho cuộc sống của mình đầy hương vị nếu ta không chờ đợi. Hãy tận hưởng ly café của cuộc sống!

Ngẫu nhiên thuyết


Nếu nói rằng Thiên Chúa tự mình mà có, thì cũng có thể nói vũ trụ bao la này tự nó mà có. Phải chăng vũ trụ bao la này ngẫu nhiên mà có và có cách vĩnh viễn mãi, chứ chẳng có ông thần bà thánh nào tạo nên? Câu trả lời là....
http://dongten.net/diendan/index.php/topic,192.msg253.html
Ngẫu nhiên thuyết
DONGTEN.NET

GLPÂ CHÚA NHẬT XXII QUANH NĂM A

CHÚA NHẬT XXII MÙA THƯỜNG NIÊN năm A
(phần II)

GLPÂ CHÚA NHẬT XXII QUANH NĂM A
Sách Tiên Tri Giêrêmia 20,7-9; Thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Rôma 12,1-2
và Phúc Âm Thánh Matthêô 16, 21-27

I.                   Giáo Huấn P.Â.:   
Đức Kitô là Đấng Cứu Thế.
Thân phận của Đấng Cứu Thế là: Lên Giêrusalem - chịu đau khổ - bị giết chết và sẽ sống lại.
Muốn làm môn đệ Chúa phải từ bỏ mình – vác thánh giá hàng ngày và theo Chúa.
Thực tại nghịch lý trong cuộc đời theo Chúa: Từ bỏ sẽ nhận được – hy sinh mạng sống sẽ được sống. Trái lại, càng thu gom càng mất mát – Càng quí chuộng cuộc sống sẽ bị mất sự sống.
II.        Vấn nạn P.Â.    
Ý nghĩa bài đọc I, trích sách tiên tri Giêrêmia 20, 7-9 nói lên ơn gọi làm tiên tri: Tiên tri coi như bị Chúa quyến rũ và trở nên trò cưới cho nhân thế.
         Giêrêmia được Chúa gọi làm tiên tri thời Giuda đang xuống giốc, thời đền thờ bị phá và dân chúng bị lưu đày. Ông không thể thoái thác ơn Chúa gọi làm tiên tri, dù sứ mạng của Ông gây cho ông nhiều đau khổ và bị người đời chế giễu và khinh khi.

         Chúa gọi ông Giê-rê-mi-a: Có lời Ðức Chúa phán với tôi rằng: "Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi,Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân."  Nhưng tôi thưa: "Ôi! Lạy Ðức Chúa là Chúa Thượng, con đây còn quá trẻ, con không biết ăn nói!" Ðức Chúa phán với tôi: "Ðừng nói ngươi còn trẻ! Ta sai ngươi đi đâu, ngươi cứ đi;Ta truyền cho ngươi nói gì, ngươi cứ nói. Ðừng sợ chúng, vì Ta ở với ngươi để giải thoát ngươi", sấm ngôn của Ðức Chúa. Rồi Ðức Chúa giơ tay chạm vào miệng tôi và phán: "Ðây Ta đặt lời Ta vào miệng ngươi. Coi, hôm nay Ta đặt ngươi đứng đầu các dân các nước, để nhổ, để lật, để huỷ, để phá, để xây, để trồng."

         Ðả kích Ðền Thờ: Ðây là lời Ðức Chúa phán với ông Giê-rê-mi-a: Ngươi hãy đứng ở cửa Ðền Thờ Ðức Chúa và tuyên bố những lời sau đây: Tất cả những người Giu-đa qua cửa này vào thờ phượng Ðức Chúa, hãy nghe lời Ðức Chúa. Ðức Chúa các đạo binh là Thiên Chúa của Ít-ra-en phán: Hãy cải thiện lối sống và hành động của các ngươi, Ta sẽ cho các ngươi lưu lại nơi này. Ðừng ỷ vào lời giả dối sau đây: "Ðền Thờ của Ðức Chúa! Ðền Thờ của Ðức Chúa! Ðã có Ðền Thờ của Ðức Chúa!"  Nếu các ngươi thật sự cải thiện lối sống và hành động của các ngươi, nếu các ngươi thật sự đối xử công bình với nhau, không ức hiếp ngoại kiều hay cô nhi quả phụ, nếu các ngươi không đổ máu người vô tội nơi đây, không đi theo các thần ngoại mà chuốc hoạ vào thân, thì Ta sẽ cho các ngươi lưu lại nơi này, trong phần đất Ta đã ban cho cha ông các ngươi đến muôn đời. Nhưng các ngươi lại ỷ vào những lời dối trá vô giá trị. Trộm cắp, giết người, ngoại tình, thề gian, đốt hương tế thần Ba-an và đi theo các thần lạ các ngươi không biết, rồi lại vào nhà này, nơi danh Ta được kêu khấn, đến trước mặt Ta mà nói: "Chúng ta được an toàn!", sau đó cứ tiếp tục làm những điều ghê tởm ấy. Thế nghĩa là gì?  Phải chăng các ngươi coi nhà này, coi nơi danh Ta được kêu khấn là hang trộm cướp sao? Ta, Ta thấy rõ hết - sấm ngôn của Ðức Chúa.

Bài đọc I có ý nói rằng: Không phải đột nhiên mà Chúa chọn người làm tiên tri. Giêrêmia đã được tạo thành trong lòng mẹ để thi hành sứ vụ tiên tri. Ông đã trung thành dù bị người đời khi khi nhạo cười.Chấp nhận làm Đấng Cứu Thế là chấp nhận lên Giêrusalem, chịu nhiều đau khổ, bị giết chết và sẽ sống lại. Người theo Chúa cũng được chọn gọi và phải đi đường Chúa đi: Lên Giêrusalem, chịu đau khổ, bị giết chết…Nghĩa là phải từ bỏ mình vác thập giá hàng ngày bước theo Chúa.

            Tại sao Đấng Cứu Thế lại phải lên Giêrusalem, chịu nhiều đau khổ và bị giết chết? Không làm cách khác được sao, cách không đổ máu, không hy sinh mà ơn cứu độ vẫn thực hiện được?

Chúa đã trả lời cho vấn nạn nầy bằng việc so sánh với người đàn bà mang thai chuyển bụng tới giờ sinh con. Bà đau khổ cùng cực như chết được, nhưng bà có được niềm vui khôn tả khi nhìn thấy một sinh linh chào đời. Bà mẹ thương con vì chính bà đã mang nặng để đau để con mình chào đời. Nên không có người Mẹ nào là không thương con.

Nhắc lại câu chuyện đại đế Nảpháluân, bị lưu đày ở đảo St. Helene năm 1815. Ông thắc mắc không biết tại sao những đại đế trước Ông như Alexander, Cêsar, Charlemagne và cả ông đều bị tiêu tan và không một ai theo ông khi đời các ông sắp kết thúc. Câu trả lời chính ông tìm thấy là vì Ông và các đại đế đều xây đế quốc theo hình thức bạo lực, chém giết và thống trị. Còn Chúa Giêsu, xây dựng vương quốc tình thương. Ngài chết cho dân. Nên sau đó, hàng triệu người đã hy sinh và sống chết cho vương quốc của Ngài.

            Người được cứu độ sẽ không ý thức về sự cao quí và giá ơn cứu độ, nếu Chúa không sinh ra làm con người, nếu Chúa không rao giảng Tin Mừng, nếu Chúa không chọn gọi các tông đồ, nếu Chúa không lên Giêrusalem, chịu nhiều đau khổ và bị giết chết. Ơn cứu độ sẽ không thực sự cứu ai khi không có đường thánh giá và cái chết nhục nhã. Người ta sẽ không biết đêm dài nếu không từng thức đêm. Người ta sẽ không biết trời mưa ướt lạnh nếu ở trong nhà tránh mưa. Nên đường cứu độ là đường lên Giêrusalem, chịu đau khổ và bị giết chết là đường cứu độ hiệu quả và có giá trị nhất. Không một ai có thể chối từ ơn Chúa cứu độ.

Tại sao ai muốn theo Chúa phải từ bỏ mình vác thánh giá hàng ngày mà theo Chúa?
Người theo Chúa, tức Kitô hữu, người chọn tên Chúa làm tên gọi của mình, người lấy Chúa làm mẫu mực đời sống mình. Nói cách khác Chúa là Chúa và là sư phụ của chúng ta. Thì như Chúa nói: Trò không thể hơn thầy hay không thể khác với Thầy. Trò bằng Thầy là có phúc lắm rồi. Nếu người ta gọi thầy là quỉ cả thì người ta gọi trò như thế nào nữa.

Nên muốn theo Chúa không cách nào khác là làm như Chúa làm: từ bỏ mình và vác thập giá hàng ngày mà theo Chúa. Từ bỏ là sẵn sàng khước từ những gì mình có quyền có và có quyền hưởng thí dụ có tiền bạc dư dật, có nhà cao cửa rộng và có quyền sống xa hoa phú quí. Từ bỏ không có nghĩa là bỏ tội lỗi nhưng còn từ bỏ những thứ không tội và mình có quyền hưởng.

Vác thánh giá hàng ngày: Chu toàn bổn phận hàng ngày với thái nđộ vui vẻ chấp nhận. Thường khi chúng ta nhìn thấy ai đó vui vẻ yêu đời, chúng ta nghĩ là họ may mắn hạnh phúc, không có khổ cực gì. Không đâu, đời mỗi người có những thánh giá riêng. Người theo Chúa là ngước vác thánh giá đi trong vui vẻ và tin tưởng vào ngày vinh quang đang đến.
III.      Thực hành P.Â.:
XÂY DỰNG CUỘC ĐỜI TRÊN TÌNH YÊU ĐỨC CHÚA GIÊSU KITÔ
            Thứ bảy ngày 8-1-2011 thầy Étienne Frécon được thụ phong Linh Mục. Tân Linh Mục tiến bước liên tục từ một gia đình Công Giáo đạo đức đến thời gian làm công tác thiện nguyện bên Á Châu rồi gia nhập Chủng Viện Hội Thừa Sai Paris. Các chặng đường nói lên tầm quan trọng của nền giáo dục lành mạnh của gia đình, học đường, giáo xứ và hội đoàn. Xin nhường lời cho Cha Étienne Frécon.

            Tôi chào đời tại thành phố Lyon ở miền Đông Nam nước Pháp trong một gia đình Công Giáo đông con. Tôi là con thứ tư. Song Thân thông truyền cho tôi một nền giáo dục Công Giáo truyền thống. Tôi nhận được rất nhiều ân huệ phúc lành từ Cha Mẹ cũng như từ các Anh Chị Em của tôi. Nhưng rồi cũng đến ngày phải lìa xa mái ấm gia đình. Tuổi trẻ cất cánh bay xa để sống kinh nghiệm tự do độc lập vẫy vùng nơi những chân trời mới lạ. Rất may là THIÊN CHÚA Quan Phòng luôn canh giữ để tôi không bị lạc hướng. Ngài cho tôi gặp những người giúp tôi hoàn thành nhân cách một cách xứng đáng. Đó là các bệnh nhân, người đau khổ và anh chị em tàn tật mà tôi tiếp xúc trong một chuyến hành hương Lộ Đức. Rồi đến kỷ niệm khó quên khi tôi tham dự Ngày Quốc Tế Giới Trẻ dịp Đại Năm Thánh 2000 ở thủ đô Roma. Các kinh nghiệm quý báu tích cực ấy vẫn vang vọng trong cuộc đời tôi mãi cho đến ngày hôm nay.

            Sau khi đậu tú tài tôi ghi danh vào phân khoa kinh tế. Ngay năm sinh viên đầu tiên tôi đã nhận ra đâu là điều chính yếu cho cuộc đời tôi. Tôi thoáng thấy lòng tôi ao ước dâng hiến cuộc đời để bước theo Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Tôi hiểu rằng ước muốn trở thành Linh Mục là một khát vọng vượt xa mọi khát vọng. Đó là giấc mơ đẹp nhất mà một người có thể mơ tưởng. Rồi câu Đức Chúa GIÊSU hỏi Phêrô bỗng đẩy mạnh quyết định của tôi: “Con có yêu Thầy hơn những người này không?” Tôi muốn xây dựng cuộc đời trên nền tảng vững chắc là Tình Yêu của Đức Chúa GIÊSU KITÔ. Chính Tình Yêu của Đức Chúa GIÊSU mà tôi muốn sống và loan báo cho mọi người biết.

            Khi nhìn lại các chặng đường trải qua, tôi thấy mình không làm sự gì khác thường, ngoại trừ việc cố gắng tìm ra những cách thức mới mẻ để đáp lại các tiếng gọi ở mỗi nơi tôi được gởi đến để phục vụ. Trong Cộng Đồng Giáo Hội, tôi phân định và tìm kiếm dấu vết của THIÊN CHÚA. Đặc biệt ngày hôm nay tôi nhận ra Tình Chúa Yêu tôi lớn lao biết là chừng nào! Và để bày tỏ lòng tri ân thảo mến thì chỉ có cách duy nhất là phải đáp lại. Tôi quyết định bước theo mẫu gương của Đức Chúa GIÊSU KITÔ, Đấng đã yêu và yêu đến cùng, yêu đến hiến mạng sống vì Tình Yêu.

            Ban đầu tôi gia nhập Chủng Viện của Tổng Giáo Phận Lyon với ước nguyện làm chứng cho Tình Yêu THIÊN CHÚA cạnh những người sống xa Giáo Hội và đặc biệt là cạnh các anh chị em nghèo. Quyết định được xem là chuyện đương nhiên xét vì tôi lớn lên trong Tổng Giáo Phận.

            Tiếp đến lòng tôi mở rộng và tôi lên đường đi Á Châu đến Malaysia với tư cách nhân viên thiện nguyện của Hội Thừa Sai Paris. Đây là khoảng thời gian hạnh phúc nhưng cũng tràn đầy khó khăn. Cùng với các thiện nguyện viên khác chúng tôi phụ trách một cô nhi viện. Lần đầu tiên tôi đối diện với cái hung hăng dữ tợn của một giới trẻ bị tổn thương.

            Tôi cũng làm việc với Cộng Đoàn Công Giáo nói tiếng Pháp ở thủ đô Kuala Lumpur và hợp tác với giáo xứ địa phương. Tôi học hỏi nhiều điều từ hai vị Linh Mục bản xứ. Các ngài nói với tôi: Điều quan trọng đối với Linh Mục là yêu thương những anh chị em mà Linh Mục được gởi đến để phục vụ! Một ngày, lúc đang lái xe tôi bỗng tự nhủ: ”Đó cũng là điều tôi phải thực hiện!” Thì ra các mặc khải lớn lao không nhất thiết phải đến từ các cuộc xuất thần vĩ đại!

            Tôi phải thành thật thú nhận rằng, sau thời gian hợp tác với Các Linh Mục Hội Thừa Sai Paris, con đường truyền giáo có làm cho tôi hơi khơm-khớp một chút! Thật là điều táo bạo khi dám đặt mình bước theo vết chân của Các Linh Mục, Các Vị Thánh, Các Vị Tử Vì Đạo, đã hiên ngang mang Tin Mừng Cứu Rỗi của Đức Chúa GIÊSU KITÔ đến cho các dân tộc Á Châu, và nhất là can đảm lấy chính máu đào, dâng hiến mạng sống làm chứng cho Tình Yêu THIÊN CHÚA! Thật tuyệt vời và đáng khâm phục ngưỡng nộ biết bao!

            Một ngày, một Linh Mục Hội Thừa Sai Paris - từng làm việc truyền giáo bên Malaysia và hiện sống tại Pháp - trả lời câu hỏi của tôi: “Phải làm gì để trở thành một thừa sai tốt?” ngài nói: ”Để trở thành một thừa sai tốt, trước tiên phải sống trung thực với chính mình. Và con có đủ các yếu tố để thành công!” Sau câu nói đó, tôi quyết định gia nhập Hội Thừa Sai Paris!

            Ngày thụ phong phó tế tôi chọn câu Phúc Âm theo thánh Gioan ”Ngài đã yêu họ đến cùng” (Gioan 13,1). Câu này vẫn theo sát tôi cho đến ngày hôm nay. Câu nói thật quyết liệt. Tôi không ngừng kinh nghiệm rằng chính Đức Chúa GIÊSU KITÔ yêu thương chúng ta trước. Ngài yêu thương tất cả mọi người không trừ ai. Tôi cố gắng chọn Tình Yêu của Đức Chúa GIÊSU KITÔ làm chương trình sống của tôi. Trong mỗi một anh chị em tôi có dịp gặp gỡ phục vụ, tôi phải nhận ra họ là con cái THIÊN CHÚA và được Ngài yêu thương.

            Có lần Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nói rằng: “Thừa Sai là tu sĩ chiêm niệm đang hoạt động”. Câu nói nhắc nhở tôi trước hết phải đâm rễ sâu trong Đức Chúa GIÊSU KITÔ và quan sát các hoạt động của Chúa Thánh Linh. Nếu tôi được kêu mời sống Phúc Âm và truyền bá Phúc Âm tại Á Châu, thì có nghĩa là trước tiên, chính Đức Chúa Thánh Thần hoạt động, hoán cải và quy tụ Đại Gia Đình của THIÊN CHÚA bị phân tán.

            Với các bạn trẻ đang tìm kiếm ơn gọi tôi có thể nói rằng:

- Điều quan trọng là không nên giả điếc làm ngơ trước tiếng gọi của trái tim chúng ta. Cánh đồng truyền giáo bao la mà thợ gặt thì ít ỏi .. Biển cả có thể rúng động .. các cơn sóng to có thể gào thét và đổ ập xuống, nhưng chính Đức Chúa GIÊSU KITÔ mới là Vị Thuyền Trưởng và là Chủ Tể đại dương sóng lớn. Vậy thì chúng ta cứ an tâm tin tưởng và phó thác!

... Trước lễ Vượt Qua, Đức Chúa GIÊSU biết GIỜ của Người đã đến, GIỜ phải bỏ thế gian mà về với THIÊN CHÚA CHA. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng .. Đức Chúa GIÊSU biết rằng: THIÊN CHÚA CHA đã giao phó mọi sự trong tay Người, Người bởi THIÊN CHÚA mà đến, và sắp trở về cùng THIÊN CHÚA, nên trong một bữa ăn, Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Chúa GIÊSU đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau (Gioan 13,1-5).

(”MISSIONS ÉTRANGÈRES de Paris” (Asie et Océan Indien), N 457, Janvier 2011, trang 58-60 - Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt

Lm Phêrô Trần Thế Tuyên


Có một bài thơ cổ do tác giả vô danh về "Trang Giấy Gấp Lại". Bài thơ này bằng tiếng Anh, nên khi chuyển dịch sang tiếng Việt, chúng ta chỉ đọc lấy ý mà thôi, đại ý bài thơ như thế này:
"Trên gác nhỏ ngôi nhà mái lá
Những giọt mưa trên mái lá.
Tôi vẫn mở những quyển tập cũ
Bất chợt cho tôi gặp thấy
Một trang tập đã bị gấp lại
Và bên ngoài tôi đọc thấy
Dòng chữ do chính tay tôi viết
Lúc còn thiếu thời như sau:
Thầy giáo chúng ta bảo ta rằng,
Hãy tạm gác lại vấn đề.
Vì ở đây ngay trong lúc này
Nó quả thật là khó hiểu.
Tôi mở trang tập bị gấp lại
Đọc vấn đề tôi đã viết,
Mỉm cười tôi gật đầu rồi nói
Đúng vậy, thầy giáo nói có lý
Bây giờ tôi mới hiểu ra.
Có nhiều trang sách của cuộc đời
Đã ghi lại thật khó hiểu.
Bây giờ ta hãy xếp lại đây
Và để lại nơi bên ngoài.
Thầy cao cả của chúng ta bảo
Hãy để những vấn đề này nằm yên,
Vì chúng thật khó hiểu,
Rồi ngày kia trên thiên đàng
Chúng ta hãy mở ra và đọc,
Rồi chúng ta có thể nói
Thầy cao cả thật là có lý,
Bấy giờ chúng ta mới hiểu.
Bài thơ này như là một kinh nghiệm sống, có những điều bây giờ trong cuộc đời chúng ta không thể hiểu, trên thiên đàng, đọc lại chúng ta sẽ hiểu. Điều Chúa Giêsu nói với các môn đệ trong Phúc Âm hôm nay quả thật là khó hiểu, khó hiểu cho các ngài và cũng khó hiểu cho chúng ta hôm nay khi phải đối diện với điều mà Chúa Giêsu gọi là thập giá trong cuộc đời: "Ai muốn theo Thầy hãy từ bỏ mình vác Thập Giá mình mà theo Thầy".
Bài Phúc Âm hôm nay trích liền với bài Phúc Âm tuần trước (x. Mt 16,12-23) trả lời cho câu hỏi: "Các con bảo Thầy là ai?", thánh Phêrô đã nhanh nhẹn trả lời: "Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống". Đây là một lời tuyên xưng Đức Tin trọn vẹn, nhưng không phải do tự sức người của Phêrô mà là do ơn mạc khải của Thiên Chúa Cha. Chúa Giêsu lúc đó đã khen Phêrô là kẻ: "Có phúc", vì được Thiên Chúa Cha chúc phúc mạc khải cho biết sự thật về Chúa Giêsu, và liền đó có thể nói chúa Giêsu đã lên chức cho Phêrô, đặt ngài làm đá tảng nâng đỡ trọn vẹn Giáo Hội của Chúa: "Phêrô con là đá, trên đá này, Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy".
Nhưng sau đó, Phêrô đã không hiểu và sống trọn vẹn điều ngài đã tuyên xưng. Phêrô đã sa ngã và trở lại theo tâm thức tầm thường của con người, là không chấp nhận Thầy cao cả về quyền năng mà bị hạ nhục, bị giết chết trên thập giá ở Giêrusalem. Vì thế, khi nghe Chúa nói về cuộc khổ nạn của Ngài tại Giêrusalem, thánh Phêrô đã cản đường: "Lạy Thầy không thể thế được, Thầy sẽ chẳng phải như vậy đâu!". Nhưng Chúa Giêsu trách Phêrô là Satan, là kẻ cản đường, là kẻ thù của Chúa, không hiểu trọn vẹn về Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa Nhập Thể chịu đóng đinh, chịu chết và sống lại.
Con đường cứu rỗi phải đi qua thập giá, Chúa Giêsu đã đi trọn vẹn con đường này và Ngài cũng muốn cho đồ đệ của Ngài đi theo con đường đó: "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình đi, vác thập giá mà theo Ta". Thầy Cao Cả của chúng ta có lý, bây giờ chúng ta không thể hiểu. Chúng ta chỉ hiểu khi chúng ta được gặp Ngài trên thiên đàng như bài thơ đã nói: "Thầy Chúng Ta Thật Có Lý", khi chúng ta mở lại những trang cuộc đời của mình với những khó khăn, những thập giá, những điều khó hiểu trên thiên đàng.
Xin Chúa giúp cho mỗi người chúng con can đảm, trung thành cho đến cùng mà đi trọn con đường Chúa muốn cho mỗi người đi qua, con đường này không phải chỉ với những vinh quang mà thôi, nhưng với nhiều thập giá đau khổ.
Trong bài đọc II hôm nay (Rm 12,1-12), thánh Phaolô Tông Đồ đã mời gọi mỗi người hãy dâng hiến đời mình làm của lễ sống động và thánh thiện làm đẹp lòng Thiên Chúa. Chúng ta hãy dâng hiến trọn cuộc đời làm của lễ dâng hiến sống động, thánh thiện đẹp lòng Thiên Chúa.
Xin Chúa giúp chúng con củng cố đức tin mà chúng con tuyên xưng qua kinh Tin Kính.

Radio Veritas Asia
(Trích trong ‘Sống Tin Mừng’)

Lectio Divina: Chúa Nhật XXII Thường Niên (A)
Chúa Nhật, 31 Tháng 8, 2014

1.  Lời nguyện mở đầu
Lạy Chúa Thánh Thần của chân lý, được sai đến bởi Chúa Giêsu để hướng dẫn chúng con tìm đến sự toàn chân, xin hãy soi sáng tâm trí chúng con để chúng con có thể hiểu được Kinh Thánh. Ngài là Đấng đã rợp bóng trên Đức Maria và khiến bà thành đất màu mỡ nơi Lời của Chúa có thể nẩy mầm, xin hãy thanh tẩy tâm hồn chúng con khỏi mọi trở ngại hướng đến Lời Chúa.  Xin giúp chúng con học hỏi giống như Đức Maria xưa kia với trái tim trinh khiết và tốt lành để lắng nghe Lời Chúa nói với chúng con trong đời sống và trong Kinh Thánh, để chúng con có thể tuân giữ Lời Chúa và sinh sản được những hoa trái tốt tươi qua sự kiên trì của chúng con.  

 2.  Bài Đọc

a)  Bối cảnh:
Đoạn Mt 16:21-27 là đoạn sau khi ông Phêrô tuyên xưng đức tin (16:13-20) và trước đoạn Chúa Biến Hình (17:1-8) và đoạn này nối kết chặt chẽ với hai sự kiện này.  Chúa Giêsu yêu cầu Nhóm Mười Hai nói cho Người biết người ta nói Người là ai và sau đó lại muốn biết Nhóm Mười Hai nghĩ Người là ai.  Ông Phêrô thưa rằng:  “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (16:16).  Chúa Giêsu không những chỉ chấp nhận lời tuyên xưng đức tin này, mà còn nói rõ ràng rằng chính Thiên Chúa đã mặc khải danh tính thực sự của Người cho Phêrô.  Tuy nhiên, Người truyền cho các môn đệ đừng nói lại với ai rằng Người là Đấng Cứu Thế.  Chúa Giêsu biết rõ rằng danh xưng này có thể bị hiểu lầm và Người không muốn gặp phải các rủi ro.  “Kể từ đó” (16:21), Người dần dần bắt đầu giải thích cho Nhóm Mười Hai về ý nghĩa của Đấng Cứu Thế; Người là Đấng Cứu Thế chịu nhiều đau khổ sẽ bước vào sự vinh quang qua cây thập giá.
Đoạn Tin Mừng chúng ta đang chiêm niệm được chia ra làm nhiều phần.  Trong phần thứ nhất (các câu 21-23), Chúa Giêsu báo trước về cái chết và sự phục sinh của mình và cho thấy rằng Người hoàn toàn quyết tâm làm theo chương trình của Thiên Chúa dành cho Người bất chấp lời phản đối của Phêrô. Trong phần thứ hai (các câu 24-27), Chúa Giêsu cho thấy các hậu quả của việc công nhận Người là Đấng Cứu Thế chịu nhiều đau khổ cho các môn đệ của Người.  Không ai có thể làm môn đệ Người trừ phi người ấy đi cùng một con đường với Người.
Nhưng Chúa Giêsu biết rõ rằng thật là khó cho Nhóm Mười Hai chịu chấp nhận thập giá của Người và của các ông, và, để trấn an, Người cho các ông thấy trước sự phục sinh của Người trong việc biến hình (17:1-8).

b)  Phúc Âm:
21-23:  Kể từ đó, Chúa Giêsu bắt đầu tỏ cho các môn đệ thấy:  Người sẽ phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ với các Kỳ lão, Thượng tế và Luật sĩ, sẽ bị giết và ngày thứ ba thì sống lại.  Khi ấy, Phêrô kéo Người lại mà can gián Người rằng:  “Lạy Thầy, không thể thế được!  Thầy sẽ chẳng phải như vậy đâu.”  Nhưng Người quay lại bảo Phêrô rằng:  :Hỡi Satan, hãy lui ra đằng sau Thầy, con làm cớ cho Thầy vấp phạm, vì con chẳng hiểu biết những gì thuộc về Thiên Chúa, mà chỉ hiểu biết những gì thuộc về loài người.”
24-27:  Bấy giờ, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng:  “Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy.  Vì chưng, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ được sống.  Nếu ai được lợi cả thế gian mà thiệt hại sự sống mình, thì được ích gì?  Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi được sự sống mình?  Bởi vì Con Người sẽ đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các Thiên Thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ trả công cho mỗi người tùy theo việc họ làm.  Thầy bảo thật các con:  trong những kẻ đang đứng đây, có người sẽ không nếm sự chết trước khi xem thấy Con Người đến trong Nước Người.”
3.  Giây phút thinh lặng cầu nguyện:

Để Lời Chúa được thấm nhập và soi sáng đời sống chúng ta.

4.  Một vài câu hỏi gợi ý:

Để giúp chúng ta trong việc suy gẫm cá nhân.

a)  Tại sao Phêrô cố gắng can ngăn Chúa Giêsu đừng đối diện với cuộc thương khó? 
b)  Tại sao Chúa Giêsu gọi Phêrô là Satan?            
c)  Bạn đối đầu với cuộc sống như thế nào, với lý lẽ của Thiên Chúa và của Chúa Giêsu hay là với lý lẽ của người phàm và của Phêrô? 
d)  Trong đời sống thực tế hằng ngày của bạn, đành mất mạng sống mình vì Chúa Giêsu có ý nghĩa gì?
e)  Những thập giá của bạn là gì và ai là Phêrô của bạn?

5.  Chìa khóa của bài đọc

Dành cho những ai muốn đào sâu vào trong bài Tin Mừng.

“Phải đi đến Giêrusalem…”
Bốn động từ “đi”, “chịu đau khổ”, “bị giết” và “sống lại” (câu 21) bị chi phối bởi chữ “số phần” hoặc “phải”.  Đây là một động từ mà trong Tân Ước mang một ý nghĩa thần học chính xác.  Nó bao hàm rằng ý muốn của Thiên Chúa là một việc gì đó sẽ xảy ra bởi vì đấy là một phần của chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa.
Cái chết của Đức Giêsu có thể được xem như là hậu quả “lý lẽ” thái độ của Người đối với các tổ chức của dân tộc Người.  Giống như mọi vị tiên tri phiền toái khác, Người đã bị trừ khử.  Nhưng Tân Ước nhấn mạnh rằng cái chết (và sự sống lại) của Đức Giêsu là một phần của kế hoạch Thiên Chúa mà Đức Giêsu tự nguyện nhận lãnh.

“Con là một trở ngại cản lối Thầy đi”

Vật trở ngại có nghĩa là cản lối hoặc cái bẫy.  Để là một trở ngại có nghĩa là đối đầu với ai đó với những điều ngăn trở sẽ làm người ấy chuyển hướng đi.  Phêrô là một vật trở ngại đối với Chúa Giêsu vì ông cố gắng làm lệch hướng con đường vâng phục ý muốn Chúa Cha để đi con đường dễ dàng hơn.  Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu so sánh ông với Satan, người mà vào lúc khởi đầu nhiệm vụ của mình đã tìm cách chuyển hướng con đường sứ vụ của Chúa Giêsu, đề nghị một sứ vụ thiên sai dễ dàng hơn (xem Mt 4:1-11).

“Ai đành mất mạng sống mình … sẽ được sống”
Những ai thấu hiểu các mầu nhiệm của Chúa Giêsu và tính chất của sứ vụ Người thì cũng hiểu làm môn đệ Người có nghĩa là gì.  Hai điều liên quan mật thiết với nhau.
Chính Chúa Giêsu đã đưa ra ba điều kiện cho những ai muốn trở thành môn đệ Người:  từ bỏ chính mình, vác thập giá mình và theo Người (câu 24).  Từ bỏ chính mình có nghĩa là không tập trung đời sống mình vào bản thân người ấy mà là về Thiên Chúa và về kế hoạch Nước Trời của Người.  Điều này hàm ý chấp nhận những nghịch cảnh và gian nan.  Chính Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta gương của Người về cách đối phó với những hoàn cảnh như thế.  Nó đủ để cho ta bắt chước Người.  Người không từ bỏ lòng trung thành với Chúa Cha và Nước Trời, và Người thậm chí còn trung thành đến nỗi thí cả mạng sống mình.  Chính vì thế mà Người đạt được sự viên mãn của đời sống trong sự phục sinh.

6.  Thánh Vịnh 40                                                                                                                      
Lời cầu nguyện hỗ trợ của kẻ vẫn trung thành với Thiên Chúa
Tôi đã hết lòng trông đợi CHÚA,
Người nghiêng mình xuống và nghe tiếng tôi kêu.
Người kéo tôi ra khỏi hố diệt vong,
khỏi vũng lầy nhơ nhớp,
đặt chân tôi đứng trên tảng đá,
làm cho tôi bước đi vững vàng.
Chúa cho miệng tôi hát bài ca mới,
bài ca tụng Thiên Chúa chúng ta.
Thấy thế, nhiều người sẽ kính sợ
và tin tưởng vào CHÚA.

Phúc thay người đặt tin tưởng nơi CHÚA,
chẳng vào hùa với bọn kiêu căng
và những kẻ theo đường gian ác.
Lạy CHÚA là Thiên Chúa con thờ,
những kỳ công Ngài đã thực hiện
và những điều Ngài dự định cho chúng con:
thật là nhiều vô kể!
Không một ai sánh được như Ngài.
Dầu con muốn loan đi kể lại,
nhưng quá nhiều, đếm nổi làm sao!

Chúa chẳng thích gì tế phẩm và lễ vật,
nhưng đã mở tai con;
lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa không đòi,
con liền thưa: "Này con xin đến!
Trong sách có lời chép về con
rằng: con thích làm theo thánh ý,
và ấp ủ luật Chúa trong lòng, lạy Thiên Chúa của con."

Đức công chính của Ngài,
con loan truyền giữa lòng đại hội;
lạy CHÚA, Ngài từng biết: con đâu có ngậm miệng làm thinh.
Đức công chính của Ngài,
con chẳng giữ riêng lòng mình biết;
nhưng con đã nói lên đức trung tín và ơn cứu độ của Ngài,
chẳng giấu giếm chi cùng đại hội
rằng Ngài thành tín và yêu thương.

Phần Ngài, muôn lạy CHÚA,
xin chớ ngừng âu yếm cảm thương con.
Lòng thành tín và yêu thương của Ngài sẽ giữ gìn con mãi.
Tai hoạ bủa vây con hằng hà sa số,
tội ác con đổ xuống trên mình, làm tối tăm mặt mũi,
thật nhiều hơn cả tóc trên đầu, khiến rụng rời tâm trí.

Lạy CHÚA, xin thương tình cứu con,
muôn lạy CHÚA, xin mau phù trợ!
Ước gì những kẻ tìm cướp mạng sống con,
đều phải nhơ nhuốc thẹn thùng!
Ước gì bọn đắc chí vì con mắc hoạ
phải tháo lui nhục nhã!
Những đứa cười ha hả nhạo con
phải thẹn thùng chết điếng!

Ước chi mọi kẻ tìm kiếm Chúa,
đều mừng vui hoan hỷ trong Ngài!
Và những ai cảm mến ơn Ngài tế độ
luôn nói rằng: "ĐỨC CHÚA vĩ đại thay! "
Thân phận con khốn khổ nghèo hèn,
nhưng Chúa hằng nghĩ tới.
Ngài là Đấng phù trợ, là Đấng giải thoát con,
lạy Thiên Chúa con thờ, xin đừng trì hoãn!
7.  Lời Nguyện Kết

Lạy Chúa, đường lối của Chúa không phải là đường lối của chúng con và những suy nghĩ của Chúa không phải là suy nghĩ của chúng con.  Trong chương trình cứu rỗi của Chúa cũng có chỗ cho cây thập giá.  Con Một Chúa, Đức Giêsu, đã không lui bước trước thập giá, nhưng “đã cam chịu khổ hình thập giá và chẳng nề chi sự ô nhục” (Dt 12:2).  Sự thù địch của những kẻ thù Người đã không thể làm Người xao lãng quyết tâm của Người là thực hiện thánh ý của Chúa và công bố Nước Trời, bằng mọi giá.
Lạy Cha, xin hãy tăng thêm sức mạnh cho chúng con, với ân sủng của Chúa Thánh Thần.  Xin Chúa hãy giúp chúng con kiên quyết và trung thành theo Chúa Giêsu.  Xin Chúa hãy khiến cho chúng con thật sự noi theo gương Người và làm cho Nước Chúa là trung tâm điểm của đời sống chúng con.  Xin Chúa ban cho chúng con sức mạnh để chúng con chịu đựng được những nghịch cảnh và khó khăn để đời sống thực sự có thể triển nở trong chúng con và trong toàn thể nhân loại.
Chúng con cầu xin vì danh Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng con.  Amen.


a