Thánh John Henry Newman
Bài 1: "Người đàn ông của hai thế giới"
(Series viết về John Henry Newman · Tiến sĩ Hội Thánh thứ 38)
Thử tưởng tượng bạn là người có
500k followers.
Không phải vì bạn cố tình xây dựng
thương hiệu, mà vì bạn nói thật, và người ta cảm được điều đó. Mỗi lần bạn đăng
gì, comment tràn vào. Người ta chờ bài mới của bạn như chờ một thứ gì đó hiếm:
ai đó đang thật sự nói, không phải đang diễn.
Rồi một ngày, bạn đăng một bài,
không phải để gây sốc, chỉ là kết luận sau nhiều năm bạn đọc, suy nghĩ, kiểm
tra đi kiểm tra lại. Và trong vòng vài tuần, 24 người có thẩm quyền nhất trong
lĩnh vực của bạn ra tuyên bố kết án bạn. Sếp trực tiếp của bạn yêu cầu bạn im lặng.
Hàng trăm đồng nghiệp ký tên vào một bức thư ngỏ nói bạn sai. Một chính khách gọi
tên bạn trên sóng truyền hình quốc gia.
Bạn sẽ làm gì?
John Henry Newman, Oxford (Vương
quốc Anh), năm 1841, thu dọn đồ đạc và chuyển đi. Không phản bác. Không giải
thích thêm. Chỉ rời đi. Và khi chiếc xe ngựa lăn bánh khỏi Oxford, ông không
nhìn lại. Không phải vì kiêu ngạo, mà vì, theo chính lời ông viết sau đó:
"Tôi không dám."
Newman sinh năm 1801 tại London,
trong một gia đình trung lưu bình thường, cha làm ngân hàng, mẹ đọc sách nhiều
hơn hầu hết phụ nữ thời đó. Không có gì đặc biệt trong xuất thân của ông.
Ngoại trừ một thứ: ông không thể
ngừng đặt câu hỏi.
Năm 15 tuổi, ông bị sốt nặng một
mình trong ký túc xá khi bạn bè đã về nhà nghỉ hè. Không có gì để làm ngoài nằm
và suy nghĩ. Ông đọc, ông nhìn trần nhà, ông hỏi những câu mà người 15 tuổi thường
không hỏi, mình là ai, mình tồn tại để làm gì, có gì thật sự chắc chắn trên đời
này không?
Nhiều năm sau, trong cuốn hồi ký
Apologia Pro Vita Sua, ông viết lại kết luận của cậu bé 15 tuổi đó: "Tôi
tin rằng Thiên Chúa và linh hồn tôi là hai thực tại duy nhất chắc chắn tồn tại,
và phần còn lại đều là bóng mờ."
Nghe có vẻ trừu tượng. Nhưng thực
ra đây là câu nói của một người trẻ vừa tìm ra thứ duy nhất họ sẵn sàng đánh cược
cả cuộc đời vào. Và ông thật sự đánh cược, từ đầu đến cuối, không lần nào rút
lui.
Năm 1828, Newman trở thành cha xứ
của nhà thờ St. Mary's, nhà thờ chính thức của Đại học Oxford. Cần nói rõ một
điều: lúc này Newman là linh mục Anh giáo, tức là Giáo hội của nhà vua Anh,
không phải Giáo hội Công giáo Roma. Ông sinh ra, lớn lên, và thụ phong trong
Giáo hội Anh giáo. Toàn bộ danh tiếng, sự nghiệp, và các mối quan hệ của ông đều
thuộc về thế giới đó. Điều này quan trọng, vì câu hỏi mà ông sắp đặt ra sẽ đe dọa
tất cả những thứ đó.
Nhà thơ Matthew Arnold sau này
viết: "Những ai từng nghe Newman giảng tại St. Mary's đều nhớ mãi. Không
phải vì ông hùng hồn. Mà vì ông nói như người đang nói thật."
Giữa một thế giới mà mọi người
đang cố diễn cho đúng vai, mục sư thì giảng đạo đức, giáo sư thì giảng lý thuyết,
chính khách thì nói những câu ai cũng biết là rỗng, Newman là người duy nhất đứng
lên và nói thật những gì ông thật sự tin. Gen Z sẽ gọi đó là authentic. Nước
Anh năm 1830 không có từ đó, nhưng họ nhận ra nó ngay khi thấy.
Phòng ngày càng đông. Người đứng
ngoài cửa sổ nghe vọng vào.
Nhưng trong khi đám đông tìm đến
ông, ông đang một mình đối mặt với câu hỏi nguy hiểm nhất của đời mình.
Ông đọc sách, không phải để thi,
không phải để viết bài, mà để tìm câu trả lời cho câu hỏi ông không thể dừng lại
được: Giáo hội mình đang phục vụ, có phải là Giáo hội thật không? Ông đọc các
Giáo phụ từ thế kỷ thứ 2, 3, 4, những người đã sống khi Giáo hội còn là một cơ
thể thống nhất. Và ông bắt đầu thấy điều mình không muốn thấy.
Giáo hội trong sách không giống
Giáo hội ông đang phục vụ.
Ông mất nhiều năm để kiểm tra lại.
Rồi kiểm tra lại thêm một lần nữa. Rồi viết kết luận của mình ra, và nhận về 24
tuyên bố kết án.
Người có 500k followers kia, bị
kết án vì nói thật những gì mình thật sự tin, đó là Newman, năm 1841, tại
Oxford.
Câu chuyện của ông thực ra mới bắt
đầu từ đó....
(Còn tiếp..)
- John Phạm -
Tham khảo
Newman, J.H. Apologia Pro Vita
Sua (1865), toàn văn tại newmanreader.org
Ian Ker, John Henry Newman: A
Biography (Oxford University Press, 1988)
Matthew Arnold, hồi ký về các
bài giảng tại St. Mary's Oxford, trích trong Ker, ibid.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét