Trang

Hiển thị các bài đăng có nhãn TỪ VỰNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn TỪ VỰNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 2 tháng 2, 2024

TỪ NGỮ KINH THÁNH : TRỪ QUỶ

 


 

“Đức Giêsu ... trừ nhiều quỷ, nhưng không cho quỷ nói,
vì chúng biết Người là ai” (Mc 1,34)

Trừ quỷ là xua đuổi một hay nhiều tà thần khỏi một người. Chúa Giêsu Kitô là Đấng duy nhất có quyền lực trừ quỷ. Ngài đã trao quyền cho các môn đệ.

Người Do thái và lương dân thực hiện trừ quỷ với các mức độ thành công khác nhau, và họ nhận định : “Lạy Chúa, Lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng nhân danh Chúa ... mà trừ quỷ ... đó sao ?” (Mt 7,22 // Lc 11,19 Cv 19,13-16).

Chúa Giêsu Kitô có uy quyền độc nhất để trừ quỷ : “Mọi người đều kinh ngạc, đến nỗi họ bàn tán với nhau. Thế nghĩa là gì ? ... Ông ấy ra lệnh cho cả các thần ô uế và chúng phải tuân lệnh! “ (Mc 1,27 // Lc 4,36 Mt 12,25-28 // Lc 11,17-18). Quyền lực trừ quỷ Chúa Giêsu Kitô thể hiện trên các tà thần chứng tỏ vương quyền Thiên Chúa hiện diện nơi Người. (x. Mt 12,29 // Mc 3,27 // Lc 11,21-22 : Chúa Giêsu là “con người mạnh mẽ”. Quyền lực của Người trên các tà thần cho thấy Satan đã bị đánh bại.

Tác vụ tổng quát của Chúa Giêsu là trừ quỷ : “chiều đến, người ta đem nhiều kẻ bị quỷ ám tới gặp Đức Giêsu. Người nói một lời là trừ được các thần dữ và Người chữa lành mọi kẻ ốm đau” (Mt 8,16 // Mc 1,34 // Lc 4,41 Mc 1,39 Lc 6,17-18 7,21).

Chúa Giêsu Kitô đã trao cho các tông đồ quyền lực để xua đuổi ác thần : “Đức Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 10,1 // Mc 6,7 // Lc 9,1 Mc 3,14-15 16,17 Lc 10,17).

Sau khi Chúa thăng thiên, các tông đồ xua đuổi ác thần :

“Nhiều người từ các thành chung quanh Giêrusalem cũng lũ lượt kéo đến, đem theo những kẻ ốm đau cùng những người bị thần ô uế ám, và tất cả đều được chữa lành” (Cv 5,16 19,12).

Các biểu hiện khác nhau cần được trừ quỷ :

- Thái độ bạo lực và tự hủy hoại, như người bị quỷ ám ở Ghêrasa (Mc 5,1-5 // Lc 8,27-29).

- Điếc câm (Mt 9,22 Mc 9,17 Lc 11,14).

- Bị kinh phong (Mt 7,14-15 // Mc 9,17-18 // Lc 9,38-39).

Các thành tố của việc trừ quỷ :

- Một lệnh truyền : “Đức Giêsu quát mắng nó : Câm đi, hãy xuất khỏi người này” (Mc 1,25 // Lc 4,35 x. Mt 8,32 Mc 9,25 Cv 16,18).

- Quỷ ma biết rõ nguồn gốc của quyền lực ra lệnh cho chúng : “Ông Giêsu Nagiareth chuyện chúng tôi can gì đến ông mà ông đến tiêu diệt chúng tôi ? Tôi biết ông là ai rồi : ông là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (Mc 1,24 // Lc 4,34 x. Mt 8,24 // Mc 5,7 // Lc 8,28 Cv 16,17).

- Việc trừ quỷ thường kèm theo một yếu tố bạo lực hoặc tổn thương : “Thần ô uế lay mạnh người ấy, thét lên một tiếng, và xuất khỏi anh ta” (Mc 1,26 x. Mc 9,26 Mt 8,32 // Mc 5,13 // Lc 8,32-33 Cv 19,16).

- Việc trừ quỷ biến đổi thái độ và điều kiện của người được giải thoát : “Họ đến và thấy kẻ bị quỷ ám ngồi đó, ăn mặc hẳn hoi và trí khôn tỉnh táo ...” (Mc 5,15 // Lc 8,35 x. Mt 9,33 // Lc 11,14).

- Người đã được trừ quỷ có thể bị ám lại (x. Mt 12,43-45 // Lc 11,24-25).

Những cách trừ quỷ khác :

- Việc trừ quỷ có thể hoàn thành từ xa, như việc chữa con gái người đàn bà Canaan (Mt 15,21-28 // Mc 7,24-30). “Có mấy người Do thái đi đây đi đó làm nghề trừ quỷ cũng thử lấy danh Chúa Giêsu mà chữa những người bị tà thần ám” (Cv 29,13).

- Ít có trường hợp dùng đến vật dụng để trừ quỷ : “Thiên Chúa dùng tay ông Phaolô mà làm những phép lạ phi thường, đến nỗi người ta lấy cả khăn cả áo đã chạm đến da thịt ông mà đặt trên người bệnh, và bệnh tật biến đi, tà thần cũng phải xuất” (Cv 19,11-12). Đây là sự tỏ bất thường về quyền lực, được ghi nhận ở một thành phố đầy ma thuật. Nhạc của ông Đavít làm cho vua Saulê được sảng khoái (1Sm 16,14-16.25)

Lời cầu xin khẩn thiết đôi khi cần thiết. Chính Chúa Giêsu Kitô nói về người bị quỷ ám mắc bệnh động kinh : “Giống quỷ ấy, chỉ có cầu nguyện mới trừ được thôi” (Mc 9,29).

https://giaophanphucuong.org/tu-ngu-kinh-thanh/tru-quy-- 

TỪ NGỮ KINH THÁNH : BỆNH TẬT

 

“Lúc đó, bà mẹ vợ ông Simon đang lên cơn sốt, nằm trên giường”
(Mc 1,30)

Một cơn bệnh cản trở người hay vật hoàn thành trọn vẹn khả năng hay ảnh hưởng đến sức lực của họ.

Nhựng điển hình tổng quát hay cá biệt về bậnh tật : những quy chiếu tổng quát, “Người đã mang lấy tật nguyền của ta và gánh lấy các bệnh hoạn của ta” (Mt 8,17 x. Mc 3,10 Xh 15,26 Đnl 7,15 2Sb 16,12 Ga 5,3 Cv 28,9). Thánh Kinh cũng đề cập đến các loại bệnh tật riêng biệt như : mù lòa (Ga 9,1), ung nhọt và lở loét (Xh 9,9 G 2,7 Is 8,21 Lc 16,20) khắc khoải (Cn 13,12), bồn chồn khắc khoải (Cn 13,12), thủy thủng (Lc 14,2), kiết lỵ (Cv 28,8), kinh phong (Mt 17,15 x. Mt 4,24 Mc 9,17-18) sốt rét (G 30,30 Mt 8,14 // Mc 1,30 // Lc 4,38 Cv 28,8), băng huyết (Mt 9,20 // Mc 5,25 // Lc 8,34(, viêm phỏng (Đnl 28,22), điên cuồng (1Sm 21,13), bệnh phong (Ds 12,10 2Sb 26,21 Mt 11,5 Lc 17, 11-19), bại liệt (Mt 4,24 8,6 9,2 // Mc 2,3 // Lc 5,18 Lc 13,11 Cv 3,2 8,7 9,33), trúng nắng (2V 4,18-19 Tv 121, 5-6 Is 49,10 Gn 4,8), u bướu (Đnl 28,27 1Sm 5,6), đói ăn tự nguyện (1Sm 1,7 28,20 Tv 102,5 107,18), kiệt sức (Lv 26,16 Đnl 28,22).

Ngay người công chính cũng phải khổ vì bệnh tật, như trường hợp ông Giob (G 2, 3-7 x. Tv 38,2-3 41,7-8) và những trường hợp khác như “vua Khitkigia lâm bệng nguy tử” (2V 20,1 // Sb 32,24), Đaniel (Đn 8,27), người giúp việc của viên đội trưởng (Lc 7,2), ông Lazarô (Ga 11,1), bà Tabitha (Cv 9,36-37), thánh Phaolô (Gl 4,13), ông Ephraditô (Pl 2,27), thánh Timôthê (1Tm 5,23), anh Trôphimô (2Tm 4,20).

Những nguyên cớ gây nên bệnh tật, do tội lỗi (ga 9,2). Do tội nguyên tổ (St 3,16-17), do sự cố (2V 4,39-40), do án phạt (Tv 107, 17-18 Xh 9,8-10 Lv 26,14-16 Ds 16,41-49 2V 5,27 Gr 14,12 1Cr 11,29-30), do thử nghiệm (G 2,5).

Trả lời cho đau yếu bệnh tật là sự thương cảm của Thiên Chúa : “Đức Giêsu chữa nhiều kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh tật” (Mc 1,34 x. Tv 41,3 Mt 8,17). Có sự thương cảm của người khác như chủ chăn Chúa đặt để chăn giữ đoàn chiên (Ed 34,4), của những người chia sẻ tâm tình của Chúa (Mt 25,36), của các môn đệ Chúa (Lc 9,2), của cả dân ngoại như người Samaria nhân lành (Lc 10,30-37). Riêng người bị bệnh tật tỏ ra khiêm tốn tuân phục như ông Giobh (G 13,15) hay như tông đồ Phaolô (2Cr 12,8-10). Người ta cũng nên phản ứng bằng lời cầu nguyện (Gc 5,14 2Cr 12,8).

Có thứ bệnh tật thiêng liêng, như “những kẻ cứ khăng khăng phản loạn” (Is 1,5-6 x. Gr 8,22 Mk 1,9 Mt 9,11-12 // Lc 5,31-32).

Ơn cứu độ và việc chữa lành bệnh tật, được hoàn thành qua thập giá Chúa Giêsu Kitô, “chính Người đã mang lấy bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta …” (Is 53,4-5). Ơn cứu độ được thực hiện trọn vẹn trên thiên đàng, với hình ảnh “lá cây dùng làm thuốc chữa lành các dân ngoại” (Kh 22,1-3 x. Ed 47,12 Kh 7,17 21,1-4).

https://giaophanphucuong.org/tu-ngu-kinh-thanh/benh-tat--- 

TỪ NGỮ KINH THÁNH : JOB

 

“Bấy giờ ông Job lên tiếng nói.” (G 7,1)

Job (tiếng Do thái íyyôt) là người hùng của cuốn sách mang tên ông. Lời mở đầu sách nói ông là một vĩ nhân, ở đất Út (G 7,1) thuộc lãnh thổ xứ Êđom (St 26,28 Ac 4,11). Ông hẳn đã là một thủ lãnh dân du mục nên mới có tài sản kếch sù (G 1,3. x. St 26,14) Ông cũng là một người đông con (G1,2), dấu hiệu của người công chính (Tv 127, 3-5 128, 3). Lời mở đầu sách Job quả quyết điều đó (G 2,1) và sau này, người ta nhắc đến ông như một vị anh hùng (Ed 14, 16-20) hay như một mẫu gương của sự công chính (Hc 49,9 và Ed 14, 14-26) nhất là về tính nhẫn nại trước nghịch cảnh (Gc 5,11)

Ông Job như vậy là một người con của “các con cái Đông phương” không phải là con cái Israel nên sách Thánh không ghi lại gia phả của ông. Đưa ông ra như người hùng của tác phẩm, tác giả hẳn đã muốn cho những ý tưởng riêng của mình có chiều kích phổ quát.

Cuốn sách mang tên Job được viết dưới hai thể văn : văn xuôi (G 1,1-2,13 42,7-17) và văn vần (3,1-42,6). Phần văn xuôi có thể là một câu truyện bình dân tác giả dùng làm phần đầu và phần kết, để chèn vào giữa những vần thơ đối đáp của ba người bạn Eliphaz, Baldad và Sophar với Job (3,1- 321,40). Cuộc đối thoại còn được mở rộng với một nhân vật nữa là Êliu (32-37). Ngoài ra tác phẩm còn có những bài thơ ca tụng đức khôn ngoan (28) những lời phán dạy của Thiên Chúa (38, 1-41,26) và câu trả lời cuối cùng của Job (42,1-6).

Xét nội dung tác phẩm, tác giả không thể là một người. Ông Job được mô tả là một thủ lãnh dân du mục, nhưng tác giả sáng tác lời thoại của ông, phải là người Giuđa biết rõ sách Thánh, phong tục và bối cảnh xứ Palestina ... Thời gian biên soạn có lẽ nằm vào khoảng giữa thế kỷ 6 và 4 trước công nguyên.

Thời sách Job xuất hiện, quan niệm thưởng phạt cá nhân ở đời sau chưa được rõ rệt đối với dân Israel. Người ta vẫn quan niệm “ở hiền gặp lành” và sách Thánh nói nhiều đến việc thưởng phạt (Xh 23,20 Lv 26 Đnl 28 Tv1,37.49.73 Is 58,6-14 Gr 7,5-7.12,14-17. 17,5-8 Ed 18). Nhưng qua Job, tác giả đưa ra vấn nạn : tại sao người công chính lại phải khổ ? Các bạn ông cho rằng Thiên Chúa công minh còn ông là kẻ tội lỗi nên bị phạt. Job kịch liệt chống lại. Êliu cho rằng Thiên Chúa muốn chữa tính kiêu căng (33, 15-24). Job dù vẫn tin nhận quyền năng Chúa (9,5-13. 12,7-12. 12,13-25. 23,13-17. 27,7-10) vẫn sắt son với Chúa (1,21. 2,10) nhưng như muốn chống lại án phạt của Chúa ... Cuối cùng ông thống hối (42,5-6) và kết quả rất có hậu : Thiên Chúa phục hồi tất cả cho ông. Sách Job chưa đi xa hơn được nữa. Phải đợi Đức Kitô, Người sẽ dạy rõ hơn mầu nhiệm của đau khổ, khi Người chấp nhận Thánh Giá vì tình yêu.

https://giaophanphucuong.org/tu-ngu-kinh-thanh/job-- l

Thứ Sáu, 19 tháng 1, 2024

TỪ NGỮ KINH THÁNH :THỜI GIAN

 

TỪ NGỮ KINH THÁNH
THỜI GIAN
 

“Tôi xin nói với anh em : thời gian chẳng còn bao lâu” (1Cr 7,29).

Việc tạo dựng của Thiên Chúa ghi dấu chuỗi dài cuộc sống và đo lường bằng những đổi thay theo trật tự được tạo lập. Dòng thời gian được Chúa điều hướng. Ngài định đoạt những “thời” đặc biệt theo những mục tiêu đang dàn trải ra. Bởi vì đời người vắn vỏi, thời gian phải được sử dụng cách xứng hợp, như một cơ may bậc nhất.

Thời gian là một tạo dựng của Thiên Chúa :

- Thời gian đã khởi đầu lúc tạo dựng (St 1,5 x. 1Cr 2,7).

- Thời gian ghi dấu bởi sự đổi thay trong trật tự tạo dựng : sự phân chia thời gian do sự phân chia mặt trời và mặt trăng (St 1,14 x. Tv 104,9 Gr 33,20)

- Thiên Chúa không có thời gian : “Ngài vẫn là Thiên Chúa, từ muôn thuở cho đến muôn đời” (Tv 90,2 x. St 1,1 Tv 93,2 Cn 8,22-26 Kb 1,12 Ga 1,1-2).

- Nhận thức của Thiên Chúa về thời gian : “đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày” (2Pr 3,8 x. Tv 90,4).

- Đo lường thời gian : ngày là chu kỳ của sáng và chiều (St 1,8), tháng được ấn định bằng các tuần trăng (Ds 28,14), năm gồm 12 tháng (1V 4,7), giờ là một phần 12 của ngày (Ga 11,9).

- Những khoảng thời gian bất định như việc bà Anna thụ thai Samuel (1Sm 1,20 x. Gr 32,14 Lc 20,9 Cv 14,28 18,23).

Những thời gian tuần hoàn và các mùa.

- Thiên Chúa tiên liệu cho các mùa (Đnl 11,14 28,12 Lv 26,4 Tv 145,15-16 Gr 2,24 Cv 14,17).

- Thời gian ấn định cho các ngày lễ (Xh 13,10 23,15 // Xh 34,18 Ds 9,23).

- Thời gian xác thực cho mỗi hành động (Gv 3,1-8 x. Gv 3,11 8,6 Gr 8,7).

- Thời gian đời người ở trong tay Chúa (Tv 31,15 139,16 x. G 14,5 Đn 2,21 Cv 17,26).

Thời gian được ấn định theo mục tiêu mở rộng của Thiên Chúa.

- Thời gian hoàn thành lời hứa. Thời gian sinh hạ Isaac (St 21,2 Rm 9,9). Gioan Tẩy Giả (Lc 1,20), thời gian sở hữu đất đai của dân Israel (Cv 7,17).

- Thời gian giải thoát Israel (TV 102,13 x. Kb 2,3 3,16).

- Thời gian Chúa Giêsu Kitô đến (Gl 4,2-4 x. Mc 1,15 Lc 19,44 1Tm 2,6 Tt 1,3).

- Thời gian Chúa Giêsu Kitô chịu chết (Ga 12,23 x. Mt 26,18 Ga 2,4 8,20 13,1 Rm 5,6 1Pr 1,11).

- Thời gian Chúa Giêsu Kitô trở lại (1Cr 4,5 x. Mt 24,36 Ep 1,10 Dt 9,28 1Tm 6,15).

- Thời gian Thiên Chúa phán xét (Tv 75,2 Ed 7,7-8 24,14 Xp 2,2 Mt 8,29 Kh 11,8).

- Thời tận thế (Đn 8,19 11,27-29 Mc 13,32 Cv 1,6-7).

Thời gian giữa việc Chúa đến lần thứ nhất và lần thứ hai :

- Thời cứu độ là thời nằm giữa hai lần Chúa Giêsu Kitô đến (2Cr 6,2 x. Is 49,8 Dt 11,13).

- Thời cuối (Cv 2,17 Dt 1,2 1Pr 1,20 1Ga 2,18).

Sử dụng thích đáng thời gian :

- Nhận biết đời người vắn vỏi (Tv 90,12 Tv 39,4-6 Cn 27,1 Ga 4,14)

- Tìm Chúa (Is 55,6 x. Tv 32,6 69,13 95,7-8 Gv 12,1.6-7).

- Hướng về những thực tại vĩnh cửu (1Cr 7,29-31 x. Is 56,12 Lc 12,16-21 Rm 13,11-12 Gc 5,7-9).

- Tận dụng các cơ hội (Cl 4,5 Gl 6,10 Ep 5,16).

 
https://giaophanphucuong.org/tu-ngu-kinh-thanh/thoi-gian-- 

Thứ Ba, 16 tháng 1, 2024

TỪ NGỮ KINH THÁNH : THỜI GIAN

 


 

“Tôi xin nói với anh em : thời gian chẳng còn bao lâu” (1Cr 7,29).

Việc tạo dựng của Thiên Chúa ghi dấu chuỗi dài cuộc sống và đo lường bằng những đổi thay theo trật tự được tạo lập. Dòng thời gian được Chúa điều hướng. Ngài định đoạt những “thời” đặc biệt theo những mục tiêu đang dàn trải ra. Bởi vì đời người vắn vỏi, thời gian phải được sử dụng cách xứng hợp, như một cơ may bậc nhất.

Thời gian là một tạo dựng của Thiên Chúa :

- Thời gian đã khởi đầu lúc tạo dựng (St 1,5 x. 1Cr 2,7).

- Thời gian ghi dấu bởi sự đổi thay trong trật tự tạo dựng : sự phân chia thời gian do sự phân chia mặt trời và mặt trăng (St 1,14 x. Tv 104,9 Gr 33,20)

- Thiên Chúa không có thời gian : “Ngài vẫn là Thiên Chúa, từ muôn thuở cho đến muôn đời” (Tv 90,2 x. St 1,1 Tv 93,2 Cn 8,22-26 Kb 1,12 Ga 1,1-2).

- Nhận thức của Thiên Chúa về thời gian : “đối với Chúa, một ngày ví thể ngàn năm, ngàn năm cũng tựa một ngày” (2Pr 3,8 x. Tv 90,4).

- Đo lường thời gian : ngày là chu kỳ của sáng và chiều (St 1,8), tháng được ấn định bằng các tuần trăng (Ds 28,14), năm gồm 12 tháng (1V 4,7), giờ là một phần 12 của ngày (Ga 11,9).

- Những khoảng thời gian bất định như việc bà Anna thụ thai Samuel (1Sm 1,20 x. Gr 32,14 Lc 20,9 Cv 14,28 18,23).

Những thời gian tuần hoàn và các mùa.

- Thiên Chúa tiên liệu cho các mùa (Đnl 11,14 28,12 Lv 26,4 Tv 145,15-16 Gr 2,24 Cv 14,17).

- Thời gian ấn định cho các ngày lễ (Xh 13,10 23,15 // Xh 34,18 Ds 9,23).

- Thời gian xác thực cho mỗi hành động (Gv 3,1-8 x. Gv 3,11 8,6 Gr 8,7).

- Thời gian đời người ở trong tay Chúa (Tv 31,15 139,16 x. G 14,5 Đn 2,21 Cv 17,26).

Thời gian được ấn định theo mục tiêu mở rộng của Thiên Chúa.

- Thời gian hoàn thành lời hứa. Thời gian sinh hạ Isaac (St 21,2 Rm 9,9). Gioan Tẩy Giả (Lc 1,20), thời gian sở hữu đất đai của dân Israel (Cv 7,17).

- Thời gian giải thoát Israel (TV 102,13 x. Kb 2,3 3,16).

- Thời gian Chúa Giêsu Kitô đến (Gl 4,2-4 x. Mc 1,15 Lc 19,44 1Tm 2,6 Tt 1,3).

- Thời gian Chúa Giêsu Kitô chịu chết (Ga 12,23 x. Mt 26,18 Ga 2,4 8,20 13,1 Rm 5,6 1Pr 1,11).

- Thời gian Chúa Giêsu Kitô trở lại (1Cr 4,5 x. Mt 24,36 Ep 1,10 Dt 9,28 1Tm 6,15).

- Thời gian Thiên Chúa phán xét (Tv 75,2 Ed 7,7-8 24,14 Xp 2,2 Mt 8,29 Kh 11,8).

- Thời tận thế (Đn 8,19 11,27-29 Mc 13,32 Cv 1,6-7).

Thời gian giữa việc Chúa đến lần thứ nhất và lần thứ hai :

- Thời cứu độ là thời nằm giữa hai lần Chúa Giêsu Kitô đến (2Cr 6,2 x. Is 49,8 Dt 11,13).

- Thời cuối (Cv 2,17 Dt 1,2 1Pr 1,20 1Ga 2,18).

Sử dụng thích đáng thời gian :

- Nhận biết đời người vắn vỏi (Tv 90,12 Tv 39,4-6 Cn 27,1 Ga 4,14)

- Tìm Chúa (Is 55,6 x. Tv 32,6 69,13 95,7-8 Gv 12,1.6-7).

- Hướng về những thực tại vĩnh cửu (1Cr 7,29-31 x. Is 56,12 Lc 12,16-21 Rm 13,11-12 Gc 5,7-9).

- Tận dụng các cơ hội (Cl 4,5 Gl 6,10 Ep 5,16).

https://giaophanphucuong.org/tu-ngu-kinh-thanh/thoi-gian--- 

TỪ NGỮ KINH THÁNH : TIN VÀ SỰ CẦN THIẾT

 


“Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15)

Tin là bổn phận nền tảng của mọi người và là đáp trả thân thiết đối với Thiên Chúa tự mặc khải. Đó là đường kênh duy nhất để đón nhận các phúc lành của Thiên Chúa và là phương thế duy nhất khiến cuộc sống có ý nghĩa nhờ mối quan hệ với Thiên Chúa.

Lời mời tin :

- Trong Cựu Ước : “Cứ tin tưởng vào Chúa và làm điều thiện ... Hãy lấy Chúa làm niềm vui của bạn ... Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay” (Tv 37,3-5 x. Cn 3,5-6 Is 26,4 50,10).

- Trong Tân Ước : “ ... việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến” (Ga 6,28-29 x. Mt 1,15 Cv 16,30-31 19,4 20,21 Rm 1,5 1Ga 3,23).

Thiên Chúa tự mặc khải khiến không thể biện minh cho sự bất tín : Ông Philipphê : “xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha” và Chúa Giêsu trả lời : “ ... Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha ... Anh em hãy tin Thầy. Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy, bằng không thì hãy tin vì công việc Thầy làm” (Ga 14,8-11) “có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Kitô” (Rm 10,17 x. Tv 19,4 Ga 1,10-12 Rm 1,18-21 3,1-4 Tv 51,4 Rm 16,25-27).

Cần thiết phải tin vào Thiên Chúa :

- Chỉ có Chúa là Thiên Chúa thật : “Tượng tạc có ích gì đâu ... khốn thay kẻ nói với khúc gỗ ... và nói với hòn đá ... còn Đức Chúa, Người ngự trong thánh điện, toàn thể cõi đất, hãy thinh lặng trước nhan Người !” (Kb 2,18-20 x. Tv 115,2-11).

- Chỉ Thiên Chúa mới có thể tuyệt đối được tin cậy : “Người nhận biết Thánh Danh, sẽ một niềm tin cậy, vì lạy Chúa, Chúa chẳng bỏ rơi những ai kiếm tìm Ngài” (Tv 9,11 x. Tv 91.1-4 Is 12,2 Nk 1,7).

- Tin vào Thiên Chúa là nền tảng để được bi2nha n : “lạy Chúa, Ngài quyết giữ cho dân được an cư lạc nghiệp, vì họ tin vào Ngài” (Is 26,3 x. Tv 42,11 Ga 14,1 Rm 15,13 2Pr 1,12)

- Tin cần thiết để được phúc lành của Thiên Chúa : “Không có đức tin, thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa, thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người” (Dt 11,6 x. Tv 40,4 Gr 17,7-8 Ga 5,24).

- Tin cần thiết để tránh khỏi sự phán xét của Thiên Chúa : “Ai tin vào Người Con thì được sự sống đời đời; còn kẻ nào không chịu tin vào Người Con thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy” (Ga 3,36 x. Ga 3,18 2Tx 2,12 1Pr 2,6-8 Is 28,16 Tv 118,22 Is 8,14).

Các hành động không xuất phát bởi đức tin đều là tội : “Ai hồ nghi mà cứ ăn, thì bị kết án, vì hành động không do xác tín, hành động nào không do xác tín đều là tội” (Rm 14,23 x. Rm 4,5-8.14).

Kẻ bất tín thách thức, như dân Do thái thời dong duổi trong sa mạc (x. Tv 95,7-8) và trong Tân Ước các tín hữu được kêu gọi “hãy đề phòng, đừng để người nào trong anh em có lòng dạ xấu xa chối bỏ đức tin mà lìa xa Thiên Chúa hằng sống ...” (Dt 3,12-19), như ông Achaz, vua Giuđa (Is 7,9); như cả dân Giuđa (Gr 17,5-6); như các môn đệ Chúa Giêsu Kitô sau phục sinh. (Mc 16,14).

https://giaophanphucuong.org/tu-ngu-kinh-thanh/tin-va-su-can-thiet- 

TỪ NGỮ KINH THÁNH : GIÔNA

 


 

“Lời Chúa phán cùng Giôna .... : (Gn 3,1)

Giôna, tiếng Do Thái là Yônàh, “chim bồ câu”. Cuốn sách Giôna nói : “Giôna là con của Amittai” (Gn 1,1). Giôna thường được đồng hóa với vị tiên tri cũng là con của Amittai sống vào thời Giêrôbôam II (783-743) loan báo sự bành trướng của vương quốc phương Bắc (2V 14,25), quê quán ở Gat – Hépher thuộc miền đất Zabulon (Gs 19,13) nay là el Mesed, cách Nazareth 4km về phía đông bắc.

Sách Giôna kể truyện ông Giôna được Chúa sai đi rao giảng cho dân thánh Ninivê, nhưng ông lại đáp tàu đi Tarsi. Ra khơi rồi, sóng gió nổi lên và các thuyền nhân coi ông là nguyên nhân gây ra tai họa nên thài ông xuống biển. Cơn bão êm lại (Gn 1,1-16). Một con cá lớn nuốt ông vào bụng. Ba ngày sau ông được nhả vào bờ (2,1-10). Được gọi lần nữa. ông đến Ninivê loan báo tai họa sắp đến. Dân Ninivê hối cải và Chúa tha phạt dân thành (3,1-10). Ông Giôna bất mãn và Thiên Chúa giải thích cho ông về lòng nhân từ (4,1-11)

Tác giả của cuốn sách không rõ là ai, sống vào khoảng năm 450 hay vào thời điểm trễ hơn nữa sau này. Giới hạn muộn nhất về thời gian trước tác là khoảng năm 180, khi Ben Sira đưa ra danh sách 12 tiên tri (Hc 49,10)

Thực ra ông Giôna được xếp vào 12 tiên tri nhỏ, nhưng sách Giôna không thể xếp vào loại văn tiên tri đúng nghĩa. Bộ kinh điển Công Giáo xếp sách này vào loại “tiên tri nhỏ”, theo thứ tự của người Do thái, vì nhân vật chính là một tiên tri. Nhưng chính tác phẩm lại không phải là một tập sấm ngôn.

Qua một số sự kiện trong tác phẩm, người ta cũng thể coi sách này thuộc loại lịch sử vì : có sự khác biệt giữa thời ông Giôna thi hành sứ vụ (thế kỷ thứ 7) và thời điểm của tác phẩm căn cứ theo lời văn (thế kỷ thứ 5). Các phép lạ dồn dập trong khoảng 50 câu văn (Gn 1). Những mô tả về tâm lý khó lý giải được : về tính khí của ông Giôna và về sự hối cải khá dễ dàng của dân Ninivê về tính chất văn học : các đề tài lấy lại của các tiên tri và thánh vịnh.

Đúng hơn, phải xếp sách Giôna vào loại sách Giáo Huấn theo nội dung của tác phẩm : Israel được gọi làm thừa sai cho các dân tộc, Thiên Chúa có toàn quyền rút lại các biện pháp trừng phạt vì Người muốn lương dân hối cải và ơn cứu độ của Thiên Chúa dành cho hết mọi người (Gn 4)


https://giaophanphucuong.org/tu-ngu-kinh-thanh/giona- 

Thứ Tư, 10 tháng 1, 2024

TỪ NGỮ KINH THÁNH : THẦY, RABBI

  

“Họ đáp ! Thưa Rabbi (nghĩa là thưa Thầy” (Ga 1,38).

Thầy (Rabbi), một danh hiệu kính cẩn được dùng để chỉ các bậc thầy sáng giá về luật Do thái. Chúa Giêsu Kitô được gọi là Thầy trong các sách Phúc Âm, cho thấy rằng Người được các thính giả nhìn nhận là một bậc thầy đáng kính.

Thánh Gioan Tẩy Giả được các môn đệ của ông gọi là thầy : “Họ đến gặp ông Gioan và nói : Thưa Thầy, người trước kia đã ở với thầy bên kia sông Giođan và được thầy làm chứng cho, bây giờ ông ấy cũng đang làm phép rửa, và thiên hạ đều đến với ông” (Ga 3,26).

Chúa Giêsu Kitô được gọi là Thầy (Rabbi) :

- Bởi hai môn đệ của ông Gioan Tẩy Giả Chúa Giêsu thấy hai môn đệ đi theo mình thì hỏi : “các anh tìm gì thế ? Họ đáp : thưa Rabbi (nghĩa là thưa Thầy, Thầy ở đâu ?” (Ga 1,38).

- Bởi các môn đệ của Người : “các môn đệ thưa với Người rằng Rabbi, xin mời Thầy dùng bữa”. (Ga 4,31 x. Ga 6,25 9,2 11,8).

- Bởi thánh Phêrô : khi Chúa Giêsu biến đổi hình dạng, “ông thưa với Đức Giêsu : Thưa Thầy, chúng con ở đây thực là hay …” (Mc 9,5 x. Mc 11,21)

- Bởi ông Nathanael và ông Nicôđêmô : ông Nathanael nói : “thưa Thầy : chính Thầy là vua Israel !” (Ga 1,49). Đến gặp Đức Giêsu ban đêm, ông Nicôđêmô nói với Người : “Thưa Thầy, chúng tôi biết : Thầy là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến” (Ga 3,2).

- Bởi ông Giuđa Iscariốt : “Giuđa, kẻ nộp Người cũng hỏi : Rabbi, chẳng lẽ con sao ? Người trả lời : chính anh nói đó !” (Mt 26,25 // Mc 14,45 : trong vườn Gethsemani).

Chúa Giêsu Kitô nói như một Rabboni, dạng tiếng Aramêơ của từ Rabbi : Người hỏi (anh mù) : “Anh muốn tôi làm gì cho anh ? Anh mù đáp : Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được” (Mc 10,51). Bà Maria Magdala, khi được Đức Giêsu Phục sinh gọi tên : “Bà quay lại và nói bằng tiếng Hipri : Rabbuni : “nghĩa là lạy Thầy” (Ga 20,16).

Chúa Giêsu Kitô đã dạy rằng các môn đệ Người không được gọi là Rabbi : các kinh sư và người Pharisêu “ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là rabbi. Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là rabbi, nghĩa là thầy, vì anh em chỉ có một Thầy, còn anh em tất cả đều là anh em với nhau” (Mt 23,7-8).

https://giaophanphucuong.org/tu-ngu-kinh-thanh/ 

TỪ NGỮ KINH THÁNH : CHÚA GIÊSU KITÔ VÀ CÁC DANH HIỆU

 

“Họ đáp : Thưa Rabbi, nghĩa là thưa Thầy, Thầy ở đâu ?” (Ga 1,38)

Các danh hiệu của Chúa Giêsu Kitô, nhiều và phong phú với những khác biệt, rọi sáng cả con người lẫn một số khía cạnh trong tác vụ của Ngài.

Các danh hiệu liên quan tới căn tính của Chúa Giêsu Kitô :

- Hình ảnh trung thực của Thiên Chúa : “Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa ...” (Dt 1,3 x. Ga 14,9 2Cr 4,4 Cl 1,15).

- Khởi nguyên và Tận cùng : “Ta là Alpha và Ômêga, là Khởi nguyên và Tận cùng” (Kh 22,13 x. Kh 1,17 2,8 21,6).

- Lời của Thiên Chúa : Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời, Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga 1,1 x. Ml 3,1 Ga 1,14 1Ga 1,1 Xh 19,11).

- Ađam cuối cùng : “ ... Ađam cuối cùng là thần khí ban sự sống” (1Cr 15,45 x. Rm 5,14).

- Sao Mai sáng ngời : “Ta .... là Sao Mai sáng ngời” (Kh 22,16 x. 2Pr 1,19)

- Mặt trời mọc lên : “ ... Mặt Trời công chính sẽ mọc lên, mang theo các tia sáng chữa lành bệnh ...” (Ml 3,20 hay 4,2 x. Lc 1,78).

- Đấng Hằng Sống : “Ta là Đấng Hằng Sống ...” (Kh 1,18 x. Ga 5,26 11,25).

- Amen : “Đây là lời của Đấng Amen ...” (Kh 3,14 x. 2Cr 1,20).

- Ánh sáng thật : “Ngôi Lời là ánh sáng thật ...” (Gc 1,9 x. Is 8,2 Lc 2,32 G 3,19-21 8,12 12,46).

- Đấng Công Chính : “Anh em đã bỏ Đấng Thánh và Đấng Công Chính, mà lại xin ân xá cho một tên sát nhân” (Cv 3,14 . Gr 23,6 33,15-16 Cv 7,52 22,14).

- Sư tử chi tộc GIuđa : “Này đây, Sư Tử xuất thân từ chi tộc Giuđa” (Kh 5,5)

- Vua dân Do Thái : “Đức Vua dân Do thái mới sinh, hiện ở đâu ?” (Mt 2,1-2); “Người là Giêsu, vua dân Do thái” (Mt 27,37).

Các lời nghe lạ tai “Ta là” trong Phúc Âm theo thánh Gioan, có âm hưởng danh Thiên Chúa (x. Xh 3,14), tương đương ý nghĩa : “Ta hằng hữu” : “Thật tôi bảo thật các ông, trước khi có ông Abraham, thì tôi, Tôi Hằng Hữu” (Ga 8,58) (x. Ga 6,35) : Bánh sống ; 8,12 9,5 : Ánh sáng cho thế gian; 10,7-10 : cửa, 10,11-14 : mục tử nhân lành; 11,25 : sự sống lại và sự sống; 14,6 : con đường, sự thật và sự sống; 15,1-5 : cây nho thật).

Các danh hiệu liên quan tới sứ vụ của Chúa Giêsu Kitô :

- Dòng dõi Abraham (Gl 3,16 x. St 12,7 13,15 24,7).

- Chồi non và dòng dõi Đvít (Kh 2,16).

- “chứng nhân trung thành” (Kh 1,5).

- “Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23 x. Is 7,14 8,8).

- “Đá tảng góc tường” (Mt 21,42 // Mc 12,10 // Lc 20,7 x. Tv 118,22 Cv 4,11 Ep 2,20-21 1Pr 2,6-7).

- “Tảng đá ấy chính là Đức Kitô” (1Cr 10,4 x. Is 8,14 28,16 Rm 9,32-33 1Pr 2,8).

- Chàng rể (Ga 3,19 x. Mt 9,15 // Mc 2,19-20 // Lc 5,34-35 Mt 25,10 Kh 19,7 21,2).

- “Trưởng tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,29).

- Hoa quả đầu mùa (1Cr 15,23)

- “Trưởng tử trong số những người từ cõi chết trỗi dậy” (Kh 1,5).

Các danh hiệu liên quan đến uy quyền của Chúa Giêsu Kitô :

- Chúa : “Vua Đavít đã nói về Người rằng : Tôi luôn nhìn thấy Đức Chúa trước mặt tôi ...” (Cv 2,25 x. Mt 7,21 Lc 6,46 Ga 6,68 Rm 10,13 1Cr 3,5 Cl 3,23 1Tx 4,16-17 2Pr 1,11).

- “Đầu toàn thể Hội Thánh...” (Ep 1,22-23 4,15 5,23 Cl 2,19).

- “Vị Mục Tử tối cao” (1Pr 5,4 x. Mt 2,6 Mk 5,2 Ga 10,11 1Pr 2,25 Dt 13,20).

- “Thủ lãnh và Đấng Cứu Độ ...” (Cv 5,31).

- “Rabbi, nghĩa là Thầy ...” (Ga 1,38.49 20,16).

Các danh hiệu nhấn mạnh công trình cứu độ của Chúa Giêsu Kitô :

- Đấng Cứu độ : “Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,2)

- Người tôi trung đau khổ (x. Is 53,3)

- Chiên Vượt Qua : “Đức Kitô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta” (1Cr 5,7)

- Sừng cứu độ (x. 2Sm 22,3 Tv 18,3 Lc 1,69 bản dịch của NTT : uy cứu độ - cornu salutis).

- Niềm an ủi của Israel (x. Lc 1,68 2,25.38).

- Đấng cứu chuộc và vị Cứu Tinh (x. Rm 11,26 Is 53,20)

- Vị lãnh đạo thập toàn (x. Dt 2,20 5,9 12,2)

Các danh hiệu nhấn mạnh vai trò trung gian của Chúa Giêsu Kitô :

- Đấng Trung gian : “chỉ có một Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và loài người ...” (1Tm 2,5).

- Thượng tế : “ ... Đức Giêsu là Sứ Giả, là Thượng tế, là Trung Gian cho chúng ta” (Dt 3,1 x. Dt 2,17 6,20).

- Con Người : “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19,10 x. Mt 11,18 Lc 5,24 Ga 3,13 6,53 Cv 7,56 Kh 1,13).

https://giaophanphucuong.org/tu-ngu-kinh-thanh/