Trang

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2016

Công lý thương xót của Thiên Chúa là sự tha thứ

Công lý thương xót của Thiên Chúa là sự tha thứ



Công lý của Thiên Chúa là sự tha thứ, bởi vì Thiên Chúa không muốn kết án chúng ta, nhưng Ngài muốn cứu rỗi chúng ta. Chúa Giêsu là lòng thương xót nhập thể của Thiên Chúa Cha từ nhân. Là con cái của Thiên Chúa Cha từ bi chúng ta được mời gọi tiếp nhận ơn tha thứ và tha thứ cho các anh chị em khác.
 ĐTC Phanxicô đã nói như trên với tín hữu và du khách hành hương năm châu trong buổi tiếp kiến sáng thư tư hàng tuần hôm qua.
Trong bài huấn dụ ngài đã khai triển đề tài “lòng thương xót và công lý của Thiên Chúa”. ĐTC nói: Thánh Kinh giới thiệu Thiên Chúa với chúng ta như lòng thương xót vô biên, nhưng cũng như sự công thẳng hoàn hảo. Làm thế nào để hoà giải hai điều này? Thực tại của lòng thương xót được ăn khớp với các đòi buộc của công lý như thế nào đây? Xem ra chúng là hai thực tại trái nghịch nhau. Thật ra không phải như vậy, bởi vì chính lòng thương xót của Thiên  Chúa đưa tới chỗ thành toàn công lý đích thực. Nhưng chúng ta để cập tới công lý nào vậy?
Nếu nghĩ tới việc điều hành hợp pháp của công lý, chúng ta thấy rằng ai cho mình là nạn nhân của một bất công thì hướng tới một thẩm phán ở toà án và yêu cầu thực thi công lý cho mình. Đây là một công lý thưởng phạt, phạt kẻ có lỗi theo nguyên tắc của ai trả lại cho người ấy, như viết trong sách Châm Ngôn: “Người thực thi công chính được đi vào cõi sống, kẻ theo đuổi gian tà phải đến chốn tử vong.” (Cn 11,19). Chúa Giêsu cũng nói đến điều này trong dụ ngôn bà goá tới với thẩm phán nhiều lần và xin: “Xin hãy thực thi công lý cho tôi chống lại kẻ thù tôi” (Lc 18,3). ĐTC giải thích loại công lý này như sau:
Tuy nhiên con đường này không đưa tới công lý đích thực, bởi vì thật ra nó không chiến thắng sự dữ, nhưng chỉ gạt bỏ sự dữ ra một bên thôi. Trái lại, chỉ khi đáp trả lại sự dữ với sự thiện ta mới thực sự dữ chiến thắng sự dữ.
Đó là một kiểu thực thi công lý khác mà Thánh Kinh giới thiệu với chúng ta như con đường chính phải theo. Nó là một tiến trình tránh chạy tới toà án, và dự kiến rằng nạn nhân trực tiếp hướng tới kẻ có lỗi để mời gọi họ hoán cải, bằng cách giúp họ hiểu rằng họ đang làm sự dữ, và kêu gọi lương tâm của họ. Trong cách thế này, sau cùng khi đã hồi tâm và thừa nhận sự sai trái của mình, họ có thể rrộng mở cho sự tha thứ mà phiá bị tổn thương cống hiến cho họ. Và đây là điều hay đẹp: theo sau việc thuyết phục điều dữ, con tim rộng mở cho sự tha thứ được cống hiến cho nó. Đây là kiểu giải quyết các xung đột bên trong các gia đình, trong các tương quan giữa vợ chồng hay giữa cha me và con cái, trong đó người bị xúc phạm yêu thương người có lỗi, và ước mong cứu vãn tương quan giữa họ. Không chặt đứt tương quan ấy, liên lạc ấy.
Tiếp tục bài huấn dụ, ĐTC nói: Dĩ nhiên đây là một con đường khó khăn. Nó đòi hỏi người chịu sự sai trái sẵn sàng tha thứ và mong muốn ơn cứu rỗi và hạnh phúc cho người đã xúc phạm tới họ. Nhưng chỉ như thế công lý mới có thể chiến thắng sự dữ không còn nữa, và người đã bất công trở thành công chính, vì đã được tha thứ và được trợ giúp tìm lại được con đường sự thiện. Và chính ở đây liên quan tới ơn tha thứ và lòng thương xót.
Tiếp đến ĐTC khẳng định như sau:
Và Thiên Chúa hành động như vậy đối với chúng ta là những người tội lỗi. Chúa liên tục cống hiến cho chúng ta ơn tha thứ của Ngài, giúp chúng ta tiếp nhận nó và ý thức được sự dữ mà chúng ta đã làm để có thể tự giải thoát khỏi nó. Vì Thiên Chúa không muốn kết án chúng ta nhưng muốn cứu thoát chúng ta.
Thiên Chúa không muốn kết án ai hết! Một ai đó trong anh chị em có thể hỏi tôi: “Nhưng thưa cha, Ngài có đáng bị quan Philatô kết án không? Thiên Chúa có muốn sự kết án đó không? Không! Thiên Chúa muốn cứu quan Philatô và cả Giuđa nữa, Ngài muốn cứu tất cả mọi người! Ngài là Chủa của lòng thương xót muốn cứu vớt tất cả mọi người! Vấn đề đó là để Chúa bước vào trong con tim.
Tất cả các lời các ngôn sứ là một lời mời gọi tha thiết và tràn đầy tình yêu tìm kiếm sự hoán cải của chúng ta. Đó là điều Thiên Chúa phán qua ngôn sứ Edekiel: “Chẳng lẽ Ta lại vui thích khi kẻ gian ác phải chết … hơn là muốn cho nó từ bỏ đường lối của nó để được sống sao?” (Ed 18,23; 33,11), đây là điều Thiên Chúa thích.
Và đó là con tim của Thiên Chúa, con tim của một Người Cha yêu thương và muốn rằng con cái mình sống trong sự thiện và sự công chính, và vì thế sống tràn đầy và hạnh phúc. Một trái tim của Người Cha vượt xa hơn ý niệm công lý của chúng ta để rộng mở chúng ta cho các chân trời vô tận lòng thương của Ngài. Một con tim của Người Cha không xử với chúng ta theo các tội lỗi của chúng ta, và không trả cho chúng ta theo các lỗi lẫm của chúng ta, như thánh vịnh nói (Tv 103,9-10). Đó chính là con tim của người cha, mà chúng ta muốn gặp gỡ, khi chúng ta đi xưng tội. Có lẽ Ngài nói với chúng ta điều gì đó để giúp chúng ta hiểu sự dữ hơn, nhưng tất cả chúng ta đều đi đến toà giải tội để tìm một người cha giúp đỡ chúng ta thay đổi cuộc sống; một người cha trao ban cho chúng ta sức mạnh để tiến bước; một người cha tha thứ cho chúng ta nhân danh Thiên Chúa. Vì thế là cha giải tội là một trách nhiệm lơn lao biết bao, bởi vì người con trai con gái đó đến với bạn chỉ để tìm một người cha. Và bạn là linh mục ở trong toà giải tội, bạn ở đó trong chỗ của Thiên Chúa Cha là Đấng thi hành công lý với lòng thương xót của Ngài.
ĐTC đã chào các đoàn hành hương đến từ các nước Pháp, Thuỵ Sĩ, các nước nói tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, Ba Lan, Hoa Kỳ, Côte d’ Ivoire. Ngài cũng chào các tu huynh, nữ tu và thân nhân Hội Teutonico Đức quốc về Roma hành hương nhân kỷ niệm 825 thành lập.
Chào các nam nữ nghệ sĩ của đoàn xiệc America về các màn biểu diễn của họ ĐTC nói: Xin cám ơn anh chị em. Tôi muốn lập lại điều tôi đã nói tuần vừa qua với các nam nữ nghệ sĩ biểu diễn. Anh chị em biểu diễn cái đẹp và cái đẹp luôn đưa chúng ta tới gần Thiên Chúa. Vì thế xin cám ơn anh chị em. Nhưng tôi muốn nói một điều khác nữa: đàng sau việc biểu diễn đẹp ấy là biết bao nhiều thời giờ tập luyện vất vả. Tập luyện gây khó chịu. Thánh Phaolô nói để đi tới cùng chúng ta phải tập luyện, tập luyện, tập luyện để chiến thắng và đây là một gương cho tất cả chúng ta, vì cám dỗ của đời sống dễ dãi, tìm một kết thúc tốt và không cần phải cố gắng là môt cám dỗ, nhưng hôm nay với gương tập luyện của mình anh chị em làm chứng cho thấy cuộc sống không cố gắng liên tục là một cuộc sống tầm thường. Xin cám ơn anh chị em về mẫu gương này.
ĐTC cũng chào các thành viên Liên hiệp tĩnh tâm Italia và cầu chúc kinh nghiệm đức tin này được sống rộng rãi trong Năm Thánh Lòng Thương Xót. Chào đoàn hành hương tổng giáo phận Trento do ĐC Luigi Bressan và chính quyền tỉnh hướng dẫn ĐTC cám ơn vùng đã đảm trách làm hang đá Giáng Sinh rất đẹp tại quảng trường thánh Phêrô, mà tín hữu và du khách đã chiêm ngưỡng trong mấy tuần qua hôm nay là ngày cuối. Ngài cầu chúc việc bước qua Cửa Thánh với lòng tin cũng biến đổi con tim mỗi người để nó rộng mở cho tha nhân.
Chào các bạn trẻ người đau yếu và các đôi tân hôn ĐTC nhắc cho mọi người biết hôm qua là lễ nhớ thánh Biaggio, Giám mục tử đạo  của Mỹ. Ngài là vị giám mục đã dấn thân loan báo Tin Mừng cả trong những điều kiện khó khăn. ĐTC khích lệ các bạn trẻ can đảm làm chứng cho đức tin, người đau yếu dâng thập giá khổ đau mỗi ngày cho ơn hoán cải của những người sống xa Chúa Kitô, và các cặp vợ chồng mới cưới trở thành những nguời loan báo tình yêu của Chúa.
Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lậy Cha và phép lành toà thánh cho mọi người.
 
Tác giả: Linh Tiến Khải
Nguồn: http://vietvatican.net/

Thứ Tư, 3 tháng 2, 2016

Nhiệm Vụ Của Tông Đồ An-rê Trong Các Sách Tin Mừng

Nhiệm Vụ Của Tông Đồ An-rê Trong Các Sách Tin Mừng
Trong các Tin Mừng Nhất Lãm, An-rê, dù được xác định là anh của Simon Phê-rô, dường như đã bị đặt ở vị trí sau cặp anh em Gia-cô-bê và Gio-an, con của ông Dê-bê-đê.

Nhiệm Vụ Của Tông Đồ An-rê Trong Các Sách Tin Mừng

 


Nhiệm Vụ Của Tông Đồ An-rê Trong Các Sách Tin Mừng
 

Lm. Michael H. Crosby, OFMCap


Nhiều người cho rằng trong tất cả các tông đồ, An-rê là nhân vật  bí ẩn và bị hiểu lầm nhất.  Trong các Tin Mừng Nhất Lãm, An-rê, dù được xác định là anh của Simon Phê-rô, dường như đã bị đặt ở vị trí sau cặp anh em Gia-cô-bê và Gio-an, con của ông Dê-bê-đê. Ngay cả bà Dê-bê-đê cũng có một vai trò quan trọng hơn ông (Mt 20, 20-21; 27, 56). Để tìm hiểu những điều thú vị về An-rê, con của Jonah, ta phải nghiên cứu Tin Mừng Thứ Tư. Thế nhưng, có nhiều vấn để nảy sinh khi đọc Tin Mừng này, đặc biệt xung quanh việc tác giả hình như có ý định đề cao vai trò  của An-rê và như thế lại hạ thấp căn tính truyền thống và vai trò của Phê-rô, ít ra là trong một sự kiện quan trọng: gọi tên Chúa Giêsu là “Đức Kitô”.

Có lẽ một phần lý do chuyện mập mờ về An-rê là vì ông là người duy nhất được biết đến như là môn đệ của Gioan Tẩy Giả trong tất cả các tông đồ của Chúa Giêsu. Các mối quan hệ mơ hồ giữa các môn đệ của Gioan Tẩy Giả và môn đệ của Chúa Giêsu có thể dùng để giải thích chuyện vai trò của An-rê bị hạ thấp trong các Tin Mừng Nhất Lãm nhưng lại được nâng cấp trong Tin Mừng Thứ Tư.

 
An-rê trong Tin Mừng Nhất Lãm

An-rê được nhắc đến bảy lần trong ba Tin Mừng đầu tiên (Mc 1, 16, 29; 03, 18; 13, 3; Mt 1, 18; 10, 2; Lc 6, 14). Nơi duy nhất mà cả ba Tin Mừng cùng ghi tên An-rê là trong danh sách các tông đồ (Mc 3,14-19; Mt 10: 2-4; Luke 6,13-16). Tuy nhiên, trong Tin Mừng Mác-cô (3,18) và Lu-ca (6,14) tên của An-rê không nằm sau tên Si-môn Phê-rô, như trong Tin Mừng Mát-thêu (10, 2). Thay vào đó, tên Gia-cô-bê và Gio-an lại đứng trước tên ông (Mc 3, 18; Lc 6, 14). Cũng trong Tin Mừng Mác-cô, nơi đoạn kể về những người cùng ngồi với Chúa Giê-su trên núi Ô-liu, đối diện với Đền Thờ khi Chúa Giêsu báo trước sự tàn phá của nó (Mc 13, 1-2), lại một lần nữa tên bốn người đó được liệt kê như sau: "Phê-rô, Giacôbê, Gioan, và An-rê "(Mc 13, 3). An-rê, anh trai của Simon Phê-rô, được kể sau anh em nhà Dê-bê-đê.

Tin Mừng Lu-ca đề cập đến An-rê chỉ một lần (Luca 6: 14), sác Công Vụ Tông Đồ cũng thế. Khi kể tên những người ở Lầu Trên dịp lễ Ngũ Tuần, tương tự như trong Tin Mừng Luca, tác giả Công Vụ Tông Đồ cũng đặt tên An-rê ở vị trí như sau: "Phê-rô, Gio-an, Gia-cô-bê, An-rê" (Cv 1, 13).

Câu Mc 1,29 cho chúng ta biết rằng Simon và An-rê ở chung nhà, nhưng trong khi Tin Mừng Lu-ca viết về Gia-cô-bê và Gio-an như "bạn chài với ông Si-môn" (Lc 5, 8-9), thì chẳng có Tin Mừng nào đề cập đến chuyện An-rê làm nghề hay thuộc một gia đình chài lưới. Tuy nhiên, vì Tin Mừng Mác-cô và Mát-thêu đề cập đến việc Chúa Giêsu kêu gọi Phê-rô trước rồi đến An-rê khi họ đang ở trên thuyền của họ, ta có thể giả định rằng ông Giô-na, người cha của Phê-rô và An-rê, đã chết hoặc là ông ta không thể quán xuyến cái nghề chài lưới của gia đình được nữa; ông Giô-na không như cha của Gia-cô-bê và Gio-an, (người đã có mặt với hai con trên chiếc thuyền của gia đình).

Chúng ta có thể thấy rõ việc An-rê là “người ngoài cuộc” trong ba trình thuật được kể trong các sách Tin Mừng Nhất Lãm,  tên các tông đồ được nêu trong chuyện gồm Phê-rô, Gia-cô-bê, Gio-an, nhưng không có tên An-rê. Ba trình thuật đó là: chữa bệnh của các con gái của Gia-ia, trưởng hội đường (Mc 5, 37; Lc 8, 51); biến hình (Mc 9, 2;  17, 1; Lc 9, 28); và lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu (Mc 14, 34; Mt 26,37). Cuối cùng, theo Tin Mừng Luca, Chúa chỉ sai Phê-rô và Gio-an (không có tên An-rê và Gia-cô-bê) chuẩn bị cho bữa ăn lễ Vượt Qua (Lc 22, 8; Mc 14, 13).

Từ những điều vừa đề cập, chúng ta có thể nói rằng, dù có một ưu đãi đối với An-rê, khi Chúa Giêsu gọi Phê-rô và Anrê trước (Mc 1, 16-17; Mt 4, 18-19), nhìn tổng thể, các Tin Mừng Nhất Lãm đã đặt tên Gia-cô-bê và Gio-an trước tên An-rê, Thật vậy, khi Tin Mừng Lu-ca thuật lại việc Chúa kêu gọi các môn đệ, tên An-rê thậm chí không được nhắc tới trong tên những môn đệ được gọi  (Lc 5, 1-11). Rõ ràng, có chuyện gì đó đã xảy ra khiến An-rê trở thành một môn đệ hạng hai, đặc biệt trong mắt của Mác-cô và Lu-ca. Thực ra đây không phải là trường hợp với Mát-thêu và điều đó có thể giúp chúng ta hiểu tại sao.
 
An-rê trong Tin Mừng Thứ Tư

Tên An-rê được nhắc đến trong Tin Mừng Thứ Tư nhiều hơn bất cứ các Tin Mừng khác (Ga 1, 40, 44; 6, 8; 12,22 [2X]); thêm vào đó,  có một chỗ mô tả Bethsaida là "thành phố của An-rê và Phê-rô" (Ga 1:44).  Dù cho số lần tên "An-rê" được nhắc đến trong Tin Mừng Gioan vượt trội hơn các Tin Mừng Nhất Lãm, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy Tin Mừng Thứ Tư cho An-rê một vai trò hoàn toàn khác, không tìm thấy nơi các sách Tin Mừng Nhất Lãm. Hơn nữa, nếu vị trí của An-rê có vẻ như bị chuyển xuống sau cặp anh em Gia-cô-bê và Gio-an trong Tin Mừng Mác-cô và Lu-ca, thì chuyện đó sẽ khác hẳn trong Tin Mừng Thứ Tư. Trong Tin Mừng này, chính An-rê mời em mình là Si-môn làm môn đệ Chúa, và rồi còn quan trọng hơn thế nữa, không phải Phê-rô tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, nhưng chính An-rê đã loan báo điều này cho em mình là Si-môn. Chúng ta hãy đọc lại bản văn đó, như sau:

Sau khi ông Gio-an Tẩy Giả (đang đứng với hai môn đệ) công bố lần hai tên Đức Giê-su là "Chiên Thiên Chúa" (Ga 1, 29; 36)

Hai môn đệ này nghe ông nói thế… liền đi theo Đức Giê-su. Khi Đức Giê-su quay lại và thấy họ đi theo, Ngài nói với họ, " Các anh tìm gì thế?" Họ nói với ông: "Thưa Ráp-bi (nghĩa là thưa Thầy), Thầy ở đâu? Ngài nói với họ: " Người bảo họ: "Đến mà xem." Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười. Ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, là một trong hai người đã nghe ông Gio-an nói và đi theo Đức Giê-su. Trước hết, ông gặp em mình là ông Si-môn và nói: "Chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a" (nghĩa là Đấng Ki-tô). Rồi ông dẫn em mình đến gặp Đức Giê-su. Đức Giê-su nhìn ông Si-môn và nói: "Anh là Si-môn, con ông Gio-an, anh sẽ được gọi là Kê-pha" (tức là Phê-rô). (Ga 1, 37-42).

Tiếp theo khuynh hướng của Tin Mừng Thứ Tư giảm nhẹ vai trò của Phê-rô (và đặc biệt tạo sự tương phản với các đoạn văn nhấn mạnh đến sự độc đáo của Phê-rô trong Tin Mừng Mát-thêu (ví dụ, Mt 14, 28-31; 16, 17-19), tác giả của Tin Mừng Thứ Tư dường như đã cố gắng nêu tên An-rê trước Phê-rô ở một vài chỗ. Chúng ta nghe kể rằng: "Ông Phi-líp-phê là người Bết-xai-đa, cùng quê với các ông An-rê và Phê-rô", (Ga 1:44) Trong tường thuật nơi chương 6 của Tin Mừng Gio-an về phép lạ hóa bánh ra nhiều, chúng ta được biết rằng: " Một trong các môn đệ, là ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, thưa với Người: "Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu! "(Ga 6, 8). Và, có lẽ với một chút xem thường Phê-rô, (người được biết là bị một số kẻ ngoại Hy Lạp trong số những người Do Thái cải đạo thách thức), Tin Mừng Gioan kể cho chúng ta nghe rằng chính Phi-líp và An-rê thưa với Chúa Giêsu rằng có" người Hy Lạp "muốn tìm gặp Chúa": " Trong số những người lên Giê-ru-sa-lem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy người Hy-lạp. Họ đến gặp ông Phi-líp-phê, người Bết-xai-đa, miền Ga-li-lê, và xin rằng: "Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giê-su." Ông Phi-líp-phê đi nói với ông An-rê. Ông An-rê cùng với ông Phi-líp-phê đến thưa với Đức Giê-su."(Ga 12, 20-22).

Nhưng rồi chúng ta lại thấy xuất hiện một sự đảo ngược, và thứ tự các tên lại được xếp đặt như trong Tin Mừng Nhất lãm, tên An-rê  đứng sau Phê-rô, Giacôbê và Gioan (ít ra là trong Tin Mừng Mác-cô và Lu-ca), thật vậy, chúng ta không thấy tên An-rê nơi đoạn kết thứ hai của Tin Mừng Gioan, nơi mà tên Phê-rô và "các con trai của  Dê-bê-đê " đã được nhắc đến cùng với tên của các môn đệ khác. Nhìn thoáng qua, chúng ta có thể nói ở đây tác giả đã xử dụng một bản tường thuật có xu hướng thiên về truyền thống xem nhẹ An-rê. Chỗ được đề cập tới Biển Hồ Ti-bê-ri-a, nơi Chúa Giêsu "đã tỏ mình ra": " Ông Si-môn Phê-rô, ông Tô-ma gọi là Đi-đy-mô, ông Na-tha-na-en người Ca-na miền Ga-li-lê, các người con ông Dê-bê-đê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. "(Ga 21: 2). Có lẽ vì Chương 21 được thêm vào từ nguồn Ngoài Gio-an để phục hồi" và hòa giải” Phê-rô với Chúa Giêsu, qua đó, chúng ta đoán biết là có một sự đôi co / tranh luận giữa một bên là Tin Mừng Nhất Lãm (hay ít ra là  hai Tin Mừng Mác-cô và Lu-ca) có khuynh hướng hạ thấp An-rê và một bên là Tin Mừng Gio-an với khuynh hướng đề cao An-rê.
 
Kết luận

Tại sao lại có sự khác biệt rõ ràng này? Các Tin Mừng Nhất Lãm cho là, vì Chúa Giêsu đã nhận phép rửa của Gioan, nên Ngài là một môn đệ của Gioan Tẩy Giả (Mc 1, 9-11;  Matt 3, 3-17; Lc 3, 21-22). Và chỉ trong Tin Mừng Thứ Tư, chúng ta mới được biết là An-rê là một môn đệ của Gioan Tẩy Giả. Tin Mừng Thứ Tư  cũng ngụ ý rằng vì Chúa Giêsu đã chịu phép rửa của Gioan Tẩy Giả, nên việc này đã khiến Ngài trở nên một môn đệ của Gio-an (xem Ga 1, 32-33). Phải chăng có điều gì đó đặc biệt trong mối liên kết của họ với Gio-an Tẩy Giả như là những cựu môn đệ và tạo nên một mối quan hệ có một không hai giữa Chúa Giêsu và An-rê? Phải chăng điều này khơi dậy một sự ghen tuông nào đó được thể hiện trong ý đồ hạ thấp vai trò của An-rê mà chúng ta tìm thấy nơi Tin Mừng Mác-cô và Lu-ca? Phải chăng cái vị thế đặc biệt của An-rê trong mối liên hệ với Chúa Giêsu vì cả hai cùng là môn đệ của Gio-an Tẩy Giả đã khiến Mác-cô và Lu-ca cố gắng "đặt An-rê vào đúng vị trí của ông ta"? Chúng ta có chứng cớ để nói rằng hình như đã có một sự căng thẳng giữa các nhóm người cải đạo, những người xưa đã từng là đệ tử của Gio-an Tẩy Giả, những người vẫn còn là đệ tử của Gio-an Tẩy Giả, và những người không bao giờ là môn đệ của Gio-an Tẩy Giả. Trong ý nghĩa này, Raymond Brown viết: " 'bằng chứng hạn chế' về mối liên hệ giữa các môn đệ của Gio-an Tẩy Giả và các môn đệ của Chúa Giêsu cho phép chúng ta suy đoán rằng đã có tranh chấp giữa một bên là cộng đoàn theo thánh sử Gio-an và một bên là những môn đệ của Gio-an Tẩy Giả. (Raymond E. Brown,The Community of the Beloved Disciple: The Life, Loves, and Hates of an Individual Church in New Testament Times) [New York, et al.: Paulist Press, 1979].

Tin Mừng Thứ Tư rõ ràng đối xử với Phê-rô cách khác hẳn, không như cách chúng ta thấy trong các Tin Mừng Nhất Lãm, đặc biệt là Tin Mừng Mát-thêu (Tin Mừng này có khuynh hướng đề cao Phê-rô vượt hơn cả điều mà Mát-thêu tìm được từ các nguồn mà Mác-cô và Lu-ca cùng xử dụng). Sự khác biệt nơi Tin Mừng Gio-an là cách dùng “Nhóm Mười Hai” thay cho “các môn đệ”.  Cha Raymond E. Brown viết rằng “Thánh Sử Gioan muốn biểu tượng hóa nhóm đặc biệt của các Kitô hữu với hình tượng của Phê-rô và Nhóm Mười Hai” (Ga 6, 60-69) và bởi vì sự tương phản có chủ ý và kiên định giữa Phê-rô và người Môn Đệ Được Sủng Ái, cũng là người hùng của cộng đoàn Gio-an”, người được nhắc đến trong năm hay sáu đoạn Tin Mừng …. và điều này rõ ràng tương phản với Phê-rô.” Cha Brown lý luận rằng “khi đem người anh hùng của họ đối nghịch với người nổi nhất trong Nhóm Mười Hai, một cách biểu tượng cộng đoàn của thánh sử Gio-an (1) đang tự mình đối nghịch với các giáo hội kính trọng Phê-rô và Nhóm Mười Hai – còn gọi là các Giáo Hội Tông Đồ, và cũng được các học giả đặt tên là ‘Giáo Hội Cả’” (Community of the  Beloved Disciple, 82-83).

Như đã biết Tin Mừng Thứ Tư giảm nhẹ vai trò của Phê-rô (ít ra là so với Tin Mừng Mát-thêu), chúng ta có thể suy đoán về lý do mà An-rê, chứ không phải là Phê-rô (Mc 8,29; Mt 16,16; Lc 19,20) là người đã nhận ra Đức Giê-su là  Đấng Ki-tô (Ga 1, 41). Thật vậy, An-rê không chỉ nhận ra Ngài là Đấng Mê-si-a, nhưng chính ông đã nói cho Phê-rô biết thông tin đó. Chuyện này cho thấy ý đồ của thánh sử Gio-an muốn đánh đổ truyền thống cho rằng Phê-rô là người đầu tiên đã gọi Đức Giêsu là Đấng Ki-tô.

Với lập luận trên, Cha Brown nhận định rằng: trái ngược với trình thuật thời thơ ấu trong Tin Mừng Mát-thêu và Lu-ca, Lời Tựa của Tin Mừng Gio-an làm nổi bật sự tiền hữu (2) của Chúa Giê-su với câu Ngôi Lời đã trở nên người phàm (Ga 1, 1-18). Và “Kitô học, nền tảng cho niềm tin của các Kitô hữu thời các tông đồ chưa có ý niệm đầy đủ về sự tiền hiện hữu của Chúa Giê-su và nguồn gốc từ trên cao của Ngài.” Trong khi hai Tin Mừng Mát-thêu và Lu-ca thừa nhận việc Chúa được sinh ra mà không cần một người cha trần thế, cả hai Tin Mừng này không chứa đựng một “thượng Kitô học” với những chỉ dấu về sự tiền hữu (Community of the Beloved Children). Từ cách nhìn đó, chúng ta có thêm một dấu chỉ về sự khác biệt trong vai trò của An-rê nơi Tin Mừng Nhất Lãm và Tin Mừng Thứ Tư.  Phải chăng chúng ta có thể tìm được lời giải thích cho sự khác biệt đó bằng cách đọc kỹ phần cuối đoạn 1 của Tin Mừng Gio-an?  Thật vậy, ngay sau khi Chúa mời gọi An-rê “ở lại” với mình (để trở nên một môn đệ Chúa cùng với một đồ đệ khác của Gio-an Tẩy Giả), và An-rê đã giới thiệu Chúa Giê-su là “Đấng Mê-si-a” cho Si-mon, người được Chúa đặt tên là Phê-rô (Ga 1. 42), chúng ta nghe được cuộc tranh luận của Na-tha-na-en về nguồn gốc của Chúa (Ga 1, 43-51)? Ở đoạn văn đó, sự tiền hữu của Chúa Giêsu được diễn đạt một cách thân mật với việc Ngài được gọi tên là Con Thiên Chúa và Con Người, thêm vào những danh hiệu khác đã có trước.
 
The Bible Today – Jan/Feb 2016
 

---------------------------------------

Chú thích:

1/ Cộng Đoàn Thánh Sử Gioan là một mạng lưới các giáo hội ở vùng Tiểu Á, gồm những tín hữu di cư từ Palestine tới đó sau biến cố thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá năm 70. Có giả thuyết cho rằng bốn bản văn Tân Ước gồm Tin Mừng Gio-an và ba thư của Gio-an có gốc gác từ cộng đoàn này, khi các thành viên của cộng đoàn có những tranh luận tôn giáo với những người Do Thái gốc Giu-đê-a, bao gồm cả những môn đệ của thánh Gio-an Tẩy Giả.

2/ Tiền hữu –từ thần học. Pre-existence:  Tiên tồn, tồn tại từ trước, tính tiên tồn, tồn tại tiên nghiệm, tiền hữu, tiền thế [như Phúc âm Gioan, Ngôi Lời trước khi nhập thể, thì đã có từ nguyên thủy; hay như quan niệm linh hồn đã có từ đời đời] (Tự Điển Thần Học Tín Lý Anh Việt, VietMissio 1996).
Đọc số 444 của Giáo Lý Công Giáo – năm 1992  (536, 554). Vào hai thời điểm quan trọng, Phép Rửa và Hiển Dung của Đức Ki-tô, các sách Tin Mừng ghi lại tiếng Chúa Cha gọi Đức Giê-su là "Con yêu dấu" ( x.Mt.3,17; 17,5) của Người. Chính Đức Giê-su cũng tự xưng là "Con Một của Thiên Chúa" (Ga 3,l6) và qua danh hiệu đó, xác nhận mình tiền hữu từ muôn thuở ( x.Ga l0,36). Người đòi phải tin vào "danh Con Một Thiên Chúa" (Ga 3,l8). Lời tuyên xưng này của Ki-tô giáo đã xuất hiện ngay từ trong tiếng kêu của viên đại đội trưởng đứng đối diện với Đức Giê-su trên Thập Giá : "Quả thật ông này là Con Thiên Chúa" (Mc l5,39). Chỉ trong mầu nhiệm Phục Sinh, người tín hữu mới hiểu được đầy đủ danh hiệu "Con Thiên Chúa".
 

 

Tác giả bài viết: Lucas Khổng Kim Quang dịch và chú thích.

Phó thác

Phó thác





Như chiếc lá cuối thu
Giữa phong ba bão táp
Đời con thật bé nhỏ
Giữa cuộc đời, Chúa ơi !

Thân cô đơn lữ thứ
Dặm đường dài xa xôi
Xác thân sao yếu đuối
Bao giờ đến Nước Trời !

Mơ một ngày gặp Chúa
Trong đêm dài cô liêu
Chúa ơi, Chúa có thấu !
Lòng phó thác muôn chiều.

Như chiếc lá cuối thu
Bơ vơ giữa mưa bão
Đời con bao khổ lụy
Phó thác Ngài, Chúa ơi.

 NGUYỄN THÁI HÙNG

thơ. một cõi riêng 31

Thương yêu

Thương yêu



Lạy Chúa
Trước biển cả bao la
Con thấy mình nhỏ bé
Như hạt cát, mưa sa
Mà sao Chúa nhớ đến.

Tảng đá kia có lẻ
Ngàn năm đã nằm đây
Hồn đá đây có thể
Ca tụng Chúa mỗi ngày
Sóng vỗ về nỗi nhớ
Kiếp sỏi đá buồn tênh !

Lạy Chúa,
Tấm thân con tội lỗi
Bao ngày tháng năm qua
Lòng con đầy sám hối
Trong tình Chúa bao la.

Phận con người phù du
Phía tương lai sa mù
Bóng thời gian rượt đuổi
Chúa một lòng thương yêu.

NGUYỄN THÁI HÙNG
thơ. một cõi riêng 30


Thứ Ba, 2 tháng 2, 2016

Fabiola Gianotti: “Tôi tin ở Chúa. Khoa học và đức tin không xung khắc nhau”

Fabiola Gianotti: “Tôi tin ở Chúa. Khoa học và đức tin không xung khắc nhau”

  - 


aleteia.org, Unione Cristiani Cattolici Razionali, 2016-01-10
Fabiola Gianotti
Nữ tân giám đốc Trung tâm Âu Châu Nghiên cứu Hạt nhân CERN tuyên bố mình là người có đức tin và khẳng định không có xung khắc giữa việc làm khoa học của mình và đức tin.
Bà Fabiola Gianotti, nhà vật lý học người Ý, được bầu làm Giám đốc Trung tâm Âu Châu Nghiên cứu Hạt nhân CERN, một trung tâm rất hiện đại có trụ sở ở Genève (Thụy Sĩ). Từ ngày 1 tháng 1-2016, bà Fabiola Gianotti điều khiển phòng thí nghiệm nghiên cứu vật lý hạt nhân lớn nhất hành tinh. Bà là phụ nữ đầu tiên ở chức vụ này, một lựa chọn xứng đáng để góp phần lớn lao vào việc khám phá hạt boson của Higgs, phần tử-chính yếu của sự tồn tại con người.
“Khoa học sẽ không bao giờ chứng minh được có Chúa tồn tại hay không tồn tại”
“Phụ nữ khoa học” như bà vẫn tự nhận là một trong các nhà khoa học nổi tiếng nhất thế giới. Ngày 6 tháng 1 vừa qua, bà được nữ ký giả Lilli Gruber của chương trình truyền hình Ý “Otto e mezzo” mời nói chuyện. Trực tuyến từ Genève, tân giám đốc Trung tâm CERNn đã trả lời nhiều câu hỏi liên quan đến vật lý hạt nhân, nhưng bà cũng trả lời các câu hỏi liên quan đến khoa học và đức tin: “Khoa học và tôn giáo là hai lãnh vực khác nhau và phải ở như vậy”, bà Gianotti cho biết: khoa học được xây dựng trên thử nghiệm các sự kiện, trong khi tôn giáo xây dựng trên những nguyên tắc hoàn toàn đối lập, nói một cách khác, đó là đức tin, là tín ngưỡng và vì thế càng đáng khen hơn cho những ai không thấy mà tin. Khoa học sẽ không bao giờ chứng minh được có Chúa tồn tại hay không tồn tại. Và tôi tin nó sẽ không bao giờ chứng minh được”.
Trả lời câu hỏi của nữ ký giả Lilli Gruber bà có tin ở Chúa không, nhà khoa học đã trả lời ngắn gọn: “Có, tôi tin có Chúa.” Nữ ký giả hỏi tiếp: khoa học có tương hợp với đức tin không? “Tuyệt đối tương hợp. Không có nghịch lý ở đây. Quan trọng là phải để hai lãnh vực này tách biệt nhau: tin và không tin, không phải ngành vật lý sẽ cho câu trả lời.”
“Tôi không thấy một nghịch lý nào giữa khoa học và đức tin”
Một vài ngày trước đây, trong một cuộc phỏng vấn với báo La Repubblica, tân giám đốc Trung tâm CERN khẳng định: “Khoa học và tôn giáo là hai lãnh vực tách biệt nhau, dù không phải là không trái ngược nhau. Người ta có thể là nhà vật lý và có đức tin hoặc ngược lại. Tốt hơn nên có một khoảng cách giữa Chúa và khoa học”. Bà cũng đã nói trên báo Gia đình Công giáo năm 2010: “Tôi không thấy có một nghịch lý nào giữa khoa học và đức tin: chúng nói lên hai phạm vi khác nhau. Chúng ta sẽ quá tham vọng và ngạo nghễ nếu chúng ta có thể giải thích nguồn gốc của thế giới. Những gì chúng ta có thể làm về mặt khoa học là tiến từng bước nhỏ và thu thập hiểu biết. Nhưng như Newton đã nói, những gì chúng ta biết chỉ là một giọt nước so với đại dương của những điều chúng ta không biết, vậy chúng ta còn lâu mới trả lời được cho loại câu hỏi này”.
Đương nhiên chẳng có gì lạ qua kinh nghiệm đức tin của bà Fabiola Giannotti, kinh nghiệm này cũng như kinh nghiệm của một linh mục, một người thợ hay bất cứ ai. Và nhất là, bà chỉ là một trong hàng ngàn nhà khoa học cũng tin như thế.
Phúc cho ai không thấy mà tin!
Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch

300 nhà lãnh đạo hồi giáo đưa ra “khuôn mặt thật của hồi giáo”

300 nhà lãnh đạo hồi giáo đưa ra “khuôn mặt thật của hồi giáo”  - 


cath.ch, Raphael Zbinden, 2016-01-25
TOPSHOTS-SAUDI-RELIGION-ISLAM-HAJJ
Từ ngày 25 đến 27 tháng 1-2016, 300 nhà trí thức, chính trị gia, chức sắc cao cấp của hồi giáo trên toàn thế giới về Marrakech, Marốc họp để long trọng tuyên bố hồi giáo phải bảo vệ các nhóm tôn giáo thiểu số.
Hãng tin công giáo Crux cho biết, buổi gặp gỡ quy tụ các giáo sư đại học, các nhà làm luật hồi giáo, các chức sắc cao cấp hồi giáo, các bộ trưởng phụng tự của các Quốc gia có đa số dân là người hồi giáo như Pakistan, Irak, Nigeria, Ả rập Xauđi, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Marốc. Mục đích là để công bố một tuyên ngôn nhấn mạnh đến việc phải bảo vệ các nhóm tôn giáo thiểu số, kể cả các tín hữu kitô, việc bảo vệ này đã ăn sâu trong truyền thống hồi giáo. Họ cũng muốn chứng tỏ nhóm Nhà nước Hồi giáo Tự xưng và các lực lượng tương tự đã sai đường lạc lối.
Các nhà tổ chức đoan chắc, từ 1400 năm nay, đây là lần đầu tiên trong lịch sử hồi giáo có cuộc họp này.
Các “nhân vật quan trọng” chú giải kinh Coran
Các nhà tham dự khẳng định “hiến chương Médine” mà tiên tri Mahomet tuyên bố năm 622 – được một số người xem đây là Hiến chế đầu tiên của thế giới – đòi hỏi sự bảo vệ tự do tôn giáo và quyền cho các nhóm thiểu số.
Cuộc họp này được Vương quốc Marốc và Diễn đàn cổ động hòa bình trong các xã hội Hồi giáo, một tổ chức đặt trụ sở ở Emirat ả rập thống nhất, hỗ trợ. Thủ lãnh hồi giáo người gốc Mauritania, Abdullah bib Bayyah, điều khiển cuộc họp, ông là chuyên gia chú giải kinh Coran, ông nổi tiếng về tầm nhìn bao dung các bản văn thiêng liêng.
Giáo sư Hamza Yusuf ở Đại học Berkeley, California xác nhận với hãng tin Crux tầm quan trọng của vai trò người điều khiển. “Trong thế giới sunnit, có lẽ ông là chuyên gia nổi tiếng nhất trong lãnh vực luật hiến chế, sự xuất hiện pháp chế trong truyền thống hồi giáo”, giáo sư khẳng định. Giáo sư người Mỹ Yusuf cho biết vị lãnh đạo Abdullah bib Bayyah rất đau lòng trước những chuyện xảy ra trong thế giới hồi giáo, nhất là việc áp bức người yézidi ở Irak, người Do Thái ở Yemen, người Kitô giáo ở Syria và Ai Cập.
Đâu là ảnh hưởng?
Thường thường, các sáng kiến “ôn hòa” của người hồi giáo thu phục được người Phương Tây nhưng không thu phục được tín hữu hồi giáo trong thế giới hồi giáo, vì các sáng kiến này không phải là những hình ảnh chủ chốt như những hình ảnh có một vị thế ở “ngoài đường” của hồi giáo, giáo sư giải thích.
Trong trường hợp cuộc họp thượng đỉnh ở Marrakech, các sự việc khác một chút. Bên cạnh Quốc vương Marốc, nhóm hội thảo gồm một cựu chánh án Tòa Thượng thẩm Pakistan và Giám đốc Phân khoa nghiên cứu hồi giáo ở Viện Hàn lâm khoa học Iran.
Giáo sư Hamza Yusuf ghi nhận, sự hiện diện của hai nước Pakistan và Iran, nơi mà nhân quyền và tự do tôn giáo thường có vấn đề, thì đây là một dấu hiệu đáng khích lệ. Ông nhấn mạnh, “sẽ không bao giờ có các thay đổi lớn trong nội bộ hồi giáo để tiến đến chủ nghĩa đa thể chế, nếu không có hai Quốc gia này tham dự”.
Một dấu hiệu đáng khích lệ khác là có sự hiện diện các đại diện các cộng đoàn tôn giáo thiểu số đến từ các nước hồi giáo, nhất là các tín hữu kitô người Irak và Palestina. Hồng y Mỹ về hưu  Theodore Mc Carrick đại diện Giáo hội công giáo.
Các nhà tổ chức phát biểu họ ước mong gặp Đức Giáo hoàng để trình lên ngài bản tuyên bố cuối cùng của cuộc họp.
Giuse Nguyễn Tùng Lâm chuyển dịch

Đức Phanxicô nói với Bộ Giáo Lý Đức Tin: nối kết lý thuyết với thực hành

Đức Phanxicô nói với Bộ Giáo Lý Đức Tin: nối kết lý thuyết với thực hành


 
Tác giả: 
 Vũ Văn An

Trong bài “Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng về Gia Đình sẽ được công bố vào tháng Ba này”, chúng tôi có nhắc đến việc Bộ Giáo Lý Đức Tin được hỏi ý kiến về bản dự thảo Tông Huấn và nhận định của nhiều người cho rằng dù góp rất nhiều ý kiến, nhưng rất có thể Đức Phanxicô sẽ không lấy ý kiến nào của Bộ này.

Nhận định trên dường như đã được củng cố vào ngày 29 tháng 1, khi ngài tiếp kiến Bộ này tại Vatican. Thực vậy, trong buổi tiếp kiến này, Đức Phanxicô đã tập chú vào chủ đề Năm Thương Xót, và cho hay: “Lòng thương xót là nền tảng của đời sống Giáo Hội: vì sự thật đầu tiên của Giáo Hội quả thực là tình yêu của Chúa Kitô”.

Ngài cho biết thêm: khi bảo vệ sự toàn vẹn của tín lý Kitô Giáo, Bộ Giáo Lý Đức Tin chủ yếu liên hệ với việc thương người về phần hồn (như lấy lời lành khuyên người, mở dạy kẻ mê muội, răn bảo kẻ có tội). Các việc này tự nhiên có liên hệ với việc giúp đỡ người nghèo và người túng thiếu về vật chất, qua các nối kết với cơ quan bác ái Kitô Giáo.

Ngài nhấn mạnh: “Quả thực, đức tin Kitô Giáo không phải chỉ là các nhận thức để học thuộc lòng, mà còn là sự thật để sống trong yêu thương”.

Để bảo toàn sự toàn vẹn ủa Đức Tin, Bộ Giáo Lý Đức Tin phải cố gắng bảo đảm sự tinh tuyền của tín lý nhưng cũng phải “bảo toàn cả sự toàn vẹn của phong hóa nữa”. Đức Tin vào Chúa Kitô bao gồm cả việc nhất trí về nhận thức mà còn phải đáp ứng về luân lý nữa.

Trong bài nói chuyện của ngài, Đức Phanxicô đề cập tới ba điểm: mối tương quan qua lại giữa các việc thương người về phần xác và về phần hồn; tầm quan trọng của tính hợp đoàn trong đời sống và việc cai quản Giáo Hội; mối tương quan bổ túc cho nhau giữa các ơn đặc sủng và các ơn phẩm trật trong đời sống và sứ mệnh của Giáo Hội.

Sau đây là nguyên văn bài nói chuyện của Đức Thánh Cha:

Anh chị em thân mến,

Tôi gặp anh chị em lúc anh chị em kết thúc các việc làm trong buổi họp toàn thể. Tôi xin thân ái chào mừng anh chị em và cám ơn Đức Hồng Y Bộ Trưởng về những lời lẽ lịch sự của ngài.

Chúng ta đang trong Năm Thánh Lòng Thương Xót. Tôi hy vọng trong Năm Thánh này, mọi chi thể Giáo Hội sẽ canh tân đức tin của mình vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng là gương mặt của lòng Chúa Cha thương xót, là đường nối kết Thiên Chúa vói con người. Do đó, lòng thương xót tạo nên đầu cột (architrave) nâng đỡ đời sống Giáo Hội: sự thật đầu tiên của Giáo Hội, quả thực, là tình yêu của Chúa Kitô. Như thế, làm sao ta có thể không muốn toàn thể tín hữu Kitô Giáo, cả các mục tử lẫn các giáo dân, tái khám phá và đặt ở tâm điểm, suốt trong Năm Thánh này, các việc thương người về phần xác lẫn phần hồn? Và, khi hoàng hôn cuộc đời diễn ra, chúng ta sẽ bị chất vấn xem liệu ta có cho người đói ăn và cho người khát uống không, chúng ta cũng sẽ bị chất vấn xem liệu chúng ta có giúp đỡ người ta hết hoài nghi, chúng ta có cam kết tiếp nhận người tội lỗi, khuyên bảo và sửa trị họ hay không, chúng ta có khả năng chống u mê, nhất là liên quan tới đức tin Kitô Giáo và cuộc sống tốt. Lưu ý tới các việc thương người là điều quan trọng:  chúng không phải là việc sùng kính. Đây là tính cụ thể của việc các Kitô hữu phải thăng tiến tinh thần thương xót ra sao. Trong các năm này, có lần tôi tiếp đón một Phong Trào quan trọng tại Đại Sảnh Phaolô VI; phòng đầy người. Và tôi đề cập tới chủ đề các việc thương người. Tôi dừng lại và đặt câu hỏi: “Có ai trong anh chị em nhớ rõ các việc thương người về phần xác và về phần hồn là những việc gì không? Ai biết xin giơ tay”. Chỉ có khoảng 20 người trong số 7,000 người trong Đại Sảnh (giơ tay). Ta phải dạy lại các tín hữu về điều này, nó rất quan trọng.

Trong đức tin và đức mến, ta thấy có một mối tương quan có tính nhận thức và kết hợp với mầu nhiệm tình yêu, là chính Thiên Chúa. Và, dù Thiên Chúa vẫn luôn là một mầu nhiệm trong chính Người, lòng thương xót hữu hiệu của Người đã trở thành lòng thương xót đầy cảm xúc trong Chúa Giêsu, sau khi làm Người thành người để cứu chuộc loài người. Ở đây, trách vụ được ủy thác cho thánh bộ của anh chị em tìm được nền tảng tối hậu và sự biện minh riêng của nó. Thực vậy, đức tin Kitô Giáo không phải chỉ là nhận thức để lưu giữ trong ký ức, mà còn là sự thật để sống trong yêu thương. Do đó, cùng với Giáo Lý Đức Tin, điều cũng cần thiết là bảo vệ tính toàn vẹn của các phong hóa, nhất là trong các lãnh vực tế nhị nhất của đời sống. Sự gắn bó của Đức Tin vào con người Chúa Kitô bao hàm cả hành vi lý trí lẫn đáp ứng luân lý đối với các ơn phúc của Người. Về phương diện này, tôi cám ơn anh chị em về mọi cam kết và trách nhiệm mà anh chị em đang thừa hành trong việc xử lý các trường hợp giáo sĩ lạm dụng trẻ vị thành niên.

Săn sóc sự toàn vẹn của đức tin và phong hóa là một trách vụ tế nhị. Muốn thi hành sứ mệnh này cách tốt đẹp, điều quan trọng là phải có sự cam kết có tính hợp đoàn. Thánh bộ của anh chị em biết đánh giá rất cao sự đóng góp của các tham vấn viên và ủy nhiệm viên, những người tôi muốn cám ơn về việc làm qúy gía và khiêm nhường của họ; và tôi khuyến khích anh chị em tiếp tục thói quen xử lý các vấn đề trong các buổi họp hàng tuần của anh chị em và các vấn đề quan trọng hơn ở buổi họp thường lệ hay toàn thể. Tính hợp đoàn đúng đắn phải được phát huy ở mọi bình diện của đời sống Giáo Hội. Về phương diện này, năm ngoái, anh chị em đã tổ chức một hội nghị hợp thời, với các đại diện của Các Ủy Ban Tín Lý của Các Hội Đồng Giám Mục Âu Châu, để cùng hợp đoàn bàn luận một số thách đố về tín lý và mục vụ. Nhờ thế, anh chị em đã góp phần vào việc làm sống dậy nơi tín hữu một thúc đẩy truyền giáo mới và mở tâm hồn rộng hơn đón nhận chiều kích siêu việt của sự sống, mà nếu không có nó, Âu Châu sẽ liều mình đánh mất tinh thần nhân bản mà nó vốn yêu thích và bảo vệ. Tôi mời gọi anh chị em tăng cường hơn nữa sự cộng tác với các cơ quan cố vấn này, những cơ quan đang giúp các hội đồng giám mục và các giam mục cá thể trong mối lo âu của các ngài đối với tín lý thánh thiện, vào lúc có những thay đổi nhanh chóng và sự phức tạp mỗi ngày mỗi gia tăng trong các vấn đề.

Một đóng góp quan trọng khác nữa của anh chị em vào việc canh tân đời sống Giáo Hội là việc nghiên cứu tính bổ túc cho nhau giữa các ơn phúc phẩm trật và đặc sủng. Theo luận lý học hợp nhất trong dị biệt hợp pháp, một luận lý học từng định tính cho mọi hình thức hiệp thông chân chính trong Dân Chúa, các ơn phúc phẩm trật và đặc sủng được kêu gọi đồng công hiệp lực vì lợi ích của Giáo Hội và thế giới. Ngày nay, chứng từ của tính bổ túc cho nhau này càng khẩn thiết hơn bao giờ hết và nó nói lên một biểu thức hùng hồn của tính đa dạng có trật tự vốn bao hàm mọi cơ cấu Giáo Hội, như là phản ảnh sự hiệp thông hoà điệu nó vẫn sống trong trái tim Thiên Chúa, Thiên Chúa Duy Nhất và Ba Ngôi. Mối tương quan giữa các ơn phúc phẩm trật và đặc sủng quả nhắc ta nhớ tới cội rễ Ba Ngôi của nó, trong mối dây nối kết giữa Ngôi Lời Nhập Thể của Thiên Chúa và Chúa Thánh Thần, Đấng luôn là ơn phúc của Chúa Cha và Chúa Con. Quả thực, nếu cội rễ này được nhìn nhận và tiếp nhận với lòng khiêm nhường, nó sẽ giúp Giáo Hội có khả năng để mình được canh tân mọi thời mọi lúc như “một dân dẫn khởi được sự hợp nhất của mình từ sự hợp nhất của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” theo kiểu nói của Thánh Cyprianô (De Oratione Dominica, 23). Tính hợp nhất và tính đa dạng là dấu ấn của một Giáo Hội, nhờ được Chúa Thánh Thần linh hứng, đã có thể lên đường bằng những bước chân chắc chắn và trung thành hướng tới các mục tiêu mà Chúa Sống Lại đã chỉ cho mình xuyên suốt lịch sử. Ở đây, ta thấy rõ: một khi được hiểu chính xác, năng động tính hợp đoàn sẽ phát sinh ra từ việc hiệp thông và sẽ dẫn tới một việc hiệp thông còn được thể hiện, thâm hậu hóa và mở rộng hơn nữa để phục vụ đời sống và sứ mệnh của Dân Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến, Tôi cam đoan sẽ tưởng nhớ đến anh chị em trong lời cầu nguyện và tin tưởng anh chị em sẽ cầu nguyện cho tôi. Xin Chúa chúc lành cho anh chị em và xin Đức Mẹ che chở anh chị em.