BÀI 33: ĐIỀU RĂN VI – CHỚ LÀM SỰ DÂM DỤC
DẪN NHẬP
– “Ngươi không được ngoại tình” (Xh 20,14).
– “Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình rồi” (Mt 5,27-28).
– “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5, 8).
1. Dâm dục là gì?
– Từ ngữ: Dâm: nghĩa là hành vi tình dục sai trái, không đứng đắn; Dục: ham muốn. Dâm dục là ham muốn xác thịt quá mức (Từ điển Công giáo).
– Dâm dục, còn gọi là mê dâm dục, là ham muốn tình dục cách vô trật tự hay vô độ, chỉ tìm kiếm khoái lạc để hưởng thụ, chứ không nhằm mục đích sinh sản và kết hợp trong tình yêu (x. Sách GLHTCG, số 2351).
– Dâm dục là một hành vi thiếu trong sạch về thể xác và tinh thần, biến con người thành đồ vật, trò chơi và nô lệ của tình dục. Dâm dục hạ thấp nhân phẩm và làm sai lệch giá trị hành vi tính dục tự nhiên của con người (SGLHTCG, số 2351).
2. Nhu cầu tình dục của con người
– Về từ ngữ:
+) Tình: sự yêu đương nam nữ;
+) Dục: lòng ham muốn
– Định nghĩa: Tình dục là nhu cầu sinh lý tự nhiên của con người mà Thiên Chúa quan phòng ban tặng để người nam và người nữ thể hiện tình yêu hợp nhất với nhau trong trách nhiệm lưu truyền sự sống (Từ điển Công giáo).
– Tình dục là ngôn ngữ diễn tả tình yêu, nhưng hành vi tình dục chỉ hợp pháp và hợp đạo đức trong đời sống hôn nhân, khi được thực hiện cách chính đáng và tiết độ, xứng hợp với phẩm giá con người (Sách GLHTCG, số 2363).
– Như thế, mọi quan hệ tình dục ngoài hôn nhân đều trái ngược với Luật Chúa, Luật Giáo hội và đạo đức xã hội. Thánh Kinh luôn lên án các quan hệ tình dục ngoài hôn nhân. Thánh Phao-lô đã viết cho giáo dân Cô-rin-tô như sau: “Anh em hãy tránh xa tội tà dâm. Mọi tội người ta phạm đều ở ngoài thân xác mình, còn kẻ gian dâm thì phạm đến chính thân xác mình” (1 Cr 6,18). Nơi khác, thánh Phao-lô viết: “Chuyện gian dâm, mọi thứ ô uế hay tham lam, thì dù nói đến, anh em cũng phải tránh, như thế mới xứng đáng là những người trong dân thánh” (Ep 5,3).
3. Đức khiết tịnh Ki-tô giáo
– Từ ngữ:
+) Đức: Phẩm chất tốt đẹp;
+) Khiết: sạch sẽ;
+) Tịnh: không bợn nhơ.
=> Khiết tịnh: sạch sẽ, không bợn nhơ.
– Định nghĩa: “Khiết tịnh là việc làm chủ giới tính, tiết chế và điều chỉnh các ham muốn tính dục cho phù hợp với những nguyên tắc của lẽ phải và luật của Thiên Chúa” (Từ điển CG).
– Mục đích của đức khiết tịnh là tôn trọng phẩm giá của bản thân và của người khác. Nhờ sống khiết tịnh, con người thống nhất được đời sống thể lý và tinh thần (Sách GLHTCG, số 2337).
– Ở bất cứ bậc sống nào, con người đều được mời gọi sống khiết tịnh. Đối với Ki-tô hữu, khuôn mẫu của đức khiết tịnh là Chúa Giê-su Ki-tô. Người là Thiên Chúa quyền năng và thánh thiện. Ki-tô hữu là người noi gương Đức Ki-tô và cố gắng nỗ lực để trở nên giống như Người trong hành động cũng như trong tư tưởng.
+) Đức khiết tịnh trong bậc gia đình đòi hỏi sự trung thành trong tình yêu phu phụ, lắng nghe và tôn trọng lẫn nhau. Sự ngoại tình, dù chỉ trong ước muốn, là lỗi đức khiết tịnh.
+) Đức khiết tịnh trong bậc độc thân thánh hiến (linh mục, tu sĩ) đòi hỏi sự tiết dục hoàn toàn và vĩnh viễn để tận hiến trọn vẹn con người cho Thiên Chúa và phục vụ tha nhân (Sách GLHTCG, số 2349).
– Thánh Am-brô-si-ô đã diễn tả như sau: “Có ba hình thức sống đức khiết tịnh: một là của bậc phu phụ; thứ đến của người góa bụa và thứ ba là của người đồng trinh.” (Sách GLHTCG, số 2349).
4. Sinh sản trong hôn nhân
– Thiên Chúa truyền lệnh cho con người: “Hãy sinh sôi nẩy nở thật nhiều” (St 1,28), vì thế hành vi sinh sản là điều tốt.
– Đối với các Ki-tô hữu, sự sinh sản là một hồng ân và là một mục đích của hôn nhân, vì tình yêu phu phụ tự nhiên hướng về việc sinh sản. Hội Thánh dạy: bất cứ hành vi hôn nhân nào, tự nó, vẫn luôn được nhằm đến việc sinh sản sự sống con người.
– Công đồng Vatican II khẳng định: “Tự bản chất, chính định chế hôn nhân và tình yêu vợ chồng quy hướng về việc sinh sản và giáo dục con cái như chóp đỉnh cao quý của hôn nhân” (MV số 48).
– Đối với những cặp vợ chồng muốn điều hòa sinh sản, sự tiết dục được đề nghị áp dụng, dựa trên thời điểm có thể thụ thai của người phụ nữ, dựa trên những nguyên tắc khoa học (Sách GLHTCG, số 2368-2370).
– Giáo hội Công giáo chỉ coi là hợp pháp các hình thức ngừa thai tự nhiên, đặc biệt là tiết dục định kỳ dựa trên việc nhận biết thời kỳ sinh sản của người nữ. Các phương pháp này được Giáo hội chấp nhận vì không can thiệp vào tiến trình sinh sản, đồng thời giúp vợ chồng sống tinh thần trách nhiệm và tôn trọng sự sống. Mọi biện pháp ngừa thai nhân tạo(bao cao su, thuốc tránh thai, đặt vòng, triệt sản…) đều bị Giáo hội xem là không phù hợp với giáo huấn về hôn nhân và sự sống.
5. Những tội nghịch đức khiết tịnh
– Mê dâm dục: là sự ham muốn vô trật tự hay hưởng thụ vô độ khoái lạc tình dục, với mục đích hưởng thụ mà không nhằm tới việc sinh con.
– Thủ dâm: là kích thích cơ quan sinh dục để đạt được những khoái lạc tình dục. Đây là một hành vi tự bản chất là vô trật tự cách nghiêm trọng (Sách GLHTCG, số 2352).
– Gian dâm: là quan hệ xác thịt ngoài hôn nhân giữa một người nam và một người nữ còn tự do. Tội này trái nghịch nghiêm trọng với nhân phẩm (Sách GLHTCG, số 2352).
– Mại dâm: là quan hệ tình dục với mục đích kiếm tiền. Mại dâm làm tổn thương phẩm giá con người và biến con người thành một thứ hàng hóa có thể mua bằng tiền. Người nào trả tiền để mua dâm cũng phạm tội nghịch lỗi Điều răn thứ Sáu.
– Hiếp dâm: là dùng sức mạnh, với bạo lực để bắt kẻ khác quan hệ tình dục với mình. Hành động này xúc phạm sâu xa đến quyền của mỗi người, là quyền được tôn trọng, tự do và quyền được toàn vẹn về thể lý cũng như luân lý (Sách GLHTCG, số 2356).
– Đồng tính: là sự quan hệ tình dục giữa hai người đồng giới, như nam với nam và nữ với nữ. Hành vi tình dục đồng giới bị xem là không phù hợp với luật tự nhiên và ý định của Thiên Chúa về tính dục. Hôn nhân đồng giới không thể trở thành bí tích vì thiếu sự bổ túc nam–nữ và hướng mở ra sự sống, là những điều kiện thuộc bản chất của hôn nhân theo quan điểm Ki-tô giáo.
Cần lưu ý: Những người đồng tính vẫn được yêu thương, tôn trọng và có phẩm giá như mọi người. Dù họ không được hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội, như không được lãnh nhận các bí tích, nhưng họ không bao giờ bị loại trừ khỏi Giáo hội.
– Giáo hội không cấm:
+) Tình bạn sâu sắc giữa hai người đồng giới
+) Sự nâng đỡ, chăm sóc, hy sinh cho nhau
+) Sự gắn bó tình cảm
– Điều Giáo hội không chấp nhận:
+) Hành vi tình dục đồng giới
+) Hôn nhân đồng giới
=> Vì Giáo hội hiểu tình yêu theo khuôn mẫu hiệp thông – sinh sản của hôn nhân nam nữ.
KẾT LUẬN
– Điều răn thứ Sáu, Thiên Chúa dạy: “Ngươi không được ngoại tình” (Xh 20,14).
– Chúa Giê-su tiếp nối giáo huấn của Cựu ước. Người còn đi xa hơn khi khẳng định: những tà ý và ước muốn xấu xa cũng không được phép. Người cũng dạy: Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa (Mt 5,8).
– Tình dục là khuynh hướng và bản năng tự nhiên của con người. Những sinh hoạt tình dục chỉ được phép trong đời sống hôn nhân.
– Giáo lý của Hội Thánh Công giáo mời gọi con người sống khiết tịnh. Mọi người đều có thể sống đức khiết tịnh, dù ở bất cứ bậc sống nào như: người lập gia đình, người độc thân, người sống ơn gọi thánh hiến.
– Sự tiết dục Ki-tô giáo là biết làm chủ đối với những ước muốn tình dục của bản thân. Sự tiết dục cần thiết trong trường hợp điều hòa sinh sản. Trong trường hợp này, các cặp vợ chồng có thể áp dụng những phương pháp Hội thánh cho phép, phù hợp với Luật Thiên Chúa.
– Một số hành vi bị cấm vì nghịch với đức khiết tịnh, như: gian dâm, ngoại tình, thủ dâm, hiếp dâm, đồng tính…
– Ki-tô hữu là người tôn thờ Đức Giê-su và cố gắng nên thánh giống như Người là Đấng Thánh. Để tuân giữ được đức khiết tịnh Ki-tô giáo như trình bày ở trên, chúng ta cần có ơn Chúa thêm sức. Theo Chúa Giê-su cũng là một tiến trình của những hy sinh và từ bỏ chính mình. Vì vậy, trưởng thành trong tình cảm và sống trong sạch là những điều kiện cần thiết để trở thành môn đệ đích thực của Chúa.
TẢI VỀ FILE POWERPOINT
Nguồn: tonggiaophanhanoi.org
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét