Trang

Chủ Nhật, 4 tháng 8, 2019

1 Tài liệu năm 2014 về Linh Hứng của Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh

Tài liệu năm 2014 về Linh Hứng của Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh
Vũ Văn An
 


Giới Thiệu

Trong bài “Ý Niệm Linh Hứng trong Thánh Kinh, Một Số Cập Nhật” (xem http://vietcatholic.net/News/Home/Article/249375), chúng tôi đã giới thiệu Tài Liệu “Linh Hứng và Chân Lý Thánh Kinh: Lời Phát xuất từ Thiên Chúa và Nói về Thiên Chúa vì Sự Cứu Rỗi Thế Giới” của Ủy Ban Giáo Hoàng về Kinh Thánh công bố năm 2014. Đây là một tài liệu quí giá. Việc soạn thảo nó đã bắt đầu từ năm 2009 sau Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 2008 về Lời Chúa (kết quả là Tông huấn Verbum Dei năm 2010 của Đức Bênêđíctô XVI), qua hai nhiệm kỳ bộ trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin của các Đức Hồng Y Levada và Muller, hai triều giáo hoàng của Đức Bênêđíctô XVI và Đức Phanxicô, với rất nhiều phiên họp khoáng đại cũng như hướng dẫn của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI. 

Chính bản văn là một công trình công phu, không những bàn đến ơn linh hứng nói chung mà còn đi vào hầu hết từng trước tác của cả Cựu Ước lẫn Tân Ước để khám phá ra tính linh hứng của nó với rất nhiều trưng dẫn của từng trước tác một. Có thể nói, về phươg diện này nó chiếm địa vị duy nhất trong các nghiên cứu về ơn linh hứng Thánh Kinh xưa nay. 

Nhận thấy giá trị lớn lao của nó, chúng tôi cố gắng chuyển ngữ sang tiếng Việt, dựa vào bản tiếng Pháp do chính Ủy Ban Kinh Thánh công bố. Phần tóm tắt Tài Liệu của Cha Klemens Stock, Dòng Tên, Tổng Thư Ký xuyên suốt của Ủy Ban và Lời Nói Đầu của Tài liệu do Đức Hồng Y Muller, bộ trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin hồi ấy viết đã được chúng tôi trình bầy trong bài đã trích dẫn trên đây. Riêng bài Lời Nói đầu, chúng tôi xin đăng lại nguyên văn ở đây. Các trích dẫn Thánh Kinh trong bản dịch này phần lớn lấy từ bản dịch Thánh Kinh của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ, ngoại trừ một số ít được chúng tôi sửa chữa đôi chút cho hợp với đồng văn của Tài Liệu.

Xin mời qúi độc giả cùng đọc tài liệu quí giá này

Linh Hứng và Chân Lý Thánh Kinh: Lời Phát xuất từ Thiên Chúa và Nói về Thiên Chúa vì Sự Cứu Rỗi Thế Giới


(Văn kiện của Ủy Ban Giáo Hoàng về Thánh Kinh, công bố ngày 22 tháng Hai năm 2014)

LỜI NÓI ĐẦU

Đời sống Giáo hội dựa trên Lời Chúa. Nó được truyền tải bởi Thánh Kinh, nghĩa là, trong các trước tác của Cựu Ước và Tân Ước. Theo đức tin của Giáo hội, tất cả các trước tác này đều được linh hứng, có Thiên Chúa là tác giả - Thiên Chúa đã sử dụng những con người được Người chọn để soạn tác chúng. Nhờ sự kiện được Thiên Chúa linh hứng, các Sách Thánh truyền đạt sự thật. Giá trị của chúng đối với đời sống và sứ mệnh của Giáo hội được liên kết với việc linh hứng và sự thật của chúng. Những trước tác không xuất phát từ Thiên Chúa không đạt tới trình độ truyền đạt Lời Người, và những trước tác không nói thực không thể đặt nền hoặc làm sinh động sứ mệnh của Giáo hội. Tuy nhiên, sự thật hiện diện trong các bản văn thánh thiêng không phải lúc nào cũng dễ dàng nhận ra. Đôi khi, ít nhất cũng một cách biểu kiến, người ta tìm thấy các căng thẳng giữa những gì đọc được trong các trình thuật Thánh Kinh và kết quả của khoa học tự nhiên và lịch sử. Những khoa học này dường như mâu thuẫn với những gì các trình thuật Thánh Kinh quả quyết, và đặt câu hỏi về sự thật. Rõ ràng là tình huống này cũng có những hệ luận đối với vấn đề linh hứng Thánh Kinh: nếu những gì được truyền đạt trong Thánh Kinh là không đúng sự thật, thì làm sao Thiên Chúa có thể là tác giả của nó? Chính từ những câu hỏi này, mà Ủy ban Giáo hoàng về Thánh Kinh đã nỗ lực tiến hành cuộc nghiên cứu về mối tương quan giữa linh hứng và sự thật, và cập nhật cung cách các trước tác Thánh Kinh xem xét các khái niệm này. Trước tiên, người ta phải lưu ý rằng các trước tác thánh thiêng chỉ họa hiếm mới nói về linh hứng (2 Tm 3:16; 2 Pr 1:20-21), nhưng liên tục cho thấy mối tương quan giữa các tác giả phàm nhân của chúng và Thiên Chúa. và bằng cách này nói lên nguồn gốc thần thiêng của chúng. 

Trong Cựu Ước, mối tương quan kết hợp tác giả phàm nhân với Thiên Chúa và ngược lại, được chứng thực theo nhiều hình thức và cách diễn đạt khác nhau. Trong Tân Ước, mọi mối tương quan với Thiên Chúa đều diễn ra qua trung gian của con người Chúa Giêsu, Đấng Thiên Sai và là Con Thiên Chúa. Người là Lời của Thiên Chúa đã tự làm cho mình trở nên hữu hình (xem Ga 1:14) và là Đấng trung gian của tất cả những gì xuất phát từ Thiên Chúa. Trong Thánh Kinh, người ta gặp nhiều chủ đề rất đa dạng. Tuy nhiên, một việc đọc cẩn thận cho thấy chủ đề chính, chi phối các chủ đề khác, liên quan đến Thiên Chúa và kế hoạch cứu rỗi của Người dành cho con người. Sự thật mà chúng ta tìm thấy trong Thánh Kinh, trong yếu tính, là nói về Thiên Chúa và mối tương quan của Người với các tạo vật. 

Trong Tân Ước, định nghĩa cao nhất về mối tương quan này có thể được tìm thấy trong các lời lẽ của Chúa Giêsu: "Thầy, Thầy là đường, là sự thật và là sự sống; không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy" (Ga 14: 6). Là Lời của Thiên Chúa nhập thể (xem Ga 1: 14), Chúa Giêsu Kitô là sự thật hoàn hảo về Thiên Chúa, Người mạc khải Thiên Chúa như Cha và ban cho ta được tiếp cận với Người, nguồn gốc của mọi sự sống. Các định nghĩa khác về Thiên Chúa được tìm thấy trong các trước tác Thánh Kinh có xu hướng hướng về Lời Thiên Chúa đã trở thành phàm nhân trong Chúa Giêsu Kitô này, Đấng đã trở thành chìa khóa giải thích Lời ấy. 

Sau khi đã bàn tới khái niệm linh hứng theo chứng từ của các sách thánh, mối tương quan giữa Thiên Chúa và các tác giả phàm nhân, và sự thật mà các trước tác này mang đến cho chúng ta, suy tư của Ủy ban Thánh Kinh tập trung vào một số khó khăn đặt ra nhiều vấn nạn từ quan điểm lịch sử, đạo đức hoặc xã hội. Để giải đáp các khó khăn này, điều cần là phải đọc và hiểu đầy đủ các bản văn nêu ra câu hỏi, bằng cách xem xét các kết quả của các khoa học hiện đại, và đồng thời chủ đề chính của các bản văn này, cụ thể là biết Thiên Chúa và kế hoạch cứu rỗi của Người. Cách tiếp cận như vậy cho thấy có thể giải đáp các phản biện đang xuất hiện đối với cuộc gặp gỡ sự thật và nguồn gốc thần thiêng và vượt qua chúng. 

Tài liệu này của Ủy ban Giáo hoàng về Thanh Kinh không cấu thành một tuyên bố chính thức của huấn quyền Giáo hội về chủ đề đang bàn. Nó không có ý định trình bầy một học thuyết hoàn chỉnh về linh hứng và sự thật của Thánh Kinh, mà chỉ đơn giản nhằm truyền đạt các kết quả của một cuộc nghiên cứu chú giải cẩn trọng về các bản văn Thánh Kinh, liên quan đến câu hỏi về nguồn phát xuất thần thiêng của chúng, và sự thật của chúng. Các kết luận giờ đây được dưới sự sử dụng của các môn thần học khác, để được hoàn chỉnh và đào sâu theo quan điểm riêng của họ. 

Tôi cảm ơn các thành viên của Ủy ban Thánh Kinh vì sự dấn thân đầy kiên nhẫn và có khả năng của họ, bằng cách bày tỏ niềm hy vọng này là công việc của họ sẽ đóng góp vào việc lắng nghe Thánh Kinh, trong toàn Giáo hội, một cách chu đáo, biết ơn và vui mừng hơn, như một Lời phát xuất từ Thiên Chúa và nói về Thiên Chúa để thế giới được sống.

Ngày 22 tháng 2 năm 2014 Lễ Tòa Thánh Phêrô

Hồng Y GERHARD MÜLLER, Chủ tịch

“Cũng như mưa với tuyết sa xuống từ trời không trở về trời nếu chưa thấm xuống đất, chưa làm cho đất phì nhiêu và đâm chồi nẩy lộc, cho kẻ gieo có hạt giống, cho người đói có bánh ăn, thì lời Ta cũng vậy, một khi xuất phát từ miệng Ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó” (Is 55:10-11).

“Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài” (Dt 1:1-2)

Kỳ tới: Dẫn Nhập Tổng Quát
 

Thứ Sáu, 2 tháng 8, 2019

Nước nào đào tạo nhiều linh mục nhất? Việt Nam đứng thứ mấy trong bảng sắp hạng của CARA

Nước nào đào tạo nhiều linh mục nhất? Việt Nam đứng thứ mấy trong bảng sắp hạng của CARA
Đặng Tự Do
 


Nguyên bản tiếng Anh: Burma, not Belgium, is the future of the Church. Dưới đây là bản dịch sang Việt Ngữ.

Quốc gia nào sản sinh ra nhiều linh mục nhất so với quy mô dân số Công Giáo? Phải chăng là Brazil, cường quốc của Công Giáo Mỹ Latinh? Phải chăng là Cộng hòa Dân chủ Congo, với một Giáo hội phát triển nhanh chóng vượt bậc? Phải chăng là Phi Luật Tân nơi dân số Công Giáo ổn định nhất trên thế giới?

Câu trả lời là: không phải quốc gia nào trong số những quốc gia này. Quốc gia đang đào tạo nhiều linh mục Công Giáo nhất trên thế giới, tính theo bách phân dân số Công Giáo, thật đáng ngạc nhiên là Miến Điện. Đó là kết luận của một nghiên cứu mới đầy thuyết phục của Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng trong các hoạt động tông đồ, gọi tắt là CARA, của Đại học Georgetown.

Các nhà nghiên cứu không đưa ra các suy đoán nhưng tìm hiểu đến nơi đến chốn lý do tại sao Miến Điện, nơi Phật giáo chiếm một đa số áp đảo lại là một điểm nóng trong ơn gọi linh mục. Miến Điện chỉ có 750,000 người Công Giáo trong cả nước – chiếm chỉ một phần trăm dân số thôi. Nhưng Giáo hội được lãnh đạo bởi một nhân vật năng động là Đức Hồng Y Charles Maung Bo. Ngài có một tầm nhìn minh mẫn về Giáo hội như một lực lượng trung gian giữa đa số Phật giáo và các nhóm thiểu số bị bao vây và thường xuyên bị ức hiếp. Có lẽ tấm gương của ngài đang truyền cảm hứng cho những người Công Giáo Miến Điện khác cống hiến cuộc đời của họ cho Giáo hội.

CARA nhận thấy rằng sau Miến Điện, là quốc gia có tỷ lệ tân linh mục so với bách phân dân số Công Giáo cao nhất trên thế giới, nước đứng thứ hai là Thái Lan (một quốc gia đa số Phật giáo khác), tiếp đến là Togo, Việt Nam và Bangladesh [Tạ ơn Chúa. Đỡ quá, chúng ta cũng được hạng Tư thế giới, xin cho một tràng pháo tay]. Như thế, bốn trong số năm quốc gia hàng đầu thuộc về Á châu và một quốc gia thuộc Phi châu.

Điều này thật bất ngờ vì chúng ta không quen nghĩ Công Giáo là một hiện tượng ở Á châu. Chúng ta có xu hướng nhìn về Âu châu, Mỹ Latinh và Phi châu vì chỉ có ba phần trăm người Á châu theo Công Giáo và chỉ có hai trong số 48 quốc gia Á châu là nơi có đa số dân theo Công Giáo, là Phi Luật Tân và Đông Timor.

Nhưng trong những thế kỷ tới, bức tranh tổng thể có thể thay đổi. Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle của Manila đã từng tiết lộ rằng Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói với ngài rằng, theo nhận định của ngài, tương lai của Giáo hội là ở Á châu. Chúng ta có thể hình dung rằng chỉ trong thế kỷ này thôi có thể có một vị Giáo Hoàng người Á châu. 

Mới hôm thứ Bảy 13 tháng Bẩy, dòng Đa Minh đã bầu ra nhà lãnh đạo Á châu đầu tiên trong lịch sử 800 năm của mình, Cha Gerard Timoner người Phi Luật Tân. Đã có những quốc gia có cộng đồng thiểu số Công Giáo như Ấn Độ và Nam Hàn đang gửi một số lượng lớn các nhà truyền giáo ra nước ngoài. Có lẽ trong tương lai, hầu hết các linh mục tại các giáo xứ phương Tây là những người đến từ Á châu cũng như từ Phi châu.

Còn các nước khác thì sao trong nghiên cứu CARA? Hoa Kỳ đứng ở vị trí thứ 50 trong số 108 nước có trong nghiên cứu này. Khá hơn một chút, ở vị trí thứ 49, là Vương quốc Anh (được định nghĩa là Anh quốc, xứ Wales và Tô Cách Lan). Cả Hoa Kỳ và Anh quốc đều vượt xa các quốc gia Công Giáo truyền thống như Tây Ban Nha (thứ 73), Đức (thứ 75), Ái Nhĩ Lan (bao gồm cả Bắc Ái Nhĩ Lan, thứ 78), Á Căn Đình (thứ 98) và Pháp (thứ 99). Cầm đèn đỏ ở cuối bảng là Bỉ nơi vẫn được coi là thành trì của Công Giáo.

Thống kê của CARA dựa trên các số liệu gần đây nhất về việc phong chức linh mục (trong năm 2015, 2016 và 2017) và dữ liệu dân số Công Giáo năm 2017 từ Tòa thánh Vatican được nêu trong Niên Giám Thường Niên của Giáo Hội. Để tránh kết quả sai lệch, các nhà nghiên cứu chỉ bao gồm các quốc gia có ít nhất 100,000 người Công Giáo, có ít nhất 9 linh mục được thụ phong từ năm 2015 đến năm 2017 và tối thiểu một vị được thụ phong trong mỗi ba năm được nghiên cứu. 

Nghiên cứu mới chỉ cung cấp một thước đo sơ bộ về sức sống của Giáo Hội tại các quốc gia. Phi Luật Tân, chẳng hạn, đứng thứ 95 trong số 108 quốc gia. Tuy nhiên, đây là một trong những Giáo Hội sống động nhất trên thế giới, với các Thánh lễ ngoài trời lớn không tưởng tượng nổi, và gửi vô số nhà truyền giáo ra nước ngoài và đào tạo ra các nhà lãnh đạo có tầm vóc toàn cầu như Đức Hồng Y Tagle.

Tuy nhiên, bảng xếp hạng CARA cho phép chúng ta so sánh sức khỏe tương đối của Công Giáo trên toàn thế giới (mặc dù thận trọng). Các kết này nói với chúng tôi một điều quan trọng: các bộ phận của Giáo hội ở Á Châu đang phát triển vượt mọi mong đợi. Chúng ta cần hiểu tại sao Miến Điện, Thái Lan, Việt Nam và những nơi tương tự có thể tạo ra sự phong phú của các ơn gọi linh mục mặc dù người Công Giáo chỉ là một thiểu số. Phải chăng nhỏ bé đôi khi thực sự lại là một lợi thế. Phải chăng sự nhỏ bé ấy có thể ràng buộc các thành viên của Giáo hội lại với nhau và cho họ cảm giác cấp bách về sứ vụ truyền giáo là điều chúng ta không tìm thấy ở các quốc gia đa số Công Giáo?

Chúng ta chỉ có thể suy đoán. Nhưng nhờ vào nghiên cứu của CARA, chúng ta biết nhiều hơn một chút về Giáo hội toàn cầu so với trước đây.

Source:Catholic Herald
 

Tử Đạo Amazon

Tử Đạo Amazon
Vũ Văn An



Tử đạo thế kỷ 20

Tử đạo bao giờ cũng là để minh chứng đức tin. Thành thử lý do khiến cái chết của một người được kể là tử đạo khi họ là mục tiêu của lòng hận thù đối với đức tin Công Giáo (in odium fidei).

Các tử đạo Việt Nam thời nhà Nguyễn chắc chắn là những người bằng lòng chết dưới tay những người hận thù đức tin Công Giáo để làm chứng cho đức tin này. Dấu chỉ rõ ràng nhất là họ từ chối quá khóa, tức bước qua tượng Chịu Nạn. Nhưng bước sang thế kỷ 20, dấu chỉ này không hiển nhiên như thế và đức tin Công Giáo được hiểu theo một nghĩa hết sức rộng rãi. Suy cho cùng, đức tin này được biểu lộ, được phát biểu bằng nhiều biểu thức khác nhau, rất khác nhau.

Việc phong chân phước cho triết gia Edith Stein, học trò của nhà sáng lập ra hiện tương học Husserl là một điển hình. Bà được kể là một người chết vì lòng hận thù đức tin Công Giáo của Đức Quốc Xã. Nhưng người Do Thái không đồng ý như vậy, họ lớn tiếng phản đối, cho rằng Bà chết trong trại tử thần Auschwitz cùng với người em gái ruột Rosa là vì họ là người Do Thái do chính sách hận thù Do Thái của Chủ Nghĩa Quốc Xã.

Đúng, Edith Stein là người Do Thái, có cha có mẹ hoàn toàn là người Do Thái sùng đạo. Nhưng bà đã trở lại Đạo Công Giáo, nhập dòng kín Cátminh, nhận tên là Teresa Benedicta e Cruce. 

Theo các dữ kiện lịch sử, thì Quốc xã từng xếp người Do Thái trở lại Kitô giáo ở Hòa Lan, nơi chị em nhà Stein đang cư ngụ, ra ngoài danh sách các người Do Thái họ cần trừ khử. Nhưng vào ngày 20 tháng 7 năm 1942, Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Hoà Lan cho đọc ở mọi nhà thờ khắp nước một tuyên bố công khai lên án chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc của Quốc Xã.

Tuyên bố đó là tiếng vang của Thông Điệp lừng danh Mit brennender Sorge (với một lòng lo lắng bừng bừng) của Đức Giáo Hoàng Piô XI, công bố năm 1937, cực lực lên án chủ nghĩa Quốc Xã. Và động lực của thông điệp này chính là lá thư của Nữ Đan Sĩ Cátminh Teresa Benedicta e Cruce gửi cho ngài lúc Quốc Xã mới lên cầm quyền, trong đó, Bà thống thiết kêu gọi ngài bằng những lời chân tình sau đây:

“Là một đứa con của dân tộc Do Thái, là người, nhờ ân sủng của Thiên Chúa, trong 11 năm qua, cũng là một đứa con của Giáo Hội Công Giáo, con dám nói với Người Cha của Kitô Giáo về cái điều đang áp bức hàng triệu người Đức. Nhiều tuần qua, chúng ta từng chứng kiến những việc vi phạm tại Đức nhằm giễu cợt mọi cảm thức công lý và nhân tính, chưa kể tình yêu người lân cận. Nhiều năm qua, các lãnh tụ của Chủ Nghĩa Quốc Xã Đức vẫn liên tiếp truyền giảng lòng hận thù người Do Thái... Nhưng trách nhiệm, tựu chung, phải đổ lên đầu những ai đã đem họ đến mức này và trách nhiệm cũng phải đổ lên đầu những ai vẫn giữ im lặng trước những việc xẩy ra như thế. 

Mọi điều đã xẩy ra và còn tiếp tục xẩy ra hàng ngày phát xuất từ một chính phủ tự gọi mình là ‘Kitô giáo’. Nhiều tuần qua, không những người Do Thái mà còn cả hàng ngàn tín hữu Công Giáo ở Đức, và, con tin, ở khắp thế giới, chờ đợi và hy vọng Giáo Hội của Chúa Kitô cất cao tiếng nói của mình để chặn đứng thứ lạm dụng danh nghĩa Chúa Kitô này. Há cái thứ ngẫu thần hóa nòi giống và quyền lực cai trị đang được giáng xuống ý thức công chúng bởi các phương tiện truyền thanh không phải là một lạc giáo hay sao? Há các cố gắng nhằm tiêu diệt dòng máu Do Thái không phải là một xúc phạm đến nhân tính hết sức linh thánh của Đấng Cứu Rỗi của chúng ta, của Trinh Nữ diễm phúc và của các Tông đồ hay sao? Há tất cả những điều này không đi ngược 180 độ với đức hạnh của Chúa Tể và là Cứu Chúa của chúng ta hay sao, Đấng, ngay trên thập giá, vẫn cầu nguyện cho những kẻ bách hại mình? Và há đây không phải là vết đen trên tiếng tăm của Năm Thánh vốn có ý trở thành năm hòa bình và hòa giải hay sao? Tất cả chúng con, những con cái của Giáo Hội và là những người đang nhìn các điều kiện hiện nay ở Đức bằng con mắt rộng mở, sợ Giáo Hội sẽ gặp điều tệ hại nhất nếu cứ tiếp tục giữ im lặng lâu hơn nữa”. 

Chỉ 6 ngày sau đó, tức ngày 26 tháng 7 năm 1942, viên Reichskommissar, một thứ tổng toàn quyền của Quốc Xã tại Hòa Lan, là Arthur Seyss-Inquart hủy bỏ luật trừ trước của chính hắn, ra lệnh lùng bắt cả các người Do Thái đã trở lại Công Giáo.

Chị em nhà Stein cùng với 243 người Do Thái trở lại Công Giáo sống ở Hòa Lan bị SS bắt ngày 2 tháng 8 năm 1942 và tống giam tại các trại tập trung Amersfoort và Westerbork trước khi bị chuyển tới Auschwitz. Đức Quốc Xã biết rõ nguyên nhân và động lực khiến có Thông điệp của Đức Piô XI và tuyên bố của Hội Đồng Giám Mục Hòa Lan. Họ biết rõ đức tin của Edith Stein và ai đến Berlin ngày nay, hẳn không thể không đến quảng trường Bebelplatz, gần Đại Học Humboldt, viếng nơi ghi dấu Quốc Xã đốt mấy chục ngàn tác phẩm của các nhà văn hóa Đức trong đó có trọn bộ các tác phẩm của Edith Stein. Bà cũng ý thức được điều đó, cho nên, theo Cha Ambrose Eszer, O.P, một viên chức của Bộ Phong Thánh, tại trại tập trung, được hỏi “chị là ai?” bà dõng dạc cung khai: tôi là người Công Giáo!

Vả lại, theo Cha Eszer, Bọn Quốc Xã rất quỉ quái trong chủ trương của chúng đối với Đạo Công Giáo: thời chiến, chúng tìm cách kiểm soát Giáo Hội trong khi kiên nhẫn chờ cho hết chiến tranh, sẽ tận diệt Giáo Hội và thay thế Giáo Hội bằng một giáo hội mới, hoàn toàn chịu ảnh hưởng các lý thuyết kỳ thị chủng tộc và đầy huyền thoại của Wagner. Do đó, chiến thuật của chúng là tránh tra vấn các nạn nhân về các niềm tin tôn giáo để không biến họ thành tử đạo. Cha Eszer cho rằng chúng tìm cách “loại bỏ bất cứ việc tuyên xưng đức tin nào”. 
Chiến lược và chiến thuật của chúng không loại bỏ được việc Edith Stein chết “in odium fidei”, một điều đã được Bộ Phong Thánh chấp nhận bất chấp các phản đối ầm ĩ của phía Do Thái.

Tử đạo thế kỷ 21


Qua thế kỷ 21, quan điểm của Công Giáo về tử đạo còn khóang đạt hơn nữa. Điều này dễ hiểu vì quan điểm sống đức tin hiện nay, nhất là dưới thời Đức Phanxicô, vị Giáo Hoàng đầu tiên có cái đảm lược mang đức tin vào cả việc bảo vệ “ngôi nhà chung của chúng ta” là môi trường. Trong chiều hướng này, những tín hữu và giáo sĩ Việt Nam can đảm đấu tranh nhân vụ Formosa ở Hà Tĩnh xứng đáng được danh hiệu tử đạo nếu chết trong tay cường quyền. 

Nhận định trên có thể chỉ là một suy diễn. Nhưng trong Tài Liệu Làm Việc của Thượng Hội Đồng Giám Mục về Vùng Amazon, vừa được Tòa Thánh công bố, ta thấy những người bản địa Amazon đấu tranh bảo vệ lãnh thổ của họ được gọi là “tử đạo”. Ta hãy đọc số 145:

“Làm Giáo hội ở Amazon một cách thực tế có nghĩa là nêu vấn đề về quyền lực một cách tiên tri, vì ở khu vực này, người dân không thể khẳng định quyền của họ chống lại các lợi ích kinh tế và định chế chính trị to lớn. Ngày nay, đặt vấn đề quyền lực trong việc bảo vệ lãnh thổ và các nhân quyền là liều mạng sống của mình, là bước lên con đường thập giá và tử đạo. Số các tử đạo ở Amazon rất đáng báo động (ví dụ, chỉ riêng ở Brazil, 1,119 người bản địa đã bị sát hại từ năm 2003 đến năm 2017 vì bảo vệ lãnh thổ của họ). Giáo hội không thể thờ ơ; ngược lại, nó phải giúp bảo vệ những người nam nữ đang bảo vệ nhân quyền và tưởng nhớ các vị tử đạo của họ, trong số đó có các nhà lãnh đạo như Nữ tu Dorothy Stang”.

Lẽ dĩ nhiên, Tài Liệu Làm Việc của một Thượng Hội Đồng Giám Mục chưa hẳn đã là quyết nghị của Thượng Hội Đồng này, mà dù có là quyết nghị của nó đi nữa, chưa chắc đã được huấn quyền của Đức Phanxicô chấp nhận đưa vào nội dung một tông huấn. Nhưng dù sao nó cũng phản ảnh một quan điểm nghiêm túc. Điều đáng nói ở đây là Tài Liệu đã tôn vinh một người chết vì tranh đấu cho những người tranh đấu bảo vệ lãnh thổ của họ, Nữ Tu Dorothy Stang và coi bà là một tử đạo. 

Từ điển mở Wikipedia cũng gọi bà là “Tử đạo Amazon” với mấy dòng về bà như sau: “Nữ tu Dorothy Mae Stang, S.N.D., (7/6/1931 – 12/2/ 2005) là một thành viên người Ba Tây gốc Hoa Kỳ của Hội Dòng Nữ Tu Đức Bà Namur. Bà bị hạ sát ở Anapu, một thành phố thuộc bang Pará, lưu vực Amazon thuộc Ba Tây. Nữ Tu Stang vốn là người lớn tiếng trong cố gắng bênh vực người nghèo và môi trường, và trước đây vốn nhận được nhiều đe dọa tới sinh mệnh từ những công ty đốn rừng và sở hữu chủ đất đai. Án phong thánh cho bà như một tử đạo và mẫu mực thánh thiện đang được xem xét tại Bộ Phong Thánh của Tòa Thánh”. 

Án phong thánh ấy không được Wikipedia trưng dẫn từ nguồn nào. Và cũng không thấy các tài liệu của chính Hội Dòng của bà nhắc đến. Nhưng chúng cũng gọi bà là “người tử đạo đầu tiên của cộng đoàn” (xem https://vocationnetwork.org/en/articles/show/12-sister-dorothy-stang-her-dying-shows-us-how-to-live). Và tước hiệu “Vị Tử Đạo của Amazon” (“Martyr of the Amazon”) được dùng làm tựa sách ít nhất bởi Nữ Tu Roseanne Murphy. Tác giả và ký giả Rita Beamish, người vốn tường trình về Tòa Bạch Ốc, chính trị và chính sách ngoại giao cho Hãng tin Associated Press, cũng gọi bà là một vị tử đạo. 

Vũ khí của tôi là cuốn Thánh Kinh

Thực ra bà đã bị hạ sát trong hoàn cảnh nào? Bà vốn sinh ra tại Ohio, Hoa Kỳ, gia nhập Hội Dòng Đức Bà Namur năm 17 tuổi và khấn trọn đời năm 25 tuổi. Đáp lại lời kêu gọi của Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII, năm 1966, lúc 35 tuổi, bà lên đường qua Ba Tây truyền giáo. 

Các dữ liệu của Hội Dòng (https://www.sndden.org/who-we-are/where-we-are/latin-america/the-amazing-grace-of-sr-dorothy-stang) mô tả bà là người chọn lối sống khó nghèo nhất để giúp đỡ những người khác sống trong cảnh nghèo. Bà có lòng đam mê đối với người thuộc đủ mọi văn hóa, đối với công bằng xã hội, kiến tạo hòa bình, sự hợp tình hợp lý, và tôn trọng môi trường. Bà sở hữu rất ít của cải vật chất: một ít áo quần mầu sắc pha trộn, đồ dùng đơn sơ và cuốn Thánh Kinh được bà mang đi khắp nơi và đôi lúc gọi nó là “khí giới” của bà.

Vào một Thứ Bẩy mưa dầm tháng Hai năm 2005, bà mang cuốn Thánh Kinh đó khi lặn lội trên con đường mòn đầy bùn lầy dọc rừng già Amazon. Bà cố gắng đi tới Boa Esperança, một ngôi làng gần Anapu, nơi bà sống ở Pará, một tiểu bang phía bắc của Ba Tây. Khu vực này nằm ở bìa phía đông của Amazon, một vùng nổi tiếng giầu về tài nguyên thiên nhiên và cũng lắm bạo lực phát sinh từ các tranh chấp đất đai.

Chờ Nữ Tu sáng hôm đó là một nhóm nông gia có nhà cửa bị đốt san bằng trên mảnh đất được chính phủ liên bang cấp cho họ. Ở toàn tiểu bang Pará và ở một nơi như Boa Esperança, bằng khoán đất đai không luôn kết thúc bằng tranh cãi. Ở Pará, các công ty đốn rừng và các chủ trại nuôi súc vật giầu có dựa vào sự giúp đỡ của các chính trị gia và cảnh sát địa phương trong việc tạo mãi và trưng dụng tài sản của các dân tộc bản địa và nông gia bé nhỏ. Trong khi Nữ Tu Dorothy đang buớc về Boa Esperança, bà nghe những lời chửi bới của mấy người đàn ông lúc ấy đang ở bên cạnh bà. Mưa rơi sối xả lúc bà dừng lại và mở cuốn Thánh Kinh. Bà đọc cho họ nghe đoạn nói về người nghèo: phúc thay ai có lòng khó khăn vì Nước Trời là của họ. Nghe đến đó, họ lùi lại và nâng súng lên. Nữ Tu Dorothy giơ cuốn Thánh Kinh về phía họ và 6 phát súng nổ thẳng thừng. Bà ngã xuống đất, “tử vì đạo”.

Tài liệu kể tiếp: mấy ngày trước đó, Nữ Tu Dorothy cố gắng chặn đứng một vụ đốn rừng bất hợp pháp nơi những con cá mập đất đai lưu ý nhưng không có quyền hợp pháp. Bởi thế, các nhà cầm quyền tin rằng vụ hạ sát Bà đã được sắp xếp bởi một chủ trại nuôi súc vật ở địa phương với giá 19,000 mỹ kim. Nhưng nhiều người khác tin rằng chính tập đoàn đốn rừng và chăn nuôi súc vật đã góp tay vào việc trả giá cho sinh mạng của Nữ Tu Dorothy.

Họ đã hạ sát một người đàn bà trong tay chỉ có một cuốn Thánh Kinh, một người quyết định gia nhập một Hội Dòng ưu tiên làm việc giữa những người nghèo. Bà được toại nguyện khi được sống và làm việc trong gần 40 năm tại Ba Tây. Bà sớm ý thức được các vấn đề xã hội đang gây khốn khổ cho vùng bà đã chọn làm quê hương, nhất là việc áp bức các nông dân, dưới chế độ quân phiệt của các thập niên 1960, 1970. Những người làm việc cổ vũ các nhân quyền và quyền đất đai của các nông gia nhỏ bị coi là phản loạn và bị độc tài quân phiệt lùng bắt.

Thân phận người nghèo Amazon

Lịch sử Ba Tây cho hay đầu thập niên 1970, chính phủ khuyến khích người nghèo di chuyển tới vùng Transamazonia. Những người không đất đai coi đây là cơ hội để trở thành những chủ đất cày cấy. Nhiều người rời cư tới tiểu bang Pará để bắt đầu cuộc sống mới. Các Nữ Tu Đức Bà Namur đi theo đoàn người này, trong đó có nữ tu Dorothy, giúp họ xây dựng cuộc sống mới, tươi đẹp hơn. Nhưng khi tới đó, cảnh nghèo và bất an họ để lại sau lưng đã được thay thế bằng nhiều nan đề mới: các con cá mập đất đai sẵn sàng cướp hết đất đai họ đến đây để cày bừa. Các viên chức chính phủ không làm gì để ngăn chặn bọn chúng vì các chính trị gia và cảnh sát địa phương đã bị chúng mua chuộc.

Đoàn người khố rách áo ôm đành phải di chuyển sâu hơn vào rừng già. Dĩ nhiên, Nữ Tu Dorothy di chuyển với họ. Nhưng tình huống vẫn như trước. Qua thập niên 1980, họ hiểu rõ chính phủ Ba Tây có một kế hoạch khác cho vùng này. Họ dành 10.5 mẫu tây Anh ở vùng Bắc Ba Tây, trong đó, có Pará, cho các dự án khai mỏ, lọc dầu và nông thương (agribusiness).

Đối với các nông gia nhỏ, tình huống này giống như “Đavít chọi với Gôliát”, tức các công ty đa quốc, các đại doanh nghiệp, các công ty nuôi súc vật và khai thác gỗ...Chúng bắt đầu nuốt trửng rừng già”. Các nhà môi trường học ước lượng rằng Amazon mất 9,170 dặm vuông rừng mỗi năm và khoảng 20% trong số 1.6 triệu dặm vuông của nó đã bị đốn để tạo nên các đất trồng cỏ cho súc vật nuôi hay để thu lượm các loại gỗ quí như tuyết tùng (cedar), gụ (mahogany) và những gỗ qúy hiếm khác...

Đoàn người của Nữ Tu Dorothy lại vào sâu hơn nữa và cuối cùng cắm dùi ở Anapu, tiểu bang Pará năm 1982. Bà giúp họ sống có liên đới và tôn trọng môi trường. Bà làm việc với Ủy Ban Mục Vụ lo về đất đai của Hội Đồng Giám Mục Ba Tây. Bà cũng giúp cổ vũ các dự án tiểu thương có tính cách gia đình ở trong làng, thường tạo nên những người phụ nữ kiếm sống cho gia đình (women breadwinners).

Việc làm của Bà được nhiều người biết đến: Bà được hiệp hội luật gia Ba Tây trao giải thưởng nhân đạo và các viên chức của Tiểu Bang Pará bầu Bà là “Người Phụ Nữ Trong Năm”, vì công trình bảo đảm địa quyền cho các nông gia. 

Tuy bầu Bà vào địa vị cao qúi như trên, nhưng chính quyền Pará lại có dự án mở một xa lộ trong vùng, làm cho giá đất lên cao và làm cho mức độ bạo lực cũng tăng theo. 

Ỡ bình diện liên bang, Tổng thống da Silva bị vướng giữa lời hứa cấp đất cho 400,000 gia đình không đất đai và việc phải mở nhiều cánh rừng để hỗ trợ việc phát triển kinh tế. Áp lực bên ngoài còn phát xuất từ Qũy Tiền Tệ Quốc Tế, cơ quan đã cho Ba Tây vay hàng tỷ mỹ kim sau cuộc suy thoái năm 2002. Điều này rất nguy hiểm cho người dân Pará vì tranh chấp đất đai. Ủy Ban Mục vụ lo về đất đai của Hội Đồng Giám Mục Ba Tây gần đây tường trình rằng trong 30 năm qua, Pará là địa điểm của 40% số 1,370 vụ giết người liên quan đến tranh chấp đất đai. 

Nữ tu Dorothy luôn đứng bên cạnh các nông gia bé nhỏ trong cuộc mưu cầu vô vọng của họ có được mảnh đất riêng để cày cấy. Bà không ngừng làm áp lực để chính phủ thi hành trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người dân. Bà không bao giờ đầu hàng, để mất hy vọng.

Tử đạo vì anh hùng phục vụ người khác

Sau khi Bà nằm xuống, các buổi lễ tưởng niệm Bà đã được tổ chức khắp thế giới và ngày 9 tháng 3 năm 2005, Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua nghị quyết #89 tôn vinh cuộc sống của Bà. Ngày 10 tháng 12 năm 2008, Bà được Liên Hiệp Quốc truy tặng huy chương trong Lãnh Vực Nhân Quyền. 

Còn Giáo Hội Công Giáo, người Mẹ thân yêu của Nữ Tu Dorothy thì sao? Như trên đây đã nói, Tài Liệu Làm Việc của Thượng Hội Đồng Giám Mục về Amazon đích danh gọi bà là vị tử đạo. Thực ra, đây không phải là lần đầu bà được đại diện Giáo Hội Công Giáo gọi như thế. Năm 2015, lúc thông điệp Laudato Si’ về môi trường của Đức Phanxicô ra đời, bà đã được nhắc đến như một trong các Thánh Quan Thầy của Thông Điệp (xem https://cruxnow.com/church/2015/06/11/martyred-american-nun-could-be-the-patron-saint-of-the-popes-eco-encyclical/), song song với Thánh Phanxicô Assisi. 

Thực vậy, theo John Allen trong bài báo trên, ngày 11 tháng 6 năm 2015, Đức Phanxicô đã gián tiếp nhắc đến một ứng viên khác cho tước hiệu Thánh Quan Thầy này, một người gần gũi với chúng ta hơn tuy chưa được phong thánh, đó là Nữ Tu Dorothy Stang, người đã bị sát hại vì bảo vệ rừng già Amazon và quyền lợi người nông dân nghèo. 

Nhận định của John Allen đã được củng cố hai năm sau, khi Đức Phanxicô ban hành Tự sắc Maiorem hac dilectionem (Lòng Yêu Mến Lớn Hơn), ngày 11 tháng 7 năm 2017, đưa ra một tiêu chuẩn khác để được phong là tử đạo (xem https://www.thecatholictelegraph.com/pope-approves-new-path-to-sainthood-heroic-act-of-loving-service/43566). Tức hy sinh mạng sống trong một hành động anh hùng yêu thương phục vụ người khác. Theo National & World News, Đức Tổng Giám Mục Marcello Bartolucci, Tổng thư ký Bộ Phong Thánh, cho hay tự sắc nhằm “cổ vũ chứng từ anh hùng Kitô Giáo, (một điều) cho đến nay chưa có thủ tục chuyên biệt, chính vì nó chưa hoàn toàn xứng hợp với trường hợp tử đạo hay nhân đức anh hùng”.

Theo các qui định mới, việc hiến mạng sống phải đủ các điều kiện sau đây:

1. Tự do và sẵn lòng hiến mạng sống mình và anh hùng chấp nhận, vì tình yêu, một cái chết chắc chắn và sớm sủa; hành vi bác ái anh hùng và cái chết sớm sủa phải có liên quan với nhau.

2. Có bằng chứng đã sống thực các nhân đức Kitô giáo, ít nhất một cách thông thường, không cần phải anh hùng, trước khi hiến mạng sống mình cho người khác và cho đến lúc chết.

3. Có bằng chứng nổi tiếng về sự thánh thiện, ít nhất sau khi chết.

4. Một phép lạ được gán cho việc cầu bầu của ứng viên cần thiết để được phong chân phúc.

Trừ điều thứ 4, 3 điều trên Nữ Tu Dorothy đều đã đạt được. Và việc phong bà làm thánh tử đạo và quan thầy của môi trường chắc chắn không còn xa.

Thượng Hội Đồng Amazon và nguyên lý ưu tiên chọn người nghèo

Có thể nói, Đức Phanxicô khi công bố Laudato Si’ đã nghĩ đến Amazon và những người đã tự do và sẵn lòng hiến mạng sống mình bảo vệ không những môi trường nhưng cả những người có liên hệ mật thiết nhất với môi trường tức người nghèo mà trong nền văn hóa lợi nhuận tối đá, bằng bất cứ giá nào, vốn không thể tách rời khỏi nạn phá hoại thiên nhiên cho mục đích vị kỷ. Nghị trình của Ngài quả là một nghị trình nhịp nhàng, về lâu về dài, dẫn Giáo Hội đi theo con đường đã được chính Vatican II vạch ra trong Gaudium et Spes khi nói đến người nghèo. Dù sao, nguyên lý ưu tiên chọn người nghèo, được Vatican II khởi diễn, cũng đã được Cha Bề Trên Cả Dòng Tên, Dòng của Đức Phaxicô, là Cha Pedro Arrupe quảng diễn lần đầu tiên năm 1968, trong thư gửi các tu sĩ Dòng Tên ở Châu Mỹ La tinh, được Thượng Hội Đồng Giám Mục năm 1971 quảng diễn thêm, và được các Giám Mục Châu Mỹ Latinh (CELAM) chính thức lên công thức tại các Hội nghị ở Medellin và Puebla, được Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nhắc đến trong Centesimus annus năm 1991, và được đưa vào Tuyển Tập Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội năm 2004 (một công trình đã được tôi tớ Chúa là Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận khởi xướng). Ta không thể làm ngơ mãi. Mà người nghèo không đâu bị áp bức cho bằng Amazon, nơi họ bị tiêu diệt cùng với môi trường của họ trong tay những kẻ chỉ biết lợi nhuận. 

Trong những điều đáng nói về Thượng Hội Đồng Amazon, chính là con đường anh hùng phục vụ môi trường và người nghèo này, một đường hướng đã đến lúc phải được bàn thảo nghiêm túc: ưu tiên chọn người nghèo, cho dù phải hiến mạng sống mình để bảo vệ họ như Nữ Tu Dorothy Stang.
 

Làm giàu trước mặt Thiên Chúa

Làm giàu trước mặt Thiên Chúa
Lm Giuse Nguyễn Hữu An
 
Chúa Nhật 18 Thường Niên C

Tin mừng Chúa Nhật hôm nay kể chuyện, một người đến xin Chúa Giêsu làm quan toà chia tài sản giúp cho anh ta. Ngài nói với họ: “Hãy giữ mình khỏi mọi thứ tham lam”.

Và Chúa Giêsu kể dụ ngôn lão phú hộ dại khờ. 

Cả một đời lão dùng sức khỏe, tài năng, mồ hôi nước mắt để xây dựng kho lẫm to lớn và ước mơ sẽ ngũ yên, tự tại từ nay. Nhưng bất ngờ, giữa đêm lão ra đi đột ngột. Bỏ lại tất cả. Đó là một kẻ dại khờ. Dại khờ bởi cả một đời, lão chỉ lo vun đắp sao cho có nhiều cơ ngơi, của cải. Lão cứ nghĩ đời này là vĩnh cửu, thật mù lòa. Lão nghĩ rằng mình không bao giờ chết chắc? Và cái dại khờ lớn nhất là lão cứ ngỡ không có đời sau, không có thưởng phạt. Chính vì thế, cả đời lão không hề nghĩ đến đời sau để mà chuẩn bị. Bây giờ nhắm mắt xuôi tay, lão tay trắng không cầm nắm gì được. Cả một đời lão phú hộ lúc nào cũng vất vả, lúc nào bóp mồm bóp miệng, lúc nào cũng gom góp, tằn tiện chi li với mọi người. Bây giờ ra đi để lại tất cả. Cả một đời chẳng dám đi đến đâu. Cả một đời chẳng biết chia sẻ cho ai. Kho lẫm tích trữ để lại cho ai?

Lão phú hộ không có làm điều gì xấu và lão cũng chẳng làm điều chi gây tội lỗi. Lão chỉ tích luỹ tải sản và không có ăn chơi trác táng. Khi của cải thêm nhiều thì việc phá những kho lẫm nhỏ để nới thêm những cái to hơn cũng là điều hiển nhiên thôi. Và, ý nghĩ “cứ nghĩ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã” cũng chỉ xảy ra trong đầu chứ lão cũng chưa biến nó thành hiện thực.

Vậy thì điều gì làm cho lão phú hộ kia trở nên dại khờ? Dụ ngôn cho thấy sai lầm lớn của nhà phú hộ khi cho rằng tiền bạc và của cải là một thứ tài sản có giá trị tuyệt đối. Nó đảm bảo cho cuộc sống hạnh phúc của lão. Núp mình trong đống của cải đồ sộ đó, lão tưởng rằng bản thân mình từ nay sẽ được sung sướng, được an toàn ngay cả mạng sống. Những dự định mà lão cho là khôn ngoan thì đó lại là sự dại khờ.

Lão phú hộ thật dại khờ vì không biết phân định đâu là tài sản đích thực và đâu là tài sản tạm thời chóng qua, mau hư nát. Lão dại khờ vì nghĩ rằng có thể xây dựng cuộc đời mình trên nền tảng là tiền bạc và của cải mà quên đi đó chỉ là những thứ chóng tàn phai, nay còn mai mất. Lão dại khờ vì đã sai lầm trong nhận định đâu là chân giá trị, lão chỉ để ý đến của cải, tiền bạc vốn chỉ có giá trị nhất thời, không chắc chắn mà quên mất thứ tài sản trân quý nhất chỉ đến từ Thiên Chúa, Đấng có thể làm cho lão được sống cũng như có thể lấy mạng sống ông bất cứ lúc nào” "Đồ ngốc, nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì người sắm sẵn đó sẽ về tay ai?". Tiền bạc, của cải, quyền lực, danh vọng, cuối cùng vẫn chỉ là phù vân (Gv 1,2), chẳng có nghĩa lý gì hết, nếu người ta không biết sử dụng nó: “Vì không phải dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu” (Lc 12,15).

Kết thúc dụ ngôn, Chúa Giêsu dạy: Hãy lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa.

Thế nào là ‘làm giàu’ trước mặt Thiên Chúa? 

Ai có thể được coi là ‘giàu có’ trước mặt Thiên Chúa? Phải chăng là các bậc tài cao học rộng, những người đạo đức thánh thiện, hay các vị chân tu đạo sĩ…? 

Đối với một thương gia thì ‘làm giàu’ là làm ra nhiều tiền của; đối với một nghệ nhân thì giàu là phát triển tài năng thiên phú; đối với nhà thông thái thì lại là trau dồi học thức uyên thâm…

Còn ‘làm giàu trước mặt Chúa’ thì cũng tùy thuộc rất nhiều vào quan niệm chúng ta có về Thiên Chúa. Cựu Ước đề cao hình ảnh một Thiên Chúa quyền phép, thánh thiện, khôn ngoan, công minh. Các mẫu người ‘giàu trước mặt Thiên Chúa’ như Môsê hùng mạnh, như Êlia thánh thiện, như Salômôn khôn ngoan, như Đavít công minh… 

Chúa Giêsu khi kêu gọi hãy ‘lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa’, Ngài đang nói hình ảnh nào về Thiên Chúa? 

Thiên Chúa mà Đức Giêsu phác họa chắc chắn không thiếu các ưu phẩm trên. Nét nổi bật và độc đáo nhất mà Cựu Ước chưa hề có, hoặc mới chỉ được các ngôn sứ phác thảo chưa rõ ràng, đó là: Thiên Chúa nhân ái và đầy lòng xót thương, một Thiên Chúa cứu độ. Đây mới là nét chân dung trung thực nhất về Thiên Chúa mà Đức Kitô Giêsu, và chỉ duy nhất mình Ngài nói đến. Đó đồng thời cũng là bản chất của ‘vương quốc’ giàu sang mà Ngài công bố và mời gọi chúng ta hết lòng chăm lo tìm kiếm cho bằng được. Hiểu như thế: ‘làm giàu trước mặt Thiên Chúa’ theo cách nói của Đức Giêsu, còn cao xa hơn cả sống thánh thiện, khôn ngoan, công chính, làm phép lạ…nó phải là nội dung trung thực nhất của đời sống Kitô hữu; đó chính là đón nhận lòng nhân ái xót thương vô điều kiện Thiên Chúa ban và thực thi lòng nhân ái đó cách quảng đại đối với tha nhân. (Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty).

Làm giàu trước mặt Thiên Chúa là trở nên giàu có như Chúa Giêsu, luôn “yêu thương, khiêm nhu, hiền từ, đại lượng” (Cl 3,12) và “trên tất cả là lòng mến, giềng mối của mọi trọn lành”. (Cl 3,14).

“Lắm của cải đâu quý bằng danh thơm tiếng tốt, vàng với bạc nào trọng bằng được mến được thương” (Cn 22,1). 

Trong cuộc đời này, có biết bao người giàu tình thương, chăm lo cho bệnh nhân, chăm sóc trẻ em tật nguyền, tiếp đón người khổ đau bất hạnh, ưu tư lo lắng cho người sầu khổ, dấn thân phục vụ cho các hoạt động xã hội, bác ái và thăng tiến con người…

Có thể nói được là không ai giàu có, tự do, và mạnh mẽ hơn ‘người giàu trước mặt Chúa”, người mà niềm tin vào Chúa giúp họ vượt lên trên mọi tài sản trần gian, vì đã có “Chúa là nơi họ ẩn náu”(Tv 13,6). Vì thế, mối phúc đầu tiên được dành cho người nghèo, người “đặt niềm tin vào Đức Chúa, và có Đức Chúa làm chỗ nương thân” (Gr 17,7). Người giàu trước mặt Chúa không phải là người có nhiều tài sản, mà là người tài sản chỉ đủ dùng nhưng biết lo tìm kiếm Nước Trời : “Chúng ta đã không mang gì vào trần gian, thì cũng chẳng mang gì ra được. Vậy nếu có cơm ăn áo mặc, ta hãy lấy thế làm đủ” (1Tm 6,7-8).

Phải biết coi trọng con người hơn tiền bạc. Tình người đáng giá hơn giàu sang phú quý. Tiền bạc rồi sẽ hết. Chẳng ai mang theo gia tài khi chết. Có chăng là tình yêu thương đã chia sẻ với tha nhân nơi trần thế này để trở nên “giàu có trước mặt Thiên Chúa” trên Thiên Quốc. 

Thánh Phaolô diễn tả: “Anh em thân mến, nếu anh em đã sống lại với Đức Kitô, anh em hãy tìm những sự trên trời, nơi Đức Kitô ngự bên hữu Thiên Chúa… Quê hương đích thực của chúng ta là trời cao. Tại sao chúng ta xả thân miệt mài thu tích của cải dưới đất nơi mối mọt rúc rỉa? Hãy tìm kiếm những sự cao siêu hơn: Anh em hãy nghĩ đến những sự trên trời, chứ đừng nghĩ đến những sự dưới đất (Col 3, 1-2).

Để nên giàu có trước mặt Thiên Chúa, hãy sống quảng đại, mở rộng bàn tay để chia sẻ và cảm thông với mọi người, như thánh Phaolô khuyên dạy : “Hãy làm ơn làm nghĩa, hãy giàu có việc lành, hãy hào phóng, rộng rãi chia sẻ để tích trữ vốn liếng cho cuộc đời mai sau”. Của cải duy nhất đáng cho chúng ta tích luỹ là của cải của tâm hồn. Một tâm hồn quảng đại là một kho tàng. Có tâm hồn quảng đại là luôn “tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa” (Cl 3,1).

Hãy giữ mình khỏi mọi thứ tham lam

Hãy giữ mình khỏi mọi thứ tham lam
Lm Đan Vinh
 
Chúa Nhật 18 Thường Niên C
Gv 1,2; 2,21-23 ; Cl 3,1-5.9-11 ; Lc 12,13-21

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Lc 12,13-21 

(13) Có người trong đám đông nói với Đức Giê-su rằng: “Thưa Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi”. (14) Người đáp: “Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh ?” (15) Và Người nói với họ: “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam. Vì không phải hễ ai được dư giả, thì mạng sống người ấy nhờ của cải mà được bảo đảm đâu”. (16) Sau đó Người nói với họ dụ ngôn này: “Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, (17) mới nghĩ bụng rằng: “Mình phải làm gì đây ? Vì còn chỗ đâu mà tích trữ hoa màu ! (18) Rồi ông ta tự bảo: “Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. (19) Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: Hồn ta hỡi. Mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã !”. (20) Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta: “Đồ ngốc ! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ?” (21) Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa thì số phận cũng như thế đó”.

2. Ý CHÍNH: Một chàng thanh niên đến yêu cầu Đức Giê-su can thiệp để anh trai phải chia gia tài cho anh, nhưng Người đã từ chối can thiệp. Nhân dịp này Người đã dạy mọi người phải tránh thói tham lam ích kỷ, cũng đừng trông cậy tiền bạc sẽ bảo đảm cho tương lai đời mình. Rồi Đức Giê-su kể ra dụ ngôn về một người giàu có chỉ lo thu tích của cải để làm giàu cho bản thân. Điều đó thật dại khờ ! Vì chính lúc anh ta tưởng của cải sẽ bảo đảm cho tương lai mình sẽ được an nhàn hưởng thụ, lại là lúc cái chết thình lình ập đến. Thế thì tài sản anh ta tích trữ kia sẽ về tay ai ? Cuối cùng Người kêu gọi mọi người hãy lo làm giàu về nhân nghĩa có giá trị trước tòa Chúa phán xét sau này.

3. CHÚ THÍCH: 
- C 13-15: + “Xin Thầy bảo anh tôi chia phần gia tài cho tôi”: Luật Mô-sê qui định: trong việc thừa kế, chỉ con trai mới được chia gia tài. Trưởng nam được hưởng trọn phần di sản về bất động sản như đất đai nhà cửa, và còn được gấp đôi phần động sản như tiền bạc, hoa màu... nữa (x. Đnl 21,17). Vậy có một người anh cả kia sau khi cha chết đã chiếm hết tài sản cha để lại và không chia cho người em phần nhỏ bé mà lẽ ra anh ta được hưởng. Thời Đức Giê-su người Do thái thường yêu cầu một luật sĩ đứng ra làm trọng tài khi có sự tranh chấp về luật pháp. + Ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh ?: Tuy “là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán để xét xử kẻ sống và kẻ chết” (Cv 10,42), nhưng Đức Giê-su đã từ chối can thiệp về việc chia gia tài này, vì điều cấp bách mà Người phải lo chu toàn là đi lên Giê-ru-sa-lem chịu khổ nạn, nên Người không muốn mất thì giờ vào việc riêng cá nhân, vốn thuộc thẩm quyền của các đầu mục Do thái (x. Xh 2,14). + Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam...: Tuy từ chối can thiệp, nhưng Đức Giê-su không nhắm mắt làm ngơ. Nhân dịp này Người nêu quan điểm về thái độ người ta phải có đối với tiền bạc của cải là: phải tránh lòng tham lam và đừng tin vào sự bảo đảm của tiền bạc cho tương lai cuộc đời của mình.
- C 16-19: + Có một nhà phú hộ kia: Dụ ngôn cho thấy ông phú hộ đã thành công trong công việc làm ăn. Ông mở rộng thêm nhà kho để tích trữ thóc lúa dư thừa cho an toàn. + Ta sẽ nhủ lòng: đồng nghĩa với: “Tôi sẽ bảo hồn tôi”. Danh từ “hồn” có nghĩa là một con người sống động.+ Cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã !: Của cải vật chất đã tác động làm cho ông nhà giàu không những chi lo làm giàu, mà còn dẫn ông ta đến chỗ ăn chơi sa đọa và lười biếng làm việc, đồng thời trông cậy số tài sản lớn lao đã tích trữ được kia sẽ bảo đảm cho tương lai cuộc đời của mình.
- C 20-21: + Đồ ngốc: Cựu ước dùng kiểu nói “ngốc, ngu dại” để ám chỉ những người chối bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa như lời Thánh vịnh đã viết: “Kẻ ngu si tự nhủ: Làm chi có Chúa Trời” (x. Tv 14,1). Người phú hộ này được coi là kẻ ngu dại, vì đã lãng quên Thiên Chúa, do quá bon chen tìm kiếm của cải vật chất. + Nội đêm nay người ta sẽ đòi lại mạng ngươi: Có nghĩa là đêm nay Thiên Chúa sẽ gọi ngươi ra khỏi thế gian bằng cái chết. + Những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ?: Thiên Chúa mới là chủ của sự sống và sự chết chứ không phải tiền bạc. Của cải trần gian không thể bảo đảm cho người ta được sống mãi. Khi chết thì cả người anh giàu có khờ dại và đứa em nghèo khó đều không thể mang tiền đó sang thế giới bên kia được. Như thế: Lòng tham lam và sự tích trữ của cải là một hành động khờ dại và vô ích ! + Kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa thì số phận cũng như thế đó: Đức Giê-su nhắn nhủ về việc sử dụng của cải. Nếu dùng của cải để hưởng thụ một mình thì sẽ bị trắng tay khi giờ chết đến. Nhưng nếu dùng của cải để làm việc thiện, quảng đại chia sẻ cơm áo cho người nghèo đói, thì đó là cách để làm giàu trước mặt Thiên Chúa và sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh hằng đời sau (x. Lc 12,33; 18,22; 16,9; Mt 25,40).

4. CÂU HỎI: 
1) Tại sao người em lại yêu cầu Đức Giê-su can thiệp để người anh chia gia tài cho mình ?
2) Đức Giê-su đã từ chối can thiệp về việc chia gia tài này vì lý do gì ? 
3) Đức Giê-su đã khuyên bảo thế nào về thái độ phải có đối với tiền bạc của cải trần gian ? 
4) Tại sao Đức Giê-su gọi kẻ chỉ biết thu tích của cải và trông cậy vào giá trị của tiền bạc là “đồ ngốc”? 
5) Người muốn các tín hữu dùng của cải trần gian thế nào để được hạnh phúc sau này ?

I. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: “Kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó” (Lc 12,21).

2. CÂU CHUYỆN: 

1) LÒNG THAM KHÔNG ĐÁY :

TOLSTOI kể rằng một bác nông dân kia tên là Pakhom rất thích có một mảnh đất làm tài sản riêng. Sau một thời gian làm lụng cực nhọc, anh ta rất mừng khi tậu được một mảnh đất rộng tới 40 mẫu tây. Nhưng rồi sau đó, anh lại muốn sở hữu một mảnh đất khác rộng hơn. Anh liền chịu khó làm lụng vất vả, rồi bán đi mảnh đất cũ, cộng thêm tiền để dành, và cuối cùng đã mua được một mảnh đất 80 mẫu tây. Nhưng anh vẫn chưa cảm thấy thoả mãn, muốn có một mảnh đất khác rộng hơn nữa. Có người mách bảo rằng ở vùng bên kia núi có một bộ lạc mà dân chúng sống rất đơn giản, họ có rất nhiều đất, ai muốn mua bao nhiêu cũng được. Ngay sáng hôm sau, anh nông dân liền đi sang vùng đất phía bên kia núi. Vị tù trưởng bộ lạc nói: "Anh chỉ cần đặt cọc trước 1000 rúp là có thể sở hữu được vùng đất mà anh đi vòng quanh được trong ngày hôm đó. Nhưng phải nhớ kỹ điều kiện này là phải xuất phát từ 6 giờ sáng và đến đúng 6 giờ chiều phải quay trở lại điểm đã xuất phát. Nếu về không kịp một giây thì không những anh sẽ không được gì mà còn mất trắng luôn số tiền đã đặt cọc 1000 rúp kia nữa !"
Đêm hôm đó anh nông dân cảm thấy thật sung sướng không sao ngủ được. Vừa rạng sáng anh đã có mặt để nhờ người đánh dấu điểm xuất phát rồi bắt đầu đi. Càng đi anh càng sung sướng khi nhìn thấy phần đất của mình mỗi lúc một rộng ra thêm. Anh cứ đi và đi mãi quên cả dừng lại dọc đường để nghỉ ngơi ăn uống. Khi thấy mặt trời bắt đầu xuống núi anh liền hốt hoảng quay trở về. Nhưng vì đã đi quá xa sợ về không kịp nên anh cắm đầu chạy. Khi chạy về tới điểm đã xuất phát thì anh bị ngã gục xuống. Vị tù trưởng đến chúc mừng: "Xin chia vui với anh. Từ trước tới nay tôi chưa gặp được người nào đi xa được như anh. Anh hãy nhận phần đất của anh". Nhưng người nông dân kia đã không thể đứng dậy được nữa để nhận lấy phần đất của mình, vì anh đã chết !

2) TỪ “MỘT TÊN SÁT NHÂN” TRỞ THÀNH ÂN NHÂN CỦA THẾ GIỚI.

Cách đây khá lâu, vào một buổi sáng sớm, khi mở mấy tờ báo hằng ngày ra đọc, ON-PHIT NÔ-BƠN (Alfred Nobel) vô cùng sửng sốt khi thấy trên nhiều tờ báo hằng ngày có số phát hành rất lớn, đã đồng loạt đưa tin về cái chết của ông với những hàng tít trên trang nhất, kèm theo những lời bình luận đầy ác cảm đối với ông. Họ dùng những từ có tính bôi nhọ, hạ nhục cá nhân như: “Nô-bơn, ông vua cốt mìn đã chết”, “Tên đồ tể Nô-bơn đã bị tiêu đời”, “Nô-bơn, một tên sát nhân đã chế tạo các thứ vũ khí giết người hàng loạt giờ đây không còn nữa !”... Sau đó dư luận mới té ngửa ra rằng: người chết không phải là Nô-bơn nhưng là người anh ruột có tên gần giống với tên ông. Mặc dù các tờ báo kia sau đó đã phải đính chính và xin lỗi về việc loan tin thất thiệt. Nhưng dù sao các bài bình luận đó cũng là một cú “sốc” đối với Nô-bơn. Nó đánh thức lương tâm khiến ông phải suy nghĩ tự hỏi: “Tại sao báo chí lại coi ta là một tên đồ tể giết người như vậy ? Tại sao dư luận lại ác cảm và thù hận ta như thế ? Tại sao chẳng thấy ai nói một lời an ủi thông cảm và lấy làm tiếc về cái chết của ta ?” Sau thời gian này, Nô-bơn đã quyết định phải thay đổi hình ảnh xấu dư luận đang có về mình. Ông đã nhờ luật sư lập tờ di chúc để trao tặng toàn bộ số tài sản kếch sù gửi trong ngân hàng, số tiền ông kiếm được nhờ bán các phát minh khoa học về cốt mìn cho chính phủ. Từ đó mỗi năm một ủy ban quốc tế đã lấy ra số tiền lời, chia thành 5 phần thưởng có giá trị lớn để trao tặng cho những người có công phát minh về các lãnh vực: hòa bình, vật lý, hóa học, y học và văn chương. Nô-bơn đã thành công trong việc sử dụng tiền của vào việc tốt. không những làm cho ông lấy lại quân bình về tinh thần, mà nó còn giúp ông biến đổi dư luận đang coi ông là “một tên đồ tể giết người”, để công khai nhận ông là một vị đại ân nhân của nhân loại.

3) VỀ BA NGƯỜI BẠN THÂN CỦA CHÚNG TA :

Một người kia có 3 người bạn, trong đó hai người là bạn rất thân còn người thứ ba chỉ là bạn thân bình thường. Nhưng rồi đến một ngày nọ, ông ta bị quân lính đến bắt và bị đưa ra trước quan tòa. Ông ta liền xin 3 người bạn thân kia đi theo ra trước tòa án biện hộ cho mình. Nhưng anh bạn thân thứ nhất liền từ chối và dứt khoát không chịu đi theo ông, viện cớ đang bận nhiều công việc không thể đi được. Anh bạn thứ hai thì bằng lòng đi theo ông, nhưng khi đến nơi, anh ta liền dừng lại không dám theo ông vào nghe tòa xử. Chỉ có anh bạn thứ ba tuy không được ông mấy yêu thích, nhưng đã tỏ thái độ trung thành khi sẵn sàng ra trước tòa án để biện hộ cho ông cuối cùng được trắng án và còn được ban thưởng nữa.
Mỗi người chúng ta cũng có ba người bạn giống như người trong câu chuyện trên: Anh bạn thứ nhất là Tiền Bạc Của Cải: Khi chúng ta chết, anh bạn Tiền Bạc này lập tức bỏ rơi chúng ta, chỉ để lại cho chúng ta một chiếc chiếu và một cái hòm. Anh bạn thứ hai chính là các Thân Bằng Quyến Thuộc. Họ yêu thương khóc lóc tiễn đưa chúng ta ra tới nghĩa trang, nhưng sau đó đã quay về nhà. Chỉ duy anh bạn thứ ba là các Việc Lành Phúc Đức. Chúng sẵn sàng đi theo chúng ta ra trước tòa Chúa phán xét và cầu xin cho chúng ta được hưởng hạnh phúc Thiên Đàng.

4) THAM THÌ THÂM:

Người ta kể rằng ở miền rừng núi, dân Thượng có một lối bẫy khỉ rất đơn giản. Họ làm một cái lồng có nhiều lỗ nhỏ vừa tay con khỉ. Rồi họ buộc lồng vào một gốc cây và bỏ vào đó ít hạt bắp rang. Các chú khỉ ngửi mùi bắp thơm thì thò cả hai tay vào bốc. Lúc đó người bẫy khỉ ngồi xa xa cứ việc tiến lại bắt chú khỉ. Con khỉ cuống cuồng muốn thoát chạy nhưng không được, vì hai tay còn đang nắm chặt hai nắm hạt bắp.

5) ỨNG XỬ THẾ NÀO ĐỂ ĐƯỢC HẠNH PHÚC? :

Một ngày nọ, vua Nghiêu đi tuần thú đất Hoa, viên quan địa phương ra nghênh đón và chúc vua rằng: “Xin chúc nhà vua sống lâu”. Vua Nghiêu nói: “Đừng chúc thế!” Viên quan lại chúc: “Chúc nhà vua giàu có”. Vua Nghiêu lại nói: “Đừng chúc thế”. Viên quan chúc nữa: “Xin chúc nhà vua đông con trai”. Vua Nghiêu lại nói: “Đừng chúc thế”. Quan lấy làm lạ mới hỏi nhà vua: “Sống lâu, giàu có, đông con trai, ai cũng thích cả, sao nhà vua chẳng muốn?” Vua Nghiêu đáp: “Đông con trai thì sợ nhiều. Giàu có thì việc nhiều. Sống lâu thì nhục nhiều. Ba điều ấy không mang lại nhân đức nên ta từ chối.
Viên quan tâu: “Nhà vua nói thế thực là bậc quân tử. 
Nhưng trời sinh ra mỗi người phải có một việc: Nếu đông con trai, hãy cắt đặt mỗi người một nhiệm vụ thì có lợi chứ có gì mà sợ? 
Giàu có mà đem phân phát cho người nghèo thì việc gì phải lo? 
Ăn uống chừng mực, thức ngủ điều độ, trong lòng luôn thanh thản. Vui cái vui của thiên hạ, trăm tuổi nhắm mắt về trời. Một đời chẳng gây tai họa gì, thì có gì là nhục?”
Đứng trước tiền của, người ta có những thái độ rất khác nhau: Vua Nghiêu vì quá thận trọng nên chỉ nhìn thấy mặt trái của đồng tiền, nên của cải không sinh ích gì cho ông. 

6) HÃY QUẢNG ĐẠI CHO ĐI CỦA CẢI NGAY LÚC CÒN ĐANG SỐNG:

Có một người nọ rất giàu có và có lòng thương người nghèo. Ông đã làm di chúc trao phân nửa tài sản lớn lao của ông cho công việc từ thiện. Tuy vậy ông vẫn không cảm thấy hạnh phúc vì đi đâu cũng chỉ nhận được những cái nhìn soi mói, coi thường và khinh miệt của người chung quanh. Ông liền tìm đến hỏi một người nổi tiếng là khôn ngoan: “Tôi bị nhiều người coi thường và khinh miệt. Họ cho tôi là người keo kiệt bủn xỉn? Họ đâu biết rằng tôi đã làm di chúc hiến phân nửa gia tài làm công việc từ thiện”. 
Để trả lời, nhà khôn ngoan kể cho ông một câu chuyện như sau: Một chú heo than thở cùng chị bò cái: “Tôi cũng như chị, chúng ta cống hiến thịt mình cho loài người. Nhưng tại sao họ lại tỏ ra thân thiện với chị và khinh thường xa lánh tôi?” Ngẫm nghĩ giây lát, chị bò cái trả lời: “Cả hai chúng ta đều cống hiến thịt mình làm thức ăn cho loài người sau khi chúng ta chết. Còn bây giờ họ tỏ vẻ quí mến tôi hơn chú, có lẽ là do tôi đã cho họ được uống sữa tươi mỗi ngày”.

3. THẢO LUẬN: 

Có hai cách sử dụng đồng tiền: Nếu dùng tiền của cách ích kỷ thì ta sẽ bị mất sự sống ở đời sau. Ngược lại nếu biết dùng tiền của đời này cách bác ái vị tha thì ta sẽ có cuộc sống vĩnh hằng sau này. Vậy bạn sẽ sử dụng tiền bạc thế nào để mang lại lợi ích thực sự cho mình? 

4. SUY NIỆM: 

1) GIỮ MÌNH KHỎI MỌI THỨ THAM LAM: 

Nhân có người yêu cầu Đức Giê-su can thiệp để người anh ruột chia gia tài cho anh ta. Người trả lời: “Này anh, ai đã đặt tôi làm người xử kiện hay người chia gia tài cho các anh ?”. Nhân dịp này Người đã kể dụ ngôn về một nhà phú hộ đã lo làm giàu rồi lo phải hưởng thụ thế nào số tài sản đã kiếm được… để dạy mọi người phải tránh thói tham lam ích kỷ như sau:
-Thói tham lam: Lòng tham của nhà phú hộ biểu lộ qua sự tính toán làm giàu. Tính toán để làm tăng thêm lợi nhuận tiền bạc qua câu nói của ông : “Ta sẽ phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó”.
-Thói ích kỷ: Lẽ ra nhà phú hộ có thể làm được biết bao việc tốt cho tha nhân với số tài sản lớn lao đó như : giúp đỡ những người nghèo khổ sống bên cạnh nhà ông, tăng lương cho những người làm công cho ông; Đóng góp xây dựng trường học tại địa phương để trẻ em có nơi học hành tử tế; Góp phần tu bổ hội đường của làng mà ông đang ở cho khang trang tốt đẹp hơn... Nhưng ông đã không làm như thế, mà chỉ quan tâm dùng tiền để thỏa mãn các lạc thú ích kỷ qua sự suy nghĩ như sau: “Thôi, hãy cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã !”

2) GIÁ TRỊ ĐÍCH THỰC CỦA TIỀN BẠC LÀ GÌ ? : 

a) Người ta thường gán cho tiền bạc nhiều giá trị cao quý như sau: 
- “Đồng tiền liền khúc ruột” và “Của đau, con xót” …
- “Có tiền mua tiên cũng được” hoặc “Kim ngân phá lề luật”. 
- “Đồng tiền là Tiên là Phật; Là sức bật của tuổi trẻ; Là sức khỏe của tuổi già; Là cái đà danh vọng; Là cái lọng để che thân; Là cán cân của công lý; Là đồng chí thật thân thương; Là đồng hương rất thân cận; Là thời vận tuổi thanh xuân… 
Tóm lại tiền bạc được coi là nguyên nhân cho người ta được vui mừng hạnh phúc!

b) Nhưng Lời Chúa dạy hôm nay lại không dạy như thế ! : 
- Sách Giảng Viên trong bài đọc I đã nhắn nhủ về giá trị chóng qua của đồng tiền: “Phù vân, quả là phù vân. Phù vân quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân”.
- Trong bài đọc II, thánh Phao-lô khuyên các tín hữu khi nhờ bí tích Rửa Tội trở nên thụ tạo mới, được mặc lấy Đức Ki-tô và thuộc về Người thì : “Hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới”.
- Trong bài Tin Mừng, Đức Giê-su cũng dạy : “Đừng thu tích của cải trần gian cho mình mà hãy lo làm giầu trước mặt Thiên Chúa”. Vì những kẻ giàu có mà thiếu lòng nhân ái thì thật khờ dại như lời Chúa phán với tên phú hộ trong dụ ngôn: “Đêm nay người ta sẽ đến đòi linh hồn ngươi thì lúc đó những của cải ngươi tích trữ kia sẽ để lại cho ai ?”. 
- Thánh Phao-lô đã khuyên đồ đệ Ti-mô-thê và cũng là khuyên chúng ta hôm nay như sau : “Chúng ta đã chẳng mang gì vào trong thế gian, và chúng ta cũng không thể mang bất cứ cái gì ra khỏi đó” (1 Tm 6,7). 

3) CHÚNG TÔI PHẢI LÀM GÌ ? : 

- Hành trang cần mang theo khi chết: Một vị thừa sai tại Phi châu cũng cho biết như sau: Có một số dân tộc Phi châu hiện vẫn giữ tục lệ này: Khi một người trong bộ lạc chết, trước khi liệm xác chết vào quan tài, họ sẽ lột bỏ tất cả y phục kẻ đó đang mặc rồi mới đem đi chôn. Tục lệ này nói lên sự thật này là: chúng ta sẽ rời bỏ thế gian mà không mang theo được gì như tiền bạc châu báu và mọi vật dụng khác ! 
- Đừng ăn cắp tiền của người nghèo: Thánh Tô-ma A-qui-nô quả quyết: “Những người giàu đã đánh cắp của người nghèo khi họ tiêu xài phung phí những của cải dư thừa”. Có thể nói, chúng ta đánh cắp của người nghèo khi chúng ta thu lợi quá mức trên sức lao động của kẻ khác; Khi chúng ta giữ lại đồ đạc tiện nghi mà chẳng bao giờ dùng đến; Khi chúng ta ăn chơi, mua sắm hoang phí giống như ném tiền qua cửa sổ. Thánh Ba-si-li-ô nói : “Tấm bánh mà bạn giữ lại là của người đang đói khát, chiếc áo mà bạn cất trong va-li là của kẻ không có đủ quần áo che thân”.
- Hãy biến đồng tiền vật chất thành đồng tiền thiêng liêng đời sau : Chúng ta cần ưu tiên “lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa” bằng cách: 
Quảng đại chia sẻ cơm áo cho những người nghèo đói bệnh tật, như lời Chúa phán : “Hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, nơi trộm cắp không đào ngạch và lấy đi được” (Mt 6,20). Đến ngày tận thế, Vua Thẩm Phán Giê-su sẽ xét xử chúng ta dựa vào những việc bác ái chúng ta đã làm cho tha nhân như sau : “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu , các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm… Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,34-36.40).

5. NGUYỆN CẦU

LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin ban cho chúng con “mưa thuận gió hòa”, cho con người biết nghĩ tới nhau và biết chia sẻ cho nhau đáp ứng các nhu cầu cần thiết. Xin Chúa soi sáng cho người giàu biết thực hành Lời Chúa hôm nay để biết làm giàu cả về phần thiêng liêng, bằng cách quan tâm chia sẻ cơm áo vật chất cho những người đói khổ bất hạnh. Xin cho người nghèo đừng chỉ miệt mài đi tìm kiếm tiền của như lẽ sống đời mình. Xin cho mọi người chúng con biết thực hành Lời Chúa dạy : “Trước hết hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn các sự khác như ăn gì mặc gì thì Người sẽ thêm cho chúng con sau” (Mt 6,33).
X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

Thương Nhớ Cha


Thương Nhớ Cha


Tháng bảy trời mưa lất phất. Buồn. Nỗi buồn nhớ thương. Tháng tám trời cũng mưa. Nỗi buồn thêm da diết. Nhớ thương Cha nằm đó. Giữa lòng Nhà Thờ. Bình dị. Cô đơn.

Nhớ mùa xuân 75, khi chiến tranh đang diễn ra tại thành phố Buôn Ma Thuột , tôi cũng được đưa vào rừng cùng những người anh lớn tuổi. Sau vài ngày trong rừng, anh em được đưa lên xe Molotova, chạy suốt đêm, lên đồi xuống suối như vượt Trường Sơn. Ngày tuổi dại ấy, tôi chẳng suy nghĩ được điều gì. Tuổi thơ thật khờ khạo. Những ngày ấy vẫn lưu lại trong tôi nhiều kỷ niệm. Những kỷ niệm thân thương.

Suốt đêm băng rừng vượt suối. Sáng tinh mơ, mọi người được thả xuống ở vùng đất xa lạ. Hỏi ra mới biết đó là nghĩa trang Phan Bội Châu. Chủng viện thì xa. Tòa Giám Mục thì gần. Anh em dự tính về Tòa Giám Mục với vị Cha chung yêu dấu. Khi biết Ngài đang ở Dòng Nữ Vương Hòa Bình, trên một ngọn đồi, cuối đường Lê Văn Duyệt (nay là đường Xô Viết Nghệ Tĩnh), anh em đến chào Ngài. Hôm sau, tôi được hân hạnh tháp tùng Cha lội bộ đi thăm Nhà Thờ cha Bianchetti (nay là Nhà Thờ Mẫu Tâm). Ở đó, Cha thu dọn Mình Thánh Chúa và rước về Nhà Dòng. Khi trở lại, anh em đã về chủng viện. Một mình bơ vơ giữa Dòng nữ. Chiến tranh đang diễn ra nên Cha không dám để tôi một mình trở lại chủng viện. Vài ngày sau, Cha trở về Tòa Giám Mục, tôi cũng đã theo Cha về đó. Tòa Giám Mục Ban Mê Thuột, 70 Phan Chu Trinh, cũng là hộ khẩu thường trú đầu tiên của tôi.

Như một mục tử, dẫu chiến tranh đang diễn ra, Cha đi thăm các nơi, nhất là những nơi có nhà nguyện đặt Mình Thánh Chúa. Tôi còn nhớ, một lần, hai cha con lội bộ và chuyện trò rôm rả, để tránh đi cái hoang lạnh chết chóc của chiến tranh, trên đường vào Buôn Akõ Dhông (tên gọi khác là buôn Akõ Thôn, buôn Cô Thôn), đến nhà nguyện của các nữ tu dòng Biển Đức. Cha cất giữ Mình Thánh Chúa, và lặng lẽ quay về. Những bước chân trở về. Lặng lẽ. Buồn hiu hắt. Để xua tan không khí hoang vắng. Tôi gợi chuyện. Cha đáp lời bằng một cái nhìn ... yêu thương. À, thì ra, Thiên Chúa hiện diện nơi đây. Chúng ta phải kính thờ. Ôi, tuổi trẻ ngây ngô và khờ khạo.

        Tháng tám trời mưa. Trời mưa buồn. Nỗi buồn da diết.

Nhớ lại cách đây 29 năm. Trời tháng tám mưa buồn. Mưa da diết. Những hạt mưa như những giọt nước mắt khóc thương Cha. Ngày Cha ra đi. Trời cũng đổ mưa. Thương tiếc một vị mục tử tử vì đạo đã lặng lẽ về với Chúa. Ngày an táng, mọi người đến với Cha, với cờ xí ngập đường. Với những vành khăn tang trắng trên đầu. Lặng lẽ, khóc thương. Trong đám tang, tôi cũng cờ xí trong tay. Đưa tiễn Cha. Đám tang như một cuộc diễn hành đức tin. Một đức tin kiên vững giữa ba đào thử thách. Một đám tang ‘hoành tráng’. Một đám tang yêu thương.

Cha chọn Nhà Thờ Chính Tòa làm nơi yên nghỉ. Giữa lòng Nhà Thờ. Nơi giáo dân qua lại. Cha lặng lẽ nằm đó, để mọi người bước qua. Đời người mục tử dấn thân cho đoàn chiên. Chết cho đoàn chiên.

Cha nằm đó lặng lẽ. Lặng lẽ đến quạnh quẽ.

Hằng tuần, thậm chí hằng ngày, tôi vào Nhà Thờ dâng thánh lễ. Cầu nguyện với tất cả mọi ý nguyện mà mình nhớ. Còn Cha, nằm đó, lặng lẽ. Họa hoằn, tôi mới thấy một bó hoa đặt trên mộ hoặc có người cầu nguyện trước mộ Cha.

Cha cô đơn. Cô đơn ngay trong ngôi nhà của mình. Cô đơn ngay giữa đoàn chiên bao yêu dấu! Bao ngày giỗ đến rồi đi. Ai  nhớ, ai thương?

Cha vẫn ở đó. Giữa đoàn chiên. Lặng lẽ. Một mình. Cô đơn. Cô đơn như thân phận của mình!

Ngày mai, ngày giỗ lại đến. Mấy ai nhớ đến Cha !!!





Lễ giỗ Đức Cha Phêrô tại TTMV sáng ngày 02.8.2019
02.8.2019
Nhớ thương Cha
Gb. Nguyễn Thái Hùng

Phù vân và giá trị đích thực

Phù vân và giá trị đích thực
Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương
  
Chúa Nhật XVIII Thường Niên C
Gv 1,2; 2,21-23; Cl 3,1-5.9-11; Lc 12,13-21

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay gợi cho chúng ta chủ đề về ý nghĩa cuộc sống và thái độ cần có, đáng cho chúng ta suy gẫm và áp dụng vào đời sống mình. Chúng ta lần lượt tìm hiểu về sự phù vân được nói ở trong bài đọc I, về nền tảng của đời sống mới được nói trong bài đọc II, và thái độ cần có đối với của cải được đề cập trong bài Tin Mừng.

1- Mọi sự chỉ là phù vân

Trong bài đọc I, được trích từ sách Giảng Viên, ông Côhelét quả quyết: “Phù vân quả là phù vân. Phù vân quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân... Phải, đối với con người ấy, trọn cuộc đời chỉ là đau khổ, bao công khó chỉ đem lại ưu phiền.”

Theo các nhà chú giải, tác giả Côhelét là người tri thức, một người đứng đầu hay là người giảng dạy trong một cộng đoàn. Ưu tư của ông là đi tìm chân lý của cuộc sống, theo một lối tiếp cận rất hiện sinh và thực tế, chứ không theo lối trừu tượng, lý luận. Sách Giảng Viên khởi đi và kết thúc với một tư tưởng, một trực giác chủ đạo: “Phù vân, quả là phù vân!” Theo đó, vũ trụ cũng như đời người là một cái vòng xoay luẩn quẩn và nhàm chán. Xem ra cái nhìn của Côhelét rất bi quan yếm thế, tiêu cực về cuộc đời và con người. Nhưng lại rất thật, rất đúng. Nên cuốn sách này được xếp vào loại các sách khôn ngoan trong Kinh Thánh. Ông quan sát cuộc đời và kết luận: mọi sự là phù vân. Theo tiếng Do Thái, phù vân được dịch từ một danh từ Hípri ‘hebel,’ có nghĩa là làn gió, làn khói, như hơi nước, không khí. Vì thế, hình ảnh này được dùng để chỉ những gì là phù vân, không bền chắc và chóng qua. Mọi cái như hơi nước, như khí, đều qua đi, không có giá trị gì cả: trời đất sẽ qua, con người sẽ phải chết, của cải, danh vọng, hưởng lạc cũng chẳng mang lại tích sự gì.

Kinh nghiệm này cũng chính là kinh nghiệm của chúng ta hôm nay, nhất là với những người đã từng trải trong cuộc sống. Nhiều lúc chúng ta cũng trải qua những kinh nghiệm không mấy sáng sủa: tình yêu, tiền bạc, danh vọng và hưởng lạc, cuối cùng chỉ là phù vân!

2- Đâu là giá trị cuộc sống?

Vậy thì sống để làm gì? Đâu là giá trị đích thực của cuộc sống? Vượt trên những gì là phù vân, cái gì tồn tại? Ông đi tìm kiếm lý lẽ của cuộc sống, bên trên và đằng sau vòng luẩn quẩn đó. Đối với ông, nền tảng đó chính là niềm tin vào một Thiên Chúa tốt lành và quan phòng, luôn hành động trong lịch sử và trong đời sống con người, đó là niềm hy vọng: dù mọi sự trong cuộc đời này có phù vân đến đâu, thì cuối cùng đời người sẽ “còn lại” một điều gì đó tốt đẹp mà cái chết cũng không cướp đi được. Như thế, lời của ông Côhelét xem ra tiêu cực, nhưng cuối cùng nó dẫn chúng ta tới một niềm tin và hy vọng rất tích cực. Tuy nhiên, niềm tin còn cần phải được Đức Kitô soi chiếu.

Chúng ta tìm thấy ánh sáng soi chiếu cho niềm tin này trong bài đọc II trích từ thư Côlôxê. Thánh Phaolô nói về niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh là nền tảng cho niềm hy vọng và đời sống mới của chúng ta: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Kitô, nên hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa.” Thánh Phaolô còn xác tín rằng được biết Đức Kitô là mối lợi lớn nhất. Ngài nói: “Tôi coi tất cả là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rơm rác, để được Đức Kitô” (Pl 3,8).

Quả thế, nếu Đức Giêsu không đến thế gian để cứu độ con người, mọi sự chỉ là phù vân. Cái chết sẽ chấm dứt mọi sự. Và nếu Đức Giêsu không chỗi dậy từ cõi chết, thì niềm tin và niềm hy vọng của chúng ta trở nên hão huyền! Nhưng nhờ mầu nhiệm nhập thể, tử nạn và phục sinh của Người, giá trị cuộc sống được tái lập, con người được tạo dựng cho điều cao cả và vĩnh cửu, chứ không phải cho sự phù vân và hư mất. Với bí tích Rửa Tội, chúng ta được tham dự vào đời sống mới trong Chúa Kitô, trở thành con cái Thiên Chúa trong Thánh Thần. 

Vì là con Thiên Chúa và được cứu độ bởi giá máu châu báu của Chúa Kitô, thánh Phaolô mời gọi chúng ta: “Vậy anh em hãy giết chết những gì thuộc hạ giới trong con người anh em: ấy là gian dâm, ô uế, đam mê, ước muốn xấu và tham lam; mà tham lam cũng là thờ ngẫu tượng... Anh em đã cởi bỏ con người cũ với những hành vi của nó rồi, và anh em đã mặc lấy con người mới, con người hằng được đổi mới theo hình ảnh Đấng Tạo Hóa, để được ơn thông hiểu.” Đó là đời sống mới, con người mới trong Chúa Kitô. 

3- Tránh lối sống hưởng thụ ích kỷ

Để sống như những con người mới, Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng mời gọi chúng ta cảnh giác với thái độ tự thỏa mãn với của cải vật chất và hưởng thụ ích kỷ thú vui ở đời qua câu chuyện người phú hộ trong dụ ngôn. Theo đó, ông không bị lên án bởi vì ông ta giàu có, cũng không phải vì ông tự đảm bảo tương lai cho mình, nhưng ông bị lên án vì ông không quan tâm đến Thiên Chúa và tha nhân. Ông tự thỏa mãn với những gì mình có và hưởng thụ một cách ích kỷ, không biết chia sẻ với tha nhân. Ông tự nhủ: “Hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã.” Ông trở thành người tôn thờ của cải và sự giàu có của mình. Ông là người ngốc bởi vì ông không biết rằng, mọi sự là phù vân nếu thần chết gõ cửa mà cuộc đời không có Thiên Chúa.

Bài học mà Chúa Giêsu muốn gửi tới chúng ta là thái độ đúng đắn trước của cải vật chất. Cũng như mọi người, tất cả chúng ta đều muốn sống hạnh phúc, sống tốt. Thiên Chúa cũng muốn tất cả con cái Người không thiếu thốn những gì cần thiết cho cuộc sống. Biết làm giàu một cách lương thiện là một điều đẹp lòng Chúa. Có của cải vật chất không phải là điều đáng chê trách, đó là điều đáng ước ao. Tuy nhiên, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta tránh lối sống coi của cải là trên hết, hay biến chúng như một thứ ngẫu tượng cuộc đời, nhưng biết dùng tiền của để mưu cầu hạnh phúc đời này và đời sau, biết sử dụng tiền của để sống đẹp ý Chúa, và biết giúp đỡ tha nhân, nhất là những người nghèo khó. 

Xin Chúa cho mỗi người chúng ta luôn biết ý thức về sự phù vân của cuộc sống, biết tìm kiếm những gì thuộc thượng giới là chính Thiên Chúa và biết sống quảng đại chia sẻ với tha nhân. Amen!

ĐCV Vinh Thanh - Nghệ An