Trang

Thứ Năm, 4 tháng 7, 2013

Phao-lô, vị thánh của mọi thời (kỳ 20)

Phao-lô, vị thánh của mọi thời (kỳ 20)


KHÁC BIỆT TRONG THƯ RÔMA
VÀ CẢ NƠI THÁNH PHAOLÔ NỮA
(Xem L. McRayPaul in Recent Research)

Một số nhà cải cách lại đã diễn giải vấn đề nóng bỏng xảy đến vào lúc thánh Phaolô dựa theo ánh sáng phấn đấu chống hệ thống pháp luật. Các vị này dựa theo khuôn những người có lòng sốt sắng mộ đạo có từ cuối thời Trung Cổ, coi đó như “mẫu mực” lề luật định ra cho người thường. Các ngài có được mẫu mực này là nhờ kinh nghiệm riêng tư, sâu sắc của mình về niềm tin. Thế nên, các ngài đọc thư thánh Phaolô thường theo nhãn giới phấn đấu cho huệ-lộc lành thánh chống báng lề luật.      

Làm như thế, các ngài lại tạo nên bức hiếm hoạ về Do-thái-giáo, coi đó như Đạo của hệ thống pháp lý. Điều này còn thấy nơi bản văn kinh điển của các tác giả như: Ferdinand Weber, Emil Schurer, Wilhelm Bousset và cả Rudolf Bultmann nữa. Hiểu như thế, cũng là hiểu theo phong cách rất “Luther” và “Đức quốc”. Bằng vào chỉ trích hệ thống những luật và luật như thế, nhiều vị lại đã ngấm ngầm biện luận chống chủ thuyết Công giáo La Mã về hệ pháp lý và theo phe Thệ Phản khi đề cập đến huệ lộc.

Một thách thức khác đến từ H. Montefiore (người Do thái), hoặc G.F. Moore (người Anh). Nhưng bản chất đích thực lại do lập trường của Ed Sanders trong “Paul and Palestinian Judaism”. Tác giả này lại đã chế ra thành ngữ “định hình giao ước” nói về tính dễ dạy của con người trong mọi việc; nhưng lại không coi đó như phương thế thực tế để đi vào Giao ước của Chúa. Đây, đúng ra là một ràng buộc do “tính cách quí tộc” khi ta được phép đi vào với tính chất ấy một cách tự do. Tự do vào đó, không là chuyện mình có thể tạo nên được điều gì cho mình. Bởi thế nên, giao ước mang tính tự do và là quà tặng trước hết và trên hết vẫn qui định về hậu quả đối với riêng ta, mà thôi. Bằng vào tuân giữ qui định, ta công khai chứng tỏ rằng ta được tặng ban giao ước ấy.

Krister Standhal vốn dĩ là giáo sư đại học Harvard và sau đó trở thành Giám mục hệ phái Luther ở Thụy Điển, đã xác chứng rằng: thánh Phaolô không có kinh nghiệm về cái nhìn nội tâm gay gắt vốn đã trở thành người phương Tây đặc biệt sau thánh Âu Tinh. Thánh-nhân cũng chưa từng có đặc tính tâm lý sâu sắc của lối chú giải Tin Mừng hoặc theo kiểu thánh Âu Tinh hoặc kiểu của hệ phái Luther. Nhưng, thánh Phaolô lại có lương tâm rất rõ ràng. Chẳng bao giờ vãn than về tội lỗi. Thánh-nhân không chê trách “cái tôi” của một ai, mà chỉ phiền vì tội lỗi vẫn cứ rào cản của nhiều thứ. Ông không phản đối chống lại những cố gắng trở nên công bằng/phải lẽ ngõ hầu được hưởng ơn huệ của Thiên Chúa. Một khi tác giả nêu ra điều đó, đã kéo theo một vấn nạn: vậy thì thánh Phaolô chống đối những gì?

Trong khi đó, tác giả Ed Sanders lại hiểu rằng: thánh Phaolô đã có kinh nghiệm để giải quyết trước cả khi vấn đề được đặt ra. Giải pháp định đoạt, là tư thế duy nhất của Đức Kitô trong lịch sử và là quà cứu chuộc vũ trụ ở nơi Đức Kitô. Nếu điều này là có thật, thì ơn cứu chuộc hẳn sẽ không ngang qua lề luật của người Do thái hoặc luật lệ nào khác. Tác giả Ed Sanders còn minh xác rằng: luận điểm đích thực nơi thánh Phaolô là: thánh nhân đã bác bỏ nhu cầu cần phải đích thực trở thành người Do thái mới được ở trong giao ước với Chúa. Thật ra thì, mọi người đều có nhu cầu ở với và ở trong Đức Kitô, rất phải lẽ.

Tác giả James Dunn lại sáng chế ra ý tưởng về “viễn tượng mới của thánh Phaolô” (1982). Đó không là chính lề luật mà thánh Phaolô từng chỉ trích người khác, mà là sử dụng lề luật một cách sai trái để rồi biến nó thành thứ rào cản xuất từ xã hội bên ngoài. Việc sai trái được thánh Phaolô định danh coi như “động tác của luật lệ”. Đằng khác, gọi đó là việc sử dụng luật lệ một cách sai trái, vì nhiều người lại cứ coi đó như phù-hiệu đặc trưng để chứng tỏ mình là hội viên có chân trong giao ước được tặng ban theo cách rất tự do. Cũng tương tự như việc bắt buộc người hồi hướng trở về Đạo Chúa phải chấp nhận để được cắt bì hoặc giữ luật kiêng khem đồ đã cúng.

Tom Right trong sách do ông viết có tựa đề là “Những Điều Được Thánh Phaolô Thực Sự Nói Ra”, đã nhấn mạnh đến cốt tủy của sứ điệp thần-học do thánh Phaolô chủ trương, không là sự “công chính” do niềm tin mình đã có, mà do cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu Ngài đem đến mà thôi. “Công chính”, không là phần cốt tủy nằm trong tư tưởng của thánh Phaolô, mà là một khẳng định rõ nét về những chuyện đại để như thế. Lập trường của Saolô ở giai đoạn trước khi trở thành Phaolô-tín-hữu-Đạo-Chúa không mang tính cách của một nhà luân lý mộ-đạo luôn phản chống cung cách của Pelagius đi vào với giao ước hoặc đạt chốn Thiên đàng bằng vào công lênh của riêng mình. Ngay từ đầu, thánh Phaolô không thiết tha gì đến chuyện “đạt chốn Thiên đàng, sau khi chết”. Thánh nhân là kiều bào gốc Do thái rất sùng đạo luôn ưu tư/quan ngại về việc gột rửa Israel khỏi tầm tay của người ngoài Do thái nay hồi hướng về với Đạo, tức những người từng có thái độ thiếu nghiêm túc với luật Torah, của Do thái. Khi thánh Phaolô hồi hướng về với Đạo Chúa và trở thành tín hữu rất chuyên chăm, thánh-nhân quyết duy trì lập trường mang dáng-dấp rất Do thái, nhưng vẫn đầy ắp tư tưởng mang nội dung rất mới. Thánh Phaolô khám phá ra được niềm tin nơi Giao ước với Chúa lâu nay được biểu hiện bằng việc tặng ban nhờ vào cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu. Và, điều đó đã xảy ra cho cộng đoàn hội thánh sống rất khác, vốn là kết quả của một chuyển đổi, cải tân.

Nay, bằng vào việc nhấn mạnh lên tương quan thần học về Đế quốc La Mã mà tác giả Crossan và Reed cùng những người cộng tác với hai ông mang đến cho ta, khiến ta có thể đặt lớp vỏ chính trị bọc lên xương cốt, lẫn thịt da.


SỰ CÔNG CHÍNH

Tuyên ngôn Augsburg ban hành ngày 31/10/1999 được ký kết giữa Đức Gioan Phaolô II đại diện cho Hội thánh Công giáo và phía bên kia là Hiệp hội hệ phái Luther thế giới, có viết:

“Cùng nhau, chúng tôi tuyên xưng: chỉ mỗi ơn thánh, trong niềm tin vào ơn cứu chuộc của Đức Kitô chứ không do công nghiệp của con người, mà ta được Chúa chấp nhận cho hưởng ơn lành từ Thần Khí đã canh cải tâm can bằng việc trang bị cho ta và kêu mời ta vào với công trình lành thánh này.

Ơn lành rất thánh, là bạn đồng hành của người công chính có Chúa ở với niềm tin, ở sự thương yêu, hy vọng ngõ hầu lãnh nhận công trình tạo dựng và ơn cứu chuộc của Thiên Chúa. Tuy nhiên, bổn phận của người công chính là không được phí phạm ơn lành thánh này, mà phải sống đích thực ơn lành ấy. Ta được khích lệ làm việc lành phúc đức, là để sống thực hiện niềm tin ta có được.”

Trên nguyên tắc, việc này chấm dứt mọi tranh luận về ơn thánh. Và, thánh Phaolô vẫn ở giữa sự cải cách và hội thánh La Mã kể từ khi có sự canh cải.


DIỄN GIẢI CỦA GIỚI CÔNG GIÁO VÀ ANH GIÁO
VỀ CẢI CÁCH

Thế nào là sự công bằng/phải lẽ vốn là nền tảng cho công cuộc đại kết?

Thế đứng của Hội thánh Công giáo là muốn xoay quanh toàn bộ cuộc tranh luận về sự “công chính” dựa vào sự công bằng/phải lẽ ở nơi Chúa, trước nhất không hiện diện ở “thế giới” thọ tạo. Khi nói sự “công bằng/phải lẽ ở nơi Chúa”, tôi muốn nói đến đường lối qua đó Thiên Chúa hướng về những người được Ngài đoái nhìn, bằng vào việc vinh danh tính nội tại của Ngài. Đây là ý nghĩa sự việc mà người Hy Lạp thường gọi đó là “dikaiosume tou theou”, tức điểm nhấn qui về tính nội tại ở một trật tự khác bất kỳ thọ tạo nào. Tôi đồng ý có cái gì đó nói về đặc tính công bằng/phải lẽ của Thiên Chúa (mà người Hy Lạp gọi là dik.tou theou) đã không đi vào thế giới thọ tạo một cách chừng mực, nhưng đó chỉ là sự tham gia nối tiếp theo sau, chứ không trực tiếp qui về sự “công bằng/phải lẽ” ngay từ đầu. Không phải là nó có mặt ngay từ lúc đầu, mà là phát sinh từ trật tự hiện đang có hoặc từ vũ trụ thọ tạo của chúng ta; hoặc thể hiện ở không gian và thời gian, hoặc ở chuỗi lý luận có sự hiện hữu của vũ trụ trong hiện tại hoặc tương lai mai ngày. Lề lối suy tư của giới Công giáo tùy thuộc nền thần học tiên khởi về Đấng Tạo Dựng và vào triết lý về việc tham gia vào những gì mang tính chừng mực có từ Đấng Tạo Dựng Không Hạn Chế. Tham gia công cuộc tạo dựng là quà tặng thuần túy và bản chất tặng trao như thọ tạo tốt lành vốn hàm ẩn trong quan hệ giữa thọ tạo và Thiên Chúa, Đấng Tạo Dựng, mãi mãi vẫn là thế. Công cuộc tạo dựng đã là và mãi là “công bằng/phải lẽ” ở bên trong và ngang qua hiện hữu sống động của Đấng Tạo Dựng rất Công Chính.     

Theo kinh điển, thì nền thần học Cải cách và, theo nghĩa rộng rãi hơn, thần học của Anh Giáo không tiếp cận vấn đề từ góc cạnh này. Thiên Chúa là Đấng Tạo Dựng, Ngài không hề là nguồn mạch sống tham gia một chút nào đó nhưng Ngài là Đấng Trọn Hảo hơi xa cách, theo tính siêu việt, thì Ngài ở bên trên mọi thọ tạo. Khi nền thần học nhìn vào thế giới và nhân loại như đang hiện hữu, thì thần học này coi thế giới như mớ bòng bong, hỗn độn. Thiên Chúa là Đấng lướt thắng mọi hỗn độn, ngài từng bộc lộ rằng Ngài sẽ gột rửa hỗn độn ấy, vào lúc nào đó cũng rất chóng. Điểm nhấn ở sự việc này, là tính chữa lành của Thiên Chúa vẫn có mặt với thọ tạo, chứ không phải khía cạnh tạo dựng thế giới. Thế nên, thần học này cũng “thực tiễn” khi nhìn vào hiện tại, như việc chữa lành/gột rửa đang xảy đến. Và từ đó, nó đặt động thái của Thiên Chúa vào tương lai, thời Cánh Chung.

Điểm nhấn về sự công chính phải có trong thế giới của ta, sau sa ngã. Bởi, sự công chính ấy không thể như thế (ít nhất theo nghĩa trọn vẹn) ở thế giới hiện tại của ta, nên nó sẽ xảy đến trong tương lai, mai ngày (tiếng Hy Lạp gọi là eschaton). Nhưng, hiện có những bước đi trước của sự việc sẽ xảy ra như thế –tức: thời khắc trong đó ta thấy được sự có mặt rất tích cực của Thiên Chúa, Đấng chữa lành mọi sự. Niềm tin, là tin tưởng vào sự “công chính” ở vào thời hiện tại không đầy đặn của hôm nay, nơi hiện hữu trọn vẹn ở lai thời, và cả ở sự việc xảy ra như bước đi trước, của hiện tại. Điều này khiến cho các nhà thần học nói trên có được lập trường về “công chính và lỗi phạm” cùng một lúc. Do tự tư thế này, nay đã có điểm nhấn về ơn cứu chuộc không theo chiều kích của sự công chính lẽ đáng ra phải như thế, nhưng như một kết cuộc theo kiểu cánh chung, thời vị lai. Thành thử, bây giờ đây, ta đang ở vào tình huống có được cả hai thứ, tức: chưa-được-cứu-chuộc và đã-được-cứu-chuộc-trong-lai-thời, tức ơn cứu chuộc ta hằng tin tưởng và hy vọng, kể từ đây.

Một số vị, đặc biệt là các vị bên Anh giáo, lại cũng nói: tạo dựng nguyên thủy đã có và xứng đáng để có được tính “công chính” của nó. Đó là lý do cho thấy: tại sao các vị ấy đã coi việc Đức Giêsu sống lại như một bước tiến rất lớn trong việc tái hồi tạo dựng từ nguyên thủy. Sở dĩ như thế, là do các vị này nhìn vào sự công chính nơi tạo dựng nguyên thủy ngay tận bên trong, chứ không chỉ như động thái tham gia tùy thuộc Đấng Tạo Dựng ở phần nội tại, nên các ngài lại nghĩ: sự công chính như thế hẳn sẽ mang tính chất rất thể lý. Và từ đó, các vị lại nhấn mạnh lên tính chất xác thể của Đức-Giêsu-Phục-sinh. Đây cũng là điểm khởi đầu cho một khẳng định về sự trỗi dậy của thế giới nhân trần, rất vũ trụ.

Xem như thế, có tầm mức ở bên dưới, lại đã nói về thể loại nào đó có sự công chính rất chức năng mang phong cách rất Anh quốc trong đó một số vị bên Anh-giáo lại cũng đề cập đến sự công chính này.

Riêng tôi, tôi lại nghĩ: đúng hơn, ta được Chúa ban cho khả năng tiếp cận những gì khác lạ nhưng vẫn là thể-chế trọn vẹn có trật tự thời hiện tại và tương lai của vũ trụ này. Từ cái nhìn có tính khoa học, tôi nghiêng về lập trường coi toàn bộ trật tự hiện tại và tương lai ở tạo dựng như việc tiến dần vào “sự thể khác” và thấy nó đầy đặn ở nội tâm.

Nhiều lúc, ta cảm nghiệm được sự thăng hoa của hiện tại và tương lai (tức: mở ra với lập trường lưỡng nguyên rất hữu lý) và có như thế, ta mới được nâng nhấc dẫn vào thế “chạc ba/vòng kiềng”. Thánh Phaolô cũng có nhiều thời khắc tựa như thế, chí ít là khi thánh-nhân thăng hoa lập trường đối lập về lưỡng-nguyên, như: Do thái/dân ngoại, tự do/nô lệ, nam nhân/tự do, vv.. trong điều mà người Hy Lạp gọi là “koimonia” cũng rất thực. Theo tôi, kinh nghiệm không hẳn là đã mang tính cách “tin tưởng”, dù ta có gọi đó là như thế. Bởi, tin là xác nhận trong tin tưởng rằng: sự thể đầy tính cách ngoại lệ có thể không thấy nơi và qua Đức Giêsu Kitô, Đấng đi vào phần nội tại của điều mà ta gọi là “Phục Sinh” quang vinh.

Chọn lựa nền thần học nào đó, ắt sẽ ảnh hưởng lên cung cách của người đọc thư do thánh Phaolô ghi, đặc biệt là thư Rôma. Trình bày của tôi, ở đây, chỉ mang tính động lực dẫn ta đi vào với Tình Thương Yêu để rồi sẽ nhận ra rằng: cuối cùng thì, ta cũng nhận ra được thuốc giải từ thánh Phaolô đế chống lại tình hình của Đế quốc, trong đó thánh-nhân sinh sống. Đó cũng là lý do khiến tôi đề nghị: ta nên tìm về với Lyonnet cùng tác giả Crossan, khi đọc thư Rôma, để nắm rõ bối cảnh và tình tiết này.


Thư tịch đọc thêm:

-Helmut Koester, Paul’s proclamation of God’s Justice for the nations, chương 1 trong Paul and his World, Interpreting the New Testament in its context, Fortress Press, Minneapolis, 2007, t. 3-14

-John Dominic Crossan and Jonathan L. ReedIn Search of Paul, how Jesus’s Apostle opposed Rome’s Empire with God’s Kingdom, 2004

-Aloysius Pieris, Jon Sobrino and the Theology of Liberation, East Asian Pastoral Quaterly, 2007.
Mai Tá lược dịch

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét