Trang

Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2013

SUY NIỆM : Cầu nguyện không ngừng




SUY NIỆM : Cầu nguyện không ngừng

Rõ ràng Lời Chúa hôm nay muốn dạy chúng ta về việc cầu nguyện. Bài sách Khởi nguyên cho chúng ta thấy gương cầu nguyện nơi Abraham. Thánh Luca trong bài Tin Mừng ghi lại giáo huấn của Chúa về sự cầu nguyện. Còn bài thư Phaolô khẳng định Thiên Chúa đã chấp nhận chúng ta nên chúng ta không còn lý do gì để ái ngại khi cầu nguyện. Chúng ta hãy suy nghĩ những bài Kinh Thánh hôm nay để đổi mới việc cầu nguyện của chúng ta.

1. Abraham Cầu Nguyện

Chúng ta hẳn còn nhớ chuyện Abraham tiếp khách. Ông đã tỏ ra quảng đại khiêm cung lạ thường. Ông mời khách vào nhà, nhào bột làm bánh, bắt dê làm thịt và đứng hầu hạ khách. Xong rồi ông lại tiếp khách lên đường. Chính đang lúc khách đi về phía Sôđôma đã xảy ra câu chuyện hôm nay.

Khách đây là chính Chúa. Người nói cho Abraham biết: có tiếng cáo tội Sôđôma vang đến tai Người. Người muốn đến tận nơi xem có đúng như vậy không?

Sự thật thì Chúa đâu cần phải đi quan sát như vậy? Có gì che dấu được mắt Người, ngay cả những uẩn khúc đen tối nhất của lòng người mà ca dao tục ngữ các dân tộc vẫn bảo là không thể dò thấu? Ðối với Chúa, chẳng có gì che dấu được. Nhưng sở dĩ tác giả sách Khởi nguyên viết rằng: Chúa muốn đến tận Sôđôma để biết sự thật thế nào là để mạc khải sự thật đó cho Abraham, và nhất là để gợi lên ý tưởng Chúa còn để thời gian cho Abraham có thể thỉnh cầu Người cho dân thành tội lỗi.

Abraham hiểu như vậy. Hơn nữa tác giả sách Khởi nguyên vừa nhắc (18,18) ơn gọi phổ cập của ông. Chúa đã chọn ông để mọi dân tộc được chúc phúc. Thế nên hạnh phúc của Sôđôma, bề ngoài như không dính dáng gì tới ông, nhưng thật sự cũng đang tùy ở ông.

Abraham đã đóng vai trò là cha muôn dân của mình. Ông mạnh dạn thưa với Chúa: "Phải chăng Người sẽ tiêu diệt kẻ lành làm một với người dữ?". Ông muốn nại đến công bình và công lý sao? Không, ông đã đi xa hơn nữa. Vì nếu chỉ muốn nói đến công lý và công bình thì ông sẽ xin Chúa đưa người lành ra khỏi thành trước khi giáng phạt Sôđôma. Công việc tất nhiên Chúa sẽ làm. Không ai phải nhắc Người điều ấy. Và Abraham cũng chẳng có giá trị gì khi xin một ơn như thế. Nhưng sự thật ông đã không muốn nói đến công lý và công bình. Ông đã đi xa hơn để đóng đúng vai trò trở thành nguồn hạnh phúc cứu độ của muôn dân. Ông thỉnh cầu cho chính dân thành tội lỗi, cho chính những kẻ lẽ ra sẽ bị phạt... Ông muốn xin Chúa, vì sự hiện diện của những người lành, tha thứ cho kẻ tội lỗi.

Lời cầu xin của Abraham vì thế là lời cầu bầu. Ông là vị trung gian bầu chữa cho kẻ có tội. Những người này chẳng thuộc gia đình dòng dõi ông, thành ra Abraham ở đây là người của mọi người và của mọi dân tộc. Ông đang đóng vai trò tổ phụ muôn dân. Ông đang thực hiện Lời Chúa hứa làm cho ông trở nên nơi chúc phúc cho các dân tộc.

Chúng ta không thể nào không mến phục ông khi thấy ông vừa kính trọng công lý của Chúa nhưng đồng thời vừa tha thiết với sự rỗi của mọi người. Mỗi khi ông xin Chúa giảm con số những người công chính từ 50 xuống 45, 40, 30 rồi 20, chúng ta thấy rõ hai tâm tình ấy. Kiểu cách ông xin cũng tỏ ra rất tế nhị và không thiếu những ám chỉ thần học. Lúc thì ông thú nhận mình chỉ là tro bụi trước mặt Chúa, lúc thì ông lại xin Chúa nghĩ xem nếu để kẻ lành bị phạt lây với một kẻ dữ há chẳng bất công hơn là tha thứ cho một số đông người có tội, vì sự hiện diện của những người lành kia sao? Có lẽ điểm thần học đáng lưu ý nhất trong câu chuyện này là sự có mặt của người công chính ở giữa tội nhân có thể là một sự che chở cho những người này. Nói đúng hơn, xã hội loài người nhiều khi còn được hưởng sự khoan dung của Chúa, là vì trong xã hội ấy còn có một số ít người công chính.

Và điều này là một khích lệ đối với chúng ta, những người có niềm tin. Chúng ta giúp ích cho xã hội trước hết bằng nỗ lực sống thánh thiện. Nếu nơi nào có một số những con người cố gắng nên thánh, Chúa còn có thể khoan dung đối với xã hội nơi ấy, cho dù ở đó có nhiều kẻ tội lỗi muốn lôi kéo sự trừng phạt của Chúa công minh. Nhất là khi những nơi ấy lại có những con người nguyện giúp cầu thay cho kẻ tội lỗi, tiếp nối thái độ cầu bầu của Abraham trong câu chuyện này.

Và đây cũng là lý do vì sao trong tôn giáo chúng ta luôn luôn có việc thúc đẩy nhau cầu nguyện cho mọi hạng người, kể cả những người xa lạ với chúng ta.

Chỉ có điều tiếc trong câu chuyện này là Abraham đã không dám tiếp tục nài xin Chúa thương tha cho dân thành tội lỗi, nếu không tìm được 10 người công chính. Ông đã dừng lại nơi con số này vì ông tưởng đó là con số tối thiểu có thể sánh bằng được với con số đông đảo những kẻ tội lỗi. Ông chưa hiểu hết lòng Chúa. Người sẽ phán trong sách Giêrêmia rằng: nếu tìm được ở Giêrusalem một người mà thôi biết giữ công lý, Người cũng sẽ tha tội cho cả thành (5,1). Và trong sách Êzêkien, Người cũng nói: nếu tìm được người nào đứng trước nhan Người để bầu chữa cho xứ sở, Người cũng sẽ ngưng trút thịnh nộ xuống (22,30). Những lời khẳng định ấy phải làm chúng ta phấn khởi hơn nữa trong nỗ lực nên thánh và cầu nguyện cho xã hội...

Nhưng cũng chính những lời này có lẽ lại biện minh cho thái độ của Abraham. Có thể tìm được một người công chính trong thành Sôđôma không? Vẫn biết Chúa sẽ cứu ông Lot với gia đình ông, nhưng có thể vì Abraham hơn là vì Lot là "người công chính". Không chỗ nào trong Kinh Thánh, Lot được tuyên dương như vậy. Bởi vì nói cho cùng mọi xác phàm đều là tội lỗi. Người công chính duy nhất có thể cứu được loài người tội lỗi và có khả năng giúp cầu thay cho mọi người, là người tôi tớ Thiên Chúa trong sách của Isaia (53,5-10). Nhưng đó là nhân vật mầu nhiệm, chưa rõ rệt trong sách Cựu Ước. Phải đợi đến khi Ðức Giêsu Kitô chịu chết trên thập giá và cầu xin Thiên Chúa "tha tội cho chúng vì chúng lầm chẳng biết", bấy giờ nhân loại mới có người công chính thật và người cầu bầu có thế lực. Lúc ấy câu chuyện Abraham hôm nay mới được hoàn toàn; và chúng ta mới thấy hết ý nghĩa của nó.

Dù sao câu chuyện này cũng rất sống động và ý nghĩa. Nó khiến chúng ta thêm lòng cảm mến vị tổ phụ và kính yêu Thiên Chúa nhân lành nhiều hơn. Nó thúc đẩy chúng ta cố gắng nên thánh hơn nữa cho xã hội và cầu nguyện nhiều hơn cho mọi người nhất là cho kẻ tội lỗi. Lời cầu nguyện của chúng ta có cơ may hiệu nghiệm nhiều hơn lời cầu xin của Abraham, nếu chúng ta được phép so sánh như vậy, bởi vì chúng ta đã được chính Ðức Giêsu Kitô dạy cho biết phải cầu nguyện thê nào, như trong bài Tin Mừng chúng ta đã nghe đọc.



2. Chúng Ta Phải Cầu Nguyện

Tác giả Luca không cho chúng ta biết rõ lần ấy là lần nào và đã xảy ra ở đâu. Nhưng những lời đầu tiên Người đã viết ra rất là ý nghĩa. Người nói hôm ấy Ðức Giêsu vừa cầu nguyện xong không những Người muốn nhắc nhở chúng ta nhớ rằng: Ðức Giêsu là con người cầu nguyện. Ngài hay đi cầu nguyện nơi vắng vẻ; Ngài thường cầu nguyện lúc đêm khuya; Ngài cầu nguyện thiết tha đặc biệt trước khi làm những công việc ý nghĩa trọng đại và trong những trường hợp hơi khác thường. Nhưng tác giả Luca còn muốn làm chứng rằng: luôn luôn Ðức Giêsu làm và dạy. Ngài làm trước và dạy sau. Ngài cầu nguyện và dạy chúng ta cầu nguyện.

Ở đây, Luca nói rằng các môn đệ đến xin Ngài dạy họ cầu nguyện như Gioan đã dạy các môn đệ của ông. Vì sao họ phải nại đến Gioan? Cách Chúa cầu nguyện không đủ lôi kéo họ muốn cầu nguyện sao? Có lẽ không phải như vậy. Ðúng hơn khi thêm chi tiết, Gioan đã dạy môn đồ ông cầu nguyện, Luca có ý làm chứng rằng câu chuyện các môn đệ xin Chúa dạy họ cầu nguyện là có thật vì có chi tiết lịch sử kia làm chứng và kinh Chúa dạy hôm nay có một nguồn gốc chắc chắn; nhưng đồng thời Luca cũng muốn ám chỉ rằng cầu nguyện là một yếu tố không thể thiếu trong bất cứ tôn giáo và phong trào đạo đức nào. Ðến như nhóm Gioan còn có cách cầu nguyện riêng, huống nữa là chúng ta, các môn đệ của Ðức Giêsu.

Vậy khi cầu nguyện, chúng ta hãy nói: Lạy Cha...

Tác giả Luca bỏ chữ "chúng con" hay chúng tôi trong bản văn của Matthêu. Cũng như Người không viết thêm: "Cha chúng con ở trên trời". Dường như Người muốn để câu kinh được trực tiếp và gần gũi; Người muốn nó như thật là lời nguyện thoát ra từ môi miệng Ðức Giêsu... Bản văn của Matthêu có màu sắc Do Thái hơn vì nói đến Thiên Chúa là Ðấng ngự trên trời và là Cha của mọi loài. Bản văn của Luca đưa chúng ta vào đạo nhập thể nhiều hơn vì Con Chúa Trời sinh ra làm người, Ngài vẫn đang ở giữa chúng ta và dạy chúng ta cầu nguyện như Ngài vẫn cầu nguyện.

Rồi chúng ta cũng thấy Luca bỏ câu "xin cho ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời". Theo ý người tư tưởng này đã được bao hàm trong hai lời xin cho Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến. Việc rút gọn này khiến chúng ta phải để ý đến tính cách tổng hợp đầy đủ của phần đầu kinh Lạy Cha, chứ không phân tách và trải rộng ra quá nhiều khía cạnh khiến làm mất sức mạnh và sự chú ý của sự cầu nguyện. Theo ý Luca, đối tượng cầu nguyện của chúng ta là sự hiển thánh của Danh Thiên Chúa, thể hiện trong việc Nước Cha trị đến (và Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời). Tức là chúng ta phải cầu xin cho Nước Chúa lan rộng, cho Danh Người được thể hiện. Tất cả những điều đó chỉ là một, diễn tả theo ba lối khác nhau.

Và như vậy khi cầu nguyện chúng ta phải lập tức đặt mình vào quan điểm của lịch sử cứu độ. Và cầu nguyện là kết hợp ngay với Thiên Chúa đang muốn cứu độ loài người thêm nữa. Cầu nguyện là tiến bộ, và tiến bộ trong phạm vi đạo đức, là muốn lịch sử tiến lên, lịch sử Thiên Chúa cứu độ loài người.

Không có một chút quan điểm cá nhân ích kỷ nào trong lời cầu nguyện như thế. Phải có tinh thần cứu thế mới xứng đáng đọc lời cầu nguyện này. Và tinh thần cứu thế ấy bao trùm tất cả hạnh phúc loài người, cả phần hồn và phần xác. Nó là nguyện ước và khát vọng đạo đức vì quan niệm hạnh phúc kia nằm trong tình yêu của Chúa và đang ở trong tay Người.

Ước gì khi cầu nguyện và khi đọc câu đầu của kinh Lạy Cha, không những chúng ta có lòng sốt sắng kính mến Chúa, nhưng cũng phải chan chứa tinh thần yêu thương loài người, tha thiết cho nhân loại được hạnh phúc trong ơn nghĩa của Chúa. Một lời cầu xin như thế vừa cao cả lại vừa phổ quát hơn lời cầu nguyện của Abraham hôm nay, vì trong khi vị tổ phụ chỉ quan tâm đến xã hội hiện tại của một thành Sôđôma, chúng ta mỗi khi đọc kinh Lạy Cha lại trực tiếp muốn đưa lịch sử của tất cả loài người đến chỗ tốt đẹp hơn.

Như vậy phần sau của kinh Lạy Cha này có vẻ không còn đẹp nữa sao? Chúng ta xin cho được lương thực hằng ngày, được ơn tha tội, được thoát cơn thử thách. Thật ra đây là những lời xin cụ thể và cần thiết để áp dụng lời cầu nguyện trên và làm cho lời cầu xin này không phải chỉ là ước nguyện suông. Ở trên chúng ta đã cầu nguyện để lịch sử cứu độ tiến lên, thì giờ đây chúng ta phải muốn điều ấy thực hiện trong đời sống cụ thể của mọi người. Và ở đây chúng ta thấy bản văn của Luca có nhiều nét khác bản văn của Mátthêu.

Luca không xin cho "hôm nay" có của ăn nuôi sống mình, nhưng nguyện rằng mỗi ngày trong đời sống được Chúa nuôi dưỡng. Người ta có thể tự hỏi cả hai tác giả muốn nói đến thức ăn phần xác hay lương thực phần hồn tức là Lời Chúa và Thánh Thể? Nhưng tại sao chúng ta lại không nghĩ đến cả hai, bởi vì con người hằng ngày vẫn cần cả hai thứ lương thực hồn xác để được đầy đủ. Tuy nhiên điều đáng chú trọng hơn nữa trong lời xin này chính là thái độ và tư cách đạo đức. Xin cho hằng ngày dùng đủ là gì nếu chẳng phải là ước nguyện không rơi vào những thái cực hoặc giàu có hoặc nghèo nàn vì cả hai theo truyền thống của Kinh Thánh đều không tốt. Ðàng khác thái độ hằng ngày phải cầu xin cho được dùng đủ là tư cách đạo đức của những thành phần mà Kinh Thánh gọi là "những nghèo khó của Thiên Chúa", tức là những người được Ngài quan tâm ưu ái nhất. Và như vậy, đây là lời xin để cho mình luôn được kể trong hàng ngũ những người được Chúa chọn và dưỡng nuôi, những kẻ khó nghèo được rao giảng Tin Mừng và sống hoàn toàn cậy dựa vào tình thương của Chúa.

Thế mà điều cản trở người ta ở trong dân Người chính là tội lỗi. Cũng như điều kiện để Danh Cha hiển thánh là Nước Cha trị đến. Do đó người ta phải lập tức xin ơn tha thứ tội lỗi. Và ở đây Luca cũng muốn trải rộng lời xin này ra khắp cả đời sống bởi vì khác với Mátthêu nói đến những lời "đã" xúc phạm đến chúng ta, Luca viết chúng ta tha cho mọi kẻ có nợ với mình để tỏ ra mình đang khao khát ơn được tha thứ.

Luca cũng không nhắc đến việc xin cho khỏi quỷ dữ mà chỉ kết thúc kinh Lạy Cha bằng câu xin cho khỏi sa cơn thử thách; vì Người đã hiểu rằng mọi thử thách có hại cho người đạo đức đều đến bởi Satan, nên câu của Người có tính cách tổng hợp. Nó cũng có tính cách phổ cập vì cơn thử thách mà Người nói ở đây là bất cứ thử thách nào có hại cho Nước Trời, chứ không tất nhiên chỉ là những thử thách lớn lao thời thế mạt thường được nhắc đến trong tác phẩm của Mátthêu.

Chúng ta có thể kết luận, bản kinh "Lạy Cha" trong cái nhìn của Luca, là lời cầu nguyện cho Nưới Cha được trị đến, khởi sự từ chính nơi mỗi người, đem kết quả là ân sủng và đặc biệt là ơn tha thứ đến cho mỗi người và xa tránh hết mọi thử thách có hại cho ơn cứu độ. Lời cầu nguyện như vậy rõ ràng vừa phổ quát nhưng đồng thời lại có ý nghĩa dấn thân, xin cho ơn cứu độ phổ quát đến với mọi người, biến mọi người nên thành phần dân Chúa luôn được hưởng ân huệ và sự bảo hộ của Người.

Ý nghĩa của lời kinh này được hai ví dụ sau xác định: dĩ nhiên câu chuyện người bạn xin bánh và người con xin cá trực tiếp muốn nói lên lời khuyên phải cầu nguyện kiên trì và tin tưởng. Nhưng câu kết luận của hai câu chuyện ấy và của bài Tin Mừng hôm nay rõ ràng khẳng định là lời cầu nguyện của chúng ta phải nằm trong viễn tượng Nước Trời. Tác giả Luca viết: Cha các ngươi sẽ ban Thánh Thần cho những ai xin Người. Ðiều này dường như muốn đáp lại một lời khác của Chúa, là "các ngươi hãy tìm Nước Thiên Chúa trước và mọi sự khác sẽ được thêm cho".

Chúng ta có đủ lý do để kiểm điểm lại việc cầu nguyện của mình. Và ước gì bài Tin Mừng hôm nay giúp chúng ta đổi mới được việc cầu nguyện! Nhất nữa theo thư Phaolô hôm nay, chúng ta còn có tư thế hơn Abraham ngày trước nếu chúng ta có thể nói được như vậy.

3. Tư Thế Của Chúng Ta

Vị tổ phục không dám nài xin Thiên Chúa cho đến cùng để dân thành Sôđôma khỏi bị phạt, là vì một đàng Người còn sợ đức công minh của Chúa, và đàng khác Người không chắc chắn chúng ta ngày nay có một tư thế khác. Thánh Phaolô khuyên ta suy nghĩ về ơn gọi của mình. Há phép Rửa đã không biến đổi chúng ta nên những người con mới sao? Chúng ta đã cùng được mai táng với Ðức Kitô và đã cùng được sống lại với Người. Phép Rửa đã làm cho chúng ta công việc ấy. Và như vậy chúng ta đã chết cho tội lỗi và đã hồi sinh trong Ðức Kitô. Ân sủng do mầu nhiệm thánh giá của Người đã ân xá cho ta mọi điều sa ngã, đã thủ tiêu văn khế tội nợ của ta. Chúng ta đã được trở nên công chính và trở thành nghĩa tử của Thiên Chúa. Ðiều cần duy nhất là chúng ta phải ở lại luôn mãi trong tư thế ấy để luôn luôn nhận được lòng thương xót của Chúa. Nhưng giả 
như chúng ta không chắc chắn về ân sủng nơi mình chúng ta vẫn phải tin tưởng chắc chắn vào ân sủng nơi thánh giá Ðức Kitô. Người đã trở nên của lễ đền tội đời đời cho nhân loại, để Hội Thánh không ngừng có thể được ơn tha thứ tội lỗi. Như thư Hipri viết: Chúng ta đã có Ðấng cầu bầu đảm bảo ở trước mặt Thiên Chúa... Thế nên chúng ta hãy dạn dĩ tiến gần đến ngai ân sủng...

Chúng ta hãy dạn dĩ cầu nguyện, và cầu nguyện không ngừng. Hãy cầu nguyện cho mình và cho xã hội. Hãy cầu nguyện như Chúa đã dạy trong kinh Lạy Cha và hãy cầu nguyện tin tưởng như thư Phaolô khuyên bảo. Chúng ta có tư thế mà trước đây Abraham không có. Không những chúng ta có Ðấng cầu bầu bảo đảm là Ðức Giêsu Kitô. Chính chúng ta cũng có khả năng để được Chúa nghe lời vì chúng ta đã trở nên nghĩa tử của Người và được cầu nguyện bằng chính lời của Con yêu dấu Người... Giờ đây tham dự thánh lễ chúng ta lại được đổi mới tâm hồn và được đồng hóa với Ðức Giêsu Kitô nhiều hơn. Ðể làm gì nếu không phải một phần nào để trở nên tư tế của các dân tộc, luôn luôn cầu nguyện cho thế giới được ơn cứu độ? Chúng ta hãy suy nghĩ về nhiệm vụ cầu nguyện của mình để không ngừng đổi mới công việc ấy nhờ giáo huấn của Lời Chúa hôm nay.

(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa
của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét